KHÔNG AI CÒN NHỚ TỪ NĂM NÀO - loạn lạc lâu quá rồi, con đường quan từ trấn Sơn [1] xuống Kẻ Chợ vắng ngẩn vắng ngơ đến đỗi cả các làng ven đồng xưa rày có lối ra đường cái cũng như không biết có nữa. Những ngày phiên chợ Gạch, chợ Nhổn, chợ Phùng, không thấy một bóng qua đường về chợ.
Lại cho đến cái năm quan ba Ngạc Nhe [2] sang bị chết trận ở đầu làng Thủ Lệ thì đường cái từ Sơn Tây xuống tưởng như tuyệt nhiên không còn ai dám qua lại. Đến mùa cỏ may, chỉ thấy từng quãng trắng mờ hút mắt. Thỉnh thoảng, giữa đám cỏ hoang ấy, một cuộn bụi đỏ bốc lên, cuốn dài, như những tổ mối đương đùn. Biết đấy là có ngựa trạm chạy thư lên ngược. Chỉ có thế, rồi đồng đất càng vắng lặng hơn.
Nhưng không phải như thế. Ở trong những khoanh tre kín mít các làng cuối cánh đồng xa tít kia, chợ nào cũng vẫn đông. Người tự xa cũng về chứ chẳng phải chỉ có làng xóm gồng gánh quanh. Thế mới lạ. Chỉ vì người qua lại, người đi chợ ngại ra đường quan gặp giặc, gặp kẻ cướp. Làng nào cũng đi tắt đồng. Từ Sơn xuống toàn đường tắt. Cả sang bên kia sông Cái cũng đi quanh co xó xỉnh, lên đê ra Vân, ra Cốc, xuống Bồng Lai, Bá Giang rồi mới trở ra, sang đò ở một bến lẻ nào đấy.
Bởi vậy, cái cảnh quen thuộc người ta thường gặp bấy giờ, đôi khi chợt tới đầu đồng, chân đê, dưới bóng một cây đề, một cây trôi tán lá tròn xoe, xanh mướt, cứ tưởng đến chỗ khuất nẻo quá như thế này mà nhỡ độ đường thì chỉ còn cách ba chân bốn cẳng chạy thục mạng thêm một thôi nữa, bỗng nhiên lại thấy lúp xúp một quang cảnh yên vui, đôi ba chiếc lều chợ, một quán nước, có khi có cả hàng cơm chứa trọ.
Qua sông Đáy đến Phùng, tạt xuống cánh đồng Gối, đi một đỗi, theo đường bờ ruộng vào đầu ô Cầu Giấy, hay tạt ngang sang sông Cái. Nhưng dù sang sông hay vào Kẻ Chợ cũng không ai dám đi thẳng đường Phùng. Chỉ ở những chỗ không ngờ mới có đò ngang sang sông. Có lối tắt vòng sau lưng phủ Hoài ra đầu ô. Và có hàng quán. Người đi đường dừng chân lại ở chỗ khuất nẻo, làm hớp nước, hoặc nếu nhìn ra thấy đã vàng mặt trời thì nghỉ lại. Trước mặt, chỉ thấy lũy tre và bãi ngô vàng thăm thẳm, xa làng xóm quá. Người đi đã ròng rã mấy ngày đường lại càng ngại.
Chỗ ấy kín đáo đầu đồng, tựa lưng vào mấy gò đất cao, bên cạnh một dãy ba cây đề cổ thụ. Từ cuối đồng đằng kia đã trông thấy những cành lá đề lưa thưa đan lên khoảng trời.
Có một cái cầu ngói, nơi người đi làm đồng sâu đến nghỉ trưa. Không biết rồi mùa hạ tới, mấy quán kia có còn đứng được ở chỗ chơ vơ này không. Bây giờ mới chớm gió heo mà đã thấy mái rạ tơi tả, như những mái lều phải chúi vào gốc cây và lưng gò đất mới tránh được những làn gió giật từ cuối đồng lên lùa vào vòm lá đề cứ reo à à suốt đêm.
Người xuống Kẻ Chợ hay sang sông qua đây đã quen gọi nơi dừng chân này là chỗ Ba Cây Đề đầu lối xuống bãi Cốc.
Bấy giờ, mặt trời đã khuất lưng núi Ba Vì. Chỉ còn thấy một vùng hửng trên đầu lũy tre xanh đen giăng ngang cuối đồng. Có hai người đương tất tả đi lên. Từ bờ tre cuối làng qua một dải đồng cao rồi lại xuống đồng sâu, men theo bờ đìa - những lối kín qua làng. Đàn chim choi choi, chập tối rồi mà còn bay như vãi thóc, vụt lên vụt xuống, ở từng quãng chợt có người đi qua.
Lên tới được đầu đồng, đã nhọ mặt người. Bấy giờ mới trông rõ đấy là một ông già và một người trẻ tuổi - dáng như hai bố con. Cái nón bứa cũ kỹ - cả tàu lá cọ uốn khum, để nguyên đầu vấu, cũng khiến người ta đoán được ông con nhà này hẳn từ vùng chân núi Ba Vì ra thăm ai hay có việc về Kẻ Chợ. Ông già đeo khăn gói và người trẻ tuổi gánh hai tay nải nhỏ, trông chừng như bên trong đựng mấy lẻ gạo và chiếc mền để tiện ngủ đêm đâu sẵn có cái đắp.
Lều hàng cơm anh Đề Cụt ở ngay gốc đề ngoài cùng. Thoạt trông như một cây rơm to được đánh đống lại. Hay bảo đấy là cái lều ép mía cũng được. Những lều cây rơm, lều ép mía như thế cứ vào cữ gặt ba giăng xong thường thấy được dựng tùm hum lên ngoài đồng. Những lều hàng cơm ấy thật sự là một cây rơm rỗng ruột, có cửa tò vò vào qua cái mành những cuộng rạ lướp tướp xuống. Người vừa bước chân vào đã cảm thấy ấm áp mùi rơm, bỏ lại ngoài kia một cánh đồng ào ạt gió.
Mới chập tối mà nhiều người các ngả đường đã đến rồi. Không phải vì nghe tiếng lào xào trong nhà hàng và thấy ánh lửa các nhà trọ phía trong, mà chỉ mới trông trước cửa các quán thấy ngổn ngang từng cuộn những gánh song mây gác bếp ám khói, đã lên nước cánh gián sẫm bóng, người ta cứ để nguyên cả chiếc đòn ống như vừa lẳng xuống. Các phường Hàng Tre, Hàng Mây dưới Kẻ Chợ vẫn ăn hàng song mây của lái chợ Nghệ. Những sọt củ nâu lóc nhóc chất ngập hai đầu đòn xóc, chắc mai gánh vào Hàng Vải Thâm hay các lò nhuộm ở Đồng Lầm. Những vò rượu Kẻ Sấu trát bùn ngoài giả như thùng sơn để che mắt kẻ trộm, cũng bỏ lăn lóc cả đấy. Rượu Sấu Giá vào Kẻ Chợ đường ô Cầu Rền. Rượu Thụy Chương, Võng Thị qua đằng trại Hàng Hoa đương được khách hơn. Cả những gánh đĩa bát buôn ở Bát Tràng bên kia sông đem lên ngược, xếp ngay ngắn như những gồng cỏ khô. Rồi lại những thùng tre ghép to gấp đôi thùng gánh nước, chít kín nắp, đấy là thùng dầu sở, dầu lạc mang vào các thổ mua buôn ở phường Đồng Xuân, phường Đình Ngang, phường Đông Tác - những nhà ở phường này lại quảy dần đi bán lẻ rao khắp các phố. Những thứ hàng cồng kềnh ấy để ngoài cửa, cả trên những vè rễ đề. Riêng những dãy tơ Phùng mang vào Sài Bái, Nghĩa Đô hay chợ tơ đình hàng Đào, những thúng cau khô, những buộc trầu vỏ đỏ chóe bọc lá chuối khô, những cửa hàng hoa ấy được người ta đem vào chất cẩn thận sát vách cuối ổ rơm.
Ấy đấy, thời buổi loạn lạc, khó khăn, đường quan ngập cỏ mọc, mà của quê của rừng cứ ùn ùn vào phường phố. Thế nào thì ai cũng vẫn phải ăn phải làm, cuộc sinh sống của con người lúc nào cũng đăm chiêu mê mải. Nhưng nói vụng với nhau đây thôi - dứng có mạch, vách có tai, có tài thánh mà biết được đấy là lái buôn hay đấy là tay chân các ông lãnh, ông võ, ông xuất ở đâu về quanh Kẻ Chợ để nghe ngóng, rình rập. Ai biết trong đống gồng gánh chồng chất ấy là củ nâu hay là súng, là giáo mác...
Ông già dừng lại, bỏ nón ra, quạt lên khuôn mặt hốc hác đen sạm vì bụi, vì mệt nhọc hơn là vì nhớp nháp mồ hôi.
Rồi nói:
- Nghỉ lại đây thôi, con ơi!
Một quang đèn dầu trẩu giữa nhà treo bằng cả cái chão mây thõng trên mặt chõng hàng. Ánh sáng đỏ đọc, khói ngùn ngụt, soi nhếnh nhoáng xuống cái lưng bóng nhẫy một con cầy luộc xóc cả con trên chiếc móc tre, ngay cạnh bóng đọi đèn. Anh chủ hàng cứ chốc lại nhổm lên, giơ con dao mỡ nhoáng, xẻo ngọt từng miếng thịt xuống. Trên mặt mâm chõng, dài có đến ba sải tay, thôi thì la liệt, chỗ bát tương, chỗ cái vỉ, chỗ lá chuối tươi mở ra, những tảng thịt cầy, miếng nầm, miếng đùi lẫn lộn, tú ụ cả một lùm rau ngổ ba lá với từng tảng riềng gần như để cả củ, chỉ xắt đôi xắt ba to bằng quả cau, bằng nắm tay một. Đầu chõng đằng này đặt một chĩnh tương. Bên kia, xếp ngất ngưởng chồng bong bóng rượu, như đàn lợn tháu ăn no rồi nằm đè lên nhau mà ngủ. Những bong bóng lợn đựng rượu - các làng Bồng Lai, Bá Giang bên sông vẫn có thói quen xưa nay chỉ đựng rượu chợ bằng bong bóng lợn. Bọn lái vừa đem đến lúc chiều, chưa kịp trút vào hũ. Bây giờ cứ mở nút lá chuối khô, đong thẳng từng be. Uống suồng sã thế càng thích.
Người ngồi chen chúc hai bên hàng ghế. Ai cũng như quen nhau mà kỳ tình chẳng biết ai quen ai, chốn hàng quán bốc bải tứ chiếng thường như thế. Khói muội đèn, khói rơm bếp, hơi người, hơi rượu thịt, cái lều rơm ấm sực hẳn lên.
Ông già vừa nhô đầu vào, hai hàng ghế đương ăn uống, cứ nhồm nhoàm cất tiếng như đã gặp nhau ở đâu rồi.
- Ấy kìa cố, chúng tôi vô phép rượu cố.
- Không dám, chư ông cứ tự nhiên.
- Cậu cả nữa kìa, mời cậu xơi rượu.
Một bác ngồi gần đấy, lừ con mắt đỏ ngầu, cầm bát rượu đưa lên mời người trẻ tuổi vừa bước vào sau lưng ông lão:
- Rượu đây, uống rồi mới được đặt khăn gói xuống. Lệ quán anh Đề này thế. Con trai mà như con gái thế, à mà má lúm đồng tiền nữa kìa. Cái nhà cậu cả này, hì hì...
Một người khác không nhìn lên, cứ gật gù lẩm bẩm một mình với bát rượu:
- Ừ, cười má lúm đồng tiền, khéo mà là con gái cũng nên. Ấy ấy, chẳng là nhà bố tôi hiếm, bố tôi cho cô em út cất váy đi bắt mặc quần con trai lấy khước đấy, anh em ạ!
Ông già rầu hẳn nét mặt rồi gườm mắt nhìn mấy người đương vừa nói vừa đùa cười hô hố:
- Đừng trêu cợt người già mà phải tội, chư ông ạ. Bố con tôi đi đường xa mỏi chân quá rồi.
- Cố bỏ lỗi cho chúng cháu.
Một người phân trần:
- Nói thật với cố chứ, người thiên hạ bây giờ mà còn đi đó đi đây thì đến cái mồm cũng phải có võ mới dám bước chân ra đường cái.
Thế là mấy người lại nhao nhao hỏi: “Võ gì thế? Võ mồm à? Cái gì thế?”.
Một người nói:
- Cố ạ, mắt tôi đã trông thấy con gái Kẻ Sấu chuyên buôn rượu ra Kẻ Chợ toàn mặc giả đàn ông. Gánh rượu bằng đòn càn, gặp Tây đánh Tây, gặp cướp đánh cướp. Đám giặc cái ấy đã có lần nào nghỉ đêm ở hàng ta chưa, hả anh Đề?
- Dễ thường chưa đâu, ông anh ạ.
- Ừ mà giá các cô giặc cái ấy qua đây, người điển trai mà lại sức võ như anh Đề thế nào mà chẳng ngắm được vài cô.
- Thời buổi này chán vạn cái lo, không dưng lại đeo thêm cái lo nặng nợ vợ con nữa, sống làm sao?
Anh chủ hàng vừa xẻo miếng thịt, vừa nói. Cái bác uống rượu, cứ ngắm bát rượu của mình từ lúc nãy lại lẩm nhẩm nói:
- Đã bảo thời loạn, con người cứ phải lặn lội đầu hôm sớm mai thế này thì đến đàn bà rồi cũng hóa ra đàn ông, hà... hà...
Ở góc trong hàng, phía cửa đun bếp có tiếng đàn bà nói ra:
- Ơ kìa, em vẫn có hôm đi cất hàng đấy chứ.
Cả mấy bợm rượu lại nhao nhao:
- Cô ấy à, buôn ngồi như cô thế này thì ai chẳng buôn được.
- Đố cô dám mai đi chợ Canh mua chó về làm nào?
- Hay là vẫn đầu sai ông anh!
Anh Đề vào bếp, bước chen giữa đám khách đông bây giờ ngồi cả sang ổ rạ, vừa đi vừa cười hề hề:
- Không, không, cô nó nhà cháu vẫn đi chợ Canh, cả chợ Trôi, có khi sang tận chợ Đăm đấy ạ.
- Không phải mặc giả trai chứ?
- Không ạ.
- Thế thì giỏi, giỏi!
Bác cầm bát rượu lúc nãy bây giờ đặt bát xuống, nói:
- Hãy còn chuyện lạ hơn nữa kia, từ nãy là chuyện đàn bà hóa đàn ông, bây giờ chuyện đàn ông giả đàn bà. Vẫn bọn lái rượu Sấu Giá đấy thôi. Các tướng ấy muốn đi thong dong, ngại bọn cướp đường quấy rầy. Thế là, váy đụp, khăn mỏ quạ xùm xụp và đôi quang gánh tềnh toàng như những bà lão trong làng đi chợ bán thúng khoai. Ấy thế mà cả trong ngực yếm cũng nhét hai cái bong bóng rượu phồng to tướng như hai quả dừa!
Người ta cười như hét lên.
- Chẳng biết thế nào, ông hóa bà, bà hóa ông... Ha, ha...
- Này thôi hãy hượm bông phèng. Cô em vào đong cho anh bát rượu nữa nào.
Người con gái đứng dậy, bước ra. Tiếng ù ù nhẹ nhẹ ở xó bếp bỗng dứt đi. Bấy giờ mọi người mới để ý từ nãy ở xế phía cửa nách cô Gái ngồi xay bột làm bún trong ấy. Thớt đá nghiến vào nhau, dấm dứt, lẫn tiếng gió xào xạc ngoài mái rạ, làm cho không ai nghe ra.
Gái bước vào quầng sáng đèn, nhấc cổ chiếc bong bóng để rót rượu và bấy giờ ai cũng trông rõ mặt. Cứ kể bộ dạng cô này thì đêm hôm cô đi chợ nào cũng được mà cả đến cho cô vào đánh nhau lột váy Tây đen trong Đồn Thủy cô cũng dám vào như bỡn. Mặt vuông chữ điền, dáng chắc mầm, nhanh thoăn thoắt. Trong làn khăn vuông đen, chỉ thấy đôi mắt sắc như dao lúng liếng.
Gái lễ phép chào ông già vừa vào.
- Lạy cụ ạ.
Rồi quay sang người trẻ tuổi, khẽ nói:
- Chào bác ạ.
Anh chàng đã hạ đôi tay nải xuống từ nãy, ngồi ngang lên cái đòn gánh, ngượng nghịu, lí nhí đáp lại câu chào có vẻ tinh nghịch của cô gái hàng cơm. Rồi, lại như sợ sệt, anh nhấc cái đòn lên, ngồi lùi sát vào trong.
Gái nhanh mắt đã nhận thấy những cử chỉ nhút nhát của anh trai đường ngược.
Lúc ấy, chui từ trong bếp ra giữa làn khói thơm nồng nàn có ánh đèn tỏa trên quang dầu xuống, mọi người mới trông tỏ mặt anh Đề chủ hàng cơm. Anh Đề còn trẻ, chỉ trong ngoài ba mươi. Mặt cũng vuông chành chạnh như cô em gái, thoạt trông biết ngay là anh em. Và bây giờ mọi người mới để ý, anh Đề mặc tấm áo kép năm thân vải nâu da bò lửng ngang đầu gối, một bên ống thõng, tay trái cụt hết nửa khuỷu dưới.
Chủ hàng vờn vỡ làm như bây giờ mới nhìn thấy bố con ông già vào. Có lẽ cũng là do thói quen nhà hàng chuộng vui vẻ. Bởi một tay anh Đề đương xách ra một xâu lòng gan luộc vừa chín tới, khói lên nghi ngút.
- Lạy cụ ạ. Kìa chú, ngồi ra mâm này, còn đánh chén nữa chứ. Xin cụ xơi tạm. Các vị đằng kia ngồi dẹp một tí. Rộng chán. Mà cho nó ấm. Hàng cháu là thượng hạng thịt cầy chỗ Ba Cây Đề này. Chỉ độc món luộc với món hầm, toàn kén chợ Canh cả. Chó chợ Canh ngon nức tiếng ra tận Kẻ Chợ đấy. Rượu thì có cái Quế Dương bây giờ là nhất. Rồi bún xáo, cô cháu kia vừa xay vừa rót khuôn làm bún, bún nóng. Ngà ngà rồi mời cụ với chú nghỉ trong ổ rơm. Khắp lều, chỗ nào cũng ngả lưng được, đấy ổ rơm suốt vào đến trong vách. Tối nay hàng cháu vui quá. Thưa cụ ở trên ngược xuống ạ?
- Phải.
- Cụ về Kẻ Chợ à?
- Phải ạ.
- Còn một thôi đường nữa thôi. Đây tới đầu ô chỉ rảo chân một nhát. Mà ấy chớ, cụ đừng ra đường quan. Cứ ven đê lên rồi tắt cánh đồng trước mặt ra sau lưng phủ Hoài, lội qua đồng Noi mà sang Bưởi, cụ ạ. Các ông đây mai cũng đi tắt đồng thế cả. Bây giờ chẳng ai dại mà đâm đầu ra đường quan cho phải vác thêm cái hốt hoảng vào người.
Ông lão thủng thẳng nói:
- Đội ơn bác mách cho. Bố con tôi ở đồng rừng về, không sõi đường sá thế nào.
Một người nói:
- Cụ cứ yên tâm xơi rượu. Bà con trong làng trong nước cả, có gì ta phải bảo nhau.
- Xin đội ơn ông.
Đề Cụt lại nói:
- A, khách nhớ nhà hàng, bận sau cụ có về cứ vào đây. Hàng cháu là hàng Đề Cụt.
Ông già ra vẻ lúng túng, nhưng đã nhác mắt nhìn rất nhanh chủ quán, rồi rụt rè:
- Vâng, cụ... cụ đề...
Đề Cụt cười lớn, trong khi đẩy bát tương và đĩa thịt vừa thái về phía trước mặt ông già.
- Cháu không phải đề với lãnh gì đâu, bố già ạ. Hàng cháu ở gốc cây đề, cái tay cháu cụt, khách quen gọi luôn thành tên cho dễ nhớ. Từ đấy thành tên là hàng thịt cầy thằng Đề Cụt. Có thế thôi ạ. Mời cụ nhắp rượu.
Một bác khách ngồi đằng cuối mâm chõng lè nhè nói chõ lên:
- Nhưng mà này anh cụt, bây giờ mà anh là đề đốc, lãnh binh thì em cũng xin khăn gói theo anh ngay. Tướng anh trông cũng phải đấy.
- Ới ông ơi, hàng cơm quán trọ, dứng mạch vách tai, đừng có trống mồm mà oan gia. Đây cũng chẳng xa đường quan lắm, ông có muốn cho ông còn lần sau được về hàng em nghỉ chân mà khề khà thế này không?
Ông già bây giờ mới cười xuề xòa, hai tay nâng bát rượu cúi xuống húp một hơi cạn rồi chép chép miệng.
- À thế thì đề là cái gốc đề, thế cũng được.
Mấy người đã đổi chỗ xuống ổ rơm, nhường cho ông già ngồi bên cái ghế bằng mảnh tre úp đóng trên đôi chân mễ gộc tre uốn khum. Ông già nhấc cái bát đàn rượu của anh quán vừa đong, lại uống một hớp vơi hẳn đến lưng bát rồi mới gắp thức nhắm - một miếng gan thái pha to bằng ba đốt ngón tay.
Trong khi ấy, cậu con trai ông già xếp cái tay nải tựa gọn bên chân vách rơm sau lưng rồi ngồi tựa vào, thờ thẫn nhìn ra, hai tay ôm đầu gối, vẻ mỏi chân.
Mấy người ngồi gần ông già kêu:
- Ấy kìa cậu cả ra đây... ra đây...
Ông già đỡ lời:
- Vô phép chư ông, cháu nó không thời được thịt chó. Gói cơm muối vừng trong tay nải bố ấy, con lấy ra đây mà thời cho vui.
Tất cả lại cười váng lên:
- Thế thì cậu cả lại là đàn bà rồi. Đàn bà mới không biết ăn thịt chó.
Từ trong chỗ xay bột bún góc lều lại có tiếng léo nhéo nói ra:
- Các ông anh ơi, vuốt mặt phải nể mũi, còn có em đây chứ.
- Cô Gái thì cũng là đàn ông thôi, thịt hùm cô cũng nhá được, cô còn quá đàn ông nữa, không kể, không kể.
Ông già tợp một ngụm rồi cười khà:
- À cái rượu đậm đấy. Nguyên vì cháu nó có số thờ, phải kiêng từ thuở bé, lâu rồi đâm ra sợ, sợ cả mùi rượu. Chỉ vì cái số thờ mà đành chịu hèn, chư ông ạ.
- Bố cứ cho cậu cả xuống đây chạy hàng cho anh Đề ít lâu, bén mùi rồi thì có mà lại tì tì chén đủ hai mươi món thịt chó trên đời cho mà xem.
- Thật đấy nhỉ?
Nhưng rồi mọi người lại ồn ào cười nói, không ai chú ý đến anh con trai không biết ăn thịt cầy ấy nữa.
Bây giờ, đến lúc đã ngơi tay, anh chủ quán cũng ra đóng một vai ngồi vào đám rượu. Cho thêm vui. Cái quán Đề Cụt này có lẽ tối nào khách qua lại cũng đông đen đầu bởi anh chủ quán dễ tính thế vậy.
Anh Đề ngồi xổm xuống ổ rạ đầu chõng kê bên chồng bong bóng rượu cũng đen xỉn như hai bàn chân to bè của anh. Anh vừa nhấm nháp, vừa đong rượu cho mọi người.
Ông già nói:
- Anh để dành cho tôi cái thủ này.
Anh chủ hàng kêu lên:
- Ôi, bố già đòi xơi đầu thằng Ngạc Nhe kìa, ghê chưa?
Ông lão gật gật:
- Trong con cầy thích nhất cái thịt thủ. Chả là cái răng mình còn khớ khớ.
Anh chủ quán bây giờ mới thật thong thả, cứ cười hê hê.
- Bố già đường rừng mà cũng biết cái thú xơi thịt cái sỏ Ngạc Nhe thì hay thật. Này cụ, trông cái đầu con chó kia có hệt thủ cấp thằng Ngạc Nhe không? Đấy đấy, hai hàm răng nó chìa hết ra trắng tểnh hơn răng lợn luộc, Tây Ngạc Nhe răng trắng mà. Một ngày tôi được cắt tiết mấy thằng Ngạc Nhe, tối nay lại ngồi hầu rượu thịt thủ Ngạc Nhe với bố già, bố già ơi. Nhắm một mình cái thủ Ngạc Nhe mới thật đích đáng ở đời, có phải không, chư ông?
Cái bác nâng bát rượu cứ nhìn như soi mặt xuống bát lúc nãy, bây giờ lấy tay làm hiệu che miệng, trong khi đảo mắt nhấp nháy nhìn mọi người, giả vờ nói khẽ:
- Này ông Đề Cụt, đây gần đường cái quan lắm.
- Thằng Đề Cụt này sợ gì đường cái quan.
- Hàng cơm quán trọ chớ có trống mồm, ông ơi!
- Đây không phải hàng cơm, đây là nhà tớ.
- Nhưng mà ông vừa quát chúng tôi đừng có trống mồm mà. Việc quốc sự, mất đầu như chơi, có phải không, ông Đề Cụt?
Anh quán lại cười hề hề, biết đấy là mấy ông giỡn mình lúc nãy đã làm hiệu bảo người ta phải giữ mồm miệng.
Nhưng rồi Đề Cụt vẫn cãi gượng:
- Thế tớ bảo chém đầu thằng Ngạc Nhe thì có đúng không? Cái đầu lâu hoa cái nó chẳng đã lăn lông lốc ở cổng làng Thủ Lệ đấy à. Nó chả chết đỏng tử ra ở đấy à? Ai vu cho nó mất đầu nào? Ai vu cho nó nào?
Mọi người lại cười râm ran. Những câu chuyện quốc sự như thế, ở mọi hàng quán hẻo lánh trên ngã ba, ngã năm đường tắt quanh Kẻ Chợ, mặc dầu nơi quán xá nào cũng vô khối bọn chó săn chim mồi được các quan trong tỉnh thả cho đi la cà rình mò, nhưng cái lo giặc dã từ đâu đâu tới, nạn nước nỗi nhà đang trải cảnh lầm than vẫn là câu cửa miệng, không mấy ai e ngại trò chuyện, than thở. Vả chăng, nếu có mật thám của Tây, của chánh lý đi nghe ngóng thì ở những ngã ba, ngã bảy người người hay tụ hội này, lại cũng là nơi những kẻ đi lo quốc sự thường hẹn bắt mối, giao quân và có khi còn giăng bẫy thịt bọn chim mồi ấy.
Đề Cụt đương hăng:
- Mà ai biết được nhỉ, bố già tôi đây biết đâu lại chẳng là ông thống trên đường ngược về lấy quân. Anh em chúng tôi có ai được lọt mắt bố, bố cho đi theo làm chân giữ ngựa được không?
Ông già lờ đờ xua tay:
- Ấy chết, chư ông tha cho, đừng nói thế mà buộc người già phạm vào quốc sự. Chúng em ở nơi rừng thiêng nước độc, chỉ biết xưa nay yên phận thủ thường.
- Này bố ạ, ở những nơi rừng xanh núi đỏ ấy bây giờ mới ghê gớm đấy.
- Thôi thôi, hãy biết ta đương nhắm thịt cầy. Cứ kể lần này lão mới được nếm cái chó chợ Canh, quả là ngon có tiếng thật.
- Chưa chưa, bố già lõi đời lắm, bố đòi ăn thịt thủ. Trong con chó, đến cái thủ thằng Ngạc Nhe này mà ngon thì mới là chó ngon.
Vừa nói, Đề Cụt vừa nhấc con dao, lấy cùi tay đỡ rồi khoanh lượn một vòng, xẻo ngọt cái sỏ chó trên móc xuống đặt trên thớt. Rồi mũi dao khía luôn đường ngang dưới tai và một viền suốt sống mũi. Sau tỳ cùi tay giữ một bên, tay kia bẻ ngược hai cái, mới nghe răng rắc mà đã “roách” một tiếng, cả vòng cùi xương sọ chó với hai hàm răng trắng hếu đã bật rời khỏi nạm da, vành tai, thịt cổ và cả cái lưỡi lòng thòng uốn cong. Tiện tay, Đề Cụt vứt luôn đám xương sọ ra qua lỗ cửa sau nhà. Rồi con dao lại thong thả khía vào vùng thịt thủ giòn ngon, thái gọn từng miếng.
Ông già từ nãy bưng bát rượu ngang miệng quên cả uống, mải xem Đề Cụt, chỉ bằng một tay mà lột gọn chiếc sỏ chó, tài tình quá. Bây giờ mới thốt lên:
- Hay! Hay!
Cô Gái ngồi trong xó nhà đã làm nốt mẻ bún cuối, hong lên vỉ, thành bốn lọn bún rối to tướng. Áng chừng phải có thêm khách nửa đêm nữa mới có thể hết được chỗ bún ấy và thế là đã xong. Gái đứng dậy, đến trước mặt chàng trẻ tuổi vẫn đương ngồi thừ, mà từ nãy ngồi làm trong cửa bếp Gái vẫn nhìn trộm ra.
Gái cất tiếng hỏi:
- Bác không ăn được thịt chó thật ạ?
Anh chàng ấp úng:
- Mình còn... mình còn non tuổi, đừng gọi thế.
Không ngờ anh chàng xưng với Gái là mình. Cái tiếng mình êm quá khiến Gái đương mạnh dạn lại hóa ra lúng túng chưa biết trả lời thế nào. Lát sau, Gái mới dịu dàng, thì thào, nói trống không:
- Chốc nữa ăn bún. Bún nóng chấm tương, đậm lắm.
Anh chàng trẻ tuổi tủm tỉm cười. Gái ngây nhìn, như muốn lịm người đi. Nhưng anh chàng dường như cũng nhận ra mình vừa ăn nói có vẻ tự nhiên quá. Anh đáp cộc lốc:
- Tôi ăn cơm rồi.
- Ăn bao giờ?
- Lúc nãy.
- Không phải.
- Từ lúc nghỉ giữa đường kia.
- Bố vừa bảo còn nắm cơm trong tay nải lấy ra ăn cơ mà.
Thấy cô ả để ý mình kỹ quá, lại ăn nói trống trếnh như người nhà, anh chàng đâm bực:
- Đã bảo ăn rồi mà.
Gái cười, lại nói trống không:
- Ăn thêm. Bún nóng chấm tương nếp ngon đáo để.
Anh chàng thoáng nhìn cô gái dạn dĩ. Có lẽ cũng trạc tuổi mình. Trai ở trại, gái hàng cơm. Gái hàng cơm có khác, cứ sấn sổ vào người ta.
Phải rồi, mới đấy mà cô Gái đã ra bề dường như phải lòng anh chàng đường ngược.
Kể thì nom anh chàng có vẻ lam lũ nhưng khác người ta ở đây. Cái áo năm thân vải nâu da bò, quần nâu bạc, tóc búi tron trỏn trong vòng khăn vải gốc mộc thô đen như nước xáo chó. Nhưng sao mà làn da trắng mởn như con gái, mà cái miệng tươi quá, hai con mắt lư đừ nhìn nồng nàn như đuôi mắt muốn mắc vào nhau cho đến phải lòng nhau rồi.
Gái đã để ý anh chàng từ lúc Gái ngồi xay bột làm bún mà chàng ta không biết. Cũng không thể biết đâu mà để ý được, cái anh chàng từ núi Ba Vì về đây còn mải ngồi bóp hai bàn chân đi đất đã sưng vù lên. Mà thật, người ta nói ở núi quen leo dốc ngược bàn chân bây giờ đi chân phẳng đường bờ ruộng cũng đâm ra đau chân sinh bệnh. Nhưng, sức trai trẻ thế ấy, chỉ nghỉ một đêm, mai khỏi thôi. Chắc lẽ cái nhà anh chàng này có nếp khuôn phép, bố còn thức, con chưa dám đi ngủ. Mấy lần ngáp vụng rồi mà chỉ thấy vẫn ngồi tựa lưng vào tay nải.
Đến khuya, các quán bên cạnh cũng im ắng cả. Chỉ nghe gió từ đồng sâu hun hút lên. Giá ai nhỡ độ đường mà còn qua đây vào đêm hôm khuya khoắt thế này chợt đến có thể không biết trong chỗ lộn xộn ngổn ngang ấy là quán hàng mà tưởng như đây đương cuộc chén chú chén anh trong nhà - hay là một bọn cướp vừa đi làm ăn về, đương mải vừa đánh chén vừa chia của, vừa ngủ ngay giữa cuộc cãi cọ.
Quang đèn cầy treo giữa nhà, đã mấy lần Gái bê hũ dầu trẩu ra đổ rồi chốc lại kéo bấc lên. Các ổ rơm cũng được dần dần lôi đến quanh chân chiếc mâm chõng còn la liệt thức nhắm và những phạng nước xáo. Có mấy người cứ nguyên cả quần áo lấm láp thế lăn ra, đã ngáy khò khò từ lúc nào không biết.
Giữa lúc ấy, cái bác suốt từ chập tối cứ gật gưỡng vừa uống vừa ngắm bát rượu, chốc lại đấm vào đám đánh chén một câu nhủng nhẳng đôi khi chẳng đâu vào đâu, bây giờ lồm cồm đến ngồi trước mặt Đề Cụt, cởi chiếc hầu bao vải nâu nặng cộp đặt lên chõng, như đặt cọc.
- Tỉnh rồi đấy nhé. Tính tiền đây này. Rượu hai đấu một lẻ. Ba khoanh thịt, một bát xáo thôi.
- Bây giờ đã đi đấy à?
- Ừ, đi cho kịp độ đường.
Bác ta đếm ra một đống tiền kẽm để trên mặt chõng, lại buộc lại hầu bao vào lưng rồi đến bên vách xốc ra cái đãy to, - đã đứng lên mà người cứ lom khom như cõng cây rơm.
Một anh lè nhè hỏi:
- Đãy gì thế?
Người khác ngồi cạnh vỗ vào lưng anh nọ vừa nói:
- Đãy đựng thừng đem vào trói Tây ở Đồn Thủy đấy, mày hỏi làm gì! Nhưng mà bác ấy ạ, giờ khuya quá rồi, đừng đi. Đồng đất này không biết chừng thế nào đâu.
Người đeo đãy rút trong thắt lưng ra con dao găm lưỡi sáng trắng, cười khẽ:
- Tao chẳng chặt cổ đứa nào thì thôi.
Rồi lom khom vác đãy trên lưng, đi xuống cánh đồng trăng suông mờ mờ.
Đề Cụt vẫn ngồi im giữa mấy hũ rượu - cũng im lặng như những hũ rượu. Có hũ đã cạn, nằm lăn chiêng. Đám bong bóng đựng rượu đã xẹp hết, được xếp lại như đống áo rách. Những ông khách ngủ lại, những ông khách thình lình đi nửa đêm hay đi canh ba canh tư, cũng là thường. Người ta chỉ hỏi nhau thế thôi, không tò mò, không quan tâm lắm - ngộ như có người có ý tứ gì thì cũng chỉ để ý khéo, khó ai biết được.
Gái vừa ra bưng hũ dầu cất vào trong vách, Đề Cụt nói:
- Vãn hàng rồi, giập mấy cây nứa làm đóm mà về đi.
- Anh bảo em về bây giờ ấy a?
- Hai con chó mua chợ Canh vẫn còn để ngoài sân nhà. Khéo kẻo phơi sương chết mất. Mày phải về cất đi.
- Em không về đâu.
- Xà... cái con này...
Gái cười.
- Em ở đây để chốc nữa nghe anh lại kể chuyện mà.
- Chuyện với trò gì!
- Chuyện đánh Tây ở Thủ Lệ...
- Mày nói như trẻ con đòi ăn kẹo, làm tao bật cười.
Một ông khách nói chen vào:
- Anh Đề ạ, khuya rồi, đừng bắt cô ấy về, từ đây vào làng phải qua cả một cánh đồng trống...
- Nó ấy à, có nửa đêm cho nó lên trời bắt voi nó cũng lên được. Nhưng thà mày cứ nói toạc ngay cái bụng ra thì tao còn nghe.
Gái ngúng nguẩy:
- Cái anh này rõ hay!
Đề Cụt vẫn cười, thong thả lắc lại xem vò nào còn rượu thì chiết dồn rồi nút lại, bê gọn vào một chỗ.
- Lại còn mĩ tự. Cứ nói thẳng là mày ăn phải bả cái anh ả xứ Đoài kia rồi thì tao nghe ra, tao cho ngủ lại đây ngay thôi.
Có người khúc khích cười. Một người bật cười khơ khớ. Cả những người đương gà mắt cũng bừng thức, ngóc cổ, nhìn quanh, khi thấy mọi người cười, cũng cười ngẩn ngơ. Gái thì ngồi chúi vào vách rơm và lặng im, không ai trông thấy nữa.
Có người sốt sắng và ngơ ngẩn hỏi:
- Anh ả nào xứ Đoài?
- Dở hơi nhà ông này! Cái thằng không biết ăn thịt chó ấy mà.
- Người đào hoa cũng có khác, đi giữa đường mà số đào hoa cứ quàng vào cổ thôi.
- Có phải thế không?
- Thằng con trai nào lúc mới đẻ cứ tràng hoa quấn đầy hai vai, cái số đào hoa mà, ngày sau lớn, đi đến đâu gái theo đến đấy.
- À à...
Ông già đã ngả lưng rồi lại trở dậy tìm điếu cày, cũng gật gù vỗ miệng điếu.
- Cháu nó ngủ rồi. Hôm nay phải bữa đi quá độ đường sưng cả chân.
Rồi cái quán lại lặng im. Mọi người ngủ yên và những đám lửa phía trong vách rơm đã tắt. Nửa đêm rồi, đâu đâu cũng chỉ nghe trong cánh đồng không tiếng gió bấc miên man lên, dào dạt qua ánh trăng suông nhờ nhệch, tưởng như cả thế gian bây giờ chỗ nào cũng chỉ là một cánh đồng bàng bạc gió bấc thổi rợn qua.
Đề Cụt vẫn ngồi trầm ngâm nhìn tụm bấc đèn bốc ngọn lửa đỏ ngòn quanh hai cái tai đèn làm bằng hai tảng gộc tre đã bám đầy những nạm muội đen nhánh cứ rơi xuống từng mảng.
Không phải anh Đề Cụt thường hay chuyện đánh Tây ở Thủ Lệ như Gái nói lúc nãy. Cũng có khi anh vui, có khi nói giỡn. Lúc nào hàng đông khách, anh vẫn thế. Chỉ đôi khi, đêm có những đám khách xa ở đâu về không biết, Đề Cụt mới lại kể chuyện cái trận ta đánh Tây ở đầu làng Thủ Lệ năm trước. Cô gái đã được nghe chuyện đến có phần thuộc, và có những đêm Gái thấy anh vừa kể vừa đưa ống tay áo lên quệt nước mắt xong rồi lại cười - cái cười nhợt nhạt.
Khách hỏi:
- Thế trận ấy anh có đi với bố con ông Xuất Vấn à?
Đề Cụt nhìn ông khách, không nói. Khách lại thì thào:
- Cánh tay này anh bỏ lại ở trận ấy à?
Đề Cụt chỉ nhìn người hỏi mà không trả lời. Gái đã biết không bao giờ anh đáp những câu hỏi ấy. Anh chỉ lặng im. Rồi lại tiếp tục kể chuyện.
Câu chuyện còn sôi nổi cả vùng đến tận bây giờ, trận ta giết được quan ba Ngạc Nhe ở cổng làng Thủ Lệ. Bọn lính Cờ Vàng của thằng Đu Bi [3] ở phố Mới đã biết kiềng mặt anh em quân ta, chúng nó sợ mất mật, chẳng đứa nào dám thò ra đầu ô này đâu. Nhưng thằng quan ba Ngạc Nhe mới ở Sài Gòn ra. Nghe nói nó đã đi suốt các nước Lào, nước Xiêm cho nên nó hung hăng lắm. Nó nhắn cả nước Nam ai có giỏi muốn đánh nhau với nó thì cứ ra Cống Vị. Rồi Ngạc Nhe ra Cống Vị, ra Cầu Giấy thật. Râu xồm đen kín mặt, nó đi hàng đầu.
Có lúc như thằng cuồng, cứ chạy tít lên trước, tay cầm súng, bắn vẩy vào bụi cây, bắn mô đất, bắn con trâu. Cho đến hôm nghe có các quan trong Kinh ra xin giảng hòa, nó mới nguôi cơn điên được mấy hôm. Nhưng rồi bên ta lại có cánh quân nghĩa làng nào không biết, thách nó ra Cầu Giấy đánh nhau. Nó lại phát rồ lên. Nó đe lần này nó ra tận phủ Hoài, quyết phá đốt các làng từ ô Cầu Giấy đến tận Phùng. Nó biết tin bên ta đương sửa soạn đánh nó thật. Tin tức hai bên cứ thông tỏ như réo nhau ra mà thách. Bởi vì người ta vào thành hàng ngày. Ở trong thành, thằng Tây buôn Đu Bi sắp mở cả một khu phố mới trên bờ sông, nó làm như cái Kẻ Chợ riêng của nó. Cho nên, bọn Tây đi đứng thế nào ai cũng biết.
Thế là một vùng ngoài thành phía bắc lại dậy lên tin Tây sắp đánh ra. Nhiều làng nghe ngóng rồi rộn rịch chạy. Bao năm loạn lạc, chẳng mấy khi được ở yên. Cả tổng Trung, cả vùng phủ Hoài chạy loạn dồn lên Giày Kẻ, Noi Cáo. Giày Kẻ lại kéo sang ở đậu tận Bắc Bỏi bên kia sông Cái.
Nhưng chỉ vẫn chỉ các ông già bà lão và trẻ con đi, chứ trai tráng thì không mấy ai chạy loạn. Ai cũng nghĩ vừa đau vừa buồn cười, vừa căm giận đến phải chửi lên một câu. Bởi vì mỗi lúc thời buổi nháo nhác, lại vẩn lên biết bao chuyện bẩn thỉu, hèn hạ. Cứ gì giặc Tây, lắm khi chỉ nghe mơ hồ bên kia sông có bọn cướp to sắp tràn sang, mới thế mà các quan giữ thành Hà Nội đã mặt xanh như tầu lá. Đến bây giờ người ta còn kháo nhau như chuyện trò hề. Chỉ có quan thấy kiện thì bò đến như kiến thấy mỡ, còn từ hôm Tây chiếm thành, đến cả tháng sau cũng vẫn chưa ai lôi ra được mặt ông quan nào ở đâu. Người ta lại vừa mếu, vừa đùa: “Dễ thường các quan đã chạy loạn về rồi, người gặp ngoài đường, mà không nhận được mặt. Sợ quá cái mặt cũng khác đi đấy”.
Phen này mà Tây ra phủ Hoài, chắc làng nào cũng có người đi đánh. Cũng lại là thường thôi. Có năm, đê Văn Giang vỡ, chẳng mấy năm đê Văn Giang không vỡ, thế mà người các vùng đã dựng lên xưng danh làm ông xuất, ông đề, ông ngũ kéo quân đi hỏi tội các quan làm sao để cho thiên hạ đói, làm sao đê điều vỡ mãi. Vận hội đất nước và con người cứ có khi, có lúc bồng bột thế. Đâu cũng đồn quân Tự So tận Kẻ Mảy ra. Còn thì Quận Chữ trên làng Hồ, trong Noi có Lãnh Trứ, trong Đăm có Đề Kiên. Thế nào các tay khét tiếng tụ nghĩa ấy cũng nổi quân ra rồi.
Ông Xuất Vấn ở Nha đã được đích thực các ông ấy cho người ra đưa tin như thế. Ông Xuất mấy lần vào Cổ Nhuế. Tây Tựu, Mễ Trì, các nơi ông cũng đã đi cả. Rồi về, ông Xuất cho gọi anh em thủ hạ lại. Việc cứ thế, cứ thế mà làm. Có gì báo cho nhau biết thêm. Ngày ngày, các làng lại cho người vào dò la trong thành.
Có độ nghe tin quân ông Tán Dương [4] , ông Khâm [5] , ông Đề Lưu [6] , lúc Sơn Tây, lúc Hưng Hóa, khi Tuyên Quang, quan quân mới xuống, đã đóng đen nghịt suốt dọc sông Tô Lịch rồi. Nghe thế, ai cũng phấn khởi. Nhưng cũng phấp phỏng lắm. Quân quan triều đình kéo về kéo đi, ai biết đâu chừng. Chỉ có làng nước, có bờ tre, có ao đình thì bao giờ cũng vẫn ở mãi một chỗ không đi đâu được cả. Không có quân quan, không có cơ Chấn, cơ Định, cơ Hùng, cơ Dũng [7] thì ta lập quân lên mà đánh. Vua quan không biết đến mà phong thành ông thống, ông vệ, thì người ta cứ đặt chức tước lên mà hội quân. Thằng Tây ra, nhất định thịt thôi. Nó ra lối nào cũng có người của ta chặn.
Quân ông Tự So tận Mễ Trì cũng đã về la liệt ở Vòng. Chiều chiều, ông Tự So cầm cái tay thước đi tắt cánh đồng Noi ra Nha đánh chén với ông Xuất Vấn, đến khuya mới cùng thủ túc về.
Ông Xuất, hôm ấy, gọi anh em lại.
- Ta mới được tin Tây cận ngày ra lắm rồi. Anh em đừng ai đi đâu nữa, kẻo lúc có việc động dụng không kịp. Không ai ra khỏi cổng làng. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Một người lắc đầu nói:
- Mấy hôm nay nhiều người vào thành lắm.
- Chúng nó vào thành làm gì?
- Bẩm ông lớn, đi khuân gạch.
Có những chỗ tường thành loang lở trống trải từ mấy năm nay, không ai trông nom đến, người các làng xung quanh thường lẻn vào khuân về. Lính phòng thành gác trên chòi cứ làm ngơ. Làng nào cũng xô nhau đi khuân gạch vồ tường thành. Những người túng đói lấy từng viên gạch vồ, gạch hòm sớ về bán cho người ta xây tường, bán cho nhà chùa, cho làng xây cổng, ngõ xóm.
Một người nói:
- Phải cho người của ta đi xem có phải thế không. Nếu là vào thành lấy gạch như mọi khi thì không nên cắt miếng cơm người đói. Nhưng không cho bố con thằng Vạn đi.
- Bố con nhà Vạn làm sao?
- Người của ta để ý thấy hôm nào bố con nó cũng đi, nhưng không thấy khuân gạch về.
- Nó đi đâu?
- Bẩm ông lớn, không biết ạ.
- Thế mới rầy!
Ông Xuất Vấn nói:
- Việc này phải nghĩ đấy. Lúc nãy ai nói thằng lý trưởng ô Chợ Dừa đã vào ở trong Trường Thi với Tây rồi. Có đích xác không?
- Cả chánh lý mấy làng ngoài Mai Dịch cũng rục rịch chạy.
- Chúng nó nói thế nào mà là chạy?
- Có người đến lạy van thẳng với ông tự, ông quận, ông đề quân ta thưa xin đội ơn quan lớn con thề không bao giờ làm mật thám, không bao giờ theo Tây, con chỉ tham sống sợ chết thôi. Bây giờ hai bên sắp đem nhau ra quyết liệt sống mái ở đây, con phải tránh đi để khỏi tai vạ.
- Bọn cua cáy ấy thì giết làm gì cho bẩn dao, nhưng cái lũ vào thành theo Tây mà ta vớ được thì cứ việc chặt chân, chúng mày nghe không.
- Có đứa còn về khoe Tây mới chiếm thành mà bây giờ cái gì Tây cũng có, đông vui hơn chợ Cầu Dừa, chợ Hàng Bè nữa. Hôm nào Tây cũng đón phường về hát tuồng rồi đi rao gọi người trong phường vào xem.
Ông Xuất Vấn gật đầu:
- Được, để tao cho hỏi tội thằng Vạn.
Ông Xuất Vấn gọi lão Vạn đến.
Lão Vạn gốc người ngoài Kẻ Sở bên hồ Tây, nhưng cứ phiêu bạt, có khi lên Phú Gia, mấy năm nay xuống làm ăn dưới Nha, ở đâu cũng loi thoi nheo nhóc không kiếm đủ miếng. Nhà không có, ở ghé mái ngoài, khi cửa đình, cửa đền và cứ bố con một mình một tính. Cả vùng người ta, làng trên chạ dưới, nghề giấy, nghề canh cửi, trồng dâu nuôi tằm, làm ruộng trồng ngô đất bãi, đằng này, lão không. Vẫn lối dông dài quan viên Kẻ Sở, cái giỏ đeo đít, suốt ngày quanh năm lúi húi, lang thang như con cuốc lủi kiếm con nhái, con lươn ngoài đồng. Không vào làng, không hàng phe, hàng giáp, không biết đến ai. Mà giá ông thủ từ ngoài đền có đuổi không cho lão trú chân lão cũng đi ngay. Sống bằng con cáy cái tôm theo bờ ruộng, đi đâu, ở đâu cũng đến vậy thôi.
Vừa thấy ông Xuất Vấn, lão Vạn đã bước đến tận nơi chắp tay vái rồi thì thào:
- Ông ơi, ông nghe tin gì chưa?
- Tin gì?
- Thằng lý trưởng trại Đại Ơn theo Tây rồi.
- Tao biết. Nó còn đem lính về Đại Ơn bắt người nữa chứ gì!
Rồi ông Xuất cười nhạt, vuốt vểnh một bên ria mép, chăm chắm nhìn lão Vạn, trong khi lão đương lơ láo vì những chuyện ghê gớm đến như thế vừa xảy ra mà ông Xuất cũng đã rõ.
Ông Xuất nói:
- Làng người ta có việc người ta, làng mình có việc làng mình. Làng mình khác làng người ta, nghe không.
- Vâng ạ.
- Ông lý làng ta đương ốm. Nhưng mà giá có khỏe, ông ấy cũng không đi theo Tây như thằng nào đâu.
Lão Vạn kể lể tự nhiên:
- Ông ấy tiếc cái nhà ngói cửa bức bàn, ông ấy còn hòng có khi về mà giữ. Cả mười mẫu ruộng chân liền nữa. Đi với Tây, biết còn gì ăn, lại biết bao giờ về.
- Không phải ai cũng dễ theo Tây đâu. Bọn chánh lý cũng tùy đứa. Ừ, đi theo Tây cũng còn có lúc phải về làng nước, về thì biết cất cái đầu đi đâu.
Rồi ông Xuất nghiêm mặt, nói:
- Thằng Tây chứ thằng giặc trời cũng không đặt chân được vào khoanh tre làng này. Tao nhất quyết thế. Mày cũng biết đấy. Tao không phải lý trưởng.
- Dạ, vâng.
- Nhưng bây giờ tao trông nom cả làng.
- Vâng ạ.
- Quân tướng làng này đủ.
- Bẩm lạy ông lớn.
- Tao ra quân lúc nào cũng được.
- Bẩm ông lớn, ra quân ngay bây giờ ạ, để con xin...
- Cho mày đi báo Tây à?
- Ông lớn đừng chặt đầu con, con...
- Có phải bố con mày vẫn vào thành lấy gạch?
- Vâng ạ.
- Sao không thấy mang về hòn nào?
- Được hòn nào con đã mang vào bán ngay cho Nhà Chung ở ngoài làng Chân Cầm. Ngoài ấy lính đạo nó mua được giá hơn.
- Được rồi, nếu phải là thế thì tao giải cái oan cho mày. Nhưng mà từ hôm nay tao cấm không được ra khỏi cổng xóm.
- Bố con con chỉ đi dỡ gạch bán kiếm ăn, cũng như người ta.
- Không được.
- Ai có trông thấy con vào thành, con xin chịu tội bêu đầu tế cờ. Thế thì con không bán gạch cho lính đạo Nhà Chung nữa, con đem về bán cho người làng Hồ xây tường vậy.
- Ông đã bảo không được đi đâu cả.
- Bẩm vâng.
Có tin gà gáy mai các làng hội quân ở Cống Vị. Ông Xuất Vấn làng Nha, ông lãnh Trứ trong Noi đều được báo gấp như thế.
Đề Cụt kể đến quãng các ông đi hội quân ở Cống Vị, không biết chuyện đã sang canh mấy rồi. Ngoài kia tối đen, không còn trăng mờ như lúc nãy. Khi sắp tàn canh, cái lúc ngày đêm giao nhau, bao giờ trời đất cũng có một khoảnh khắc sẫm lại như thế. Chẳng nghe một tiếng gà, chỉ có gió hú lên như hàng nghìn con cú con chồn cùng một lúc về kêu trong cánh đồng. Lại bỗng nhiên chợt lặng im. Rồi nghe rời rạc rơi xuống một tiếng vạc rải rác đi ăn đêm bay qua.
Đề Cụt bảo ông già:
- Khuya lắm rồi. Cố nghỉ đi. Mai còn độ đường nữa mà.
Ông già nhấc điếu cày, rồi mới hỏi. Nét mặt nhăn nheo bỗng căng thẳng, hai mắt chăm chăm nhìn như đợi từng tiếng Đề Cụt nói. Trong khuya, lúc ấy chỉ còn một người kể, một người nghe ngồi đấy. Phía cửa bếp, Gái ngả mình duỗi chân tựa vào vách, không biết thức hay ngủ.
Ông lão hỏi:
- Thế rồi hai bên đánh nhau to?
- Vâng, đánh nhau to.
- Có phải có một thằng quan Tây phóng ngựa ra Cầu Giấy, mới đến cửa đền Trại đã bay mất đầu.
- Quân ta hạ đấy ạ.
- Còn thằng Ngạc Nhe thì chết thế nào?
Đề Cụt mỉm cười:
- Thằng Ngạc Nhe thế nào a? Thằng Ngạc Nhe đánh thành cửa Bắc bắt được ông Kinh lược Khâm sai, nó tưởng thế là nó tài hơn thiên hạ rồi. Mới nghe có quân ta lăm le đánh lấy lại thành, nó đã tức đổ máu mắt, xông ra, chỉ đem theo mười tám thằng vừa quan vừa lính và một cái xe súng thần công. Đến ô Kim Mã, thấy súng trong bụi tre bắn ra, nó mới giật mình. Nó cho quan hai Ban-ny [8] đi thẳng Cầu Giấy, nó lên Thủ Lệ. Thằng Ban-ny đến cửa đền Trại bị ta bắn chết đấy. Thằng Ngạc Nhe lên được một quãng đê, đương chạy xồng xộc thì bị sụt hầm. Cả nó, cả thông ngôn, cả thằng lính hầu chết tươi ngay. Chặt đầu rồi khiêng cái sỏ nó đi rồi, lột lon quan ba của nó đem theo rồi mà lục mãi không thấy khẩu súng lục. Ra cái thằng ngông quá, đi đánh nhau chỉ đem rượu, quên cả đem súng.
Đề Cụt im một lúc rồi trợn mắt, nghiến răng nói:
- Người ta đồn dăng dăng là ông Tán Dương hội quân với ông Đề Lưu ở Hạ Yên Quyết, ngay đêm ấy lên Sơn bàn với ông Thống [9] cùng nhau cho quân đem cả súng thần công, cả voi chiến về đánh chiếm lại thành Hà Nội. Nhưng cái lão Hoàng này lại co vòi, lắc đầu. Thế có cay đắng không?
Cái bác hay nói đùa đã ngủ từ nãy, bây giờ bỗng thức, nghe thế rồi thong thả góp vào chuyện:
- Chư ông ạ, cái năm tôi còn trẻ, đã có lần tôi phải ba năm đăng lính phòng thành [10] , tôi đã nhẵn chân đi tuần khắp bốn mặt thành Hà Nội đấy. Vọng canh san sát, một khóa lính tuần đi suốt đêm liền ba năm mới mãn mà cũng không thuộc được hết mặt nhau. Cứ tám thước [11] một tầm mà đường vòng bốn cửa thành trên hai nghìn tầm chứ có ít đâu. Cái hào bọc quanh thành sâu ngập con sào, rộng năm chục tầm, thuyền đánh lưới ngoài sông Tô Lịch vào được mà. Trời, lại còn mỗi mặt thành ngồi năm khẩu thần công oai vệ trong pháo đài, ngày rằm, mùng một chúng tôi phải khói hương cúng các ông súng. Nào chỉ có thế thôi, bên trong còn có hoàng thành, cấm thành, tường cao đến nỗi chập tối đàn dơi bắt muỗi cũng chỉ chập choạng bay đụng ngang vòm cửa. Rồi nào dinh tổng đốc, đề đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát, mỗi dinh là một cái thành con, đồn ngũ sẵn sàng, cả thủy binh, tàu ngựa, trường đúc tiền, trường đúc đạn, đồn tượng binh, xung quanh lại có hàng chục cái ao cho voi tắm... Nhiêu khê quá. Ấy thế mà một tay thằng Ngạc Nhe với thằng lái buôn Đu Bi với dăm chục khẩu súng mà vua quan chạy táo tác. Đến đỗi các làng hội quân ra chặt được đầu thằng Ngạc Nhe rồi mà các quan vẫn còn hoảng hốt chạy loạn chưa một ai dám về. Nhục thật.
- Thằng Ngạc Nhe cụt đầu rồi mà quan quân cũng chưa dám vào lấy lại thành!
- Chó má nhỉ!
Mọi người lại lặng im. Cái im lặng ngấm xuống, như cơn đau.
Đề Cụt ngửa cổ phả một hơi thuốc lào, tần ngần lúc lâu rồi thở dài.
- Không ai ngờ giữa lúc ở đầu ô ta được to như thế thì đằng Cống Vị cũng có đánh nhau. Quân ta nấp cả xung quanh gốc đa chỗ Đấu Đong, chặn lối nó ra đằng ấy. Trời còn chưa sáng. Ai cũng ngóng sao chưa thấy quân ông Lãnh Trứ đến. Mãi mới nom như có bóng người đi phía miếu Đôi lên, rồi thấp thoáng nhiều người qua sông. Đúng quân lãnh Trứ rồi. Giữa lúc nghe phía Cầu Giấy có tiếng súng, một bọn Tây từ phía trong trại Liễu Giai kéo ra Cống Vị. Bên ta và anh em bên ông Lãnh Trứ chạy ra đón nhau, trời rét như cắt, sương mù mịt, ta không biết gì cả. Thế là chúng nó bắn vào tận nơi.
Đến đấy, ông già không hỏi nữa. Mà Đề Cụt cũng ngồi lặng, lờ đờ mắt, tay khều cái điếu, xoa lòng bàn tay trên đầu ống. Câu chuyện buồn bã rồi sẽ như thế nào, hình như cả người kể và người nghe chuyện cũng đều đã biết.
Khói thuốc lào lại mờ mịt trên mặt Đề Cụt. Tiếng Đề Cụt khao khao như tiếng người nói ở đâu.
- Trận ấy, hai bố con ông Xuất tôi đều chết trận.
Ông già thở dài, thốt ra một câu khó hiểu:
- Một mặt người bằng mười mặt của, chư ông ạ.
Hai người im một lúc thật lâu. Im lặng sâu thẳm. Bỗng thõm một tiếng vạc kêu trong vòm sương ngang trời, hệt tiếng nức quệt xuống mặt nước.
- Sáng hôm ấy, làng kéo quân về, đi lùng bố con nhà Vạn để hỏi tội. Nhiều người vẫn ngờ bố con nhà này lắm. Làm sao Tây bắn thẳng được ngay vào chỗ gốc đa. Phải có đứa phản phúc thế nào nó mới biết được quân ta đã đến đấy. Ai cũng tưởng có lẽ bố con nhà nó trốn rồi. Nhưng mà đến lúc thấy lão vẫn ngồi hun chuột ở giữa cánh đồng. Bảo lão là ông Xuất chết trận rồi, lão ôm mặt khóc hu hu. Cũng không ai nỡ giết. Biết nó thế nào, có khi cũng là cái số con người ta thôi, cố ạ.
Đề Cụt mở mắt nhìn và nghe ra tiếng ông già thở dài, như tiếng não nuột từ lúc nãy chưa dứt.
Lát sau, Đề Cụt hỏi ông già:
- Mai bố đi còn xa không?
- Tôi cũng xuống Nha đây thôi.
- Bố về Nha à?
- Chẳng nói giấu anh, tôi về viếng ông Xuất.
Đề Cụt đứng phắt dậy, một cánh tay ôm chặt vai ông già, nước mắt giàn giụa.
- Giời ơi, ông, có phải ông là ông Tư ở Ba Trại đấy không?.
Ông già nói khẽ:
- Tôi đây.
Đề Cụt cứ một tay ôm ông Tư như thế, nước mắt ròng ròng.
- Ông Tư ơi, không ngờ mà anh cả Vấn cũng chết trận sáng hôm ấy ở Cống Vị.
Một lát sau, ông Tư nói:
- Mãi đến đầu năm nay tôi mới biết. Tháng Ba năm ngoái, không thấy người lên tảo mộ tổ, tôi đã ngờ ngợ. Nhưng cũng không ngờ. Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận, bố con tôi xuống viếng ông Xuất, viếng cháu cho phải đạo, dẫu rằng một ngày cũng nên nghĩa...
- Cậu cả cùng đi với ông đây là...
- Nó là thằng út nhà tôi.
Không ai biết lúc ấy anh chàng con út nọ vẫn nằm thức, hai mắt mở chong. Đến khi Đề Cụt ôm vai áo ông Tư kêu lên, nước mắt anh cũng ứa ra giàn giụa ướt xuống thấm cả mặt cái tay nải gối đầu.
Trời dần dần rạng sáng...
Từ canh ba trở đi, các quán trọ dưới gốc đề đã rộn rịch người sửa soạn gồng gánh, rồi lần lượt đi. Hầu như cho đến sáng bạch, chẳng nhà nào còn khách nữa. Ai cũng muốn mải miết đi từ lúc tối đất cho qua nhanh được độ đường một ngày khó khăn trước mặt.
Những cây đề chơ vơ giơ cành khẳng khiu lên nền trời đục sáng sớm. Cái quán hàng ban ngày trông như những đống rạ mốc thếch. Cả bốn phía, những con đường tắt thấp thoáng từng quãng trong cỏ cao ngang đầu người. Phía nào cũng vắng ngơ vắng ngắt như mọi ngày thường. Không ai có thể tưởng tượng ở nơi quạnh hiu ấy lại có lúc đầm ấm, ồn ã, có những đêm người ta lo nghĩ gần xa như đêm qua.
Bố con ông Tư đã sắp sẵn khăn gói.
Đề Cụt giữ lại mời cơm sáng thế nào cũng không được: - “Thế thì tùy ông...”
Đề Cụt bao giờ cũng là người kỹ tính. Ông Tư vẫn thường xuống nhà ông Xuất, Đề Cụt biết thế, nhưng Đề Cụt chưa được gặp ông Tư lần nào. Mặc dầu, Đề Cụt trước nay đã biết cả Vấn sắp làm rể ông Tư, hai nhà đã có chạm ngõ, ăn hỏi. Nhưng Đề Cụt cứ chợt lại nghĩ: Có phải ông Tư đây không... hay là thế nào... Cứ cẩn thận vẫn hơn.
Ông Xuất Vấn mất đã ngót hai năm rồi mà Đề Cụt vẫn nhớ như sinh thời ông Xuất. Cái hàng cơm chứa trọ của Đề Cụt chẳng qua chỉ là nơi che mắt thế gian, chỗ này là trạm gặp gỡ của nhiều hội nghĩa các vùng. Đón hẹn, rủ đi hội, có khi tải giáo mác, tải súng, có khi đưa đường. Đề Cụt vẫn được các nơi giao làm việc ấy. Người mất rồi mà Đề Cụt vẫn nhớ lệ, vẫn coi đây như trạm gác, vẫn cẩn thận.
Đề Cụt gọi em gái ra sau nhà, dặn vội mấy câu, rồi ra nói với khách:
- Hôm nào về ông lại qua đây nghỉ, bây giờ tôi cũng không dám giữ. Tôi chỉ xin cho em tôi nó đưa hai ông con về dưới Nha.
Ông Tư thoái thác:
- Tôi thuộc đường rồi mà.
Đề Cụt cười, nói:
- Đành là ông thuộc đường, mà tôi không biết thì chẳng nói làm gì nhưng đã biết ông đã về qua đất ông Xuất tôi, chúng tôi phải lo lắng tươm tất, đấy là bổn phận của con cháu, xin hai ông con cứ cho tự nhiên thế.
Hai người ngồi nhấp chén rượu sớm rồi mới đi. Chỉ có Gái, cứ vừa hí hửng vừa lạ lùng và ngỡ ngàng không hiểu sao hôm nay anh lại bảo đưa hai người khách đường ngược chu đáo đến thế về Nha.
Có lúc Gái chợt nhìn tấm áo năm thân rộng thùng thình của anh chàng. Rõ ra người đường ngược về đất tỉnh. Nhưng trong cái vẻ chân quê vẫn thấy sao ở đâu mà có người điển trai đến thế. Gái cứ nhìn anh chàng, đôi lúc đăm đắm, con mắt có tình với ai như không rời ra được.
Gái mỉm cười, lại hỏi trống không:
- Đã hết đau chân chưa?
Anh chàng chỉ lắc đầu không nói.