Sáu Người Đi Khắp Thế Gian

Lượt đọc: 1515 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
marrakech

Tunis là nàng ngựa cái xinh đẹp, Algeria chàng ngựa giống dũng mãnh, Marốc một vị chúa sơn lâm.

Sau khi nghỉ hưu, một biên tập viên của tờ The New Yorker đã kể về lần tòa báo thu lượm được câu chuyện hoang đường này nhưng rồi lại lãng phí ba tuần cố nghĩ ra cách viết bài thật khôi hài. Hình như một thư ký ngân hàng đã bỏ trốn cuỗm theo 100.000 đô la và phung phí hết vào cuộc sống phóng túng ở Philadelphia. Không một lời bình luận nào có thể khôi hài hơn bản thân sự việc. Tôi cũng có cảm giác tương tự về thông báo của Algeria nói rằng sẽ sa thải 1200 giáo viên được đào tạo tại trường Sorbonne và thay bằng 1200 người được đào tạo tại đại học Cairo.

Vậy là đã có một cuộc họp kín khá quy mô gồm nhiều nhà lãnh đạo Hồi giáo tại vùng này... các quốc vương và các triết gia đạo mạo đều quấn khăn xếp... vàng dát trên quần áo đủ lập nên cả một ngân hàng. Và khi đoàn Ả rập rời khỏi tiền sảnh, anh lính Mỹ người Texas đó đã đến chỗ tôi hỏi, “Này anh bạn, bọn Trung Đông ấy là ai thế?”

Koutoubia, Koutoubia!

Xứ sở của gai dầu, cần sa và mật ong,

Nơi các huynh đệ kết nối bằng yêu thương

Và chẳng thèm quan tâm đến tiền nong.

Koutoubia, Koutoubia!

Hãy đưa ta băng qua bao đại dương trở về nhà,

Ta phải trở lại, ta phải trở lại

Nơi ta từng cầu nguyện với tấm lòng thành.

Anh chàng trong góc công sự là một trường hợp đáng buồn. Trong này ồn ào đến nỗi anh không thể nhớ nổi lý do anh gia nhập đội quân lê dương để mà quên đi.

Trước chiến tranh tôi thường thấy người đàn ông Ả rập ấy bước xăm xăm trên đường, theo sau là ba bà vợ mang bọc hành lý. Sau chiến tranh tôi thấy ông ta vẫn đi xuôi con đường đó, cùng với ba bà vợ đó mang theo những bọc hành lý đó, nhưng lần này họ đi trước còn ông ta đi sau. Tôi dừng lại nói với ông ta, “Abou, tiến bộ đấy.” Ông ta nhìn tôi với vẻ coi thường và bảo, “Không phải tiến bộ. Tại địa lôi thôi.”

Rốt cuộc sẽ chỉ có một thứ lấp được hố ngăn cách giữa các thế hệ: Tiền.

Kinh dịch là Kinh Thánh không có những lời răn dạy theo lối tư bản.

Trai già cũng có đồ chơi riêng giống như trai trẻ; sự khác biệt chỉ là vấn đề giá cả.

• Franklin

Cho đến tận năm 1941, khi đến Marrakech mà không mang theo hậu cung của mình, các du khách từ sa mạc đều trọ ở khách sạn này, và phòng nào cũng có một cậu bé Ả rập để thoả mãn nhu cầu tình dục thường lệ của họ. Tôi sưu tầm được mấy hóa đơn cũ. “Bé trai, ba mươi sáu đồng bạc.”

Rắc rối của truyền hình nằm ở chỗ nó như một thanh kiếm nằm mốc lên trong bao suốt trận đấu một mất một còn.

• Edward R. Murrow

Cũng như các quốc gia thịnh vượng nhất, những người đàn bà hạnh phúc nhất đều không lịch sử.

• George Eliot

Cái chết là cách tạo hóa gợi ý rằng anh phải hãm tốc độ lại.

Đối với người da đen, ghét người Do Thái cũng giống như trung vệ trái ghét hậu vệ phải, nhà buôn ghét lính cứu hỏa, trung úy ghét trung sĩ, hay người anh ghét đứa em; bởi vì trong mỗi trường hợp ấy, sự hợp tác là không thể tránh khỏi, và phối hợp hành động cho một mục đích chúng khiến mỗi bên rõ ràng mạnh mẽ gấp bội so với khi anh ta đơn thương độc mã.

Được học hành đồng nghĩa với việc không chỉ thích cái tốt đẹp nhất hơn cái tồi tệ nhất mà còn hơn cả cái tốt đẹp nhì nữa.

• William Lyon Phelps

Tuổi trẻ là chân lý.

—★—

Khi con tàu chở hàng Hy Lạp cập cảng Casablanca, Joe đã bị một cú sốc khiến anh rất khó chịu. Sau khi kiểm tra hành lý của các bạn trẻ, nhân viên hải quan chĩa ngón tay trở vào Joe, cộc lốc, “Vào cửa kia.”

Băn khoăn không hiểu người ta tìm được gì trong đồ đạc của mình, Joe đi qua cánh cửa và rơi luôn vào một tình thế bất ngờ. Một viên chức Marốc phì nộn đội mũ đuôi seo đang ních người chật cứng trên ghế trước một cái bàn làm việc bừa bộn, trong khi một ông thợ cạo thấp bé, da dẻ nhăn nheo mặc áo choàng dài màu trắng đứng cạnh một chiếc ghế cắt tóc kiểu cổ. Viên chức nọ nói ngắn gọn, “Nếu anh muốn đặt chân vào Marốc... không râu, không tóc dài.”

Joe định phản đối rằng với tư cách một công dân tự do... nhưng viên chức nọ đã cắt ngang: “Không cạo thì cứ ở ngoài.”

“Nhưng...” Lời phản đối của Joe bị chặn đứng một cách dứt khoát khi viên chức nọ thả một cái đồng hồ rẻ tiền xuống bàn và nói, “Anh có ba phút. Cạo hay không cạo.”

Joe cảm thấy máu nóng bốc lên đầu. Anh muốn đập phá tan tành văn phòng này và đấm vào mũi lão viên chức béo phì, nhưng ông ta chỉ nhìn anh chằm chằm, trỏ vào đồng hồ: “Hai phút nữa là mời anh rời khỏi đây.”

“Tôi có thể trao đổi với các bạn được không?” Joe nài xin.

“Còn chín mươi giây. Tốt hơn hết hãy ngồi vào ghế đi.”

Ông thợ cạo nhỏ bé, tự bản thân cũng cần cạo râu không kém, điềm tĩnh chờ cho vấn đề ngã ngũ. Ông không hẳn là mời Joe ngồi vào ghế, nhưng cứ đứng trong tư thế sẵn sàng, vậy nên vào lúc chót Joe đành nhún vai ngồi xuống, thế là người đàn ông nhỏ bé rối rít bắt tay ngay vào việc.

“Tôi đã cắt tóc được ba năm... Boston. Thành phố thượng lưu Boston. Đội bóng chày Red Sox. Cầu thủ Ted Williams...” Ông ta nói liến thoắng như súng liên thanh, nhưng đôi tay ông còn nhanh hơn nhiều. Dùng một cái tông đơ chạy điện kêu tanh tách, ông bắt đầu từ tai phải của Joe và cày một đường thẳng tắp qua hết cằm anh, sau đó tiến lên phía tai bên kia. Khi đã đến tai trái, ông không dừng mà lại lập tức chạy tiếp ngang qua gáy cho đến khi vòng lại tai phải. Ông thực hiện vòng tròn đó ba lần nữa, cắt bỏ hết râu và đuôi mái tóc dài sau gáy Joe.

Rồi, chuyển ngay sang dùng kéo, ông cắt từng nắm tóc lớn trên đỉnh và chỉ sau vài phút tóc Joe đã đạt được một hình dạng đủ để có thể được tiếp tục tỉa cho gọn mắt. “Anh sẽ thích Marốc cho mà xem,” ông nói. “Một đất nước tuyệt diệu... đồ ăn thức uống ngon lành... khi nào thưởng thức lần đầu món couscous, hãy nhớ đến tôi nhé. Tôi khuyên anh nên nếm thử.”

Ông được chính quyền thuê để cắt tóc cạo râu cho mọi tay hippy muốn vào lãnh thổ Marốc, và chỉ cần loại bỏ mái tóc chướng mắt là ông đã tròn trách nhiệm của mình, nhưng ông lại là một nghệ sĩ, vì vậy ngay sau bước đầu xén ngắn bộ tóc không thương tiếc, ông lại biến thành một thợ cạo tinh tế, góp ý cho từng thanh niên nên để kiểu đầu mới nào. “Tôi thấy anh nên để kiểu cao bồi, có lẽ thế,” ông nói với Joe. “Hay kiểu nhà vô địch đua xe đạp đi vòng quanh nước Pháp tìm vinh quang. Rất đàn ông... ngực nở. Tôi muốn anh để tóc chấm tai... không cạo nhẵn. Và có thể là kiểu bàn chải trên đỉnh. Dáng người như anh để kiểu bàn chải được đấy... rất nam tính.”

Vừa xoa bọt xà phòng lên mặt Joe, ông vừa thì thào để lão nhân viên hải quan ngồi ở bàn giấy không nghe thấy, “Người ta không cho tôi tiền mua lưỡi dao cạo tốt. Chẳng dễ chịu đâu, nhưng tôi sẽ chà râu cho anh lâu lâu một chút để nó mềm đi.” Ngay từ nhát cạo đầu tiên Joe đã nhăn mặt, người đàn ông nhỏ thó bèn nói, “Tôi rất thông cảm. Để tôi mài cái đồ chết tiệt này thêm lần nữa vậy,” và ông ra sức mài cho đến khi lưỡi dao sắc hơn.

Sau khi rửa mặt và chải tóc cho Joe, ông lùi lại một bước để chiêm ngưỡng tác phẩm của mình. “Anh khá đẹp trai đấy... những khi anh để chúng tôi nhìn thấy mặt. Kiểu tóc thật hoàn hảo. Các quý cô ngoài kia sẽ hoan nghênh nhiệt liệt.” Rồi ông vớ lấy một cái ống nhỏ có tay cầm trang trí đinh tán bằng đồng, xoay nhanh cổ tay, ông rắc lên đầu Joe khá nhiều phấn.

“Ấy thôi!” Joe phản đối, với tay lấy chiếc khăn bông. “Tôi không dùng phấn thơm đâu.”

“Không phải phấn thơm,” ông thợ cạo cải chính. “Bột trừ chấy rận đấy,” và rắc cho Joe một lớp bột dày cộp nữa, ông nói thêm, “Chào mừng anh đến Marốc.”

Joe trở lại phòng kiểm tra hải quan và tiến về phía các bạn đồng hành đang đợi, gần như tận lúc anh đến đứng ngay trước mặt rồi, họ mới nhận ra. Rồi Monica kêu lên, “Chúa ơi! Còn sống kìa!” và Cato la to, “Anh bạn của chúng ta!” Trong lúc họ xúm lại xung quanh, Joe nói, “Tôi cảm thấy như đang cởi truồng vậy,” nhưng Gretchen thì thầm, “Anh thật sự rất đẹp trai,” tuy nhiên khi cô định hôn, Joe lầm bầm đẩy cô ra, “Cái thứ trăng trắng này... bột trừ chấy rận đấy.”

—★—

Ngay khi chiếc pop-top màu vàng lăn bánh vào con đường quốc lộ rộng thênh thang dẫn đến Marrakech, những người ngồi trên đó đều ý thức được rằng họ đang tiến gần tới một thành phố rất đặc biệt, một thành phố đã trở thành thỏi nam châm thu hút những thanh niên thích phiêu lưu mạo hiểm trên khắp thế giới. Họ nhìn thấy những người Thụy Điển, người Đức và Mỹ ngồi trong những chiếc xe ô tô nhỏ hoặc đang vẫy tay xin đi nhờ. Mỗi khi vượt qua một chiếc xe buýt, họ lại thấy bám vào đó cơ man các loại người, đủ sức làm khiếp sợ viên cảnh sát trưởng ở một thành phố bang Iowa hoặc một ông thị trưởng Massachusetts đang chờ đón festival nhạc rock. Bầu không khí hào hứng bao trùm khắp nơi, và khi dừng lại giữa đường để châm thêm xăng, họ bắt chuyện với một cặp trai gái đang trên đường về Casablanca.

“Sao lại tóc dài được?” Joe hỏi chàng trai.

“Không sao đâu. Cắt tóc chỉ là vấn đề to tát khi anh mới đến thôi. Sau đó thì ai thèm để ý chứ?”

“Có vui thú như người ta kể không?” Monica hỏi.

Cô gái nhắm mắt hôn gió. Chỉ có vậy, nhưng anh con trai đáp, “Chúng tôi đã ở sáu tháng. Bây giờ quay về Hoa Kỳ không khác gì tự sát.”

Hai bên tự giới thiệu: “Đây là Jeanette người Liverpool... Joe người California... Gretchen ở Boston...”

Rồi Gretchen hỏi, “Khi chúng tôi đến đó rồi... thì... ờ... chúng tôi sẽ làm gì?”

Cặp đôi đang dợm bước rời khỏi bèn bật cười trước sự ngây ngô của Gretchen, cô gái trả lời, “Các bạn lái xe xuyên qua thành phố, qua Koutoubia - đó là một cái tháp giáo đường rất đẹp - và tới Djemaá el Fna.” Ấy là lần đầu tiên những người mới đến nghe thấy cái tên sẽ hình thành nên trung tâm cuộc sống của họ trong những tháng tiếp theo.

“Nó là cái gì vậy?” Gretchen hỏi.

“Cái rốn của vũ trụ,” người con trai đáp. “Quảng trường lớn.”

“Các bạn đến Djemaá,” cô gái Liverpool nói tiếp, “và cứ đứng đó một phút nom cho ra người ngoại quốc, rồi thì sẽ xảy ra nhiều chuyện đến nỗi đủ cho các bạn hoa mắt chóng mặt suốt cả tuần đấy. Các bạn không cần phải tìm gì ở Marrakech cả. Mọi thứ sẽ tự tìm đến với các bạn.”

“Cảnh báo cho họ về thằng Jemail đi,” chàng trai nhắc.

“À, phải! Cảnh giác với thằng Jemail đấy. Nó là một thằng bé Ả rập khoảng mười một tuổi. Nó sống ở Djemaá. Nói được sáu bảy thứ tiếng. Đúng là kẻ ranh ma quỷ quyệt nhất kể từ thời Hầu tước de Sadeh[120].”

Người con trai bảo Gretchen, “Cô chỉ cần bước ra khỏi xe chưa đầy một phút, thằng Jemail sẽ bảo cô là nó có thể giúp cô kiếm được năm mươi đô la một đêm nếu cô chịu ngủ với các lái buôn địa phương. Còn nếu cô đủ can đảm đến một thị trấn phía sau núi, nó sẽ giúp cô kiếm được nhiều hơn nữa.”

Cato hỏi, “Cỏ thì sao?”

“Nhất thế giới luôn.”

“Hơn cả ở Nepal cơ à?”

“Tôi đã đến Nepal rồi. Ở đây xịn gấp đôi.”

“Người ta bán trong bao giấy bóng kính như ở siêu thị,” cô gái Liverpool cho biết.

“Nhưng các bạn kiếm ở đâu mới được chứ?” Cato hỏi.

Chàng trai đáp, “Thằng Jemail sẽ có sẵn bốn bao cho anh. Cứ đợi mà xem. Anh sẽ mua cả bốn bao dù có muốn hay không. Nhưng cẩn thận với những cái bánh quy nhỏ màu xanh lá mà nó bán lẻ. Gần như cần sa nguyên chất đấy. Tôi ăn nguyên một cái lúc bụng rỗng và nằm bẹp luôn hai mươi bốn giờ liền.”

“Đúng vậy,” cô gái xác nhận. “Anh ấy cũng xanh lè như cái bánh ấy.”

Gretchen hỏi, “Ở đâu có chỗ trọ tốt?” và cô gái mách, “Thằng Jemail sẽ cố kéo các bạn đến Rouen, nhưng đừng có tới đó. Kinh lắm! Chúng tôi chủ yếu trọ tại khách sạn Bordeaux, ở đó rất tuyệt. Đông bạn trẻ lắm.”

Joe ngập ngừng hỏi chàng trai, “Anh đã bao giờ nghe nói đến một người tên là Big Loomis chưa?” thế là cặp trai gái bắt đầu hăm hở kể đủ mọi chuyện liên quan đến người đàn ông đã trở thành huyền thoại ở Marrakech.

“Big Loomis! Nếu chỉ một phút anh đã gặp được thằng Jemail, thì sau sáu phút anh sẽ gặp Big Loomis.”

“Ông ta có đáng tin không?” Joe hỏi.

“Ở Marrakech chẳng ai đáng tin cả,” cô gái đáp. “Ngay cả ở khách sạn Bordeaux, người ta cũng sẽ ăn cắp hết tám cái cuối cùng trong gói bánh quy và lấp chỗ trống bằng giấy báo vò nhàu. Big Loomis trọ ở đó, nhờ vào tấm séc khiêm tốn từ gia đình và những món ông ta có thể xoay được từ những người như anh. Nhưng ông ta xứng đáng với từng đồng dirham một. Và để tôi bảo đảm với anh điều này. Nếu anh gặp rắc rối - ý tôi muốn nói là rắc rối thực sự ấy - Big Loomis sẽ sát cánh bên anh đương đầu với cảnh sát, với chính quyền thành phố, và đại sứ quán Mỹ. Ông ta sẽ chấp nhận đấu với cả thế giới.”

Gretchen hỏi câu cuối cùng, “Chúng tôi có thể ngủ trong chiếc Volks. Nếu là chúng tôi, các bạn có nghỉ ở khu cắm trại không?”

“Đến khu cắm trại làm quái gì,” cô gái đáp. “Chỉ cần nhìn thấy quảng trường Djemaá, các bạn sẽ biết đó là địa bàn hoạt động. Tôi sẵn sàng nhịn ăn để được ở gần quang cảnh đó.”

Và rồi ba cặp chia tay nhau, một đôi hướng về Tangier mà tiếp tục cuộc sống thường ngày ở Anh và Hoa Kỳ, hai đôi kia về phía Marrakech và lý tưởng sùng bái sự đổi thay.

Mãi chiều tà họ mới lần đầu tiên nhìn thấy dãy núi cao chót vót đứng canh cho thành phố Marrakech. Chúng đứng cả rặng trùng trùng điệp điệp, trải dài tít tắp về cả phướng Bắc lẫn phương Nam đến nỗi trông chẳng khác gì một hàng rào chắn không người nào có thể vượt qua. Đó là dãy High Atlas, quê nhà của người Berber Bắc Phi và cừu, và nó cống hiến cho thành phố đang náu mình dưới chân một tấm phông tráng lệ.

Dãy núi hiện ra cả tiếng đồng hồ mà vẫn chưa thấy bất kỳ dấu hiệu nào của Marrakech, nhưng khi mặt trời bắt đầu đỏ rực bên trên những đỉnh cao nhất, Cato nhận ra bóng dáng một tòa tháp vươn cao từ vùng đất bằng. “Nhìn kìa!” anh reo lên, và trong lúc Joe cho xe chạy hướng Nam, đường nét của công trình kiến trúc nổi bật này mỗi lúc một rõ dần. Đó là Koutoubia, một tòa tháp vuông đồ sộ cao hơn hai trăm foot, được xây dựng khoảng năm 1150 và quan trọng trong lịch sử với vai trò nguyên mẫu của tháp Giralda nổi tiếng ở Sevilla; mặc dù cả hai đều do cùng một kiến trúc sư Hồi giáo thiết kế, Koutoubia hơn hẳn, hoàn toàn xứng đáng với sự quan tâm mà người đời dành cho nó. Trong những tháng tiếp theo, nó sẽ là địa điểm được các du khách của chúng ta thường xuyên nhắc đến.

Lúc tòa tháp nom lớn hơn, các vườn cọ mênh mông cũng dần hiện lên, có lẽ nơi giống cây ấy tập trung dày đặc nhất trên thế giới, và trong lúc mọi người trên xe mải mê ngắm phong cảnh, Joe đột ngột đạp mạnh phanh thông báo, “Chúng đây rồi!” và sừng sững phía trước là những bức tường màu đỏ của Marrakech. Chúng tạo thành một hình vuông khổng lồ, mỗi cạnh dài hàng mấy dặm, vừa cao lại vừa rất dày. Thật khó mô tả những bức tường đó cho người chưa tận mắt nhìn thấy; tôi biết thế vì đã từng thử qua rồi, mà các bạn đừng tưởng tượng đến một bức tường lớn chạy thành một đường thẳng dài dặc có lẽ hàng nửa dặm. Các bạn phải mường tượng ra một bức tường choáng ngợp trải dài bốn năm chục dặm, hết uốn vào lại lượn ra, đồ xin xỉn và rực sáng dưới ánh chiều tà, một trong những công trình nhân tạo đồ sộ nhất. Đó là dãy tường thành Marrakech.

Bốn bạn trẻ băng qua cổng thành như bao khách lạ vẫn từng vào thành phố gạch đỏ này, kính cẩn trầm lắng. Nhiều thế kỷ nay những đội quân và người hành hương đã đến Marrakech, và luôn với cảm giác lo ngại khi nhìn thấy những hàng rào ghê gớm ấy.

Một sự kiện tiêu biểu đã xảy ra ở vùng này mấy thập kỷ trước, khi một đội quân lớn ở Marrakech, chán ngấy sự sai khiến của chính quyền trung ương, đã hành quân lên phía Bắc cướp phá thành Fez trong cùng thời điểm một đội quân từ Fez tiến xuống phía Nam để trừng phạt Marrakech. Trinh sát hai bên báo cho tướng của mình biết đối phương đã tới gần, vậy là quân Marrakech bám các thung lũng phía Đông và không gặp bất kỳ trở ngại nào, họ hùng hổ kéo vào Fez tàn phá không nương tay, trong khi đó quân Fez lại bám các thung lũng phía Tây và bình an vô sự đến Marrakech phá tan tành thành phố. Rồi hai đội quân rút lui, bên nào bên nấy vẫn giữ nguyên con đường men theo thung lũng của mình, và danh dự của mọi người đều được bảo toàn. Tất nhiên, vô số người đã chết cả ở Fez lẫn Marrakech, nhưng họ đều là thường dân, và tường thành bị giật đổ ở mỗi thành phố đều có thể xây lại.

“Nhìn xem!” Cato thốt lên khi họ đã chạm mặt tháp Koutoubia. Lừng lững, hung dữ, gồ ghề, đỉnh có lỗ châu mai như một pháo đài, tòa tháp là một cảnh tượng kỳ thú có sức trấn an, vì bất cứ khi nào tình cờ nhìn thấy nó, người ta đều biết rằng quảng trường Djemaá el Fna đang nằm ngay dưới phố kia thôi.

Đột nhiên, nó ở ngay đó, một dải đất bao la hình thoi phủ đá dăm, rộng đến nỗi có thể đủ chỗ cho cả triệu người, ba phía được bao bọc bởi các bãi chợ toàn lều lán thấp và đan xen ở giữa là các quầy hàng bán đủ loại chả nướng kabob, bánh ngọt baklava và bánh mì mật ong. Joe đậu xe bên lề quảng trường rộng mênh mông, và cả bốn thong thả đi bộ ra giữa quảng trường, nơi các đám đông đang quây quần thành nhiều nhóm lẻ, nhưng đang đi thì họ bị chặn lại bởi một người đàn ông khác thường.

Ông ta ăn mặc như một người lùn từ miền núi xa xôi nào đó, mũ chóp nhọn, áo khoác rộng lùng thùng đính khuy đồng, quần lửng ống túm chật căng bằng nỉ xanh lá cây, đôi giày da nặng nề rất diện. Ông ta vắt trên vai cái bị bằng da dê treo bốn cái cốc đồng nhỏ, nhưng dấu ấn nghề nghiệp của ông ta là một cái túi da được trang trí những đồng tiền bạc và vàng rất cổ. Ông ta lập tức lẵng nhẵng bám theo đám người mới, vốn chẳng hiểu nổi ông ta nói gì. Cuối cùng ông ta bóp cái bị da dê để một dòng nước nhỏ chảy vào trong cốc của mình và đưa cốc cho Monica. Ông ta là người bán nước, và vụ mua bán đầu tiên bốn người bạn thực hiện ở Marrakech là từ ông ta, song khi họ đang uống nước, Cato cảm thấy có ai đó kéo tay trái mình, ngó xuống anh thấy một thằng nhóc đang nói bằng tiếng Anh khá lưu loát, “Đang tìm chỗ trọ phải không, anh bạn?”

“Chú mày là Jemail hả?” Cato hỏi, và chú bé lùi lại như thể sợ hãi. “Anh biết Jemail?” cậu bé hỏi với vẻ cảnh giác.

“Nó là bạn anh,” Cato đáp, thế là chú nhóc chuồn mất.

Và rồi họ nhìn thấy kẻ chắc chắn phải là Jemail. Đang tiến về phía họ với những bước chân lanh lẹ là một cậu bé Ả rập khoảng mười một mười hai tuổi trong mớ quần áo hổ lốn với cách kết hợp độc nhất vô nhị rõ ràng là đồ ăn cáp của các du khách trước đây: quần da Đức cắt bớt cho vừa, áo khoác chơi bowling bằng tơ nhân tạo óng ánh có in tên câu lạc bộ Mildred’s Diner, giày quân đội, và mũ bóng chày Little League của đội Waco Tigers. Thằng nhóc trông lanh lợi, xảo quyệt và vừa hé miệng cười lấy lòng, nó vừa nói chuyện với các khách hàng tiềm năng của mình bằng giọng giả bộ trầm ấm: “Seo ông anh! Đến khu phố cổ với em chứ nhẩy!” Bật cười vì câu nói đùa của mình, nó hỏi, “Các anh chị cần chỗ trọ hả? Các anh chị có chiếc pop-top Volkswagen đời 1969 sang số tự động. Các anh chị thừa sức để thuê trọ ở khách sạn sang nhất nếu thích. Nhưng các anh chị lại muốn ở gần Djemaá chứ gì? Em biết một khách sạn đúng ý anh chị đấy, không quá đắt. Rouen, thượng hạng, nếu thích, anh chị cứ việc hút cần sa thoải mái ở hành lang.”

“Chúng tôi đang tìm Bordeaux,” Gretchen nói.

“Chị sẽ không thích nó đâu,” Jemail cảnh báo. “Đầy bọ chét... toàn dân hạ lưu.”

“Em cứ đưa bọn này tới khách sạn Bordeaux đi,” Gretchen nói. Jemail lùi lại, nhìn cô chằm chằm rồi nói, “Khôn ngoan giỏi giang mịa nó thìa cơ mà, tự vác xác đi mà tìm Bordeaux nhé.”

Joe vung mạnh tay nện thằng bé, nhưng nó đã lường trước cú đánh nên nhảy lùi lại rồi nhanh như cắt rút một con dao ra. “Cứ thử động vào ông xem, thằng trốn quân dịch thối tha kia, ông xẻo hết bi mày bây giờ.” Nó tiếp tục tuôn ra một tràng lời lẽ thô tục ghê tởm, gồm cả đống chỉ dẫn về những hành động tình dục mà hai cô gái có thể thực hiện cả với nhau lẫn với thằng mọi đen chết tiệt bạn họ. Khi cơn cuồng nộ đó đã lắng dịu, thằng bé bình tĩnh cất dao đi rồi nói, “Giờ thì chúng ta đã hiểu nhau rồi. Em thấy khách sạn Rouen thích hợp với các anh chị nhất... có hạng hơn.”

“Chúng tôi sẽ đến khách sạn Bordeaux,” Gretchen nhắc lại.

“Okay. Nhưng đến đêm khi chuột bò lên mặt chị... gặm ti của chị... thì đừng có quát em đấy.”

Cato hỏi, “Cỏ thì thế nào?” và Jemail đáp, “Thằng đệ tử của em sẽ mang cho anh bốn túi,” rồi nó cho hai ngón tay vào miệng huýt một tiếng chói tai, vậy là thằng bé đã nói chuyện với họ lúc trước kính cẩn quay lại, nghe Jemail hách dịch đưa ra một loạt mệnh lệnh. Thằng bé kia đã đi khỏi, Monica kéo Jemail ra một bên hỏi nhỏ, “Heroin thì sao?” nó đáp, “Hạng nhất. Món này do em đích thân phụ trách. Em sẽ mang đến phòng chị ở khách sạn Rouen.”

“Bordeaux,” Monica chỉnh lại.

“Chị mà chịu để chị kia chỉ huy à?” nó hỏi, bật ngón cái về phía Gretchen. “Chị ta đồng tính hả? Chị ta khống chế chị à?”

“Tập trung bàn chuyện heroin đi,” Monica nói.

“Thôi được. Bốn đô một gói, bảo đảm không phải đường lactoza.” Trong lúc Gretchen quan sát thằng bé, băn khoăn không hiểu làm sao một đứa nhóc mới tí tuổi đầu lại có thể thành ra hư hỏng tột độ đến thế, nó len lén đến gần cô nói, “Trông chị ngon ra phết đấy. Hễ muốn kiếm khơ khớ tiền thì cứ bảo em nhé.” Gretchen lắc đầu, nhưng thằng bé vẫn kiên trì gạ gẫm. “Những người Âu đứng đắn trọ ở khách sạn Mamounia, năm mươi đô. Nếu họ thích chị thì còn nhiều hơn nữa. Nhưng với người da đen phía bên kia núi, chị cứ việc ra giá.”

“Bây giờ chúng tôi sẽ đến khách sạn,” cô nói.

“Rouen chứ?”

“Bordeaux.”

“Đi mà tìm thằng khác, em không đưa đồ chó đến khách sạn Bordeaux đâu,” đoạn nó kiêu ngạo bước đi, nhưng khi thấy một đứa nhóc khác tiếp cận đám bạn, Jemail bèn quay lại đuổi thằng bé đó đi. “Theo em,” nó nói và dẫn họ băng qua quảng trường Djemaá, vừa đi vừa nói bằng đủ thứ tiếng để giới thiệu với khách qua đường về thói quen tình dục và dòng dõi của bốn người mà nó dẫn theo sau.

Phải mất một lúc lâu họ mới tới được khách sạn vì khi đến giữa quảng trường Djemaá họ thấy nhiều nhóm khá đông người lớn trẻ nhỏ quây tròn quanh những người kể chuyện rong đang say sưa kể về lịch sử Marốc và những sự kiện lớn trên thế giới như các cuộc chinh phục của Alexandre Đại đế và chuyến đổ bộ lên mặt trăng. Vài người kể chuyện còn kiếm được những giá để bản nhạc cũ và treo lên đó những tấm vải dầu rộng được chia thành hàng loạt ô vuông nhỏ miêu tả những cuộc phiêu lưu của thần Hercules, minh họa khi họ nhắc đến các kỳ công. Mấy người kể chuyện cường điệu nhất còn dùng cả những cái giá ba chân treo nhiều bức vẽ bằng vải dầu, tấm này chồng lên tấm kia, để trong lúc kể chuyện, người kể có thể lật nhanh các bức vẽ minh họa cho từng sự việc ly kỳ.

Giọng người kể chuyện mới mạnh mẽ làm sao mỗi khi nhân vật chính gặp nguy hiểm, êm ái làm sao khi nói đến những cảnh yêu đương. Máu gần như là hình ảnh chủ đạo trong mọi bức vẽ, và cái chết được mô tả nhiều đến nỗi câu chuyện dường như là một chuỗi liên miên những vụ phản bội, phục kích và bóp cổ; quả tình, tại những vùng này thì đúng thế.

Bên trong các vòng khán giả khác, nghệ sĩ nhào lộn biểu diễn, thánh nhân giảng kinh Koran, chàng hề trình bày những tiết mục rồ dại, và ba dân vùng núi, những người có thể biểu diễn ở bất cứ nhà hát của những trò lố bịch nào ở Paris hay New York, được trang bị đạo cụ là một cái bơm xe đạp, một cây kiếm kiểu Đức, một chiếc xe nôi và một cái áo choàng dài đuôi tôm màu đen. Bằng cách nhanh nhoay nhoáy mặc áo, cởi áo rồi nhảy vào trong xe nôi, và bằng cách thoải mái sử dụng thanh kiếm cùng chiếc bơm xe đạp theo đủ mọi cách thức không đâu vào đâu, họ mang đến một nửa tiếng đồng hồ tưng bừng náo nhiệt trong khi nét mặt vẫn trang nghiêm và nhân cách không ngừng bị xúc phạm bởi những gì đang diễn ra với họ. Thỉnh thoảng một người trong nhóm lại cố gắng nuốt thanh kiếm, và thực sự cũng đưa được một đoạn đáng kể xuống thực quản rồi thì hai cộng sự lại nhét bơm vào hậu môn anh ta và bơm mạnh đến mức thanh kiếm không ngừng bật ra khỏi miệng anh ta.

Kết thúc mỗi tiết mục biểu diễn, một cái bát đồng được đưa khắp lượt đám đông, và hãn hữu có người đặt vào một đồng xu nhỏ, còn đại đa số khán giả chỉ ngồi xem miễn phí trên mặt đường đá dăm. Gretchen thích thú với bộ ba nuốt kiếm đến mức cho họ hai đồng dirham, thế là anh hề liền sử dụng chiếc bơm trình diễn một bản nhạc ngắn nghe như tiếng kèn trompet.

Lúc này mặt trời đã lặn được khá lâu, và khi bóng tối phủ khắp quảng trường rộng lớn, những cây đèn dầu đuôi đồng xuất hiện, cho nhà hát ngoài trời một vẻ ma quái với những người Berber mặc áo caftan lặng lẽ đi từ vòng người này sang vòng người khác, trong khi cư dân các sa mạc phương Nam mới đến tròn xoe mắt ngắm nhìn chốn phồn hoa đô hội lần đầu tiên. Lúc này đã có hơn năm mươi vòng người hoạt động: nghệ sĩ dụ rắn, vũ công, ban nhạc, người biểu diễn tiết mục thăng bằng, diễn giả, và lúc nào cũng có những người kể chuyện rất lôi cuốn dẫn dắt hàng trăm thính giả trở lại thời xa xưa, trở lại thời vinh quang của đạo Hồi.

“Các anh chị xem gần hết mọi thứ rồi,” Jemail sốt ruột nói. “Thằng bé kia sẽ kiếm được keef cho anh. Em sẽ kiếm được heroin cho chị. Bây giờ chúng ta đến Rouen thôi.”

Nhanh như cắt, Joe thộp lấy cổ thằng bé mà đe, “Nghe đây, thằng du côn, mày và heroin của mày tránh xa chúng tao ra. Giờ thì dẫn chúng tao tới Bordeaux.”

“Nhưng thằng này sẽ thiến anh đấy, ông anh,” thằng bé Ả rập đáp, bình tĩnh gỡ ngón tay Joe ra.

Nó dẫn họ rời khỏi quảng trường Djemaá và đi vào một con hẻm tối tăm lượn ngoằn ngoèo qua khu phố cổ nhất Marrakech. Chắc hẳn họ sẽ sợ lắm nếu phải một mình đi trên con hẻm kinh khiếp này vì nó gợi nhớ đến mọi bộ phim rẻ tiền về khu casbah.

Và rồi, từ trong bóng tối tiến ra phía họ, đám bạn trẻ nhìn thấy một cảnh tượng lạ thường: một người đàn ông nặng khoảng tạ rưỡi di chuyển chậm chạp theo nhịp điệu, được hộ tống bởi ba cái bóng gầy nhẳng, tóc dài, trong đó có lẽ có một thiếu nữ. Đôi bốt thô cỡ đại ống cao đến cổ chân được làm bằng da bò Tây Tạng. Thay cho quần, ông ta mặc một chiếc lava-lavad[121] kiểu Nam Thái Bình Dương cắt từ loại vải màu nâu xám dệt rất khéo. Ông ta mặc áo khoác rộng theo phong cách của thủ tướng Ấn Độ Nehru, nhưng không có mũ vì râu tóc ông ta tạo thành một vòng tròn rất lớn mà chẳng khăn mũ nào có thể vừa được. Cái áo khoác gần như được phủ kín bằng các chuỗi hạt, và ông ta cài vào phía trên tai trái một chiếc lược dành cho phụ nữ có tay cầm dài, thẳng. Trong lúc ông ta nói liến thoắng với các đồ đệ, những người mới đến để ý thấy ông ta di chuyển vô cùng mềm mại uyển chuyển, nhấc đôi chân to lớn lên rồi đặt xuống với sự thành thục y hệt cách một con voi di chuyển qua bãi cỏ cao. Rồi, khi ông ta tới gần, khuôn mặt không còn khuất trong bóng tối nữa, họ nhận ra ông ta là một người da đen với vẻ mặt ngây thơ như em bé.

“Đây chắc phải là Big Loomis rồi,” Joe nói, tiến lên phía trước tự giới thiệu.

Song đúng lúc ấy, thái độ của người da đen thay đổi hẳn, vì ông ta phát hiện ra thằng Jemail, và hai người đứng đối mặt trong lối đi chật hẹp, la hét chửi rủa nhau. Bằng những cú cật lực, người da đen to lớn cố bạt tai thằng nhóc Ả rập nhỏ bé, trong khi nó khéo léo né đòn và trả đũa bằng những tên gọi khiến đối thủ tức điên.

Thằng Jemail ngoa ngoắt hét lên với ông béo, “Đ. mẹ con lợn béo kia, tại sao mày không chịu thanh toán hóa đơn, đồ thối tha, đồ bụng mỡ?” và ông ta gào lên to hét mức, “Nghe đây, đồ cặn bã đút nút lỗ đít kia, tao mà tóm được mày thì nướng chín cho mà xem,” vậy là thằng bé lại hét, “Còn khuya mày mới chạm được vào ông. Đi mà tìm thằng nhỏ của mày ấy.” Đến đây thằng bé đã hạ xuống một chiều sâu mới của những chuyện đồi bại, bêu riếu đời sống tình dục giả định của ông béo.

Đó là một màn biểu diễn choáng người mà sau này mỗi khi gặp, các bạn trẻ vẫn thường kể lại cho tôi. Gretchen kể, “Họ đứng đó trong đêm tối, rủa sả lẫn nhau, một người đàn ông da đen to lớn béo phì và một thằng bé Ả rập nhỏ thó, cứ như thể con voi và con chuột trong truyện kể giờ đã đến Marrakech rồi vậy. Ông béo kết tội thằng bé chỉ vì vài đồng dirham ít ỏi mà định lừa chúng cháu đến Rouen, cái ổ ghê tởm nhất thành phố và không phải chỗ dành cho đàn bà con gái. Nói đến đó ông ta cúi đầu trước Monica và cháu, cả một núi thịt và hoa gập làm đôi. Thằng bé phản công bằng cách buộc tội ông béo đang dụ dỗ chúng cháu tới khách sạn Bordeaux để ông ta có thể bán ma túy cho chúng cháu. Họ chửi rủa thậm tệ thêm một lúc nữa, sau đó người đàn ông da đen hùng dũng đi tiếp, trông không khác gì con tàu vượt đại dương oai phong lướt qua chiếc tàu kéo. Cháu sẽ không nhắc lại những lời thằng bé nói về ông ta khi ông ta đã đi khỏi. Và đó là lần gặp đầu tiên của chúng cháu với Big Loomis.”

Cuối cùng, thằng Jemail cũng đưa họ tới Bordeaux, một khách sạn bẩn thỉu nằm bên rìa con hẻm họ vừa đi qua. Một cánh cửa cổ kính dẫn họ vào sân giữa, nằm lọt thỏm giữa những dãy nhà bốn tầng, tầng này tầng kia nối với nhau bằng cầu thang trông xập xệ. Mỗi tầng đều có ban công bằng gỗ, để nếu trong khách sạn có xảy ra bất cứ chuyện gì hấp dẫn, tất cả các khách trọ đều có thể ngay lập tức xuất hiện trên ban công tầng mình. Ngoài ra, âm thanh từ mỗi tầng sẽ được khuếch đại lên nhiều lần khi nó vọng lên vọng xuống cái giếng trời trung tâm ấy.

Bên trái cửa ra vào là phòng bảo vệ, bốn bức tường chăng đầy mạng nhện và phủ kín các tờ lịch hàng không sặc sỡ in hình phong cảnh. Căn phòng là nơi cư ngụ của một người đàn ông chỉ được biết đến với cái tên Léon; còn quốc tịch hay chủng tộc, không ai buồn đoán làm gì. Ông là người kiên nhẫn, dù thường xuyên bị quấy rầy vẫn luôn sẵn lòng lắng nghe bất cứ khi nào có người châu Âu hoặc người Mỹ lạc đường đến xin giúp đỡ. Ông có thể tỏ ra hào phóng như vậy cũng một phần là vì Big Loomis đã thuê trọn tầng trên cùng; nếu gặp bất cứ khách du lịch nào thực sự không còn đồng xu dính túi, Léon chỉ cần chuyển lên cho Big Loomis, và lần nào ông ta cũng tìm được chỗ ngủ cho người đó. Tầng trên cùng có tám phòng, và có những tối chúng phải chứa đến bốn mươi người vô gia cư trong tình trạng rối loạn như mớ bòng bong.

Léon dẫn Jemail và các vị khách của nó leo cầu thang gỗ lên tầng trên cùng, đến đó ông lần lượt đạp tung sáu cánh cửa cho đến khi tìm được một phòng ít nhiều còn trống. “Đêm nay các cô cậu ngủ ở đây nhé,” ông bảo, và thằng Jemail nói thêm, “Thằng đồ đệ của em sắp mang keef lên rồi. Nhưng để chào mừng các anh chị đến Marrakech... này!” Và nó lôi từ trong áo khoác ra một gói giấy nâu nhờn nhờn bọc bốn cái bánh màu xanh. “Bốn dirham, cẩn thận, chúng sẽ quật anh chị bẹp giường đấy.” Hai cô gái rón rén cất mấy cái bánh vào hành lý, hứa lát nữa sẽ nếm thử.

Lúc này Jemail lại gạ gẫm chuyện khác. Nó bật ngón tay rồi reo lên, “Hay chúng ta quay lại ngắm quảng trường Djemaá dưới trăng?” Mọi người cân nhắc đề nghị này, và họ bị Marrakech mê hoặc đến nỗi nhận lời luôn, nhưng Jemail nói, “Đầu tiên chúng ta giải quyết chuyện tiền nong đã. Em sẽ lo liệu mọi việc. Em trông xe cho các anh chị. Lúc này em đã có một thằng bé ở đó rồi. Vậy những việc ấy đáng bao nhiêu?” Gretchen đưa ra một con số, nhưng thằng bé khinh khỉnh bác bỏ và nêu rõ: “Em trông nom các anh chị... không có chuyện rắc rối. Cảnh sát à... chẳng có tên nào hết. Không có thằng nhóc nào đến quấy nhiễu các anh chị ở quảng trường Djemaá. Chợ búa giá cả phải chăng. Em làm phiên dịch được. Em lo liệu mọi việc. Anh chị mất hộ chiếu chớ gì? Em biết người in hộ chiếu mới.” Nó đề nghị thù lao sáu đô la một tuần, và họ nhất trí.

Thằng bé đưa họ quay lại quảng trường, giờ đã hoàn toàn đổi khác. Những người kể chuyện và diễn viên đã về hết. Thay vào chỗ của họ là vô số quầy hàng lưu động, bày bán đủ loại thức ăn và chất tầng tầng lớp lớp những thứ bánh kẹo phương Đông đẹp mắt. “Đừng đụng vào!” thằng Jemail cảnh báo. “Lây bệnh tả đấy.” Nó đang định giải thích rõ hơn thì một khách du lịch hỏi người bán kẹo một câu, vậy là nhanh như cắt Jemail nhảy vào cuộc thương lượng bằng tiếng Đức, thứ ngôn ngữ mà nó nói trôi chảy không kém tiếng Anh. Nhét số tiền thưởng vào túi, thằng bé quay lại nói với các vị khách của mình, “Xin mời ngắm mặt trăng... nằm trên tháp Koutoubia,” và nó đó, một nửa vầng trăng đứng kiễng chân trên ngọn tháp.

Sáng hôm sau cả nhóm mới có dịp xem xét kỹ khách sạn, và nhận thấy nó bẩn thỉu hơn họ tưởng, nhưng cũng thú vị hơn. Tòa nhà được xây dựng đâu đó giữa thế kỷ trước và từ bấy đến nay vẫn y nguyên. Những lớp bụi bẩn dày cộp đã làm phai màu ô cửa và buồng tắm, nhưng hàng tuần Léon vẫn quét dọn các tầng, vì vậy cũng tương đối sạch sẽ. Điều hấp dẫn những người mới đến là không khí giao lưu nhộn nhịp trong khách sạn, nhiều thanh niên thoải mái đi lại từ phòng này sang phòng kia cũng như tự do lên lên xuống xuống các tầng cầu thang lộ thiên.

Cả bốn tầng đều có tám phòng, mỗi phòng trung bình ba người, ngoại trừ tầng trên cùng nơi Big Loomis nhồi nhét khá đông người vào dãy phòng ông ta thuê. Vì vậy thường có hơn một trăm khách trọ, người Canada, Úc và Thụy Điển chiếm đa số. Tuổi trung bình có lẽ không quá hai mươi, và con gái đông hơn con trai một chút. Họ là những người sạch sẽ, không ăn mặc thời trang hay tóc tai đẹp đẽ nhưng vẫn chỉnh tề; trên thực tế, nếu muốn đến được Marrakech người ta phải mất một số tiền đáng kể, nghĩa là sẽ diễn ra một quá trình loại trừ mang tính tự nhiên.

Đặc điểm chính của khách sạn Bordeaux là nồng nặc mùi cần sa ngòn ngọt; hầu như toàn bộ cánh thanh niên đều hút, thỉnh thoảng pha lẫn với hashish, ở một mức độ nào đó tại Marrakech vốn là thứ dễ mua hơn cỏ nhiều. Mới nhìn thì chẳng ai nhận ra đám khách trọ trong khách sạn hút cần sa, nhưng quan sát kỹ hơn, người ta có thể thấy khá nhiều vẻ mặt đờ đẫn tố cáo những kẻ vừa sử dụng hashish.

Khách trọ Mỹ là một nhóm đặc biệt tâm đầu ý hợp: hai nữ sinh trường Wellesley, trong đó một cô biết chơi guitar; bốn năm sinh viên trường California thuyết phục được cha mẹ cho họ ra nước ngoài một năm để nghiên cứu ngôn ngữ và lịch sử châu Âu; một nhóm thanh niên Trung Tây bình thường, đa số đang theo học hoặc trường này hoặc trường kia dọc thung lũng Mississippi; và một nhóm kín đáo gồm ba người miền Nam, trong đó có một chàng xanh xao, nhạy cảm người Mississippi.

Trong số tất cả thanh niên các nước khác, dân Canada và Úc ưa phiêu lưu mạo hiểm và rủng rỉnh nhất. Sau khi gặp khoảng hai chục người, Gretchen nhận xét, “Mấy nước đó chắc hẳn lăn lộn trên tiền. Các cô cậu này đúng là vung tiền không tiếc.” Joe thấy các cô gái Úc vô cùng nhắng: thẳng thắn, lếu láo, cực kỳ năng động và can đảm. Chỉ cần mang theo ba lô và một ít bánh mì, họ có thể đi bất cứ đâu; phần lớn đã ra nước ngoài ít nhất hai năm, làm việc một thời gian ở Anh hay nhận những công việc bèo bọt ở Pháp, và chẳng sớm thì muộn hầu như cô nào cũng nói, “Sống thêm sáu tháng như thế này nữa rồi quay về Úc với những tháng ngày lê thê... cưới một anh chăn bò... hàng năm dự Melbourne Cup.” Họ là những người tuyệt vời, sôi nổi và dăm ba cô tỏ ý với Joe là họ sẽ không khó chịu nếu anh sang ngủ trong phòng họ, nhưng lần nào anh cũng chỉ Gretchen như thể muốn nói, “Tôi còn làm gì được nữa đây?”

Những điều khái quát tôi vừa nêu chỉ đúng với ba tầng dưới. Tầng thứ tư lại là chuyện khác. Ở trên đó Big Loomis cung cấp chốn nương thân cho những người chưa được chuẩn bị sẵn sàng khi đến Marrakech và thấy mình không đáp ứng được những đòi hỏi của thành phố này: cô học sinh trung học người Minneapolis ở bãi chợ đã ngủ với cả tá đàn ông và dính bầu với một người, nhưng cụ thể là ai thì cô chịu không nói được; chàng trai Tucson bỏ học ngay trong năm đầu trường Arizona và trong một tuần ăn chơi tung trời đã phát hiện ra cần sa, hashish cùng heroin, và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại cuộc sống bình thường được - bây giờ vấn đề chính của anh là kiểm soát được cảm giác thăng bằng để ít nhất anh có thể đi qua quảng trường Djemaá; ông thầy người London mê mẩn đồng tính luyến ái ở Marrakech; ba thanh niên California đang tìm cách trốn quân dịch; nhà triết học chậm hiểu đến từ một trường Thiên Chúa giáo nhất quyết đòi hòa giải Thánh Thomas Aquinas[122], Herbert Marcuse[123] và bộ Kinh dịch, với cần sa làm xi măng gắn kết.

Đó là một đám hỗn tạp, được Big Loomis điều khiển bằng lòng nhân hậu và sự thấu hiểu; với một vài khách hàng, chẳng hạn nhà triết học Thiên Chúa giáo, ông ta cung cấp chỗ ở miễn phí hàng tháng liền; những người khác sẽ được đề nghị rời khỏi đó khi ông ta cảm thấy tình hình của họ đã ít nhiều ổn định. Khách trọ ở tầng bốn ít giao thiệp với các tầng dưới; thực ra, một số bệnh nhân của Big Loomis - cách miêu tả thích đáng nhất đối với họ - có khi hàng tuần liền không rời khỏi tầng trên cùng, hài lòng được nằm trong phòng, vừa hút hashish vừa mơ tưởng đến một thế giới tốt đẹp hơn mà họ hẳn đang vẽ ra.

Đối với những vị khách mới bình thường, lợi thế chủ yếu của khách sạn Bordeaux là nguồn hashish và heroin sẵn có. Người ta còn chẳng cần phải tìm kiếm những thứ cám dỗ kỳ lạ đó vì ngày nào thằng bé Jemail cũng đến gõ cửa gạ gẫm: “Giá rẻ nhất Marrakech đây. Đảm bảo chất lượng.” Nó chỉ kiếm ba trăm phần trăm cho mỗi lần giao dịch.

Trong khách sạn chỉ có ba vị khách ngu ngốc đến mức dính vào heroin - bốn người, sau khi Monica nhận phòng - và hai người chỉ hít, thỉnh thoảng mới tiêm dưới da một lần; hai người này có cơ hội cai nghiện khá lớn, vì Big Loomis giữ họ trên tầng bốn để chăm nom, cố gắng giúp họ từ bỏ thói quen. Người thứ ba là anh thanh niên xanh xao xuất thân từ một gia đình tử tế ở Mississippi mà có hôm Gretchen trông thấy uể oải đứng tựa vào cánh cửa phòng trên tầng ba. Cô không tin anh ta còn quay về nhà được nữa, vì rõ ràng anh ta đã tiêm heroin vào tĩnh mạch và không ăn uống gì suốt mấy ngày liền. Mặt mũi phờ phạc, cơ thể ẻo lả và cánh tay gầy đét chứng tỏ anh ta đã chuyển sang trạng thái mộng du - một cảnh tượng đáng sợ có lẽ đủ để bất cứ người nào chứng kiến cũng phải tránh xa heroin. Nhưng tất nhiên, Monica đã chích vào tĩnh mạch rồi... và giấu không cho ai biết.

Bây giờ ba người bạn Mỹ gánh vác trách nhiệm trông chừng Monica, và bất kể khi nào thằng Jemail mang những gói heroin lẻn vào phòng cô, họ lại đuổi nó đi, nhưng chính Cato mới là người lãnh phần vất vả nhất, và sự quan tâm chân thành của anh đã chiếm được lòng ngưỡng mộ không những của Joe và Gretchen mà còn cả của Big Loomis. Người đàn ông da đen to béo nói với anh, “Cậu đang thực hiện hành động hữu ích duy nhất đấy, chàng trai ạ. Hãy ở cạnh cô ấy, vì chỉ sự giúp đỡ của cậu mới khiến cô ấy đấu tranh tìm được đường quay trở lại.”

Đó là một nhiệm vụ khó khăn. Sau kinh nghiệm khủng khiếp đêm cuối cùng ở Moçambique, Cato đã từ chối ngay cả việc hít chất bột trắng chết người ấy, quyết định này đã khiến anh bị Monica hành hạ vô khối. Cô thường cấm anh ngủ cùng, hét vào mặt anh, “Anh mà theo tôi lên giường thì cũng phải theo tôi trong mọi việc.”

Một hôm anh định nói với Joe về chuyện này, nhưng rồi lại bật khóc. Sau khi đã tự chủ được, anh lí nhí, “Làm sao tôi có thể bỏ mặc cô ấy được? Chúa ơi, cậu không tưởng tượng được tôi yêu cô ấy tới mức nào đâu. Tôi cần cô ấy. Cô ấy làm tôi đau đớn quá.” Khi Joe tìm cách an ủi, Cato khẳng định, “Nhưng tôi sẽ không đụng đến Big-H. Không bao giờ nữa.”

Những khi Monica vật vã đau đớn, các khách trọ khác ở tầng ba có thể nghe thấy cậu van xin cô từ bỏ cái thứ chỉ có thể hủy hoại cô. “Sao em cứ dính vào cái thứ chắc chắn sẽ giết chết em làm gì chứ?” Cậu tìm mọi cách lái cô sang hashish vì cảm thấy cô có thể chịu được món này, nhưng cô lại châm chọc cậu. “Đó là thứ dành cho bọn trẻ con, mà bây giờ em đã là phụ nữ rồi.”

Trên phương diện nào đó, những nỗ lực cứu giúp Monica của cậu bị định hướng sai lầm; hashish là chất pha chế có tác động mạnh hơn anh tưởng. Loại do thằng Jemail cung cấp là một khối nhựa cây cô đặc chiết xuất từ cây cần sa trưởng thành và có tác dụng mạnh gấp mười lần thuốc điếu. Như vậy đó là một thứ cần sa cô đặc và có thể dùng theo hai cách: hút, hoặc ăn dưới dạng những cái bánh xanh lục gớm ghiếc thường bán ở quảng trường Djemaá. Cato được biết về loại bánh xanh ấy từ mấy người Thụy Điển.

Ở tầng một của khách sạn Bordeaux, bên trái lối vào có một phòng phần nào rộng hơn các phòng khác. Mấy năm gần đây, một cặp dễ mến người Stockholm thường thuê phòng này từ tháng Sáu cho đến tháng Mười một. Những tháng còn lại, Rolf làm y tá tại một bệnh viện tâm thần ở Thụy Điển còn Inger dạy học ở trường mẫu giáo. Khắp Marrakech ai cũng gọi đó là phòng của Inger và nó được coi như hòm thư phục vụ khách vãng lai Scandinavia và là trung tâm giao lưu cho tất cả người châu Âu khác. Trong thời gian cặp Thụy Điển thuê, phòng của Inger là một trong những phòng văn minh nhất ở châu Phi, nơi ta có thể được uống cốc bia gừng mát lạnh, ăn những món đơn giản, xem mấy số báo London Times cũ, và hào hứng chuyện trò. Rolf và Inger đều xấp xỉ ba mươi, chưa kết hôn và có duyên thầm. Ngay buổi sáng đầu tiên sau khi nghe nói có ba người Mỹ và một cô gái Anh xinh đẹp mới đến trọ, họ đã lên tầng trên làm quen và bày tỏ lòng hiếu khách. Họ đảm đương trách nhiệm tìm phòng trống - Cato và Monica ở tầng ba, Joe và Gretchen tầng hai - rồi tập hợp cả nhóm đến phòng mình.

“Có nhạc này!” Phát hiện ra chiếc máy quay đĩa, Monica reo lên, nhanh chóng bật máy và nhắm mắt thưởng thức nhịp điệu mạnh mẽ từ tác phẩm mới nhất của ban nhạc Blind Faith. “Nghe như mưa rơi trên sa mạc vậy,” cô phát biểu, nhưng một lúc sau cô mở ví hỏi, “Mấy cái bánh xanh thằng Jemail bán cho chúng ta đêm hôm qua thì thế nào đây?”

“Khá mạnh đấy,” Rolf nhắc nhở. “Người ta pha nước hãm của hashish cô đặc với bơ đã trở mùi. Sau đó đem nướng thành bánh hạnh nhân dinh dính.”

“Anh ăn như thế nào?”

“Rất thận trọng. Con gái như em chịu được khoảng một phần tám cái bánh. Nếu em nghiện nặng thì có thể ăn nhiều hơn. Big Loomis ăn được cả một cái, nhưng em thì không thế được đâu.”

“Anh chưa biết em đấy thôi,” Monica đáp rồi đút tọt cả cái bánh vào miệng, vừa nhai vừa toe toét cười với mọi người. Rolf lo lắng theo dõi, còn Inger bắt đầu dọn dẹp một góc giường, nhưng Monica không để lộ phản ứng bất lợi tức thì.

Cato và Joe ăn từng miếng rất nhỏ. Gretchen không ăn nhưng vẫn nhận một điếu thuốc Rolf vừa quấn, nửa cần sa, nửa hashish. “Chắc chắn là có khác,” Monica nói khi bắt đầu cảm thấy quyền lực của hashish. Đang định rít hơi thuốc thứ hai, Gretchen hét lên, “Ôi, lạy Chúa!” Monica, như thể bị bổ một nhát rìu, ngã vật xuống đất bất tỉnh nhân sự; Cato, vốn không thấy cô ngã, quay phắt lại và há hốc miệng đứng nhìn, một mẩu bánh chưa kịp nuốt vẫn còn trên lưỡi. Joe cúi xuống định bế cô lên, nhưng Rolf và Inger đã nhanh tay hơn đặt Monica nằm sóng sượt lên giường. Cô ở lại đó, bất động, suốt mười tám tiếng đồng hồ, dưới sự canh chừng của Cato.

Trong thời gian ấy, liên tục các thanh niên từ mọi vùng của châu Âu ghé thăm phòng. Họ thấy Monica nằm lạnh như đá liền bình thản nói, “Ái chà chà! Ăn thử bánh xanh của chúng ta đây mà.” Không ai tỏ ra đặc biệt lo âu; họ ngồi cả trên mép chiếc giường lẫn trên sàn, chuyện trò về Thụy Điển, Đức và Úc. Đến lúc xâm xẩm tối, cô gái học ở trường Wellesley mang cây guitar ra, vậy là Gretchen cũng hứng lên đi lấy đàn của mình, rồi hai cô hát các bài ballad, thi thoảng trong đám đông người nào thuộc lời lại hát đệm vào - và trong suốt thời gian mọi người chuyện ngẫu và ca hát, Monica không hề cử động. Thỉnh thoảng Cato đến lay lay cố làm cho cô nói, nhưng cô vẫn hoàn toàn bất động, và Rolf nhận xét với vẻ chuyên nghiệp, “Chẳng làm được gì ngoài để mặc cho cô ấy ngủ đâu.”

Cuối cùng, tảng sáng Monica mới cử động. Nửa giờ sau cô mở mắt, nhìn quanh căn phòng xa lạ rồi nói, “Lần sau thì chỉ nửa cái bánh thôi.”

—★—

“Cái hay của phần tiêu đề này nằm ở chỗ nó làm hội đồng tuyển quân bối rối ít nhất hai tháng,” Big Loomis giải thích với Joe trong văn phòng của ông ta ở tầng trên cùng. “Trong thời gian đó, một người khôn ngoan có thể đã ở Nepal... hay Shinjuku.” Ông ta đưa ra một tờ giấy khá xịn trông có vẻ trang trọng, phía trên cùng ghi:

Văn phòng:

1283 Cadwallader

ĐT: Tuscarora 4-1286; 4-1287; 4-1288

TIẾN Sĩ J. LOOMIS CARGILL

Phạm vi hành nghề: điều trị các bệnh tâm thần

Chỉ tiếp khách có hẹn trước

“Trước tiên, nó chẳng đề tên thành phố nào cả, vì vậy họ không thể cử nhân viên điều tra đến được. Địa chỉ 1283 Cadwallader nghe có vẻ gây ấn tượng đặc biệt. Cậu chú ý là cả địa chỉ và điện thoại tôi đều dùng tên có bốn âm tiết. Ở Mỹ một cái tên bốn âm tiết nghe rất kêu cũng có giá trị ngang ngửa tiền trong ngân hàng. Nhưng những người từng được tôi giúp đỡ đã nói rằng điều khiến họ thực sự ngập ngừng là ba số điện thoại ấy. Ở Mỹ thì đó là dấu hiệu chắc chắn làm ăn phát đạt. Người ta nhìn thấy chúng là nghĩ, ‘Chắc hẳn người này là một nhân vật quan trọng. Tốt hơn hết đừng kiếm cách chơi ông ta.’ Nhưng cá nhân tôi thì cho rằng chính cái tên J. Loomis Cargill mới làm nên chuyện. Bởi thành phố nào ở Mỹ cũng đều có anh Joe Này hay chàng Jim Nọ, vốn ngay từ lúc sinh ra đã là một anh chàng rất đỗi bình thường và cho đến khi lớn lên vẫn tiếp tục rất đỗi bình thường như thế cho đến một ngày đầy ý nghĩa, anh ta nảy ra sáng kiến tự gọi mình là J. Worthington Scalier. Chỉ một hành động này thôi cũng đã khiến cả cộng đồng phải chú ý đến thông điệp: ‘Tôi muốn mọi người coi trọng tôi!’ Và vì chúng ta thường có khuynh hướng chấp nhận một người theo đúng như mong muốn của anh ta, chúng ta đã giúp anh ta trở thành J. Worthington Scalier, người đàn ông có của. Nước Mỹ đầy rẫy kẻ nhạt nhẽo đáng tởm sẽ vẫn cứ nhạt nhẽo đáng tởm như vậy nếu chỉ được cộng đồng biết đến dưới cái tên đơn giản Jim Scalier, nhưng cứ để anh chàng J. Worthington hay ho ấy ra mắt đi, kẻ nhạt nhẽo sẽ biến ngay thành một nhà lãnh đạo cộng đồng, nếu ta thích. Tôi đoán với cái tên J. Loomis Cargill, tôi đã giúp hơn một trăm bạn trẻ không phải nhập ngũ. Nếu tôi mà đệ trình thư với danh nghĩa Joe Cargill, các ủy ban quân dịch sẽ cười khẩy, ‘Dẫn con lừa ấy đến đây ngay.’ Mấu chốt thực sự nằm ở cái thông báo được trình bày bằng kiểu chữ nhỏ hơn. Phạm vi hành nghề. Mấy từ thần diệu! Chúng có nghĩa anh không chỉ là một thầy thuốc tư nhân vớ vẩn làm việc mười sáu giờ một ngày, đi thăm bệnh tận nhà, cứu sống người ta. Một khi đã trưng mấy chữ đó lên tủ kính tức là anh đã leo lên một quỹ đạo mới toanh. Anh đã thành đạt rồi, chàng trai ạ. Anh vào cầu rồi. Anh ngồi không một chỗ và kiếm được thù lao hậu hĩnh mà chẳng cần phải làm những việc đáng ghét như đỡ đẻ. Thế đấy, liệu ủy ban quân dịch nào dám phớt lờ bức thư của một bác sĩ có phạm vi hành nghề rõ ràng, một người có tên là J. Loomis, và có ba số điện thoại chứ?”

“Cái bằng tiến sĩ thì sao?” Joe hỏi.

“Tôi là tiến sĩ thật,” Big Loomis đáp. “Môn giáo dục thể chất, trường Sư phạm Trung tâm Texas. Đó là một trường cao đẳng dạy bóng bầu dục cho người da đen. Một nhóm chuyên nghiệp ở Chicago viết luận văn hộ tôi. Tôi chơi ở vị trí hậu vệ... trong bảy năm... với ba cái tên khác nhau. Chúng tôi thay đổi đội chơi ba năm một lần để người ta không nhận ra tôi... hay mấy gã hề khác trong đội chúng tôi.”

“Ông chơi tốt chứ?”

“Khá tốt. Nặng hơn một trăm cân và có thể chơi cùng các cầu thủ chuyên nghiệp... Đội Rams bắt lính. Tôi nói với huấn luyện viên tôi đã chơi chuyên nghiệp bảy năm rồi, nhưng ông ta chẳng thấy chuyện đó có gì hay ho. Tôi phản đối lệnh nhập ngũ, nhưng gia đình tôi toàn người vô thần, vì vậy tôi không thể viện lương tâm ra làm lý do phản đối. Thế nên tôi đành dùng biện pháp mạnh.”

“Như thế nào?” Joe hỏi.

“Ăn. Trong vài tháng, tôi đã lên gần năm mươi cân.”

“Như thế nào?”

“Thân hình như cậu thì không làm thế được đâu. Tôi tăng cân bằng cách ăn chuối, bánh pho mát và sữa lắc.”

“Có hại sức khỏe không?”

“Tôi cho là có. Các bác sĩ bảo tôi sẽ giảm vài năm tuổi thọ. Nhưng thà thế còn hơn chết ở tuổi hai mươi hai tại Việt Nam.” Ông ta ngập ngừng rồi nói thêm, “Tất nhiên, một khi đã thành công với vụ quân dịch này rồi, tôi sẽ giảm cân cũng nhanh như khi béo lên. Chính vì thế tôi mới sống ở tầng trên cùng. Leo lên leo xuống là một cách tập thể dục rất hiệu quả. Cậu biết không, tôi thường leo một trăm bậc mười ba lần mỗi ngày đấy, và bao giờ khỏe khoắn hơn, tôi sẽ đi mười bốn lần. Nào, bây giờ đến vấn đề của cậu.”

Ông ta chăm chú lắng nghe trong lúc Joe trình bày sơ qua những lần đương đầu của anh với ủy ban quân dịch ở California và kể về bức thư cảnh cáo ở Moçambique cũng như những cuộc tranh luận của anh với Harvey Holt. “Một trường hợp kinh điển,” Loomis nhận xét. “Không có khả năng miễn quân dịch do quan điểm tôn giáo. Không bị xếp vào dạng thiếu sức khỏe. Không hèn nhát. Không rối loạn thần kinh. Chỉ là thêm một người đàng hoàng sáng sủa không muốn làm hỏng đời mình ở Đông Nam Á. Tôi nghĩ có lẽ chúng ta nên thử Little Casino. Cậu đã cân nhắc ý nghĩa của nó chưa?”

“Rồi.”

“Cậu đã đính hôn với cô gái xinh đẹp cùng phòng phải không?”

“Không, không!” Joe bật thốt như thể đính hôn với cô gái mà mình đang sống chung là điều không thể tưởng tượng được. “Tôi nghĩ cô ấy tán thành biện pháp Little Casino. Cô ấy đã bị cớm làm cho khốn khổ một phen rồi.”

Big Loomis ra ngồi trước máy chữ và một lúc sau đưa cho Joe một tờ giấy mới cứng, chữ đánh máy cách quãng rất đều, trong đó có một đoạn viết:

Việc tuyển bệnh nhân này vào các lực lượng vũ trang sẽ là một hành động điên rồ vì anh ta đã có mấy năm nghiện ma túy. Từ mười bốn tuổi, do sự dụ dỗ của một cô gái Mexico làm việc cho cha mẹ anh ta, anh ta bắt đầu hút cần sa. Anh ta nhanh chóng nâng cấp lên hashish, LSD và bây giờ thì ngày nào cũng phải sử dụng heroin. Nếu muốn cai nghiện, anh ta cần ít nhất tám tháng điều trị tập trung trong bệnh viện. Do ảnh hưởng của ma túy, anh ta đã bộc lộ một cách rõ ràng những biểu hiện của chứng rối loạn tâm thần đến nỗi sẽ là tội ác nếu đặt anh ta vào bất cứ vị trí nào liên quan đến súng đạn hoặc an toàn của người khác. Như bình thường, tôi sẽ đề nghị ngay tức khắc cho anh ta nhập viện dưới sự giám sát, nhưng thể chất của anh ta quá yếu nên tôi buộc phải khuyên cha mẹ anh ta giám sát chặt chẽ cho đến khi anh ta đỡ gầy yếu và có thể chịu được cách điều trị tại bệnh viện như tôi đã định. Trong tình hình hiện tại, đưa con người đáng thương này vào quân ngũ chỉ là hành động lãng phí của công vì các ông sẽ phải cho anh ta nhập viện ngay lập tức mà chẳng mấy hy vọng tình trạng anh ta sẽ cải thiện được đến mức việc anh ta tham gia đời sống quân ngũ sẽ giúp ích cho các ông hay cho đồng đội của anh ta.

Nhận xét mang tính chuyên môn.

J. Loomis Cargill

—★—

Tôi đang làm việc ở Geneva thì nhận được thư của Gretchen báo tin nhóm bạn đã đến Marrakech. Tôi hơi lo lắng hình dung ra cảnh họ đang khám phá quảng trường Djemaá. Tôi ước gì Monica có thể tránh xa một nơi như vậy, nhưng vì quá bận bịu với công việc riêng, tôi đành gạt vấn đề đó ra khỏi đầu. Thế rồi trên đường từ Lausanne đến sân bay để đi Ceylon, Holt và Britta đã ghé thăm, khi tôi cho họ xem lá thư, Holt cáu kỉnh nói, “Marrakech chính là nơi Joe không nên tới nhất,” và trước tình thế bất ngờ này, anh quyết định tạt qua Marốc trước rồi mới từ đó đi Ceylon. Tất nhiên Britta rất vui mừng trước viễn cảnh được gặp lại Gretchen và Monica, vì vậy kế hoạch đi đường vòng được thu xếp nhanh chóng.

Rồi Holt gợi ý, “Ông Fairbanks, công ty ông có tài sản lớn ở Marốc. Tại sao ông không đi cùng chúng tôi?” tôi bèn tỏ ra dễ thay đổi ý kiến chẳng kém gì họ: “Nghe có vẻ hay đấy.” Rồi chưa đầy một giờ sau, chúng tôi đã bắt chuyến bay của hãng Lufthansa và lên đường. Tôi tin chắc trên thế giới này có nhiều người lên sẵn kế hoạch du lịch và sau đó phải đi xin hộ chiếu, nhưng tôi không quen người nào như vậy: những người tôi quen bao giờ cũng giữ hộ chiếu còn hạn và ra sân bay trong vòng một giờ sau khi quyết định đi thăm châu Á, châu Phi hay châu Úc.

Chúng tôi hạ cánh xuống Marrakech lúc chiều tà và bắt taxi đến khách sạn Mamounia, một trong những tòa lâu đài cổ kính sang trọng giống như Raffles ở Singapore hoặc khách sạn Shepheard’s lâu đời ở Cairo. Mamounia cách tháp Koutoubia không xa, nằm giữa một công viên góp phần làm tăng vẻ duyên dáng cho bất kỳ tòa lâu đài nào. Vì tôi đã được biết đến qua những lần ghé thăm trước trong quá trình tìm hiểu tình hình kinh tế để chuẩn bị cho việc đầu tư quy mô lớn của công ty, viên quản lý đã dành sẵn phòng tốt cho chúng tôi. Tôi gọi điện cho ba kỹ sư nhà nước ở Casablanca sẽ cùng làm việc, sau đó hỏi người gác cửa đường đến khách sạn Bordeaux. Ông ta nhún vai và hỏi cánh lái xe taxi, nhưng họ tuyên bố taxi không thể xử lý các ngõ ngách được. Vậy là người gác cổng gợi ý, “Việc nên làm là các vị đi bộ xuống quảng trường Djemaá. Chắc chắn ở đó sẽ có người biết.” Ông ta khịt khịt mũi như thể khách sạn Bordeaux chỉ là một túp lều.

Thế là Holt, Britta cùng tôi lên đường đến Djemaá, và vừa bước chân ra quảng trường rộng lớn, tôi đã bị chú nhóc Ả rập mà Gretchen kể trong thư sán lại. Nó giống hệt như cô miêu tả: một đứa bé đầu đường xó chợ mặt mũi cáo già đội mũ vải của đội bóng chày Waco, Texas. Thằng bé tiến thẳng về phía tôi, nói, “Ông Fairbanks, World Mutual, Geneva, Thụy Sĩ.” Cúi chào Holt, nó nói tiếp, “Đây chắc hẳn là Harvey Holt, người xây dựng các sân bay. Còn đây là cô gái Na Uy.” Tôi hỏi làm sao nó biết tên chúng tôi, thì nó đáp, “Cháu đi gửi thư hộ các anh chị ấy mà. Nếu các vị cần bất cứ thứ gì mà khách sạn Mamounia...”

“Sao cháu biết ta ở khách sạn Mamounia?”

“Còn ở đâu khác được nữa?” nó hỏi lại. Rồi trầm giọng xuống, nó liếc nhìn Britta với vẻ đểu cáng và bảo, “Đi với em tới casbah nhé.”

“Tới khách sạn Bordeaux,” tôi nói, vậy là nó bắt đầu băng qua quảng trường Djemaá, nhưng chúng tôi đi khá chậm vì thấy vòng người nào Britta cũng muốn dừng lại xem các anh hề hay nghe kể chuyện, do đó sau rất nhiều trì hoãn, chúng tôi mới tới được bến đỗ xe bus - hàng mấy chục chiếc tản về mọi miền đất thuộc dãy High Atlas - và sau khi vượt qua rất nhiều ngõ ngách, chúng tôi đến được trước khách sạn Bordeaux. Trời bấy giờ đã tối, và suốt một lúc, chúng tôi đứng đó giữa bóng đêm, với ánh đèn hắt ra từ bên trong khách sạn và tiếng guitar văng vẳng từ một trong những căn phòng bên trái, nơi các giọng ca hòa nhịp một bài ballad cổ, tôi có thể hiểu một cuộc phiêu lưu như vậy có ý nghĩa ra sao với một cô gái người Brisbane, Úc, hay một chàng trai người Moose Jaw, vùng Saskatchewan, và tôi nhận thấy nét phấn khích trên khuôn mặt Britta khi cô ló ra khỏi bóng tối.

“Nhiệm vụ đã hoàn thành,” thằng Jemail nói, nhưng chưa kịp dẫn chúng tôi vào căn phòng rộng rãi của cặp Thụy Điển, nó bỗng huýt gió và la lên, “Em chuồn đi thì hơn,” vì nó đã trông thấy thân hình đồ sộ của Big Loomis đang bước xuống cầu thang, di chuyển như một quả núi đen xì phủ hoa, và rõ ràng thằng bé và người đàn ông là kẻ thù của nhau vì kẻ trước thì lỉnh đi còn người sau khàn giọng gầm gừ trong lúc thình thịch băng qua chúng tôi, “Các vị nên tránh xa thằng lỏi thối tha đó ra.”

Chúng tôi bước đến cánh cửa mà thằng Jemail đã hướng tới, gõ mấy tiếng và được một người đàn ông Thụy Điển nói năng nhỏ nhẹ tự giới thiệu tên Rolf mời vào, nhưng anh chưa kịp nói dứt tên mình thì Gretchen, lúc này đang chơi guitar, đã nhận ra chúng tôi bèn lao ngang qua căn phòng, theo sau là Joe và Cato. Mọi người vồn vã chào hỏi ôm hôn nhau, tấm tắc khen vẻ ngoài điển trai mới mẻ của Joe, nhưng sự nồng nhiệt này đã bị Holt làm hỏng khi anh hít ngửi bầu không khí nặng mùi và hỏi, “Mùi quái quỷ gì thế nhỉ?” Gretchen khẽ siết tay anh thì thầm, “Cần sa đấy. Phần lớn các bạn ở đây đều hút, nhưng không có vấn đề gì đâu.”

“Đối với tôi thì có vấn đề đấy,” Holt phát biểu trong khi chúng tôi gặp gỡ mọi người, nhưng ngay sau đó chúng tôi được mời ngồi lên trên giường, và Gretchen quay lại với khúc ballad của Child kể về một cô gái được cứu thoát khỏi giá treo cổ đúng lúc dây thừng vừa tròng quanh cổ. “Child 95,” cô giới thiệu, đoạn điệp khúc lôi cuốn và đơn giản tới mức đến cuối đoạn thứ hai, tất cả chúng tôi đều hát theo.

Britta vẫn đưa mắt tìm Monica, nên khi khúc ballad kết thúc Cato giải thích, “Cô ấy ở trên gác. Tôi nghĩ cô ấy vẫn đang ngủ.” Britta đề nghị nhóm người mới đến chúng tôi lên trên đó làm cô bất ngờ, tuy nhiên tôi thấy hình như Cato không tán thành ý kiến ấy còn Gretchen dù bập bùng guitar vẫn nom có vẻ lo ngại, song tôi không chắc, vì vậy với Cato dẫn đường, chúng tôi rời khỏi phòng leo lên cầu thang. Đây một cánh cửa ra, chúng tôi bước vào khoảng không gian tối om om, nhưng trong cảnh tranh tối tranh sáng chúng tôi có thể trông thấy một chiếc giường trên đó rõ ràng dáng một một cô gái đang nằm. Đó là Monica, và ngay cả khi chúng tôi đã vào phòng và bật đèn, cô vẫn không cử động. Say thuốc như hóa đá, cô nằm đó với cái miệng dễ thương há hốc, hai hốc mắt sâu hoắm.

Britta chạy đến bên giường ôm chầm lấy cô, nhưng Monica không thể nhận ra chúng tôi. Khi Britta lay gọi, cô lẩm bẩm gì đó rồi lại chìm vào trạng thái hôn mê. Chúng tôi quay sang nhìn Cato lúc này đang đứng tựa lưng vào tường, không nói một lời. “Chuyện quái quỷ gì thế này?” Holt hỏi.

Cato chỉ vào cánh tay cô nói, “Kim tiêm. Và cô ấy còn nhất quyết ăn mấy cái bánh nướng chết tiệt ấy nữa.”

“Bánh nướng nào?” Holt hỏi. Cato đá vào một cái túi nhờn nhờn gấp từ giấy báo, thế là Holt cúi xuống nhặt lên, nếm thử ít vụn bánh xanh xanh và hít ngửi. “Chẳng phải hashish sao?” anh hỏi, và Cato gật đầu.

“Trông bạn ấy ốm yếu dễ sợ quá,” Britta than, chính cô cũng có vẻ ốm vì bộ dạng của bạn mình.

Cato không bình luận gì; nỗi đau khổ tột cùng trong mắt anh đã nói thay tất cả. Tôi ngồi xuống mép giường để kiểm tra kỹ càng hơn cô gái bất tỉnh, và để ý thấy một dấu hiệu mà sau này tôi phải thường xuyên nhớ đến dù ngay lúc đó tôi đã bỏ qua: nước da của Monica vàng bủng rõ rệt. Đáng lẽ điều này đã phải cảnh báo tôi, nhưng tôi còn đang quá choáng váng vì cô sút cân kinh khủng. “Chắc hẳn cô ấy phải sụt đến gần mười cân kể từ lần cuối cùng tôi gặp cô ấy,” tôi nhận xét.

“Có lẽ nhiều hơn,” Cato đồng ý với tôi. “Cô ấy chẳng ăn uống. Nhưng ngày mai khi đến gặp ông, cô ấy sẽ lại rạng rỡ như từ xưa đến giờ.”

“Ý cậu là cô ấy sẽ dậy được?” Holt hỏi.

“Chắc chắn rồi,” Cato đáp, và khoảng mười một giờ sáng hôm sau, khi tôi đang đứng ở đại sảnh khách sạn Mamounia cùng ba kỹ sư từ Casablanca đến thì người già nhất, một cựu sinh viên trường Yale, bỗng reo lên, “Ôi chao! Cô gái xinh đẹp kia là ai nhỉ?” và chúng tôi quay lại, nhìn thấy Monica đang bước tới chào.

Lúc này tôi có thể nhìn rõ cô - người mảnh mai, tóc đen tuyền, gương mặt xanh xao, rạng rỡ với nét dễ thương còn sót lại từ thời thơ ấu nhưng đồng thời cũng quyến rũ không kém gì phụ nữ trưởng thành, cô bước về phía chúng tôi với vẻ duyên dáng tinh tế không thể thiếu và được phản chiếu lại trong gian phòng như tiếng sáo dội vang. Tôi quên luôn bộ dạng cô đêm qua và vội vàng băng qua đại sảnh để đón nhận nụ hôn của cô. Ba anh chàng Marốc theo sát tôi vì, giống như tôi, họ đã nhận thấy nét trang nhã của cô, vậy là tôi giới thiệu hai bên với nhau trước khi nhóm kỹ sư luyến tiếc rời khách sạn, cứ đi được vài bước lại dừng lại đăm đăm nhìn Monica.

Chúng tôi nói chuyện về Moçambique và Marrakech, và Monica tỏ ra khá dí dỏm khi bình phẩm về Cato, về chuyện tình giữa Joe và Gretchen, cũng như thể hiện một sự đáng yêu vô cùng đến mức tôi không sao hình dung nổi cô lại chính là cô gái tôi đã nhìn thấy trước đó mấy tiếng đồng hồ; rồi dần dần tôi cũng hiểu ra rằng chắc hẳn cách đây chưa đầy một giờ, cô đã chích một liều heroin tăng cường do thằng Jemail mang đến, và chúng tôi đang chứng kiến cô trong trạng thái phởn phơ tột đỉnh. Tôi cho rằng ấy chính là tột đỉnh sức hấp dẫn của cô, và, đúng như phản ứng bình thường của bất kỳ người đàn ông nào, trái tim tôi rộng mở khi thấy cô quyến rũ biết bao nhiêu.

Tối đó Holt và tôi mời năm bạn trẻ và cặp tình nhân Thụy Điển ăn tối tại một quán cà phê Pháp trong khu thương mại. Tôi gợi ý mời cả Big Loomis nữa, nhưng Holt phản đối: “Tôi không tin bất kỳ tên béo lưu manh nào bày mưu tính kế cho thanh niên trốn quân dịch.” Tôi tranh luận, “Ông ta hiểu thanh niên. Biết đâu chúng ta sẽ cần ông ta giúp về vấn đề của Monica.” Holt đành miễn cưỡng đồng ý, nhưng suốt bữa ăn anh luôn để mắt đến Loomis và chú ý lắng nghe mỗi khi ông ta nói chuyện với Joe.

Sau đó chúng tôi thong dong đi xuống quảng trường Djemaá, nơi các diễn viên ca đêm đang trình diễn, rồi quay về khách sạn Bordeaux, để rồi ở đây Rolf và Inger đã đưa tôi vào thế giới của hashish. Chúng tôi, tầm khoảng hai mươi người, được xếp chỗ ngồi trên giường, có tiếng đàn guitar ngân vang khắp căn phòng. Gretchen giới thiệu “Child 12” và có tiếng vỗ tay hoan nghênh. Đây là khúc ballad cô đã dạy tôi, và khi mấy cây guitar khác cùng tham gia, ấn tượng càng thêm sâu sắc, tôi đặc biệt chú ý đến một đoạn mà hẳn tôi đã từng được nghe rồi nhưng chẳng để tâm, vì lời ca, mặc dù viết về một chàng thanh niên, lại có vẻ thích hợp đau đớn cho trường hợp Monica, và khi chúng được cất lên trong âm vang dịu ngọt của hơn một chục giọng ca, tôi buộc phải tin chúng nói về cô gái Anh xinh đẹp của mình, vậy là tôi nắm tay cô, và khi đoạn đó kết thúc:

“Bữa tối nay con ăn món chi, hỡi Lord Randal con trai ta?

Bữa tối nay con ăn món gì, hỡi chàng trai đẹp đẽ của ta?”

“Con ăn lươn nấu với rượu vang; mẹ ơi, mau dọn giường nha,

Săn bắn đã mệt rồi, con chỉ muốn nằm lăn ra.”

Tôi bèn nói thầm, “Tại sao cháu không thôi món lươn nấu với rượu vang đi?” vậy là cô liền cự nự, “Chú đừng có nói như cha cháu nữa đi,” tôi bảo, “Chú là cha cháu, và chú rất thất vọng chứng kiến cháu tự hủy hoại bản thân ra sao,” nhưng cô đã đặt ngón tay lên môi rồi nói, “Nghe nhạc thôi chú,” và chúng tôi nghe Gretchen hát:

“Ôi ta e rằng con đã bị đầu độc, hỡi Lord Randal, con trai ta!

Ôi ta e rằng con bị đầu độc, hỡi chàng trai đẹp đẽ của ta!”

“Ôi đúng thật rồi! Con bị đầu độc; mẹ ơi, mau dọn giường nha,

Lòng đau đớn quá, con chỉ muốn nằm lăn ra.”

“Chẳng ai phải lo dọn giường cho cháu đâu,” Monica thì thầm, “vì cháu đâu có ý định nằm lăn ra.”

Lúc này, với sự giúp đỡ của Inger, Rolf cuốn một điếu thuốc lá cỡ đại, dài xấp xỉ hàng chợ nhưng ít nhất dày gấp ba lần; thật ra trông nó giống điếu xì gà hơn. Về cơ bản, nó được làm từ lá cần sa, xếp theo chiều dọc, nhưng khi lá đã được xếp đâu vào đấy, Inger bèn rắc lên trên kha khá vụn hashish sao cho chất nâu nâu đổ rải đều khắp điếu thuốc. Khi được châm lửa, nó bốc cháy như cây đuốc trong một lúc, sau đó lụi dần thành một đốm sáng như điếu thuốc bình thường, bốc lên một cuộn khói dày lơ lửng trong không khí, vàng vàng hăng hắc. “Chúng tôi gọi món này là Winston Churchill,” Rolf nói, nhắc đến nhân vật từng sinh sống và yêu mến Marrakech.

Inger rít một hơi sâu, để cho khói đặc lưu chuyển khắp phổi, sau đó thổi ra. Cô rít một hơi nữa, rồi chuyển điếu thuốc cho Rolf hút và đến lượt anh lại đưa cho Gretchen. Cô đang bận bịu với cây đàn nên không hút mà trao luôn điếu thuốc cho cô gái trường Wellesley, cô này rít một hơi sâu và chuyển tiếp cho đến khi Monica nhận được nó, hút liền ba hơi đã đời mà có vẻ chẳng bị tác động gì. Cô đưa điếu thuốc cho tôi, và vì chưa hề biết mùi hashish nên tôi nghĩ trong hoàn cảnh thuận lợi như thế này, có lẽ cứ thử xem sao, vì vậy tôi rít một hơi chiếu lệ, cảm thấy khói thuốc luồn vào sâu trong họng và phổi; ngay cả lượng khói ít ỏi ấy cũng mang theo một uy quyền tôi cảm nhận được ngay tức khắc. Tôi nếm vị khói, sau đó phả ra. “Tôi có thể thấy thứ này có khả năng phổ biến đến mức nào... nhưng với tôi thì không,” tôi phát biểu khi đưa điếu thuốc cho Holt, nhưng anh đã chuyển ngay cho Britta. Cô rít hai hơi sâu và nói, “Lâu lắm rồi kể từ lần cuối cùng,” và Harvey tiếp lời, “Sẽ còn rất lâu nữa mới đến lần sau,” thế là cô vỗ vỗ vào tay anh. Holt hỏi tôi, “Có nặng lắm không?” tôi đáp, “Cho đến giờ tôi vẫn chưa thấy có ảnh hưởng gì, nhưng tôi tin chắc là có.” Khi điếu Winston Churchill cỡ đại được chuyền tay mấy vòng nữa, Monica tìm mọi cách khiến tôi xấu hổ để tôi phải đua theo mọi người, nhưng vốn chẳng phải một thiếu niên mới lớn nên tôi cảm thấy mình có thể vượt qua được lời kết tội “gà mờ”, và đêm càng về khuya, tôi quan sát thấy những người tiếp tục hút hashish càng trở nên đờ đẫn, mơ màng, ngoan ngoãn và uể oải, rồi đến khi các khúc ballad quen thuộc vang lên họ thường hát chậm hơn Holt và tôi nửa nhịp, và một cô gái Úc còn nói, “Có tuyệt không cơ chứ? Chỉ việc ngồi đây hát hò và chẳng tức giận ai?” Nhưng cô không hòa nhịp với chúng tôi được nữa.

—★—

Sáng sớm hôm sau Cato đã có mặt ở khách sạn của tôi. Anh gần như quẫn trí nói anh cảm thấy bất lực, không thể cố gắng giúp Monica thêm nữa vì thời gian này cô bắt đầu trộn heroin với bánh hashish theo một tỷ lệ khiến cô hôn mê phần lớn thời gian. Cô không ăn gì cả và thỉnh thoảng lại có ảo giác cha cô và tôi đang áp bức cô trong một khách sạn ở London.

Anh mang túi xách của cô tới cho tôi xem: hộ chiếu chứng minh cô mười bảy tuổi... công dân Anh quốc... báo cho Ngài Charles Braham trong trường hợp rắc rối... và những món hàng nhập khẩu đáng sợ khác - nắp chai bia Đan Mạch, miếng lót li e bị cạo sạch sao cho nắp chai có thể chứa đầy nước và giữ được que diêm để bột heroin hòa tan; một kim tiêm dưới da loại tốt của Đức, không sạch lắm và có vết máu bên trong, chứng tỏ cô đã chọc kim vào tĩnh mạch rồi hút một chút máu ra để chắc chắn vị trí của nó; một gói giấy vuông nhỏ đựng phần bột thừa trăng trắng; cuối cùng là một bức thư viết cách đây bảy tháng gửi đến Torremolinos cho cô.

“Tôi có nên vứt kim tiêm đi không?” Cato hỏi.

“Tôi cũng không biết nữa,” tôi đáp. “Tôi cũng thấy bất lực như cậu thôi. Nhưng trông cô ấy ốm yếu quá... có lẽ ta nên nói chuyện với Big Loomis thì hơn.”

Khi leo cầu thang lên tầng ông ta, chúng tôi phải đi qua cửa phòng Monica, và ngó vào trong, chúng tôi có thể thấy cô đang bất tỉnh và sẽ vẫn như thế trong nhiều giờ nữa. “Chúng tôi phải làm gì với cô bé này đây?” tôi hỏi Loomis. “Cô ấy phải nhập viện... nhưng không phải ở Marốc,” ông đáp. Tôi nói ước gì tôi có đủ thẩm quyền để cho cô lên tàu về Anh, rồi tôi hỏi theo ý kiến của ông ta, Monica đã nghiện đến mức nào rồi, và ông ta đáp, “Chung quy lại là thế này: liệu cô ấy có tự tiêm o-d và tự giết mình hay không?” Tôi hỏi o-d là gì, ông ta liền đáp, “Overdoseh[124]. Thường là do tình cờ - tình cờ cô ấy tiêm quá nhiều, hoặc tình cờ người bán trộn quá nặng. Trong trường hợp thứ nhất, tự sát. Trong trường hợp thứ hai, giết người.”

“Việc này thường xảy ra không?”

“Có. Chúng tôi đã có ba thanh niên chết trong khách sạn này vì o-d rồi. Anh chàng Mississippi gầy đét kia cũng phải coi chừng, nếu không anh ta sẽ là người tiếp theo.” Ông ta nói với vẻ thờ ơ chuyên nghiệp của một người từng chứng kiến nhiều bi kịch do sử dụng ma túy, và tôi hỏi, “Ông có sử dụng heroin không?”

“Tôi ư?” ông ta kinh ngạc hỏi. “Sử dụng Big-H? Tôi ở đây để chống quân dịch... không phải để phá hỏng đời mình. Bao giờ chuyện này qua đi, tôi hy vọng mình sụt được khoảng tám chục cân và làm huấn luyện viên bóng bầu dục tại trường đại học nào đó. Nhưng gần đây tôi đang nghĩ có khi mình nên làm chuyên viên tư vấn.”

“Chúng tôi đang giữ đồ nghề của Monica,” tôi nói. “Cato có nên vứt ống tiêm đi không?”

Big Loomis ngẫm nghĩ một lát. “Đối với trường hợp Monica, tôi sẽ phải nói là không nên. Các ông vẫn có cơ hội đưa cô ấy quay trở lại. Nhưng không được đột ngột cắt nghiện. Cô ấy sẽ nổi loạn và các ông sẽ mất cô ấy.” Qua cách nói quyết đoán của ông ta, tôi cho rằng ông ta đã xử lý nhiều trường hợp như thế này rồi. Ông ta kết luận, “Một việc các ông có thể làm được là không cho thằng lỏi Jemail đó bén mảng lại gần cô ấy.”

“Sao ông ghét nó đến thế?”

“Tại vì những người như ông cứ tưởng nó tinh khôn lắm. Thực ra nó là một con quái vật nhỏ bé hư hỏng - một tạo phẩm của xã hội, đúng thế, nhưng nó giết chết phần lớn những thứ mà nó đụng vào. Các ông có thể gọi nó là Lời nguyền của Marrakech... mà mới mười một tuổi thôi đấy.” Xuống cầu thang, chúng tôi thấy thằng Jemail đang lén lút rời khỏi phòng Monica; chúng tôi biết chắc nó đã mang cho cô đợt bánh xanh mới, nhưng vì cô mê man quá không nhận được nên chắc nó đã tuồn chúng xuống dưới gối cô, coi như bán chịu, rồi lượn đi giao phần heroin hàng ngày cho anh thanh niên Mississippi.

Kể từ đêm Cato suýt chết vì chích heroin, tôi vẫn canh cánh trong lòng về những vấn đề do thứ ma túy tàn phá này đặt ra, và bây giờ có vẻ như thằng Jemail đã mang đến cơ hội tìm hiểu sâu hơn, vì vậy trong lúc Cato dừng lại xem liệu có ép được Monica ăn uống chút gì không, tôi chủ tâm bám theo thằng bé Ả rập vào trong hẻm, nhưng ngay khi phát hiện ra tôi, nó dừng phắt lại, quay người đối mặt với tôi và hỏi, “Ông muốn gì, ông bạn? Một cô gái dễ thương, rất sạch sẽ chăng?”

“Cậu lấy heroin ở đâu để bán lẻ cho mọi người?”

Nó lập tức biến thành một con buôn và tôi có thể tưởng tượng ra bộ não già đời của nó đang lách cách như một cái máy tính. “Có lẽ ông thích mua một mớ... bay về Thụy Sĩ? Ông chuyển lậu được khá nhiều hàng tốt vào Geneva... ông sẽ kiếm được một triệu.”

“Tôi muốn xem cậu lấy hàng ở đâu... chất lượng ra sao đã.”

“Sao lại không nhỉ?” nó nhún vai hỏi lại. Sau đó, chợt nhớ ra tôi từ Geneva tới, nó tiếp tục thảo luận với tôi bằng tiếng Đức rất lưu loát, rồi chuyển ngay tiếng Pháp khi chúng tôi đến quảng trường Djemaá; thứ tiếng này thì nó nói bằng giọng bản ngữ.

Chúng tôi rời quảng trường đi vào một bãi chợ mái thấp, ở đây nó nói chuyện suồng sã với các chủ sạp bằng tiếng Ả rập. Chúng tôi đi qua các thợ kim hoàn, nhà buôn thảm, thợ cơ khí, người đóng giày, gặp ai thằng bé cũng trò chuyện sôi nổi. Tôi đoán là nó nói, “Không làm ăn được với người này đâu, Gamal. Mà lát nữa tôi sẽ dẫn đến cho ông ai đó khác.” Đám thương nhân gật đầu khi nó đi qua, thậm chí vài người còn chào hỏi nó một cách kính trọng, ý thức rõ ràng nó là một mắt xích quan trọng trong hoạt động kinh doanh của họ.

Chặng dừng chân thứ nhất của chúng tôi là một cửa hàng thuốc, nơi một người Marốc vẻ mặt nghiêm nghị đội mũ đuôi seo màu đỏ đang cho từng phần nhỏ heroin vào những vuông giấy rồi cân từng gói bằng cái cân đồng có cây kim rung rinh qua lại như con bướm chuẩn bị đậu xuống một bông hoa. Khi các vuông giấy đã sẵn sàng, ông ta cẩn thận dàn hàng mười sáu mảnh rồi lấy xẻng trộn xúc lên mỗi mảnh một xẻng đường dextrose đầy, thành phần chính của các gói này. Dùng một xẻng trộn khác đã được lau sạch sẽ, ông ta trộn bột trong từng vuông giấy, rồi gấp mép giấy lại làm thành các gói gọn gàng để bán cho những kẻ buôn lậu như Jemail.

“Rất khoa học đấy,” Jemail tự hào nói. “Với cách làm này người ta không bao giờ bị o-d cả.” Nó nói chuyện vài phút với người bán hàng bằng tiếng Ả rập, rồi cho tôi biết, “Ông ta bảo nếu đơn hàng lớn... ông ta sẽ gom hết lại cho ông... gói rất nhỏ... hai đô la Mỹ một gói. Ông bán ở Geneva mỗi gói ba mươi đô la... ở New York thì năm mươi đô la.” Tôi nói tôi sẽ suy nghĩ về việc này, và mũ đuôi seo đỏ gật đầu.

“Đừng tìm cách mua rẻ hơn làm gì,” Jemail cảnh cáo khi chúng tôi rời khỏi quầy. “Ông vớ được một thằng nhóc nào đó ngoài quảng trường Djemaá... một thằng trong bao nhiêu thằng khác... chắc chắn nó sẽ bán rẻ hơn một chút. Nhưng ông mua phải hàng gì chứ?” Nó dẫn tôi qua một quầy hàng cài kín cửa và nói, “Bọn chúng sẽ đưa ông đến chỗ này... trước hết là heroin rẻ tiền... không có cân chia liều... một ít chỗ này, một ít chỗ kia... ai mà biết được ông mua phải hàng như thế nào? Liều thì quá nhẹ, liều thì quá nặng. Người ta gọi tay chủ ở đây là đồ tể đấy. Chớ liều.”

Lúc này nó đã dẫn tôi vào một khu vực khác hẳn; quả thực tôi tự hỏi chỗ này có thuộc bãi chợ không vì nó trông giống khu kho hàng hơn, và chưa cần đặt chân vào trong tôi đã ngửi thấy mùi cỏ khô mới cắt nồng nàn, tươi mát. Chắc hẳn đây là trung tâm sản xuất cần sa, và thằng Jemail đưa tôi vào gặp hai nhà cung cấp hashish chính cho nó. Nhà cung cấp thứ nhất là một người đàn ông nhỏ bé, dáng vẻ bồn chồn, liên tục cạo móng tay bằng con dao bấm bằng bạc. Ông ta thân ái chào Jemail, và khi thằng bé nói tôi muốn đặt một lượng hashish lớn đi Thụy Sĩ, ông ta ngay lập tức lấy lại vẻ chuyên nghiệp, nói với tôi bằng tiếng Pháp, “Chắc hẳn Jemail đã nói trước cho ông biết là tôi chỉ làm hàng rẻ tiền thôi, nó đúng đấy. Nếu phải bán hàng của tôi ở Marốc, ông có khả năng gặp phiền phức. Nhưng ở nước ngoài thì ông có thể kiếm được khối tiền.”

Ông ta đưa chúng tôi vào kho, trên sàn chất từng đống cây gai dầu nghe bảo được mua từ vùng cao nguyên trên dãy High Atlas. Hai người đàn ông đang phân loại và đóng gói vào những túi giấy bóng rồi sẽ được Jemail đem bán ở quảng trường Djemaá. Giữa cái lán gần đó, một ngọn lửa cháy rừng rực, phía trên treo một cái vạc lớn bằng gang đang đun một lượng cần sa khổng lồ để chiết xuất ra thứ nhựa mà sau khi ráo nước và cô đặc sẽ được dùng để chế thành hashish. Đó là một phương pháp thô sơ, không kiểm soát được và đầy bất ngờ - hơn sáu trăm cân cần sa để chế ra một cân hashish - và sản phẩm hashish ấy lại chẳng hề đáng tin cậy, nhưng đúng như ông chủ đã nói trong khi giũa móng tay, “Giá cả rất phải chăng.” Tôi nói sẽ cân nhắc đề nghị của ông ta.

Nhà kho thứ hai mới là nơi cung cấp hashish thượng hạng, và thằng Jemail ra sức khuyên tôi nên thiết lập mối quan hệ làm ăn lâu dài với ông chủ này. “Ông có thể làm giàu,” nó khẳng định với tôi. Câu nói tiếp theo đã cho thấy sự tư lợi của nó trong chuyện này: “Có thể sang năm cháu sẽ cung cấp hàng cho ông. Bay hãng Air France tới Geneva... Paris.” Tôi gật đầu, như thể khuyến khích ảo tưởng của nó.

Người sở hữu cơ sở này trông giống một ông chủ cối xay gió nệ cổ; ông ta có thể bước ra từ trong Truyện cổ tích Canterbury hay kịch Shakespeare vì mặt ông ta vừa tròn vừa bụi bặm, giày và quần áo cũng vậy. Ông ta bị mất mấy cái răng cửa và tỏ ra vô cùng thân thiện trong lúc bàn chuyện làm ăn với tôi. Ông ta nói tiếng Pháp và cam đoan với tôi, “Ở đây ông sẽ kiếm được thứ hashish tốt nhất Marốc... có thể là tốt nhất thế giới nữa kia. Nếu ông muốn làm đại lý cho chúng tôi ở Geneva, tôi có thể đảm bảo chất lượng hảo hạng. Xin mời ông vào trong này.”

Ông ta dẫn tôi vào một trong những căn phòng sản xuất công nghiệp kỳ lạ nhất mà tôi từng thấy trong hàng bao nhiêu năm chuyên chứng kiến những sự việc bất thường. Gian phòng khá nhỏ và được lót toàn bộ - sàn, tường và trần - bằng vải bao bì thô. Giữa phòng có một đống cây cần sa khô và hai người đàn ông nhặt từ đó ra từng bó nhỏ cho lên những tấm ván nặng rồi đập lá và than cần sa bằng roi có tay cầm thò lõ mười hoặc mười hai cây sậy to. Luồng bụi cuồn cuộn bốc lên từ đám cần sa bị đập lắng đọng thành các lớp nhựa trên vải bao bì căng sẵn. Khi thằng Jemail giải thích quá trình đó, tôi có thể nhận ra vô số hạt xam xám nhỏ li ti.

“Chúng tôi cạo được hashish hảo hạng từ trên trần,” ông chủ kho nói. “Trên tường là loại tốt. ở sàn thì... vậy đấy, chất lượng không cao như vậy nhưng vẫn xịn hơn loại đun nấu nhiều.” Rồi ông ta đùa: “Vì ông là một người cao lớn, Monsieur Fairbanks, cho nên bụi trên quần áo ông lúc này cũng phải đáng giá năm trăm đô la.”

Ông ta tuyên bố không bao giờ trộn lẫn tạp chất vào hashish và hứa rằng nếu làm đại lý cho ông ta ở Trung Âu, tôi sẽ chỉ nhận được hàng tốt nhất. “Để ông dùng riêng,” ông ta thủ thỉ, “tôi sẽ chỉ lấy hashish từ điểm cao nhất trong gian phòng đặc biệt này.” Ông ta đẩy cửa bước sang một căn phòng khác cũng căng vải bao bì nhưng không có công nhân hay chồng gai dầu nào. “Tại đây, thỉnh thoảng chúng tôi đập toàn cây cái được chọn lọc đặc biệt. Chúng cho loại tốt nhất đấy.”

Tôi nán lại với ông ta thêm một lúc nữa, thảo luận việc mua bán, và ông ta cam đoan với tôi là hút hashish không gây nên tác động xấu nào. Ông ta đã nghe nói về những sát thủ ở Syrie cổ và ngụ ngôn quen thuộc cho rằng bọn chúng chỉ giết người khi bị chìm đắm trong trạng thái mụ mị do hashish. “Chẳng bao giờ có chuyện đó hết,” ông ta quả quyết, và thái độ ông ta tự tin đến nỗi tôi phải lên tiếng, “Nhưng tôi biết một cô gái Anh sau khi ăn một cái bánh nướng của ông đã lạnh cứng cả người suốt mười tám tiếng liền.” Ông ta giơ cả hai tay lên trời, khiến cho đám bụi quý giá trên tay áo bay tứ tung. “Bánh nướng... những cái bánh xanh chết tiệt đó. Chúng là chuyện khác. Người khôn ngoan không bao giờ ăn hashish. Người ta chỉ hút thôi.”

Chúng tôi chia tay sau khi thỏa thuận là ông ta sẽ ước tính cẩn thận mức giá chào hàng hợp lý nhất nếu tôi nhận phân phối hàng cho ông ta tại châu Âu: “Tôi xin đảm bảo, đó sẽ là một cái giá khiến cả hai chúng ta giàu có. Bởi vì giao dịch này sẽ sinh ra cả đống tiền.”

—★—

Trong chừng mực nào đó, khu vực hấp dẫn nhất của quảng trường Djemaá chính là khoảnh đất nằm sát chợ, vì không những đứng ở đây người ta có thể nhìn thấy khu chợ có mái che mà nơi này còn là trung tâm của nhiều hoạt động thú vị. Ban ngày ở đây có bãi xe đạp chứa hàng trăm chiếc, ban đêm là chỗ nằm vạ vật. Có Sportif, một quán cà phê tối tăm bụi bặm nơi người ta có thể mua một đĩa thịt hầm béo ngậy với giá mười lăm xu và gặp gỡ khách khứa đến từ khắp nơi trên thế giới. Quán Sportif bán bánh rán phủ đường dẻo, thỉnh thoảng các du khách nghèo phải sống nhờ món này trong nhiều ngày liền. Gần ngay đó là quầy của một người đàn bà làm bánh hashish, và cạnh bà ta là một ki-ốt nhỏ ban ngày bán hoa quả, ban đêm thành quán trọ rẻ tiền cho Jemail và những đứa bé lang thang khác.

Nhưng thanh nam châm hút toàn bộ khách ngoại quốc tới phía cuối quảng trường Djemaá này là một nhà hàng khác thường nằm trên tầng hai của một tòa nhà đã bị hư hại nặng sau trận động đất dữ dội tháng Hai năm 1969. Những cây cột gỗ to gộc được dựng khắp tầng trệt để chống đỡ cho khu vực ăn uống phía trên, vì vậy đám nhân viên phục vụ - những con người tiều tụy ăn mặc bẩn thỉu - phải tránh chỗ này né chỗ kia trong khi bưng thức ăn lên gác qua dãy bậc thang mỏng manh đến nỗi nhiều khi khách leo lên dùng bữa tối thấy nôn nao cả khi thức ăn chưa được đặt trước mặt.

Mỗi bữa, phòng ăn đậm chất Marốc này chỉ phục vụ một món chính, thường là món thịt hầm đặc sệt nào đó đi kèm những lát bánh mì to giòn tan và một cốc nước cam ngọt lờm lợm, nhưng nếu có thể tranh được một bàn ngoài ban công và sau đó ép mình vào trong khoảng không gian chật chội dành cho mỗi khách hàng thì người ta sẽ thấy trước mắt bức tranh toàn cảnh hùng vĩ khó quên: dãy High Atlas tuyết phủ trắng xóa, tháp Koutoubia cô độc, dãy tường thành trải dài bất tận, và quảng trường Djemaá rộng mênh mông cùng dàn nhân vật liên tục thay đổi của nó. Nhà hàng này tên là Terrace và từ nơi đây, người ta có thể chứng kiến tấn bi hài kịch của Marrakech: một thành phố cổ được xây dựng dưới bàn tay những người Berber lang thang từ trên núi xuống, một thành phố vẫn giữ được vẻ hỗn độn và nét đặc trưng của một chốn ẩn náu vùng biên.

Một buổi trưa, tôi đang ngồi trên ban công quán Terrace với Gretchen và Britta thì thấy thằng bé Jemail từ đầu bên kia quảng trường Djemaá đi tới. Thằng bé dẫn theo một cậu thanh niên, và khi chúng tôi đang lơ đãng nhìn xem thằng quỷ nhỏ ấy định làm gì, Britta bỗng đứng bật dậy vẫy tay rối rít. Ngay sau đó Gretchen cũng làm như vậy.

“Yigal!” Britta reo lên, rồi bóng người đang bước tới cũng bắt đầu vẫy tay chào chúng tôi, và tôi nhận ra anh bạn của chúng tôi trong bộ com lê đắt tiền và trông đích xác là một khách du lịch từ Detroit đến.

Hai cô gái định chạy xuống cái cầu thang ọp ẹp để đón anh, nhưng đúng lúc đó cánh phục vụ đang leo lên, vậy là thằng Jemail hét, “Em sẽ đưa anh ấy lên!” và chẳng mấy chốc hai người đã đứng trước mặt chúng tôi, thằng Jemail toét miệng cười ra vẻ tử tế trong khi Yigal hôn hai cô gái.

“Yigal!” Gretchen reo lên, nhưng anh đã ngăn lại và thì thầm, “Ở Marốc thì anh là Bruce... hộ chiếu Mỹ của anh,” vậy là đến lượt Gretchen thì thầm, “Suỵt! Đừng để thằng bé nghe thấy. Nó sẽ giao anh cho cảnh sát đổi lấy một xu đấy.” Lúc này thằng Jemail đã tiến sát lại để cố nghe lỏm bất cứ tình tiết mới mẻ nào.

Yigal nắm lấy tay Britta nói, “Em còn xinh hơn anh nhớ nhiều,” và Gretchen, nóng lòng muốn chặn trước chuyện khó xử, vội ngắt lời: “Mọi người ở Torremolinos có nói cho anh biết không?”

“Anh không đến đó,” Yigal nói. “Nói gì?”

“Britta và ông Holt đã kết hôn... ờ, đại loại thế.”

“Ô...” Kể cả có đau lòng trước tin đó, Yigal cũng che giấu tình cảm của mình và nói, “Thế thì em sẽ đi đến bất cứ nơi nào ông ấy đi,” Britta gật đầu, còn Gretchen giải thích rõ hơn, “Lần này là Ceylon.”

“Nơi tuyệt đấy,” anh phát biểu. Rồi, đổi giọng cao hơn, anh hỏi, “Thế nhóm mình trọ ở đâu?” hai cô gái giải thích cả nhóm đang ở khách sạn Bordeaux, nơi rồi anh cũng phải đến thôi, còn Britta thì trọ tại khách sạn sang trọng cùng Harvey và ông Fairbanks. Nhưng điều họ thực sự muốn biết là tại sao anh lại đến Marrakech và anh sẽ quyết định như thế nào về tư cách công dân của mình.

“Chẳng dễ mà tiếp nhận Mỹ... nếu ta xem xét một cách nghiêm túc,” anh nói.

“Thế nghĩa là sao?” Gretchen hỏi.

“Anh nghĩ là em hiểu,” anh đáp.

Sau bữa trưa, chúng tôi đưa anh băng qua hết ngõ này đến ngách kia để về khách sạn Bordeaux, và thấy Joe và Cato đang nghe đĩa trong phòng Inger.

“Này, trông cậu tuyệt quá!” Yigal reo lên khi thấy khuôn mặt nhẵn nhụi của Joe. Anh xoay người bạn cao lớn một vòng để ngắm nghía rồi nói với Gretchen, “Em nên phải lòng anh chàng này đi.” Trong bầu không khí im lặng ngượng nghịu tiếp theo câu nói, Yigal suy ngay ra được chuyện gì đã xảy ra, vì vậy anh nói, “Chắc hẳn trong lúc tôi vắng mặt đã xảy ra nhiều chuyện lắm.”

Mọi người bố trí cho anh ngồi lên một trong hai chiếc giường và mời anh hút một hơi, nhưng anh từ chối. Sau đó họ vặn hỏi về cuộc sống của anh ở Detroit, và anh kể, “Về một số phương diện, tôi cũng thích Học viện Case, nhưng dường như nó quá non nớt sau các trường ở Israel. Giáo trình hoàn toàn đơn giản còn các giáo sư chẳng có vẻ toàn tâm toàn ý với công việc, nhưng điều khiến tôi thực sự khó chịu là những thứ kích động giới trẻ - chuyện quân dịch chẳng hạn - những thứ mà ở Israel chúng tôi đã giải quyết ổn thỏa sáu năm về trước. Cuối cùng thì tôi thấy không thể chịu nổi nữa.”

“Em hiểu ý anh,” Gretchen nói. “Nhưng sau thời gian ở với chúng em, anh sẽ quay về Mỹ, phải không?”

“Anh nghĩ vậy. Anh chỉ chán trường học thôi... và trong chừng mực nào đấy thì cả Detroit nữa. Nhưng đất nước đó đúng là kinh hồn.”

“Anh có nghĩ mình sẽ quay lại trường đại học không?” Britta hỏi.

“Anh nghĩ là có. Nhưng không phải Case. Có lẽ anh thích Harvard. Một nơi giúp mình hứng thú.”

“Thế tức là anh đã quyết định thành người Mỹ?” Gretchen hỏi với vẻ tán đồng.

“Anh nghĩ vậy.” Yigal im lặng một lúc rồi nói tiếp, “Đất nước này rộng lớn lắm, cho dù muốn làm gì, mình đều có thể tìm được không gian để thực hiện ý định của mình. Israel thành ra nhỏ bé. Anh cho rằng anh đã quá bận tâm đến những vấn đề nhỏ nhặt của Israel đến nỗi không thể đánh giá đúng những vấn đề to tát hơn của nước Mỹ.”

“Ông ngoại anh sẽ mừng lắm đấy,” Britta nói.

“Giờ chắc ông đang vò đầu bứt tai. Ông tưởng anh quay lại Israel. Ông không bao giờ hiểu được chỉ đơn giản là anh phải nói chuyện với nhóm mình. Là anh sẵn sàng bỏ trường Case để đến Marrakech trao đổi ý kiến với mọi người.”

“Nhưng ông sẽ thấy nhẹ nhõm cả người biết anh đã từ bỏ Israel rồi,” Gretchen nói.

“Nhẹ người vô cùng ấy chứ. Để cho phải phép, tối nay anh sẽ biên thư.”

Từ đầu đến giờ Cato vẫn giữ im lặng, nhưng lúc này anh nghiêm nghị nhìn Yigal và phát biểu, “Tôi thì sẽ cân nhắc những gì định viết cho ông già.”

“Ý cậu là thế nào?”

“Nếu cậu chọn Israel, có khi lại tốt hơn.”

“Tại sao lại thế?”

“Tại vì qua những gì tôi học được từ Moçambique - và cả ở đây nữa - vậy đấy, sẽ chẳng mấy dễ dàng cho người Do Thái ở Mỹ đâu.”

“Cậu có ý gì?”

“Người da đen sẽ phải tống cổ người Do Thái ra khỏi đời sống Mỹ. Chắc chắn sẽ có xung đột công khai.”

“Cậu nói gì thế?” Khuôn mặt nhỏ nhắn của Yigal chợt đanh lại, và anh nghiêng người về phía trước như để trực tiếp đối đầu với Cato.

“Tôi đang nói những gì mình nhận thức được. Là người Mỹ da đen sắp loại bỏ đạo Cơ Đốc rồi.”

“Người Do Thái đã làm điều đó hai nghìn năm trước.”

“Nhưng người da đen đang cải sang đạo Hồi. Và việc đó sẽ biến họ trở thành bộ phận của một liên minh lớn - người Ả rập ở Ai Cập chống người Do Thái Israel... người da đen ở Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ chống lại người Do Thái Mỹ.”

“Cậu có mất trí không?” Yigal hỏi.

“Cậu thấy phần mở đầu ở Detroit rồi,” Cato nói nhỏ nhẹ. “Chuyện này sẽ xảy ra khắp nước Mỹ.”

Yigal xích lại gần hơn, nói, “Người da đen mà nói như vậy với người Do Thái thì đúng là mất trí. Tốt hơn cậu nên về nhà mà nghĩ cho thấu đáo đi, bởi vì nếu không thể liên kết với tôi - và những người Do Thái như tôi - cậu coi như xong, anh bạn Cato. Cậu chết rồi.”

Cato không thoái lui, nhưng đồng thời anh không nói quá mạnh đến mức khiến tuyên bố tiếp theo như lời thách thức. Anh chỉ đơn giản bảo, “Người Do Thái phải bị loại bỏ. Vì một lý do rõ ràng. Họ nắm giữ mọi vị trí người da đen có quyền nắm giữ.”

Yigal định đáp lại thì chợt nhìn thấy, đứng ở ngưỡng cửa, một bóng người mà anh gần như không nhận ra. Đó là Monica, vừa tỉnh lại sau cơn say heroin, người run lẩy bẩy và gầy guộc đến đau lòng. Anh đứng lên khỏi giường, vội vã chạy đến nắm tay cô. “Monica, chuyện gì thế này? Trông da em vàng quá.”

“Thiếu mặt trời đấy mà,” cô nói và hôn lên má anh.

“Anh đâu có nói em vàng vọt. Anh nói da vàng cơ.”

“Anh tưởng anh là ai cơ chứ? Bác sĩ Schweitzerd[125] ư?” Cô đẩy anh ra và hỏi xem có ai đang hút dở cần sa không. Rolf đưa mời cô, vậy là cô hít một hơi sâu, đặc tính gây ngủ của cần sa giúp thần kinh cô dịu lại. Sau khi rít sâu hơi thứ năm, cô quay lại phía Yigal hỏi, “Miền đất Big PX[126] ra sao rồi?”

—★—

Theo định kỳ, những người Mỹ trọ ở khách sạn Bordeaux lại thấy cần phải ra khỏi khu phố cũ của Marrakech và đánh bạo đi vào khu phố mới. Những dịp đó, họ rời khỏi vòng bảo vệ của dãy tường đỏ cổ xưa để như quân xâm lăng Visigoth[127] lang thang vào khu thương mại rộng lớn nằm lọt thỏm giữa những dãy nhà thanh lịch từ thời Pháp thuộc. Phần đất Marrakech này giống như bất cứ cộng đồng ngoại ô giàu sang nào của Paris hay Los Angeles, và đám hippy trông lạc lõng đến nực cười. Họ ý thức được điều này, vì họ đi đứng thiếu tự nhiên, biết rõ cảnh sát đang theo dõi, nhưng những chuyến “bay” ấy thì không thể tránh được, cho dù chẳng mấy thích thú.

Vào ngày thứ Năm đặc biệt, tôi được yêu cầu cùng tham gia đoàn thám hiểm, vì vậy thỏa thuận là tất cả những người liên quan sẽ tập hợp tại quán Terrace lúc mười một giờ trưa, và tôi đang uống cà phê ở đó thì nhìn thấy đoàn người tạp nham ấy hàng một đi vào quảng trường Djemaá, Big Loomis dẫn đầu, một động vật da dày đeo chuỗi hạt, vòng tay xủng xoảng, đôi bốt da bò Tây Tạng nện cồm cộp và cái túi thêu dành cho phụ nữ lủng lẳng trên vai trái. Theo sau ông ta là ba cô gái gầy đét trước đây tôi mới thấy loáng thoáng; họ đến từ nhiều vùng khác nhau của Hoa Kỳ, và như cha mẹ họ biết thì họ vẫn đang nghiên cứu tiếng Pháp tại trường đại học ở Besançon. Phía sau họ là hai chàng trai quê ở New England đầu tóc bù xù to như quả dưa hấu, theo sau là Monica và Gretchen mặc váy ngắn, và cuối hàng là Yigal và Cato, Cato mặc bộ quần áo kỳ cục nửa châu Phi, nửa đại học Pennsylvania.

Trong lúc họ từ từ tiến bước qua quảng trường Djemaá, Big Loomis phải chịu đựng không ít lời lăng mạ của thằng Jemail cùng đồng bọn, còn những người khác lại được chào đón thân thiện. Những người bán hàng quen mặt đều gật đầu chào ra vẻ tán dương khi đoàn tháp tùng đi qua còn đám đông ở bãi gửi xe đạp thì rẽ ra nhường lối. Cuối cùng Big Loomis cũng đến trước nhà hàng, ngẩng bộ mặt to bè lên phía ban công tôi đang ngồi và gọi, “Chú ý, các vị trên ấy! Hôm nay, chúng tôi nối lại quan hệ với bà già nhỏ bé người Dubuque[128] đây.”

Tôi nhập hội với họ và chúng tôi đi ngược đại lộ Mohammad V rộng thênh thang, qua tòa tháp Koutoubia xinh đẹp dưới ánh mặt trời chẳng kém gì trong bóng tối nửa đêm, rồi đi vào khu thương mại. Chúng tôi dừng bước trước một tòa nhà kiên cố có chấn song trên cửa sổ và một tấm biển đồng khiêm tốn: Ngân hàng Mỹ, New York. Đẩy hai cánh của nặng trịch ra, Big Loomis hùng dũng tiến vào đại sảnh, theo bản năng định hướng mà tiến thẳng về quầy giao dịch ghi: Quầy rút tiền từ nước ngoài gửi đến. Gõ mạnh lên mặt quầy, ông ta hỏi, “Có tin tốt lành từ Petroleum, Texas chưa?” Nhân viên quầy lật giở một tập giấy và đáp, “Đến rồi đây, thưa ông Cargill,” rồi đưa ra ô cửa tấm ngân phiếu hai trăm đô la do bà mẹ của người đàn ông to béo này gửi từ Petroleum mấy ngày trước. Bằng nét chữ bay bướm, Loomis ký mọi giấy tờ cần thiết và nhận tiền của mình bằng giấy bạc Marốc, đưa lên môi hôn từng tờ trước khi nhét vào cái túi thêu đeo vai.

Khi Big Loomis xong việc, ba cô gái gầy gò bèn tiến đến trước quầy lần lượt hỏi xem ngân phiếu của họ đã đến chưa, nhưng chỉ có hai người may mắn. Vừa nhận tiền, họ vừa nói với cô thứ ba là sẽ giúp cho đến khi cha mẹ cô chuyển séc đến. Hai chàng trai New England thì bị một phen thất vọng, nhưng các cô gái may mắn kia cũng cam đoan rằng họ sẽ có tiền tiêu và không có gì phải lo lắng cả.

Giờ là lúc cần đến tôi. Tôi theo Cato và Yigal đến ô cửa rồi nói với anh nhân viên vốn đã quen biết qua nhiều lần giao dịch trong những chuyến đi trước, “Cậu thanh niên này là Cato Jackson, từ Philadelphia đến, tôi cho rằng cậu ấy có điện tín do một người tên là John Wister gửi đến đây. Tôi không biết chính xác nó được gửi từ ngân hàng nào, nhưng tôi có thể bảo đảm cho cậu này.” Anh nhân viên lật lật tập giấy và tìm được một ngân phiếu của ngân hàng Fidelity ở Philadelphia.

Sau đó tôi giới thiệu Yigal là “Bruce Clifton, Grosse Pointe, Michigan. Tên được đặt theo tên các nhà thám hiểm Pháp.” Anh nhân viên mỉm cười và khẽ nghiêng mình. “Chắc tấm ngân phiếu được gửi từ một ngân hàng nào đó ở Detroit,” tôi nói tiếp.

“Detroit cũng là tên Pháp phải không?” anh này hỏi, và khi tôi gật đầu, anh mỉm cười đưa ra tờ ngân phiếu của Yigal. Cuối cùng đến lượt Monica, và nghe tôi giới thiệu cô là con gái nhà ngoại giao Anh lỗi lạc, Ngài Charles Braham, anh nhân viên cúi người rất thấp trước khi trao cho cô tờ ngân phiếu sáu mươi bảng chuyển từ một ngân hàng Canada - một cách lách qua những quy tắc cứng nhắc của Anh chống việc xuất tiền ra nước ngoài. Vì gặp chút trục trặc trong việc hoàn tất giấy tờ nên chúng tôi quanh quẩn ở đại sảnh, lơ đãng quan sát một nhóm bảy người Mỹ đến nhận tiền trợ cấp từ nhà.

Họ là một nhóm bình thường - tóc dài, quần áo tả tơi, không được tắm rửa - và họ đến từ khắp mọi miền của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Chắc hẳn bốn cô gái cũng khá xinh đẹp hồi còn chưa tắm rửa, và một cô giờ vẫn rất đặc biệt. Cô gái có mái tóc màu mật ong, thân hình cân đối, lanh lợi và khá mồm mép. Điểm đáng chú ý là gần như nói gì cô cũng chêm vô vài câu “Ôi chà!” và “Cậu biết đấy.” Để giết thời gian, cô bắt chuyện với Gretchen: “Cậu đi cùng Big Loomis. Ôi chà! Cậu biết đấy, ông ta chơi được lắm, cậu biết đấy. Ôi chà, chúng tôi đã nghe nói đến Big Loomis từ lúc còn ở Tangier cơ, và người ta bảo, cậu biết đấy, ông ta chơi được lắm, cậu biết đấy, ôi chà!” Đến lúc này Gretchen vẫn chẳng hiểu gì cả, nhưng vị khách mới tiếp tục giải thích, “Cậu biết đấy, cậu có thể tin ông ta được, cậu biết đấy, trên đủ mọi phương diện, cậu biết đấy, ôi chà!”

“Cậu ở đâu đến?” Gretchen hỏi.

“Claire từ Sacramento. Cha tớ làm việc với trung tâm vũ trụ ở Houston, ôi chà. Cậu biết những người lên mặt trăng rồi đấy, ôi chà. Tớ hy vọng ông già gửi séc cho tớ. Chao ôi, tớ chỉ còn đúng một đô la Mỹ, ôi chà, ai sống nổi với một đô la Mỹ kia chứ, cậu biết đấy, ôi chà?”

Trong lúc cô gái huyên thuyên, Gretchen dần dần hiểu được sự tình rằng mẹ và chị cô không chịu chuyển tới Houston khi cha cô được cử đến đó, “Bởi vì cậu biết đấy ai mà thèm sống ở Texas, ôi chà, tớ không phải dân cao bồi và cậu biết đấy khi đàn ông làm tình với tớ, tớ không muốn đinh thúc ngựa của hắn thúc vào mông tớ, ôi chà.”

Gretchen nhận thấy cô gái có phạm vi bạn bè rất rộng, vì người Mỹ nào vào ngân hàng lĩnh tiền nhà gửi cũng đều biết cô, nói chuyện thân mật với cô, như thể đã từng làm ăn. Khi hai cô gái cực kỳ nhếch nhác, có lẽ đang phê cứng vì ăn quá nhiều bánh xanh, nhắc cô một cuộc hẹn quan trọng, Gretchen hỏi, “Cậu bán gì à?” thì Claire hất đầu ra sau cười sảng khoái, “Cậu biết đấy, tớ bói bài ta rô.”

“Bài gì cơ?”

“Ôi chà, bài ấy. Tớ bói bài ta rô, cậu biết đấy.”

Gretchen nhớ mang máng cỗ bài có những họa tiết đặc biệt của dân gypsy. Cô từng nhìn thấy lá bài Người Bị Treo, lủng lẳng lộn ngược vô tư lự trên cây nhựa ruồi, trong một quảng cáo và nó đã khơi cảm hứng cho cô ngắm nghía thật kỹ. Ngoài ra, bây giờ cô chỉ nhớ được lá bài Đại Tư Giáo ngự trên ngai với hai giáo chủ đang cung kính quỳ gối và lá Ẩn Sĩ mặc áo xám, tay cầm đèn lồng. Trong lúc cô nghĩ đến ba hình ảnh ấn tượng ấy, Claire vẫn nói thao thao: “Ôi chà, tớ bói có dễ, cậu biết đấy, phải hai mươi quẻ mỗi ngày, cậu biết đấy. Nếu thu tiền thì tớ đã giàu to rồi, ôi chà, hai mươi lần một đô la, ôi chà, có mà đủ hashish cho hàng mấy tuần.”

Bất chợt nảy sinh cảm hứng, Claire nằm xoài ngay xuống nền sảnh và lôi từ túi xách ra một cỗ bài hơi quá khổ, xáo quân bài rồi yêu cầu Gretchen đảo và trải mười quân thành hình thoi, vừa làm vừa ngân nga, “Quân này bảo vệ cô ấy. Quân này cản trở cô ấy. Quân này ủng hộ cô ấy. Quân này mang vinh dự đến cho cô ấy.” Xong xuôi, Claire mỉm cười rạng rỡ ngước lên nhìn Gretchen và nói, “Ôi chà, nếu tớ bói bài ta rô cho cậu, cậu phải xuống đây với tớ,” đoạn cô giật giật gấu váy Gretchen cho đến khi cô gái phải nằm ườn bên cạnh. Biết rõ tài bói bài ta rô của Claire, Big Loomis và những người khác liền xúm lại quanh hai người đang nằm nghiêng nghiêng, và quẻ bói bắt đầu, nhưng Claire chỉ vừa mới nêu vài quan sát mào đầu thì một bảo vệ ngân hàng đã vội chạy đến nóng nảy nhắc nhở bằng tiếng Pháp, “Trước đây tôi đã cảnh cáo cô rồi, cô không thể nằm trên sàn ngân hàng này được.” Claire ngước lên cười tươi tắn, vỗ vỗ vào giày anh ta, vẫn tiếp tục bói bài. Không đặc biệt quan tâm đến những gì Claire nói, Gretchen mỉm cười với người bảo vệ và nói bằng tiếng Pháp, “Cô ấy sẽ chỉ mất một phút thôi, anh sĩ quan. Xin thứ lỗi cho cô ấy,” nhưng anh bảo vệ vẫn đứng tại chỗ, không ngừng gõ gõ chân. Không thể tập trung được, Claire nhẹ nhàng đặt tay lên giày anh ta rồi mỉm cười nói, “Ôi chà, tôi cần mọi sự tập trung có thể, anh biết đấy,” và Claire tiếp tục lan man về tương lai của Gretchen, cho dù kẻ sau hầu như chẳng hề nghe người trước. Bỗng nhiên Claire nói, “Trong cuộc bầu cử vừa rồi, cậu ủng hộ Thượng nghị sĩ McCarthy và bị cảnh sát đánh nhừ tử.” Gretchen sững người, ngước mắt nhìn Cato và Big Loomis, nhưng cả hai đang dán mắt vào Claire lúc này đã chuyển sang những chuyện lặt vặt khác, và đúng lúc người bảo vệ sốt ruột cúi xuống thu cỗ bài và giải tán đám lộn xộn, Claire nói, “Cậu từng yêu một người làm nhạc, khá xuất sắc, nhưng chuyện kết thúc rồi.”

Người bảo vệ vỗ vai Gretchen nói, “Giấy tờ của cô xong rồi đấy,” vậy là cô đến thế chỗ Monica trước ô cửa, nơi tờ séc thường kỳ bốn trăm đô la đang chờ sẵn. Khi nhóm chúng tôi rời ngân hàng, mười một thanh niên khác vẫn đang xếp hàng đợi rút tiền nhà gửi.

Lúc chúng tôi rảo bước trở lại quảng trường Djemaá, Claire người Sacramento ở lại với chúng tôi, và dưới bầu trời rộng mở, bài nói chuyện của cô dường như còn kỳ quặc hơn so với khi tù túng trong bốn bức tường của một ngân hàng ngăn nắp trật tự. Tôi sẽ không cố gắng nhắc đến tất cả những “ôi chà” và “cậu biết đấy” mà cô dùng; một lần cô kể tôi nghe về gia đình mình, mỗi quán ngữ ấy cô hẳn đã thốt ra đến hàng trăm lần. Cha Claire là một nhà khoa học kỷ nguyên-vũ trụ, trong thời gian làm việc cho hãng Lockheed ở Nam California đã cưới một cô gái miền Tây Oklahoma thuộc ban thư ký. Họ sinh được hai người con gái, sau đó mẹ cô bắt đầu hành nghề chiêm tinh - “Ôi chà, mẹ tôi, ông biết đấy, xem tử vi tài nhất toàn bang California. Chà!” - trong khi cô con gái lớn lại chuyên về thần số - “Ôi chà, ông có biết là mọi việc ông làm đều có một con số, và mọi con số đều có ý nghĩa không?” - thế là nghề bói bài ta rô được để lại cho Claire.

Ba người đàn bà chia nhau bao quát hầu như cả vũ trụ huyền bí, và năm Claire mười bảy tuổi, khi cô muốn rời khỏi nhà một mình đi tới Marrakech, chị cô đã gieo một quẻ bói về thành phố này và thấy Claire đi tới đó sẽ được an toàn tuyệt đối, nhưng đến khi Claire đi rồi, chị cô mới phát hiện ra mình đã dùng lối viết cũ, Marrakesh, tức là nếu thay chữ c vào chữ s, mọi chuyện lại đâm ra đáng ngại. Nhưng sau đó mẹ cô đoán sao cho một cô gái tóc vàng giống Claire ở Marrakesh với chữ s và hóa ra mọi việc lại thuận lợi rõ rành rành, vậy nên bà mẹ và cô con gái lớn bèn thảo một lá thư khuyên nhủ: “Khi ở đó, con phải luôn luôn nghĩ mình đang ở trong một thành phố tên có chữ s, và nếu có khi nào phải ghi lại cái tên đó, con đừng quên viết với một chữ s, bởi vì như vậy thì mọi ảnh hưởng sẽ đều thuận lợi.”

Claire giải thích là ba người phụ nữ trong gia đình đã quyết định không chuyển đến Houston vì cái tên phát ra những chấn động rất xấu về thần số, là điềm dữ trong bói bài ta rô và chỉ hơi thuận trong thuật xem sao, nhưng điều quan trọng hơn là mẹ cô làm nghề chiêm tinh kiếm khá bộn tiền ở California và bà nghi ngờ chuyện dân Texas tiến bộ được như dân California; nghĩa là, họ không quen bỏ đồng tiền thực tế ra để được đoán số tử vi, trong khi ở California, đó lại là một phần ngân quỹ gia đình cũng như sữa hay bánh mì.

Claire bảo cô đang trọ ở một chỗ gọi là Casino Royale, nhưng cô vẫn theo chúng tôi về khách sạn Bordeaux, và đến đó cô bói cho Cato một quẻ ta rô thuyết phục, vừa thể hiện sự tinh quái bẩm sinh đáng kể lại vừa cho thấy nhận thức sắc sảo về tâm lý học thực hành. Khi đắm mình vào trong các quân bài, cô vận dụng cả một kho từ vựng mới, như thể cô tồn tại trong hai tầng lớp - tầng lớp tinh hoa với lối nói ngắn gọn và tầng lớp nghiên cứu thuật huyền bí gồm những ẩn ý chỉ rất ít người hiểu được. Đôi lúc cô gái mười tám tuổi có vẻ mặt ngây ngô này khiến người nghe hoàn toàn kinh ngạc; chẳng hạn cô bảo Cato, “Nếu em giải thích ý nghĩa đầy đủ của quân bài Đại Tư Giáo này, anh sẽ hiểu khi em nói là anh từng sống trong một thế giới bị tư tưởng bè phái tôn giáo tàn phá, và anh đã không hòa hợp hai nửa vũ trụ của mình được. Em nhìn thấy bán cầu não trái của anh bị nén lại hoàn toàn vì thất bại ấy, và anh sẽ không thể đạt được những gì vốn nằm trong khả năng của anh trừ phi anh đưa được hai nửa đó về cân bằng. Nhưng một khi hoàn thành việc đó, anh sẽ thấy những nguồn năng lượng vô biên được giải phóng.” Nói đến đây, cô nhìn Cato bằng ánh mắt của cô Claire hồn nhiên từ Sacramento đến và vui vẻ nói, “Ôi chà! Một Thánh Thomas Aquinas[129] mới đây.”

“Do đâu mà em biết về Thánh Thomas Aquinas?”

“Ôi chà, ai mà chẳng biết con người vĩ đại nhất, anh biết đấy, giáo phụ của Hội thánh. Ôi chà, anh cổ thể tự coi mình là có học không nếu chưa bao giờ nghe nói, anh biết đấy, về Thomas Aquinas?”

Tôi hết lần này đến lần khác bị kinh ngạc trước niềm tin những bạn trẻ này đặt vào điều huyền bí. Một nhóm sinh viên nghiêm túc tự nhiên đứng đầu cuộc nổi loạn chống lại các phương pháp lỗi thời trong trường đại học nọ, và một trong những kiến nghị đầu tiên của họ là chương trình giảng dạy phải cập nhật những khóa vỡ lòng về thuật chiêm tinh. Tôi đã không ít lần ngồi dự các cuộc tụ họp của những sinh viên vốn dĩ thông minh luôn nỗ lực phấn đấu vì một xã hội tốt đẹp hơn nhưng cuối cùng lại suy sụp tinh thần trong vòng ảnh hưởng của một vị guru nào đó chỉ biết qua loa về ấn bản Kinh dịch của Quỹ Bollingen. Tại Ấn Độ, tôi đã gặp một cô gái California tin chắc rằng chỉ cần xác định được chính xác trình tự viết các chương trong Ngũ kinh Cựu ước, cô sẽ được tùy nghi sử dụng mọi bí mật của vũ trụ, và tôi thích thú nhớ đến ông tiến sĩ triết học thuộc đại học Chicago nhất định không chịu rời Marrakech đi nhận công việc mới ở Massachusetts chừng nào mấy quẻ dịch chưa thuận lợi.

Chính nhờ sự nổi loạn đáng sợ chống lại tri thức này mà tôi học được khá nhiều điều từ Claire, bởi cô đại diện cho cuộc tấn công chống tính tự mãn thiển cận của khoa học. Nếu các nhà khoa học có thể điều khiển những con tàu vũ trụ cách 186.000 dặm, thì nhất thiết phải chứng minh được là họ không thể điều khiển các con tàu vũ trụ tinh thần bên trong đầu óc con người. Ở thời đại khoa học thống trị mọi trường đại học, các bạn trẻ này lại thấy cần phải tuyên bố niềm tin nơi những nỗ lực kém khoa học nhất của con người: môn chiêm tinh, bài ta rô, phép phù thủy, thần số và thuật xem tướng tay.

Tôi đã có lần ước tính rằng trong khoảng ba trăm thanh niên tôi từng gặp ở Marrakech, tất cả ngoại trừ vài người có tin vào thuật chiêm tinh và ít nhất hai trăm bảy mươi người bị thuyết phục rằng đĩa bay từ ngoài vũ trụ đang xâm nhập vào trái đất. Họ tin không phải dựa trên cơ sở các báo cáo nhai đi nhai lại từ các bang miền Nam toàn những con người từng du hành thực tế trên đĩa bay, mà bởi vì đức tin kiểu ấy sẽ khiến cha mẹ họ tức giận và các giáo sư của họ bối rối.

Như Claire từng nói, “ Ôi chà, cha tôi thật không tin nổi. Ông là nhà khoa học nhưng lại có tầm nhìn của con chuột chũi. Ôi chà, ông không tin vào thuật chiêm tinh, hay bài ta rô, hay Kinh Dịch, hay hầu như bất cứ thứ gì. Điều duy nhất ông làm tốt, mọi người biết đấy, là gửi séc hàng tháng cho tôi.”

Sau khi bói bài ta rô cho Cato, Claire tuyên bố cô đã quyết định chuyển đồ đạc từ Casino Royale sang Bordeaux, và lập luận của cô rất thú vị: “Ôi chà, Big Loomis lôi cuốn được tất cả những kẻ lập dị ở Marrakech, nếu lên đó ở, ta sẽ thấy thứ điên rồ nhất, cũng như tìm được lời đáp cho mọi việc.” Khi Big Loomis cồm cộp bước vào khách sạn, cô hỏi ông ta, “Ôi chà, tôi có thể chuyển vào một phòng của ông được không? Ôi chà, thế thì hay nhất đấy.” Ông ta hòa nhã gật đầu và lộc cộc đi lên gác. “Ngoài ra,” cô nói thêm khi chuẩn bị đi lấy đồ, “Ôi chà, ông ta có nguồn cung cấp cỏ xịn nhất Marrakech.”

Những người khác đều bận việc, vì vậy tôi cuốc bộ cùng cô xuyên qua các con hẻm đã trở nên thân thuộc với cô còn hơn cả phố xá Sacramento, và sau khi rẽ vào nhiều lối đi chật hẹp, chào hỏi những thương nhân giờ đã quen với mái tóc vàng của cô, cuối cùng Claire đưa tôi đến một ngõ cụt, và tôi nhìn thấy dòng chữ viết nguệch ngoạc trên bức tường từng có thời màu trắng: Casino Royale. “Nhà,” cô nói.

Được một người Ả rập tràn đầy hy vọng nào đó đặt tên từ hồi Pháp thuộc, Casino Royale là ngôi nhà một tầng, tường đất, với một sân trong nằm lọt thỏm giữa mười sáu phòng cho thuê nhỏ nhất tôi từng thấy. Không phòng nào có cửa sổ, vì vậy cửa ra vào phải để mở, và tôi đứng giữa sân, gần như té xỉu vì mùi hôi thối phả ra từ một nhà xí không hoạt động hiệu quả, tôi có thể nhìn thông thống bất kể phòng nào trong mười sáu phòng, mỗi phòng đều chứa trên sáu người hoặc đang ngủ say hoặc đang gà gật lơ mơ, không ai nằm trên giường - vì Casino Royale không có bất kỳ món đồ nội thất nào dưới bất cứ dạng nào, không giường, không ghế, không bàn - mà là trong túi ngủ, hoặc, vài trường hợp, là trên những tấm chăn mỏng tang trải luôn xuống đất. Đây là bộ mặt tồi tệ nhất của Marrakech, một chỗ ngủ với giá thuê bốn mươi xu Mỹ một đêm, được trông coi bởi một người Ả rập chột mắt khốn khổ chỉ có độc nhiệm vụ thu tiền, nếu thu được, và duy trì cho cái buồng tắm bẩn thỉu hoạt động, nếu có thể duy trì được. Hai nhiệm vụ ấy, ông ta đều thực hiện kém cỏi như nhau.

Claire đi thẳng vào căn phòng nhỏ thuê chung với bốn thanh niên cô đã gặp ở quảng trường Djemaá, và khi nghe nói cô sắp chuyển đi bọn họ tỏ ra vô cùng lo lắng, vì cũng như phần lớn con gái Mỹ ở Marrakech, cô đang chu cấp cho đám đàn ông, do nỗi con gái xin tiền nhà dễ hơn con trai. Cô bảo họ không phải lo, cô sẽ vẫn để ý đến họ từ giờ cho đến hết tháng, sau đó hẳn họ cũng sẽ rời Marrakech như bỡn thôi. “Nhưng chúng tớ chẳng còn gì ăn cả,” một người trong đám thanh niên than, vậy là cô chia cho anh ta nửa số tiền cha cô gửi đến sáng hôm ấy. Họ cho rằng như vậy chắc tạm đủ để giúp họ qua ngày. Đến lúc đó cô mới giới thiệu: Harold ở Detroit; Cliff ở New Mexico; Max ở Portland, bang Maine; Bucky ở Philadelphia. Qua vài câu trao đổi, tôi được biết tất cả đều đã từng có một hai năm học cao đẳng, đã bỏ học, và có thể một ngày nào đó sẽ lại quay về. Tôi không hỏi, nhưng tôi đoán ba bốn tháng rồi chưa ai tắm rửa, và hành lý duy nhất tôi có thể thấy là bốn cái túi ngủ. Chắc hẳn họ cũng có bàn chải răng và hộ chiếu, nhưng tôi không cho rằng họ có dao cạo hay xà phòng. Tất nhiên còn có một túi cần sa sử dụng chung và kha khá bánh xanh bọc trong giấy báo.

Khi tin Claire sắp chuyển đi truyền sang các phòng khác, khách trọ liền đổ ra chào tạm biệt, bày tỏ cảm xúc chân thành với cô gái vui tính, dễ hòa đồng, có vốn từ không lấy gì làm phong phú này, nhưng tôi để ý thấy không có ai ở căn phòng liền kề xuất hiện. Tôi ngó vào và thấy sáu thanh niên, cả nam lẫn nữ, đang nằm mê man bất tỉnh trong túi ngủ, như thể đã chết. Mất một lúc tôi kinh hoảng, tưởng đã có tai họa nào đó xảy ra do thứ heroin độc hại kia, nhưng nhận thấy thái độ lo lắng của tôi, Claire bèn nhìn vào phòng, đá nhẹ một cô gái, nghe thấy tiếng rên rỉ đáp lại, và trấn an tôi, “Chẳng có chuyện gì đâu. Họ vẫn khỏe.” Chắc hẳn tôi đã để lộ vẻ ngạc nhiên trước lời trấn an này, nên cô nói thêm, “Ờ, đêm qua họ muốn thử xem, ông biết đấy, bánh nướng mạnh thế nào - và, ông biết đấy, ôi chà, mỗi người ăn hai cái rồi nằm liệt luôn. Nhưng tự ông cũng có thể thấy họ chẳng sao cả. Thêm mười tiếng nữa là họ bắt đầu đi lại được thôi.”

Trong lúc Claire đi quanh chào từ biệt mọi người, tôi ở lại với sáu cơ thể bất động và quỳ xuống vỗ vai một cô. Mí mắt cô ta từ từ hé mở, nhưng chỉ thấy toàn lòng trắng. Cô ta rên rỉ, lăn người nằm sấp xuống rồi lại quay về trạng thái bất tỉnh. Một chàng trai - sau này Claire nói với tôi cậu ta là sinh viên xuất sắc ở Đại học Michigan - có vẻ như đang dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của hai cái bánh, nhưng lúc chống tay định nhổm dậy, cậu ta ngã vật xuống và lại rơi vào giấc ngủ sâu.

Trong lúc chăm chú quan sát căn phòng bẩn thỉu cùng chuyến hàng khác thường của nó, tôi thầm nghĩ đám sinh viên đáng thất vọng này đại diện cho một phần đáng kể của thế giới mới đang trên đà tiến hóa. Họ tiêu biểu cho đông đảo tâm hồn non trẻ lầm lạc đã chối bỏ xã hội của mình ở Paris, London, Tokyo và Berlin. Chính họ cung cấp dân cư cho các công xã trên những ngọn đồi nhìn xuống thị trấn Taos ở New Mexico, các khu kiều dân ở Nepal và các hang động ở đảo Crete. Họ là một lớp người mới, khó hiểu nhất, và nhìn sự chọn lọc này, tôi nghĩ đến các gia đình họ bỏ ra đi. Chắc hẳn những nơi ấy không mấy khác mái ấm tôi đã rời xa khi còn trẻ; cha mẹ họ chắc hẳn cũng dành cho họ những hy vọng tương tự của cha mẹ tôi đã dành cho tôi. Có lẽ cả sáu người đang ngủ này đều từng học đại học và đã bỏ nửa chừng, lãng phí món học phí do cha mẹ họ chu cấp, và tôi tự hỏi các bậc cha mẹ ấy sẽ cảm thấy thế nào nếu họ có thể đứng tại chỗ tôi lúc này. Đây là phần mới của thế giới, và những âm vang mà nó đang khơi lên sẽ còn dội lại nhiều thập kỷ.

Sau đó tôi mường tượng về phần thế giới quen thuộc kia, hàng triệu thanh niên trên khắp Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ và mọi quốc gia đã vào đại học cùng hoàn cảnh như sáu người này nhưng lại thấy khả dĩ tự thích nghi được với những đòi hỏi truyền thống, và tôi biết công trình tương lai của xã hội - nhà máy, bệnh viện, bảo tàng nghệ thuật, hội đồng thành phố - sẽ được hoàn thành bởi lớp người ở lại quê nhà học hành làm việc theo đúng cách mà phần lớn thanh niên vẫn làm suốt cả quá trình lịch sử. Những người bỏ học ở California và những kẻ bị bỏ rơi ở Marrakech thật đáng chú ý; những thanh niên ổn định chăm chỉ học hành lại khiến cho người ta yên lòng. Thật hứng khởi biết bao khi nhớ ra rằng Harvard, Michigan và Tulane vẫn đang đào tạo nhiều sinh viên có kiến thức như trước nay, và rằng xét về mọi mặt chính những sinh viên đó sẽ bảo đảm sự tồn tại của xã hội chúng ta. Các chàng trai phải học toán thì vẫn đang học toán; các cô gái cần hóa học thì vẫn đang tinh thông môn hóa.

Nhưng rồi tôi lại nảy ra mối nghi ngờ khó chịu là sự lãnh đạo tinh thần cho cái xã hội ấy - cái xã hội mà sự tồn tại về mặt vật chất được đảm bảo nhờ những sinh viên bình thường ở lại làm việc - rất có thể sẽ thuộc về những kẻ thích phiêu lưu mạo hiểm đã tiếp thu được phần kiến thức sống còn nhất của mình tại các phòng trọ công cộng không ai ngờ như Casino Royale ở Marrakech hay các ổ ăn chơi ở Greenwich Village. Tôi chợt nghĩ đến Thánh Paul[130], người đã thúc đẩy nhà thờ Cơ Đốc giáo mạnh mẽ nhất; ông không xuất thân từ trường tôn giáo yeshiva bảo thủ mà từ nơi ngõ hẻm bùn lầy nước đọng thời ông. Các ca sĩ thể hiện thành công nhất tinh thần của thời đại này không xuất thân từ trường Harvard, Stanford hay Tulane mà từ các trung tâm đào tạo tổ chức kém hơn như Pamplona, Copenhagen hay Conakry vì sự học hỏi đích thực của một đầu óc hiếu kỳ diễn ra bất thình lình và trong những môi trường có khi chẳng thể đoán trước hay quy định được.

Tôi thấy có lẽ sự kết hợp sáng tạo nhất cho một xã hội sẽ là chín phần mười nhân lực đáng tin cậy xuất thân từ các học viện như Viện Công nghệ Massachusetts, còn một phần mười là nhà thơ ở Marrakech, nhưng bất chấp thực tế bản thân tôi từng được đào tạo thành một trong số những lao động đáng tin cậy ấy, đồng nghĩa với việc mọi sự đồng cảm của tôi lẽ ra phải đặt ở nhóm này, tôi không từ bỏ nhà thơ được. Vấn đề là phải tìm được anh ta.

Đứng trong căn phòng nền đất nhỏ xíu ấy, giữa mùi hố xí hôi thối vít kín lỗ mũi và sáu học giả mê man bất tỉnh dưới chân, tôi kết luận là trong số thanh niên đang trọ ở Casino Royale, hơn chín mươi phần trăm hỏng hẳn chẳng còn lao động sáng tạo được nữa. Trong những kẻ đã bị hủy hoại ấy, không ít sẽ leo thang lên heroin và trở thành vô dụng tuyệt đối. Số khác sẽ thỏa mãn với việc lờ phờ hút cần sa hết buổi này sang buổi khác, không bao giờ mất hết khả năng lao động nhưng cũng chẳng bao giờ hoàn toàn kiểm soát được khả năng của mình. Một số người sẽ nhiễm phải những thói quen tình dục không thể thích nghi được, và một thập kỷ sau, tôi sẽ thấy họ dật dờ khắp các quán rượu ở Torremolinos hay sống ở Algarve với một bà góa London giàu có. Và vẫn còn số khác nữa trong chín mươi phần trăm kẻ bỏ đi ấy, những người nhiễm phải căn bệnh khủng khiếp không bao giờ hồi phục được - bệnh mất trí nhớ - và đám người này sẽ lải nhải mãi không thôi đến bao giờ bạn bè phát bực, “Đáng lẽ năm ấy anh phải tới Marrakech cùng chúng tôi.” Họ sẽ nhớ điều đó như thời điểm đáng nhớ nhất cả cuộc đời mình.

Như vậy còn lại một nhóm khoảng mười phần trăm, từ đó sẽ xuất hiện những người sống sót, một hai người sẽ tỉnh ngộ mà nhìn bao quát thế giới, sẽ hiểu cuộc đời là một thực tế đáng sợ, một sự kết hợp thành bại, và có thể dìu dắt tinh thần cho thế giới ở mức độ nào đó. Việc học hành của những nhà lãnh đạo như vậy chẳng bao giờ dễ dàng, cũng không hề nhẹ nhàng hay an toàn. Không người cha nào dạy dỗ quý tử của mình theo cách tệ hại như cách cậu bé Saul bị dạy dỗ, chỉ ăn may năm ăn năm thua là biết đâu khi trưởng thành cậu có thể được như Thánh Paul; không người lập kế hoạch có logic nào lại đòi hỏi con cá sấu phải ấp một trăm quả trứng trên bờ cách mép nước trăm thước với hy vọng một cá sấu sơ sinh có thể thoát xuống sông trước khi bị lũ linh cẩu và cò ăn sống nuốt tươi như chín mươi chín anh chị em của nó, nhưng đó là con đường do tự nhiên định đoạt. Phương thức đó vừa lãng phí vừa bi thảm, nhưng nó thực hiện được chức năng của mình.

Nhìn vào đám đông nhếch nhác đang tạm biệt Claire và bộ bài ta rô của cô, tôi chẳng dám đánh cược dẫu chỉ một trong những người lôi thôi lếch thếch ấy sẽ làm được gì nên hồn, vì hiển nhiên họ đã ở vào hạng hỏng đời rồi; nhưng tôi cũng hiểu là nếu được giao việc tìm nhà lãnh đạo giàu sức thuyết phục có thể nói chuyện với thế hệ tương lai, thì thay vì ở khách sạn Mamounia tiệt trùng đang trọ, tôi sẽ có nhiều cơ may phát hiện ra người đó hơn nếu đến Casino Royale nơi họ trọ.

Song, ngay khi nghĩ đến điều này, tôi cũng nhận ra mình đã dùng từ nhà lãnh đạo theo hai nghĩa. Từ lớp thanh niên siêng năng trong nước, những người đang hoàn thành nhiệm vụ học tập theo phong cách truyền thống, sẽ xuất hiện các nhà lãnh đạo có tính chất xây dựng như Aristotle, Pericles, Maimonides, Martin Luther, Thomas Jefferson và Winston Churchill, trong khi từ nhóm người Marrakech sẽ nổi lên những nhân vật thành công nhanh chóng như Thánh Paul và Thánh Augustine, những người đã thú nhận là từng sống trong hoàn cảnh tương tự, hay như Byron và Dostoievsky, từng hấp thu các kinh nghiệm tương đương, như Josef Stalin và Adolf Hitler, được nuôi dưỡng bằng cùng một thứ suy tư chính trị rối rắm. Tôi ngờ rằng trong mọi thế kỷ sắp tới, riêng trong vấn đề bộ phận lãnh đạo, thế giới sẽ vẫn tiếp tục tạo ra và đi theo đúng kiểu thuyết nhị nguyên đó, và lịch sử sẽ là hồ sơ ghi chép lại sự tương tác giữa hai thế giới của Michigan và Marrakech.

Lúc tôi mang cái túi ngủ hôi hám của Claire ra khỏi Casino Royale, cô túm tay tôi nói, “Ôi chà, nơi này, ông biết đấy, tôi không bao giờ quên được. Cả mùi hôi thối. Cả những cuộc tranh luận không dứt của chúng tôi nữa.”

Nhưng khi về đến khách sạn Bordeaux, chúng tôi lại cảm nhận được một bầu không khí khích động kiểu khác, vì có vẻ như mọi người đều đổ hết ra ban công. “Chuyện gì vậy?” tôi hỏi, và một cô gái trường Wellesley chỉ về phía phòng Monica trên tầng ba. Tôi đánh rơi cái túi ngủ của Claire và chạy lên thang, nhưng chưa được mấy bước đã thấy Monica đứng ở cửa phòng, quan sát Big Loomis và Cato khiêng một vật từ phòng khác ra.

“Gì vậy?” tôi hỏi.

“Anh gay Mississippi,” một cô gái thầm thì.

“Cậu ấy làm sao?”

“Chết rồi.”

Big Loomis và Cato đã ra đến đầu cầu thang. Trong lúc họ khiêng cái bọc cứng đơ xuống, các ban công im lặng như tờ. Hàng mấy chục nam nữ thanh niên nhìn theo đoàn đưa ma, và tận đến khi họ đã im lặng nghiêm trang đi qua chỗ tôi, cô gái Wellesley thứ hai mới thì thầm, “Chúng cháu vào phòng anh ấy... mang đồ ăn cho anh ấy. Anh ấy say thuốc quá nặng rồi. Chúng cháu lay gọi nhưng anh ấy không có phản ứng gì... thậm chí phản ứng bất tỉnh như mọi khi cũng không. Chúng cháu sợ quá bèn gọi ông Big Loomis xuống. Chúng cháu nói, ‘Hay ta mời bác sĩ?’ thì ông ta hỏi lại, ‘Để làm gì?’ Thế là chúng cháu hiểu anh ấy chết rồi.” Chợt có tiếng ầm ĩ dưới sân. Đó là thằng Jemail đang cuống cuồng biện bạch, “Không phải lỗi tại tôi, không phải lỗi tại tôi!”

“Cút ra khỏi đây, đồ chó đẻ,” Loomis gầm gừ. “Sáng nay mày mang heroin đến cho cậu ấy! Mấy cô gái trông thấy mày.”

“Anh ta lúc nào cũng mua thứ rẻ nhất. Chẳng bao giờ trả tiền cho hàng an toàn cả. Nên anh ta mới bị o-d. Lỗi tại tôi đâu.”

“Sao mày không cuốn xéo ra khỏi đây nhỉ?” Cato hỏi, nâng một bàn tay của cái xác lên ấn vào mặt thằng Jemail.

Thằng bé Ả rập vội lùi lại và thét lên độc địa, “Thằng mọi đen chết tiệt! Đừng có đụng vào ông! Người yêu của mày ở trên kia kìa, nó rồi cũng chẳng còn là của mày nữa đâu, thằng mọi đen chết tiệt!”

Tất cả mọi người đều bất giác quay lại ngước nhìn lên tầng ba, nơi Monica đang đứng. Nhận ra thằng Jemail đang nói về mình, cô vội lấy mu bàn tay che miệng và lùi vào bóng tối. Hiểu rõ cô bị lời lăng mạ của thằng Jemail làm tổn thương, Cato định đánh thằng nhóc, nhưng nó dễ dàng tránh được và hét lên, “Thằng mọi đen thối tha, mày không giữ được đứa con gái da trắng lâu nữa đâu. Tao biết mà.”

Mấy người khiêng quan tài đã chuyển cái xác ra khỏi cửa, vì sau vài lần dính líu đến chuyện đột tử do heroin, Big Loomis đã rút ra kinh nghiệm tốt hơn cả là đưa người chết đến đồn cảnh sát để mọi thủ tục giấy tờ được hoàn thành dễ hơn, và khi đoàn đưa ma đột xuất đi khuất, Claire, giọng nghèn nghẹn thầm thì lời điếu văn, “Ôi chà, anh chàng này say thuốc, ông biết đấy, mãi mãi rồi!”

Sau khi tang lễ kết thúc, khách sạn Bordeaux lại vang dội tiếng cười nói vui vẻ vì Clive đã bay đến Marrakech trong chuyến lưu diễn định kỳ, cái túi vải bạt màu đỏ tía nhét đầy đĩa hát mới phát hành. Cũng như ở Pamplona, đĩa hát được ưa thích nhất là một nhạc phẩm do anh viết, “Koutoubia”, gồm hai phần đối lập, một đoạn thơ dựa trên tiếng khóc than ai oán theo kiểu phương Đông và một điệp khúc sôi nổi mô tả cảnh nam nữ thanh niên nhảy nhót khắp quảng trường Djemaá:

Koutoubia, Koutoubia!

Ngón tay Thánh Allah, trở về Marrakech.

Koutoubia, Koutoubia!

Biểu tượng niềm khát khao trong ta.

Tại Djemaá và khu chợ náo nhiệt,

Ta tìm được một thế giới riêng biệt.

Dân hippy, những chàng trai sáng sủa và kẻ lập dị,

Người gàn dở, thiếu nữ yêu ca hát và đám quỷ quái.

Kẻ cổ hủ thích gọi họ là dân Đông Á...

Còn ta lại suy nghĩ rất nhiều về họ.

Khúc hát nắm bắt được tính trữ tình của Marrakech, và đồng thời, qua nhịp điệu đứt quãng và chất phác, mô tả mặt kỳ bí của thành phố:

Người dụ rắn huấn luyện chúng trên Djemaá

Trong khi tâm hồn con người vẫn tự do,

Lông bông lang bang ngoài tâm trí ta

Trong cơn mơ màng mờ mịt khói giờ đã thành thực tại.

Lắng nghe thứ tình cảm ngây ngô trong bài hát, tôi không tin là thơ ca thế hệ này lại hay hơn hẳn những khúc hát tạp nham ngọt ngào ủy mị thời trai trẻ của tôi. Một lần tôi đã nghe Clive bật liền năm bài, tình cờ bài nào cũng có từ reality - thực tại, có lẽ một phần vì nó gồm bốn âm tiết dứt khoát và dễ ghép vần, nhưng chủ yếu là vì nó truyền tải một quan niệm triết học đầy khiêu khích: “Thế hệ chúng ta đã tìm ra thực tại.” Những cơn mơ màng mờ mịt khói thường được bóng gió trong các bài hát mới thật ra chẳng mấy liên quan đến thực tại; chúng ám chỉ rõ ràng đến cần sa và hashish, và việc truyền bá liên tục này đã phần nào giải thích tại sao nhiều thanh niên lại muốn thử hai thứ trải nghiệm đó đến thế.

Bất chấp những suy nghĩ buồn thảm này, tôi nhận thấy mình khá thích ca khúc mới của Clive, cho nên tôi đề nghị anh gửi một bản qua đường hàng không đến Vila Gonealo cho trung úy Costa Silva, tin chắc là anh ấy và đại úy Teixeira sẽ thích. Thực ra, tôi khá bối rối khi nhận ra nhịp điệu dồn dập trong mấy đĩa mới của Clive làm tôi bâng khuâng nhớ đến những bài đã thành quen thuộc hồi ở Torremolinos. Những âm thanh này rất được ưa chuộng và phù hợp với lớp trẻ; vì vậy tôi nằm dài trên giường Inger để cho nhịp điệu mạnh mẽ vang dội trong lồng ngực, bụng bảo dạ rằng nếu nó gây tác động đến tôi như vậy, tác động của nó lên các bạn trẻ sẽ còn mạnh biết bao nhiêu. Hiểu biết ban đầu mà tôi thoáng có vào buổi tối ở Brookline khi Gretchen lần đầu tiên hát ballad cho tôi lúc này đã được mở rộng lên nhiều lần, và tôi biết mà không ngờ vực gì rằng âm nhạc của họ mang tính cách mạng; lời ca, khi có thể hiểu được, là nhằm phá hủy trật tự đạo đức và lối sống gia đình; nhịp điệu thình thịch là hồi kèn kêu gọi nổi loạn chống lại các chuẩn mực đã thành nếp.

Clive mang đến cho chúng tôi tin buồn liên quan đến hậu quả của cuộc nối loạn ấy. “Tháng trước hai trong những công ty ghi âm tốt nhất của chúng tôi ở London đã quyết định ngừng phát hành đĩa nhạc cổ điển. Không có thị trường. Thật đáng tiếc! Tôi hẳn đã chẳng biết gì về âm nhạc nếu không được cai sữa bằng các tác phẩm của Mozart. Các thế hệ sau này sẽ làm gì để có được hiểu biết nếu không còn Beethoven?”

Nhưng khi tôi hỏi chẳng phải chính thể loại âm nhạc mà anh viết đã dẫn đến sự thoái trào này sao, anh trả lời dứt khoát, “Mỗi thế hệ phải bảo vệ những giá trị của chính mình. Nếu lớp người của ông đòi hỏi phải có nhạc cổ điển, tinh thần ái quốc và gia đình thì hãy bảo vệ chúng. Tìm cách để những giá trị của thế hệ các ông tồn tại được là nhiệm vụ của các ông. Nhiệm vụ của chúng tôi là tìm cách để thể loại âm nhạc của mình tiến lên phía trước... cả lối sống của chúng tôi nữa.”

Khoảng nửa đêm, Joe và Gretchen bước vào, vậy là Clive lững thững đi ra chỗ cô như thể định nối lại quan hệ tình ái của hai người, nhưng với quyền năng thông tri huyền bí của lớp trẻ, Joe đã xen vào giữa họ theo một cách buộc Clive phải hiểu rằng đã có thay đổi. Để xác minh lại xem mình hiểu có đúng không, Clive tìm cách ngồi cùng Gretchen hai lần nữa, nhưng Joe vẫn nắm quyền chủ động, và thế là anh rút lui. Rồi, với thái độ vui vẻ vốn là đặc điểm tiêu biểu trong mọi hành động của anh, Clive đề xuất, “Tại sao chúng ta không nghe Gretchen hát vài bài nhỉ,” vậy là vài người trong nhóm đi lấy đàn guitar và chẳng mấy chốc chúng tôi có bốn ca sĩ có thể tham gia cùng Gretchen mỗi khi cô xướng tên các bài của Child, nhưng điều ngạc nhiên nhất đêm đó, với riêng tôi, lại là một ca khúc không phải của Child. Gretchen nhẹ nhàng giới thiệu bài đó giữa những đợt hút điếu thuốc lá chuyền tay: “Anh Moorman và tôi đang thử một bài cần hai giọng hát tốt. Chúng tôi chưa luyện tập nhiều nên mong các bạn miễn thứ.” Cô đánh một vài hợp âm, ngay sau đó anh sinh viên danh dự trường Michigan mà lần trước tôi nhìn thấy nằm bất tỉnh trên sàn nhà Casino Royale liền hắng giọng và bắt đầu bập bùng cây guitar của mình. “Bài này có tên là ‘Vùng đánh cá voi Greenland’,” Gretchen giới thiệu, và một lần nữa tôi lại lấy làm lạ không hiểu sao các ca khúc họ thích nhất mang những cái tên lạ lùng như vậy. Nhưng khi hai người bắt đầu bản song ca hòa quyện êm ái, cả tôi lẫn những người khác trong phòng đều bị cuốn vào vẻ đẹp của nó.

“Ôi Greenland, một chốn dễ sợ,

Mảnh đất hiếm khi tươi xanh,

Nơi chỉ có tuyết và băng,

Và tia nước cá voi phun giăng giăng,

Và ánh sáng ban ngày thật hiếm thấy,

Hỡi các chàng trai dũng cảm, thật hiếm thấy.”

Rồi đến một đoạn có lẽ được tạo ra từ bọt sóng do cá voi quẫy, hay từ bóng tối nhập nhoạng do vầng mặt trời đang chạy trốn nơi phương Bắc quăng ra, một tiếng khóc đích thực của đàn bà có chồng đi biển. Khi bài hát kết thúc, chúng tôi ngồi nín lặng một lúc lâu:

“Không còn nữa, không còn Greenland cho các anh về nữa, hỡi các chàng trai dũng cảm!

Không còn nữa, không còn Greenland cho các anh về nữa.”

Khi Gretchen nhắc lại những lời này, cô nhằm thẳng vào Clive, và anh mỉm cười. Rồi, như một cử chỉ tôn trọng cô, anh gợi ý, “Thế còn Child 173?”, mọi người khác vỗ tay tán thành, vì vậy sau vài tiếng guitar bập bùng mào đầu và gật đầu mời các bạn khác tham gia, nếu không đàn thì cùng hát, cô cất giọng trong trẻo mềm mại thể hiện khúc ballad về bốn nàng Mary, đến những đoạn thơ được mọi người say mê nhất, khi nàng thị tỳ bạc phận ôn lại quãng đời bi thảm của mình, hai cô gái khác liền hòa theo, và dường như họ đang khóc thương cho nhiều người cùng thế hệ họ, nhất là trong một đoạn thơ đặc biệt thích hợp với cử tọa tại thành phố này:

“Than ôi ngày nâng niu đón ta chào đời Mẹ ta đâu có ngờ,

Bao miền đất lạ ta lưu lạc,

Cái chết nào sẽ đến, ta, người mệnh bạc.”

Tiếng hát tiếp diễn một lúc, sau đó đám đông tha thiết đề nghị nghe lại đĩa mới của Clive, và lần này, khi anh bật bài “Koutoubia”, họ cùng hòa giọng hát điệp khúc, sẵn sàng ứng tác những từ họ chưa thuộc. Giữa chừng cuộc vui, Big Loomis hiện ra lù lù ở ngưỡng cửa, cái đầu bù xù lắc lư theo điệu nhạc, rồi sau đó chúng tôi nghe tiếng ông ta nện bước lên những nhịp cầu thang dài. Khoảng bốn giờ sáng tiếng hát mới tắt, Clive, ngủ nhờ trên sàn phòng Inger, ra cửa dõi mắt nhìn theo Joe dẫn Gretchen lên phòng và đóng cửa lại sau lưng. Sau đó anh nhún vai nhìn tôi, còn tôi nghĩ những thanh niên này xử lý quan hệ tình cảm của họ mới hời hợt ngẫu hứng làm sao. Những đêm tiếp theo, Clive vẫn bật nhạc cho chúng tôi nghe, lần nào cũng nài Gretchen hát, rồi một thời gian sau anh lặng lẽ đi tiếp lên phía Bắc, tới Tangier và rồi Torremolinos, nơi mọi người vẫn đang chờ anh ở quán Alamo.

—★—

Những buổi tối rảo bước về khách sạn, tôi thường ngẫm lại các cuộc bàn luận nghe được trong phòng Inger và tôi luôn lấy làm lạ không hiểu sao các bạn trẻ lại lớn tiếng phát biểu ý kiến của mình đến thế và sao họ lại ít đọc sách vở để củng cố những ý kiến đó đến thế. Đây là một thế hệ không cần sách vở. Tất nhiên, ai nấy đều có trong tay các tập sách của Herbert Marcuse và Frantz Fanon, nhưng tôi không thấy người nào thật sự đọc ngay cả những tác phẩm dễ hiểu nhất như Tiểu luận về Giải phóng hoặc Tiến tới cách mạng châu Phi hoặc Người cùng khổ trên trái đất. Và cũng đúng là phần lớn du khách đều đã đọc các bài báo về lý thuyết của Marshall McLuhand[131], và hầu như chẳng ngày nào lại không có người tuyên bố, “Suy cho cùng, phương tiện truyền thông chính là sự xoa bóp,” nhưng tôi chưa gặp ai từng đọc cuốn sách có cái tên mang tính đúc kết vấn đề ấy và cũng chẳng biết người nào hiểu được câu đó nghĩa gì.

Lúc nào cũng có một bản Kinh Dịch quăn mép nằm đâu đó trong khách sạn, và nhiều người đã xem lướt qua, nhưng chẳng có ai đọc, ngay cả cô Claire người Sacramento. Trong nhóm bạn trẻ này chưa mấy ai biết đến những cuốn sách có ảnh hưởng lớn của thời đại và tôi thường tự hỏi làm sao họ có thể học được đến cao đẳng. Trong khi đó, khả năng ăn nói của họ lại rất đáng kể và họ có thể bàn luận dông dài gần như về bất cứ đề tài nào. Sáu lời tuyên bố mà một tối tôi ghi nhớ được đều điển hình cho các kết luận mà họ rút ra được hàng đêm:

“Chúng ta đã bước vào thời đại được Walter Lippmann gọi là Thời đại Bóng tối Mới.”

“Trước năm 1976, các thành phố Mỹ sẽ không thể tránh khỏi cuộc thử thách vũ trang giữa các chủng tộc.”

“Một khối liên kết quân sự-công nghiệp đang thống trị đất nước chúng ta và ra lệnh kéo dài cuộc chiến tranh Việt Nam.”

“Dự tính số lượng người thất nghiệp thường xuyên sẽ lên đến bảy triệu.”

“Khoảng năm 2000 chúng ta sẽ có bảy tỷ người trên trái đất.”

“Các trường đại học là tù nhân của giới quyền uy.”

Nhưng bất chấp những tuyên bố này, tôi nhận thấy đa số công dân Mỹ ở nước ngoài đều là người bảo thủ cứng rắn; trong đông đảo người Mỹ ở Marrakech, phần lớn đã ủng hộ đảng Cộng hòa năm 1968 và rồi lại vẫn làm vậy năm 1972. Tôi không tiếc công sức tìm hiểu về sáu nam nữ thanh niên mà tôi đã thấy nằm mê man trên sàn phòng trọ Casino Royale; một buổi sáng Claire đã đưa tôi quay lại đó, và tôi được biết bốn người ủng hộ nhiệt thành đảng Cộng hòa, một người theo đảng Quốc xã mới, còn Moorman, anh sinh viên danh dự trường Michigan vẫn hát ballad cùng Gretchen, thì phát biểu, “Tôi cũng chẳng biết mình theo phe nào nữa.” Tôi phát hiện được không ít người ủng hộ George Wallace[132], vài người theo Chủ nghĩa hiến pháp, vài phần phát xít mật, vài nhà tài trợ cho các phong trào mập mờ khác. Người ta thường nhắc đến những quan niệm cơ bản của Hội John Birch[133], nhưng tôi không gặp ai nhận mình là thành viên cả.

Khi đến thăm Marrakech, phần lớn du khách lớn tuổi đều lấy làm lạ khi thấy hầu như chẳng có người nào theo tư tưởng tự do kiểu cũ của Mỹ. Sự thật đúng là như vậy vì những lý do rõ như ban ngày. Muốn đi đến tận Marrakech thì phải có nhiều tiền, vì vậy người nào làm được việc đó sẽ phải xuất thân từ các gia đình giàu có theo khuynh hướng bảo thủ, và trên khắp thế giới này con cái thường noi theo quan điểm chính trị của cha họ. Một thanh niên mười chín tuổi có thể nổi loạn chống lại trường Harvard, phản đối kỳ nghỉ cuối tuần tại câu lạc bộ thể thao ngoài trời và quần áo cha anh ta mặc, thậm chí bỏ nhà đến Marrakech để biểu thị thái độ của mình, nhưng mọi quan điểm chính trị xã hội cơ bản của anh ta sẽ vẫn tuân theo những gì người cha dạy bảo từ lúc anh ta mới mười một tuổi. Trong quá trình công tác, tôi thường xuyên gặp những người Mỹ trưởng thành có tư tưởng bảo thủ, cứ thấy thanh niên nuôi tóc để râu lại nghĩ ngay đó là những nhà cách mạng; họ hài lòng một cách thích thú khi phát hiện ra đám thanh niên cũng chỉ phản động đến như họ.

Harvey Holt là một ví dụ điển hình cho phản ứng này. Lần đầu gặp các bạn trẻ ở Pamplona, anh đã khẳng định họ hẳn phải là những nhà cách mạng, nhưng sau nhiều cuộc tranh luận kéo dài liên quan đến chính trị, anh nói với tôi, “Ông biết không, ngoài vấn đề Việt Nam và những quan điểm vớ vẩn về tình thân ái giữa các chủng tộc, các bạn trẻ này cũng khá vững vàng đấy.” về sau anh lại bảo tôi, “Ông có thể nhầm lẫn nếu nghe các bài hát của họ. Ông sẽ tưởng họ sắp đốt trụi New York đến nơi rồi. Nhưng khi nói chuyện với họ về kinh tế hay bầu cử, ông sẽ thấy họ cũng bảo thủ không kém gì ông và tôi... chỉ là họ hành động theo cách của mình.” Tôi hỏi anh nghĩ tôi bỏ phiếu cho ai, thì anh đáp, “Ô, ông rất có thiện cảm với lớp trẻ, nhưng tôi tin chắc khi cần thiết người ta có thể tin cậy ông được.”

“Để bầu cho người Đảng Cộng hòa ư?”

“Một người hiểu biết còn có thể bầu cho ai khác nữa?” anh hỏi lại.

Tôi luôn luôn phát hoảng bởi ngôn ngữ nghèo nàn của nhiều bạn trẻ, ấy thế mà họ đều học ở các trường đại học danh tiếng của chúng ta. Như tôi từng kể, đôi lúc Claire thao thao liên tục cả một tiếng đồng hồ mà chẳng nói được mấy chuyện, chủ yếu là “bạn biết đấy” và “ôi chà”, nhưng dù sao thì đây cũng còn là một kiểu thất học dễ thương. Tệ hơn nữa là một cô gái người Ohio, cứ mỗi đoạn lại thêm ít nhất là một lần “bạn cứ nên tin đi.” Bất cứ khi nào tán thành ý kiến của tôi, một thanh niên miền Nam đều nói, “Ông không chỉ huýt sáo có mỗi bài ‘Dixie’, ông bạn ạ.” Một cô sinh viên cao đẳng Missouri luôn mào đầu ý kiến của mình bằng: “Tôi chỉ muốn ông biết”, trong khi một cậu thanh niên Brooklyn thì bất cứ việc gì cũng liên hệ tới nhà văn Pháp André Gide - dường như anh ta không tìm nổi sự so sánh nào khác.

Trong cuộc sống tinh thần của những thanh niên Mỹ đó có hai khía cạnh khiến tôi ngạc nhiên. Thứ nhất là chính trị. Không người nào tôi quen từng nhắc đến tên Richard Nixon; họ loại bỏ Lyndon Johnson và nhạo báng Hubert Humphrey, cáo buộc hai ông này tội phản bội giới trẻ, nhưng Nixon thì họ gạt bỏ thẳng thừng. Nếu chịu khó đi bỏ phiếu, họ sẽ ủng hộ ông ta, và nếu ngẫu nhiên có tên trong danh sách cử tri năm 1972, họ sẽ bỏ phiếu cho ông ta, nhưng ông ta không đóng vai trò nào trong cuộc sống của họ. Nguyên một giai đoạn lịch sử nước Mỹ đã bị những người này xóa bỏ hoàn toàn; họ đã chọn lựa một cách kiên quyết.

Tôi đã nói là nếu đi bỏ phiếu năm 1972, họ sẽ bầu cho phe Cộng hòa, và qua đó tôi muốn nói là trong tất cả thanh niên Mỹ trên hai mươi mốt tuổi mà tôi gặp, không người nào từng bận tâm đến chuyện bầu cử, và theo tôi thấy, không có nhiều khả năng một ai đó sẽ bận tâm trước tuổi ba mươi hai hay ba mươi ba. Nghe họ nói, người ta sẽ nghĩ họ đang đập tan thành lũy của giới quyền uy, và tôi cho rằng một vài người sẽ sẵn lòng làm thế thật, nhưng họ không sẵn lòng đi bỏ phiếu; thực tình, tôi thậm chí còn chưa gặp ai đăng ký bầu cử.

Mặc dù lớp trẻ làm ra vẻ thờ ơ như vậy nhưng buổi sáng đó, khi tôi đứng trong Casino Royale giữa mùi hôi thối và những thân hình nằm la liệt, vẫn có một vài người khiến tôi phải suy nghĩ, một vài người đang khổ sở xây dựng sự hiểu biết về thế giới của họ và chỗ đứng của họ trong thế giới đó. Do xuất thân từ các gia đình có thu nhập và hoàn cảnh thuận lợi, họ thường trở thành đảng viên đảng Cộng hòa, và khi đã ổn định cuộc sống, họ sẽ là đảng viên ưu tú của đảng Cộng hòa. Một số người, như Gretchen chẳng hạn, đã làm việc cho Thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, nhưng không phải vì ông là thành viên đảng Dân chủ; họ sẽ nhanh chóng quay lại chủ nghĩa cộng hòa sáng tạo và đất nước sẽ được lợi nhờ quá trình rèn giũa mà họ đã kinh qua.

Nhưng khi nói như thế này về quan điểm chính trị, tôi vẫn chưa đề cập đến cái hố sâu thăm thẳm ngăn cách họ với tôi: họ thành thật tin rằng thế hệ mình đang sống trong mối đe dọa của bom khinh khí và bởi vậy, cuộc sống của họ sẽ khác cuộc sống của tôi. Họ tin chắc rằng không người nào ở tuổi tôi hiểu được bom có ý nghĩa như thế nào đối với họ, và ngay cả khi tôi chỉ ra rằng một người sáu mươi mốt tuổi như tôi cũng bắt buộc phải trải qua gần nửa quãng đời trưởng thành dưới bóng đen của bom nguyên tử và đã thích nghi được với việc đó, họ kêu lên, “A, chính thế đấy! Ông đã được tận hưởng một nửa cuộc đời trước khi bom rơi. Chúng tôi thì không.” Dường như về điểm này không thể có cầu nối cho sự thông cảm, và sau nhiều cố gắng vô ích để xây dựng cầu nối, tôi đành rút ra kết luận rằng chúng tôi không thể nói chuyện một cách có ý nghĩa về chủ đề này được.

Khía cạnh thứ hai làm người ta ngạc nhiên là tôn giáo. Chủ đề ít khi được nhắc tới. Thỉnh thoảng Cato cũng bóng gió nhắc lòng căm thù những gì đạo Cơ Đốc đã làm với người da đen, nhưng anh chỉ nói về mặt xã hội học; Yigal đôi lúc nói về những vấn đề mà người Do Thái ở Israel phải đối mặt, nhưng cũng chỉ là vấn đề chính trị, không bao giờ là vấn đề thần học. Sẽ liền một tháng trời tôi không nghe nhắc đến Chúa, ngay cả như một từ rửa ráy cũng không. Với thế hệ này Người đã biến thành một từ đệm, chủ yếu được con gái dùng, chẳng hạn như lúc Monica hay Britta kêu, “Lạy Chúa tôi, nhìn kìa!” Người được dùng để thu hút sự chú ý vào lũ lạc đà hay đặc biệt là những đền thờ Hồi giáo rất đẹp, nhưng mối liên hệ cổ xưa của Người với thuyết mạt thế hay giá trị đạo đức thì lại không được đề cập tới. Tôi nghĩ nếu một cô sinh viên miền Trung Tây nào đó của chúng ta ngồi trên giường Inger mà hỏi, “Các bạn có tin vào Chúa không?” thì hẳn cả đám sẽ hóa đá luôn, như thể bị quật ngã bởi một chiếc bánh quá liều. Khoảng một nửa số thanh niên, đặc biệt là đám người Úc và Canada, là tín đồ Thiên Chúa giáo, nhưng họ cũng thờ ơ như bao nhiêu người khác.

Cũng có bàn luận về luân lý, nhưng chỉ là dưới hình thức tư cách đạo đức: những vấn đề cũ rích về đạo đức trong tình dục từng làm chúng tôi khổ sở hồi còn trẻ giờ không tồn tại nữa. Nếu trong các cuộc gặp mặt buổi tối có ai đó vô tình nói với một người bạn rằng, “Margot sang sống chung với cậu Jack từ Glasgow đến rồi đấy,” thì đó cũng chỉ là kể chuyện chứ không hàm ý chê trách. Thực ra, việc lan truyền tin tức chủ yếu có tác dụng giúp người khác biết cách tìm Margot mà không phải tốn công lên tầng ba.

Tôi thấy mình càng ngày càng khó chịu với cái lối nhận thức tùy tiện của cánh thanh niên về việc kết đôi và bỏ đôi dễ dàng của họ. Margot sẽ chuyển đồ xuống phòng Jack, và Jack sẽ đón nhận cả đồ lẫn người như thể việc đó chẳng đòi hỏi chút trách nhiệm nào; Margot không cần được mẹ Jack chấp nhận và Jack cũng không phải chu cấp cho Margot. Họ dường như không ý thức được rằng suốt mười nghìn năm qua, loài người đã phát triển nhiều hình thức cặp đôi khác ít nhiều hiệu quả trong mọi xã hội và mọi hoàn cảnh. Tôi thì thấy họ quá tự tin khi cho rằng đã tìm được cách thoát khỏi những ràng buộc gắn chặt với loài người theo truyền thống, song hiển nhiên họ đã tìm ra được thật, vì chuyện cặp đôi như thủy triều lên xuống trong các phòng của khách sạn Bordeaux cũng khó theo dõi như hồi ở Pamplona vậy.

Tôi lấy làm buồn cười về quan điểm bảo thủ của bản thân trong vấn đề này và một đôi lần đã thử phân tích phản ứng của mình. Tôi cho rằng mình rất giống một người Texas theo trào lưu chính thống từng có lần rêu rao, “Tôi phản đối các giá trị đạo đức mới vì ba lý do. Nó trái với quy luật tự nhiên. Nó phá hoại gia đình. Và tôi chẳng được gì từ nó cả.” Cái phức tạp hóa lập luận của tôi là ở chỗ tôi hoàn toàn không thấy bực bội với những cuộc tình liên tiếp của Gretchen với Clive và Joe, hay của Britta với Joe và Holt, nhưng tôi lại phản đối mối quan hệ của Monica với Cato, khi cô chỉ mới mười bảy tuổi. Thoạt tiên, tôi dễ dàng lý giải điều này như kết quả của một thành kiến mang tính bản năng đối với người da đen, vì vậy tôi gạt bỏ nó ra khỏi đầu; nhưng bắt đầu ở Moçambique và bây giờ là Marrakech, tôi đã dần thấy rõ mình quan tâm đặc biệt đến cô gái yếu đuối này. Cảm giác của tôi phần nào bắt nguồn một cách tự nhiên từ mối giao tình lâu năm với gia đình cô; tôi luôn nhắc đến cô như con gái mình và theo cách hiểu nào đó thì đúng là thế thật. Nhưng ngoài ra từ cô còn toát lên một sức hấp dẫn không thể tránh được. Theo như tôi tự đánh giá, tôi chưa bao giờ yêu quý cô theo cách truyền thống; tôi sẽ rất ngượng ngùng nếu giữa chúng tôi có bất kỳ mối quan hệ thể xác nào, nhưng đúng là tôi yêu quý cô thật. Cô đã trở thành biểu tượng cho sự cởi mở của tuổi trẻ, ý chí sắt đá, cũng như sự chênh vênh thường trực trên bờ suy sụp của họ. Ngay cả tệ nghiện heroin cũng là một phần sức hấp dẫn của cô vì qua nó, cô đã đại diện cho sức cám dỗ của thời đại mình và thể hiện nó thật nổi bật. Monica là một cô gái đặc biệt, không được giáo dục về nghi thức, hiểu biết sâu sắc về những vấn đề cơ bản. Nếu tôi có thể tóm lược cảm xúc của mình dành cho cô ở Marrakech thì đó sẽ là: “Tôi chúc cô may mắn.”

Tôi đã chúc cô may mắn, và khi nhìn thấy cô nằm bất động vì bánh xanh hay cao hứng giả tạo vì heroin, tôi cảm thấy như thể chính con gái tôi đang nằm ở đó, hoặc một cô gái nào đó mà tôi đã yêu bốn mươi năm trước.

—★—

Ba kỹ sư nhà nước từ Casablanca, những con người tài năng hiểu rõ nhu cầu kinh tế của Marốc, đã chiếm trọn thời gian làm việc của tôi. Họ không đưa ra phản đối nào trước những ý tưởng của tôi về một khách sạn mới rộng lớn ở Marrakech, được đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm liên tục từ chuỗi nông trại trên khắp các sườn núi thấp của dãy Atlas, nhưng họ cũng có một kế hoạch riêng muốn được World Mutual tài trợ, và ngay khi họ đề xuất tôi đã rất phấn khích vì những vận hội của nó.

Ở phía Bắc Marrakech, nhưng gần với tường thành đến mức người ta có thể lái xe đến trong vài phút, có một trong những báu vật của châu Phi, một đồn điền cọ rộng bát ngát che phủ hàng nghìn mẫu đất. Chính nó đã cung cấp kinh phí xây dựng tường thành Marrakech.

Vài năm trước một quan chức chính phủ nào đó đã nảy ra một ý tưởng thông minh, và tôi vẫn thường băn khoăn không biết làm sao ông ta có thể thuyết phục được cấp trên của mình ủng hộ, bởi vì về cơ bản thì ý tưởng đó thật lố bịch. Một con đường một làn đắp bằng đá dăm nện đã được xây dựng, uốn lượn quanh co xuyên suốt rừng cây, không dẫn đến đâu và chẳng đáp ứng mục đích rõ rệt nào ngoài đưa khách tham quan đi khắp đồn điền cọ. Bị thu hút bởi quảng trường Djemaá và núi non kỳ vĩ, hàng ngàn du khách đến Marrakech sẽ nhận ra kỷ niệm sống động nhất của họ là về bức tường đỏ cùng rừng cọ, và bất cứ ai biết thưởng thức chất thơ của thiên nhiên cũng sẽ kinh ngạc phát hiện ra chính rừng cọ mới là thứ chiếm ưu thế.

Khi biết nhóm Gretchen chưa đi tham quan rừng cây, tôi bèn đề xuất cách kết hợp hai nhiệm vụ lại làm một, vậy là tôi mời nhóm bạn đến khách sạn của tôi dùng bữa sáng và hẹn cả ba kỹ sư tham gia cùng. Ba kỹ sư rất thích thú vì họ muốn nói chuyện với một người Mỹ da đen và xem đám hippy nổi tiếng của chúng tôi nhìn gần thì như thế nào. Tôi đặt bàn ở góc phòng ăn; và khi ba người Marốc tới, tôi đưa cho họ mấy mẫu giấy đã chuẩn bị sẵn nói rõ các bạn Mỹ là ai. Tôi cho họ biết Britta là người Na Uy còn Monica là người Anh, nhưng lại giới thiệu Bruce là người Mỹ, vì nếu mọi người biết rằng một công dân Israel - lại còn là lính nữa - đã đến Marốc, thì anh có thể gặp rắc rối.

Holt và Britta đến với chúng tôi sớm nhất, trông cô xinh đẹp rạng ngời trong chiếc váy ngắn màu xanh da trời và dải băng vàng trên tóc. Ba kỹ sư đều rất thích cô, và cô nói chuyện thẳng thắn bằng chất giọng lôi cuốn đến mức họ hỏi hết câu này đến câu khác về quê hương cô, nhưng tôi nhận thấy mặc dù rất ấn tượng vì cô là một cô gái đẹp, họ vẫn không tránh khỏi những câu hỏi thực tế như: “Cô nghĩ liệu có nhiều người Na Uy bay đến các thành phố Marốc... dọc Địa Trung Hải hay Đại Tây Dương... trong các kỳ nghỉ không?”

Sau bữa sáng, một nửa đoàn chồng chất trên chiếc pop-top vàng, nửa kia lên chiếc limousine đen dài của các kỹ sư, và chúng tôi bắt đầu chuyến tham quan đồn điền cọ. Monica, Cato và tôi ngồi trên chiếc xe đen với các kỹ sư, vậy là họ hỏi dồn Cato hết câu này đến câu khác: Người Mỹ da đen có nghiêm túc về vấn đề Hồi giáo không? Họ có tham gia cuộc thánh chiến chống người Do Thái không? Họ có đủ thế lực chính trị để buộc chính quyền Mỹ từ bỏ quan điểm ủng hộ Israel không? Nếu người Do Thái bị đuổi ra khỏi đời sống Mỹ, người da đen có chiếm lấy vị trí đứng đầu về tài chính không? Liệu một ngày nào đó, người da đen có làm chủ tờ New York Times không và họ sẽ có những thay đổi gì trong đường lối hoạt động của tòa báo?

Chúng tôi còn chưa nghe hết những câu trả lời ngập ngừng đầu tiên của Cato thì đã đến lối rẽ vào con đường dành cho ô tô trong rừng cọ, chiếc xe dẫn đầu bèn dừng lại để một kỹ sư chuyển sang xe kia làm hướng dẫn viên. Cuộc phỏng vấn Cato thế là kết thúc, nhưng lại bắt đầu một cuộc trao đổi còn hấp dẫn hơn. Viên kỹ sư tốt nghiệp trường Yale, lớn tuổi nhất và thông minh nhất trong số ba người, hào hứng nói, “Một khi chúng tôi giải quyết xong vấn đề Israel, các quốc gia Ả rập sẽ bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ. Đối với chúng tôi mọi điều đều có thể. Chúng tôi sẽ làm sa mạc nở hoa như một khu vườn, tàu thuyền của chúng tôi sẽ đến mọi biển cả. Chúng tôi sẽ mang đạo Hồi đến tất cả các châu lục. Các nhà thơ sẽ lại nở rộ như xưa, và tại mỗi quốc gia sẽ có một thành phố Damascus mới, một trung tâm đứng đầu thế giới về khoa học và nghệ thuật. ở Marốc thì có thể sẽ là thành phố Fez. Các học giả trên khắp thế giới sẽ phải tới Fez để tìm kiếm những tri thức cần thiết cho cuộc sống hiện đại. Một lần nữa các triết gia của chúng tôi sẽ dẫn dắt toàn vũ trụ. Tất cả sẽ được phơi bày trước họ.”

Anh ta tiếp tục trình bày chi tiết ảo tưởng của mình về tương lai, gồm cả quyền bá chủ mang tính ôn hòa của đạo Hồi ở châu Phi, sự bành trướng của đạo Hồi ở phần châu Á thuộc Nga, và sự thống nhất nhanh chóng của tất cả các quốc gia Ả rập giáp Địa Trung Hải. “Ngay khi vấn đề Israel được giải quyết, chung tôi sẽ có nền hòa bình lâu bền và sự hòa hợp giữa các quốc gia nội khối,” anh ta cả quyết với Cato, người được anh ta quan tâm nhất. “Và khi đã là một dân tộc hòa hợp và hùng mạnh rồi, chúng tôi sẽ có đủ khả năng giúp đỡ các bạn trong cuộc đấu tranh của các bạn ở Mỹ.” Anh ta nói suốt cả tiếng đồng hồ chúng tôi đi giữa rừng cọ, và anh nhắc đi nhắc lại thơ ca sẽ nở rộ trong những ngày tháng tươi đẹp đó như thế nào, triết học sẽ chói sáng ra sao, song không lần nào anh ta đả động đến công bằng xã hội, hay sự phân bố thu nhập từ dầu lửa, hay việc thành lập một ngành dân chính đáng tin cậy. Qua các câu hỏi của Cato, tôi có thể rút ra kết luận là anh không nhận thấy những điều bị bỏ sót này.

Vào sâu trong rừng cọ, đoàn lữ hành ít ỏi của chúng tôi dừng lại nghỉ, và trong lúc chúng tôi đứng giữa đám cây đang uốn mình, nhóm kỹ sư bèn tổ chức một cuộc hội thảo ngẫu hứng nhằm giải thích kế hoạch xây dựng giữa rừng cây hùng vĩ này một khu liên hợp khách sạn, bể bơi, vọng lâu và sân gôn: “Nó sẽ là một ốc đảo tâm hồn, bốn phía được bao bọc bởi rừng cọ dày đặc không thể lọt qua. Từ một hướng, các bạn sẽ nhìn thấy dãy High Atlas... đấy, các bạn cứ thử tưởng tượng xem. Ngay sau khi giải quyết xong vấn đề Israel chúng tôi sẽ bắt đầu xây dựng.”

“Các anh thấy Israel là vấn đề sao?” Yigal hỏi nhỏ.

“Ô, đúng vậy! Cái dằm khó chịu đó ở xa thật đấy... nhưng nó vẫn nằm bên trong khiến da thịt chúng tôi mưng mủ.”

“Tôi không hiểu sao Marốc lại phải sợ Israel.”

“Sợ ư? Chúng tôi không sợ. Trong cuộc chiến tiếp theo, chúng tôi sẽ đưa một trăm nghìn lính có vũ trang hỗ trợ đội quân đang tập hợp để tiêu diệt Israel. Rồi chúng tôi có thể tiếp tục các kế hoạch của mình.”

“Lần vừa rồi các anh có đưa quân đến không?”

“Ô, có chứ! Chúng tôi đã tập hợp được tám mươi nghìn quân... có lẽ hơn.”

“Họ có đến được Israel không?”

“Không. Gamal Nasser và Quốc vương Hussein đã chấp nhận cho người Do Thái ngừng chiến trước khi đội quân của chúng tôi có thể tham chiến. Nhưng lần sau thì...”

“Tôi vẫn không hiểu Marốc thì liên quan gì,” Yigal khăng khăng, vậy là một viên kỹ sư gay gắt nói, “Nghe như anh ủng hộ Israel thì phải,” và Yigal nhỏ nhẹ đáp, “Lúc này thì tôi chưa biết,” Britta bèn nói một chuyện chẳng liên quan gì khiến mọi người cười ồ.

Viên kỹ sư lớn tuổi nhất quay sang hỏi Holt, “Thế nào, chỗ này sẽ thành một điểm nghỉ ngơi tuyệt vời chứ?” Harvey đáp, “Thế giới càng ồn ào, chúng ta sẽ càng đánh giá cao những lối thoát như thế này,” thì viên kỹ sư liền nói, “Chúng tôi cũng nhìn nhận đúng như thế đấy. Bây giờ nếu được ông Fairbanks cấp tiền và có thể buộc Israel để chúng tôi yên, chúng tôi sẽ xúc tiến một dự án vô cùng phi thường. Tôi có thể nhìn thấy những bể bơi đẹp tuyệt... không phải loại bình thường đâu... với bóng cọ phản chiếu... tiếng nhạc đắm say... Beethoven, Wagner...” Mộng tưởng mơ màng của anh ta mê hoặc cả nhóm, và Monica đã biểu lộ sự đồng thuận của chúng tôi khi thốt lên, “Ôi chà!”

Trên đường về thành phố, anh cử nhân trường Yale nói, “Chiều nay ở bãi đất rộng phía Tây khách sạn các bạn có một sự kiện mọi người nhất định phải xem mới được,” và vì đã ăn sáng khá no, chúng tôi bỏ luôn bữa trưa mà đi thẳng đến một bãi tập mênh mông ở trung tâm thành phố, nơi các thành viên bộ lạc Berber cưỡi những con ngựa Ả rập đẹp đẽ và vũ trang súng trường miền núi từ thế kỷ trước đang tham gia một môn thể thao từng khiến cư dân Marrakech khiếp sợ không biết bao nhiêu năm.

Tập hợp thành hàng bốn năm mươi người, bầy tuấn mã nôn nóng như đang phải đứng làm mẫu cho họa sĩ Eugène Delacroix, áo choàng sặc sỡ sáng lóa lên trong gió nhẹ, đám người Berber bật hét một tiếng hoang dại, thúc ngựa, rạp người phi dọc bãi đất xấp xỉ ba trăm thước. Rồi, theo hiệu lệnh nào đó tôi không tài nào phát hiện ra, họ ném người về phía trước, gần như văng khỏi yên, quay ngược trở lại, và bằng cánh tay phải, điều khiển súng trường bắn hàng loạt đạn lên trời. Rồi, ổn định tư thế cũ, họ tiếp tục lao thẳng về phía chúng tôi, nổ súng lần nữa, và ghì cương dừng lũ ngựa sùi bọt mép ngay cách mặt chúng tôi chỉ vài phân.

Họ đáng sợ, nguyên sơ, không hề bị cả thế kỷ Pháp chiếm đóng thuần hóa, vẫn là mối tai họa cho rặng High Atlas, sự tàn phá chốn đồng bằng. Dù can đảm đến đâu chăng nữa, đứng trước các kỵ sĩ reo hò rầm trời đang lao thẳng tới trên mấy thước cuối cùng của đường đua, súng trường lách cách dưới ánh mặt trời, bất kỳ kẻ nào cũng phải lùi bước.

Anh kỹ sư trường Yale, run lên trước cảnh tượng từng được thấy lần đầu hồi còn nhỏ, nắm lấy vai Cato kêu lên, “Tôi chắc chuyện này sẽ dạy cho bọn Do Thái một bài học chứ hả?” Nói rồi mũi anh ta nở ra vì phấn khích.

—★—

Khi cố gắng hình dung chuyện đã xảy ra, chúng tôi đều đồng ý chính Yigal đã khơi mào cuộc nói chuyện. Chúng tôi đang nghe nhạc trong phòng Inger thì anh bảo, “Tôi vẫn lấy làm lạ về khả năng đánh lừa bản thân của người Ả rập. Mấy tay kỹ sư ấy có thực sự tin là nếu đánh bại được Israel, đất nước họ sẽ đạt được một kiểu hòa bình thiện chí nào đó không?”

Không những phản đối câu hỏi đó, Cato còn đáp lại bằng thái độ hằn học: “Này, ông Goldberg, khi nào người Ả rập bọn họ và người da đen chúng tôi đồng tâm hợp lực với nhau chống lại các người, các người sẽ bị trư-huyền-trừ khư-hỏi-khử đấy.”

“Cậu làm sao thế, Cato?”

“Tôi đã nhìn ra ánh sáng chân lý, ông Goldberg. Tôi đã thấy dần các ông làm gì với dân chúng tôi.”

“Tất cả những gì chúng tớ làm là lãnh đạo các cậu chiến đấu vì chính các cậu... trong mọi lĩnh vực.”

“Đừng có kẻ cả với tôi, nhóc da trắng. Dần các người xâm nhập vào mọi khu da đen chết tiệt mà tôi biết và hút sạch máu của chúng tôi.” Anh cười vẻ kích động trước lối ẩn dụ vô lý của mình, rồi nói thêm, “Nhưng sẽ chấm dứt, ông Goldberg, tôi nói cho ông biết, việc ấy sẽ chấm dứt.”

“Tớ không thích bị gọi là ông Goldberg,” Yigal nói.

“Thì đó là tên ông còn gì, và ông sẽ phải cố mà thích nó khi thời điểm quyết định đến.”

“Cậu nói khi thời điểm quyết định đến, nghĩa là sao?”

“Hỏi bọn họ. Bọn họ biết đấy.”

Yigal rõ ràng là đau khổ trước lối lập luận của Cato và suốt một hồi chúng tôi có thể thấy anh đang cố gắng lựa cách tốt nhất để phản công. Rồi anh nói, “Cato, người da đen các cậu đã ở thế thua thiệt cả đời. Bây giờ, trong thời điểm tự do đầu tiên, các cậu lại chọn một tôn giáo nhất định sẽ thua thiệt. Đạo Hồi sẽ không cứu được người da đen. Cậu có biết tôi nghĩ gì không? Khi Cassius Clayd[134] và những người kia rầm rộ kéo đến thánh địa Mecca, các cậu đã cảm thấy hy vọng trào dâng. Tôn giáo mới. Thời đại mới. Và chuyện gì đã xảy ra? Ngay sau đó những chiến sĩ mới của các cậu thách thức người Do Thái và bị nện cho tơi tả. Các cậu đang bị sốc dư chấn. Và chừng nào còn chưa tự tỉnh ra, các cậu sẽ vẫn tiếp tục sốc như vậy.”

“Nghe đây, nhóc Do Thái,” Cato rít lên, “đừng có thử cái trò tâm lý ấy với tôi.”

Yigal nhìn đối thủ vẻ thương hại rồi nói, “Sáng nay, khi anh kỹ sư huyên thuyên những ảo mộng nên thơ, cậu thích thú lắm, phải không? Những lời hùng biện bay bổng ngông cuồng của anh ta quá chuẩn khẩu vị của cậu, phải không? Đó cũng chính là cách nói chuyện ngông cuồng của cậu với cánh bạn bè đường phố khi các cậu gặp nhau, phải không? Toàn những từ đao to búa lớn?”

Ý thức được rằng Yigal đã chạm đến mối ràng buộc cơ bản lôi cuốn người Ả rập và người da đen - tình yêu chung dành cho lối hùng biện hoa mỹ - Cato đùng đùng nổi giận và suýt nữa đã đánh Yigal nếu đúng lúc ấy Monica không đi vào phòng, trông hết sức xanh xao nhưng vẫn cực kỳ xinh đẹp. Cô chiếm một chỗ giữa Cato và Yigal rồi vỗ vỗ vào đầu gối họ, “Thật vui lại được thấy hai anh tranh luận,” cô nói, không nhận ra cuộc tranh luận đó đã trở nên căng thẳng thế nào. “Anh Cato nói với em là anh đã quyết định chọn nước Mỹ,” cô nói với Yigal. “Em nghĩ ý đó hay đấy.”

“Quyết định cuối cùng rồi chứ?” Holt hỏi.

“Tôi nghĩ vậy. Mỹ là một quốc gia đáng tự hào,” Yigal đáp. “Nó có một trăm sai lầm, nhưng nó luôn cố gắng. Và, Cato ạ, sự cố gắng ấy đáng lắm.”

“Khốn kiếp, nhóc Do Thái, đừng có lên mặt với tôi!”

“Tớ rất tiếc,” Yigal xin lỗi.

“Tiếc là phải,” Cato lầm bầm, có vẻ không sẵn lòng chấp nhận lời xin lỗi.

“Không ai hút thuốc à?” Monica hỏi, và trong khi chúng tôi chuyền tay điếu thuốc trộn hashish to đùng, không khí căng thẳng dịu xuống, câu chuyện chuyển sang đề tài rừng cọ cùng cuộc biểu diễn của người Berber.

“Họ là người thế kỷ khác,” Britta nói. “Ông làm ăn ở đây, ông Fairbanks. Ông không thấy như vậy cổ xưa lắm sao?”

“Tôi thấy dân tộc nào cũng đặc biệt theo cách riêng... do đó hấp dẫn theo cách riêng.”

“Nhưng ông có thích vài dân tộc nào đó hơn các dân tộc khác chứ?”

“Nếu cô muốn tôi so sánh Marốc với Na Uy thì tôi thấy đất nước cô không có gì hấp dẫn như quảng trường Djemaá.”

“Tức là ông thích quảng trường Djemaá?” cô hỏi.

“Một trong những địa điểm ưa thích nhất của tôi trên khắp thế giới,” tôi thừa nhận. “Bởi vì khi ở đây, tôi không bao giờ lầm tưởng minh đang ở Anh hay Na Uy. Nơi này là độc nhất vô nhị. Tôi hiểu lý do tại sao Inger và Rolf năm nào cũng trở lại đây.”

Đôi bạn người Thụy Điển cúi người đáp lại, rồi Rolf nói, “Khi ta đã hoàn thành công việc ở Stockholm và sương mù đang từ biển Baltic tràn về, sẽ thật vô cùng an lòng được biết rằng ở Marrakech chương trình tạp kỹ vẫn cứ diễn ra trên quảng trường Djemaá.”

“Anh vừa sáng tác một ca khúc đấy,” Britta nói.

“Đúng là một ca khúc mà,” Rolf đáp. “Một ca khúc giúp tôi chịu đựng được những ngày giá rét.”

“Và đấy chẳng phải đóng góp tầm thường đâu,” Yigal hăng hái phát biểu. “Tôi thích Marrakech. Giá mà người Ả rập học được cách kiềm chế... để sống với các dân tộc khác.”

“Họ sẽ không bao giờ sống với người Do Thái,” Cato ngắt ngang.

“Họ phải học cách thôi,” Yigal bướng bỉnh nói.

“Họ sẽ dồn các người xuống biển,” Cato nói. “Cũng như ở Mỹ chúng tôi sẽ dồn các người xuống biển.”

“Cậu có mất trí không đấy?” Yigal hỏi.

“Tôi có thể nhìn được tương lai,” Cato nói, “và dòng giống các người sắp đến ngày tận số rồi.”

“Cậu đang hút hashish,” Yigal khinh thường nói, quay lưng định đứng lên khỏi giường.

Thái độ không thèm chấp này làm Cato tức điên lên, vậy là anh với tay qua mặt Monica tóm lấy cổ Yigal quật xuống. Nhanh đến không ngờ, Cato nhảy khỏi giường và bắt đầu đấm Yigal túi bụi, khiến anh quằn quại trên sàn nhà. Bằng những cú đánh chớp nhoáng, Cato ép anh thanh niên Do Thái dán chặt lưng xuống sàn, dùng nắm tay nện thật lực vào đầu anh. Yigal vùng vẫy tìm cách đứng dậy, nhưng cứ khi nào tưởng như anh thành công đến nơi rồi thì Cato lại vung chân khiến Yigal ngã sõng soài xuống sàn, tiếp tục bị Cato đấm đá. Khi chúng tôi còn chưa ai kịp ngăn cản trận đòn thù ấy, Cato giáng cú chốt hạ vào cái cằm chẳng có gì bảo vệ của Yigal và hạ anh gục hẳn.

Đột nhiên, giữa lúc Holt và Joe đang cố gắng chăm sóc anh thanh niên bất tỉnh, Monica vùng khỏi giường, lảo đảo đứng thẳng dậy hét vào mặt Cato, “Đừng có mà đánh người da trắng, thằng mọi đen bẩn thỉu. Tao đã thấy vô cùng nhục nhã từ khi mày đặt tay lên người tao rồi, đồ khỉ. Tránh xa tao ra, đồ mọi đen, đồ mọi đen!”

Cato tiến lại gần, cô vừa đánh anh vừa gào thét, “Bỏ bàn tay đen thui bẩn thỉu của mày ra khỏi người tao ngay. Cút đi, đồ mọi chết tiệt. Mày đã hủy diệt châu Phi. Mày đã hủy diệt cha tao. Vì vậy hãy xéo đi, đồ thú vật man rợ!”

Cô lui về góc phòng và đứng đó, tự trách mình vì đã chung sống với Cato. Khi Gretchen và Britta tìm cách xoa dịu cô, cô xô họ ra rồi la lên, “Hắn là bạn các cô, không phải bạn tôi. Đi mà hôn hít làm tình với thằng mọi đen ấy. Hắn hợp với các cô, không phải với tôi.”

Cato đứng chết trân ở đó. Dưới chân mình, anh thấy Yigal, vẫn bất tỉnh nhân sự, bên cạnh là Holt và Joe đang tìm cách lay tỉnh Yigal, vừa nhìn anh với vẻ kết tội. Trong góc phòng, anh thấy Monica, trông như thể sẵn sàng giết anh nếu anh tiến lại gần hơn.

“Inger,” Rolf chỉ đạo, nhớ lại kinh nghiệm của mình hồi còn làm trong bệnh viện tâm thần, “em đưa Monica về phòng. Ông Fairbanks, ông cho Yigal ngửi amoniac đi.” Rolf đưa cho Cato một chai nước cam và đặt anh ngồi xuống giường. Inger định dẫn Monica đi, nhưng cô gái Anh đẩy ra, vì vậy Joe đành túm lấy tay cô thô bạo bế thốc lên gác, nhưng khi anh định thả cô xuống giường, cô lại tiếp tục tuôn ra những lời tục tĩu. Cô bắt đầu quẳng đồ của Cato xuống giếng trời, vừa làm vừa hét, “Đừng hòng có thằng mọi đen chết tiệt nào được đụng vào người ta nữa - đồ súc vật bẩn thỉu!”

—★—

Sáng hôm sau, tôi đang ở khách sạn Mamounia, đánh máy bản báo cáo gửi về Geneva - tôi bảo họ tôi thích ý tưởng về một khách sạn giải trí nằm giữa rừng cọ, miễn là có thể tìm được nguồn nước cho các hồ bơi - thì một tiếng gõ nhẹ vang lên ngoài cửa. Nghe như tiếng gõ của một cô gái, và tôi lấy làm lạ không hiểu ai cần gặp mình sớm thế này, nhưng khi mở cửa thì hóa ra là thằng Jemail. “Suỵt!” nó cảnh báo trong lúc lẻn vào phòng. “Lão gác cửa không cho cháu vào khách sạn.”

“Chuyện gì thế?” tôi ngờ vực hỏi.

“Cato Jackson,” nó đáp.

“Cậu ấy làm sao?”

“Quán cà phê Terrace. Có lẽ say rồi. Nói ầm ĩ về Bruce.” Chúng tôi im lặng một lúc lâu, trong suốt thời gian ấy thằng bé lưu manh quan sát tôi chăm chú, sau đó nó nói chậm rãi, “Tất nhiên, cháu biết Bruce là lính Israel.” Trong khi tôi nín thở hồi hộp, nó nói, “Hôm đầu tiên, mọi người hành động rất đáng nghi. Cháu đã lục hành lý của anh ấy. Thấy hai hộ chiếu.” Nó chờ cho câu nói này ngấm vào đầu tôi rồi mới nói tiếp, “Nhưng ông biết cháu rồi đấy. Cháu không bao giờ nói ra những chuyện như vậy. Có lẽ bốn mươi đô la.” Rồi, như thể bỏ qua đề tài đó, nó nhanh nhẩu nói, “Cato Jackson nói nhiều lắm. Chắc chắn sẽ có người nghe được.”

Tôi nhìn thằng nhóc tống tiền và nói, “Vậy nếu Cato nói quá nhiều thì cơ hội kiếm bốn mươi đô la của cậu...”

“Sẽ viu luôn!” Nó vung tay lên trời như phóng một quả tên lửa, rồi nói thêm, “Nhưng Yigal Zmora cũng vào tù... hay có thể bị bắn chết... Cháu nghĩ tốt hơn hết chúng ta nên nói chuyện với Cato.”

Nó thuyết phục tôi đi cùng tới quảng trường Djemaá, chúng tôi đang định rời khỏi khách sạn thì người gác cửa nhìn thấy nó bèn tìm cách túm lại, nhưng đã đoán trước nên thằng Jemail tránh được và rồi nó cứ đứng ở một khoảng cách an toàn mà chửi rủa bằng tiếng Ả rập. Người gác cửa cũng gầm lên chửi lại, liệt kê những gì ông ta sẽ làm nếu tóm được thằng Jemail, vậy là chúng tôi buộc phải đào thoát giữa những tràng la hét tục tĩu. Thằng Jemail giục tôi chạy qua quảng trường Djemaá đến quán cà phê có sân thượng, nơi Cato quả thực đang say và quả thực đang nói oang oang. Nhìn thấy tôi, anh bắt đầu lăng mạ, đứng phắt lên như muốn đánh, rồi lại sụp xuống bám chặt tay tôi, thổn thức, “Tôi có thể làm gì với Monica đây?”

Tôi dúi vào tay Jemail vài đồng tiền bảo nó đi chỗ khác. Rồi tôi nói gay gắt, “Cato, ngậm miệng lại đừng có nói đến Yigal nữa.”

“Tôi ba hoa quá phải không?” anh hỏi với giọng biết lỗi.

“Ba hoa không chịu nổi. Thằng bé kia đã nghe thấy cậu nói lung tung, và bây giờ Yigal gặp rắc rối rồi.”

“Tôi có cố ý đâu,” anh thanh minh. “Chúng tôi có đánh nhau thật, nhưng tôi không...” Không có gì để nghi ngờ về thái độ thành khẩn của anh, và anh trở lại với mối bận tâm vừa rồi, “Chúng ta có thể làm gì với Monica đây?”

Tôi dìu anh ngồi xuống ghế, gọi một cốc nước cam, và nghe anh phân tích lan man về bản thân. Anh tỏ ra quá đa cảm trước sự rộng lượng của ông Wister, giận dữ về cuộc đối đầu giữa người da đen và người Do Thái, phấn khởi khi nghĩ đến đạo Hồi, bối rối vì cách cư xử của Monica. Trong buổi sáng rực rỡ nắng vàng ở Marrakech ấy, anh là một thanh niên đáng thương, một con người hoang mang, không phải là một người máy da đen phản ứng trước những nhân tố kích thích: con gái da trắng, tình dục; người Do Thái, nỗi oán giận; người lớn tuổi, sự coi thường; Cơ Đốc giáo; cảm giác ghê tởm. Anh hỏi tôi, “Ông nghĩ tôi có thể hàn gắn với Monica được không?” và tôi hỏi lại, “Tại sao cậu muốn vậy?”

“Bởi vì cô ấy là người đàn bà của tôi và tôi muốn giúp cô ấy.” Anh nói điều này vẻ đơn giản, giống như bất cứ thanh niên nào đang gặp rắc rối trong tình yêu, đến mức tôi cũng muốn giúp anh giành lại cô, nhưng tôi biết rõ là không thể, vì vậy tôi bảo, “Cato, chuyện đã kết thúc rồi và tôi nghĩ anh cũng biết rõ sẽ có ngày sẽ kết thúc.”

Anh nheo mắt nhìn tôi và cộc cằn nói, “Và ông thấy vui mừng.”

“Nói ngớ ngẩn.”

“Ồ không!” anh nói. “Tôi biết thừa ý định của ông từ hồi ở Moçambique. Ông cũng phải lòng cô ấy. Và ông ngấm ngầm ghen tị với tôi.”

“Đừng nói ngu ngốc thế.”

“Tôi biết chứ. Ông chỉ mong tống khứ tôi ra để ông có thể nhảy vào.”

“Cato, chúng ta chứng kiến một cô gái đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Cả hai ta đều muốn giúp đỡ cô ấy. Để chuyện này kết thúc ở đây đi.”

“Không, chúng ta sẽ không để chuyện này kết thúc ở đây. Ông đang tìm cách gạt tôi ra để có thể nhảy vào.”

“Cato, chính cô ấy gạt cậu ra.”

Đối diện thực tế phũ phàng ấy, anh trấn tĩnh lại, rồi hỏi với thái độ gần như nhún nhường, “Tôi có thể làm gì?” tôi bèn đáp, “Cậu có thể chịu đựng. Như mọi thanh niên trước cậu từng mất một cô gái xinh đẹp. Hãy trở về với loài người, Cato. Cậu cũng là người như tất cả mọi người thôi.”

“Ý ông là gì?”

“Chỉ một điều này thôi. Bọn nhãi con kiêu căng ngạo mạn các cậu đi khắp nơi như thể chính các cậu đã khám phá ra tình dục. Các cậu tưởng như vậy vì các cậu có thể dễ dàng chui vào giường một cô gái đẹp đến nỗi cũng có thể dễ dàng chui ra khi mọi chuyện kết thúc... chẳng cần trải nghiệm gì sất. Anh bạn, để tôi nói cho cậu biết nhé. Trái tim cậu cũng rỉ máu như bất cứ ai trong chúng tôi thôi. Người đàn ông chân chính bắt đầu trưởng thành vào buổi sáng họ phát hiện ra mình đã bị một cô gái bỏ rơi. Thế rồi, thề có Chúa, họ buộc phải đối diện bản thân. Cậu không phải là siêu nhân như cậu tưởng đâu. Tình dục không đơn giản như cậu nghĩ. Nó vẫn luôn luôn là một thứ phức tạp, rối rắm và đáng sợ.”

“Tôi biết làm gì đây?”

“Vật vã đau đớn, đồ chết tiệt ạ. Đúng theo cách tôi đã trải qua khi mất người yêu hồi tôi hai mươi tuổi. Đúng theo cách mọi thanh niên khác đã trải qua cả vạn năm nay.”

Anh hạ giọng nói rất khẽ, “Nhưng, ông Fairbanks, tôi thì lại khác. Tôi là người da đen.”

“Vớ vẩn! Yigal là người Do Thái. Cậu đã đọc thư cậu ấy viết ở Detroit rồi đấy... đoạn về Britta. Cậu cho là hôm nọ trái tim cậu ấy không rỉ máu khi thấy Holt và Britta đã gắn bó với nhau ư? Clive là người Anh. Cậu không nghĩ rằng trái tim cậu ấy cũng rỉ máu khi phát hiện ra bây giờ Gretchen đã là người yêu của Joe sao? Một lúc nào đó hãy nói chuyện với Holt xem vợ anh ấy đã bỏ đi như thế nào. Hãy gia nhập cùng những người đồng đạo đi. Cậu cũng là người trần mắt thịt như tất cả những người khác thôi.”

“Nhưng khi một người đàn ông da đen bị một cô gái da trắng nhạo báng mọi chuyện lại khác,” cậu vẫn chưa bị thuyết phục.

“Đúng ra phải dùng từ đàn ông và đàn bà. Mọi đàn ông, mọi đàn bà. Và trước bất cứ cuộc đổ vỡ dữ dội nào chúng ta cũng đều đau đớn cả, Cato ạ. Tất cả chúng ta đều đau đớn.”

“Ông nói cứ như ông hài lòng lắm vậy.”

“Tôi hài lòng chứ. Cậu đã hành động như thể cậu là một vị thần da đen thiêng liêng nào đó. Thật ra cậu là một kẻ khó chịu. Tôi mừng là cuộc sống đã mở mắt cho cậu. Có thế cậu mới dễ thương hơn.”

“Nhưng chủ yếu là vì ông yêu Monica, phải không?”

“Được thôi. Cả hai chúng ta đều yêu mến cô ấy. Cả hai chúng ta đều muốn thấy cô ấy khỏe lại.”

“Chúng ta phải làm cho cô ấy cai nghiện heroin. Đó mới là vấn đề quan trọng.”

“Cậu đã bỏ được chưa?”

“Sau buổi tối ở Moçambique ấy... tôi đã bỏ hẳn rồi.”

“Monica có làm được không?”

“Chỉ dựa vào cô ấy thì không. Tôi đã cố giúp cô ấy nhưng không thể. Có lẽ Big Loomis là người duy nhất có thể xoay sở được. Ông ta hiểu những vấn đề này.”

“Thế thì chúng ta phải nói chuyện với ông ta - thuyết phục ông ta thử xem sao,” tôi nói.

Anh đưa tay ra, và khi cùng nhau bước xuống chiếc cầu thang ọp ẹp, chúng tôi nhìn thấy thằng Jemail đang chờ, vậy là tôi liên nói, “Nhưng trước mắt chúng ta phải bảo vệ Yigal đã.”

“Bảo vệ gì?”

“Bảo vệ khỏi thiệt hại do cậu gây ra... do thằng lỏi chết tiệt kia gây ra. Người Do Thái cũng giống người da đen. Họ có kẻ thù ở khắp mọi phía.”

Tôi thấy mình bắt buộc phải cảnh báo Yigal là thằng Jemail đã phát hiện ra bí mật của anh và sẽ ngậm miệng - nó nói như vậy - với giá bốn mươi đô la, nhưng chúng tôi vừa dợm bước rời khỏi quán Terrace để đi tìm Yigal, thằng bé Ả rập khôn ngoan đã theo sát gót, hẳn đoán được ý định của tôi nên hạ quyết tâm phải tham gia để bảo vệ mối lợi tài chính của mình. “Cháu đi cùng,” nó nói vẻ hòa nhã, “để chắc chắn không ai phản bội anh bạn Yigal Zmora của các ông.”

“Làm sao tôi biết chắc được là nếu tôi trả bốn mươi đô la thì cậu sẽ không phản bội cậu ấy?”

“Liệu cháu có thể làm ăn thêm được một tuần nữa không... nếu giả sử có tin đồn... là cháu không trung thực?” Nó mỉm cười nhìn tôi với vẻ ta đây coi thường kiểu người như thế, nhưng vẫn bám sát chúng tôi.

Đến khách sạn Bordeaux tôi không vào bởi vì nếu muốn Cato và Yigal nối lại tình bạn, nhất thiết phải để hai người gặp riêng nhau, do đó tôi nói, “Cato, cậu vào gọi Yigal đi,” rồi ngầm đưa mắt ra hiệu Cato phải báo cho anh chàng Do Thái biết mối nguy hiểm rình rập. Mấy phút sau hai người xuất hiện, Yigal gật đầu ngầm trấn an tôi là Cato đã thông báo về vụ tống tiền. Hai người bắt tay nhau và tôi đi ngay cùng họ để lấy tiền.

Khi đi ngang qua quảng trường Djemaá, tôi ngạc nhiên thấy Yigal vỗ vai cậu bé Ả rập nói, “Em thông minh lắm. Làm sao em phát hiện ra được?”

“Ngay chiều hôm đầu tiên ở quán Terrace. Khi hai người lớn nói thầm... em nghe.”

Đến khách sạn Mamounia, Jemail đề nghị chúng tôi lẻn vào qua cửa bên vì nó không muốn chạm trán người gác cổng, và khi mọi người đã ở trong phòng tôi, tôi nhờ Yigal gọi Holt, sau đó bốn người chúng tôi cùng thương lượng nghiêm túc. Thằng Jemail chơi đánh bài ngửa, và tôi hầu như có thể mường tượng cảnh những ngón tay nhỏ nhắn thành thạo của nó đang xáo các quân bài. “Anh ấy là lính Israel... có thể bị bắn.”

“Anh ấy còn là công dân Mỹ nữa,” tôi nói, “và anh ấy đã quyết định từ bỏ hộ chiếu Israel.”

“Không quan trọng. Nếu chính quyền biết... họ sẽ bắn anh ấy.”

“Cứ cho là chúng tôi trả cậu bốn mươi đô la đi,” Holt cắt ngang. “Làm sao chúng tôi đảm bảo được rằng cậu sẽ không đi nói lung tung?”

“Cháu là người Ả rập,” thằng bé ngạo nghễ nói, “một người có danh dự. Ông không nghĩ rằng chính quyền nước cháu sẽ thưởng công cho cháu... nếu cháu nói với họ ư? Tại sao cháu lại không nói? Bởi vì các ông tử tế với cháu. Bởi vì ông Fairbanks và cháu sắp là bạn làm ăn... buôn bán heroin... Geneva. Ông ấy và cháu sẽ cộng tác lâu dài. Cháu phải đối xử với ông ấy như một người lịch sự chứ.”

Hai người kia quay sang tôi, nhưng tôi vẫn chăm chăm nhìn thẳng về phía trước, rồi thằng Jemail đề nghị: “Ông cứ đưa cháu bốn mươi đô la. Cháu ở lại phòng này hai mươi bốn giờ để ông canh chừng. Trong lúc ấy Yigal Zmora sẽ bay khỏi đây và lên chuyến bay Air France từ Casablanca đến Rome, rồi từ đó bắt máy bay của hãng El AI để về Tel Aviv.”

“Khi anh ấy đã rời khỏi đất nước này an toàn, tại sao chúng tôi lại không thể đập đầu cậu mà lấy lại tiền nhỉ?” Holt hỏi.

“Vì các ông cũng là người lịch sự. Cháu tin tưởng các ông.”

Mọi người im lặng một lúc lâu, sau đó tôi lên tiếng, “Yigal, cậu nên bay khỏi đây chuyến sớm mai thì hơn. Nếu chính quyền Marốc phát hiện ra tấm hộ chiếu thứ hai của cậu thì phiền lắm đấy.”

“Có chuyến bay nào không?”

Jemail liền đọc vanh vách toàn bộ lịch bay, vậy là tôi ra chỗ điện thoại hỏi xem chúng tôi có thể đặt một vé chắc chắn đi Rome không. Việc đó được thu xếp xong xuôi, nhưng khi tôi dợm hỏi về chuyến bay tiếp đến New York, Yigal liền đặt tay lên máy điện thoại nói, “Tôi đã quyết định quay về Israel.” Tuyên bố này làm tôi bất ngờ đến nỗi ngắt rụp cuộc gọi và quay lại định hỏi xem có chuyện gì, nhưng Holt đã bật dậy khỏi ghế, túm lấy Yigal.

“Cậu vừa nói cái quái gì thế?” Holt chất vấn.

“Là tôi đã đi đến một quyết định.”

“Quyết định từ bỏ tư cách công dân Mỹ ư?”

“Phải.”

Holt nhìn tôi như thể chỉ có tôi mới giải thích được những gì anh vừa nghe thấy, nhưng tôi cũng choáng váng chẳng kém gì anh, bởi vì suốt mấy tuần vừa rồi, không có dấu hiệu nào cho thấy Yigal sẽ chọn Israel. Thực ra, mọi dấu hiệu đều chứng tỏ điều ngược lại.

“Chuyện gì thế?” tôi hỏi.

“Vậy anh ấy là lính Israel thật?” thằng Jemail tự mãn hỏi.

“Im cái mồm chết tiệt của mày đi,” Holt quát và đẩy thằng bé Ả rập ngồi xuống ghế. Rồi, để đề phòng, anh khóa cả cửa ra vào lẫn cửa sổ, ném hai tờ séc du lịch hai mươi đô la xuống bàn. “Khi nào máy bay cất cánh, tao sẽ ký vào đây,” anh nói. Rồi, quay về phía Yigal, anh hỏi, “Điều gì làm cậu bối rối thế, chàng trai?”

Yigal ngẫm nghĩ một lúc rồi nói, “Mấy ngày vừa qua đã cho tôi thấy nhiều điều. Cato và quan điểm của anh ấy. Tôi cho chúng là quan điểm phổ quát. Người Do Thái quả thực phải chịu nỗi sỉ nhục. Và cuộc thao diễn không thể tin nổi ngày hôm qua nữa. Đám kỵ sĩ ấy phóng ngựa và bắn những cây súng cổ lỗ... như thể việc đó chẳng có nghĩa lý gì.”

“Một khẩu súng máy Israel chất lượng thôi,” Jemail xen vào. “Tạch-tạch-tạch. Thế là đi đời đám kỵ sĩ.”

Yigal quay lại nhìn thằng bé Ả rập và nói, “Đó chính là điều tôi muốn nói. Thằng bé nhìn mọi việc quá rõ ràng. Đám kỹ sư thì quá mù quáng. Biết đâu thế hệ của nó và của tôi có thể đi đến một sự thấu hiểu lẫn nhau nào đó.”

“Chàng trai ạ, cậu không thể tham gia vào cuộc chiến của tất cả mọi người,” Holt nài nỉ.

“Nhưng chỉ người Do Thái chiến đấu cuộc chiến của người Do Thái,” Yigal nói. “Vị trí của tôi là ở...” Tôi đã tưởng anh sẽ nói vị trí của anh là ở bên dân tộc mình, nhưng anh kết thúc câu bằng, “bên cạnh những người đã đào tạo tôi.”

“Israel vẫn có thể xoay sở được không cần cậu,” Holt biện luận. “Nhưng nước Mỹ cần tất cả những người giỏi giang mà chúng ta có thể đào tạo được. Cậu phải quay về thôi.”

“Còn có một điều nữa khiến tôi băn khoăn về nước Mỹ,” anh nói tiếp. “Truyền hình.”

“Ôi, vì Chúa!” Holt nổi giận quát lên. “Đúng là chẳng khác gì bọn thanh niên ngốc nghếch ở Pamplona phát biểu rằng thứ hay ho duy nhất mà nước Mỹ từng sản xuất là King Kong.”

“Không, tôi nghiêm túc đấy,” Yigal nói. “Một người xa lạ như tôi nhìn vào nước Mỹ, và nếu có đầu óc, anh ta sẽ thấy nhiều cái hay, nhiều cái dở. Nhìn chung cái hay vẫn áp đảo... tính cho đến thời điểm này. Các ông thực sự đã làm được nhiều điều tuyệt vời ở Mỹ. Tôi thường cười giễu ông tôi cũng như lòng tận tụy của ông ấy với hãng General Motors. Nhưng tôi phát hiện ra ông ấy cũng tận tụy y như vậy với Viện Bảo tàng Nghệ thuật Detroit. Và cấp dưới của ông ấy cũng tận tụy với Học viện Case như vậy. Nhưng khi anh ở một mình, tìm cách cân bằng mọi thứ, anh bật ti vi lên, và rồi nhận thấy những người thực sự điều khiển nước Mỹ, những người làm chương trình quảng cáo trên truyền hình, lại tin rằng hết thảy đàn ông Mỹ đều đần độn và hết thảy phụ nữ Mỹ đều ngu ngốc đến nỗi khó mà đếm được đến bảy. Và càng lúc ta càng ngờ rằng những kẻ khôn ngoan viết chương trình quảng cáo quả thật hiểu biết hơn ta nhiều. Họ thậm chí còn biết cách bán cả tổng thống cho ta nữa ấy chứ.”

“Cậu tin những điều cậu vừa nói chứ?” Holt hỏi.

“Tin chắc,” Yigal đáp. “Ở Israel, chúng tôi biết rõ chúng tôi không thể tồn tại nếu người dân của chúng tôi chỉ là những kẻ ngốc... vì vậy chúng tôi không đối xử với họ theo cách đó.”

“Cái khiến cậu lo lắng ấy chỉ thuần túy là mốt thôi,” Holt biện luận. “Nó có thể thay đổi. Truyền hình là cái quái gì cơ chứ?”

“Một tấm gương,” Yigal đáp. “Phản chiếu sự ngớ ngẩn rỗng tuếch của đời sống Mỹ. Với tất cả những vấn đề mênh mông của các ông, mô hình sống của các ông về cơ bản là ngớ ngẩn. Ở Israel, vì chúng tôi phải chịu cảnh trên đe dưới búa, nên chúng tôi không thể chi trả cho cái thứ xa xỉ ấy.”

“Tại sao cậu không làm việc với chúng tôi và thay đổi sự ngớ ngẩn đó?” Holt hỏi.

“Tôi đã quan sát ông và Joe - áp lực mà hai người đeo mang về vấn đề Việt Nam. Joe đang tìm cách thay đổi một trong những cuộc chiến tranh ngu ngốc nhất con người từng dính vào.”

“Cậu cũng đang đồng về phía Joe ư?” Holt hỏi.

“Đúng vậy. Cuộc chiến tranh của anh ấy ở Việt Nam là hoàn toàn vô lý. Cuộc chiến tranh của chúng tôi ở Israel lại hoàn toàn chính đáng. Lớp trẻ chúng tôi sẽ làm nên những khác biệt này. Và ông phải đồng ý với chúng tôi, cho dù nó đòi hỏi phải sắp đặt lại những quan niệm của cả đời.”

“Cậu có cho rằng cậu có thể làm bất cứ việc gì để giúp Israel... thực sự giúp?” Holt hỏi tiếp.

“Tôi không làm vậy để giúp Israel. Tôi làm vậy để giúp bản thân mình. Ông Holt, tôi chỉ sống một lần thôi. Nếu bom khinh khí nổ thì cũng chẳng còn bao năm nữa. Và tôi sẽ không phí hoài cuộc đời vì những điều phi lý.”

Chúng tôi nói chuyện suốt đêm. Thằng Jemail ngủ lơ mơ trong lúc chúng tôi tranh luận những vấn đề nó không hiểu rõ, chỉ choàng tỉnh mỗi khi nghe nói đến người Do Thái hay người Ả rập. Holt vận dụng mọi lý lẽ sẵn có - Triều Tiên, Trung sĩ Schumpeter, tư cách công dân quốc tế, tinh thần yêu nước vượt trên tín ngưỡng, cuộc sống của người đàn ông, vận mệnh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ - nhưng chàng trai Yigal Zmora phản bác bằng một đầu óc thực tế khó lay chuyển. Anh là một người Do Thái sẽ phải tiến hành cuộc chiến của mình ở đâu đó, và anh không định vì lý do kinh tế mà chiến đấu chống lại Cato Jackson trên đường phố nào đó của Mỹ; anh sẽ chiến đấu tại Israel, nơi quân địch xuất đầu lộ diện và nơi sự sống còn của một dân tộc bị đe dọa. Anh là người đàn ông trẻ phải chịu gánh nặng khủng khiếp ấy - khả năng nhìn nhận rõ ràng điều gì nên làm - và anh đã cam kết làm điều đó.

Rạng sáng, khi chiếc máy bay lên phía Bắc lăn bánh ra đường băng Marrakech, thằng Jemail thức dậy nói, “Anh nên đi ngay thì hơn,” và Holt nhất định đòi tiễn Yigal ra máy bay, hy vọng vào phút chót có thể thuyết phục được Yigal giữ quốc tịch Mỹ. Như vậy tức là tôi được giao phó canh giữ thằng Jemail cho đến lúc chiếc máy bay của hãng Air France khởi hành đi Casablanca. Câu cuối cùng Yigal nói với tôi là, “Monica ốm quá. Phải có cách gì chứ...”

Nhưng đó chưa phải câu nói cuối cùng giữa bốn người chúng tôi, vì khi Holt rời khỏi phòng, thằng Jemail chộp lấy tay anh nói, “Nếu lỡ ông không quay lại ký hai tấm séc du lịch... ông có biết cháu sẽ làm gì không?” Khi Holt hỏi, thằng bé Ả rập bảo, “Cháu sẽ đến đồn cảnh sát... buộc tội ông lén đưa gián điệp vượt biên.”

—★—

Việc Yigal từ bỏ nước Mỹ tác động mạnh mẽ đến Holt. Chúng tôi ngồi trong căn phòng khách sạn bài trí tỉ mỉ của anh và nhìn chăm chăm vào tấm biển mới cho biết chúng tôi đang ở cùng vĩ độ với Jerusalem, Lahore, Thượng Hải, Kagoshima, Waco, ở cùng kinh độ với Alte, Santiago de Compostela, Donegal, Samoa, Christchurch - và anh đập đánh đét vào đầu gối hỏi, “Lạy Chúa, làm sao một thanh niên có lòng tự trọng lại chọn một kho đạn tạm thời như Israel thay cho Hoa Kỳ được nhỉ?” Ngay cả lúc chúng tôi đang nghe Glenn Miller trình diễn “A String of Pearls,” anh vẫn làu bàu, “Người ta gọi đây là Thời Lo Lắng. Phải là Thời Mất Trí mới đúng.” Vài lần đang ăn, anh đặt dĩa sang một bên rồi bảo tôi, “Nếu có chiều hướng gì là tôi sẽ rời khỏi đây ngay lập tức.”

Anh nấn ná không chịu đi là vì Joe. Anh nghi ngờ Joe đang lập một kế hoạch trốn quân dịch mới kinh khủng nào đó, thậm chí anh còn đi xa tới mức vặn hỏi Gretchen nhưng cô chặn trước mọi câu hỏi của anh bằng cách tuyên bố, “Tôi tán thành bất cứ quyết định nào của anh ấy trong vấn đề ngớ ngẩn này,” vì vậy Holt không tìm được đồng minh, nhưng anh vẫn quanh quẩn ở đó, tiếp tục đứng ngồi không yên để giám sát Big Loomis và ngày nào cũng nói với Britta, “Chúng ta nên đi khỏi đây thôi.”

Sự lưỡng lự của anh làm tôi nhớ lại hai đoạn trích đáng chú ý trong văn học. Trong cuốn Đêm trước Ngày lễ thánh Agnes, truyện thơ hay nhất mà tôi được biết, Keats có một câu rất tuyệt, “Nhiều phen rắp tâm bỏ cuộc, nhưng nàng vẫn còn nấn ná.” Trong truyện ngắn Cái chết ở Venice, Thomas Mann[135] đã làm rõ quan niệm này bằng những cảnh ấn tượng về người kể chuyện uyên bác, mặc dù biết rõ bệnh dịch sắp tới, vẫn nán lại trong thành phố bất hạnh để được ở gần chàng trai mà ông yêu quý, Pribislav Hippe. Tại sao ở Marrakech, cái tên Pribislav Hippe lại lướt qua tâm trí tôi, nhất là khi mối quan hệ giữa các bạn trẻ và Holt lại hoàn toàn khác? Tôi đoán là vì người có học bị định phận phải mang những gánh nặng như vậy, sự khai sáng trong những thời điểm khủng hoảng phụ thuộc cả vào họ. Chắc hẳn Keats và Mann sẽ hiểu được Holt; ngay cả khi tôi không thể, ấy vậy mà sự hiểu biết ít ỏi tôi lĩnh hội được chính là bắt nguồn từ họ.

Nỗi băn khoăn của Holt càng tăng khi đại sứ quán Hoa Kỳ ở Rabat gửi chuyển tiếp một bức điện báo tới lãnh sự quán ở Casablanca, và lãnh sự quán lại cử một người đưa tin đặc biệt giao thư đến Marrakech. Để kiếm nhóm người Mỹ, lẽ đương nhiên người đưa tin đã đến khách sạn Mamounia hỏi thăm xem có thể tìm Joe ở đâu. Nhân viên lễ tân túm được Holt tình cờ đang ở tiền sảnh. Anh ký nhận bức điện, và khi cầm trong tay rồi, anh đâm ra nghi ngờ nên đã xé ra đọc - rồi băng qua các ngõ ngách để đến khách sạn Bordeaux.

Bức điện nói rằng hội đồng quân dịch California quyết định xếp trường hợp từ chối hợp tác của Joe vào diện vụ án chuẩn. Hội đồng bác bỏ ý kiến của tiến sĩ J. Loomis Cargill, vốn không có tên trong danh sách bác sĩ hành nghề, cho rằng Joe là người nghiện ma túy. Joe phải đến trình diện tại một căn cứ quân sự thích hợp của Hoa Kỳ - trong trường hợp này là căn cứ Wheelus ở Libya hoặc Morón ở Tây Ban Nha - để bác sĩ kiểm tra, và nếu các bác sĩ quân y phát hiện ra kết quả chẩn đoán của Cargill là gian trá, Joe phải ngay lập tức trình diện để nhập ngũ.

Tới khách sạn Bordeaux, Holt hỏi cụt lủn, “Joe đâu?” và được chỉ, “Trên phòng anh ấy với Gretchen.” Chạy mấy bậc một lên thang, anh đạp tung cửa, túm lấy chân Joe nói, “Điện báo của chính quyền.”

“Tôi biết là gì rồi,” Joe lầm bầm, một tay dụi mắt một tay buộc chiếc khăn tắm quanh bụng.

“Anh nghĩ cái quái quỷ gì mà lại tự nhận mình là người nghiện ma túy?

“Đưa tôi bức điện rồi ra khỏi đây đi.” Anh định giằng lấy chiếc phong bì đã bị xé rách, nhưng Holt tránh được.

“Sao anh dám mạo hiểm cả sự nghiệp của mình bằng một lời thú nhận như vậy? Ơn Chúa, chính quyền có đủ khả năng xét đoán để biết đó là một chuyện giả mạo. Joe, anh phải tỉnh táo lại đi.”

Lúc này Joe đã bắt đầu bực mình, “Tại sao ông không ra khỏi đây đi? Tôi không cần ông và Gretchen cũng không muốn ông ở đây.”

Holt chuyển sự chú ý sang cô gái, nói, “Cô có ảnh hưởng nhất định đến anh ấy. Đừng để anh ấy làm những việc đáng hổ thẹn như vậy.”

Nhưng Gretchen đáp lại, “Ông quên đấy. Ngẫu nhiên tôi lại hoàn toàn đồng ý với anh ấy về vấn đề Việt Nam.”

“Ai nói về Việt Nam?” Holt lớn tiếng. “Tôi đang nói về cuộc đời một con người - cuộc đời quý giá của một con người - và nếu có dù chỉ một chút bản năng đàn bà thôi, cô cũng sẽ muốn bảo vệ nó.”

“Tôi muốn chứ. Tôi muốn anh ấy đứng ngoài cuộc chiến tranh Việt Nam.”

“Quỷ tha ma bắt hết đi, cuộc đời là thứ quan trọng hơn chuyện ngủ nghê với đàn bà chứ! Cuộc đời còn là tự bảo vệ... và danh dự.”

“Thôi, xin ông,” Gretchen nói, “đi đi. Chúng ta không bao giờ hiểu nhau đâu.”

“Cô cứ việc nhắc lại điều đó. Tôi không hiểu nổi, làm sao một người đàn bà đang yêu lại có thể để người đàn ông của mình làm những việc mà thằng chó đẻ khốn nạn này đang dự định. Thưa quý cô, đối với tôi cô đại diện cho một hạng thấp kém mới.” Anh đang định nện bước rời khỏi phòng thì Gretchen nhẹ nhàng nói, “Nếu ông đã đọc Aristophanesd[136] ông Holt, ông sẽ biết là cuộc nổi dậy của những người phụ nữ phản chiến có từ xưa rồi - một trong những đề tài cổ xưa nhất trong lịch sử.”

Holt quay lại giường, chộp lấy vai cô mà nói, “Tôi đã đọc Aristophanes từ hồi cô còn đang bú bình... và không phải bình rượu gin đâu. Xin báo cho cô biết, Aristophanes viết hài kịch... bất cứ điều gì để mua vui cho người khác. Tôi đang nói rất nghiêm túc đấy. Joe, tôi sẽ không để cho anh làm những gì anh đang dự định đâu.”

Holt đùng đùng lao ra khỏi phòng và họ có thể nghe thấy tiếng anh bước thình thịch xuống cầu thang, một cựu lính thủy đánh bộ đang giận dữ. Anh rời khỏi khách sạn, và ngay khi khuất khỏi tầm nhìn từ khách sạn Bordeaux, anh vội lẩn vào một ô cửa, ra hiệu cho một số đứa nhóc thường lảng vảng quanh khu vực này hy vọng kiếm được chút tiên thưởng đâu đó. “Đi tìm thằng Jemail cho tôi,” anh nói, cho thằng bé hai dirham.

Phải mất một lúc lâu thằng bé mới tìm được tên lưu manh nhóc con kia, vì thằng Jemail đang ở khu buôn bán tìm cách tống hai tấm séc du lịch hai mươi đô la ra chợ đen hòng đổi được nhiều tiền hơn mệnh giá thực. Vừa đến nơi, nó đã thì thầm hỏi, “Có chuyện gì thế, ông bạn?”

“Mỗi khi Big Loomis có việc đặc biệt với một người trốn lính...”

“Ý ông là chuyện chụp ảnh?”

“Phải, ông ta thường dùng ai?”

“Ông đã gặp Abdullah xấu xí lần nào chưa?”

Thấy Holt lắc đầu, thằng Jemail nói tiếp, “Thôi được, cháu biết hắn,” và hai người thỏa thuận là thằng Jemail sẽ được nhận thù lao để cùng Holt chờ xem Abdullah có được gọi đến khách sạn Bordeaux không. Hắn được gọi đến thật.

—★—

Sau khi Holt giận dữ ra khỏi khách sạn, Joe ngay lập tức chạy lên cầu thang để trao đổi với Big Loomis. “Họ không chấp nhận lý do nghiện ma túy,” anh báo.

“Tôi không nghĩ là họ sẽ chấp nhận, nhưng việc đó cho chúng ta một chút thời gian.”

“Bức điện nói họ tin chắc ông là kẻ giả mạo.”

“Thỉnh thoảng chính tôi cũng nghĩ như vậy.” Một quãng im lặng khó xử trôi qua, có thể thấy rõ Big Loomis không muốn nói gì, nhưng khi không khí trầm lặng kéo dài khá lâu ông ta đành lên tiếng, “Vậy là cậu đã quyết định chấp nhận Big Casino?” Khi thấy Joe gật đầu, Loomis lại hỏi, “Cậu biết nó sẽ dẫn đến chuyện gì chứ? Nó sẽ bám theo cuộc đời cậu lâu đấy.”

“Tôi biết.”

Trong lúc nói chuyện, Big Loomis đã kín đáo lục lọi mớ giấy tờ, và lúc này, hất bàn tay phải to tướng thật nhanh, ông ta đẩy một bức ảnh đến trước mặt Joe. Đây là một hành động chủ tâm gây sốc, và ông ta chăm chú quan sát nét mặt Joe để theo dõi phản ứng. Nó cho thấy hai người đàn ông trần truồng - một là người thanh niên Mỹ đang quỳ gối, còn người kia là một tên Ả rập vạm vỡ đang đứng dạng chân để phô bày cái dương vật khổng lồ cương cứng mà chàng trai sắp ngậm vào cái miệng há hốc. Joe, với vẻ mặt vô cảm, không nói lời nào. Big Loomis bảo, “Khi nhận được bức ảnh này qua đường bưu điện, họ sẽ gạch tên cậu ra khỏi danh sách quân dịch. Nó mang tính quyết định đấy.”

“Tôi sẵn sàng rồi,” Joe nói, và người đàn ông to béo bèn sai một khách trọ đi gọi Abdullah xấu xí.

Khi tên Ả rập kia đi vào ngõ, sẵn sàng cho vụ chụp ảnh, thằng Jemail thì thầm với Holt, “Người của chúng ta đấy!” Chắc hẳn nó học được câu đó trong phim.

Hai người bám theo tên Ả rập cao lớn vào khách sạn Bordeaux, chờ cho hắn leo lên cầu thang rồi mới lao thẳng một mạch lên tầng bốn, nơi Joe đang đợi trong khi Big Loomis chuẩn bị máy ảnh. Một thoáng thất kinh choáng váng, bị ngắt ngang khi Holt lao đầu vào người da đen to béo, húc mạnh vào bụng làm ông ta bật ngửa ra phía sau. “Đồ khốn,” Holt hét. “Với chàng trai này thì không được!”

Tiếp theo là một trận ẩu đả diễn ra trong im lặng, chỉ điểm những tiếng rên rỉ càu nhàu, với Holt đấm đá bừa phứa vào người Big Loomis, Joe và Abdullah Xấu Xí. Mỗi khi có cơ hội, thằng Jemail lại lao vào như con rắn để tấn công kẻ thù truyền kiếp của nó, Big Loomis, trong khi ông ta chỉ đấm được những cú vô hiệu vào kẻ quấy rối oắt con.

Trong đợt tấn công đầu, có vẻ như Holt sẽ khuất phục được cả ba vì anh nhanh chóng chế ngự Joe và Abdullah Xấu Xí, nhưng anh lại đánh giá quá thấp lão Loomis béo bệu, vì đúng lúc này quá trình tập luyện môn bóng bầu dục của ông ta phát huy tác dụng. Bằng đôi chân khéo léo và những đón khua khoắng loạn xạ hết trái lại phải, đầu tiên ông ta chỉ tự vệ, rồi bắt đầu đẩy lùi Holt. Hai cú đấm hiệu quả vào đầu khiến Holt choáng váng trong chốc lát, nhưng anh nhanh chóng hồi lại và xông vào Loomis như một cơn bão đơn độc.

Màn mở đầu đã xong, lúc này mới đến trận đấu chính, gã da đen béo bệu nhún nhảy quanh phòng, nắm lấy mọi cơ hội đánh Holt bắn vào tường. Thỉnh thoảng Loomis lại gạt chân xua thằng Jemail đang tìm cách đá vào cẳng ông ta.

Giờ Joe và tên Ả rập cao lớn đã lấy lại tự chủ và tập trung tấn công Holt, Joe cố gắng tóm tay còn tên Ả rập tìm cách huých đầu gối vào hạ bộ Holt. Bị ba địch thủ đáng gờm như vậy bao vây, người ta có thể cho là Holt sẽ dừng cuộc chiến, nhưng ý nghĩ đó không hề nảy ra trong đầu anh. Vung tay với sức mạnh lặng lẽ và ghê gớm, anh đem ra thực hành toàn bộ những đòn hạ tiện nhất từng học được của trung sĩ Schumpeter tại trại huấn luyện tân binh, đánh đấm hết người này đến người khác cho mặt mũi cả ba địch thủ đều tứa máu. Bị một đòn ác liệt làm choáng váng, Big Loomis trả đũa bằng một cú đánh hiểm ác, hất Holt bắn sang phía bên kia phòng, nhưng viên kỹ sư đã bật dậy, húc đầu vào bụng Abdullah Xấu Xí, tạm thời loại hắn khỏi cuộc đấu. Rồi anh quay lại đối mặt với Joe, phóng một đón dữ dội trúng vào mé đầu khiến Joe nằm dài ra trên sàn.

Lợi dụng phút lãng trí ấy để tấn công điểm sơ hở của Holt, Loomis xòe rộng bàn tay vả một phát thật mạnh, đánh ngã Holt, nhưng người cựu lính thủy đánh bộ không nằm yên chịu thua. Anh bật dậy vung tay tứ phía, lợi dụng cơ hội thúc đầu gối vào mặt gã Abdullah đang gượng đứng dậy sau cú ngã. Hai cái răng rụng xuống sàn và lần đầu tiên từ khi cuộc ẩu đả bắt đầu, có người lên tiếng. “Cứ chụp ảnh hắn mất răng cửa đi,” Holt hổn hển nói.

Kết cục không thể khác. Big Loomis giáng một đòn nên thân vào mé đầu Holt, còn Joe, vẫn chưa hết đau sau cú đốn hạ của Holt, lảo đảo đứng dậy dùng hết sức đấm trúng đầu Holt đúng lúc bật ngửa ra sau. Như thể bị đánh chết, Holt đổ sập xuống, và Big Loomis thét lên, “Đến lượt mày, thằng con hoang nhóc con.” Ông ta phóng một đòn vào Jemail, nhưng thằng bé Ả rập đã nhanh chân chạy xuống cầu thang.

Tôi không có mặt tại hiện trường cho đến tận hai giờ sau đó. Thằng Jemail chạy từ khách sạn Bordeaux tới Mamounia mà hét lên, “Ông Fairbanks! Họ sắp giết nhau rồi!” Tôi vội chạy đến khách sạn Bordeaux, nhưng đám đánh nhau đã đi đâu mất nên tôi đành từ bỏ cuộc tìm kiếm. Cuối buổi chiều hôm đó thằng Jemail đến báo cho tôi biết cả bọn đang cùng ăn xúp nóng ở quán Terrace và chia nhau một chai rượu whiskey do nó mua hộ ở chợ đen.

Họ đã đi đâu? Đến một nhà tắm hơi Thổ Nhĩ Kỳ, bôi thuốc mỡ lên vết thương và thư giãn. Khi tôi đến quán Terrace, họ đang uống rượu như những người bạn lâu năm và Big Loomis đang giải thích rằng khi ẩu đả ông ta hiếm khi dùng nắm đấm: “Tôi thích cú vụt cổ điển ra trò trong bóng bầu dục hơn. Anh vung tay lên là có thể đập một người bay từ đầu bên này sang đầu bên kia phòng.”

“Tôi được nếm mùi rồi,” Holt nói, và thế là không còn chuyện dại dột về Big Casino nữa.

Chúng tôi ngồi cùng nhau gần trọn đêm hôm đó, bàn luận về bóng bầu dục, chiến tranh và cuộc đấu của các băng nhóm tội phạm ở Marrakech. Holt thắc mắc làm sao một người đàn ông bề ngoài có vẻ tử tế như Big Loomis, một người mà có lẽ ai cũng sẽ thích khi chứng kiến ông ta chiến đấu, lại có thể để mình dính líu vào một phi vụ bẩn thỉu như việc chụp ảnh với Abdullah Xấu Xí, Big Loomis nói, “Một số người trong chúng tôi tin rằng không gì có thể biện hộ cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Chúng tôi sẵn lòng làm bất cứ việc gì để tránh được nó.”

“Nhưng ông và Joe là những kẻ nóng nảy bẩm sinh,” Holt nói. “Rõ ràng cả hai đều thích đánh nhau, vậy mà lại cứ tự nhận là người phản đối nhập ngũ vì thấy trái đạo lý.”

“Tôi không bao giờ tự nhận như vậy,” Joe nói.

“Ý tôi là - làm sao anh có thể tuyên bố một lập trường chống chiến tranh mang tính đạo đức cao trong khi lại tự bôi nhọ mình với Big Casino?”

“Bất cứ việc gì cũng có thể chấp nhận được,” Joe nói.

“Nhưng lẽ nào anh không ý thức được một tấm hình như vậy có thể hủy hoại cuộc đời anh?”

“Cuộc đời với người nào?” Big Loomis ngắt lời. “Có thể là nhiều năm sau một tấm hình như vậy chụp từ năm 1970 sẽ là biểu tượng danh dự. Tất nhiên những người thuộc thế hệ chúng tôi sẽ hiểu, những người khác không tính.” Ông ta tu một hơi whiskey dài và chỉ cái chai vào Holt: “Lấy Gretchen làm ví dụ chẳng hạn. Giả sử sang năm Joe muốn cưới cô ấy. Một tấm hình như vậy sẽ làm ông già cô ấy phát điên. Ông ấy sẽ nhảy dựng lên tận trần nhà như gà trọi cho mà xem. Nhưng việc đó có quan trọng với Gretchen không? Lẽ nào cô ấy lại không yêu Joe sâu nặng hơn vì lòng can đảm của cậu ấy?”

Đây là hướng tranh luận tôi không hề muốn theo, vì vậy tôi mặc kệ họ mà lang thang qua quảng trường Djemaá đến khách sạn Bordeaux, rồi như thường lệ lại lạc bước vào gian phòng rộng, chứng kiến trên hai mươi thanh niên chìm đắm trong mùi cần sa ngòn ngọt nằng nặng, những tù nhân của nỗi chán chường êm dịu phát sinh từ việc hút lâu dài thứ cỏ này, và đây là một trong những hành động bố ích nhất của tôi ở Marrakech, vì đêm khuya hôm ấy tôi đã được tiếp nhận một cách nhìn tương lai mà tôi không bao giờ quên.

Đám trẻ đang say sưa với cuộc trò chuyện quen thuộc về việc họ sẽ giải quyết mọi vấn đề của thế giới ra sao, và không ai bày tỏ chút thù ghét hay kết án mạnh mẽ nào khi họ lờ lững đi từ cuộc tranh luận to tát này đến cuộc tranh luận to tát khác. Việt Nam, Cuba, cách mạng ở Nam Mỹ, mâu thuẫn Nga-Trung, sự điên rồ khi lãng phí hàng tỷ đô la cho việc thám hiểm mặt trăng, bản báo cáo ở California chứng minh rằng người da đen là hạ đẳng trên phương diện di truyền học - tất cả các đề tài đó được đem ra thảo luận một cách chân thành dễ thương, và bị quên lãng ngay trong đám khói cần sa.

Sau nửa đêm, khi căn phòng đã vãn người, cuộc thảo luận xoay quanh vấn đề bom khinh khí, và một lần nữa tôi lại được chứng kiến tình trạng bối rối sâu xa bắt nguồn từ mối đe dọa thường trực này, nhưng bằng thái độ hồn nhiên vô trách nhiệm, đám người vui chuyện ấy đã nhãng khỏi đề tài luôn lởn vởn trong đầu để tiếp tục nói về một thực tế là tại mọi quốc gia đang trỗi dậy một thế hệ mới nhất định không chịu tham gia chiến tranh: “Người ta sẽ phải xả súng máy bắn chúng tôi trên đường phố,” một chàng trai mười chín tuổi nói, và tôi ngờ là họ đã kết luận không hề vu vơ; tôi lấy làm tiếc Harvey Holt không có mặt ở đó để tranh luận với chàng trai vì tôi bắt đầu tin rằng nhóm thanh niên Mỹ đông đảo hơn - những người sinh sống trong nước - sẽ vẫn giữ quan điểm phần nào giống Holt và sẽ ủng hộ chiến tranh nếu họ xem xét nó trong phạm vi truyền thống lịch sử. Do đó, giữa hai nhóm người chống chiến tranh và ủng hộ chiến tranh nhất định sẽ có xung đột.

Tuy nhiên, ngay lúc đó tôi vẫn chưa nhìn thấy tương lai. Gần như cả buổi tối, Rolf và Inger chỉ thuần túy đóng vai trò chủ nhà, lúc thì cung cấp cần sa cho những cái tẩu được chuyền tay, lúc lại chạy ra quảng trường Djemaá mua bánh mì và pho mát để làm smorgasbord[137]. Gần ba giờ sáng, khi người khách cuối cùng đã đi khỏi, Rolf ngăn tôi lại lúc tôi định cáo lui và hỏi, “Ông nghĩ sao về những kết luận đêm nay?” tôi đáp, “Cứ bốn phút họ lại đi đến một kết luận quan trọng, nên thật tình mà nói, tôi chóng cả mặt.” Rolf bật cười hỏi, “Ý tôi là vấn đề chiến tranh cơ?”

Tôi trả lời, “Tôi thấy hơi khó chịu khi một thế hệ vốn có thể duy trì sự tồn tại của mình nhờ những người đã chống Hitler từ trước khi họ ra đời lại vỗ tay tán thưởng ban nhạc The Beatles chế giễu nỗ lực đó.”

Inger nói, “Không phải nỗ lực đó. Mà là những cách thức sai lầm để ngày nay người ta lợi dụng các ký ức về nỗ lực đó. Chúng tôi thực sự chán ngấy rồi.”

Tôi thấy thật vô ích nếu đi cố gắng tranh luận một đề tài mà đã quá nhiều người kết luận một cách quá dứt khoát rồi, vì vậy tôi cảm ơn Inger vì lòng mến khách và dợm bước ra cửa, nhưng một lần nữa Rolf ngăn tôi lại, “Gượm đã,” anh nói, và tôi hiểu anh đang muốn trao đổi với ai đó lớn tuổi hơn, ai đó hiếu chiến hơn những người anh đã lắng nghe đêm hôm ấy, vì vậy tôi ngồi xuống giường và anh bắt đầu nói, “Có vẻ như ông đã bỏ qua điểm quan trọng về thế hệ chúng tôi. Các ông luôn lo ngại về chiến tranh, tình dục hoặc ma túy, còn chúng tôi thì không. Như Inger và tôi chẳng hạn, chúng tôi đang có trọn vẹn một điều vô cùng mới mẻ.” Tôi hỏi anh đó là gì.

“Thế này nhé. Chúng tôi thực sự tách ra ngoài xã hội. Một phần lớn trong chúng tôi không liên quan gì đến những giá trị từng thúc đẩy các ông. Lấy Inger và tôi làm thí dụ chẳng hạn. Chúng tôi không thấy có lý do gì để cưới nhau cả. Chúng tôi biết rõ đó là một hoàn cảnh đáng trọng đối với những ai thấy cần, nhưng chúng tôi thì không có nhu cầu đó. Chúng tôi không thấy có lý do gì để học hành ở những trường chính quy rồi lấy bằng cấp chính quy. Nếu muốn làm bác sĩ hay kỹ sư, tôi công nhận là người ta cần những bằng cấp như vậy, nhưng chúng tôi thì không. Chúng tôi tự học... có thể đến trình độ cao... nhưng là cho chúng tôi chứ không phải cho một hội đồng chấm thi nào đó.”

Lúc này đã ngồi xuống giường cạnh tôi, ngón tay kẹp điếu thuốc lá to bự do một vị khách vừa rời khỏi đó cuộn, Inger nói xen vào, “Chúng tôi cố gắng làm tất cả mọi việc sao cho càng vô hại càng tốt. Ngay cả quần áo đầu tóc của chúng tôi cũng có chừng mực. Về những điểm bị xã hội quá coi trọng này, chúng tôi sẽ nhượng bộ. Nhưng các vấn đề lớn thì không. Nói thật, chúng tôi thà chết còn hơn phục tùng những lề thói cổ hủ.”

Với làn khói vàng lờ lững trên đầu, trông cô chân thành và hấp dẫn đến mức tôi phải lên tiếng, “Tôi tin chắc đó là chuyện khá thỏa đáng khi cô hai mươi tám tuổi. Nhưng sau này cô sẽ thích nghi như thế nào?”

Rolf búng ngón tay reo lên, “Chính thế đấy! Đây chính là sau này.”

“Ý anh là gì?” tôi thắc mắc. “Tôi đang đề cập đến một mái ấm gia đình... con cái... thu nhập ổn định.”

Hai bạn Thụy Điển nháy mắt với nhau và bật cười sảng khoái. Inger túm cánh tay tôi nói, “Ông bạn thân mến! Ông không hiểu chúng tôi đang nói gì ư? Đây là tương lai rồi. Đây là mái ấm của chúng tôi.... trong sáu tháng mỗi năm.”

“Ai chu cấp cho các bạn?”

Rolf vẫy vẫy ngón tay trước mũi tôi. “Ông Fairbanks, ông không hiểu hết vấn đề rồi.” Anh mở một chai soda cam, rót cho tôi nửa cốc còn giữ cả chai cho minh. “Hai tuần nữa Inger và tôi sẽ bay về Stockholm. Chúng tôi không mang theo hashish hay thuốc keef. Trong mấy cái va li đằng kia chúng tôi để toàn quần áo bình thường, và trước khi đi chúng tôi sẽ cắt tóc gọn gàng hơn. Ra khỏi sân bay Stockholm, chúng tôi sẽ bắt xe buýt về một căn hộ giống y hệt hàng nghìn căn hộ khác, và nếu gặp chúng tôi sau ngày chúng tôi về nước, ông sẽ không thể phân biệt được chúng tôi với hàng triệu người tương tự khác. Buổi trưa ngày đầu tiên ấy, Inger sẽ bắt đầu thăm thú các vườn trẻ, và thường là chỉ sau ba nơi, cô ấy sẽ nhận được một công việc tốt với đồng lương hậu hĩ. Cô ấy là một giáo viên giỏi rất được hoan nghênh.”

Inger ngắt lời để mời tôi hút chung điếu thuốc nhưng tôi từ chối, vì vậy cô rít mấy hơi rồi nói, “Ngay sau khi hạ cánh, anh Rolf sẽ trình diện tại gần như bất cứ bệnh viện tâm thần nào, và người ta sẽ vô cùng mừng rỡ vì đã tìm thấy người có thể đảm đương công việc - một người đến nhận việc một cách đáng tin cậy - đến mức anh ấy sẽ kiếm được một công việc tốt còn nhanh hơn tôi.”

“Trong sáu tháng chúng tôi làm việc rất cần cù,” Rolf giải thích.

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó thì chúng tôi xin thôi việc.”

“Đơn giản thế sao?”

“Tất nhiên. Đã đến lúc đi Marrakech. Cuộc sống thực của chúng tôi là ở dưới này và chúng tôi đã dành dụm được đủ tiền bạc để xoay xở. Vậy là Inger xin thôi việc ở vườn trẻ còn tôi xin thôi việc ở bệnh viện tâm thần, và chúng tôi lên đường.”

“Và không có vấn đề gì khi các bạn trở về sao?”

“Tôi đã nói với ông rồi. Trong vòng hai hay ba tiếng sau khi xuống mặt đất, chúng tôi sẽ lại kiếm được việc làm tốt.” Anh với điếu thuốc của Inger, hút vài hơi và trả lại cô. “Đây là một thế giới mới. Ông xem Inger đấy. Ông không thấy cô ấy thực sự rất có năng lực ư? Ông không nghĩ là nếu muốn bon chen trong ngành giáo, chẳng mấy chốc cô ấy sẽ có thể trở thành hiệu trưởng sao? Lúc nào mà chẳng có chỗ dành sẵn cho Inger. Và ông biết tại sao không? Chủ yếu là vì cô ấy tìm thấy được sự hài lòng trong khi người khác thì không. Cô ấy không thích đấu đá. Cô ấy không hay gây gổ. Cô ấy đích thực là một con người tốt đẹp. Nếu cô ấy sang Mỹ thì chỉ trong một ngày sẽ kiếm được công việc có lương cao.”

“Nhưng tôi không bao giờ làm quá sáu tháng một năm,” Inger nói. “Sau đó sẽ phải quay lại Marrakech... để sống thực sự.”

“Cô thấy nó đáng hài lòng đến thế ư?”

“Chẳng lẽ ông lại không?” cô hỏi.

Tôi im lặng một lúc lâu không thể trả lời được vì còn đang cố xét đoán cuộc sống khó hiểu này trong hoàn cảnh riêng của nó - quảng trường Djemaá, tình bè bạn, trạng thái thảnh thơi mà lớp trẻ tìm thấy trong cần sa, thái độ thờ ơ rộng lượng của người địa phương, cảm giác ngưng đọng của cuộc sống thực dưới tác động của ma túy, môi trường Nghìn lẻ một đêm, những cuộc chuyện trò không dứt, âm nhạc, sự vô trách nhiệm - và tôi phải thú nhận nó có sức cám dỗ; nhưng dù cám dỗ đi nữa, tôi vẫn phải cân nhắc những sự hài lòng mang tính bền vững của thế giới kia, nơi tôi tìm thấy rất nhiều vui thú trong công việc vất vả, trong những thắng lợi phải đua tranh mới có được, các viện bảo tàng nghệ thuật, các tòa nhà cao tầng thiết kế đẹp, các bản giao hưởng của Beethoven, và những ngôi nhà với lũ trẻ ngày một lớn khôn. Cuối cùng tôi cũng trả lời, “Nó cũng có thể đáng hài lòng đấy... nếu là một kỳ nghỉ.”

“Thế đủ rồi!” Rolf reo. “Chỉ cần ông công nhận thế là được rồi. Nó có giá trị nếu là một kỳ nghỉ. Ông thấy không, sự khác nhau giữa chúng ta chỉ nằm ở độ dài của thời gian nghỉ. Inger và tôi kiên quyết rằng kỳ nghỉ phải kéo dài ít nhất sáu tháng, công việc không quá sáu tháng.”

“Ở Stockholm chúng tôi làm việc vất vả,” Inger khẳng định với tôi, và tôi có thể tin cô. “Anh Rolf thường đứng ra nhận những phòng khó khăn nhất trong bệnh viện tâm thần và giải quyết gọn ghẽ mọi vấn đề. Anh ấy mà là giám đốc thì sẽ tuyệt vời lắm đấy. Vì vậy chúng tôi không mang công mắc nợ gì trong xã hội. Nhưng chúng tôi đòi hỏi ở xã hội một cuộc sống tốt đẹp hơn cuộc sống của cha mẹ chúng tôi.”

“Chúng tôi đã tính chuyện chia một năm ra thành năm tháng làm việc, bảy tháng nghỉ ngơi,” Rolf nói, “nhưng ông sẽ hiểu lý do chúng tôi không làm như vậy. Inger nhận thấy trong năm tháng thì cô ấy không thể rèn giũa bọn trẻ được. Tôi thấy mình không thể thu xếp gọn ghẽ mọi việc trong phòng bệnh nếu không có ít nhất sáu tháng. Mà chúng tôi thì lại thích làm việc gì cũng đến nơi đến chốn.”

“Thế còn con cái?” tôi hỏi.

“Chúng tôi có một bé gái,” Inger đáp và chuyển điếu thuốc cho Rolf. “Khi chúng tôi về, cháu rất vui vì được ở với cha mẹ. Khi chúng tôi ở dưới này, cháu lại rất hài lòng được ở với bà.”

Rolf nói, “Quá trình trưởng thành của cháu phần nào còn tốt đẹp hơn so với bọn trẻ xung quanh,” và Inger tiếp lời, “Ông đừng ngạc nhiên như vậy, ông Fairbanks. Ở Israel hàng nghìn trẻ em được nuôi dạy trong khu định cư kibbut. Và có vẻ như chúng trưởng thành tốt hơn những trẻ được nuôi dạy theo cách truyền thống. Trong thế hệ tiếp theo, việc đó sẽ trở thành tiêu chuẩn trên khắp thế giới. Gia đình đã được đánh giá quá cao.”

“Các bạn sẽ kết hôn chứ?” tôi hỏi.

Rolf nhún vai. “Tôi đã đề nghị một vài lần... không kiên quyết lắm. Inger bảo cô ấy đã có mọi đứa trẻ mà cô ấy mong muốn rồi. Vả lại, khi người ta làm việc trong bệnh viện tâm thần, hôn nhân hình như có phần kém hấp dẫn hơn hồi người ta hai mươi tuổi và tràn đầy hy vọng.”

“Tôi không tin là chúng tôi sẽ cần đến hôn nhân,” Inger nói, thổi lọn tóc mai màu đen cho khỏi vướng mắt. “Tất nhiên, chúng tôi không biết mình sẽ cảm thấy như thế nào khi bốn mươi tuổi.”

“Thế còn con gái các bạn thì sao?”

“Ý ông là... liệu việc chúng tôi không cưới nhau có ảnh hưởng bất lợi đến cháu không? Việc chúng tôi không cưới nhau sẽ chỉ gây ra hậu quả tai hại trong trường hợp cháu muốn lấy con trai của một gia đình trung lưu truyền thống, nhưng dù thế nào chăng nữa chúng tôi cũng sẽ làm hết khả năng để ngăn ngừa chuyện đó, và có vẻ như việc chúng tôi không cưới nhau là một phương sách hữu hiệu.”

Rồi một ý nghĩ mới nảy ra trong đầu tôi. “Điều các bạn đang làm là hy vọng rằng cái hệ thống kinh tế do những người như tôi tổ chức và duy trì sẽ đủ độ mềm dẻo - đủ độ vững chắc cũng được, tùy các bạn - để cho phép các bạn lọt vào dựa trên điều kiện của mình, vớ được một ít tiền, và trở lại kỳ nghỉ sáu tháng? Nói cách khác, các bạn sống được là nhờ chúng tôi chi tiền?”

“Đúng thế,” Rolf công nhận. “Với sự đính chính này. Hệ thống đó tồn tại chủ yếu vì lợi ích của các ông. Các ông không vận hành hệ thống đó vì chúng tôi. Các ông vận hành nó vì bản thân các ông. Nhưng để hệ thống đó tiếp tục hoạt động, các ông cần chúng tôi làm việc và tiêu dùng. Các ông cần chúng tôi không kém gì chúng tôi cần các ông. Và cái giá mà các ông sẽ phải trả cho chúng tôi trong tương lai là tiền lương một năm cho sáu tháng làm việc.”

“Và triển vọng về một công việc bảo đảm mỗi lần các bạn về nước nữa chứ?”

“Tất nhiên. Nhưng không phải vì lợi ích của chúng tôi. Mà vì lợi ích của các ông. Khi tôi giải quyết ổn thỏa tình trạng rối ren ở bệnh viện tâm thần - và tôi làm việc cật lực vì đồng tiền các ông trả công - tôi cơ bản không làm vì bản thân mình. Tôi làm việc đó vì các ông - để giữ cho hệ thống của các ông hoạt động.”

“Chẳng lẽ đó không phải là hệ thống của mọi người? Nó có thể chu cấp cho bao nhiêu đôi như các bạn... dựa trên một nửa sản lượng?”

“Hiển nhiên là nó có thể chu cấp cho chúng tôi rồi,” Rolf đáp, “và chúng tôi không quan tâm đến người khác.”

“Tại sao các bạn không đóng góp suốt cả năm?” tôi chất vấn, phần nào bực bội.

“Bởi vì một đợt làm việc cho người khác mà như thế thì quá lâu.”

“Tại sao các bạn không coi đó là việc của mình?”

“Điều ông thực sự muốn nói là, ‘Các bạn không quan tâm đến thăng tiến và đồng lương cao hơn sao?’ Inger sẽ không thấy thỏa mãn vì được làm hiệu trưởng. Tôi cũng vậy với chức giám đốc bệnh viện tâm thần. Cái kiểu hài lòng về sự nghiệp ấy, chúng tôi đã loại ra khỏi đầu rồi, hàng triệu người khác cũng vậy. Còn về tiền nong, chúng tôi thật tình không muốn có nhiều hơn.”

“Có phải cần sa tiêu mòn nghị lực của các bạn không?” tôi hỏi.

“Ở Stockholm chúng tôi không bao giờ đụng đến nó. Cảnh sát khiến nó trở thành chuyện quá mạo hiểm... trong lúc này. Vì vậy để có đủ tư cách làm việc trong hệ thống của các ông, chúng tôi phải trả giá bằng sự nhịn hút. Cũng chẳng khó khăn lắm.”

Inger nói, “Ông đừng nghĩ là cứ sau sáu tháng, vừa xuống máy bay ở Marrakech là chúng tôi hộc tốc chạy đến quảng trường Djemaá, ‘Cho tôi ít keef nào, nhanh lên!’”

“Điều chúng tôi làm,” Rolf nói, “là điều mà bất cứ người nhạy cảm nào cũng sẽ làm. Chúng tôi nhìn vào cái kính vạn hoa đó... rồi chúng tôi nghe thấy thằng Jemail hét oang oang ở cổng chợ... và chúng tôi thấy Big Loomis lạch bạch đi đến... nước mắt chúng tôi ứa ra... rồi chúng tôi đi qua bao nhiêu ngõ ngách đến khách sạn này... rồi Léon nói, ‘Phòng của anh chị đã sẵn sàng,’ vậy là sau khi hành lý đã được dỡ ra, các bạn trẻ đã ghé vào đón chào chúng tôi trở lại và chúng tôi đã đọc xong thư từ, chúng tôi đi sai thằng Jemail đi kiếm một ít cần sa thượng hạng để cuốn một điếu, rồi trong lúc chuyền tay nhau điếu thuốc, chúng tôi sẽ tự nhủ, ‘Chúng ta đã được về nhà rồi.’ Đây là thực tại. Stockholm là nơi chúng tôi đến lưu đày để giúp các ông điều hành các bệnh viện tâm thần.”

Trời đã sắp sáng. Trong lúc điếu thuốc cuối cùng được trao đi trao lại giữa hai người, tôi hỏi, “Nhưng chẳng phải nó làm mòn mỏi sức lực của các bạn sao?”

“Chính cuộc sống mới làm thế,” Inger đáp.

“Tức là các bạn công nhận sức lực bị mòn mỏi?”

“Đúng. Tôi không thể coi trọng chiến tranh, sự thăng tiến, thu nhập cao hay một ngôi nhà rộng rãi được nữa. Tôi bác bỏ đế quốc, Việt Nam và việc đưa con người lên mặt trăng. Tôi không chấp nhận cách mua trả góp hay việc mình trông giống cô nàng hoàn hảo, không tán thành đám cưới ở nhà thờ và rất nhiều điều khác nữa. Nếu muốn đổ tội cho cần sa về những gì tôi không chấp nhận, ông có thể làm như vậy. Tôi thì lại cho đó là sự tỉnh ngộ.”

—★—

Sau khi bỏ Cato, Monica ở một mình một thời gian, nhưng cô quá yếu nên cần phải có người trông nom, vì vậy, sau khi Cato và tôi cầu khẩn mãi, Big Loomis đã đồng ý đưa cô lên tầng của ông ta với hy vọng có thể sớm thuyết phục cô cai heroin, và ban đầu ông ta cũng làm cho mọi việc ít nhiều tiến triển, tuy nhiên hễ lén tiêm được một liều do thằng Jemail cung cấp, cô liền cảm thấy phấn chấn và sẽ đứng trên ban công mà trút xuống giếng trời những lời buộc tội tục tĩu nhằm vào người đàn ông to béo, thường kết thúc bằng lời tố cáo ông ta và Cato đã ngủ với nhau.

Bất chấp lời buộc tội này, hai người đàn ông da đen vẫn xích lại gần nhau hơn. Lúc đầu Cato rất cảnh giác với người đàn ông Texas cao lớn mà tư tưởng không thể hiện tí thù địch chủng tộc nào vốn là động lực thúc đẩy người da đen ở Philadelphia, thậm chí còn nghi ngờ ông ta là một bác Tom[138]. Nhưng khi đã hiểu ông ta hơn, anh nhận ra rằng, nhờ những thành tích đáng kể trong môn bóng bầu dục, Loomis đã đạt được một điều mà nhiều người da đen không có: cảm giác hài lòng về thành quả của bản thân. Loomis biết mình không thua kém bất cứ người da trắng nào ở Texas, và bằng chứng là ông ta đã nhận được lời chào mời từ đội bóng Los Angeles Rams. Ông ta tin chắc rằng nếu quay về Hoa Kỳ và kiếm được tấm bằng bác sĩ, ông ta sẽ là một chuyên gia tâm thần học giỏi như bất cứ người da trắng nào ở New York, có khi còn giỏi hơn vì ông có nhiều kinh nghiệm về con người hơn.

Vì vậy Cato dần dần phát triển một thứ lòng kính trọng pha chút cảnh giác đối với Big Loomis và muốn tỏ ra thân thiện hơn, nhưng lại không làm gì để xúc tiến việc đó, sợ rằng người đàn ông Texas sẽ chế giễu nỗi ám ảnh mà anh đã mắc phải ở Philadelphia. Mà nay Monica đã quay lưng lại với anh, anh cảm thấy cô đơn tuyệt vọng, không thể chấp nhận sự an ủi của bất cứ người da trắng nào anh quen. Bởi vậy anh ngày càng rơi vào vòng ảnh hưởng của người đàn ông to béo và thường hay leo lên tầng trên cùng để nói chuyện với Loomis. Anh kinh ngạc trước sự kiên định và khả năng nhìn xa trông rộng của người đàn ông đó.

“Ở Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, sống sót là một trò chơi,” Loomis tranh luận, “và bất cứ chàng trai khôn ngoan nào cũng có thể chiến thắng.”

“Nhưng ta phải chơi theo luật của người da trắng.”

“Chà, người da trắng cũng phải đối diện vô khối vấn đề,” Loomis bật cười. “Cậu tưởng họ không bị áp lực nào chỉ vì là da trắng ư? Cậu đã thấy người da đen nào trên tầng này tự giết mình bằng heroin chưa?”

Rồi chẳng sớm thì muộn, thế nào Cato cũng lái cuộc bàn luận sang đề tài Monica. “Chúng ta có thể làm gì cho cô ấy được?” - có lần anh đã hỏi như vậy sau khi cô tỏ ra kích động hơn thường ngày.

“Cậu yêu cô ấy, phải không?”

“Không phải theo cách đó, không còn như vậy nữa. Cô ấy rất để ý tránh chuyện đó... thế lại hay. Nhưng cô ấy đáng được cứu giúp, Loomis ạ.

“Cậu bắt đầu tỏ ra thông minh rồi đấy, chàng trai,” tay cầu thủ bóng bầu dục to béo nói. “Bí quyết của cuộc sống thật ra là yêu thương... và không phải chỉ khi ai đó đáp lại tình cảm của mình, mà ngay cả khi không có lý do rõ ràng nào. Đó là lúc cậu trưởng thành đấy. Chúng ta sẽ nghĩ ra cách nào đó để cứu cô gái bị tổn thương này.”

Trên đường xuống cầu thang, Cato tình cờ gặp Holt. “Tôi đến tìm Gretchen,” Holt nói. Cato chỉ gật đầu và tiếp tục đi xuống.

Holt đi tiếp lên phòng Gretchen, nhưng cô đi vắng. Đang nằm ở giường, trên người chỉ có mỗi chiếc quần Levis bó sát, Joe mắt nhắm mắt mở nhìn ra khi Holt vào phòng và hỏi, “Việc gì thế?”

“Britta và tôi sẽ bay tiếp đến Ratmalana,” Holt đáp, “và trước khi chúng tôi đi, tôi đại khái muốn... ừm... tôi sẽ rất tiếc nếu mình ở gần Casablanca như vậy rồi mà không được đến thăm.”

“Chán kinh hồn,” Joe nói. “Đại khái giống Pittsburgh.”

Holt hắng giọng, nhìn xuống giày và nói, “Thế đấy, ở gần nơi Humphrey Bogart cứu Ingrid Bergman đến như vậy...”

“Ông đang nói về chuyện gì thế?” Joe hỏi.

“Anh biết đấy... ca khúc tuyệt vời đó... ‘As Time Goes By.’ Tôi muốn xem nơi Claude Rains đặt văn phòng... Peter Lorre... mọi thứ...”

Cuối cùng cũng hiểu là Holt đang nhắc đến một trong các bộ phim xưa, một bộ phim chắc chắn được sản xuất trước khi Joe ra đời, anh bèn hỏi, “Ông đang nói đến một bộ phim?” và Holt đáp, “Chúng ta đã bàn về nó hỏi ở Pamplona,” vậy là Joe nói, “Hồi ở Pamplona chúng ta đã bàn rất nhiều chuyện về thành phố cổ ấy. Một trong những bộ phim ông thích được quay ở Casablanca sao?” và khi Holt trả lời, “Đó là tên bộ phim. Anh chưa bao giờ xem ư?” Joe tuyên bố, “Tôi ít khi đi xem phim lắm.” Họ nghe thấy tiếng chân Gretchen lên cầu thang, Joe gọi, “Ông Holt đến gặp em đấy,” nhưng khi cô vào phòng, Holt không muốn phải bối rối thêm nên không bàn tiếp về bộ phim nữa, tuy nhiên Joe lại nói luôn, “Ông Holt muốn đi Casablanca,” vậy là Gretchen reo lên, “Tất nhiên rồi! Đó là nơi quay bộ phim nổi tiếng của Bogart. Hồi ở Pamplona ông đã nói với chúng tôi là ông thích phim đó. Ông có muốn mượn chiếc pop-top không?”

“Có, nhưng chúng tôi muốn cô và Joe đi cùng. Ông Fairbanks đang chờ ở khách sạn.”

Joe tuyên bố nếu người ta đã đến Casablanca một lần rồi, chẳng có lý do gì để quay lại đó nữa, tuy nhiên Gretchen nói cô rất muốn chiêm ngưỡng vùng đồng bằng Marốc và nhất định bắt Joe đi cùng, nhưng khi sắp rời khỏi khách sạn để ra chiếc pop-top, họ gặp Cato đang đứng ở chân cầu thang, trông như người mất hồn, vậy là Gretchen chạy đến nắm tay anh nói, “Anh phải đi cùng chúng em.”

Cato đi, nhưng Britta thì không. Đến phút chót cô quyết định ở lại khách sạn Bordeaux, vì rằng, “Em không nghĩ nên để Monica một mình,” và cô đã ở lại trông nom bạn. Vì vậy chuyến đi của chúng tôi gồm bốn người đàn ông cùng Gretchen, tất cả đều đồng ý rằng Casablanca đúng là chán thật, chẳng có không khí nhộn nhịp vốn là đặc điểm nổi bật của Marrakech, cũng không toát lên vẻ bí hiểm từng khiến bộ phim trở nên nổi tiếng như vậy. Holt nói, “Đôi khi nó cũng giúp cho người ta thấy được thực tế,” và đãi chúng tôi món couscous[139] ngon lành, sau đó chúng tôi chuẩn bị lên đường về Marrakech.

Nhưng tôi đề xuất, “Dù sao cũng đã đi xa như vậy rồi, ta hãy quay về qua ngả Meknès,” và đối với nhóm bạn thích phiêu lưu này, thuyết phục thêm nữa thật không cần thiết. Tôi gợi ý Meknès vì tôi muốn Cato đến thăm thành phố huy hoàng đã được vị vua Marốc lỗi lạc Moulay Ismail xây dựng lại hồi cuối thế kỷ XVI và cho đến nay vẫn vẹn nguyên dáng vẻ ấy. Tôi đặc biệt muốn Cato tìm hiểu về Moulay Ismail.

Nhưng trên đường đến Meknès đã xảy ra một sự sao lãng mà tôi không lường trước được. Lúc chúng tôi đang băng qua những cánh đồng giờ đều cằn cỗi và bị bỏ hoang, Joe bỗng dừng xe ra quan sát một phế tích bình thường nào đó vẫn đang một mình chống chọi với thời tiết dễ cả hàng trăm năm. Anh đá đá giày, kiểm tra xem các tảng đá gắn kết như thế nào, rồi quỳ xuống bóp vụn một ít đất trong lòng bàn tay. Anh hỏi, “Có thật là những sa mạc Bắc Phi mà chúng ta nhìn thấy bây giờ đã từng có thời là vườn tược và ruộng lúa mì của La Mã?”

“Chắc chắn vậy,” tôi đáp.

“Chuyện gì đã xảy ra?”

“Từng nghe nói đến Leptis Magna chưa? Trên mạn bờ biển ấy?” Anh nói là chưa, vì vậy tôi bảo, “Một lúc nào đó cậu nên đi xem. Không thì đi sâu vào vùng đồi của Libi ở Germa.”

“Mình sẽ thấy gì ở đó?”

“Những thành phố rộng mênh mông từng kiểm soát các vùng đất thuộc hàng màu mỡ nhất thế giới. Bây giờ thì đã thành sa mạc.”

“Thay đổi khí hậu? Lượng mưa chăng?”

“Chúng tôi cho rằng nguyên nhân là vì con người đã quá lạm dụng đất đai. Tàn phá một trong những vùng nông nghiệp màu mỡ nhất mà La Mã từng sở hữu.”

Joe nấn ná giữa cảnh hoang tàn đó một lúc, đứng nhìn quanh như thể đang cố hình dung xem mảnh đất châu Phi này những ngày xưa huy hoàng trông ra sao. Khi quay lại xe, anh hỏi, “Tên nơi ấy là gì vậy?” và tôi nói cho anh biết, “Leptis Magna. Cậu mà đến đó rồi thì sẽ không bao giờ quên.”

Khi chúng tôi đi vào tâm cảnh quan của Meknès, tôi bảo Joe dừng xe một lúc để tôi có thể chỉ cho Cato một thứ: “Cậu nhìn những bức tường đồ sộ kia. Chúng che khuất một trong những thành phố đặc biệt nhất từng được xây lên bởi một con người. Tất nhiên, trước đó có sẵn một thành phố rồi, nhưng người này đã phá bỏ phần lớn và xây mới từ đầu. Ông tiến hành công việc trong khoảng năm mươi năm, cuối cùng làm nên được một tác phẩm nghệ thuật.”

Chúng tôi đi vòng quanh tường thành một lúc để các bạn đồng hành của tôi có thể chiêm ngưỡng tác phẩm vĩ đại mà Moulay Ismail đã nỗ lực thực hiện. Rồi chúng tôi bước vào một cái cổng uy nghi nhiều mái vòm, xuyên qua những khu vườn và băng qua những tòa lâu đài gần như dài vô tận, sau đó chúng tôi dừng xe và bắt đầu thả bộ qua khu chợ, trước mắt là vô vàn bằng chứng cho thấy khát khao xây dựng hoang đường của Moulay Ismail.

Tại một quán cà phê trông xuống một trong những công trình lớn nhất của ông, một tổ hợp lâu đài, tòa nào tòa nấy rộng rãi đến mức đủ chỗ cho hết thảy các hoàng tộc châu Âu, chúng tôi tìm được một bàn, và trong lúc cả đoàn ngồi uống rượu vang, tôi nói, “Ông ta là người tàn ác nhất trong lịch sử châu Phi.” Gretchen hỏi ông ta là mẫu nhân vật cầm quyền nào, và tôi đáp, “Khá giỏi. Ông ta có hơn trăm bà vợ, từng xin vua Louis XIV của Pháp cho cưới một trong những người con gái của ngài. Ông ta trị vì với sự khắc nghiệt khủng khiếp và có bằng chứng đáng tin cậy cho thấy ông ta đã tự tay giết hơn ba mươi nghìn nô lệ. Theo những ghi chép đương thời, hàng ngày ông ta đều đích thân giám sát các công trình xây dựng, và nếu phát hiện dù là một sai sót hay chậm trễ vặt vãnh nhất, ông cũng sẽ đích thân lôi kẻ phạm lỗi ra một chỗ, rồi tay trái túm tóc kéo giật đầu người này ra phía sau, tay phải ông ta rạch họng hắn. Hơn ba mươi nghìn... tất cả đều da đen.”

Trong lúc nói tất cả những điều đó, tôi để ý quan sát nét mặt Cato, nhưng anh không tỏ vẻ gì là đang lắng nghe.

Gretchen tiếp tục cuộc bàn luận: “Cháu đang đọc cuốn sách của một tác giả Scotland nói về Bou Hamara. Ông này hoạt động ở Meknès khoảng năm 1908. Lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống chính quyền, vì vậy bị quẳng vào chuồng sư tử, nhưng chỉ bị chúng ăn mất một cánh tay. Vì vậy ông ta bị cho vào lồng sắt kéo đi khắp đất nước cho đến khi chết. Ông ta đã lôi kéo được những người ủng hộ mình nhờ một trò phép thuật bịp bợm từng khiến ông ta nổi tiếng khắp Marốc - nói chuyện với người chết. Vào sáng sớm - các bạn nhớ cho là năm 1908 nhé - ông ta sẽ chôn sống một nô lệ và để lại một cái ống cắm xuyên qua đất cho người đó thở được. Rồi đến trưa, khi đám đông đã tập trung lại, ông ta tuyên bố mình có thể nói chuyện với người chết, rồi đứng gần cái ống thở và hỏi hết câu này đến câu khác, để người nô lệ bị chôn trả lời. Sau tám hay mười phút khiến đám đông kinh ngạc bởi những câu trả lời rõ ràng rành mạch bằng giọng của người đàn ông kia, Bou Hamara sẽ di gót giày vào ống thở và vùi nó luôn. Tất nhiên, người nô lệ sẽ chết ngạt, và sau một giờ, khi biết chắc kẻ kia đã chết hẳn, Bou Hamara sẽ giấu biến cái ống đi rồi mời khán giả đào cái xác lên. Ông ta đã thực hiện trò lừa đảo đó hơn năm trăm lần.”

“Và tất nhiên, những nô lệ ấy đều là người da đen phải không?” tôi gợi ý.

“Cuốn sách nói như vậy.”

“Mẹ kiếp, Gretchen, em lúc nào cũng ném lịch sử vào mặt anh,” cuối cùng Cato cũng phải thốt lên. “Em đang cố chứng minh điều gì mới được chứ?”

“Người Mỹ da đen đang đưa ra một số kết luận lịch sử về đạo Hồi,” cô đáp. “Em nghĩ anh nên biết vị trí truyền thống của người da đen trong đạo Hồi là gì.”

“Một mớ chuyện hư cấu,” anh khịt mũi. “Ba mươi nghìn người bị một người giết. Năm trăm người bị một người khác chôn sống. Chuyện ma chuyện quỷ.”

“Đúng là cách diễn đạt chính xác đấy,” tôi nói. “Thành phố này toàn ma quỷ ngự trị - hàng nghìn hàng vạn con mà tôi hãy còn chưa nói đến. Một tỷ lệ rất lớn trong số đó là nô lệ, và họ đều da đen.”

“Tại sao ông nói với tôi chuyện này?” Cato bực bội quát lên. “Ông dàn dựng vụ này vì muốn tốt cho tôi hả?”

“Chuyến đi Casablanca là ý tưởng của Holt. Nhưng tôi đã nghĩ bụng: nếu mất công đi xa đến thế chẳng để thấy được điều gì, chúng ta hoàn toàn có thể đi xa thêm chút nữa để thấy được cái gì đó.”

“Và ông nhất định muốn tôi thấy cái đó?”

“Đúng vậy. Từ hỏi còn ở Moçambique, tôi đã nghe thấy cậu tuôn ra không biết bao nhiêu điều vô nghĩa về mối quan hệ lịch sử giữa đạo Hồi và người da đen. Cậu nên xem xét cẩn thận thực chất mối quan hệ đó.”

“Tôi vẫn đang xem xét đây,” Cato nói khẽ, “và tôi luôn có cảm giác là bọn tôi sẽ có tương lai nhờ đạo Hồi. Với đạo Cơ đốc thì không.”

Tôi chỉ vào những bức tường sừng sững và các công trình kiến trúc của Meknès, đề nghị anh thử dựng lại những gì đã thực sự xảy ra trong năm mươi năm Moulay Ismail trị vì: những vụ tra tấn, đời nô lệ chỉ chấm dứt bằng cái chết, sự tàn ác, đói khát, xác người còn ấm nóng bị Moulay Ismail quăng vào những bức tường đang mọc lên khắp nơi nơi, nỗi thống khổ vĩnh viễn của nô lệ thời đó, nhưng cuối cùng anh vẫn cố chấp nói, “Ở Hoa Kỳ cũng thế thôi,” tôi đành bảo, “Nếu nghĩ như vậy, cậu đúng là thằng ngốc.”

Cuộc chuyện trò kết thúc ở đó. Cato mua nước mời tôi và chúng tôi chuyện phiếm một lúc cho đến khi anh phá tan bầu không khí ấy bằng cách đưa chúng tôi trở lại với đề tài vẫn đang lấn cấn trong tâm trí mọi người: “Chúng ta đã nói nhiều lần rồi. Nhưng bây giờ thì không trì hoãn thêm được nữa - chúng ta phải quyết liệt về Monica mới được.” Harvey, vốn không hề tham gia vào cuộc trò chuyện lúc trước, giờ lên tiếng, “Tôi nghĩ cô ấy phải vào bệnh viện... ngay lập tức,” và Cato nói, “Tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng các bạn có thử tranh luận với cô ấy...” Giọng anh tắt dần và tôi có thể nhìn thấy anh đang bặm môi. Chắc hẳn Gretchen cũng nhận thấy điều đó vì cô vươn người qua bàn hôn lên má anh. “Ngay sau khi về Marrakech, chúng ta sẽ đưa cô ấy đến bệnh viện.”

Holt nói, “Britta rất tinh tế trong những vấn đề như vậy. Hôm qua cô ấy đã tìm được một bệnh viện. Vì thế cô ấy mới muốn ở lại với Monica.” Anh ngập ngừng, rồi nói tiếp, “Britta là cô gái rất mạnh mẽ.” Và rồi, vì một lý do nào đó không thể giải thích nổi, tôi nói, “Sáng nay, khi nhìn thấy Monica hét xuống cầu thang, tôi có cảm giác rất lạ rằng cô ấy có thể là một trong các thiếu nữ Đức hay Pháp hồi thế kỷ mười ba, những người đã tham gia đoàn Thập tự chinh Thiếu nhi chỉ để rồi cuối cùng bị biến thành nô lệ ở Meknès, hay Marrakech... không ngừng bị lạm dụng tình dục... chết ở tuổi mười tám hay mười chín.”

Gretchen hỏi rất khẽ, “Ông nói sao?”

“Tôi đang nghĩ đến những thanh niên mọi thế kỷ mà số phận định là phải chết ở Marrakech.”

Gretchen đứng lên, rời khỏi bàn, bước đến bức tường vĩ đại đã được xây lên bằng nỗi thống khổ của không biết bao nhiêu số phận, rồi tựa lưng vào đó, lòng bàn tay xòe rộng áp trên mặt đá. Nhìn thẳng vào chúng tôi, cô hỏi bằng giọng phấn khích, “Ông nói là những đứa trẻ tham gia cuộc Thập tự chinh đã đến tận đây ư?”

“Cô phải biết câu chuyện ấy chứ. Đoàn Thập tự chinh đến Marseilles, được các thuyền trưởng Cơ đốc giáo cho lên tàu, nghe họ hứa hẹn sẽ đưa chúng đến Đất Thánh...”

“Cháu biết. Và bán chúng cho người Moor làm nô lệ. Ý ông là chúng đi xa xuống phía Nam thế ư?”

“Thế cô tưởng chúng bị bán đi đâu? Algeria và Marốc... rất nhiều chuyến tàu... chúng bị trói với nhau thành đoàn và đi bộ về phương Nam đến các khu chợ đông đúc. Chắc hẳn nhiều đứa đã chết ngay ở đây và ở Marrakech. Cả con trai lẫn con gái đều bị bán làm điếm và chẳng mấy đứa sống được đến hai mươi tuổi.”

Holt nói, “Rất nhiều cuộc thập tự chinh đã kết thúc như vậy.”

Vẫn đứng sát vào tường, Gretchen nói, “Đây chính là thứ cháu đang tìm kiếm... Bồ Đào Nha... Pamplona... Moçambique. Đây chính là ý tưởng mà cháu đã nghĩ mãi không ra. Tất nhiên rồi! Đoàn Thập tự chinh Thiếu nhi! Từ trước đến giờ nó vẫn ở ngay đây - thế mà cháu không nhận thấy.” Một trong những việc có thể khiến một người đàn ông qua tuổi sáu mươi cảm thấy phấn khích nhất chính là được chứng kiến một thanh niên tài năng và cá tính tình cờ tìm được một khái niệm đủ lớn để khiến anh ta bận rộn trong suốt cuộc thử sức đầy say mê đầu tiên. Những thời khắc như vậy là những khối kiến trúc tạo dựng nên ý nghĩa. Giờ tôi đang được quan sát phản ứng của Gretchen trước sự lóe sáng đột ngột của một ý tưởng mà những phân nhánh của nó rộng lớn đến độ bao hàm hết những suy nghĩ lộn xộn mà cô nuôi dưỡng trong tâm trí; rất có thể chỉ trong vài phút đứng tựa lưng vào bức tường của Moulay Ismail, cô đã hình dung ra toàn bộ cấu trúc của cuốn sách khác thường mà cô sắp viết. Tôi tin chắc cô đã thấy các mối quan hệ qua lại của nó, tầm quan trọng của nó đối với thời đại chúng tôi, ý nghĩa lớn lao của nó đối với lớp trẻ của đất nước chúng tôi. Bởi vì trẻ em thế hệ nào cũng đều tham gia cuộc thập tự chinh của chính mình; chỉ có ngọn cờ là thay đổi.

Lẽ ra chúng tôi đã bắt đầu quay về, nhưng Gretchen và Cato lại muốn lang thang qua các khu chợ Meknès, và trên đường thăm thú chúng tôi thường bắt gặp chứng tích của thành phố rộng lớn mà Moulay Ismail đã xây, và qua các bức tường đá cùng những người dân thường hai bạn trẻ tìm thấy mọi bằng chứng cần thiết cho những khái niệm đang được họ xây dựng. Chẳng hạn, rất có thể chỉ do một phút tùy hứng thuần túy mà Cato dừng lại trước cửa hàng của một người bán mũ; nhưng có lẽ đúng hơn đấy là bước tiếp theo đầy logic cho một mô hình song chắc chắn đang phát triển dù chưa hoạch định. Dù thế nào đi chăng nữa, anh cũng đã rủ Gretchen vào cửa hàng và nghe theo lời khuyên của cô mà chọn cái mũ fez đỏ rồi sẽ trở thành thương hiệu của anh ở Philadelphia và miền Đông. Lần đầu tiên đội mũ fez, anh dẫn chúng tôi xuyên qua một mê cung ngõ ngách, lặng lẽ bước đi bên cạnh Gretchen, rồi sau khi tôi đã mệt lử, họ vẫn tiếp tục quan sát và thăm thú.

Joe đi cùng Harvey, thỉnh thoảng tôi có thể nghe lõm bõm họ bàn về Việt Nam và những cách thức có thể giúp chúng ta tự giải thoát mình khỏi mớ bòng bong đó. Có vẻ như họ đã đạt được một sự thấu hiểu nhất định; Holt không còn nhất nhất cho lý lẽ của Joe là ngu ngốc nữa, còn Joe đã chịu nghe cái logic khó lay chuyển của Holt.

Thế là lê bước phía sau, bị loại khỏi cả hai cuộc nói chuyện, tôi tận dụng cơ hội ngẫm nghĩ về sáu bạn trẻ mà qua năm vừa rồi, tôi đã hiểu rất rõ. Kể từ hôm nay Gretchen đã tạm ổn; cô đã nhìn thấy phía trước những tháng năm lao động và mãn nguyện, về chuyện vấn đề tình cảm gì sẽ xảy ra do cô dính líu cả Joe lẫn Clive, không ai có thể đoán trước được, nhưng ít nhất cô cũng đã xây dựng được một nền tảng vững chắc cho sự thấu hiểu bản thân. Britta, cầu Chúa ban phước lành cho vẻ mặt chân thật của cô, thì giam mình vào một cách giải quyết mà dù đúng hay không thì ít nhất cũng làm cô thỏa mãn. Cato sắp cụ thể hóa được các khái niệm của mình, và mặc dù không tán thành nhiều điều trong đó, tôi trân trọng thực tế là đối với anh chúng không những cần thiết mà còn không tránh khỏi. Tôi hy vọng anh sẽ xử lý được chúng. Tôi đặt niềm tin lớn lao vào chàng trai Yigal nhỏ nhắn rắn rỏi và đồ rằng anh đã đưa ra quyết định đúng đắn về một vấn đề có lẽ nghiêm trọng nhất trong mọi vấn đề mà sáu bạn trẻ phải đối mặt, nhưng tôi không nghĩ mình sẽ chọn cách đó.

Joe vẫn bất ổn và không chắc chắn như lần đầu tôi gặp anh ở quán Alamo. Quan hệ tình cảm của anh với Gretchen khiến tôi có ấn tượng là chưa chín chắn, và sự thiếu khả năng của anh trong việc giải quyết vấn đề nghĩa vụ quân sự cho thấy một tính cách xa lạ với tính cách tôi, song trong ba chàng trai anh vẫn là người dễ thương nhất, mang lại cho tôi cảm giác tương đồng rõ nét nhất. Tôi cảm thấy mình như một người cha khi chợt thấy mình có ý nghĩ: mong sao anh sẽ sớm đi đến quyết định về mọi vấn đề.

Và còn Monica. Nghĩ đến cô, nhịp bước của tôi chậm dần và tôi bị tụt lại giữa khu buôn bán đông đúc; vì cô là người có cuộc sống trước đây gần gũi nhất với tôi; theo một nghĩa rất thực, cô là con gái tôi, nhưng như Cato đã phát hiện ra, tôi yêu mến cô còn theo cách khác nữa. Tôi không hề có ý đùa cợt vu vơ khi nói rằng tôi coi cô như người đại diện cho tất cả thiếu nữ châu Âu số phận bi thảm trong hàng chục thế kỷ qua đã tìm đường đến Meknès và Marrakech. Lúc này, vẫn tin cậy vào tuổi trẻ và tính kiên cường của cô, tôi rũ sạch mọi ý nghĩ sầu thảm và vội vàng len qua đám đông để vượt lên chỗ bốn người bạn đồng hành. Khi đuổi kịp họ, tôi giục, “Chúng ta nên quay về đi thì hơn,” và khi lên xe Gretchen chọn một chỗ ngồi bên cạnh tôi, thì thầm, “Cảm ơn ông.”

Tôi hỏi cô cảm ơn vì điều gì, cô trả lời, “Ông đã cho cháu chiếc chìa khóa.” Rồi cô nói với các bạn khác, “Nghe thì có vẻ nực cười thật đấy, nhưng lúc ở quán cà phê, khi ông Fairbanks nói đến đoàn ‘Thập tự chinh Thiếu nhi’, toàn bộ cuốn sách em định viết vụt hiện lên trước mắt. Chưa đầy ba giây em đã hình dung ra toàn bộ đề cương... mỗi chi tiết đều hợp lý....”

Một cuộc tranh luận bùng nổ trong chiếc pop-top về việc liệu có thể xảy ra chuyện như vậy hay không, và ý kiến của tôi là, “Chẳng có gì nực cười cả. Cô đã nghiền ngẫm về đề tài khái quát này - sẵn sàng đón nhận một ánh chớp cảm hứng như vậy. Đừng ngạc nhiên là cuối cùng nó đã đến.”

“Nhưng trong có ba giây!”

“Sẽ chỉ nực cười nếu chuyện diễn ra khi cô chưa hề thực hiện việc chuẩn bị ban đầu. Ở Bồ Đào Nha cô đã dành rất nhiều thời gian bác bỏ các cuộc Thập tự chinh. Ở Pamplona cô có vẻ như đã lãng phí thời gian với vấn đề các cuộc hành hương tôn giáo. Ở Moçambique chắc hẳn lại là một vấn đề khác nào đó. Cả mối bận tâm lâu dài của cô với ballad. Mọi cái này giúp cô có đủ tư cách đón nhận thứ tưởng chừng như một ý tưởng bất ngờ.” Chúng tôi đều đồng ý rằng những tháng năm do dự của một thanh niên sẽ không hề phí hoài nếu chúng đem lại không gian tư duy được củng cố bởi dữ liệu thích hợp, mặc dù tại thời điểm đó vài phần dữ liệu này ta có thể chưa hiểu rõ, vậy nên khi cảm hứng lóe lên trong khoảnh khắc may mắn, nó sẽ tìm thấy mồi dẫn để bùng cháy, nhưng Joe lại hỏi, “Sẽ ra sao nếu ta trôi dạt mãi, không biết thu lượm chất dẫn lửa nào bởi vì ta không biết cái gì sẽ đốt cháy mình?”

“Cậu mà cứ thế này,” Holt làu bàu, “rồi sẽ đến lúc biến thành kẻ vô công rồi nghề.”

Lúc này cuộc bàn luận lại lan man sang ý nghĩa của từ “rồi sẽ đến lúc”, và một người hỏi tôi nghĩ thế nào, vậy là tôi phát biểu, “Tôi không hiểu rõ lắm các cô gái, nhưng đối với một người đàn ông, gần như không thể bỏ phí một năm nào trước ba mươi lăm tuổi. Này nhé, nếu anh ta muốn bước vào lĩnh vực nào đó đòi hỏi phải có một thời kỳ đào tạo cao độ nhất định - chẳng hạn, ngành y hay kỹ sư - hiển nhiên nếu bỏ học năm năm, anh ta sẽ mất rất nhiều thời gian và các lợi thế liên quan, vì vậy, nếu muốn làm bác sĩ hay nhà khoa học, tốt hơn hết anh ta nên bắt đầu luôn, ngay cả khi khóa học quy định có thể khiến anh ta bị hạn hẹp tầm nhìn hay thậm chí thiếu kiến thức. Mà với mọi người khác, cũng không thể bỏ phí một năm nào cả. Lang thang khắp châu Âu có thể là điều tuyệt vời nhất một người đàn ông trẻ tuổi có thể làm nếu muốn thành luật sư giỏi. Làm việc ở một túp lều đốn gỗ có thể là con đường thực sự dẫn đến thiên hướng trở thành thầy tu. Giả sử anh muốn làm một nhà soạn kịch tài năng. Có lẽ con đường đó trải khắp Marrakech. Tôi nghĩ một người đàn ông sẽ có toàn bộ thời gian trước năm ba mươi lăm tuổi để tìm tòi.”

“Đến ba mươi thì anh ta vô công rồi nghề rồi,” Holt nói.

Một lần nữa cuộc nói chuyện lại sôi nổi hẳn lên vì Cato và Gretchen đồng ý với Holt rằng tuổi ba mươi lăm đã là quá muộn, và cuối cùng mọi người yêu cầu tôi phải chứng minh lý lẽ của mình, vậy là tôi phát biểu, “Tôi tốt nghiệp Đại học Virginia năm 1930... với điểm số khá cao và chẳng hiểu tí gì về thực tế cuộc sống cả. Ông chú tôi tài trợ một chuyến nghỉ hè ở châu Âu... coi như món quà mừng tốt nghiệp. Thế là tôi sang đó, và tất cả đều thật rối rắm. Một nhân viên ở công ty chú tôi đã xếp lịch cho tôi đi Bỉ, Ý và Tây Ban Nha, giữ tôi tránh xa London và Paris vì hai thành phố đó quá nguy hiểm. Phòng khách sạn được đăng ký sẵn, và ngoài tín dụng thư, tôi còn mang theo mấy lá thư giới thiệu gửi đích danh một số quý ngài ở Antwerp, Milan và Sevilla.”

“Tại sao lại là người ở ba thành phố đó?” Gretchen thắc mắc.

“Bởi vì họ là các chủ ngân hàng mà công ty chú tôi biết. Và chúng đã là cứu tinh cho cuộc đời tôi... các thành phố tình cờ đó.”

“Như thế nào ạ?”

“Chuyện xảy ra ở Sevilla.”

“Nghe cứ như một bài hát,” Cato nhận xét.

“Đó là một trong những tia chớp ba giây mà Gretchen vừa nói đến. Tôi đang đứng trong gian giữa nhà thờ lớn ở Sevilla, so sánh nó với những nhà thờ lớn tôi đã thấy ở Antwerp và Milan.”

“Tức là có chuyện gì?” Joe hỏi.

“Thế rồi trong một tia chớp thiên khải, tôi nhận ra mình có một khả năng mà có lẽ đa phần mọi người không có. Tôi có thể lưu giữ trong đầu một loạt dữ liệu phức tạp về ba nhà thờ lớn đó, và từ dữ liệu ấy, có thể đưa ra những đánh giá giá trị.”

“Ý ông là gì?” Joe hỏi.

“Chiều dài, chiều rộng của chúng - phép thống kê đơn thuần, vẻ đẹp trong thiết kế, chất lượng của ánh sáng - mỹ học. Vị trí của chúng trong thành phố, mối tương quan của chúng với môi trường xung quanh - phép so sánh. Bóng tối mờ mờ trải rộng của Sevilla sánh với họa tiết hình mảng của Milan sánh với bức trang trí sau bàn thờ choáng lộng ở Antwerp của họa sĩ Rubens. Tôi còn đánh giá được cả tiếng Pháp ở Antwerp, tiếng Ý ở Milan, tiếng Tây Ban Nha ở Sevilla. Nói cách khác, tôi có thể nhồi vào não mình một khối lượng dữ liệu phức tạp khổng lồ và sắp xếp lại thành một bản tóm tắt ngắn gọn. Một bản tóm tắt tạo điều kiện cho một bản đánh giá có giá trị. Trong Chiến tranh Thế giới II tôi phục vụ cho ban tham mưu của Đô đốc Halsey, suốt thời gian đó phải ra sức cân bằng những mục đích trái ngược của mình. Khi tôi gia nhập World Mutual, chẳng mấy chốc người ta đã phát hiện ra là họ có thể cử tôi đến một nơi như Marốc và đề nghị tôi tự quyết định xem có nên đầu tư vào Marrakech, Tangier hay thậm chí vượt biên giới sang Algeria không.”

“Ông lưu giữ hết dữ liệu trong đầu ư?” Joe hỏi.

“Tôi như một cái máy tính IBM vậy,” tôi đáp.

“Chúng có bao giờ uốn cong, đóng đinh hay khoét lỗ ông không?” Cato hỏi.

“Tệ hơn nhiều. Chúng làm nổ cầu chì.”

“Ông có thể ép tôi vào hệ thống của ông không?” Joe hỏi.

“Việc đó chỉ hiệu quả khi những đánh giá có giá trị được bắt nguồn từ các dữ liệu thực tế,” tôi đáp. “Mà tôi thì lại không biết các dữ liệu thực tế về anh.”

“Thực tế cậu ấy là một kẻ vô công rồi nghề,” Holt xen ngang.

“Ở tuổi hai mươi hai thì chưa đâu.”

“Nhưng đến tuổi ba mươi hai, cậu ấy sẽ vô công rồi nghề, và cả bốn mươi hai nữa,” Holt nói, nhưng có thể thấy rõ anh hy vọng dự đoán của mình là sai lầm.

—★—

Khi chúng tôi về đến khách sạn Bordeaux vào lúc một giờ sáng, Britta lao ra ôm chầm lấy Gretchen, nức nở, “Monica bỏ đi rồi. Với ba thanh niên Marốc.” Rồi cô nói thêm chẳng đâu vào đâu, “Léon kể họ đều mặc quần áo phương Tây đắt tiền.”

Vừa vào khách sạn, chúng tôi đã nghe thấy Big Loomis ầm ầm nguyền rủa thằng Jemail trên tầng thượng. Chúng tôi vội chạy lên cầu thang, thấy ông ta đang ra lệnh tìm bằng được thằng con hoang nhóc con đó... bắt nó trả lời cho ra nhẽ. Nhìn thấy chúng tôi, ông ta đùng đùng nổi giận, “Thế quái nào mà các vị lại để đứa con gái ốm thập tử nhất sinh ở một mình trong cái chốn tồi tệ như thế này chứ?”

Holt gắt, “Tại sao ông không trông cô ấy? Cô ấy sống trên này cơ mà,” vậy là người đàn ông to béo nói, giọng như muốn khóc, “Thằng oắt ma cô ấy đã gạ gẫm cô ấy hàng tuần nay rồi. Ngay sau khi Britta vừa đi mua thức ăn, tôi thấy nó lẻn lên tầng này và tôi đã đá nó xuống cầu thang rồi. Tôi cứ tưởng thế là đã xong chuyện chứ.”

Britta khóc òa lên giải thích, “Em chỉ đi có mấy phút thôi. Đên quán Terrace mua một ít thịt hầm. Khi về đến nơi thì cô ấy đã đi mất rồi. Léon có nói gì đó về mấy người Marốc.”

Chúng tôi vội chạy xuống tìm Léon, và nhận được thông tin quan trọng đầu tiên: “Thằng Jemail chờ đến khi Britta đi khỏi. Ngay sau đó, nó lao lên gác, nhưng Loomis đã đá nó lăn xuống. Vì vậy nó huýt sáo...”

“Tôi nghe thấy tiếng huýt sáo!” Loomis kêu lên, tay vỗ trán. “Trời ơi, thế mà tôi lại tưởng là tiếng chim.”

“Ngay sau đó Monica xách va li lẻn xuống cầu thang, và thằng Jemail dẫn cô ấy ra quảng trường Djemaá,” Léon nói tiếp. “Tôi bèn đi theo xem nó định giở trò gì, và thấy nó dẫn cô ấy lên một chiếc xe có ba thanh niên đang chờ sẵn. Vùuuuuu! Thế là không thấy tăm hơi họ đâu.”

“Chúng ta sẽ tìm ra thằng Jemail và bóp chết nó,” Loomis nói rồi dẫn chúng tôi lốc nhốc đi ngược lên đầu ngõ ra quảng trường Djemaá, gặp ai cũng hỏi liệu họ có thấy cái đồ lợn oắt con ấy không. Tại quảng trường rộng lớn đó chúng tôi phát hiện ra mấy đứa trong băng nhóm của thằng Jemail, và Loomis tìm cách tóm được một đứa, bắt nó chỉ chỗ thằng Jemail đang trốn. Đứa bé gọi cho đồng bọn bằng tiếng Ả rập, và chưa đầy một phút sau thằng Jemail đã nghênh ngáo băng qua quảng trường Djemaá, tay trái cầm một xiên thịt nướng.

“Các ông cần gặp tôi?” nó hỏi, phăng phăng bước đến trước mặt Loomis, trong khi ông ta tìm cách bóp cổ nó.

“Mày đã làm gì Monica?” ông ta gầm lên.

“Monica đi rồi,” thằng Jemail tuyên bố dứt khoát, như một vị đại sứ điều khiển cuộc thương thuyết với một quốc vương mà hắn ta biết rõ là kẻ thù của mình.

“Cô ấy đang ở đâu?”

“Ngay lúc này thì có lẽ là ở trên giường với ba thanh niên sạch sẽ.”

“Ở đâu?” Loomis nhào tới tấn công thằng bé ma mãnh, nhưng nó đã tránh ra chỗ an toàn.

“Tại sao tôi phải nói cho ông biết?” nó hỏi.

“Tại vì trong vòng một phút nữa tao sẽ gọi cảnh sát.” Loomis lần sợi dây xích treo chiếc đồng hồ quả quýt, tìm được nó và bắt đầu đếm từng giây.

Thấy rõ là người da đen to béo kia định giao nó cho nhà chức trách thật, thằng Jemail bắt đầu tìm kế hoãn binh: “Tôi có làm gì sai đâu. Tôi chỉ bảo cô ấy có mấy người đàn ông tử tế muốn ngủ với cô ấy... trả rất hậu. Cô ấy muốn đấy chứ. Cảnh sát nào thèm quan tâm một chuyện như vậy?”

“Bọn chúng đưa cô ấy đi đâu?” Holt hỏi, run lên vì giận dữ.

Câu này thì thằng Jemail không chịu trả lời, và, nổi điên lên, Holt vươn tay túm cái áo bowling dơ dáy của nó. “Nói ngay, thằng lõi con.” Khi Holt nói thế, Big Loomis chộp lấy thằng bé, vậy là nó hét lên, “Giữ ông ta tránh xa ra!” và Holt giật thằng bé ra khỏi tầm tay của Big Loomis, nhưng lại bạt tai nó vài cái đủ để cho nó hiểu rằng anh cũng chẳng nhẹ nhàng hơn Loomis. Rồi, trong lúc lay thằng bé, anh ghê tởm nhận ra nó định giở trò gì, vì thằng Jemail nhe răng cười với anh, hỏi, “Nếu cháu nói, ông trả cháu bao nhiêu?” Quá khó chịu vì thằng lõi ma cô, Holt bèn đẩy nó sang chỗ Loomis, thế là ông ta lạnh lùng siết cổ nó, khiến Holt phải giật nó trở lại. “Loomis, chờ một lát,” Holt nói. “Để đến khi chúng ta biết bọn họ đưa cô ấy đi đâu đã.”

“Theo ông thì đáng giá bao nhiêu?” Jemail vẫn chưa thôi.

“Mày có biết cô ấy ở đâu không?” Holt hỏi.

“Cháu biết.”

“Ở đâu?”

“Bao nhiêu?” thằng bé nhắc lại, vậy là, trước sự kinh ngạc của tôi, Holt bắt đầu đấm thật lực vào đầu thằng bé.

“Đồ chó đẻ oắt con,” anh nói khẽ, “nói cho tao biết cô ấy ở đâu, nếu không tao sẽ đập cho mày bất tỉnh nhân sự đấy.”

Thằng Jemail vặn vẹo vùng ra được một chút, quay người nhổ thẳng vào mặt kẻ đang bắt giữ nó, hành động làm Holt bất ngờ đến nỗi nới lỏng tay khiến Jemail vùng thoát ra được. Đứng ở một khoảng cách an toàn, nó chửi rủa chúng tôi sa sả bằng tiếng Anh, với những lời lẽ khiếm nhã ghê tởm đến nỗi chúng tôi lần nữa lấy làm lạ là sao nó có thể thu thập được những từ đó. Thế là không còn hy vọng bắt lại được nó đêm đó nữa, và chúng tôi nhìn lần cuối khi nó đứng giữa băng nhóm, rõ ràng đang kể lại chiến tích giải thoát cô gái Anh ra khỏi khách sạn và giải thoát chính nó khỏi bàn tay cứng rắn của Holt.

Chúng tôi quay về khách sạn Bordeaux, đầu óc rối loạn, và sau khi thảo luận chán chê mê mới xem nên làm gì tiếp theo, Holt, Britta và tôi buồn rầu cuốc bộ về khách sạn của mình, rồi trong lúc chúng tôi lên cầu thang, Britta nói, “Lại đúng lúc em sắp đưa cô ấy vào bệnh viện chứ.” Ngày hôm sau thật ảm đạm. Buổi sáng chúng tôi tập hợp ở khách sạn Bordeaux, và trong ánh sáng ban ngày, vẻ nhếch nhác của nó thật không lờ đi được. Trong lúc chúng tôi suy đoán này nọ, không ai nhắc đến những giai thoại luôn thịnh hành ở Marốc về các cô gái da trắng xinh đẹp bị lén lút cho ăn bánh hashish, sau đó bị lừa phải làm điếm và nô lệ; đó là những câu chuyện thường nhằm dọa dẫm những người mới đến. Inger suy đoán theo đúng lẽ thường tình là Monica đã tự ý bỏ đi với mấy người Marốc để tìm kiếm một cuộc phiêu lưu tình dục và hai ba ngày nữa cô sẽ lại xuất hiện như thể không có chuyện gì xảy ra thôi.

Hai ngày trôi qua vẫn không thấy Monica, sáng hôm thứ ba chúng tôi không hề ngạc nhiên thấy thằng Jemail, vẫn vui tươi như thường lệ, mỉm cười đi vào khách sạn Bordeaux để chào mời chúng tôi một cơ hội khác. “Tôi không nói chuyện với lão béo ị, hay anh này hay ông này,” nó tuyên bố, chỉ Joe và Holt. “Nhưng nếu anh muốn tìm bạn gái,” nó nói với Cato, “thì chúng ta nói chuyện.”

Hai người đi ra ngõ, và một lúc sau Cato quay vào thông báo, “Nó sẽ nói cho chúng ta biết cô ấy ở đâu với mười đô la. Tôi nghĩ chúng ta nên đưa tiền cho nó.”

“Nó có cho anh đầu mối nào không?”

“Không, nhưng tôi nghĩ cô ấy không ở Marrakech.”

“Không cho con quái vật ấy một xu nào cả,” Big Loomis phản đối lớn tiếng đến nỗi thằng Jemail cũng nghe thấy. Thằng bé thò đầu qua cửa cảnh cáo, “Lão ngu đần béo ị kia mà có hành động gì là em sẽ không bao giờ nói cho các anh biết đâu.”

Chúng tôi quyết định tốt hơn cả là cứ đưa mười đô la cho thằng nhóc tống tiền, vì vậy chúng tôi cử Cato quay ra thương lượng. Hai bên thỏa thuận: Jemail và tôi sẽ cùng giữ tiền cho đến khi nó nói Monica ở đâu, và tôi sẽ bảo đảm là không ai đánh đập nó. Như một tên cướp biển nhỏ tuổi, nó đáp trả với yêu cầu chúng tôi không được bắt đầu đuổi theo cho tới khi nó ra đến đầu ngõ, và chúng tôi đồng ý điều kiện này.

Giữ chặt một nửa tờ giấy bạc trong khi tôi cầm nửa kia, và xoay sẵn chân về phía đường thoát thân, nó ngẩng lên mỉm cười một cách dễ thương với tôi và nói, “Ba kỹ sư bạn ông... họ gặp cô ta ở khách sạn của ông... để đi chơi rừng cọ. Họ đưa cô ta tới Casablanca, khách sạn Miramar. Đó là ý kiến của cô ta, không phải của họ. Cô ta đã bảo tôi đi thu xếp chuyện ấy.” Giật phắt tờ mười đô la ra khỏi tay tôi, nó chạy như bay về phía đầu ngõ.

Tôi sững sờ không nói được tiếng nào, kinh hoàng vì ba kỹ sư đã lợi dụng mình theo cách ấy, nhưng Big Loomis thì bắt tay vào hành động ngay. “Chúng ta về khách sạn của ông để gọi điện cho họ,” ông ta quyết định, và trên đường đi ông ta thu xếp xong hai vé máy bay đi Casablanca. Cú điện thoại đúng là thảm họa. Tôi gọi được về văn phòng cho viên kỹ sư cựu sinh viên trường Yale, và nghe tôi nói xong, anh ta bật cười, “Thôi đi, ông Fairbanks. Cô ta chỉ là loại đĩ thõa thôi. Chúng tôi đưa cô ta đến khách sạn vui vẻ một chút... Phải, ba người chúng tôi... Chúng tôi cho cô ta một ít tiền và để cô ta đi tới Tangier với hai người khác rồi. Đó là ý muốn của cô ta... Cô ta mạnh khỏe mà... Khách sạn Splendide, Tangier.”

Lập tức Big Loomis kiếm ba vé đi Tangier, tuyên bố, “Tôi bay lên đó cùng ông và Cato thì tốt hơn. Những người khác có thể rời khỏi đây ngay bây giờ bằng xe hơi.” Ông ta không mấy hy vọng tìm thấy Monica ở Tangier: “Rất nhiều chuyện có thể xảy ra ở thành phố đó.” Rồi ông ta gọi điện đến khách sạn Splendide: “Vâng, hai người đàn ông đã đăng ký thuê phòng cùng với cô Monica Braham - hai ngày trước - nhưng họ trả phòng sáng nay rồi... Không, không phải kỹ sư từ Casablanca - hai người Tangier trông rất đáng sợ, nếu ông đến đây thì có thể dễ dàng lần ra dấu vết đấy.” Big Loomis nhắn sẽ đến đó trong vòng hai giờ. Ngay khi cuộc nói chuyện kết thúc, ông ta lại nhấc máy gọi cho sở cảnh sát Tangier, tìm gặp một sĩ quan ông ta đã thân thiết được vài năm: “Anh Ahmed, chúng tôi đang gặp rắc rối. Tên là Monica Braham, mười tám tuổi...”

“Mười bảy,” Britta đính chính.

“Một cô gái Anh mười bảy tuổi, xinh đẹp, da trắng, tóc đen. Con gái một gia đình thế lực. Sử dụng heroin hàng ngày. Đăng ký khách sạn Splendide hai đêm trước. Rời khỏi đó sáng nay. Chúng tôi phải tìm cô ấy.”

Big Loomis giục chúng tôi quay về khách sạn Bordeaux, nhưng khi chúng tôi đi qua quảng trường Djemaá, ông ta chợt đứng sững lại, giận dữ nhìn chằm chằm về phía bên kia, nơi thằng Jemail đang uể oải tựa lưng vào một quầy hàng quan sát chúng tôi bước tới. Khi chúng tôi đến gần, nó đón chúng tôi bằng một đề nghị mới: “Các ông bay tới Casablanca, đúng không? Tôi gọi hộ một chiếc taxi tốt nhất ra sân bay nhé?” Tôi lắc đầu bảo không cần, thì nó gạ tiếp, “Thế một chiếc limousine vậy nhé? Chạy một mạch đến khách sạn Miramar ở Casablanca?” Tôi lại nói không một lần nữa, vậy là nó đáp, “Hy vọng các ông tìm được cô ta.” Sau đó nó thản nhiên vẫy chào tạm biệt rồi đi về chỗ các du khách đang bắt đầu xuống xe.

—★—

Thanh tra cảnh sát Ahmed là một sĩ quan to xương, nước da ngăm đen, từng phục vụ trong lực lượng an ninh địa phương từ hồi Tangier còn là một thành phố độc lập không thuộc bất kỳ quốc gia nào. Thời ấy đó là nơi phức tạp nhất thế giới, bị một hội đồng lãnh sự ngoại quốc cai trị bất chấp đạo lý; dàn xếp một vụ án mạng ở Tangier còn dễ dàng hơn hối lộ để thoát khỏi vé phạt vi phạm an toàn giao thông ở Chicago. Ma túy, giấy tờ giả, tống tiền, bán dâm do bị cưỡng ép và in ấn hộ chiếu giả là những nét đặc trưng được thừa nhận công khai, và thanh tra Ahmed đã làm tất cả những gì có thể để giữ tình trạng đồi bại đó trong giới hạn.

Lúc này Tangier đã là một phần của Marốc, và nhiệm vụ của ông cũng nhẹ nhàng hơn, nhưng không đáng kể. “Nếu là ngày xưa,” ông nói khi chúng tôi đã ngồi trong văn phòng của ông, “có lẽ cô ấy đã bị đưa qua biên giới vào một nhà chứa quản lý nghiêm ngặt rồi. Ngày nay chuyện như vậy không xảy ra nữa. Thông tin chúng tôi tìm hiểu được là thế này. Cô ấy chưa rời khỏi Tangier bằng máy bay và cũng không bị ai bắt gặp trên phà tới Algeciras hay Malaga. Cô ấy phải ở đâu đó trong thành phố này. Vì vậy các ông đừng lo lắng.” Ông không phải người đa cảm, không trấn an chúng tôi là mọi việc rồi sẽ ổn, nhưng ông làm chúng tôi tin rằng nếu có thể tìm thấy Monica, nhất định ông sẽ tìm thấy.

Ngày thứ nhất ông không làm được gì, gần như mọi công việc tìm kiếm hiệu quả đều phải nhờ đến Big Loomis, vốn là người hiểu biết khá rõ về Tangier và quen biết khá nhiều. Chúng tôi lang thang từ quán bar này sang quán bar khác, hỏi han bất cứ khách quen nào từng nhìn thấy cô gái Anh, và xác định được cô đã dành đêm đầu tiên tại thành phố này để dạo một vòng các quán bar nhỏ cùng với một người đàn ông không phải kẻ đã đưa cô tới Tangier. Hình như cô đã tình cờ quen hắn trong thành phố này, nhưng không người nào từng gặp có thể nhận ra hắn.

Chúng tôi sục sạo khắp quảng trường Zoco Grande nhưng không thấy dấu vết nào của Monica nên đành băng qua các ngõ hẹp để ra Zoco Chico, một quảng trường nhỏ, được bao quanh bởi các quán bar vốn là chốn tụ họp của dân hippy Tangier. Chúng tôi hỏi thăm các bạn trẻ thuộc đủ mọi quốc tịch và ăn mặc đủ mọi kiểu quần áo xem họ có trông thấy Monica không, thế rồi hai cô gái Thụy Điển trông có vẻ như hàng tháng trời chưa tắm nói rằng họ đã gặp Monica trong một quán trọ tồi tàn tên là Lion of Morocco. Với tiền công năm mươi xen họ dẫn chúng tôi đi qua một loạt ngõ ngách bẩn thỉu đến một tòa nhà xiêu vẹo. Cửa sổ tầng trên của tòa nhà trông xuống cảng, và trong khi chúng tôi đứng chăm chú nhìn xuống cảnh tượng đã từng khiến du khách bao đời nay xốn xang, một người Ả rập mắc bệnh suyễn leo lên cầu thang để đón chào chúng tôi. “Có đấy,” ông ta thừa nhận, “tôi có cho cô gái Anh trọ ở đây. Một đêm. Đúng, cô ấy ở cùng mấy thanh niên Marốc và ngay ngày hôm sau họ đã rời khỏi đây.”

Tất cả chỉ có thế. Chúng tôi vội vã quay lại sở cảnh sát để báo cho thanh tra Ahmed, nhưng chính ông ta mới là người có tin mới cho chúng tôi. “Chúng tôi đã tìm được cô ấy,” ông nói. “Nhưng tôi phải báo trước là tình trạng sức khỏe của cô ấy rất xấu.”

“Đã có chuyện gì vậy?” Cato hỏi.

“Không có gì bất thường cả. Suy dinh dưỡng, ma túy. Cô ấy đang nằm trong bệnh viện.”

Ông dẫn chúng tôi tới vùng ven thành phố, tại đó, trên một vách đá trông xuống vịnh Tangier vô song, một nhóm nữ tu Cơ Đốc vẫn ở lại trông nom một bệnh viện phục vụ cho cái đất nước hầu như đã đuổi giáo hội của họ đi. Mẹ bề trên đón tiếp chúng tôi với sự niềm nở y như thái độ của các bà xơ khi tiếp xúc với người theo tôn giáo khác, nhưng bà không lạc quan về Monica.

“Cô gái này ốm thập tử nhất sinh,” bà báo trước khi chúng tôi đến gần phòng bệnh. “Chỉ một người vào thì hơn.”

Chúng tôi nhìn nhau và nhất trí để Cato đi gặp Monica, nhưng anh chưa kịp vào, thanh tra Ahmed đã đưa ra một quyển hộ chiếu Anh: “Tôi đoán đây đúng là cô gái đó.” Cato cầm tấm hộ chiếu mở ra, rồi thở dài não nề khi nhìn thấy khuôn mặt thon gầy quý phái của Monica đang mỉm cười với anh.

“Đúng là cô ấy,” anh thốt lên, vậy là bà xơ dẫn anh vào phòng, nhưng chỉ vài giây sau anh đã quay lại, khuôn mặt nhăn nhó: “Không phải Monica!”

Ông Ahmed và tôi băng qua mẹ bề trên chạy vội vào phòng bệnh, nhìn thấy trên giường là một cô gái tóc vàng khoảng hai mươi tuổi trông không giống Monica chút nào. Chúng tôi đoán cô là người Thụy Điển, nhưng với tình trạng sức khỏe tồi tệ của cô có thể thấy rõ chúng tôi chẳng thể hỏi han gì được. Thực ra, thoáng nhìn thấy quai hàm cô trễ xuống, tôi còn chẳng biết cô sẽ sống được bao lâu nữa.

Chúng tôi leo lên xe của ông Ahmed phóng về quán trọ Lion of Morocco, được ông chủ ho hen cho hay tuần vừa rồi có mấy cô gái Thụy Điển đã trọ ở chỗ ông ta, nhưng ông ta không biết gì về họ cả. Có thể là một người trong số đó đã lấy cắp hộ chiếu của cô gái Anh, nhưng khả năng này không lớn lắm vì theo như cảnh sát xác minh, nhà trọ ông ta trông nom khá tử tế.

Cato đề nghị quay lại quảng trường Zoco Chico để xem liệu có gặp được hai cô gái Thụy Điển lúc trước đã cho biết Monica từng trọ ở Lion of Morocco không, và chúng tôi tìm thấy họ ở đó, đang ngồi tắm nắng trước cửa một quán bar. “Trong nhóm các cô có ai mất tích không?” ông Ahmed hỏi theo đúng nghiệp vụ, và hai cô gái bắt đầu điểm danh qua loa đám bạn, nhưng hiển nhiên họ đã ăn bánh hashish và chẳng tập trung vào việc gì được, vì vậy ông Ahmed đẩy họ lên xe để đưa đến bệnh viện, nhưng khi chúng tôi đến đó, mẹ bề trên thông báo, “Cô ấy chết rồi.”

Ông Ahmed gạt thông tin đó đi như thể không quan trọng, và dẫn chúng tôi tới nhà xác, nơi cô gái chúng tôi mới gặp chưa đầy một tiếng đồng hồ trước đang nằm cứng đơ dưới một tấm vải, chỉ để lộ khuôn mặt: hốc hác, bệnh hoạn, vô hồn. Hai cô chỉ cần nhìn thoáng qua: “Đây là Birgit.”

“Birgit gì?”

“Từ Uppsala tới.”

“Nhưng họ của cô ấy là gì?”

“Birgit người Uppsala.”

Thanh tra Ahmed giật tấm vải ra, xem xét tĩnh mạch ở cánh tay, miết vào lớp mô đầy sẹo đã bị hành hạ quá mức, bình thản nhìn chúng tôi, đoạn đắp tấm vải lại. “Heroin,” ông nói.

Trên đường về trung tâm thành phố, tôi thấy Cato run lên bần bật nên quay sang định an ủi, nhưng anh ngoảnh mặt đi và ngồi tránh xa tôi. Chúng tôi về đến phòng khách sạn, anh ngồi sụp xuống ghế, hai tay ôm đầu, mắt chăm chăm nhìn xuống sàn, lẩm bẩm, “Lạy Chúa, hãy để chúng con tìm được cô ấy... mau chóng.”

“Ông có ý kiến gì không, ông Loomis?” tôi hỏi.

“Một. Ở quảng trường Zoco Chico, tôi quen một người phục vụ quán bar. Hắn chỉ làm việc ban đêm và là con người đồi bại nhất Bắc Phi. Giờ hãy chợp mắt một chút đi, vì hắn là hy vọng cuối cùng của chúng ta.” Mười giờ đêm hôm đó chúng tôi đi xuống đồi tới quảng trường Zoco Chico, thấy đèn đuốc sáng trưng và khách du lịch nườm nượp. Nó không khác gì một quảng trường ở thành Baghdad cổ kính, hoặc ở Damascus hiện đại, hoặc ở Cairo cả trăm năm trước, chỉ khác một điều là năm nay nó đông nghịt những kẻ trôi dạt từ khắp mọi nơi trên thế giới, đa số là sinh viên manh nha ý định đến thăm Marrakech nhưng sẽ không bao giờ đi xa hơn Tangier. Họ không mấy ưa nhìn vì phần lớn đều mắt u tối, đầu tóc bù xù, dáng đi mệt mỏi, như thể họ là những ông bà già hơn sáu mươi tuổi chẳng còn gì để trông đợi ở cuộc đời chứ không phải lớp người tràn trề hy vọng đang độ tuổi mới lớn.

Big Loomis tiến thẳng đến quán bar cần tìm, bước vào văn phòng phía trong, và một lát sau quay ra cùng một người hầu bàn không xác định được tuổi tác; anh ta chắc hẳn chưa quá ba mươi lăm nhưng trông như bảy mươi, vì đã toàn phần sa đọa, và tôi lấy làm lạ là anh ta vẫn giữ được việc làm. Tuy nhiên, khi nói, anh ta lại tỏ ra linh lợi và có sức thuyết phục: “Thưa các ông, các ông tìm đến tôi là đúng người đúng việc rồi đấy. Anh bạn Big Loomis của tôi là người có thể tin cậy được và tôi có tin tốt lành cho các đối tác của anh ấy đây.” Anh ta hạ giọng, len lét đi đến bên chúng tôi và thì thào qua hàm răng đen xì, “Hoa ở Lebanon chưa bao giờ thơm hơn.”

“Gì cơ?” Cato hỏi.

“Từ Lebanon, đậm đà không gì sánh được,” anh ra nháy mắt nói.

“Gì cơ?” Cato hỏi một lần nữa.

“Cần sa!” anh ta gắt. “Cần sa chất lượng từ Beirut.”

“Kasim,” Big Loomis lên tiếng, quàng tay qua vai người hầu bàn, “việc chúng tôi quan tâm đêm nay là chuyện gì đã xảy ra với một cô gái Anh, Monica Braham.” Kasim không để lộ dấu hiệu nào cho thấy đã hiểu, nhưng Loomis đã nói tiếp, “Cô ấy là cô gái danh giá nhất đấy. Mười bảy tuổi. Con gái Ngài Charles Braham, London.”

“Và Vwarda,” Kasim nói, nét mặt không hề thay đổi.

“Cùng là một người thôi,” Loomis nói. “Và tối nay chúng tôi sẽ điện thoại cho Ngài Charles. Ngài sẽ vô cùng quan tâm đến nơi ở của con gái.”

“Ngài sẽ trả công cho những thông tin hữu ích chứ?” Kasim hỏi.

“Tôi sẽ trả,” tôi cắt ngang.

Nhẹ cả người khi tìm được một người Mỹ có tiền nhận trách nhiệm, Kasim nói, “Tôi không biết gì về cô gái này. Con gái Anh phải không? Chính các ông cũng thấy rồi đấy. Có hàng trăm. Nhưng tôi sẽ hỏi cho.”

“Chúng tôi cũng chỉ mong có thế,” Loomis nói để làm yên lòng anh ta.

Chúng tôi ngồi vào một bàn bên lề đường, và trong khi Kasim đứng bên cạnh như thể chỉ đơn thuần là một bồi bàn, chúng tôi kể cho anh ta nghe tất cả những gì mình biết, nói tên hai nhà trọ mà Monica đã nghỉ lại và tên cô gái Thụy Điển xấu số đã sử dụng hộ chiếu của cô. Nghe xong những thông tin này, Kasim biến mất.

Trong lúc chúng tôi chờ anh ta về, Big Loomis cố hết sức giải khuây cho chúng tôi bằng cách tuyên bố ông ta có thể tính được mỗi người nước ngoài đi qua đã ở Tangier bao lâu. Người Đức với bước đi nhanh nhẹn và đôi mắt say mê tìm hiểu kia mới đến trong tuần này. Người Anh với bước chân lần chần và vẻ mặt đờ đẫn đã ở đây hơn một tháng rồi. Người Mỹ đang lê chân đi, mắt liếc ngang liếc dọc, đầu tóc không chải và quần áo không giặt, đã ở đây nửa năm. Và một vài người khó nhận dạng có thể đến từ bất cứ nơi đâu - California, Thụy Điển, Sydney, Vancouver - là những khách quen sẽ không bao giờ bỏ đi chừng nào còn gom được tiền từ một người họ hàng nào đó. Trong đám cuối cùng này, Loomis nói, phần đông là kiều dân sống bằng tiền trợ cấp từ Anh hoặc Pháp, và một vài người trong số đó đã nhận ra ông da đen to béo mà tự bản thân xét về mặt luật pháp cũng là một kiều dân được gia đình chu cấp, vậy là bọn họ đến ngồi cùng, thông báo cho chúng tôi biết mọi việc ở Tangier không còn tốt đẹp như bốn năm trước nữa.

Khi nghe nói lý do chúng tôi ở đây, họ không hề tỏ ra quan tâm đến sự biến mất của một cô gái Anh; việc này xảy ra quá thường xuyên và họ đã nhận ra cách khôn ngoan nhất là tránh xa những rắc rối như vậy, bởi vì nếu anh không làm thế, chắc chắn cô gái chết tiệt đó cuối cùng sẽ chình ình trong căn hộ của anh, còn anh lại bị cha mẹ cô ta buộc tội quyến rũ cô gái. Tức giận trước thái độ thờ ơ như vậy, Cato nói, “Đừng có hờ hững như vậy nữa đi,” nhưng anh bạn người Anh hỏi, “Cô ấy là bạn gái anh à?” và khi thấy Cato gật đầu, anh nói tiếp, “Chắc chắn cô ấy ở với người khác rồi, anh có thể làm được gì chứ?” Cato nói, “Đồ chó đẻ, cô ấy có thể đang hấp hối đấy,” nhưng anh bạn người Anh buông một câu, “Chẳng phải tất cả chúng ta cũng đang như vậy sao?” Cato định tát anh ta, nhưng Big Loomis nói, “Bình tĩnh nào. Có thể chúng ta phải ở đây mấy ngày nữa đấy.” Như để xác nhận cho kết luận đó, Kasim quay về lúc hai giờ sáng với một tin đáng buồn, “Không ai biết cô ấy đang ở đâu.”

Cú điện thoại của chúng tôi cho Ngài Charles Braham ở Sussex không hề hiệu quả. Ông không có nhà... đã đi tham dự một cuộc hội nghị nông nghiệp nào đó; và trong lúc chờ cô trực máy hoài công cố tìm ông, tôi ngẫm ra rằng mỗi lần con gái ông gặp khó khăn ông đều vắng mặt. Chúng tôi không thể trông chờ gì vào sự giúp đỡ của ông nữa.

Cả ngày hôm sau, chúng tôi lần theo những đầu mối không hiệu quả và khi đêm xuống lại đến quảng trường Zoco Chico, nhưng Kasim không đi làm. Loomis hỏi thăm xem anh ta ở đâu, nhưng ông chủ đáp, vẻ vô vọng, “Với Kasim thì ai mà biết được?” May là chúng tôi chịu khó chờ, vì sau nửa đêm anh chàng tinh ranh ấy xuất hiện, mặt mũi hớn hở. “Tôi tìm được cô ấy rồi! Cảnh sát không làm gì được, nhưng tôi lại tìm được đấy.”

Chúng tôi châu đầu lại và anh ta thông báo, “Chuyến này tốn kém lắm. Tôi phải sai một thằng bé đến tận Chechaouèn.” Nghe nhắc đến thị trấn cổ xưa trên vùng đồi này, Big Loomis liền huýt sáo vì nó ở phía Đông Nam Tangier, cách khá xa, và không thể giải thích nổi làm sao một cô gái Anh lại đến đó được.

Cato là người đầu tiên lên tiếng. “Chúng tôi đi xe đến đó được không?”

“Tôi thấy các vị nên làm thế,” Kasim đáp.

“Ý anh là gì?”

Kasim nhìn Cato, rồi nhìn tôi. “Có lẽ tôi nói chuyện với quý ông này thì hơn,” anh ta đề nghị và dẫn tôi ra phía sau quán cà phê. “Tin tức không được sáng sủa lắm,” anh ta thì thầm. “Hai thanh niên ở đây làm quen với cô ấy... cho bảy đứa bạn mượn tạm cô ấy... hết đứa này đến đứa khác. Sau đó bọn chúng đưa cô ấy đến một vùng quê ở Chechaouèn. Cô ấy trở nên rất yếu, vì vậy bọn chúng bỏ trốn.” Anh ta dừng lại, rồi bổ sung một mẩu tin mà anh ta biết là sẽ tóm tắt được vụ này nhưng lại quá dữ dội để có thể chia sẻ với Cato. “Thằng đàn em của tôi nói qua điện thoại, ‘Bọn chúng hiếp cô ấy tám chín lần một ngày nhưng lại không cho cô ấy bất cứ thức ăn gì.’”

Khi chúng tôi báo cho thanh tra Ahmed biết Monica đang ở đâu, ông liền trưng dụng một chiếc xe hòm công vụ, cho ba người chúng tôi lên, và lao theo hướng Đông về phía Tétouan, thị trấn đã được Tây Ban Nha đặt tên lại một cách khoa trương thành Tetuán-de-las-Victorias để kỷ niệm một cuộc đụng độ vặt vãnh nào đó. Rạng sáng hôm sau, chúng tôi đến đó và rẽ về hướng Nam đi dọc con đường uốn khúc đưa chúng tôi lên vùng đồi thấp ở chân núi Atlas. Trời đã sáng bạch chúng tôi mới tới Chechaouèn, một trạm dừng chân cổ xưa cho khách bộ hành nằm lọt thỏm trong một vòng cung đồi. Chúng tôi lái xe vào gần bãi chợ và được cảnh sát địa phương đón sẵn, họ ngay lập tức tiến hành tìm kiếm cậu bé đàn em của Kasim. Cậu ta đang ở trong một quầy hàng, và khi xuyên qua cái chợ hình dáng chẳng theo một quy chuẩn nào hết ấy, chúng tôi tưởng như mình đang ở tại một thành phố nào trong Kinh Thánh hai nghìn năm trước. Ngay trang phục của những người Ả rập đang mở cửa quầy hàng cũng không thay đối, tập quán của họ không hề bị thế giới hiện đại tác động vì đây là một thành phố với những lợi ích tôn giáo vô cùng lâu đời, và quan điểm hiện đại không được chào đón.

Người dẫn đường cho chúng tôi là một cậu bé mười lăm tuổi, được Kasim đào tạo trong thế giới ngầm của Tangier, và am tường về những thói tật có thể thành ra hữu ích. Trong lúc đưa chúng tôi qua bãi chợ tiến vào một khu phố cổ, một khu vốn hàng bao thế kỷ nay vẫn là cấm địa với người ngoại đạo, cậu ta lựa chọn tôi là người có nhiều khả năng đứng đầu nhóm và thổ lộ, “Con gái ông yếu lắm. Có lẽ chúng ta nên mời bác sĩ.”

Tôi định nói mình không phải cha cô, nhưng rồi lại quyết định không làm mọi việc rắc rối thêm. “Thế thì tìm bác sĩ nào đang rảnh đi,” tôi bảo, và cậu ta đưa chúng tôi đi vòng một đoạn ngắn đến nhà một bác sĩ trẻ vốn được đào tạo ở Casablanca, bây giờ được cử đến Chechaouèn phục vụ ở bệnh viện công. Anh nói tiếng Pháp rất giỏi và hỏi ai trong chúng tôi bị ốm. Khi cậu bé dẫn đường giải thích là con gái tôi đang trong tình trạng tệ hại, anh nghiêm trang gật đầu nói với tôi, “Ở Casablanca, chuyện như vậy không hiếm. Phần lớn là con gái Thụy Điển.”

Cậu bé dẫn chúng tôi qua một vài ngõ ngách hết sức chật hẹp, tôi hỏi anh bác sĩ, “Mọi thứ ở đây không mấy thay đổi trong hai nghìn năm nay, phải không?” Anh buồn bã lắc đầu. “Đây là vùng đất phía sau của Marốc. Và mọi thứ sẽ vẫn không thay đổi trong hai nghìn năm nữa.” Chúng tôi dừng lại trước cửa một ngôi nhà nhỏ vách đất chắc ít nhất cũng hai trăm năm tuổi, và tôi tự dưng cảm thấy bi thương tột độ khi nghĩ rằng Monica đã đi đến nước phải ở một nơi tồi tàn như thế này. Tôi đang định bước vào thì anh bác sĩ ngăn lại, “Để tôi vào trước thì hơn,” đoạn anh đi theo cậu bé vào trong.

Trong khi mọi người lo lắng đứng chờ ở ngoài, tôi có thể thấy Cato đã căng thẳng sắp gục đến nơi. Tất nhiên là đối với thanh tra Ahmed, Monica chỉ đơn thuần là một cô gái Âu châu nữa mà ông cần theo dấu; nếu hôm nay tìm được cô rồi, ngày mai ông sẽ lại phải lên đường kiếm một người khác thôi.

Lúc này anh bác sĩ đã đi ra, vẻ mặt rất trang nghiêm, và nói, “Tốt hơn cả là một người trong các vị vào đây với tôi.” Tôi dợm bước tiến lên nhưng Cato, đầu vẫn đội cái mũ fez đỏ, chen lên trước tôi và biến vào sau cánh cửa nhỏ. Ngay sau đó chúng tôi nghe thấy tiếng kêu thất thanh - một tiếng rú đau khổ tột cùng. Ahmed lao vào trong nhà, nhưng tôi chưa kịp chạy theo thì Cato đã xuất hiện trong hành lang tối, trên tay là xác Monica.

Cô đã chết, chân tay thõng thượt, teo tóp như cành cây khô héo, mái tóc đen rối bù bao quanh khuôn mặt từng một thời xinh đẹp. Cánh tay trái của cô để lộ vét lở loét ghê sợ và quen thuộc mà tôi đoán rốt cuộc đã gây ra cái chết của cô.

Anh bác sĩ lắc đầu với vẻ phẫn nộ của người trong nghề, “Chỗ áp xe này chữa trị đơn giản lắm.” Anh nhìn Cato và tôi, “Các ông có ai để ý đến mặt cô ấy không? Màu da ấy? Đó là nguyên nhân cái chết đấy. Viêm gan vi rút. Chắc chắn cơ thể cô ấy đã ủ bệnh nhiều tuần nay rồi và có thể đã bùng phát dữ dội do thiếu dinh dưỡng.”

“Cô ấy đã chết?” thanh tra Ahmed hỏi theo đúng nghiệp vụ. “Cô ấy không bị giết chứ?”

“Cô ấy đã chết.”

“Vậy là chúng ta không phải đối mặt với vấn đề luật pháp,” thanh tra Ahmed nói, tỏ ra không quan tâm đến vụ này thêm nữa.

“Cô ấy mắc bệnh viêm gan như thế nào?” tôi hỏi.

“Nhiễm trùng dưới da. Rất nhiều thanh niên tự kết liễu đời mình bằng cách này.” Anh bác sĩ quay lại đối diện chúng tôi: “Có ai dùng chung kim tiêm với cô ấy sáu tuần... bảy tuần trước không?” vẫn bế cái xác trên tay, Cato đờ đẫn lắc đầu.

Anh bác sĩ nhổ nước bọt xuống đất, nói, “Bi kịch nằm ở chỗ, nếu bất cứ ai trong các vị biết cách xử lý đúng đắn, cô ấy có thể được cứu sống dễ dàng.”

Đến lúc chúng tôi phải trở lại Tangier thì mới nảy sinh vấn đề xử lý cái xác của Monica như thế nào, và thanh tra Ahmed gợi ý, “Chúng ta sẽ để cô ấy trong thùng xe,” nhưng khi cái chỗ chứa tối om đó được mở ra, Cato phản đối dữ dội, “Không! Cô ấy sẽ ngồi cùng chúng ta.” Ông Ahmed nhún vai nói, “Thế thì bất tiện lắm đấy.”

Cato cởi áo sơ mi ra bọc quanh người Monica, rồi chúng tôi lên xe, đặt xác cô nằm trên đùi chúng tôi, đầu cô tựa vào ngực Cato.

Khi chiếc xe tăng tốc chạy dọc con đường dẫn về Tangier, tôi giả bộ không nhận thấy là Cato, co rúm lại trong một góc, hai tay vòng quanh vai Monica, đang lặng lẽ khóc. Đôi vai thỉnh thoảng rung rung của anh đã để lộ cảm xúc trong lòng, và tôi nghĩ những trải nghiệm tình yêu của anh mới cay đắng làm sao: Vilma bị đấm đá đến chết, một cách vô nghĩa, trên đường phố Philadelphia; Monica chết ở Marốc vì một mũi tiêm dưới da nhiễm trùng, trong khi ngay cả sự quan tâm thông thường nhất cũng sẽ ngăn ngừa được chuyện này. Trong khi tiếp tục trông chừng anh, tôi có cảm giác Cato chính là đại diện cho thế hệ của mình, dũng cảm xây dựng những lối ứng xử mới nhưng lại không có khả năng tự bảo vệ trước những tấn bi kịch xưa nay không ai tránh khỏi.

Động lòng trắc ẩn, tôi giơ tay chạm vào người anh, nhưng anh phản ứng như thể bị đánh. “Đừng có đụng vào tôi!” anh thét. “Tôi không cần người da trắng thương hại,” và tôi nói với anh, “Tôi đâu có chìa tay ra với tư cách một người da trắng.” Trên hàng ghế trước, Big Loomis làu bàu, “Bình tĩnh lại đi.”

Cato hơi xoay người nhìn tôi, chiếc mũ fez đỏ lệch sang một bên, đôi mắt đen đẫm lệ. Tôi tin anh đang muốn nói câu gì đó để giảng hòa. Anh muốn đáp lại cử chỉ thân thiện của tôi, vì tay anh đã rời khỏi vai Monica mà bắt đầu với lấy tay tôi, nhưng ngay lúc đó nỗi sầu bi lại ập đến khiến anh gục xuống run lên bần bật, chẳng buồn che giấu tiếng nức nở nữa. Cứ như vậy, cùng nhau chia sẻ trọng lượng của cô gái xấu số mà cả hai đều yêu quý, chúng tôi quay về Tangier.

Khi chúng tôi đến gần đồn cảnh sát, tôi nhận ra ngay chiếc pop-top màu vàng. Gretchen và Joe chạy ra đón chúng tôi, và chưa kịp nhìn thấy cái bọc trong lòng Cato và tôi, Gretchen nôn nóng hỏi, “Mọi người tìm thấy cô ấy không?”

“Chúng tôi tìm thấy rồi,” Big Loomis nói.

“Britt! Họ tìm thấy cô ấy rồi,” Gretchen reo lên khi Holt và Britta đến gần.

Họ nhìn Cato và tôi, cả hai đều nghiêm trang và im lặng, rồi sau đó, đưa mắt xuống dưới, thấy cái hình hài bất động trong lòng chúng tôi.

“Lạy Chúa tôi!” Gretchen kêu thất thanh. “Chuyện gì thế này?”

“Cô ấy chết rồi,” Cato nói.

Gretchen đưa tay lên bụm miệng, ngây người đứng nhìn trong lúc chúng tôi xuống xe, để lại cái xác nằm duỗi dài trên ghế. Cato và tôi đã đưa Monica về đến nơi; chẳng thể làm gì hơn được nữa, chúng tôi đứng sang một bên.

Thanh tra Ahmed và một cảnh sát nữa quay lại khiêng cái xác ra khỏi xe, coi như một chuyện thường tình, nhưng trong lúc họ làm thế, cái áo sơ mi bị lật lên để lộ khuôn mặt Monica ra trước mắt tất cả những người đang quan sát.

“Lạy Chúa!” Joe bật lên tiếng kêu khi nhìn thấy cảnh tượng khủng khiếp đó.

Thanh tra Ahmed nhanh tay che cái áo sơ mi vào chỗ cũ. Nhưng Britta, với thái độ lãnh đạm, bước tới bên ông Ahmed lúc này đang xốc nách cô gái bạc mệnh, thận trọng níu cái xác lại và cúi xuống nhìn mặt bạn. Monica trông thật ghê rợn, khủng khiếp, mắt mở trừng trừng nhìn chúng tôi, miệng há hốc, lưỡi thè lè. Đây không phải cái chết; đây là một sự nhạo báng không khoan nhượng.

“Che cô ấy đi,” Holt nhắc, nhưng Britta đã choàng một cánh tay quanh đầu Monica. Cô âu yếm vuốt mắt và gỡ những lọn tóc rối cho bạn. Cô cúi xuống hôn lên đôi má hóp, rồi quay về phía chúng tôi vừa khóc vừa nói, “Chúng ta đã không giúp được gì cho bạn ấy.” Holt định nói là không ai có thể giúp Monica, nhưng Britta đã áp tay lên miệng anh, rồi ông Ahmed cùng với người của mình khiêng cái xác tới chỗ chiếc hòm gỗ đơn sơ đang đợi sẵn.

Marốc chẳng còn gì hấp dẫn chúng tôi nữa.

Chúng tôi ngồi quanh cái bàn ngoài trời quen thuộc ở quảng trường Zoco Chico, nhận thấy đoàn thanh niên trôi dạt đang diễu qua trước mắt thật đáng sợ và khó coi. Mỗi cô gái mái tóc xõa xượi đều nhắc chúng tôi nhớ đến chuyện đã xảy ra với Monica.

Không ai lên tiếng đề nghị quay về Marrakech, còn ở lại Tangier là việc không tưởng tượng được. Mà ở đây cũng chẳng có gì cần đến chúng tôi nữa. Các nhà chức trách không có ý định truy tìm, nói chi đến việc truy tố, mấy thanh niên Marốc đã đưa Monica đến Chechaouèn vì cô tự nguyện đi theo họ. Còn về tội ngược đãi, chẳng ai có thể chứng minh bọn họ đã thu tiền của đám bạn được họ gọi đến để lợi dụng cô, và thanh tra Ahmed thì sáng suốt suy đoán rằng cha cô, Ngài Charles, sẽ không tha thiết bay đến Tangier để hối thúc một vụ kiện cáo chỉ khiến ông mang tiếng. Ông nói với chúng tôi, “Năm ngoái chúng tôi gặp phải hai mươi chín vụ thiếu nữ tử vong. Y như cô bạn của các vị. Thuộc đủ mọi quốc tịch. Và chỉ có vài ba vụ, cha mẹ họ muốn chúng tôi hoãn việc chôn cất để họ có thể đến kịp. Vụ này coi như khép lại rồi.”

Đối với chúng tôi thì không. Vụ này sẽ không bao giờ khép lại. Tôi có thể thấy Gretchen và Britta đều cho rằng mình thật may mắn vì đã gắn bó với người đàn ông che chở cho họ, và tôi nhận thấy cả hai đã xích lại gần người đàn ông của mình hơn. Về phần mình, hai người đàn ông đều hết sức phẫn nộ dù rằng bất lực khi thấy một cô gái yếu ớt như Monica bị ngược đãi đến vậy. Một tên dẫn khách đang đi thơ thẩn, thấy Joe tách ra khỏi nhóm chúng tôi trong chốc lát bèn len lén tiến lại gạ gẫm, “Anh muốn qua cả đêm với em gái tôi không? Rất trẻ, rất sạch sẽ.” Joe giáng cho hắn một đón hiểm vào bụng khiến hắn phải gập người lại vì đau. Ngay lúc đó, tôi lên tiếng, “Chúng ta nên đi khỏi thành phố này thì hơn.”

Lúc này Gretchen bất ngờ làm mọi người ngạc nhiên. Nghiêng người qua mặt bàn, cô với lấy tay Joe nói, “Đã đến lúc chúng ta làm những gì cần phải làm rồi. Em tặng anh chiếc pop-top. Hãy tới nơi nào anh phải tới, rồi bán nó đi.”

Mọi người im lặng khá lâu. Joe đỏ bừng mặt không nói được lời nào, bối rối trước ý tứ rõ ràng thể hiện trong hành động bột phát của cô. Britta mỉm cười đồng tình. Chỉ có Holt là hỏi một cách thực tế, “Cô sẽ thu xếp giấy tờ chuyển nhượng bằng cách nào?” Tôi gợi ý lãnh sự Mỹ, nhưng Kasim, từ đầu đến giờ vẫn theo dõi cuộc trao đổi của chúng tôi, vội gợi ý, “Tôi có một anh bạn làm thợ in. Với giá mười đô la, anh ta sẽ làm giả giúp cô giấy tờ mua bán hoàn chỉnh... mọi tài liệu đều hợp lý.”

“Nước nào chuyển sang nước nào?” Big Loomis hỏi.

“Ông muốn nước nào cũng được. Đức chuyển sang Thụy Điển, Ai Cập sang Tanzania. Đối với anh ta thì thế nào cũng xong.”

Tôi ngạc nhiên thấy Holt chấp nhận ngay. “Chắc là cách tốt nhất rồi. Cô dính vào một lãnh sự Mỹ... không có nhiều thời gian đâu.” Vậy là Gretchen dốc ví đưa ra một lô giấy tờ để Kasim nhét vào túi trong.

“Có lâu không?” Gretchen hỏi.

“Đối với anh bạn tôi thì trường hợp nào cũng khẩn cấp hết,” Kasim trấn an. “Bốn mươi phút.”

“Nhanh thế sao?”

“Ở Tangier... đúng vậy,” Big Loomis nói, nhưng Kasim vẫn chần chừ chưa đi ngay. Quay sang Joe, anh ta hỏi, “Một tấm hộ chiếu thì sao? Có lẽ hộ chiếu đặc biệt?”

“Bao nhiêu?” Joe cảnh giác hỏi.

“Tùy thuộc vào việc chúng tôi có sẵn hộ chiếu nước nào. Nhân tiện tôi muốn hỏi, có ai trong các vị muốn bán hộ chiếu không? Giá cao đấy.”

Sợ rằng Joe có thể nghiêm túc tính đến chuyện đổi hộ chiếu Mỹ lấy một tấm khác nhằm tránh bị các quan chức Mỹ phát hiện, Holt từ chối dứt khoát, “Chúng tôi sẽ tiếp tục dùng hộ chiếu hiện thời.”

“Nếu có vấn đề gì phát sinh,” Kasim nói ngọt xớt, “tôi sẽ quay lại trong bốn mươi phút nữa.”

“Em có nói nghiêm túc về chuyện chiếc xe không đấy?” Joe hỏi.

“Có. Đây là một món quà... cho một thanh niên vô cùng đặc biệt.” Rồi Gretchen nói tiếp bằng giọng dịu dàng, “Một thanh niên đàng hoàng.”

“Cậu sẽ đi đâu, Joe?” Holt hỏi.

“Tối hôm trước tôi có nghe mấy bạn ở khách sạn Bordeaux nói chuyện. Họ bảo thú vị nhất là Shinjuku.”

“Ý kiến hay đấy,” Holt nói. “Rất nhiều con gái... rất nhiều hoạt động.”

“Shinjuku ở đâu?” Britta hỏi, vẫn luôn muốn xác định rõ danh tính các nơi chốn.

“Ở Tokyo,” Holt đáp. “Khu phố náo nhiệt nhất Tokyo.”

Gretchen gợi ý, “Sao anh không đi Ấn Độ? Rất nhiều người đã tìm được lời giải đáp... sự mở mang... ở Ấn Độ.”

Big Loomis xen ngang: “Cậu có bị mất trí mới lãng phí bất cứ phút giây nào của cuộc đời ở đất nước ấy. Không có câu chuyện hoang đường nào trong thời đại chúng ta lại nực cười hơn câu chuyện Ấn Độ có lời giải đáp cho bất cứ vấn đề nào.”

“Tôi đang nói về tính chất tinh thần cơ mà,” Gretchen đối đáp.

“Tôi cũng vậy,” Loomis nói. “Tôi đã sống ở Ấn Độ gần một năm... cả ở Sikkim và Nepal... cần sa chất lượng cao... những cuộc chuyện trò tâm đầu ý hợp giữa người châu Âu với nhau. Nhưng sự khai sáng mà các bạn trẻ mơ mộng hão huyền ở Greenwich Village và Bloomsbury nói đến thì... ở đó làm gì có. Đó là một ảo tưởng mà các giáo sư ấm ớ ở các trường đại học Mỹ ấm ớ đưa ra.”

Holt xác nhận luận điểm của người đàn ông to béo: “Như Tyrone Power đã lang bạt khắp châu Âu và cuối cùng lưu lạc đến Ấn Độ. Anh ấy chẳng học được gì cả.”

Mọi con mắt đều đổ dồn về phía Holt, nhưng anh không chịu nói chi tiết hơn. Joe định hỏi xem Tyrone Power thì liên quan gì tới cuộc thảo luận này, nhưng rồi lại nhún vai và quay về phía Loomis để nghe ông ta nói. “Tôi hiểu rằng các cô cậu đang trải qua một thời kỳ khó khăn... cái chết của Monica... và tôi xin lỗi về những gì sắp nói, nhưng vì chuyện vô lý mà Gretchen mới nói, tôi cho rằng các bạn phải nghe. Khi đặt chân đến Calcutta - cầu Chúa đừng để ai phải gặp chuyện như vậy nữa - tôi đã dự định thực hiện hành trình tìm kiếm sự khai sáng. Tôi đã trải qua ba ngày ở nơi bẩn thỉu kinh khủng đó, với lũ trẻ con đói khát luôn chế nhạo thân hình béo tốt của tôi, với đám đàn ông đàn bà chết ngay giữa đường, với những gia đình tất tật thành viên chỉ sống nhờ một thùng rác, nhưng tôi vẫn có thể bỏ qua tất cả những chuyện đó vì tin rằng chính từ tình trạng khốn khổ như vậy mà đôi khi chúng ta đạt được sự khai sáng. Các lãnh tụ tinh thần vĩ đại tuyệt đối không xuất thân từ các nhà băng hoặc những câu lạc bộ giảng viên đại học. Tôi chấp nhận nhượng bộ bất cứ khi nào có thể và cuối cùng cũng bắt đầu cảm thấy thích thú với không khí chết chóc và kinh hoàng ở Calcutta. Tôi còn thiết lập mối quan hệ với một đạo sĩ khổ hạnh nổi tiếng tự nguyện giảng cho tôi nghe những điều huyền bí của thế giới. Ông ta cao gần mét chín, nặng hơn bốn mươi cân, kể cả bộ râu. Ông ta từng nhìn thẳng vào mặt trời suốt bốn mươi tám ngày không nghỉ và có một sự khiêm tốn nhất định khi đánh giá bản thân, vì đối với trường hợp của tôi ông ta cảm thấy nên trao đổi ý kiến với hai đạo sĩ khổ hạnh khác có vóc dáng y chang và bộ râu dài không kém của ông ta. Ba thánh nhân đó - họ làm việc theo giờ hành chính tại một ngôi làng gần Calcutta, và tính thù lao với giá cắt cổ - phán cho tôi nghe nhiều điều, thỉnh thoảng họ nói năng ngang với trình độ của một giáo viên lớp năm tại một trường tiểu học tốt. Ngay lúc này thì tôi không thể đưa ra thí dụ minh họa được, vì việc dạy dỗ của các thánh nhân đó ít nhiều đã bị vô hiệu hóa bởi hành động mà họ bị bắt quả tang hai ngày trước khi tôi hoàn thành khóa học.”

Ông ta dừng lại, chỉ chăm chú nhìn hai cô gái cho đến khi Gretchen hỏi ba người đó đã làm gì. “Tuân theo nghi lễ riêng của các đạo sĩ khổ hạnh, họ đào mộ một bé gái năm tuổi chết đã ba ngày và ăn cái xác.”

Không ai nói được lời nào trong một lúc; rồi Britta lên tiếng, “Em nghĩ mình sắp nôn mất,” đoạn chạy biến đi. Gretchen ngồi gõ gõ ngón tay lên mặt bàn, rồi nói, “Bây giờ thì em hiểu đã đến lúc em phải về nhà bắt tay vào việc rồi. Anh sẽ làm gì, Cato?”

Anh chờ cho đến khi Britta quay lại, vẻ mặt bối rối và nhợt nhạt, rồi mới đáp, nhấn mạnh từng âm tiết, “Tôi đã không biết mình muốn làm gì... một cách chính xác. Giờ thì tôi biết rồi. Tôi sẽ rời khỏi đây và xin đi nhờ xe sang Ai Cập. Sau đó tôi sẽ xuống Hồng Hải và vượt biển sang Jiddah. Từ đó tôi sẽ bắt đầu từng chặng đi bộ trên con đường đến Mecca, để rồi khi tới nơi tôi sẽ chạy sáu lần quanh viên đá đen vĩ đại, và khi quay về Philadelphia, tôi sẽ đội cái mũ fez mà tự giới thiệu mình là Hajj’ Cato. Tôi sẽ khởi xướng một phong trào, và nó sẽ là một thủ đoạn vĩ đại che chở cho người da đen trong khi đạo Cơ Đốc chống đối họ. Và một khi nó đã được phát động một cách chắc chắn rồi, đồ con hoang các ông nên cảnh giác thì hơn.”

Nói xong anh đứng lên, sửa lại chiếc mũ fez và bỏ chúng tôi đi thẳng.

Khi bóng anh đã khuất, Big Loomis trầm ngâm nói, “Ba năm trước tôi đã từng đội một cái mũ fez. Song đừng lo về anh chàng này. Cậu ấy có sức chịu đựng đấy. Khi nào trở về Philadelphia, cậu ấy sẽ gây khó khăn cho người da trắng các ông đấy, cậu ấy là mẫu người da đen mà tất cả chúng ta đều cần đến.”

Gretchen nói, “Tôi nhận thấy ông dùng từ da đen,” và Loomis đáp, “Ba năm trước tôi dùng người Mỹ gốc Phi. Tôi đã coi đó là điều quan trọng.”

Tôi hỏi người đàn ông to béo xem ông ta định làm gì, và ông ta cho biết, “Có thể tôi sẽ ở lại Marrakech đến chừng nào mẹ tôi vẫn còn có khả năng gửi cho tôi ít tiền còm. Tôi có nhiều việc phải làm ở dưới đó. Thỉnh thoảng tôi có thể giúp các bạn trẻ như Monica và Cato.” Trong bộ lễ phục chỉnh tề đủ các chuỗi hạt, vải dệt tay và giày ống Tây Tạng, ông ta đứng dậy hùng dũng đi lên đồi tiến về phía quảng trường Zoco Grande, rồi từ đó bắt xe buýt quay về Marrakech.

“Mọi người nghĩ chuyện ông ta nói về Ấn Độ có đúng không?” Britta hỏi.

“Chính mắt anh đã thấy những việc như vậy rồi,” Holt đáp.

“Tôi đến Shinjuku bằng cách nào đây?” Joe hỏi.

“Thế này nhé, cậu lái xe từ đây đến Ai Cập. Sau đó phải đi tàu đến Beirut vì cậu không quá cảnh Israel được. Rồi cậu sẽ tiến về Damascus và Teheran, sau đó qua sa mạc đến Afghanistan, xuống Pakistan và qua Lahore để tới Ấn Độ. Lái xe ngang qua Ấn Độ thì đơn giản thôi và cậu sẽ đi xuyên suốt Miến Điện và Thái Lan. Cậu không thể quá cảnh Việt Nam được, vì vậy cậu sẽ chuyển xe lên một con tàu chở hàng Nhật Bản... xe cộ hầu như không mất tiền... vậy là cậu đã ở Shinjuku rồi.”

Tôi lắng nghe với vẻ thán phục. Thật chẳng khác gì lời chỉ dẫn cho người hàng xóm đường đến cửa hàng tạp hóa mới mở: “Cậu đến Afghanistan rồi rẽ trái.”

“Tôi có thể đi được với hai trăm tám mươi đô la không?” Joe hỏi.

“Tại sao không?”

Một phút im lặng bối rối trôi qua khi Joe và Gretchen đăm đăm nhìn nhau - một người thì chuẩn bị đi Tokyo, một người về Boston - và bị thôi thúc bởi lòng quý trọng tự nhiên trước tình cảm chân thành của cô, anh đưa ra lời mời, “Em nghĩ sao về chuyện đi Nhật Bản với anh?” còn cô đáp, “Cảm ơn anh, nhưng không đâu. Em từng nghe nói đưa vợ tới Tokyo cũng giống như mang bánh mì kẹp giăm bông đi dự tiệc ấy.”

“Cậu có phải vợ anh ấy đâu,” Britta nhắc.

“Tớ biết, nhưng tớ không muốn làm hỏng cuộc vui của anh ấy với các cô nàng mắt một mí.” Câu nói không được ai hưởng ứng, và một phút im lặng ngượng ngùng nữa trôi qua.

Một cách bốc đồng, Gretchen mở túi xách ra lục tìm quyển séc du lịch. “Anh là lái xe giỏi nhất châu Phi,” cô nói, “và anh xứng đáng được thưởng.” Cô hấp tấp ký một loạt tờ séc - chúng là những tờ năm mươi hay một trăm, tôi không nhìn thấy được - và lóng nga lóng ngóng đẩy sang cho Joe. Anh cầm lấy, lẩm bẩm nói cảm ơn. Vậy là cô ngước nhìn anh với nét mặt rạng rỡ, không còn chút lo sợ và căng thẳng nào. “Rồi chúng ta sẽ gặp lại ở đâu đó,” cô nói, và hai người bắt tay nhau.

Hẳn rất khó khăn cho Joe khi thốt ra những lời tiếp theo, vì anh biết rất có thể Holt đã nhận thấy mối quan tâm trước kia của anh với Britta. Hít một hơi thật sâu, cậu nói, “Ông biết đấy, ông Holt, vì ông tiến về Ceylon còn tôi hướng đến Nhật Bản, sao chúng ta không cùng nhau đi xuyên châu Á nhỉ? Ý tôi là cả ba chúng ta.”

“Tôi thấy hay đấy,” Holt điềm đạm nói. “Chúng ta có thể chuyện trò.”

“Tôi cũng nghĩ vậy đấy.”

“Và chúng ta có thể san sẻ chi phí,” Britta gợi ý.

“Có một chuyện,” Joe nói. “Tôi muốn dừng lại ở Leptis Magna.”

“Sao lại không nhỉ?” Holt nói. “Chúng ta sẽ đi qua đó.”

“Ở Leptis Magna thì có gì đáng xem?” Britta hỏi.

“Cảnh đổ nát. Tôi muốn thăm một trong những thành phố La Mã đã biến mất vì bị người ta lạm dụng đất đai. Rất có thể tôi sẽ hứng thú với lĩnh vực khai thác đất đai - tức là khi tôi đã xong chuyện tù tội. Ông Gridley khuyên tôi nên tính chuyện xin việc tại một công viên quốc gia. Bảo tồn giá trị cho đất đai.”

“Chúng ta cũng có thể quan sát hệ thống thủy lợi ở Ai Cập nữa,” Holt gợi ý, nhưng tôi nhận thấy khi anh phát biểu câu đó, Britta chợt cau mày định nói gì đó, song cô bị chặn lại vì Kasim đã quay về với giấy bán xe giả. Gretchen trả mười đô la cho anh ta, nhưng anh ta rền rĩ, “Đây là trả cho nhà in. Thế còn tôi thì sao?” Vậy là tôi liệng cho anh ta hai đô la nữa và Joe bắt đầu xếp đồ lên chiếc pop-top.

Lúc này Britta mới lên tiếng. “Chúng ta có thể dừng ở Leptis Magna,” cô thận trọng nói. “nhưng các nơi khác thì hạn chế vì chúng ta phải có mặt ở Ceylon vào ngày 23 tháng Mười hai.”

“Không, chúng ta không cần phải thế đâu,” Holt trấn an cô. “Đúng là vậy, anh phải về rồi. Nhưng công ty sẽ không tính toán chi li vì một tuần chậm trễ đâu.”

“Em muốn nói,” Britta giải thích, “là em phải có mặt ở đó vào ngày 23.”

“Vì sao?”

Cô đỏ mặt, nhỏ nhẹ nói, “Vì em đã gửi cho cha em một vé máy bay đến Ceylon thăm chúng ta rồi.”

Holt sững người. “Em lấy tiền đâu ra?” anh hỏi.

Đặt bàn tay lên tay Holt, Britta trả lời, “Mỗi lần anh đưa tiền cho em, em đều để riêng ra một ít.”

Khi Britta nói câu đó, tôi đang nhìn Holt, và anh nghênh nghênh đầu nhìn cô kinh ngạc, trên khuôn mặt hằn sâu nếp nhăn của anh chợt toát lên một vẻ ngơ ngác âu yếm mà đôi lúc các anh chồng vẫn dành cho những người vợ đã cùng họ chung sống nhiều năm nhưng chỉ đến lúc đó mới khám phá ra con người thật.

Nhưng Gretchen nhớ lại: “Hồi ở Alte cậu nói với chúng tớ rằng lỡ có khi nào cha cậu buộc phải nhìn thấy Ceylon đúng như thực chất của nó thì ông sẽ suy sụp cơ mà.”

“Hồi đó tớ có nói như vậy thật,” Britta thú nhận, “nhưng bây giờ tớ tin rằng mọi người đàn ông đều phải xác minh những ước mơ của mình. Và hiểu đúng bản chất của chúng.”

HẾT

• Chú thích •

[120] Hầu tước de Sade (1740-1814): Nhà văn và nhà soạn kịch người Pháp bị tù vì tội xâm hại tình dục và phải vào nhà thương điên.

[121] Trang phục truyền thống của người dân Polynesia, gồm một mảnh vải hình chữ nhật được quấn thành váy, dùng cho cả nam lẫn nữ.

[122] Thomas Aquinas: (1226-1274) Triết gia và nhà thần học thành phố Naples. Tác phẩm của ông được coi là nền tảng của đạo Thiên Chúa.

[123] Herbert Marcuse: (1898-1979) Triết gia Mỹ. Lý thuyết của ông kết hợp chủ nghĩa Mác và học thuyết Freud.

[124] Overdose: Liều quá cao.

[125] Anbert Schweitzerd (1875 -1965): Bác sỹ người Pháp, nhà truyền giáo, giải Nobel hòa bình 1952.

[126] Big PX (Big Post Exchange): Tiếng lóng của cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu ở Việt Nam dùng để gọi đất nước mình.

[127] Visigoth: Một bộ tộc Đức từng xâm chiếm Tây Ban Nha vào thế kỷ V. Sau khi cải theo Thiên Chúa giáo La Mã, Visigoth đã trở thành một triều đại lớn ở bán đảo Iberia.

[128] The little old lady from Dubuque: Harold Ross (1892-1951), người sáng lập tờ The New Yorker, từng có một lời trích dẫn nổi tiếng “Tờ New Yorker không phải là tạp chí dành cho bà già nhỏ bé ở Dubuque” ý nói bà Mary Regina Hayford, đại sứ thiện chí, người thuộc thành phố Dubuque, bang Iowa, đã mất nhiều năm xua tan thành kiến coi người Iowa là dân tỉnh lẻ và lạc hậu. Ở đây, Big Loomis muốn nói đến New York.

[129] Thánh Thomas Aquinas: (1226-1274) được coi là một trong những nhà thần học và triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại, còn được gọi là “Tiến sĩ Thiên thần”.

[130] Thánh Paul (3-68 CN): Còn được gọi là Saul, Paulus hay “Sứ đồ của dân ngoại” và được xem là một trong những cột trụ của Hội thánh tiên khởi, một nhân tố quan trọng đóng góp cho sự phát triển Cơ đốc giáo thời kỳ sơ khai.

[131] Marshall McLuhan (1911-1980): Nhà văn, nhà sư phạm Canada, người tiên đoán sự chuyển đổi từ thời đại của sách in sang thời đại truyền hình từ những năm 1960, nổi tiếng vì cách dùng từ “Làng toàn cầu” và “Truyền thông chính là sự xoa bóp”.

[132] George Wallace (1919-1998): Chính trị gia Mỹ, Thống đốc bang Alabama bốn nhiệm kỳ, được coi là thủ lĩnh phe phân biệt chủng tộc trong đảng Dân chủ.

[133] Hội John Birch: Tổ chức chính trị cánh tả thành lập năm 1958 tại Indiana, được đặt theo tên của John Birch (1918-1945), nhà truyền giáo Tin lành tin vào lễ rửa tội, nhân viên tình báo quân sự, bị giết năm 1945.

[134] Cassius Clay (sinh 1942): Tên khai sinh của huyền thoại đấm bốc Muhammad Ali. Ông đã cải theo đạo Hồi năm 1964.

[135] Thomas Mann (1875-1955): Nhà văn, nhà phê bình văn học người Mỹ gốc Đức. Nhưng ở đây có sự nhầm lẫn vì Pribislav Hippe là một nam sinh mà nhân vật Hans Castorp gắn bó hồi còn đi học trong cuốn “The Magic Mountain” (1924) chứ không phải trong “Death in Venice” (1912).

[136] Aristophanes (448-380 TCN): Nhà viết kịch Hy Lạp, sáng tác nhiều vở kịch nhạo báng những người lãnh đạo chiến tranh.

[137] Ẩm thực truyền thống của Thụy Điển và vùng Scandinavia, là buffet nhưng mỗi món phải ăn bằng một dĩa riêng biệt.

[138] Bác Tom: Nhân vật chính, một nô lệ da đen trong truyện “Túp lều bác Tom” của nhà văn Mỹ Harriet Beecher Stowe, tượng trưng cho người nô lệ xu nịnh người da trắng.

[139] Món ăn vùng Bắc Phi, gồm bột mì nấu với thịt hoặc nước thịt.

« Lùi
Tiến »