Chúa viết thẳng, nhưng lại dùng một dòng cong.
Con người ra nước ngoài để chiêm ngưỡng độ cao của núi, những cồn sóng hùng vĩ của biển, dòng chảy dài dặc của sông, sự bao la của đại dương, và chuyển động tròn của sao, ấy vậy mà lại bỏ qua bản thân.
• Thánh Augustine
Ông già tôi đã phạm một sai lầm bi thảm. Mang theo quần áo không cần ủi đi châu Âu. Một tuần sau mẹ tôi nói bà sẽ bị trời đánh thánh vật nếu sang châu Âu để mà giặt đồ cho ông. Ông bèn tự làm lấy, và khi thấy ông thành thạo như thế nào, bà liền bắt ông giặt cả đồ cho mình nữa. Khi ông bà về nhà, bà tuyên bố vì ông làm giỏi quá rồi nên ông có thể đảm nhiệm đều đặn việc giặt giũ. Với số tiền tiết kiệm được bằng cách này, bà định sẽ du lịch châu Á vào mùa hè tới. Vẫn chưa quyết định xem có nên cho cha tôi đi cùng hay không.
Quan điểm phi bạo lực đã đưa Martin Luther King đến đâu? Đến cái chết.
Nếu một gia đình khủng long sống sót trên trái đất, một tên chó đẻ nào đó ở Tây Oklahoma sẽ tuyên bố hắn ta có quyền bắn chết con đực.
Một lò thịt nướng ngoài trời ở Alabama đã tổ chức cuộc thi hoa hậu này và bầu chọn một cô gái da màu xinh xắn làm Hoa hậu Thịt nướng 1970. Thế là khi trở về phòng cô hỏi, “Gương ơi, gương ngự trên tường, thế gian ai là người trắng nhất?” gương bèn càu nhàu, “Nàng Bạch Tuyết chứ ai, đồ con hoang da đen, và mi đừng có quên điều này đấy.”
Người trẻ tuổi nên đi xa, cho dù chỉ để giải trí.
• Byron
Thiên nhiên là phương thuốc sẽ chữa khỏi mọi tật bệnh gây ra bởi những kẻ lạm dụng thiên nhiên.
Hòn đảo giữa biển khơi, nơi tàu ta ghé,
Là chỗ thả neo an toàn, tuy khá nhỏ bé.
Ở đây tên gọi Quilóa và Mombassa;
Ngoài xa hơn một chút lại là Sofála.
Bởi chúng cần chung một tên gọi,
Chúng tôi liền chiếm đảo làm nơi neo đậu,
Và để trả lời mọi điều anh hỏi,
Tên nó từ nay là Moçambique...
Nơi đây chốn dừng chân yêu thích
Bao đồ ăn thức uống ngon lành để thưởng thức
Tất cả những gì cần, ông ta đều nắm giữ,
Và chào đón khách, và cung cấp đủ mọi thứ.
• Luis de Camões
Tôi thương hại người đàn ông có thể đi được từ Dan tới Beersheba và than, “Cằn cỗi hết cả thế này.”
• Laurence Sterne
Con voi sầm sầm xuyên qua rừng cây, sừng sững cao đến mức vai chạm cành cao nhất, một con thú với tầm vóc khiến tôi sững sờ. Tôi tự hỏi, “Ta có quyền gì mà gia tăng sức mạnh của mình bằng một thứ đồ chơi máy như khẩu súng trường để có thể ngang sức với con thú cao lừng lững kia?” và hiển nhiên tôi quá điên rồ, và tôi không sao bóp cò được. “Bắn đi! Bắn đi!” các bạn săn hét, nhưng tôi không thể, vì vậy một người phải làm thay, và phần tử khổng lồ của thiên nhiên ấy loạng choạng bước về phía trước chừng một mét rồi đổ sụp xuống như quả núi đã bị lấy cắp mất lõi vàng, về đến trại, họ kể là tôi đã biểu hiện rất kém...
Hãy ủng hộ sự lành mạnh tinh thần, nếu không tôi sẽ giết anh.
Một con cáo chê cười một con sư tử cái vì mỗi lần chỉ đẻ được một con trong khi cáo thì những bảy. “Đúng,” sư tử công nhận, “nhưng khi ta sinh thì đó là một con sư tử.”
Hãy chung tay phục hồi chế độ nô lệ da trắng.
—★—
Tôi không có mặt ở Moçambique vào ngày tháng Tám ấy, khi chiếc tàu chở hàng Hy Lạp hạ chiếc pop-top màu vàng xuống rìa bến cảng ở Lourenço Marques, nhưng sau này tôi đã được nghe kể về phản ứng của mỗi người mới đến.
Cato, ngay khi đặt chân lên bờ, bèn quỳ xuống hôn lên mặt đá. Khi những người khác phát biểu họ không ngờ cậu nghĩ đến châu Phi nhiều như vậy thì cậu nói, “Tôi tỏ lòng kính trọng những nô lệ da đen mang nặng xiềng xích đã bị bán đi từ cảng này.”
Monica ngẩng mái đầu đen nhánh lên để cảm nhận làn gió cuối đông dịu dàng ấm áp. Cô ngắm nhìn cây cối đang ra hoa sắp đâm chồi nảy lộc, rồi quan sát đám người muôn hình muôn vẻ xung quanh - người Phi, người Bồ Đào Nha, người Ấn Độ, người Trung Quốc, người Hy Lạp, người Rhodesia - và run rẩy. Đây vẫn là châu Phi quen thuộc, bao la và không khoan dung, và nơi này vẫn đè nặng lên cô như tự bao giờ.
Joe chỉ chăm chú nhìn. Bến tàu hiện đại hơn anh tưởng. Sự hiện diện của một đoàn tàu hỏa chạy xình xịch khiến anh bối rối không kém gì trước con tàu chở hàng hiện đại và những chiếc taxi hiệu Mercedes-Benz. Những gì anh có thể nhìn thấy ở thành phố bao quanh trông đều giống như ở châu Âu. “Qua những gì đã biết thì đây không phải thứ tôi trông đợi,” anh phát biểu.
Về phần Gretchen, cô say sưa trước vẻ đẹp kỳ lạ nơi đây và nói với các bạn, “Ở Pamplona chúng ta đã quyết định thật sáng suốt.”
Gretchen muốn cầm lái, nhưng trên đường vào thành phố cô thấy khó mà cứ đi bên trái, và nó còn khiến cô không thể ngắm nhìn thỏa thích quang cảnh Lourenço Marques. Các bạn khác cho rằng đây là một trong những thủ đô đẹp nhất họ từng đến. Đại lộ thì rộng rãi và chạy thẳng vào sâu trong nội địa, nhà cửa hai bên đều sạch sẽ và kiên cố. Joe cố gắng chỉ đường cho cô dựa trên tấm bản đồ anh đã lấy trên tàu, hướng dẫn cô đi qua khu dân cư đến các khách sạn sang trọng, những công trình kiến trúc đồ sộ rất giống ở Nice hay Cannes, mỗi công trình đều có bể bơi và sân quần vợt riêng.
“Tôi vẫn đang cố thuyết phục mình đây là châu Phi,” Cato nói.
Lúc này họ đã đi vào một mạng lưới đường siêu cao tốc bê tông rồi lại chật vật thoát ra, nhưng phía trước họ đã nhìn thấy tấm biển làm những người lái xe hơi ở châu Âu và châu Phi an lòng hẳn: Khu cắm trại. Ngoặt khỏi đường, Gretchen cho xe dừng lại trước một văn phòng xung quanh trồng nhiều hoa và hỏi, “Đây có phải nơi đăng ký không?”
“Hộ chiếu của các vị,” anh nhân viên Bồ Đào Nha nói. Rồi anh nâng rào chắn lên cho họ bước vào một nơi sẽ được họ ghi nhớ như màn làm quen thiện chí nhất với một châu lục mới.
Sau này, khi tôi bắt kịp họ, Gretchen kể, “Nó nằm ngay bên bờ Ấn Độ Dương nên buổi sáng khi thức dậy người ta sẽ được ngắm mặt trời nhô lên khỏi mặt nước, và ban đêm khi đi ngủ, người ta có thể nhìn thấy ánh đèn trên các con tàu đi ngang qua. Phi lao mọc khắp nơi và hoa nhiều đến nỗi khu này chắc phải do các nhà làm vườn quản lý.
Ra ra vào vào giữa đám cây cối quanh co là một mạng đường lát, với những điểm đậu xe không ai ngờ. Chúng cháu chọn một chỗ đẹp. Chúng cháu có thể nhìn thấy một cụm đảo xa. Thế mà tất cả chưa đến một đô la một ngày.”
“Bạn ấy còn chưa kể đến phần thú vị nhất,” Monica nói. “Chúng cháu đang đứng dựa vào pop-top thì từ trên cây trèo xuống một bầy khỉ đã thuần, chí chóe về những vấn đề cục bộ và xin ăn. Chúng thật lạ thường, từ khỉ ông cho đến khỉ cháu, nếu chúng cháu không cho chúng ăn, chúng sẽ leo lên cao ngoài tầm với mà chửi bới chúng cháu, nhưng nếu chúng cháu có đồ ăn chúng sẽ đến gần hơn và nịnh nọt thái quá. Chúng cháu gọi chúng là ủy ban đón tiếp đấy.”
“Phần cháu thích nhất,” Gretchen kể tiếp, “là các căn nhà tròn. Nếu rời khỏi phần đất cắm trại dành cho xe moóc, ta sẽ đến một khu san sát những túp lều nhỏ hình tròn, mỗi túp sơn một màu. Chúng được làm theo mẫu nhà châu Phi ngày xưa, và nếu đã chán ngủ trên xe, người ta có thể thuê một căn nhà tròn. Rất tuyệt.”
Sau này tôi được biết các căn nhà tròn ấy đã gây chút khó xử vì sau hai đêm họ ngủ trên xe, Joe gợi ý là họ cần thêm chỗ, vậy là họ đến văn phòng, và nhân viên ở đó xem hộ chiếu thấy họ không phải là vợ chồng bèn tế nhị đùa rằng sẽ tìm một căn màu hồng cho hai cô gái và một căn màu xanh cho hai chàng trai. Gretchen định cho anh ta biết là họ không có ý như vậy nhưng Monica đã nói chen vào, “Thế thì tốt.”
Khi nhân viên này đi khỏi, Cato và Monica chuyển vào căn nhà màu hồng, để Joe và một cô Gretchen ngượng nghịu đứng trước căn màu xanh, lúng túng không biết phải làm gì tiếp theo. Trên con tàu Hy Lạp, cuộc sống rất đơn giản. Vì kế hoạch ban đầu là nhóm có năm người nên họ đã đặt trước ba phòng, và vì Britta ở lại không đi cho nên, khi Cato và Monica sử dụng một phòng, Gretchen một, và Joe một âu cũng là chuyện hợp lẽ. Như vậy không ai thấy khó xử vì mọi người đều nhận ra Gretchen gắn bó theo lối chẳng rõ ràng với Clive, do đó Joe chỉ chú ý đến cô một cách bình thường trong suốt cuộc hành trình dài và cậu cảm thấy mình không thích mà cũng không có nhiệm vụ phải làm hơn thế. Hai đêm ngủ trên bờ không thành vấn đề vì mọi người đều đã quen với chỗ ăn ở chật chội trong chiếc pop-top và không coi đó như lời mời quan hệ tình cảm mật thiết.
Nhưng bây giờ có vẻ như Joe và Gretchen phải sử dụng chung căn nhà tròn màu xanh với chiếc giường đôi, nên Gretchen rụt lại. Bối rối thấy rõ, cô bước tới cửa lều và nói khe khẽ, “Anh ra lấy đồ của em trên chiếc Volkswagen mang vào đây có phải tốt hơn không?”
Joe hỏi, “Đồ của em?” và cô gật đầu. Khi đã giao đồ xong và một mình quay lại chiếc pop-top, anh lẩm bẩm, “Thế mà chính mình lại là người đề xuất việc thuê nhà tròn đấy.”
Chiều ngày thứ ba Gretchen tuyên bố khiến mọi người đều ngạc nhiên, “Tôi sẽ đãi các bạn bữa tối ở Trianon.” Vậy là đêm đó Cato diện thật bảnh và hai cô gái mặc chiếc váy ngắn đẹp nhất, còn Joe vẫn xuất hiện với bộ quần áo thường ngày. Cả ba đồng thanh “Ôi người anh em!” rồi bắt anh cởi chiếc quần Levis và áo khoác da cừu, nhưng anh nhất định không chịu bỏ đôi giày cao cổ, song với chiếc quần bình thường, sơ mi, cà vạt cùng áo blazer, trông anh cũng không đến nỗi nào.
Khi họ nối đuôi nhau vào phòng ăn sang trọng, mọi người đều nhìn họ chằm chằm - phần vì hai chiếc váy quá ngắn, phần vì râu tóc bờm xờm của Joe, nhưng chủ yếu vì Cato rõ ràng là bồ bịch của một cô gái da trắng. Chẳng may họ lại bị xếp ngồi gần bàn một cặp vợ chồng Boer[100] kiêu ngạo từ Nam Phi tới, những người cực kỳ bi quan về mọi chuyện trên đời và làu bàu nghe rất rõ về chuyện bọn mọi đen phải bị cấm cửa ở những nơi tử tế.
Trước sự khiêu khích ấy, Cato và Monica hết sức khó chịu. “Phiền anh,” Cato kiêu kỳ nói với anh bồi bàn trưởng, “gọi cho chúng tôi tiếp viên rượu.” Khi tiếp viên rượu tới, Cato hỏi lớn tiếng hơn cần thiết, “Anh có Burgundy trắng thật ngon không... có thể là một chai Chablis?” Cậu gõ gõ râu, nói giọng tự tin, “Nhưng phải rất nguyên chất... thực sự nguyên chất đấy.”
Đến lúc này thì anh bồi bàn trưởng bắt đầu phao tin, “Ông ta là một quan chức lỗi lạc của Liên Hiệp Quốc,” vậy là Monica liền nói với giọng rành rọt, “Chẳng phải thật buồn cười sao khi trên khắp thế giới mọi người cứ dùng Liên Hiệp Quốc như lý do bào chữa cho việc bị bắt buộc phải làm những gì họ nên làm từ năm mươi năm trước?”
Rượu ra, Cato mới bắt đầu diễn trò thực sự. Anh nhấc cốc rượu để nếm thử lên, soi trước ánh đèn, thận trọng nhấp một chút, súc miệng, rồi cố tình nhổ ra một cái cốc khác. Sau đó, với vẻ mặt trầm ngâm, anh ngả người ra sau và phát biểu, đủ lớn tiếng để cặp vợ chồng Boer nghe rõ, “Có vị gì đó... vị gì đó.” Anh gọi một miếng bánh mì, nhai chậm rãi và nuốt. Chỉ đến lúc đó anh mới thử một lần nữa, nhấm nháp như người sành rượu, cuối cùng nuốt ực một cái. “Rất chuẩn,” Cato nói vẻ sáng suốt. “Anh có thể rót được rồi.”
Vào đến bếp, anh bồi bàn trưởng nói, “Cái con khỉ chết tiệt ấy sành rượu thật. Chắc vợ hắn phải là triệu phú,” nhưng người đàn ông Boer lại thầm thì với vợ, “Anh mong thằng ấy giở trò đó ra với anh... chỉ một lần thôi. Anh sẽ vặn cổ hắn,” còn Cato nói thầm với Gretchen, “Anh hy vọng em có đủ tiền để trả cho chai rượu này... bất kể nó là rượu chết tiệt gì đi nữa.” Monica kết thúc màn kịch bằng cách nói rõ to để mấy bàn xung quanh đều nghe được, “Chú hề của em. Chú hề xấu xa, tuyệt vời của em.”
Ở bàn khác một cặp vợ chồng dáng vẻ đặc biệt - người đàn ông thì tóc bạc, hàng ria xén tỉa cẩn thận, người đàn bà tóc có ánh xanh và cổ áo đăng ten mềm mại - không rời mắt khỏi Cato, chẳng tỏ ra thích thú trước trò hề của anh mà cũng không tức giận sự kiêu căng của anh, có vẻ như họ biết anh, nên sau khi rượu đã được rót, họ nhờ bồi bàn chuyển tới một bức thư ngắn. Tờ giấy không phải gửi cho Cato mà là cho cô gái trẻ mặc váy xanh, nội dung là: “Xin thứ lỗi, cô có phải con gái Ngài Charles Braham không? Ông nhà tôi là chánh án tòa án tối cao Vwarda.” Nó được ký tên “Maud Wenthorne” và kèm lời tái bút, “Chúng ta có thể cùng uống cà phê trong quầy bar.”
Monica đọc lá thư với nhiều cảm xúc lẫn lộn: nó gợi lên ký ức về những buổi chiều thú vị ở Vwarda, khi kiều dân Anh họp mặt uống trà và bàn chuyện trường sở, mưa mùa hè và những hành động gây bất bình mới nhất của Chính phủ Công đảng - ở London, tất nhiên, chứ không phải Vwarda. Ấy là những ngày huy hoàng, lơ lửng trên ngưỡng đổi thay, nhưng chúng nhanh chóng biến thành quãng thời gian bi thảm, bị đánh dấu bởi xung đột bộ lạc, cướp đoạt tài sản, mất những việc làm tưởng như chắc chắn, và sự trục xuất từng bước người da trắng. Cha Monica và ông bà Wenthorne thường xuyên gặp nhau, nhưng Monica lại học ở Anh nên Phu nhân Wenthorne chỉ ngờ ngợ là nhận ra cô âu cũng là điều dễ hiểu.
Monica cảm thấy rất muốn gửi một bức thư ngắn trả lời: “Ông bà nhầm rồi,” vì cô không thích nối lại quan hệ với đám kiều dân Anh ở châu Phi, nhưng hồi ở Vwarda Phu nhân Wenthorne đã tỏ ra rất tử tế nên từ chối thiện chí của bà sẽ là khiếm nhã. Xoay người về phía bàn của họ, cô thân thiện mỉm cười và gật đầu, rồi chuyển tin nhắn đó cho ba người bạn và trả lời các câu hỏi của họ một cách nước đôi. Để kể tất cả những gì cô biết về cặp vợ chồng đáng chú ý này thì sẽ cần cả một hành trình quay về quá khứ, việc mà cô vẫn chưa sẵn sàng; kể cho họ nghe không đến nơi đến chốn thì lại không công bằng; nhưng thế khó xử của cô đã được Cato tháo gỡ, anh hỏi, “Chẳng phải ông ta là người đã làm Vwarda rối loạn? Truyền xuống một quyết định mà người da đen sẽ không chấp nhận?” Vẻ ngạo nghễ, anh quay nhìn ông chánh án chằm chằm theo cái lối khiến kẻ kia phải hiểu là người da đen này đang đồng nhất ông ta với cuộc khủng hoảng của tòa án gần đây. Ngài Victor đỏ mặt, rồi cúi người gật gật đầu như muốn nói, “Phải, anh bạn trẻ, tôi chính là người đó.” Lúc ấy ông hẳn phải cảm thấy hối tiếc về lời mời cà phê nhiệt tình quá mức của bà vợ.
Ông bà Wenthorne ăn xong trước và ngồi chờ trong quán bar, ở đó đội ngũ bồi bàn da đen mặc đồng phục xanh mang găng trắng điềm đạm đi lại, tiếp những tách nhỏ cà phê Angola rất ngon uống kèm bánh quế rắc đường. Vợ chồng ông chánh án ngồi trong góc, bên chiếc bàn sắt trên mặt trang trí rất nhiều hình cuộn và đường cong. Một ánh sáng êm dịu không biết phát ra từ đâu, và Gretchen nghĩ: Chắc hẳn đây là một trong những nơi văn minh nhất trên thế giới ngày nay; còn Monica lại nghĩ: “Chúng ta lại về đây... sự hùng mạnh của đế chế... lần này là Bồ Đào Nha.”
Phu nhân Wenthorne xử sự như thể đang chủ tọa một dạ hội thời Victoria, còn ông chánh án dường như nêu tấm gương mẫu mực cho thói tao nhã quan tòa, thể hiện rõ nét ở tính trung thực và sự chú ý tế nhị đến cách ứng xử đúng đắn, vốn là đặc trưng của các thẩm phán Anh ưu tú nhất. Chẳng hạn, khi Cato hỏi với vẻ châm chọc, “Tại sao quyết định ở Vwarda lại gây ra bạo động?” Ngài Victor liền đứng lên, cáo lỗi và đi vào phòng vệ sinh nam một cách khoa trương, để bà vợ trả lời thay, “Bởi vì một quan tòa da trắng phải đối ngược với một quan tòa da đen.”
“Chẳng lẽ không có một người da đen nào ở tòa án cấp cao?” Cato hỏi.
“Làm sao có được? Có người bản xứ nào học luật đâu.”
“Bà vừa nói thẩm phán cấp thấp hơn là người da đen mà.”
“Nhờ được giúp đỡ thôi, không phải do đào tạo. Ông nhà tôi phụ trách tuyển dụng thẩm phán đoàn, và ông ấy đã lập được kỳ công đưa những người trẻ tuổi có triển vọng lên làm quan tòa, mặc dù họ chưa đủ khả năng. Nhưng đối với những cấp cao thì... Tuyệt đối không thể được.”
“Nhưng theo tôi biết thì hiện tại các chánh án cao cấp đều là người da đen.”
“Phải. Từ sau bạo động, toàn bộ thẩm phán da trắng đều bị tống khứ hết.”
“Thế tức là họ đã tìm được các thẩm phán da đen?”
Phu nhân Wenthorne bình tĩnh nhìn Cato và đáp, “Họ tìm được người da đen... chứ không phải thẩm phán da đen.”
Lúc này Ngài Victor đã quay lại, và đây là dấu hiệu chấm dứt đề tài bạo động, vì vậy Monica hỏi, “Ông sẽ quay lại Vwarda chứ?” và ông đáp với vẻ điềm đạm, đặc điểm nổi bật của ông trên tòa, “Ngày mai một phái đoàn sẽ tới đây. Em trai tổng thống dẫn đầu đoàn, tôi tin vậy. Chúng tôi sẽ khảo sát tỉ mỉ xem có thể làm được gì vì ở Vwarda người ta thực lòng mong tôi có thể tiếp tục cho đến khi mọi ghế quan tòa đều có đủ người đã qua đào tạo.”
“Tôi nghĩ các ghế ấy đã đủ người rồi,” Cato nói.
Điều đáng chú ý - Monica chỉ ra vấn đề quan trọng này khi cô kể lại với tôi sau đó - là ông bà Wenthorne không thành kiến như vậy. Họ quý mến người da đen, đã làm việc cả đời với người da đen, đã làm tất cả những gì có thể để khuyến khích thanh niên da đen học y và luật, và bây giờ, theo trực giác, họ cũng quý mến Cato và thích những câu chất vấn dồn ép của anh. “Thưa ông, tôi e là mọi ghế thẩm phán đều đủ người rồi,” ông thẩm phán nói. “Nhưng tất cả các nhà lãnh đạo ở Vwarda đều thừa nhận chúng bị chiếm bởi những người không phù hợp - những người theo chủ nghĩa bộ lạc, những kẻ mua quan bán chức đồi bại, những kẻ vô nguyên tắc hay thiếu trung thực. Tôi không biết có phải anh em tổng thống muốn tôi quay lại không, nhưng chắc chắn họ cần một người có khả năng giải quyết rối ren như tôi. Và tôi cho là, dù tốt xấu ra sao, đó cũng phải là người da trắng.”
Điều này làm Cato bực tức, anh bèn vặn lại, “Giả sử những kẻ nổi loạn đã tống cổ ông ra không cho ông vào? Tòa án liệu có tiếp tục? Luật pháp liệu có tiếp tục, song dựa trên một cơ sở khác? Thẩm phán da đen vì người da đen?”
“Anh đóng cái đinh trúng vào đầu, anh bạn trẻ ạ,” Ngài Victor thừa nhận không chút oán hận. “Tất nhiên, không có thẩm phán da trắng, tòa án vẫn hoạt động. Tại sao hai người Anh, hai người Ailen và một người Úc lại phải thực thi công lý ở Vwarda? Song những gì các thẩm phán da đen thế hệ này sẽ thực thi không phải luật pháp mà cũng chẳng phải công lý, vì họ đâu hiểu cả hai thứ đó. Họ sẽ thi hành những cuộc trả thù mang tính bộ lạc. Thực tế họ đã làm vậy rồi, và chính vì thế mà ngày mai phái đoàn sẽ đến đây.”
“Ông chỉ trích toàn bộ hệ thống pháp luật Vwarda?” Cato dồn ép.
“Chừng nào nó còn đắm chìm trong chủ nghĩa bộ lạc thuần túy thì, phải.”
“Ông không cho rằng cuối cùng chủ nghĩa bộ lạc cũng có thể đạt hiệu quả ngang bằng hệ thống pháp luật phương Tây?”
“Trong một khu vực bộ lạc nhất định, chắc chắn nó cũng đạt hiệu quả không kém. Trong một khu vực liên bang, nơi nhiều bộ lạc phải hoặc sống chung hoặc diệt vong, thì nó không thể thực hiện chức năng được.”
“Lẽ nào không có khả năng châu Phi có thể phải trải qua một thời kỳ dài chủ nghĩa bộ lạc, rồi sau đó sẽ phát triển một kiểu chế độ liên bang riêng?”
“Có chứ!” Ngài Victor hăng hái nói. “Đó là điều chúng tôi hy vọng... điều chúng tôi dự liệu. Nhưng các bước tiến từ chủ nghĩa bộ lạc đến chủ nghĩa liên bang phải được thực hiện một cách trung thực và không hủy diệt các dân tộc, điều này chỉ có thể được hoàn thành nếu tất cả chúng ta tuân thủ những nguyên tắc luật pháp chung, vấn đề là ở đó.”
“Và luật pháp mọi người phải tuân thủ tất nhiên là của người da trắng?”
“Nếu anh coi Hammurabi, Moses, Muhammad và Solon là người da trắng, thì đúng vậy.”
Phu nhân Wenthorne ngắt lời để lái câu chuyện khỏi vấn đề thẩm phán và tư pháp. “Cô có tin gì của Ngài Charles không?” bà hỏi Monica.
“Cha tôi đang ở London. Buồn thảm tuyệt đối.”
“Thật đáng tiếc! Đáng lẽ ông không nên rời châu Phi mới phải.” Bà nói câu này với cả chồng lẫn Monica.
“Bà và Ngài Victor định làm gì?”
Phu nhân Wenthorne mỉm cười, hít thật sâu mấy lần rồi nói, “Tôi nghĩ ngày mai Ngài Victor sẽ để cho mình bị thuyết phục bởi phái đoàn Vwarda. Chúng tôi sẽ quay về để giúp họ thành lập một đội ngũ thẩm phán xứng đáng được tôn trọng. Kẻ bất tài này kẻ kém cỏi kia từng bị ông nhà tôi cho thôi việc sẽ tập hợp bộ lạc của bọn họ. Sẽ có những cuộc bạo động mới chống người da trắng, và cuối cùng cả hai vợ chồng tôi sẽ bị giết... có lẽ bằng giáo mác.”
Sáng hôm sau trên bãi biển, nhóm bạn gặp năm người Nam Phi rất thú vị, những thanh niên rắn rỏi khao cả nhóm một chầu bia và sẵn lòng tán đủ chuyện trên đời. Người nào cũng rám nắng và có một nét lôi cuốn là thích đưa chính bản thân và những điểm yếu của đất nước họ ra làm trò cười. Hiển nhiên bọn họ đều bị hai cô gái gây ấn tượng mạnh nhưng lại thích nói chuyện với Cato hơn, họ hỏi han cậu hàng giờ về tình hình nước Mỹ.
Sau khi đi bơi về, họ tập trung ở căn nhà màu hồng của Cato và mua thêm một ít bia, ném luôn nắp chai vào đàn khỉ, chúng chửi rủa ầm lên. Lời bình luận của họ về cuộc sống ở Nam Phi thẳng thắn đáng kinh ngạc. “Đó là một chính quyền cảnh sát, và tình hình nhất định sẽ tồi tệ hơn nữa. Những gì chúng tôi đang phải học là cách chế ngự người da đen. Đất nước nào mà chẳng làm được việc ấy, nếu người ta sẵn sàng trả giá.” Câu trả lời của Cato cũng sắc sảo không kém, “Ở Mỹ chúng tôi chắc chắn sẽ phải chiến đấu ngoài đường phố. Có lẽ khoảng năm 1972.” Nhưng sự trao đổi ý kiến là bổ ích cho cả hai bên, và khi họ đã đi khỏi, Cato nói, “Phải thú nhận thế này thì thật xấu hổ, nhưng tôi thực sự hiểu mấy anh chàng ấy,” và Monica lưu ý, “Tất nhiên rồi, mấy anh bạn biết điều ấy là dân của nửa Nam Phi thuộc Anh mà,” nhưng Gretchen chỉnh lại: “Trong năm người, ba người nói với nhau bằng tiếng Hà Lan Nam Phi. Họ là người Boer thuần chủng. Mình hỏi họ rồi.”
Tối đó các bạn trẻ bắt gặp một thoáng Nam Phi khắc nghiệt hơn. Một chính khách ở Johannesburg, tiến sĩ Christian Vorlanger, đến nghỉ tại khách sạn Trianon và tổ chức họp báo để trình bày những quan điểm khác thường đang ngày càng được nhiều người trong giới ủng hộ. Những tài liệu trình bày ý kiến của ông ta từng khiến dư luận xôn xao và ông ta sẵn sàng gặp mặt các đồng hương có khả năng đang nghỉ trong thành phố, thế nên năm người Nam Phi ghé vào căn nhà tròn của Cato để mời cậu và các bạn tới cuộc họp.
Tiến sĩ Vorlanger là người có uy, cao lớn, vạm vỡ, cổ to, nước da rám nắng của người thường xuyên hoạt động ngoài trời. Ông ta còn rất thu hút vì nói năng đầy thuyết phục, không chút cuồng tín. Thông điệp của ông ta vừa đơn giản vừa mang tính cách mạng:
“Những gì tôi phải phát biểu sẽ không được ưa thích cũng không được đón nhận nhiệt tình, nhưng tôi đang cất lên tiếng nói của tương lai và theo tôi dự đoán trong vòng năm năm nữa quan điểm của tôi ngày hôm nay sẽ được tất cả những người Nam Phi biết suy nghĩ chấp nhận.
“Chỉ cần chịu khó nhìn một cách trung thực vào đất nước hùng mạnh của chúng ta, ai cũng càng ngày càng thấy rõ rằng đến lúc quyết định chúng ta sẽ không thể trông mong vào người Nam Phi gốc Anh được vì họ đã bị nhiễm những triết lý tự do này nọ rồi. Khi thời điểm quyết định đến, chúng ta sẽ chỉ có thể tin tưởng vào những công dân Boer kế thế vì họ vẫn trung thành với lời dạy đúng đắn của Giáo hội Cải cách Hà Lan. Chỉ có họ mới đáng tin cậy.
“Do đó, kế hoạch của tôi rất đơn giản. Nếu chúng ta biết không thể tin được người Anh, và nếu chúng ta biết người Boer đáng tin cậy, thế thì khôn ngoan nhất là ngay bây giờ - từ giờ phút này trở đi - phải khống chế số phiếu bầu dành cho những người đáng tin, hạn chế không để rơi vào tay những kẻ không tin được. Cả tôi và các cố vấn đều suy nghĩ rất nhiều xem đâu là tiêu chuẩn hợp lý nhất nhằm xác định những người có thể và không thể tin được. Chúng tôi đã cân nhắc nhiều khả năng. Nào là người đó sử dụng ngôn ngữ họ Hà Lan Nam Phi thay vì tiếng Anh. Hay người đó được dạy dỗ ở một trường Hà Lan Nam Phi thay vì trường Anh.
“Người đó từng phục vụ trong một ủy ban Hà Lan Nam Phi tại cộng đồng nơi mình sinh sống. Hay có thể là người đó được hầu hết mọi người trong cộng đồng nơi mình sinh sống công nhận là người Boer. Chúng tôi cũng nghiêm túc cân nhắc đề xuất rằng ba người trong số ông bà nội ngoại phải là người Boer. Nhưng càng đi sâu vào vấn đề, giải pháp lại càng đơn giản... càng rõ ràng đối với tất cả chúng tôi. Vì vậy chúng tôi đề nghị từ nay trở đi phiếu bầu chỉ được giới hạn cho những thành viên Giáo hội Cải cách Hà Lan năng đi lễ nhà thờ có đóng hội phí. Nhờ quy tắc thẳng thắn và dễ thi hành ấy, chúng tôi có thể xác định được những người sẽ sát cánh bên mình khi thời điểm quyết định đến - những người chúng tôi có thể tin cậy để bảo vệ Nam Phi mà chúng tôi yêu quý và giữ cho nó mãi là Nam Phi mà chúng tôi yêu quý.
“Bây giờ, trước khi thảo luận vấn đề, tôi muốn cam đoan với ba nhóm người là họ không có gì phải lo ngại về bản cương lĩnh do chúng tôi đề ra. Thứ nhất, dân bản xứ. Họ sẽ không bị ngược đãi bằng bất cứ hình thức nào. Họ sẽ sống cuộc đời riêng độc lập với cuộc sống của chúng tôi và sẽ được hưởng một mức sống và công lý chưa từng thấy tại bất kỳ nước cộng hòa da đen nào ở châu Phi. Họ sẽ có nhà cửa tử tế, công ăn việc làm đàng hoàng, hệ thống giáo dục tốt và tòa án công bằng. Họ sẽ có chỗ đứng danh dự ở Nam Phi. Họ sẽ sát cánh chứ không hòa lẫn với chúng tôi.
“Thứ hai là người Anh. Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn, vì trong tất cả những gì chúng tôi làm, ngay cả trong ngôn ngữ mà tối nay tôi sử dụng, món nợ của chúng tôi đối với người Anh rất lớn. Chúng tôi sẽ thừa nhận món nợ đó, nhưng chúng tôi sẽ không cho phép chính phủ của mình bị những người Anh đa cảm theo chủ nghĩa tự do làm ô uế dẫn đến sự hủy diệt không tránh khỏi nữa. Chúng tôi xin hứa là chúng tôi sẽ cầm quyền một cách đúng đắn sáng suốt và các đặc quyền của quý vị sẽ được bảo tồn và bảo vệ. Nhưng chính quyền phải nắm trong tay những người mong muốn duy trì tình trạng vốn có của nó, và người chúng tôi có thể trông cậy là những người đã được nuôi dạy trong các truyền thống tốt đẹp của chúng tôi, người Boer nói tiếng Hà Lan Nam Phi và đi lễ tại nhà thờ của chúng tôi.
Và điều này đưa tôi đến nhóm thứ ba mà tôi muốn cam đoan một lần nữa, những người thuộc các giáo phái khác. Tôi nhận thấy đêm nay tôi đang nói chuyện ở một đất nước Thiên Chúa giáo. Đây là tôn giáo thích hợp đối với quốc gia Thiên Chúa giáo này. Tôi còn nhận thấy nhiều người trong các vị có thể thuộc Giáo hội Anh. Đó là tôn giáo thích hợp với người Anh sống ở Anh. Và nếu ở đây có người của Hội Thánh Baptist từ Mỹ, người theo Giáo hội Luther của Đức, tôi xin đảm bảo với các vị là chúng tôi tin rằng các tôn giáo vĩ đại đó thích hợp với dân tộc của các vị, và chúng tôi sẽ công nhận quyền tự do tín ngưỡng ở khắp Nam Phi. Nhưng, chính quyền của chúng tôi phải nằm dưới quyền kiểm soát của tôn giáo duy nhất cho biết về di sản lịch sử của chúng tôi, Giáo hội Cải cách Hà Lan. Tôn giáo đó phải được giao trọng trách cứu rỗi linh hồn dân tộc chúng tôi.”
Ông ta để mọi người thảo luận thoải mái, và hết người này đến người khác đứng lên báo cáo: “Tôi từ Nam Phi đến, tình cờ có mặt ở đây và tôi muốn cử tọa biết rằng tôi và phần lớn bạn bè ủng hộ những ý kiến mà đêm nay tiến sĩ Vorlanger đưa ra rất tài tình.” Những người khác đảm bảo với cử tọa: “Chúng tôi hứa là người Nam Phi nói tiếng Anh sẽ không bị phân biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào. Tòa án sẽ tiếp tục công bằng một cách cẩn trọng, nhưng khi thời điểm quyết định đến chúng tôi phải giao chính quyền vào tay những người mà chúng tôi hiểu rõ và có thể tin tưởng được.”
Đêm đó, khi cả hai nhóm ngồi cùng trong một câu lạc bộ, Gretchen hỏi các anh bạn Nam Phi cụm từ “khi thời điểm quyết định đến” là có ý gì, thì một người giải thích, “Nó ẩn đằng sau mọi giây phút tỉnh táo và định đoạt tư tưởng cho mọi vấn đề. ‘Khi thời điểm quyết định đến,’ là khi rốt cuộc người da đen cũng sẽ nổi dậy bằng bạo động vũ trang và chúng tôi phải bắn hạ họ bằng súng máy.”
Cato nói, “Đó là một quan niệm mê hoặc người Mỹ. ‘Khi thời điểm quyết định đến. Khi chúng ta phải bắn hạ bọn mọi đen.’ Tôi phải ghi nhớ điều này.”
“Người da đen có lối giải thích riêng đấy,” Monica cảnh báo. “Người ta thường nghe thấy câu đó ở những nước như Vwarda và Tanzania. ‘Khi thời điểm quyết định đến.’ Đến đêm chúng ta sẽ giết bọn da trắng. Chúng ta có thể trông cậy nước láng giềng nào làm công việc chém giết đây? Đó là điều Phu nhân Wenthorne ám chỉ tối hôm trước khi bà nói rằng bà và Ngài Victor sẽ bị giết... bằng giáo mác.”
Chính vào đêm ấy, sau này Joe kể lại với tôi, Monica và Cato bắt đầu trở nên lúc thì phấn chấn, lúc lại chán nản, một trạng thái tâm lý được họ thường xuyên bộc lộ trong quãng thời gian còn lại ở châu Phi. Họ biết rõ cách xử lý mà người da trắng và da đen đưa ra chỉ có thể kết thúc trong xung đột và đổ máu leo thang. “Kể từ đó,” Joe nói với tôi, “họ giống như hai linh hồn bị đày đọa. Họ tìm sự an ủi trong căn nhà tròn, bằng cách cùng hút cần sa với các bạn Nam Phi, nhưng ta có thể thấy có điều gì đó đang giày vò họ. Tôi không thể đoán được đó là gì cho đến tận hôm trông thấy Monica bước ra từ cửa hiệu Ấn Độ đó. Từ đấy thì gần như vô phương cứu chữa.”
Chiều hôm sau, nỗi u sầu của Monica càng trở nên sâu sắc khi đoàn thẩm phán Vwarda đến khách sạn Trianon nhằm tìm cách thuyết phục Ngài Victor quay về tòa án tối cao vì trong phái đoàn toàn dân da đen ấy có nhiều người quen cũ từ những tháng ngày tươi đẹp xưa. Em trai tổng thống, mặc lễ phục sọc nhỏ có dải viền cuộn thừng dọc theo ống quần, từng là lái xe cho gia đình cô suốt mười tám năm, một người đàng hoàng tốt bụng đã chăm nom cô những lúc Ngài Charles bận vào rừng. Thư ký của phái đoàn là một người tử tế xuất thân từ một bộ lạc trong nội địa, mù chữ cho đến năm mười tám tuổi, rồi được mẹ của Monica dạy dỗ cho tới khi đủ tiêu chuẩn học ở Anh. Trong nhóm có những người trước kia là chủ hiệu, thợ nề, tùy phái cho các khu xây dựng lớn, một vài thành viên mặc trang phục châu Phi, nhưng phần lớn ăn mặc như những doanh nhân ở vùng quê miền Nam nước Anh.
Họ không đến để cầu xin. Như phu nhân Wenthorne kể lại với mấy bạn Mỹ tối đó, “Họ muốn Ngài Victor giám sát các tòa án trong một kỳ hạn ba năm - không phải các phán quyết, các bạn nhớ cho, mà chỉ là giám sát sự tiến triển theo đúng trình tự của các vụ án... phân chia khối lượng công việc.”
“Ông nhà sẽ nhận lời chứ?” Monica hỏi.
“Chúng tôi có thể làm gì được? Ở tuổi chúng tôi, còn ai muốn quay về Anh để ngồi không như những kẻ ngốc già nua ngớ ngẩn chứ?” Bà chợt nhận ra mình vừa nói gì và có vẻ như cân nhắc xem có nên xin lỗi vì đã vô tình nói động đến cha Monica không, nhưng bà chỉ nói lên sự thật và thực tế đúng là như vậy. “Ngài Victor chỉ có một yêu cầu là bãi nhiệm ba thẩm phán kém nhất. Nhưng rắc rối ở chỗ, một trong ba người đó lại là cháu trai tổng thống. Vì vậy có lẽ chúng tôi sẽ về Devon. Họ đang gọi điện về Vwarda và ngày mai chúng tôi sẽ biết kết quả.”
Cato hỏi xem có được phép phỏng vấn phái đoàn không, Phu nhân Wenthorne bèn nói, “Tôi nghĩ có thể thu xếp được việc này, nhưng ta sẽ nói với họ lý do của cậu là gì?” Monica bèn gợi ý, “Anh ấy là nhà nghiên cứu.” Ngay sau đó, một thành viên của phái đoàn đến phòng ông bà Wenthorne để báo là ông Jackson sẽ có nửa giờ gặp trưởng phái đoàn và ba thành viên khác vốn đang muốn nói chuyện với một người Mỹ da đen, thế là Cato đi tới chỗ họ. Sau này cậu kể lại với tôi những gì đã diễn ra.
“Cả bốn người đều cư xử rất đúng mực, ba người mặc lễ phục, một người mặc trang phục châu Phi. Họ hỏi tôi hết câu này đến câu khác suốt mười lăm phút, rồi tôi bật cười nói, ‘Tôi đến đây để phỏng vấn các ông đấy chứ,’ thế mà họ không phật ý. Tôi liền đưa ra một loạt câu hỏi quan trọng nhất. ‘Tại sao các ông cần sự giúp đỡ của các thẩm phán da trắng?’ thì họ trả lời, ‘Các thẩm phán da đen của chúng tôi khá giỏi trong việc thi hành luật pháp của bộ lạc. Nhưng họ không hiểu gì về cơ cấu tổ chức nói chung – vấn đề kháng án và đại loại thế - vì vậy trong một vài năm chúng tôi sẽ cần một người thành thạo giúp đỡ.’ Sau đó tôi hỏi họ có cho rằng Ngài Victor sẽ hoạt động hiệu quả nếu chỉ ở cương vị tư vấn không, thì họ nói: ‘Đối với người bình thường thì không hiệu quả, nhưng Ngài Victor không phải người bình thường.’ Vậy là tôi hỏi tiếp, ‘Nhưng chẳng phải đã sắp tới lúc các ông muốn tống khứ tất cả người da trắng sao?’ và em trai tổng thống trả lời, ‘Chẳng bao giờ đến lúc đó đâu. Sẽ là tai họa nếu Vwarda trở thành một đất nước người da đen phân biệt chủng tộc giống như Nam Phi là nước người da trắng phân biệt chủng tộc. Người da đen chúng tôi sẽ chứng minh là chúng tôi có thể cầm quyền mà không cần lòng căm thù.’ Tôi hỏi lẽ nào lại không có nhiều hận thù khi các thẩm phán da trắng bị thải hồi, và ông ta đáp, ‘Có đấy. Cả xã hội chúng tôi đều thấy hổ thẹn. Chính vì thế cho nên chúng tôi mới có mặt ở đây.’ Tôi hỏi liệu Vwarda có chấp nhận điều kiện của Ngài Victor là bãi nhiệm những chánh án không đáp ứng được yêu cầu không, ông ta liền trả lời, ‘Đó chính là việc tối nay tôi sẽ trao đổi với anh tôi qua điện thoại. Chúng tôi rất cần Ngài Victor nên sẽ nhượng bộ một vài vấn đề.’ Cuối cùng tôi hỏi, ‘Dân tộc các ông có khả năng đoàn kết chống lại ảnh hưởng của chủ nghĩa bộ lạc không?’ và ông ta nói ông ta tin chắc sẽ làm được, rằng càng ngày các lực lượng ly khai sẽ càng yếu còn khuynh hướng hướng tâm sẽ càng mạnh lên.
“Khi rời cuộc hội kiến, tôi thấy đau lòng vì cả phái đoàn ai nấy đều có vẻ ngoài và cách nói năng hành động y hệt cha tôi. Đối với tôi, tất cả đám người chết tiệt ấy đều là những Bác Tom ở tầm quốc tế, còn những người Ngài Victor phải chuyện trò là những kẻ nóng vội non nớt từng la hét ‘Bọn quan tòa da trắng phải chết,’ vì tôi tin chắc không dễ xoa dịu dược họ. Ông có biết tôi đã làm gì không? Tôi tới bảo Monica, ‘Em khuyên ông bà Wenthorne đừng trở lại Vwarda nữa, vì họ sẽ lâm vào thế bí thôi,’ cô ấy hỏi làm sao tôi biết, tôi liền đáp, ‘Nhờ quan sát em trai tổng thống,’ rồi cô ấy lại hỏi làm sao tôi có thể nói được điều gì dựa trên quan sát một người, tôi mới nói cho cô biết, ‘Bởi vì trông ông ta giống hệt cha anh,’ vậy là cô ấy hiểu ngay ý tôi là gì.
“Cô ấy đến gặp Phu nhân Wenthorne, cảnh báo bà không nên trở lại Vwarda, nhưng trong lúc cô ấy đang có mặt ở đó, đích thân tổng thống Vwarda gọi điện thoại đến, ông ta chấp nhận mọi điều kiện của Ngài Victor, vì vậy ông bà Wenthorne đã nhận lời, Monica nói, ‘Hai người trông có vẻ giống nhau không có nghĩa là họ giống nhau thật.’
“Tất nhiên, khi trở lại Vwarda, Ngài Victor nhận ra rằng các bộ lạc đã gây sức ép nặng nề khiến tổng thống thấy không thể sa thải bất cứ một thẩm phán nào, đặc biệt là cháu ông ta. Vì vậy, vốn là một người có chí khí, Ngài Victor mặc xác mọi chuyện và chuẩn bị bỏ đi, nhưng việc này bị coi như sự sỉ nhục đối với Vwarda, và những người da đen chống đối đã khởi loạn dưới khẩu hiệu ‘Tên thẩm phán da trắng phải chết!’ và trong cuộc hỗn chiến do chính những người cùng bộ lạc với tổng thống chỉ huy, Phu nhân Wenthorne bị bắn chết, nhưng chồng bà thì không.”
Một buổi tối trong căn nhà tròn màu hồng, chín thanh niên - bốn người trên chiếc pop-top và năm người Nam Phi - đang trong tâm trạng bình thản vì vừa hút cỏ thì một người Nam Phi đề nghị, “Chúng tôi đã nhận lòng hiếu khách của các bạn nhiều rồi, tối nay các bạn sẽ đến hộp đêm với chúng tôi,” và thế là họ ầm ĩ kéo nhau đi để giới thiệu cho Monica và các bạn Mỹ biết dải đất rực rỡ ánh đèn gần bến cảng, nơi có nhiều chỗ vui chơi giải trí: Bar Luso, nổi tiếng với một nam vũ công múa thoát y người da đen hấp dẫn; quán Aquario với một ban nhạc da đen; quán Pinguim với một nhóm nữ chiêu đãi viên da đen; và tất nhiên là Bar Texas, đặc trưng là ngôi sao năm cánh bằng thiếc.
Khách quen phần lớn là người da trắng Nam Phi, và điều hấp dẫn về họ, như Cato nhận thấy ngay lập tức, là họ thích hẹn hò với con gái da đen hơn, như thể chính sách phân biệt màu da ở trong nước đã buộc họ phải xử sự ngược lại ở nước ngoài. Khi Cato lưu ý với Joe về điều này, hai người quan sát kỹ hơn, và giả thiết của họ được xác nhận: Đàn ông Nam Phi liên tục gạ gẫm các cô chiêu đãi viên da đen thật, mời họ uống rượu đắt tiền thật, và tìm cách làm cho họ bằng lòng rời khỏi câu lạc bộ cùng với mình thật.
Tại quán Texas, nhóm bạn trẻ gặp một người mặt mũi sáng sủa làm việc ở lãnh sự quán Mỹ, và Cato thẳng thừng hỏi anh này, “Theo kinh nghiệm của anh, đàn ông Nam Phi có thích ngủ với gái da đen hơn không?” người đó đáp, “Chuyện bình thường. Nếu chưa từng công tác ở Nhật Bản, tôi hẳn đã lấy làm lạ.”
Và anh bạn ấy nói tiếp để giải thích rõ ý mình, “Hồi ở Nhật Bản tôi đã cộng tác với hai nhà tâm lý học thông tuệ nhằm làm sáng tỏ khía cạnh này trong các cuộc hôn nhân giữa lính Mỹ và đàn bà Nhật Bản. Và những gì chúng tôi phát hiện ra sau khi dành khá nhiều thời gian nghiên cứu là thế này. Ở Nhật Bản ba mươi tám phần trăm binh lính của ta là người Thâm Nam. Bây giờ tôi quên mất chúng ta xếp những bang nào vào vùng đó rồi, nhưng dù thế nào thì cũng có Mississippi, Alabama, Nam Carolina và Georgia, và nếu tôi nhớ không nhầm thì còn một vài bang khác nữa. Như vậy là ba mươi tám phần trăm đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là người vùng Thâm Nam, nghĩa là trong số đàn ông lấy vợ phương Đông có thể có ba mươi tám phần trăm là dân Thâm Nam. Các bạn cho rằng thực tế có bao nhiêu phần trăm là người vùng đó? Thử nói xem nào.”
Mấy anh bạn Nam Phi đưa ra những con số như mười tám và hai mươi phần trăm. Gretchen nói, “Theo lẽ thường thì là ba mươi tám phần trăm.” Chỉ có Cato đoán một con số cao hơn, năm mươi phần trăm. Tay viên chức trẻ mỉm cười nói, “Bảy mươi tám phần trăm. Gấp hơn hai lần con số bình thường mà người ta dự tính.”
Mọi người tranh luận sôi nổi về vấn đề đó một lúc, nhưng anh bạn trẻ ấy vẫn giữ nguyên con số mình đưa ra. “Ở Hàn Quốc và Nhật Bản cũng thế, và tôi cho là cả ở Việt Nam ngày nay nữa. Chúng tôi dành rất nhiều thời gian nghiên cứu về thực tế đáng kinh ngạc này, nói chuyện với nhiều lính Mỹ, và đã có được cái nhìn khái quát khá rõ ràng. Khi lính Mỹ đến Nhật Bản lần đầu, các chàng trai người miền Bắc và các chàng trai người miền Nam đều bị con gái Nhật gây ấn tượng mạnh bằng nhau, nhưng con trai miền Nam, vì đã được dạy dỗ nhiều điều về chủng tộc, luôn bị một thôi thúc mãnh liệt từ trong thâm tâm là phải quan hệ với các cô gái ấy, rồi lấy họ. Suy từ đó ra, tôi cho là người Nam Phi các anh sẽ bị thôi thúc một cách mãnh liệt từ trong thâm tâm là phải hẹn hò với con gái da đen... chỉ để cho vui thôi... để xem những gì mọi người nói có đúng không.”
“Và do ở nước nhà việc này bị cấm đoán nữa,” một người Nam Phi nói. “Đừng quên điều đó.”
“Tôi đang định trở lại vấn đề đó đây. Qua các cuộc phỏng vấn khoảng hai nghìn lính Mỹ lấy vợ phương Đông, chúng tôi cảm thấy rõ rệt là nhiều người làm như vậy chủ yếu để chọc giận cha họ - chứ không phải mẹ họ... chúng tôi không lý giải được điều đó. Chà, nhưng chắc chắn họ muốn trêu tức ông già họ. Và chúng tôi phát hiện ra một điều cuối cùng nữa, có lẽ là điều ý nghĩa nhất. Khi lính Mỹ mang cô vợ Nhật Bản về nước, bang nào ở nước Mỹ chấp nhận họ dễ dàng nhất?”
Gretchen ướm hỏi, “Miền Nam chăng?”
“Đúng. Ở miền Nam việc thích nghi dễ hơn nhiều, sự ghét bỏ cũng đỡ hơn nhiều. Chúng tôi cũng nghiên cứu cả vấn đề này nữa, và thấy là khi một xã hội chối bỏ chủng tộc nào đó, như miền Nam chối bỏ người da đen chẳng hạn, người ta lại ra sức thông cảm với các chủng tộc khác, như thể muốn nói, ‘Mọi người thấy đấy. Chúng tôi có thành kiến đâu. Tất cả chỉ vì người da đen thực sự hạ đẳng. Các chủng tộc tử tế đứng đắn, chúng tôi có thể chấp nhận và đã chấp nhận rồi đấy thôi.’ Vì thế cũng lại từ đó mà suy ra, tôi chắc rằng người Nam Phi trong nước thì cư xử như thế, đến khi ra nước ngoài và trở thành, vậy đấy, người tự do, anh ta sẽ cảm thấy đúng cái thôi thúc mãnh liệt phải tử tế với tất cả các chủng tộc khác. Anh ta muốn nói, ‘Mọi người đã thấy là tôi thực sự không có thành kiến thâm căn cố đế rồi đấy. Chỉ tại người da đen ở nước chúng tôi thực sự quá quắt thôi.’”
Cato giữ vại bia kề sát môi, gần như che hết mắt, rồi đột nhiên dằn mạnh cốc xuống bàn. “Thật khéo, vấn đề đơn giản là đàn ông da trắng thì lúc nào cũng hết sức khát khao ngủ với con gái da đen, còn đàn ông da đen lại cảm thấy nỗi khát khao tương tự về phụ nữ da trắng. Vì lý do gì? Chỉ thuần túy để đùa cho vui thôi.” Rồi anh bỗng bật cười khà khà, khiến ai nấy đều kinh ngạc.
“Gì vậy?” một anh chàng trong đám thanh niên Nam Phi hỏi.
“Tôi vừa chợt nhớ đến một cậu bạn. Một đêm cậu ấy bảo tôi, ‘Cato này, tớ cũng trắng như tất cả những người da trắng mà cậu biết. Tớ hiểu ra rồi. Tớ một phần ba là đen, một phần ba là Đức, một phần ba là tín đồ Tân giáo.’” Nói rồi Cato vỗ đánh đét một cái xuống bàn và nhìn lần lượt từng khuôn mặt da trắng xung quanh. Không ai cười cả, và một lúc sau anh nói tiếp, “Tôi cũng không hiểu như thế có nghĩa là gì cho đến tận tối đó khi lên giường, thao thức cho đến sáng, cố nghĩ xem làm sao một người lại có thể là ba phần gộp lại được. Các bạn thử xem.” Dần dần, những người ngồi quanh bàn lần lượt toét miệng cười khi đầu óc đã nghiền ngẫm vấn đề ấy và nhận ra khía cạnh khôi hài của nó.
“Một người không thể có ba phần được,” Cato nói, và một anh bạn Nam Phi cắt ngang, “Mẹ kiếp, tôi vẫn chẳng hiểu chuyện cười ấy là thế nào,” và Cato gợi ý, “Thử nghĩ lại về bốn ông bà nội ngoại của mình xem. Làm sao anh chia họ ra làm ba phần được?” anh thanh niên Nam Phi liền vặn lại, “Phải, nhưng ngược lên các thế hệ trước thì sao?” thì Cato đáp, “Ngay cả người Nam Phi các anh cũng phải đi theo đội hình bốn người,” thế rồi anh bạn chợt hiểu và phá lên cười, khiến anh hứng lên gọi một chầu bia khao mọi người, và chính không khí thân mật ấy đã khuyến khích anh tin cậy các bạn Mỹ và thổ lộ nỗi sợ hãi khủng khiếp đang giày vò mình.
“Tôi là nhà báo. Tôi làm việc cho một trong những tờ báo có tiếng nhất Nam Phi... hay ở bất cứ đâu cũng thế thôi. Và chính phủ đã nhất quyết bịt miệng cả tôi lẫn tòa báo. Các bạn đã nghe nói đạo luật mới vừa được ban hành hôm qua chưa? Do tiến sĩ Vorlanger đề xuất và được cả nhóm của ông ta lẫn những nhóm khác ủng hộ. Đất nước chúng tôi sẽ có cơ quan mật vụ mới gọi tắt là BOSS, Phòng An ninh Quốc gia, và họ sẽ có quyền lực vô hạn. Nếu họ bắt anh thì không có lệnh đình quyền giam giữ đâu. Trong phiên xử anh, nếu có bất cứ thành viên chính phủ nào đến tòa tuyên bố là chứng cứ anh định đưa ra để bào chữa cho mình có thể làm tổn hại đến quốc gia thì chứng cứ ấy sẽ không được sử dụng. Anh không thể tự làm chứng cho mình nếu họ không cho phép. Nhưng phần thực sự đáng sợ là nếu BOSS khám nhà anh, một việc họ có thể làm ngay cả khi không có lệnh, và tìm thấy ở đó bất kỳ ghi chép, ảnh chụp, bản phác thảo hay thậm chí là cả những ý kiến ngẫu nhiên dưới bất cứ hình thức nào có thể sử dụng để viết một bài báo công kích quốc gia, họ có thể cho anh sáu tháng bị cấm cố trong tù mà chẳng cần đưa ra chứng cứ của họ, mà đúng ra thì phải như vậy.”
Cato kể, “Ở Mỹ, người ta cười vào mũi chúng tôi khi chúng tôi nói, ‘Đừng làm thế với người da đen vì tuần sau các người sẽ làm thế với chính mình đấy.’”
Khuya hôm đó, khi Cato và Monica đang ngủ trong căn nhà tròn màu hồng, Gretchen trong căn nhà màu xanh còn Joe trong xe, có người đến gõ nhẹ vào cửa nhà Cato, và khi cửa hé ra, anh nhà báo Nam Phi đã đứng đó, xin được vào, rồi anh ngồi xuống giường, trong bóng tối, yêu cầu Cato gọi hai người kia đến, và khi họ đã tụ tập đông đủ như những kẻ đồng mưu giữa đêm tối trời, anh nói, “Sau khi các bạn rời khỏi quán rượu, một người bạn đã rỉ tai cho tôi biết tin một mụ đàn bà ghê gớm bậc nhất đã đến Lourenço Marques. Tên mụ là Margaret Villinger. Mụ ta rất quyến rũ, lại thông minh nữa. Các bạn thể nào cũng sẽ có cảm tình với mụ. Mụ ta viết bài cho một tờ báo có tiếng ở Johannesburg và ngày mai mụ sẽ phỏng vấn Cato. Người Mỹ da đen nghĩ gì về Nam Phi... và mụ sẽ cho đăng báo những lời anh nói. Nhưng nhiệm vụ thực sự của mụ là moi móc thông tin về tôi. Mụ là nhân viên an ninh quốc gia, và họ kiên quyết tiêu diệt tôi... cùng tờ báo của tôi. Mụ ta sẽ dùng đủ mọi thủ đoạn để anh phải thú nhận là anh quen tôi. Mụ ta sẽ tìm cách phát hiện tôi đã nói những gì, vì vậy tôi xin anh. Đừng nhắc đến tên tôi... trong bất kỳ hoàn cảnh nào.”
“Tình hình xấu đến thế sao?” Gretchen hỏi.
“Còn tệ hơn nữa kia. Đó là lý do thực sự khiến chúng tôi đi nghỉ ở Lourenço Marques. Để hít thở thoải mái.”
“Đêm hôm nọ,” Cato nói, “Joe có hỏi tôi tại sao lại lãng phí thời gian với người Nam Phi. Đó là vì tôi rất thông cảm với các bạn. Người da trắng các bạn nghĩ các bạn làm điều ác với dân da đen chúng tôi. Thực ra các bạn làm điều đó với chính mình đấy.”
Khi bốn kẻ lãng du rời khỏi Lourenço Marques để thực hiện cuộc hành trình dài vất vả lên phía Bắc, họ đã bắt đầu một cuộc phiêu lưu mà cả Harvey Holt lẫn tôi đều chưa kịp chuẩn bị tinh thần cho họ: họ sẽ bắt gặp những cảnh thiên nhiên đẹp vô hạn, đồng thời sẽ phải đương đầu với những vấn đề xã hội không giải quyết được. Và hai người trong bọn họ sẽ đạt được một trạng thái thanh thản về mặt tình cảm không sao lý giải.
Cảnh đẹp là hàng nhiều dặm bãi cát liền mạch, vô cùng hoàn mỹ trải dài hoang vắng bên bờ Ấn Độ Dương. Hồi ở Pamplona, tôi đã kể cho các bạn trẻ nghe về bãi biển ở đó, nhưng họ không thể mường tượng được là họ sẽ đứng hết ngày này qua ngày khác giữa một dải cát mênh mông và có thể nhìn Nam nhìn Bắc hàng dặm hàng dặm tịnh không thấy một bóng người hay thậm chí dấu hiệu chứng tỏ ai đó từng đặt chân đến nơi này. Đúng là có những khu nghỉ dưỡng ven biển thật - một số nơi rất hấp dẫn - nhưng họ tránh xa vì thích đại dương và những dải cát hẻo lánh liền mạch ấy.
Tới bãi cát đầu tiên, cách Lourenço Marques không xa lắm về phía Bắc, họ đã phác xong hành trình khá táo bạo xuyên suốt Moçambique định sẽ thực hiện, bất kể lúc nào có cơ hội. Gretchen vừa đổi lái với Joe và giờ đang lái xe dọc theo đường cái, ngay cả việc này ở mức độ nào đó cũng là một cuộc phiêu lưu vì Moçambique quá bao la còn thuế má lại quá không thỏa đáng đến nỗi đường tốt trở thành món hàng xa xỉ; thế nên chỉ có một dải đường hẹp, rộng bằng chiều ngang một chiếc xe, là được lát đá, đồng nghĩa với việc khi lái với tốc độ năm sáu mươi dặm một giờ, anh phải không ngừng cảnh giác, đề phòng trường hợp ai đó sầm sầm lao vào mình với cùng tốc độ ấy trên cùng một dải đường hẹp ấy từ hướng ngược lại. Trò chơi chết người mà anh tham gia là cứ thế thẳng tiến về phía xe kia, không chịu nhường một ly, trong khi người kia cũng làm như vậy, đến phút cuối cùng mới đột ngột ngoặt sang bên chút xíu, vẫn bám trụ tại nửa phần đường lát của mình. Nếu thực sự can trường, anh sẽ hoàn toàn lừa được đối phương, giữ cho xe của mình ở giữa dải đường, bắt người kia phải rời hẳn khỏi mặt đường rải đá dăm nện, nhưng trò chơi sẽ đâm ra nguy hiểm thực sự nếu cả hai lái xe đều thẳng tiến, lao đầu vào nhau, bên nào cũng không chịu nhường đường, để đến phút cuối cùng có thể chấp nhận được, cả hai cùng lúc đổi hướng, sượt qua nhau trong khi lốp nghiến rin rít cách nhau có mấy phân.
Điều khiến người Mỹ cực kỳ khó chịu với trò này là họ phải lái xe bên trái đường, vì cứ đến thời điểm cam go, anh lại phải hành động ngược lại với mọi bản năng và cho xe đổi hướng sang trái trong một hoàn cảnh mà lần nào cũng giống lần nào, không khác gì thảm họa xảy ra đến nơi rồi.
Sau khoảng một giờ như vậy, khi đã đành chịu thua trong mọi trận đấu cân não và không lần nào giữ được xe trên mặt đường rải đá dăm, Gretchen thú nhận, “Em không gượng nổi nữa rồi. Một trong hai anh lái xe đi,” vậy là Joe cầm lấy tay lái.
Với bốn xe đầu tiên, cứ xe nào đến gần là Joe lại đi chậm lại, lái hẳn ra khỏi mặt đường đá dăm, nghiến răng kèn kẹt mỗi lần người chiến thắng vụt qua, miệng ngoác ra cười nhạo tình cảnh khó chịu của anh. Đối với bốn chiếc xe tiếp theo, anh duy trì tốc độ và giữ bánh phải chạy trên mặt đường lát, rồi sau đó anh trở nên ngang ngược, tranh giành từng phân đường lát đá, hễ có cơ hội là dồn người ta phải rời hẳn con đường, xử sự hệt như một gã Bồ Đào Nha.
“Đây là cái đồng đẳng đạo lý của chiến tranh theo quan niệm của William James,” một lúc sau Joe tự nhiên bật cười thích thú, còn Gretchen nghĩ bụng, thật mỉa mai làm sao, một thanh niên hiếu chiến như vậy, một người rõ ràng thích sự thách thức của con bò mộng đang phóng nhanh hay chiếc xe nghiêng bên này ngả bên kia, ấy vậy mà lại phải trở thành một người từ chối nhập ngũ vì lương tâm thấy không đúng. Cô nhận thức rõ cái anh phản đối không phải là chiến tranh mà là tính chất trái đạo đức của cuộc chiến tranh đặc biệt mà đất nước anh dính vào.
Lúc này họ đã đến ngã tư đường có một biển hiệu chỉ về bên phải, cho biết có bãi cát cách đấy không xa lắm. Trong lúc ngẫu hứng, Joe quẹo xe vào con đường ấy, và sau khoảng mười dặm, họ tới một khách sạn nghỉ mát nhỏ. Bên kia khách sạn là bãi cát hùng vĩ đầu tiên, mênh mông, trống vắng, nguyên sơ.
Joe dừng xe. Trong một vài giây không ai nói nên lời, vì cảnh bãi biển gần như nguyên sinh này thật choáng ngợp; người ta buộc phải so sánh nơi đây với các bãi biển đông đúc ở Anh và Mỹ để rồi ngẫm lại rằng đã có một thời trông chúng cũng thế này. Monica là người đầu tiên phá vỡ trạng thái ngẩn ngơ mê đắm. “Em đi bơi đây,” cô nói, lột hết quần áo và chạy nhẹ bẫng xuống nước. Cato cũng cởi đồ và chạy theo, thân hình cân đối đen bóng nổi bật trên nền cát trắng. Chỉ còn Joe và Gretchen ngồi lại trong chiếc pop-top giữa im lặng ngượng ngùng, và cô là người phải gánh trách nhiệm quyết định xem nên xử trí thế nào. Cô đỏ mặt, cố nghĩ ra một câu nói tự nhiên nào đó, rồi bỏ phăng quần áo mà tung tăng chạy qua bãi cát đến với Monica, nhưng cô vừa làm như vậy thì cũng đúng lúc Cato chạy lên, thế là ba người trần truồng đứng đó, và Cato gọi với lên chỗ Joe, “Nhanh lên!” Vậy là Joe đá văng đôi giày ống và lột chiếc quần bó ra rồi chạy đến với các bạn.
Họ trải qua gần một tuần như vậy, như những đứa trẻ trần truồng vui mừng chạy nhảy trên bãi cát vô tận - hai cô gái từ trắng nõn nà đã dần chuyển sang rám nắng. Joe vốn sạm nắng từ trước thì lúc này thành ngăm ngăm đen, và Cato đẹp nhất trong cả bọn, một anh chàng thân hình cân đối mềm mại, với màu da đen góp thêm điểm nhấn quý phái cho quang cảnh. Dường như ở đám thanh niên đủ mọi quốc tịch ấy, có một điều gì đó khơi cho họ cảm hứng tắm khỏa thân; riêng bản thân tôi đã đến tuổi thấy biết ơn sự hỗ trợ của một bộ đồ bơi thiết kế khéo cho vẻ bề ngoài. Khi Monica nói với tôi về niềm hân hoan họ tìm được trong việc tắm biển như vậy, tôi phải hỏi, “Như thế có nghĩa là Joe và Gretchen...” và cô không cho tôi nói hết câu, “Không có gì đâu! Cháu nghĩ Gretchen phải đấu tranh tư tưởng dữ lắm mới dám cởi hết đồ ra. Chắc chắn bạn ấy không muốn có quan hệ nào khác với anh Joe. Vả lại, bạn ấy vẫn còn thích anh Clive và...” Đến lượt tôi ngắt lời cô, “Vậy ý cháu muốn nói là hai cô cậu ấy đi tắm khỏa thân hàng ngày và chỉ có thế thôi sao?” thế là cô gắt ầm lên, “Trời ạ, cháu cũng từng đi tắm truồng với một lô đàn ông mà cháu không muốn ngủ chung đấy thôi.” Tôi chắc cô nói thật, nhưng với sự dạy dỗ mà tôi được tiếp thu, tôi thấy khó tin nổi.
Những rối ren xã hội học mà cuộc hành trình phơi bày ra đều sâu sắc. Moçambique có dân số khoảng tám triệu người, trong đó chín mươi tám phần trăm da đen, vậy mà người da trắng nắm quyền tuyệt đối. Ở Lourenço Marques, nơi tập trung quyền lực, người da trắng co cụm khá đông, tạo cảm giác sự phân chia màu da là khoảng chừng tám mươi phần trăm trắng, hai mươi phần trăm đen, nhưng ở vùng nông thôn tình hình thực tế hoàn toàn bị phơi bày. Người da đen không sống ở các thị trấn nhỏ; họ sống ở các kraal nhỏ, tức một khoảnh đất trống trong rừng rậm, bao quanh là ba bốn căn nhà tròn, và ở đó cuộc sống tiếp tục khá giống cái mạch của hai nghìn năm trước, thỉnh thoảng thay đổi do cái lốp cao su bỏ đi hay một thùng xăng rỗng. Tài sản chủ yếu của bất kỳ gia đình nào cũng là một cái thùng gỗ to để lấy nước từ giếng chính quyền, thường cách khá xa. Điều này có nghĩa là phụ nữ trong các lán phải dành phần lớn thời gian trong ngày kéo thùng rỗng đến giếng và lôi thùng đầy về nhà. Họ làm việc này khá tài tình: họ chỉ việc đặt thùng nằm xuống đất, cột dây vào hai đầu rồi kéo nó theo sau mình, tự chiếc thùng tạo thành một dạng bánh xe lăn không ngừng, nảy bật qua các gốc cây cụt và suýt vỡ tan khi đập vào đá. Ở Moçambique, bánh xe đích thực vẫn chưa được thừa nhận.
Các kraal này tác động tiêu cực đến Cato. Ở Philadelphia, anh nhạo báng trang phục châu Phi và không muốn học tiếng Swahili, ngôn ngữ của thiểu số người châu Phi, nhưng dù vậy anh vẫn tin rằng nếu có khi nào người da trắng bị tống cổ ra, người da đen sẽ có khả năng quản lý châu Phi ít nhất cũng giỏi bằng các quốc gia như Bỉ và Bồ Đào Nha, có thể còn giỏi hơn. Nhưng những người da đen mà anh gặp lúc này lại khiến anh kinh ngạc, vì ở khắp Moçambique anh không nhận thấy dấu hiệu nào chứng tỏ họ đã sẵn sàng cho chế độ tự trị, hoặc thậm chí là cho sự đóng góp nhỏ bé hữu hiệu của mình vào chính quyền do người da trắng thống trị.
“Chắc chắn phải có một bộ phận lãnh đạo có học thức ở đất nước này mà người ta không cho chúng ta biết chứ,” anh lập luận. “Người Bồ Đào Nha đàn áp họ, tôi nghĩ thế, nhưng họ vẫn tồn tại bí mật. Cũng hợp lý chuyện tám triệu con người hẳn phải được trau dồi kiến thức ở chừng mực nào đó.”
Nhưng anh chẳng bao giờ tìm được bộ phận lãnh đạo ấy. Nếu họ có tồn tại đi chăng nữa thì cũng bị áp đảo đến nỗi tác động của họ chỉ là tối thiểu. Mỗi lần chiếc pop-top cần tiếp nhiên liệu, anh lại mò vào khu vực phía sau trạm xăng, bắt chuyện với bất cứ ai biết nói tiếng Anh, quan sát xung quanh với con mắt sắc sảo, và những gì thu thập được đã khiến anh ngã lòng. Viễn cảnh về một châu Phi hưng thịnh trở lại tiêu tan như một ảo ảnh lung linh. Nhưng vốn là một thanh niên thông minh, anh cố hết sức để tập trung vào bằng chứng mới này, và trong suốt hành trình dài lên miền Bắc, anh thường xuyên bàn về đề tài đáng buồn đó.
“Ta có ba hình mẫu xã hội ở phía Nam châu Phi,” lần nào anh cũng mở đầu như vậy, như thể đó là sự thật cơ bản để dựa vào mà phân tích. “Ta có xã hội hà khắc do người da trắng thống trị ở Nam Phi và Rhodesia. Ta có xã hội do người da đen nắm quyền ở Vwarda, Zambia và Tanzania. Và ta có xã hội hợp tác do người da trắng thống trị ở các lãnh thổ thuộc Bồ Đào Nha, Angola và Moçambique. Từ ba hình mẫu ấy tình hình sẽ tiến triển như thế nào?”
Đánh giá về Nam Phi, anh có thái độ khoan dung lạ lùng, bị ảnh hưởng bởi những nét dễ thương của các bạn Nam Phi mà anh gặp ở Lourenço Marques. “Họ đang làm hại bản thân không kém gì đang làm hại chúng tôi,” anh nói, nhưng anh không còn ủng hộ cái lý thuyết là trong vòng một thập kỷ nữa người da đen sẽ nổi dậy và giành quyền điều khiển đất nước này. Anh đã gặp quá nhiều người Phi gốc Hà Lan cứng đầu cứng cổ, quá nhiều người như tiến sĩ Volanger, không thể phủ nhận sức chịu đựng kinh khủng của xã hội họ. “Tôi đã từng nghĩ chúng tôi có thể đuổi họ đi trong vòng mười năm... bằng một vụ tàn sát đẫm máu. Bây giờ tôi thấy nếu có một cuộc tàn sát đẫm máu thì chính chúng tôi sẽ là người đổ máu.”
Anh cũng khá sáng suốt trong cách nghĩ về Moçambique. “Rốt cuộc thì người da trắng ở đây cũng sẽ sát cánh với Nam Phi và Rhodesia. Tôi sẽ không ngạc nhiên thấy mẫu quốc Bồ Đào Nha rũ bỏ các thuộc địa... chúng hẳn phải là một gánh nặng quá lớn... tốn người hao của. Và khi việc đó xảy ra, người da trắng địa phương sẽ nắm quyền, đúng như họ đã làm ở Rhodesia, và tôi cho rằng sẽ có một chế độ theo kiểu liên bang. Nam Phi, Rhodesia, Angola, Moçambique, trong đó Nam Phi cung cấp tiền bạc, chất xám và phần lớn vũ khí. Điều đáng buồn là mỗi bước của quá trình phát triển mới đó sẽ làm cho người da trắng ngày càng trở nên quá khích hơn, và cuối cùng toàn bộ vùng phía Nam châu lục này sẽ lại giống y như Nam Phi. Moçambique sẽ phải có BOSS[101] bởi vì hai phần trăm dân số sẽ ra lệnh cho chín mươi tám phần trăm còn lại, và người ta chỉ có thể làm vậy nếu thành lập một nhà nước cảnh sát, không phải để cai trị dân da đen mà là để kiểm soát người da trắng... xem họ có còn trung thành hay không.” Mỗi lần phân tích đến đoạn đó, anh lại nói thêm, “Nhưng tôi cho rằng, chuyện tương tự cũng sẽ xảy ra ở Hoa Kỳ. Người da đen chúng tôi sẽ đòi hỏi phải có một tổ chức nào đó như đảng Black Panthers để giữ cho chúng tôi phải trung thành, và người da trắng các bạn sẽ phải có một siêu FBI để kiềm chế các bạn... khi thời điểm quyết định đến.”
Chính những lúc ngẫm nghĩ về các quốc gia chỉ toàn người da đen, Cato mới đâm ra thiếu tự tin. “Tôi quan sát tình hình Moçambique mà tự nhủ, ‘Những người da đen này không thể tự cầm quyền được,’ nhưng ngay bên kia biên giới phía Bắc là Tanzania, nơi chính những mẫu người da đen như vậy đang tự cầm quyền, và ở bên kia biên giới phía Tây người da đen Zambia cũng tự mình nắm quyền lãnh đạo, và lên trên nữa ở Vwarda những người da đen có cùng trình độ phát triển như thế cũng tự cầm quyền. Vì vậy tôi đoán là nếu nay mai người ta tống cổ toàn bộ dân Bồ Đào Nha ra khỏi Moçambique, đất nước đó sẽ vẫn tự cầm quyền bằng cách này hay cách khác. Máy bay sẽ vẫn bay đến Lourenço Marques, và sẽ có người trông coi sao cho máy phát điện sản xuất ra điện, và bữa tối ở khách sạn Trianon sẽ vẫn có giá năm đô la. Chính phủ có thể chẳng ra gì, nhưng vẫn sẽ cầm quyền. Vì vậy tôi thèm được nói, ‘Hãy để người da đen nắm quyền. Họ sẽ không làm nhiều điều tồi tệ hơn người da trắng đâu.’ Thế rồi tôi được nghe nói đến Nigeria, Biafra, chủ nghĩa bộ lạc ở Vwarda và việc người Trung Quốc thao túng Tanzania, và tôi không biết liệu có phải đó cũng là giải pháp không.”
Lúc này họ đã đi gần đến sông Zambeze và liên tục trông thấy từng đoàn xe chở binh lính da trắng trang bị vũ khí tiến về biên giới Tanzania, nơi đang diễn ra một cuộc cách mạng cho dù không nghiêm trọng lắm nhưng lại khá dai dẳng. Cato nói, “Tôi dám chắc súng ống không phải là cách giải quyết vấn đề Moçambique,” nhưng cách giải quyết là gì thì lúc này anh lại không buồn đoán, mà sau này anh cũng không bàn đến nữa rồi, đang chực chờ phía trước, tại một nơi gọi là đảo Moçambique[102], đích đến của họ ở phương Bắc xa xôi, là một cuộc đối đầu có bản chất hoàn toàn khác, một cuộc đối đầu sẽ làm đảo lộn mọi định kiến của anh và kéo anh vào nhiều rối loạn mới.
Hiển nhiên, tâm trạng thư thái mà tôi đã nhắc đến khi các bạn trẻ bắt đầu chuyến du lịch lên phía Bắc không liên can tới Cato, vì anh chẳng may khi tìm thấy sự yên bình ở châu Phi; nó cũng không dính líu gì đến Monica, người ngày càng phiền muộn trước những hồi ức buộc phải nhớ lại. Khi ở Beira, một thành phố lớn trung bình của Moçambique, cô đã đọc được tin Phu nhân Wenthorne bị sát hại. Cô bèn đi tìm một số du khách Rhodesia - đường sắt của họ có ga cuối ở Beira - và gặp được vài người còn nhớ cha mẹ cô, vậy là họ cùng nhau khóc thương cho cái chết của Phu nhân Wenthorne.
“Biết bao đổi thay đã xảy ra ở Vwarda!” họ nói. “Toàn bộ người da trắng đã bị trục xuất. Tài sản bị tịch biên, tài khoản ngân hàng phải sung công. Tất nhiên, họ đã giết nhiều người Ấn Độ. Chúng tôi thấy nhiều người tị nạn bước ra khỏi máy bay ở Salisbury chỉ có mỗi bộ quần áo mặc trên người.”
Một người đàn ông nói, “Tôi xét việc cha cô bị đá ra là may mắn lắm đấy. Có phản đối, nhưng ông còn rút được hết tiền bạc ra. Cô có nghe nói đến Ngài Victor khốn khổ không? Ngay cả chôn cất vợ cũng không được phép. Người ta tống ông lên máy bay về Anh, và ba trăm người da đen đứng ngoài cửa gào thét, ‘Quăng tên thẩm phán da trắng cho chúng tôi!’ Ông đã thoát được trong gang tấc đấy.”
Chính Joe và Gretchen là những người có được tâm trạng thanh thản. Họ đang ở trên một trong những bãi biển bao la phía Bắc Beira, nơi những đầm lầy trong đất liền đã ngăn cản công cuộc khai thác bờ biển - để từ giờ cho đến hai thế kỷ nữa, khi cầu được bắc ngang qua những đầm lầy, một khu giải trí tráng lệ sẽ chờ đợi số dân cư đông đúc có nhu cầu - và đang thơ thẩn dọc theo bãi cát, người trần như nhộng, thì vô tình quay về phía nhau. Người ta có thể nói là chuyện chỉ diễn ra trong một phần nghìn giây. Họ đã ở bên nhau bảy tháng nhưng chưa bao giờ thực sự nhận ra nhau. Gretchen đã quan sát chuyện yêu đương của Joe và Britta, còn Joe đã chứng kiến Gretchen nửa yêu nửa không yêu Clive. Nhưng lúc này họ mới nhận ra người kia thực sự là thế nào. Gretchen hiểu Joe là một người đàn ông mạnh mẽ, thừa lòng dũng cảm, nhưng rụt rè, không dứt khoát, còn Joe nhận thấy Gretchen là một cô gái vốn dĩ dễ thương, ngoài chuyện là một sinh viên xuất sắc và có nhiều day dứt.
Trong khoảnh khắc nhận ra nhau ấy, họ đang đứng cách nhau độ bảy tám mét, rồi từ từ, họ bước về phía nhau, và thật khó nói ai dẫn ai ra sau cồn cát, nhưng Cato và Monica xuống bãi biển chừng hai tiếng, sau đó việc thu xếp chỗ ngủ trong chiếc pop-top màu vàng thay đổi hẳn.
Khi tôi nghe Monica kể lại chuyện này, rồi sau đó Gretchen xác nhận với kiểu nói ngập ngừng của cô, tôi nghĩ bụng tình yêu giữa những con người thế hệ mới này mới kỳ lạ làm sao. Một chàng trai và một cô gái bốn tháng sống trong cùng một phòng ở Torremolinos, hai tháng ngủ sát cạnh nhau trong chiếc xe pop-top, cộng thêm một tháng đi tắm khỏa thân, và cuối cùng mới phát hiện ra là họ thích nhau. Đó là một cách tìm hiểu mà tôi không nhận thức được thấu đáo, nhưng khi ngẫm nghĩ về vấn đề ấy, vì một lý do kỳ quái nào đó, tôi chợt nhớ đến Jane Austen cùng cuốn tiểu thuyết Northanger Abbey thú vị của bà, trong đó hai thiếu nữ Anh tại một khu nghỉ mát đã lâm vào tình thế bối rối vì bị hai anh lính bám theo ở khoảng cách vừa phải, và tôi nghĩ chắc hẳn hai cô gái đoan chính vô cùng của Austen cũng cảm thấy dạt dào cảm xúc giống như - giống y hệt - Gretchen lúc cô khỏa thân bước tới nắm lấy tay Joe, và tôi dám chắc nếu ngày nay Austen còn viết văn, bà sẽ không phẫn nộ trước những gì đã xảy ra trên bãi biển, cả tôi cũng vậy.
Một buổi chiều, khi cả bọn đang nằm trên cát ngắm những con sóng trắng xóa chậm chạp chưa kịp xô vào bờ thì đã rút ngay, như thể quá mệt mỏi chẳng thể cố gắng thêm nữa, Gretchen dõi mắt theo khi Monica kéo Cato dậy và dẫn cậu xuống nước, thân hình thon thả rám nắng của cô tương xứng một cách đẹp mắt bên cơ thể đen bóng của cậu. Gretchen hạ giọng, mặc dù chẳng có người lạ nào trong vòng bán kính năm dặm mà hỏi, “Anh Joe, anh có nhận thấy Monica mấy ngày nay có gì khang khác không?”
Joe bảo không, nhưng cô vẫn không thôi: “Anh có chắc không? Hay Cato nữa? Anh ấy có gì khác lạ không?”
“Họ có vẻ muốn ở riêng với nhau nhiều hơn trước. Nhưng chúng mình cũng thế mà.”
“Anh Joe, có chuyện này em phải nói, và nếu em nhầm thì hãy bỏ qua cho em. Nhưng em muốn anh nhìn kỹ khuỷu tay trái Monica xem.”
“Có chuyện gì ư?”
“Em tin chắc là em đã nhìn thấy nhiều nốt tiêm.”
“Em đang đùa đấy à!”
“Không. Nốt kim tiêm thật mà. Mà lại đúng chỗ nữa... chỗ mạch máu nổi lên. Chuyện em muốn anh làm là nhìn tay Cato xem. Em không thấy vết gì trên da anh ấy... nếu giả sử là có.”
“Anh phải làm gì đây? Túm lấy tay cậu ấy như các cô gái Mỹ ở Pamplona vẫn làm ư? ‘Xin lỗi, cậu có sử dụng heroin không?’”
“Em nghĩ, cả hai đều sử dụng đấy, và em nghĩ việc đó giải thích cho nhiều hiện tượng gần đây... hết trạng thái phởn phơ lại đến chán nản.” Cô ngồi trên một bãi cát nhỏ, đôi đầu gối thon thả co lên áp vào bộ ngực rám nắng, đầu gục xuống đầu gối, và nửa nói với mình nửa nói với Joe, “Đó là tất cả những gì cậu ấy cần... heroin.”
Khi Monica và Cato quay lại, những vết tiêm trên cánh tay trái cô lộ rõ đến nỗi ngay cả Joe cũng phát hiện ra. Tuy nhiên, khi anh quan sát cánh tay Cato, anh lại không thấy được gì bởi vì dù có sẹo đi chăng nữa thì chúng cũng bị màu da đen ngụy trang hết.
Trong mấy tiếng đồng hồ sau đó, Joe và Gretchen không tìm được cơ hội nào để trao đối nhận xét, nhưng cả hai cứ nhìn như bị thôi miên vào tay Monica đến nỗi họ sợ cô sẽ nhận thấy, nhưng cô đang phấn khích quá nên không để ý gì. Chỉ đến lúc hai cặp lên giường, trong khi Monica và Cato quẫy đạp lung tung, Joe và Gretchen mới có một chút tự do, nhưng họ nằm gần hai người kia quá đến mức không thể nói chuyện bình thường được, vì vậy Gretchen thì thầm, “Đúng như em nói, có nốt ở đó đấy,” và Joe thì thầm đáp lại, “Anh nhìn tay Cato rồi nhưng chẳng thấy gì cả. Mình phải nhìn thật gần vào,” vậy là Gretchen hỏi khẽ, “Chúng ta nên làm gì, anh Joe? Em không chỉ nói đến hai người ấy thôi đâu. Nếu bị cảnh sát tóm, chúng ta có thể mất chiếc xe này. Anh biết Monica rồi đấy... chắc hẳn cô ấy phải có đến một gallon[103] ma túy mang lậu ở đâu đó. Cái ấy có cân đong theo gallon không?”
“Dưới ấy đang thì thào sôi nổi chuyện gì thế?” Monica đột ngột hỏi. Trong bóng tối, Gretchen hít một hơi thật sâu, siết chặt tay Joe, rồi nói nhỏ, “Anh Joe và tớ đang xác định xem có phải cậu tiêm dưới da ở tay trái không.”
Im lặng, rồi: “Phải.”
“Anh cũng thế à, Cato?”
“Không hẳn thế.”
“Nhưng là heroin phải không?”
“Phải.”
Bốn bạn trẻ nằm im trong vài phút, ai nấy đều cố suy nghĩ xem tiếp theo nên nói gì. Cuối cùng Monica cũng lên tiếng: “Các bạn ạ, tuyệt lắm. Tuyệt thật đấy. Đúng những gì mà người ta đã tả. Mình sử dụng cách nào không quan trọng... sụt một cái, nó vào ngay mạch máu chính và thế là có mùa xuân vĩnh cửu. Ta nghĩ LSD mở mang sự hiểu biết...” Trong vài phút liền cô thao thao bất tuyệt, trình bày tính chất ưu việt của heroin, và trạng thái phởn phơ của cô rõ rệt đến nỗi giờ thì Gretchen và Joe biết là hồi chiều Monica và Cato chắc chắn đã chích.
Joe hỏi, “Các bạn đã bắt đầu với cái quán Ấn Độ ở Lourenço Marques ấy, phải không?”
“Chúng em kiếm được một ít ở Beira nữa, và em còn biết tên một người được đánh giá rất cao trên đảo Moçambique.”
“Nếu muốn dừng lại ngay bây giờ,” Gretchen hỏi, “các cậu có làm được không?”
“Dừng lại? Cậu đùa đấy à? Toàn bộ quá khứ của tớ chỉ là khúc dạo đầu thôi, như nhà thơ đã từng nói. Tớ đã phải tiến từng bước từng bước một mới được như thế này, và bây giờ tớ vẫn bình an vô sự.”
“Nói cho tớ biết đi, Monica, cậu không tiêm vào tĩnh mạch đấy chứ?”
“Không. Tớ chỉ chích dưới da thôi. Nhưng nếu tớ có quyết định tiêm vào tĩnh mạch thì cũng không việc gì đến cậu cả.”
Có vẻ như nói thêm nữa cũng bằng thừa, chiếc pop-top im ắng trở lại, và sau một lúc khá lâu Joe mới lên tiếng hỏi, “Cato, cậu thì sao?”
Hiển nhiên là Cato đã chích cho mình một liều nhẹ hơn của Monica hoặc tác động của heroin đối với anh có khác, vì anh tỏ ra rầu rĩ vô cùng: “Theo như cách Holt thường nói ở Pamplona... thường thôi.”
“Ý tôi là, cậu có thể dừng lại được không nếu chúng tôi quyết định...”
“Nếu các cậu quyết định? Các cậu là cái thá gì mà đòi quyết định?” Cato ngừng lại một lát, rồi anh bỗng cao giọng nói to hơn, “Cậu tưởng cậu là Người Da Trắng thì chỉ cần nói, ‘Cato, anh bạn da đen thân mến, bỏ cái đó đi,’ thế là tớ phải bỏ đấy à. Này, cậu tưởng cậu là đồ chó đẻ nào? Im mồm đi, kẻ phá đám, nếu không sẽ có người làm cho cậu im mồm đấy.” Anh bắt đầu tuôn ra những từ ngữ đường phố thời xưa, khiến Gretchen phải đưa tay lên che mặt và tự hỏi không biết mình đang gặp phải chuyện gì.
Rồi đèn bỗng bật sáng và Monica leo ra khỏi giường chui xuống nằm cùng Gretchen và Joe. “Các cậu này, nó tuyệt vời nhất đời thật mà. Đó chính là thứ các cậu vẫn tìm kiếm mà không biết đấy. Nó kỳ diệu đến mức các cậu sẽ không bao giờ thỏa mãn với bất cứ thứ gì khác nữa đâu. Nhất là anh, Joe ạ. Chỉ cần nhập cuộc thôi, anh sẽ thấy mọi thứ đều sáng rõ. Anh sẽ có sức mạnh...”
Cô nói một cách kích động như vậy gần một tiếng đồng hồ, thuyết phục hai người nằm cùng giường là nếu họ thử một phát tiêm dưới da ngon lành - cô sẽ hướng dẫn cho họ cách làm - họ sẽ không còn bứt rứt khó chịu nữa và mọi việc sẽ trở nên rõ ràng. “Các cậu có thể nhìn xa như đại bàng vậy,” cô nói. “Thí dụ như bây giờ tớ thấy rất rõ tại sao tớ lại bắt đầu mối quan hệ với Cato. Cha tớ đã bị bọn mọi đen xúc phạm...”
Joe há hốc miệng kinh ngạc trước cách dùng từ đó của Monica, tưởng rằng Cato sẽ nổi giận, nhưng heroin đã tác động lên Cato như một thứ thuốc thần kinh, và anh đang ngủ, thỉnh thoảng lại vặn vẹo co giật ở giường trên. “Như em đã giải thích,” Monica nói tiếp, “cái tôi của cha em đã bị bọn mọi đen làm tổn thương, và với tư cách một người con trung thành, em đã đảm nhận gánh nặng lương tâm của ông, vì vậy em thực sự căm thù bọn mọi đen. Nhưng em lại muốn làm nhục bản thân theo cách cha em đã bị làm nhục, và cách tốt nhất để làm việc này - thực ra nếu nhìn nhận đúng vấn đề thì là cách duy nhất - là em chấp nhận một tình nhân da đen, cho dù nó ghê tởm đến thế nào đi nữa.”
“Monica!” Gretchen phản đối. “Cato đang ở trên kia đấy.”
“Quên Cato đi. Anh ấy chỉ là một công cụ để tớ tự hạ thấp mình thôi.” Cô tiếp tục phân tích với giọng điệu khoa trương đến nỗi hai thính giả của cô không sao hiểu nổi.
“Tớ thấy cậu nên đi ngủ đi,” Gretchen khuyên, và Joe giúp cô nhấc Monica lên giường trên, và vừa chạm vào người Cato, cô đã lẩm bẩm, “Tỉnh dậy nào, vị thần Hy Lạp da đen, và làm nhục em đi.” Cô quấy rầy Cato cho đến khi anh thức dậy, và trong một thời gian rất lâu, nằm cách phía dưới khoảng một mét, Joe và Gretchen có thể nghe thấy họ làm tình một cách say đắm và mãnh liệt.
—★—
Đích đến của chuyến đi lên phía Bắc là một hòn đảo bất thường. Từ năm thế kỷ nay, nó nằm chưa đầy dặm ngoài khơi một vùng lục địa vẫn còn nguyên sơ chỉ có thú hoang và người da đen thời kỳ Đồ Đá cư trú, trong khi hòn đảo lại phát triển thành một trung tâm quyền lực, tri thức và văn hóa. Nó nổi tiếng là một trong những hòn đảo đẹp nhất thế giới, không chỉ bởi tự nhiên, mà còn bởi bao chứa gần như trên mỗi mét vuông là những tòa nhà cổ kính, những quảng trường thênh thang tưởng niệm các vị anh hùng ngành hàng hải Bồ Đào Nha, cả những đại lộ rộng rãi hai bên hai hàng cây nở hoa. Trên mép đảo gần đất liền nhất sừng sững một nhà thờ cổ từng được thánh Francis Xavier biết đến, còn ở mép bên kia là một pháo đài trông dễ sợ được bao bọc giữa những bức tường đồ sộ xây tận từ năm 1545. Hết đội quân nước ngoài này đến đội quân nước ngoài khác đã tìm mọi cách giành pháo đài đó từ tay người Bồ Đào Nha, nhưng lần nào cũng đều có một nhóm người Bồ Đào Nha quyết liệt chống lại quân xâm lăng suốt một năm, hai năm, ba năm. Các cuộc vây hãm vô cùng đáng sợ, không khoan nhượng, và thông thường quân xâm lược Hà Lan sẽ kiểm soát chín mươi lăm phần trăm đảo, nhưng lần nào cũng vậy, khi cuộc vây hãm kết thúc, pháo đài vẫn do quân Bồ Đào Nha làm chủ, và họ sẽ thận trọng rời tường thành để tái thiết những khu vực còn lại của đảo.
Ilha de Moçambique cùng tòa pháo đài của nó là một thánh địa trong lịch sử Bồ Đào Nha, là tài sản hải ngoại thiêng liêng nhất, và danh sách những người Lusitania[104] vĩ đại từng phục vụ ở đây kéo dài vô tận, dẫn đầu là tay thủy thủ lão luyện một mắt từng ngồi trên băng ghế đá ở đầu phía Nam hòn đảo nguệch ngoạc những vần thơ mà sau này được công bố là sử thi của Bồ Đào Nha, The Luisiads của Luis Vaz de Camões.
Bốn khách lữ hành nhìn thấy hòn đảo lần đầu tiên từ một triền dốc thấp trên con đường cắt qua hàng bao nhiêu dặm những bụi cây đất liền. Họ nhìn thấy pháo đài xám đồ sộ, cây cầu dài thẳng tắp mới dựng, và những hàng cây đang nở hoa. “Thật bõ công đi,” Joe nói, và Monica nhất trí, “Cả đời em đã được nghe nói về đảo Moçambique. Nó sừng sững như một người lính gác trong lịch sử châu Phi, em chưa bao giờ nghĩ mình sẽ được thấy tận mắt.”
Joe lấy làm lạ vì một cô gái nghiện heroin cũng tỉnh táo được như Monica. Với Cato thì khác. Ma túy rõ ràng làm anh đâm ra chán chường, và ngay cả khi vừa tiêm một liều, tinh thần anh vẫn xuống chứ không hề phấn chấn. Nhưng điều ngạc nhiên chủ yếu là ma túy, bất chấp tất cả những tính chất mạnh mẽ, phần lớn thời gian vẫn để cả hai rõ ràng đều kiểm soát được năng lực của mình.
“Người mới sử dụng,” Gretchen lưu ý khi Joe bàn luận về những gì quan sát được. “Hai nhóc mới bắt đầu thôi, và chúng ta không biết họ đang dùng bao nhiêu hoặc ảnh hưởng cuối cùng là gì.”
“Chúng ta biết là nó cho phép họ yêu đương cực bốc lửa.”
“Ai cần điều đó?” Gretchen hỏi. “Ý em là ai cần thêm tác nhân kích thích chứ?” Trong suốt tuần vừa qua hầu như không có dấu vết heroin trong chiếc pop-top, nhưng hai lần Monica nói đến tay buôn lậu ma túy người Ấn Độ kiểm soát việc buôn bán trên đảo, vì vậy Gretchen lo sợ bây giờ họ sẽ gặp rắc rối vì đã đến nơi này.
Cuốc xe băng qua cây cầu dài, trụ cầu ngập sâu dưới nước biển, thật phấn khích, vì lúc này các bạn trẻ có thể thấy rõ hòn đảo và đoán được nó có những gì dành cho mình. “Nhìn các bãi biển kìa!” Cato reo. Chúng bao quanh cả hai phía của hòn đảo và thật ra ăn cả vào trung tâm thành phố. “Cây cối nữa!” Monica nói thêm, “Chưa có ai kể với em là ở Moçambique cây cối nhiều đến thế.”
Rồi họ cũng ở trên chính hòn đảo, vừa lái xe dọc con đường rộng hai bên trồng phi lao vừa dõi mắt về phía Ấn Độ Dương. Tại một góc đường họ gặp một viên cảnh sát da đen, Gretchen hỏi bằng tiếng Anh, “Anh có chỗ cắm trại không?” và dù không nói tiếng Anh viên cảnh sát hiểu được từ then chốt, nên liền rời vị trí và đi bộ cạnh xe qua một dãy nhà, rồi cuối cùng chỉ cho họ một công viên rộng rãi đẹp đẽ.
“Cắm trại,” anh nói.
“Cho cả ô tô?” Gretchen hỏi, và người đàn ông gật đầu. “Cả chỗ ngủ?” cô hỏi tiếp, úp hai tay vào làm gối và ngả đầu xuống. Anh ta lại gật đầu, chỉ cho họ thấy nơi sẽ tìm được nước.
Mặc dù điểm cắm trại ở Lourenço Marques đã là lý tưởng, ở một vài mức độ nào đó nơi này còn hơn thế nhiều, không phải vì nó đối diện với Ấn Độ Dương, không phải vì nó có nhiều hoa, mà vì nó nằm ngay trung tâm thành phố. Ta nằm trên giường, và xung quanh ta là cuộc sống hoang dại muôn màu muôn vẻ của một cộng đồng lạ thường. Joe lái chiếc pop-top đỗ dưới một cội cây lớn đang trổ hoa, và một đám đông cư dân - cả da trắng lẫn da đen - xúm lại chào mừng nhóm bạn. Không nói được tiếng Anh, họ chỉ cho các cô gái chợ ở đâu và những cửa hàng nào tiện mua sắm. Trẻ em thì giới thiệu về bờ biển và những bãi tắm tốt nhất. Một viên cảnh sát khác tạt qua hướng dẫn cho hai chàng trai cách mua xăng và vị trí của tòa thị chính, phòng khi có việc. Rồi, trước sự sửng sốt của cả nhóm, một thương gia Bồ Đào Nha phốp pháp mặc toàn đồ trắng mới là mời họ vào một quán gần đó để uống rượu chào mừng.
“Đây là Bar Africa,” ông nói bằng thổ ngữ - phần tiếng Bồ Đào Nha, phần tiếng Pháp, phần tiếng Anh. “Đằng kia, bệnh viện. Dưới đó, nhà thờ Thiên Chúa giáo. Xa hơn một chút, thánh đường Hồi giáo.”
“Đảo này theo Hồi giáo?” Gretchen hỏi.
“Tám mươi phần trăm,” người Bồ Đào Nha đáp. Ông trả tiền nước và đang định tạm biệt thì Cato bất ngờ đề nghị, “Ở Philadelphia, tôi có rất nhiều bạn là người da đen theo đạo Hồi. Tôi đi thăm giáo đường được không?”
“Tôi không phải hướng dẫn viên giỏi nhất,” người Bồ Đào Nha nói. “Tôi là tín đồ Thiên Chúa giáo. Nhưng tôi biết ai là người thích hợp nhất.”
Ông sai một cậu bé da đen chạy đến bưu điện, và vài phút sau nó trở lại, dẫn theo một người Ả rập luống tuổi, cao lớn, mặc áo chùng, đội khăn xếp màu xám. Ông để râu ngắn, khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn, đôi mắt tinh nhanh quan sát các bạn trẻ, dành sự chú ý đặc biệt cho Cato.
“Đây là Hajj',” người Bồ Đào Nha to béo nói, trìu mến đặt tay lên cánh tay ông già. “Ông là vị thánh của chúng tôi đấy.”
“Hajj’ gì ạ?” Gretchen hỏi.
“Chỉ là Hajj’ thôi,” người Bồ Đào Nha đáp. “Tất nhiên ông ấy có một cái tên Ả rập, nhưng năm mươi năm qua người ta chỉ gọi ông là Hajj’ ... một người sùng đạo đã hành hương đến Mecca[105] ... người duy nhất thuộc thế hệ ông đã đến đó.”
Hai người Ả rập đi qua quán trông thấy Hajj’ bèn dừng lại xin ông ban phúc, ông liền cúi mái đầu quấn khăn xuống để ban phúc cho họ. “Còn bây giờ tôi gửi gắm các bạn cho ông ấy,” người Bồ Đào Nha nói bằng tiếng Pháp rồi bỏ đi mất.
Lúc đầu các bạn trẻ không mấy thoải mái ở cạnh một người Ả rập, vì họ không biết ngôn ngữ của ông, nhưng Hajj’ đã mỉm cười lên tiếng, “Tôi nói được tiếng Anh. Và mặc dù là tín đồ Hồi giáo, tôi vẫn sẽ uống một chút rượu của các bạn, thêm một điều tôi học được từ người Anh đấy.”
Ông kể cho họ nghe về cuộc hajj của mình: “Ngày ấy, đến được Mecca không phải chuyện dễ. Chúng tôi lên một con tàu nhỏ đi về phía Bắc tới Zanzibar. Đó luôn là trung tâm của đạo Hồi, một trung tâm quan trọng. Và chúng tôi chờ ở đó mấy tuần cho đến khi thu xếp được một chuyến hành hương rồi cùng nhau vượt biển tới Mogadiscio, chốn nóng kinh khủng, rồi chờ ở đấy hai ba tuần, sau đó giong buồm lên Djibouti đón thêm vài người hành hương nữa, và từ đó đến Jidda, nơi hầu như không có chút nước nào. Chúng tôi đi bộ tới Mecca, xa vô vàn dặm đến nỗi người già gục ngã dọc đường còn người trẻ đinh ninh rồi mình cũng sẽ chết. Hồi đó là ngay sau chiến tranh - cuộc đại chiến - tôi còn nhớ những chiếc ô tô phóng vèo vèo qua, tung bụi mù mịt vào mặt chúng tôi, rồi một chiếc bị hỏng, và khi vượt qua chỗ họ, chúng tôi cười nhạo những người giàu có ngồi trong xe, nhưng chẳng bao lâu sau xe sửa xong, họ lại vượt qua chúng tôi, và không những họ giễu chúng tôi, lốp xe của họ còn bắn đá cuội vào người chúng tôi, nhưng khi đến Mecca chúng tôi lại gặp họ, và xe lại hỏng, vì vậy chúng tôi không thể xác định được ai hơn ai.”
“Có bõ công không?” Cato hỏi.
Ông già quay lại, nhìn kỹ khuôn mặt đen bóng của Cato, rồi nói, “Bõ công không ư? Với tôi, đó là sự khác nhau giữa sống và chết. Khi tôi quay về, mọi người đều biết tôi là một hajji, kẻ hành hương đã thực hiện cuộc hajj vĩ đại. Sau này hai người khác đã cố sức tới Mecca, nhưng họ đều chết cả. Tôi là hajji. Các thuyền trưởng biết tôi là hajj’ và đã mang công ăn việc làm lại cho tôi, mà Thượng đế cũng vậy. Mecca đã khích lệ tôi trở thành một bậc thánh hiền, và dù còn nhiều thiếu sót, tôi vẫn được nhìn nhận là có phẩm chất thánh nhân.”
Trong lúc ông nói chuyện, một số khách khác đến cầu xin ông ban phước lành, và ông cho họ thỏa lòng bằng cách chắp hai bàn tay lại, ngón chúc xuống dưới. Gretchen hỏi cách đó có phải tập tục Hồi giáo không, ông liền đáp, “Đây là một thói quen tôi vẫn giữ. Bây giờ trên đảo này không còn ai khác là hajji, vì vậy tôi nhắc họ nhớ rằng Mecca còn đó... cuối một hành trình dài gian khổ. Đây là những gì chuyến hành hương thành tựu. Giờ chúng ta đi thăm giáo đường chứ?”
Ông dẫn chúng tôi ra bến cảng, đi dọc vịnh đến một tòa nhà đẹp đẽ màu xanh lá cây có mái tháp. Đến cửa, nhóm bạn Mỹ định tháo giày dép ra nhưng ông ngăn lại và nói, “Vào bên trong hãy tháo,” đoạn ông chỉ cho họ một loạt giá để giày và một dãy tám cái chậu rửa tay. Ông đưa họ tới gian cầu nguyện, một khu vực rộng rãi, sạch sẽ, có mihrab[106] trực chỉ Mecca. Rồi họ leo lên mái, và từ đó ông giải thích cho họ về cấu trúc hòn đảo. “Đằng kia, gần cây cầu các bạn vừa đi qua, là sáu hay bảy khu nhà phức hợp của dân bản địa, vẫn y hệt như các khu nhà tổ tiên tôi từng xây dựng khi đến đây hơn một nghìn năm trước. Toàn lều cỏ mái cỏ với cả nghìn người chen chúc nhau trong một diện tích đáng lẽ chỉ chứa được một trăm. Trong khu vực quanh giáo đường này là tầng lớp trung lưu, chủ yếu người Ả rập. Lên gần pháo đài là những ngôi nhà lớn của các tín đồ Thiên Chúa giáo Bồ Đào Nha. Và hãy nhìn xem hòn đảo này hẹp thế nào. Từ bờ bên này sang bờ bên kia, không quá ba khối nhà. Chúng tôi đang sống trên một viên đá quý nhỏ bé, một trong những kho báu của trái đất này.”
“Kia có phải là một chiếc xe kéo không?” Gretchen hỏi khi thấy một người đàn ông da đen chạy về phía trung tâm thành phố, kéo chiếc xe hai bánh chở một người đàn bà Bồ Đào Nha.
“Đó là phương tiện đi lại của chúng tôi năm trăm năm nay rồi... trước khi cây cầu đưa xe hơi tới. Dân chúng vẫn thích đi xe kéo hơn, vì vậy chúng tôi không cho phép taxi hoạt động.”
Trong những ngày tiếp theo, Cato thường tìm đến với ông, người Ả rập dễ mến này có một căn nhà nhỏ trông ra bến tàu, nơi ông làm việc suốt sáu mươi năm qua. Hàng ngày những người liên quan đến ngành hàng hải thường ghé vào tán gẫu với ông, nhưng ông vẫn tìm được thời gian cho Cato. “Anh nên dự các buổi lễ ở giáo đường,” ông nói, “vì đạo Hồi là cứu rỗi cho người da đen các anh. Hãy nhìn bản đồ châu Phi. Quốc gia nào người da đen gắn bó mật thiết với đạo Hồi, quốc gia đó sẽ lãnh đạo hiệu quả. Quốc gia nào người da đen không để ý đến đạo Hồi, ở đó họ hoàn toàn bất lực trước người da trắng. Ở Mỹ các bạn cũng sẽ bất lực chừng nào các bạn chưa đón nhận đạo Hồi.”
Ông có nhiều niềm tin về lợi ích mà đạo Hồi có thể mang lại cho người da đen, vì ông cho rằng Muhammad đã bày tỏ mối quan tâm đặc biệt đến người da đen và đã xây dựng nên một ngôi nhà đặc biệt cho họ trong tín ngưỡng của mình. “Đã từng có nhiều lãnh tụ Hồi giáo là người da đen,” ông Hajj’ nói, “và sẽ còn nhiều hơn nữa. Khi tôi ở Mecca, dường như một nửa số người hành hương là da đen. Người ta bảo tôi rằng ở Mỹ những người da đen ưu tú nhất đều theo đạo Hồi cả.”
Ông mời Cato dự các buổi lễ ngày thứ Sáu để thấy tận mắt quan hệ thân thiện tồn tại trên đảo giữa tín đồ đạo Hồi da đen và người da trắng, vì vậy trưa thứ Sáu Cato dùng bữa với ông già, tại nhà một gia đình Hồi giáo từ Pakistan đến sinh sống trên đảo, và Cato nhận thấy tất cả khách khác đều là người thuộc chủng tộc da trắng - hoặc người Ả rập như Hajj’, hoặc người Ấn Độ như ông chủ nhà - nhưng khi đến giáo đường, cậu thấy phần lớn người đi lễ lại là da đen. Quả là một giây phút đầy ý nghĩa khi tất cả mọi người có mặt trong giáo đường quỳ xuống, vai kề vai, bất kể màu da, cùng cầu nguyện, mặt hướng về phía Mecca, quá xa xôi ở tận bên kia đại dương cuộn sóng.
Cầu nguyện xong, một vị khách lên hô hào cử tọa bằng cả tiếng Ả rập, Bồ Đào Nha lẫn thổ ngữ, càng nói ông càng phấn khích bởi những tin tức phải thuật lại. Ông ta dáng người lùn, khỏe khoắn, rõ là nửa Ả rập nửa thổ dân, và khuôn mặt ngăm đen đỏ bừng lên khi ông giận dữ nhắc lại một vài câu gì đó. Cato hỏi Hajj’ đề tài cuộc nói chuyện là gì, thì ông nghiêm nghị đáp, “Ông ấy nói có lẽ chúng ta phải hỗ trợ sức người sức của cho Ả rập để ủng hộ cuộc thánh chiến vĩ đại chống những người Do Thái đã đốt Giáo đường Al-Aqsa. Ông ấy nói nếu người Do Thái không bị đuổi đi, có thể người da đen châu Phi sẽ không bao giờ biết đến tự do. Ông ấy nói thánh chiến là điều không thể tránh, và chúng ta phải góp phần vào.” Ông khách đã khuấy động nồi nước xuýt sôi sùng sục, các tín đồ Hồi giáo sùng đạo ở Moçambique vừa lắng nghe vừa gật gù tán thành khi ông ta giải thích đạo Hồi lại sắp có tầm quan trọng lớn lao ra sao và làm thế nào mà nó lại bị ngăn cản bởi một điều duy nhất, sự có mặt của người Do Thái ở những nơi linh thiêng.
Trong suốt tuần sau đó, Cato thường xuyên đến chơi với ông Hajj’, và với sự trợ giúp của các bản đồ cổ, anh lần theo con đường hành hương tới Mecca bảy hay tám lần cho đến khi có thể hình dung ra bến cảng ở Zanzibar, các viên chức hải quan ở Mogadiscio, những chiếc xe hơi bị bỏ lại trên tuyến đường hoang vắng tới Mecca, và tình huynh đệ khi hàng nghìn người đi vòng quanh điện thờ Kaaba, công trình bằng gỗ mun ở trung tâm của đạo Hồi. Ông Hajj’ càng dẫn giải tín ngưỡng của mình chi tiết, anh càng hiểu rõ hơn sức lôi cuốn của đạo Hồi đối với người da đen ở Mỹ. Đó là một tín ngưỡng của tình huynh đệ phổ quát, dù là ở quê hương châu Phi hay ở Ả rập, và nó đề cập trực diện các vấn đề của người da đen, theo đó trên hết thảy nó là một tín ngưỡng làm cho trả thù trở thành hành vi đáng trọng. Hàng chục đoạn trong kinh Koran biện hộ cho người chờ đợi thời cơ để sửa chữa sai lầm, vì vậy Cato dần dần coi đạo Hồi như một phong trào dành riêng cho những người da đen có mối thù xưa phải trả. Bản thân anh không hứng thú với tôn giáo này vì anh cho rằng nó là một mánh lới xấu xa không kém đạo Cơ Đốc, nhưng anh cảm nhận được nó có thể tác động mạnh mẽ khủng khiếp đến đồng bào của mình, và vì lý do này anh vẫn thường xuyên quay lại chỗ ông Hajj’ gần giáo đường để chuyện trò về con số người da đen khắp châu Phi đã tự nguyện đứng dưới ngọn cờ xanh lá cây của đạo Hồi. Một hôm ông Hajj’ đưa cho anh xem một bài tạp chí đăng một số quốc kỳ mới của châu Phi và tự hào chỉ những quốc gia mới trên cờ cổ hình trăng lưỡi liềm - như Algeria, Tunisia, Libya, Mauritania - hoặc có màu xanh lá cây sáng, xuất hiện ở gần hai chục lá cờ. “Chúng ta là thế lực mới trên thế giới,” ông già nói, “và trong cuộc biểu dương lực lượng của chúng ta, có một vị trí cao quý cho cậu.”
Theo dõi ảnh hưởng của tín ngưỡng mới lên Cato, Gretchen ngạc nhiên thấy anh có thể từ bỏ đạo Cơ Đốc của cha và ngay lập tức chấp nhận đạo Hồi của ông già Hajj’, vì mặc dù đúng là đạo Cơ Đốc đã hoàn toàn lừa gạt người da đen trong một trò dối trá vĩ đại của lịch sử - gần như thể đạo Cơ Đốc đã được sáng lập dành riêng cho mục đích đặc biệt này - đạo Hồi còn đối xử với anh tồi tệ hơn, và thật mỉa mai là bây giờ tôn giáo này lại được coi như cứu tinh của chủng tộc da đen, trong khi từ xa xưa chính nó là kẻ hủy diệt chính thông qua sự bảo trợ cho chế độ nô lệ.
Chính trong lĩnh vực chế độ nô lệ này ông Hajj’ đã gây được ảnh hưởng sâu sắc nhất lên Cato và tạo ra những cơn xáo động cảm xúc mà trước đây tôi đã nhắc đến. Chính Cato kể với tôi chuyện diễn ra như thế nào, “Một ngày thứ Sáu tôi đến giáo đường cùng ông Hajj’, và sau buổi lễ ông mời tôi về nhà, hai chúng tôi ngồi ngoài hè quan sát khu vịnh, chỗ trú chân qua đêm của nhiều tàu bè, và ông đã dùng một từ tôi chưa nghe thấy bao giờ. Ông nói, ‘Ngày xưa - thật ra là ngay từ hồi tôi còn bé tí - các barracoon đã có đó rồi,’ rồi ông chỉ về phía rừng rậm ở đầu bên kia đảo. Tôi hỏi ông barracoon là gì, và ông ngạc nhiên nhìn tôi. ‘Cậu không biết barracoon là gì thật sao? Tổ tiên cậu biết đấy, về điều này chúng ta dám chắc.’ Rồi ông giải thích rằng thời chế độ nô lệ, vốn tồn tại trên đảo này cho tới tận đầu những năm 1900, người da đen bị bắt ngay giữa châu Phi và bị lùa thành từng đoàn đến các khu cảng, tại đó tàu thuyền sẽ cập bến định kỳ để bốc hàng. Trong thời gian chờ đợi từ lúc nô lệ bị đưa đến bờ biển cho đến khi tàu bè vào bến nhận hàng, họ bị nhốt trong các khu trại rộng lớn có lính mang súng trường và chó dữ canh gác, những trại đó là barracoon.’ Tôi cho rằng từ coon[107] chính từ đó mà ra. Người từng ở barracoon.
“Thế đấy, ông Hajj’ ngạc nhiên thấy tôi mù tịt chuyện này đến nỗi ông cho tôi xem một số sách mà ông nghĩ tôi nên đọc. Ông kiếm được chúng nhờ các thuyền trưởng hay du khách nghiền ngẫm về Moçambique suốt hành trình dài từ châu Âu tới, và tôi thường rời chiếc pop-top ngay sau bữa sáng để đến chỗ ông, ngồi cả ngày trên hiên nhà đọc những cuốn sách đáng sợ ấy. Chúng đều nói về chế độ nô lệ.”
Cậu rùng mình khi kể với tôi chuyện này, vì mặc dù giống bất kỳ người da đen có học thức nào, cậu có biết chế độ nô lệ, nhưng sự ghê sợ tột cùng của nó đã bị xóa sạch khỏi nhận thức của cậu, như thể nó là gánh nặng quá lớn tâm trí không tài nào chịu nổi. “Nhưng bây giờ tôi đã chìm đắm trong đó. Trong sách của ông Hajj’ tôi đọc được: ‘Từ đảo Moçambique có quá nhiều nô lệ bị nhét lên tàu, đến nỗi người ta đặt một băng ghế đá cẩm thạch trên bờ biển phía trước lâu đài, và ở đó, khi đám nô lệ mang nặng xiềng xích bị dồn lại, giám mục sẽ đến và vẫy tay cải đạo cho tất cả bọn họ theo Thiên Chúa giáo, để nhỡ họ có chết trong Hành Trình Giữa[108] thì linh hồn họ sẽ được lên thiên đường, và đây là một hành động khôn ngoan vì các con tàu lèn chật cứng đến nỗi ba mươi, bốn mươi phần trăm nô lệ sẽ chết trước khi tàu rời đảo, xác sẽ bị quẳng xuống biển, song thảy đều được chết như tín đồ Thiên Chúa giáo trung thành.
Tôi còn nhớ một câu mà tôi sẽ không bao giờ xóa khỏi tâm trí được. Nó cứ phục sẵn ở đó như một căn bệnh ung thư. Tôi vô tình đọc được nó, và tác giả không hề cố gắng giải thích bất cứ điểm đặc biệt nào. Chỉ cố gắng tường thuật đầy đủ. Ông viết, ‘Các giáo sĩ dòng Tên quản lý barracoon của họ trong đất liền đối diện với đảo và dùng xuồng kéo nô lệ của họ lên tàu.’ Ông cứ suy nghĩ câu này mà xem.”
Nhưng đoạn Cato thường nhớ đến nhất, cậu lại không bao giờ nhắc đến. Tôi nghĩ cậu biết mình không thể tự tin nói ra đoạn đó mà không lạc giọng mất, nhưng cậu đã dùng chiếc máy chữ cũ của ông Hajj’ để đánh lại, và cậu cho tôi xem bản đánh máy này:
Thời đó ở một trong những ngôi nhà lớn trên đảo Moçambique có vợ một viên chức Bồ Đào Nha giàu có sống. Rủi thay, người bà càng ngày càng đẫy ra còn mặt phèn phẹt khó coi đến nỗi bà nổi tiếng khắp nơi với cái tên Sư tử cái. Theo như người ta nói, bà ta cũng biết mình bị gọi như vậy, cho nên tính khí bà ta đâm mỗi năm một thêm khó chịu, và vì không có con cái còn chồng tằng tịu với nhiều đàn bà khác, bà ta chỉ biết trút nỗi bực dọc lên đầu nô lệ của mình, và bà ta quen thói cột chặt xuống đất bất cứ nữ nô lệ nào hứa hẹn sẽ trở nên xinh đẹp tới mức quyến rũ được chồng bà ta rồi đánh gãy răng cửa của họ. Đi đâu bà ta cũng mang theo palmado, cây gậy tày một đầu to bằng cỡ cái đĩa nhỏ, được dui nhiều lỗ và gắn với một tay cầm bằng tre rất dẻo, và nếu cô thợ may nào phạm phải dù chỉ một lỗi trong lúc may váy áo cho bà ta, bà ta sẽ bắt cô gái giơ tay phải lên rồi dùng cái palmado đó vụt bảy mươi hoặc tám mươi lần, quật thật lực sao cho các lỗ đục khiến cho bàn tay cô thợ may phồng rộp lên, sau đó lệnh cho cô gái ngay tức khắc trở lại với công việc, tiếp tục khâu mà không được sai để khỏi bị cái palmado hỏi thăm bảy hay tám chục lần nữa.
Cato càng đọc nhiều sách của ông Hajj’, câu chuyện thực về châu Phi càng trở nên khủng khiếp, và không có gì đẫm máu và khủng khiếp hơn phần đóng góp của hòn đảo thân thiện này vì nó từng là kho hàng nơi xác định giá thị trường của nô lệ để bán sang bờ biển phía Đông; chính ở nơi đây các tàu buôn nô lệ từ mọi quốc gia văn minh trên thế giới tập trung để bốc những chuyến hàng giá trị. Bao nhiêu nô lệ đã bị chuyển từ các barracoon trên đất liền lên những con tàu thả neo cách xa đảo? Hai hay ba triệu, có lẽ vậy, cho nên cũng từng ấy người da đen ở Brazil, Cuba và Hoa Kỳ đã biết sơ qua về hòn đảo tuyệt vời ấy, đã biết chợ nô lệ ở đó, các barracoon ở đó, xiềng xích ở đó và, cuối cùng, cả lòng nhân từ trong sự ban phúc của đức giám mục ở đó khi ông ta ngồi trên băng ghế đá cẩm thạch và gửi các tín đồ Thiên Chúa giáo mới của mình lên hầm chứa hàng của các con tàu đang chờ ngoài khơi.
Cato nói với tôi, “Trong khi các bạn khác khám phá pháo đài, tìm hiểu về các thương nhân Bồ Đào Nha hay tranh luận dưới mái hiên Bar Africa thì tôi hoặc đọc sách ở chỗ ông Hajj’ hoặc đi dạo dọc bên cảng, hình dung ra dòng người da đen dài vô tận đang bị dẫn ra khỏi rừng. Tôi có thể thấy họ bị đẩy xuống hầm chứa hàng trong khi những người Bồ Đào Nha giàu có theo dõi từ trên bờ, tại chính chỗ tôi đang đứng, và tôi bắt đầu cảm thấy một nỗi đau xót về những ngày sẽ không bao giờ nguôi ngoai được ấy. Chính hệ thống kinh tế của các ông, nhà thờ của các ông đã gây ra chuyện này, và tôi không tin sẽ có ngày món nợ đó được trả.”
Vậy là suốt quãng thời gian lưu trú dài êm đềm trên đảo Moçambique, Cato Jackson đã phải trải qua một cơn chấn động tinh thần mạnh mẽ gồm một phần đạo Hồi, một phần lịch sử, một phần ký ức về chủng tộc, và anh bắt đầu đề ra những ý tưởng sẽ thúc đẩy anh với tư cách một con người. Người dẫn dắt anh là ông Hajj’, người Ả rập từng nhìn thấy một cảnh mộng năm hai mươi lăm tuổi và thấy cảnh đó đủ sức dẫn đường cho mình suốt quãng đời còn lại. Ông giảng giải cho Cato nhiều điều, cảm phục trí thông minh sắc sảo và lòng khao khát mãnh liệt của anh thanh niên da đen, nhưng khi mọi bài giảng kết thúc, và Cato nghĩ rằng bây giờ anh đã hiểu được những gì trước kia còn mù mờ, một hôm Gretchen nghe thấy anh xỉ vả giáo hội Thiên Chúa đã thừa nhận chế độ nô lệ, và cô phát cáu nói, “Tất nhiên anh biết gần như toàn bộ nô lệ bị chuyển đến đảo Moçambique đều là do những tay buôn nô lệ người Ả rập vốn là tín đồ Hồi giáo sùng đạo chở đến đấy chứ?” Khi Cato nhìn cô chằm chằm, cô nói thêm, “Chuyến hàng lớn cuối cùng bị lén lút đưa ra khỏi đây là vào năm 1902, và do cha của Hajj’ phụ trách. Nhóm lớn cuối cùng cập bờ biển đâu đó năm 1952. Hơn ba trăm nô lệ bị người Ả rập dồn lại bán cho lái buôn Ả rập, để rồi bọn chúng đưa lậu họ qua eo biển sang Ả rập.”
“Ai bảo em thế?” anh chàng da đen quát lên.
“Em cũng biết đọc mà.”
Dĩ nhiên có một thương nhân Ấn Độ nghe đồn chuyện bán ma túy và dĩ nhiên chưa đầy một tiếng đồng hồ Monica đã dò ra ông ta, nhưng bằng một giọng mũi kiểu Ailen ông ta bảo, “Heroin? Trên đảo Moçambique có bao giờ nghe nói đến heroin đâu? Tôi mà đụng đến heroin thì có họa điên. Xin mời đi chỗ khác cho.”
Lần đầu tiên Joe và Gretchen chứng kiến nỗi hoảng loạn của một người sử dụng heroin trước nguy cơ nguồn cung cấp bị đe dọa. Monica đã thành người đàn bà chỉ có một mục đích duy nhất, vì lượng dự trữ mua ở Beira đã gần như hết sạch và cô có thể thấy trước cái buổi sáng khi cô tỉnh dậy bên cái ví rỗng. Cô phải tìm ra nguồn cung trên đảo, nhưng mặc cho cô hết lần này đến lần khác tới hỏi thăm người Ấn Độ, ông ta vẫn thoái thác bằng cái giọng du dương trầm bổng: “Thật vô cùng hân hạnh khi phụ nữ giàu có như cô đến đây hỏi xin sự giúp đỡ từ một người Ấn Độ nghèo khổ, nhưng các vị có bao giờ dừng lại để nghĩ cho những vấn đề của tôi không?”
“Ai bán mới được?” Monica tuyệt vọng hỏi.
“Thật vô cùng hân hạnh khi cô cứ giậm chân mà đòi hỏi...” Cuộc đối thoại cứ tiếp tục như vậy một lúc, cho đến khi rốt cuộc ông ta nói, “Cô đi dọc theo khu bến cảng đến cửa hàng sửa chữa ô tô của João Ferreira Dos Santos,” - ông ta phát âm theo lối Bồ Đào Nha, Jow Fer Shantzh, mà Monica không hiểu được - “trong căn nhà nhỏ cách đó một đoạn cô sẽ thấy một thủy thủ lai. Cứ nói tên tôi với ông ta.”
Monica rón rén bước dọc theo khu bến cảng, vẻ đề phòng một cách lộ liễu xem có ai theo dõi mình không, đến một cửa hàng sửa chữa ô tô có cái tên cô coi ngang như Jow Fer Shantzh, và cách đó một đoạn, cô nhẹ cả người nhận ra một ngôi nhà nhỏ, ở bên trong cô gặp một thủy thủ to béo, không biết nói tiếng Anh. Cô nhắc tên người Ấn Độ kia rồi đứng chờ, và sau một khắc quan sát kỹ xung quanh, người thủy thủ chìa ra một gói cần sa sơ chế cỡ trung bình. Monica thất vọng thì thầm, “Không, không!” rồi dùng ngón cái và mấy ngón tay phải khác ra hiệu tiêm dưới da. Mặt vẫn lạnh như tiền, người đàn ông lai lấy lại gói cỏ và đi vào phòng trong. Sau một lúc lâu Monica bồn chồn đứng ngồi không yên, ông ta trở lại mang theo một gói heroin nhỏ. “Nhiều hơn, nhiều hơn nữa,” Monica nài nỉ, nhưng hôm ấy ông ta chỉ cho cô một phần tối thiểu. Nó có giá chín đô la, nhiều gấp đôi số tiền cô phải trả ở miền Nam.
Phải quay lại gặp người đàn ông lai đó sáu lần nữa Monica mới tích được một lượng dự trữ vừa ý, nhưng khi cô đã cảm thấy yên tâm về phần mình rồi thì lại nảy sinh vấn đề của Cato. Nhu cầu của anh thì sao đây? Một buổi chiều cô hỏi anh khi anh từ chỗ ông Hajj’ về, và anh đáp, “Đừng lo cho anh. Anh nghĩ với anh thế là đủ rồi.”
Thông tin bất ngờ đó khiến Monica choáng người, cô bắt đầu thách thức anh: “Anh đã phát hiện ra một thứ tuyệt diệu như tuyết thế mà bỏ được ư? Anh không có chút lòng tự trọng nào à?” Thái độ này dường như vô lý đến nực cười, và Cato cố gắng giải thích là anh không hứng thú với heroin: “Vả lại, anh không biết rút cục mình có thể trụ được lâu không.”
Điều này làm Monica tức tối đến nỗi các câu chất vấn của cô chuyển thành lời buộc tội, Đến đây thì Joe và Gretchen đi bơi về. Joe đã kể cho tôi nghe những gì diễn ra sau đó: “Monica giận điên lên vì cho rằng một người da đen mà cũng dám bảo cô ấy nên hay không nên làm gì, và khi Cato cố gắng giải thích là anh ấy chỉ nhận định về tính cách của chính mình, Monica liền nổi giận và bắt đầu la hét ầm ĩ đến nỗi khắp cả khu cắm trại đều nghe thấy. Gretchen cố gắng xoa dịu cô, nên một lúc sau Monica và Cato đã nồng nàn trở lại với nhau. Hai người làm tình và cô thuyết phục Cato rằng với một người vẫn giữ được bình tĩnh - nếu người ta làm chủ được mình - heroin có thể tạo ra một cây cầu vồng vô tận. Cuối cùng Monica đưa ra cho anh ta một tối hậu thư tàn nhẫn: ‘Nếu muốn ngủ trên giường em, ông anh thân mến, hãy làm theo em.’
“Hôm sau Cato tìm tôi để thảo luận vấn đề ấy. Anh ấy hoang mang chết được. ‘Joe này,’ anh ấy nói, ‘đã hai lần tôi cảm thấy có lẽ chuyện này sẽ trở nên nghiêm trọng tôi không cáng nổi nữa. Những linh cảm rất đúng.’ Vì vậy tôi nói, ‘Nếu có dù là một chút xíu nguy cơ ấy, tại sao không dừng lại?’ và anh ấy thổ lộ, ‘Nhưng tôi yêu cô ấy. Cậu không thể tưởng tượng được ở trên giường với cô ấy là như thế nào đâu.’ Tôi nghĩ rằng đó là một đề tài mà anh ấy rất thành thạo, vì vậy tôi không phát biểu gì cả, nhưng rồi anh ấy chộp lấy tay tôi và nói với vẻ kiêu ngạo xưa nay, ‘Tôi là người sẽ giữ được bình tĩnh. Tôi tin chắc là nếu làm chủ được bản thân, tôi có thể cáng được thứ đó.’ Tôi liền bảo anh ấy, ‘Cứ làm vậy đi, con trai ta, rồi người ta sẽ đưa cậu vào trong sách y học cho xem,’ khiến anh ấy phát cáu mà càu nhàu, ‘Được thôi! Khi hai chúng tôi mới hít, cô ấy ngày nào cũng thử còn tôi chỉ hít có lẽ ba ngày một lần. Bây giờ trong khi cô ấy uống thuốc, tôi mới chỉ dùng kim bốn năm lần thôi. Và nếu cô ấy bắt đầu chuyển sang tiêm vào mạch máu chính, tôi sẽ ngừng. Tôi gọi đó là giữ mọi việc trong vòng kiểm soát.’
“Nhưng Monica tiếp tục gây sức ép. Thậm chí cô còn cố gắng truyền cảm giác kích thích cho Gretchen và tôi. ‘Tuyệt vời thật đấy,’ cô đảm bảo với chúng tôi. Còn kể đã mua thêm được ít hàng nữa của gã lai. Lý lẽ chủ yếu của cô là người ta mà không thử thì sẽ không bao giờ khám phá được tiềm năng thực sự của mình. Cô nói nhận thức về cái đẹp của người ta được nâng cao và người ta sẽ không bao giờ hiểu được tình dục nếu không có heroin. Rồi Gretchen bảo, ‘Cậu cũng từng nói với chúng tôi như thế về LSD,’ và Monica đáp, ‘Sự khám phá đến từng bước, bạn thân mến,’ Gretchen liền hỏi, ‘Thế bước quan trọng tiếp theo của cậu là gì?’ Monica chằm chằm nhìn vào khoảng không một lúc, như thể cô đã buộc phải thoáng nhìn thấy hành lang tối tăm nào đó có thể cô không muốn đi vào.”
Trong đủ loại sách mà ông Hajj’ cho Cato mượn, có một cuốn đã tác động lâu dài đến cả mấy bạn trẻ Mỹ. Đó là một câu chuyện thám hiểm của Bồ Đào Nha và được mang ra đảo vì nó là một bản tóm lược các sự kiện ở Moçambique. Sau khi đọc xong đoạn tường thuật thê lương về chuyện người Bồ Đào Nha đã dụ dỗ và ức hiếp những cư dân da đen đầu tiên rồi bán phần lớn làm nô lệ, Cato vô tình xem đến phần liên quan tới lục địa châu Phi nằm bên bờ Đại Tây Dương, vậy là anh đọc được câu chuyện về vua Afonso I, từng trị vì bản địa Congo từ 1505 cho đến tận khi băng hà năm 1542.
Đó là một câu chuyện hấp dẫn, cuốn hút không kém bất kỳ chuyện gì từng được tiết lộ ở châu Âu hay châu Á thời kỳ đó. Nó kể về việc cha của Afonso - vị vua khôn ngoan trị vì một vùng rộng lớn hơn hầu hết các nước châu Âu gộp lại - đã phản ứng ra sao trước sự xuất hiện của người da trắng, đã né tránh họ như thế nào và ông đã làm gì để cố gắng chọn lọc cái tốt loại bỏ cái xấu từ những cung cách khó hiểu của họ. Ông già đã giao người con trai yêu quý nhất của mình, Afonso, cho một nhóm linh mục Thiên chúa giáo trông nom, để trong mười năm liền họ chỉ dạy cho ông này những gì tinh túy nhất trong nền văn hóa châu Âu. Họ là những nhân vật kiệt xuất, bầy tôi tận tụy của Chúa và của Congo, họ đã đào tạo Afonso thành một người da đen có đủ cả hiểu biết lẫn đầu óc tinh tế để dẫn dắt dân mình đi từ chủ nghĩa ban sơ đến địa vị ngang hàng trong các hội đồng của thế giới.
Họ chỉ cho ông cách đổi những tài nguyên chưa hề động đến của Congo lấy các kỹ năng của châu Âu, cách bảo vệ đất nước mình bằng các khối liên minh khôn ngoan giữa những cường quốc một ngày kia có lẽ sẽ muốn thôn tính nó, và quan trọng hơn cả là cách chuyển tiếp từ các vị thần bộ lạc sang Cơ Đốc giáo, sao cho các quốc gia văn minh trên thế giới sẽ chấp nhận Congo như một nước ngang hàng. Họ còn dạy ông nhiều điều khác nữa, và đến năm hai mươi hai tuổi ông đã sẵn sàng trị vì vương quốc rộng lớn của mình.
Ngoài nền giáo dục may mắn đó, Afonso còn là người có nhiều khả năng bất thường vì ông sỡ hữu tài lãnh đạo hết sức lôi cuốn và một nhận thức sáng suốt về chỗ đứng của mình và của dân tộc mình trong lịch sử. Ông còn là một con người trung thực, dũng cảm trong chiến đấu, có ý thức chiến lược sắc bén. Tóm lại, ông là nhà lãnh đạo xuất chúng nhất mà người da đen ở châu Phi sinh ra được trong suốt hơn năm trăm năm, và nếu có bao giờ người da đen châu Phi được cơ may tạo lập vị thế vững chắc so với châu Âu, ấy là nhờ Afonso; những bức thư ông gửi tới vua Bồ Đào Nha ở Lisbon chính là tài liệu lịch sử có tầm quan trọng bậc nhất, vì trong đó ông không yêu cầu đại bác hay vàng bạc mà là thầy giáo và thầy tu để họ chỉ bảo cho thần dân da đen của ông cách tự trị.
Khi đọc đến điểm lịch sử này, Cato thấy cần phải chia sẻ phát hiện của mình với các bạn, vì vậy anh xin ông Hajj’ cho phép mang sách về pop-top, nhưng khi anh về đến đó, một cậu bé thông báo, “Họ đi Bar Africa rồi,” vậy là anh đến nhập hội với họ, và dưới mái hiên, trong khi quạt trần quay vù vù mà vẫn chẳng khuấy động được không khí là mấy, anh đọc cho họ nghe vài phần của tài liệu. Các thính giả da trắng của anh đều ấn tượng mạnh, Monica nói, “Em chưa bao giờ nghe nói đến nhân vật này.” Cả Joe và Gretchen cũng vậy.
Chính Gretchen đưa ra chủ đề khiến họ bận rộn suốt mấy tiếng đồng hồ: “Nếu người da đen chiếm một phân khúc quan trọng đến thế trong dân số thế giới, và đặc biệt nếu hiện giờ họ hệ trọng với Hoa Kỳ như vậy, tại sao chúng ta không nghiên cứu về những người như vua Afonso? Ở trường em có một khóa học về lịch sử nước Bỉ. Nước Bỉ lớn đến thế nào? Em không biết, tám hay chín triệu người? Có lẽ chỉ bằng một phần ba số người da đen ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, học về lịch sử nước Bỉ được cho là một việc đáng trọng về mặt học thuật, vì thật tình có Bỉ là nước da trắng và là một phần của châu Âu, ấy vậy nhưng người ta lại thấy nực cười nếu có một khóa học về lịch sử Congo, mặc dù dân số Congo đông gấp rưỡi Bỉ, chỉ vì họ là người da đen và không thuộc châu Âu. Thế giới này thật điên.”
“Chính thế!” Cato reo lên phấn khích. “Chính vì thế người da đen chúng tôi mới yêu cầu được học về lịch sử của người da đen. Có Chúa biết nó quan trọng đối với thế giới ngày nay hơn lịch sử Bỉ nhiều. Và đối với nước Mỹ nó còn quan trọng kinh khủng hơn nhiều.”
Gretchen có một ý tế nhị: “Em không nhất trí với anh, là chỉ người da đen mới được học về lịch sử người da đen, Cato ạ. Chính người da trắng chúng em cũng nên học... để chúng em có thể nhìn người da đen các anh và bản thân người da trắng chúng em theo quan điểm khác.”
Nhưng cô nàng Monica sắc sảo đã nhìn ra lỗ hổng trong lập luận này: “Các bạn có thể lý sự theo ý mình thế nào cũng được, và các bạn có thể mơ tưởng hão huyền về những gì có khả năng xảy ra, nhưng có một sự thật tàn nhẫn là lịch sử thế giới vẫn đang và có lẽ sẽ luôn luôn là lịch sử về những gì mà người da trắng đã thành tựu được. Lịch sử Bỉ ít nhất có ý nghĩa gấp năm mươi lần lịch sử Congo, chỉ nội chuyện Jan van Eyckd[109] đã sáng tạo ra nghệ thuật vẽ tranh sơn dầu và Maurice Maeterlinck[110] đã viết sách. Bao giờ ở Congo có người thực hiện được cái gì giống thế, thì cũng đáng cho chúng ta bỏ công bỏ sức ra nghiên cứu xem nền văn hóa của anh ta đã tạo điều kiện ra sao cho anh ta làm được vậy. Nhưng cho tới lúc ấy thì...”
Cato nổi giận hỏi vặn, “Thế các tác phẩm điêu khắc ở Benin thì sao?” và Monica, vốn đã phải nghe câu hỏi này cả trăm lần hồi còn ở Vwarda và London, gắt lên, “Thế những cái đầu khổng lồ trên đảo Phục Sinh thì sao? Chúng có làm nên lịch sử không? Một cơ may có tạo nên được cả nền văn hóa không? Anh đã thấy lịch sử văn hóa châu Phi rồi đấy... Khi phái đoàn đó đến thương lượng với Ngài Victor... rồi quay về nước và giết hại vợ ngài. Châu Phi là thế.”
Cato nói, “Tình cờ anh lại nghĩ là các nhóm bộ lạc giết hại một phụ nữ da trắng ở Vwarda không tốt hơn mà cũng chẳng xấu xa hơn các tín đồ Tin lành tàn sát người Thiên chúa giáo ở Ailen. Cả nước này lẫn nước kia đều chưa sẵn sàng để tự trị, nhưng chúng tôi bị kẹt giữa cả hai.”
Luôn cảm thấy không vui khi Cato và Monica tranh luận gay gắt, Gretchen tìm cách điều hòa những quan điểm của họ bằng cách hỏi, “Chuyện gì đã xảy ra với vua Afonso?” và Cato đáp, “Anh vẫn chưa đọc đến phần ấy,” thì Monica liền nói, “Cá một bảng ăn sáu penny là ông ta bán đứng thần dân của mình.” Sau này, khi Joe kể lại cho tôi nghe về cuộc tranh luận, tôi hỏi anh có tham gia không và anh nói, “Tôi ngồi đó nhâm nhi vại bia, lắng nghe và cố xác định xem mình nghĩ gì.” Tôi hỏi anh kết luận ra sao, anh nói, “Giống như nhiều việc khác, tôi hầu như rất bối rối.” Khi mang quyển sách quay lại hiên nhà ông Hajj’, Cato yên vị chú tâm theo mạch chuyện vua Afonso I, và trong khi đọc, một nỗi buồn mênh mang bao bọc lấy anh khi anh được biết triều đại Afonso đã kết thúc trong thảm kịch. Các nhà truyền giáo do Bồ Đào Nha cử tới giúp ông đã phát hiện ra rằng họ có thể làm giàu bằng cách gom nô lệ cho các con tàu châu Âu đang bắt đầu thả neo tại cửa sông Congo; nhóm nô lệ bị xích dã man đầu tiên bị đưa từ nội địa ra bãi biển lại do chính các giáo sĩ chăn dắt. Các thương nhân đáng lẽ phải hướng dẫn nhà vua thì lại trở thành hải tặc tiến hành chiến tranh chống lại ông. Các cố vấn da trắng có nhiệm vụ góp phần đưa Congo vào khối hòa hợp các dân tộc thì lại đánh hỏng tất cả những gì họ đụng đến và làm thất bại mọi cố gắng văn minh hóa lãnh địa của nhà vua. Tệ hại hơn cả, những người Bồ Đào Nha đã mang đạo Cơ Đốc đến và mở cửa giao thương cho vương quốc lại nhanh chóng nhận ra rằng họ chẳng có lợi lộc gì nếu để khu vực này được cai trị bởi một chính quyền trung ương vững chắc, vì vậy họ ra sức ủng hộ bất cứ cuộc nổi loạn nào và tự khơi dậy làn sóng đấu tranh khi phong trào chống đối của người bản xứ yếu đi. Mọi cố gắng nắm quyền lãnh đạo của vua Afonso đều không thành. Những kẻ man di nhăm nhe kiếm chút vàng bằng cách đem bán kẻ man di khác làm nô lệ đã nghe theo lời xúi giục mà tiến hành đảo chính, và cuối cùng, bị phản bội bởi chính Thiên Chúa mà ông đã chấp nhận, bởi những kẻ đại diện cho Thiên Chúa đó, bởi các gia sư Bồ Đào Nha, và bởi chính thần dân của mình, ông đã tháo chạy khỏi tổ quốc, không sao hiểu được sự sụp đổ đã nhấn chìm mình.
Cato gấp sách, và khi ông Hajj’ hỏi anh một câu, anh chỉ nhìn chằm chằm vị thánh nhân cao gầy ấy rồi bước ra ngoài trời đêm mát lạnh. Không để ý đến những khách bộ hành lướt qua mình trên đại lộ, anh lang thang về phía pháo đài đến bên quảng trường xinh đẹp nằm giữa biển và dinh thống đốc, ở đó anh nhìn thấy bức tượng quen thuộc tạc hình Vasco da Gama dõi mắt về Ấn Độ, với hàng chữ khắc mà Cato từ trước tới giờ vẫn không thích nhưng riêng lúc này lại khiến anh tức điên:
VASCO DA GAMA
1469-1524
Descobriador
de
Moçambique
end[111]
1496
“Y hệt cái bọn chó đẻ ngạo mạn ấy,” anh lẩm bẩm một mình, không nghĩ đến người Bồ Đào Nha mà là toàn bộ người da trắng. “Bọn chúng tình cờ gặp được hòn đảo này năm 1496 và tuyên bố với cả thế giới là đã phát hiện ra nó. Hòn đảo chết tiệt này đã được người Ả rập biết đến từ một nghìn năm trước và người da đen từ hai nghìn năm trước. Ấy vậy mà trước khi người da trắng đến đây, nó không tồn tại. Khi bọn chúng đặt bàn chân thần thánh của chúng lên bờ rồi thì nó mới trở thành một phần của thế giới quen thuộc. Quen thuộc với ai cơ chứ? Mẹ kiếp, nữ hoàng Sheba[112] đã biết hòn đảo này đấy. Thuở Bồ Đào Nha vẫn còn là cái chuồng lợn, tàu thuyền đã thường xuyên dong buồm từ đây tới Ả rập rồi.”
Anh trừng mắt nhìn nhà thám hiểm bằng kim loại và nhiếc ông ta, “Một tên sát nhân man rợ, ông ta chỉ là vậy thôi. Tất cả bọn chúng đều là vậy.” Và sau đó, trong lúc đứng tại địa điểm lịch sử này, nơi các tàu buôn đã được cột vào bờ biển hai nghìn năm nay, anh dường như nhìn thấy trong bóng tối đoàn nô lệ dài vô tận, dài về tận thuở xa xưa, câm lặng lê bước từ rừng rậm ra barracoon rồi lên tàu. Trong số những phụ nữ trần truồng đang trên đường đến các chợ nô lệ ở Lisbon hay Pernambuco hay Charleston ấy, rất có thể ai đó là cụ kị của anh. Trong số những người đàn ông đeo gông nặng trịch kia, người cha tâm linh của anh cũng đang bước, và mùi tử khí bốc khắp đường đi.
Anh lấy tay che mặt, như thể xấu hổ vì đã để cho các thuyền trưởng da trắng trên những con tàu chở nô lệ nhìn thấy mình thổn thức; nỗi thống khổ của anh thật sâu sắc. Nhưng rồi niềm kiêu hãnh trỗi dậy trong anh. Đánh mắt khỏi bờ biển và cảnh tượng kinh khủng ấy, anh quay mặt lại bức tượng kim loại và lớn giọng hét, “Mẹ kiếp, Vasco da Gama.”
—★—
Và rồi một hôm thư đã đến! Ở Lourenço Marques, ở Beira và cả trên đảo này, Gretchen thường xuyên đến chỗ hòm thư lưu - nhưng đều vô ích; cuối cùng, ngày hôm đó, lại có cả một lô thư từ do anh bạn ở lãnh sự quán chuyển hộ lên phương Bắc. Có một lá của mẹ cô và một lá của anh bạn trai cũ, cả hai cô đều nhét ngay vào túi xách. Cô vui mừng nhận thấy Yigal đã viết cho Cato, từ Detroit, và ông Holt viết cho Joe, từ Lausanne, và cô háo hức muốn biết tình hình các bạn đến nỗi phải kiềm chế lắm mới không bóc toạc phong bì ra. Nhưng điều làm cô thích thú nhất là một lá thư gửi cho cô, cũng từ Lausanne, với kiểu chữ châu Âu viết tay nắn nót của Britta.
Vội vã quay về Bar Africa, cô gọi một cốc rượu vang trắng và bóc lá thư quý hóa đó. Rồi, cẩn thận mở mấy tờ giấy ra, cô trải chúng trước mặt và bắt đầu đọc.
Khách sạn Splendide
Lausanne, Thụy Sĩ
Ngày 2 tháng Chín năm 1969
Gretchen yêu dấu,
Không ngày nào Harvey và tớ không hỏi nhau, ‘Các bạn trẻ đang làm gì ở Moçambique nhỉ?’ Tớ đã đọc ba quyển sách về vùng đó và có lẽ hiểu về nó còn rõ hơn cậu đấy vì anh Harvey bổ sung kha khá thông tin bất ngờ cho những gì tớ đọc. Cậu có biết rằng Lourenço Marques suýt nữa đã khơi mào cho một cuộc chiến giữa Pháp, Đức, Anh và Bồ Đào Nha không, mà cũng mới đây thôi đấy?
Tớ đến được đây bằng cách nào nhỉ? Này nhé, đêm đó sau khi các cậu rời khỏi Pamplona để xuống tàu ở Barcelona, tớ quay lại quân y viện, bảo gác cổng rằng tớ là bà Harvey Holt vừa từ Madrid tới, xông vào phòng và tuyên bố với anh Harvey là tớ sẽ đi Ceylon cùng anh ấy, dù anh ấy có cưới tớ hay không cũng mặc. Cả anh ấy lẫn ông Fairbanks đều muốn tớ rời Pamplona, nhưng tớ thấy rõ điều gì có lợi cho Harvey nên tớ không chịu rời.
Chúng tớ đi xe tới Madrid... anh Harvey bình phục nhanh đến mức cậu không tin nổi đâu. Các bác sĩ bảo chắc anh ấy được nuôi bằng sữa hổ. Bụng anh ấy có một chỗ lõm sâu, nhưng bác sĩ bảo nó sẽ đầy lên khi các cơ bắp phát triển ổn định, và trước khi chúng tớ rời Pamplona, đã xảy ra một chuyện hay kinh khủng mà tớ nghĩ các bạn, đặc biệt là anh Cato, cần phải biết. Cậu thanh niên Pháp đã túm chặt anh Harvey từ phía sau đến mức gây ra tai nạn có đến bệnh viện xin lỗi và tỏ ý muốn thanh toán toàn bộ viện phí vì cậu ta nghe nói anh Harvey là người nghèo, quanh năm làm việc tại mỏ dầu, chỉ tiết kiệm được vừa đủ để mỗi mùa hè lại đến Pamplona chạy với đàn bò. Tớ ứa nước mắt và ông Fairbanks hắng giọng định nói thì anh Harvey ôm lấy cậu thanh niên, như người ta thường làm trong các bộ phim Pháp, và sau đó cậu có tưởng tượng được đã xảy ra chuyện gì không? Anh chàng ấy - ý tớ là cậu người Pháp - chìa ra một tấm ảnh lớn chụp cảnh cậu ta đang túm chặt Harvey còn con bò thì đang húc anh ấy, và cậu có tin được không, cậu ta muốn anh Harvey ký vào ảnh, rồi khi anh Harvey ký xong, cậu ta lại chìa ra một tấm ảnh khác cậu ta đã ký sẵn và tặng cho anh Harvey làm quà! Khi từ biệt, anh bạn ấy nói, ‘Tôi sẽ gặp lại anh vào ngày Bastille sang năm,’ và anh Harvey đáp, ‘Thế thì may mắn cho tôi lắm đấy.’
Tớ nghĩ cậu rất nóng ruột muốn biết những tin quan trọng. Anh Harvey không chịu cưới tớ nhưng tớ sẽ đi Ceylon với anh ấy... tớ cứ khăng khăng đòi đi và tớ biết anh ấy cũng thích ý định đó vì tớ giúp anh ấy khá nhiều. Tớ phần nào không được vui lắm vì anh ấy không muốn cưới, nhưng tớ không thất vọng đâu. Nói riêng với cậu nhé, tớ nghĩ dần dần anh ấy sẽ quen với ý tưởng đó, và nếu cái dần dần ấy không kéo dài cho đến khi da tớ nhăn nheo, tớ có cảm giác mọi việc sẽ được giải quyết êm đẹp. Thế nhưng, hiện tại thì không con cái gì cả. Mỗi lần chúng tớ cãi nhau, cũng không thường xuyên lắm, anh ấy lại nói, ‘Mẹ kiếp đời, anh sẽ mua cho em một cái quán ở Torremolinos,’ như thể đó là thứ to tát nhất mà một cô gái muốn. Vì vậy có thể vài năm nữa, khi cậu và anh Clive trở lại Torremolinos, tớ sẽ có mặt ở đó. Anh ấy tiếp thu được ý tưởng ấy ở Nhật Bản, ở đó nếu một người đàn ông sống chung với một người đàn bà trong nhiều năm, sau khi họ chấm dứt quan hệ, người đàn ông bắt buộc phải tậu một quán bar cho người đàn bà. Tớ nói với anh ấy rằng nếu đó là số phận của tớ, điều tối thiểu anh ấy có thể làm là cho tớ một quyển sách dạy cách pha đồ uống, thế là đêm hôm nọ anh ấy mang về nhà một quyển bọc giấy bạc.
Làm sao cuối cùng chúng tớ lại đến Lausanne ư? Khi chúng tớ tới Madrid, ông Fairbanks tốt bụng đã thuyết phục anh Harvey phải tìm cách hồi phục sức khỏe. Ngoài ra, toàn bộ tiền tiết kiệm của anh ấy đã được đầu tư vào World Mutual ở Geneva này và anh ấy phải thấy trụ sở chính. Tớ thì cho là thực ra ông Fairbanks rất quý anh Harvey và muốn động viên anh ấy cưới tớ. Vì vậy chúng tớ tới Geneva, rất nhộn nhịp, và xuống thẳng đây, nơi vô cùng thú vị - hồ Leman tớ thường được đọc hỏi còn đi học, và một viện bảo tàng nghệ thuật tuyệt vời, cả núi non cách đó không xa lắm. Tối hôm nọ tớ vui quá đến mức thốt lên, ‘Đây giống y như tuần trăng mật ấy,’ và anh Harvey nói, ‘Đây đúng là tuần trăng mật của em mà,’ vì vậy tớ đoán là êm rồi.
Tất nhiên, anh Harvey lo là anh còn phải quay về làm việc nữa, nhưng ông Fairbanks đã bảo, ‘Anh được quyền nghỉ ốm, thế thì cứ nghỉ đi,’ nhưng anh Harvey lại ngại là có thể UniCom sẽ cho rằng anh ấy chỉ giả vờ ốm, vì vậy ông Fairbanks mời bác sĩ của công ty ông đến khám cho anh Harvey để ông ấy có thể viết thư chứng nhận là anh Harvey bị thương thật, và khi nhìn thấy vết sẹo đầu tiên to tướng trên ngực, cộng với vết mới nhất ở bụng, vết sâu hoắm ở mông và hai vết thương do dính đạn súng cối từ thời ở Okinawa hồi anh Harvey được nhận huy chương, ông bác sĩ phát biểu, ‘Trời ơi, tốt hơn hết ông này đừng bao giờ quay lại làm việc nữa,’ và từ lúc đó cho đến hết ngày họ ngồi chén chú chén anh, nói chuyện về chiến tranh, bò tót và những nơi xa xôi hẻo lánh.
Gretchen, tớ muốn cậu làm một việc rất quan trọng. Anh Harvey đang định viết thư cho anh Joe. Lúc nào anh ấy cũng băn khoăn về anh Joe. Có hôm anh ấy nhắc đến anh Joe bốn năm lần, như thể anh Joe là con trai anh ấy vậy. Có những chuyện anh Joe nói ở Pamplona đã làm anh Harvey lo lắng vô cùng và anh ấy cho rằng khi chuyện trò, có lẽ anh ấy đã diễn đạt ý kiến của mình không được rõ lắm, vì vậy anh ấy định viết thư, hy vọng trao đổi rõ ràng hơn. Anh ấy sợ anh Joe sẽ không coi trọng lá thư. Anh Joe sẽ nghe lời cậu. Thực ra, tớ nghĩ anh ấy yêu cậu đấy, theo cái cách kín đáo của riêng anh ấy, vì vậy cậu hãy tác động để anh Joe nghiêm túc đọc bức thư ấy nhé. Việc này sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với anh Harvey.
Chuyển hộ tớ tình cảm chân thành tới Monica nhé. Cậu ấy là một cô gái cần rất nhiều tình cảm, Gretchen ạ, và ý tớ không phải tình yêu của cánh đàn ông đâu. Cậu hãy gần gũi Monica. Tớ nhớ cậu ấy da diết, như thể cậu ấy là em gái tớ, mặc dù tớ không lớn tuổi hơn cậu ấy là bao. Và hôn anh Cato dễ thương hộ tớ nữa. Tớ thích nghe anh ấy tranh luận về những điều mà anh ấy chẳng hiểu gì. Anh ấy vô cùng hài hước, nhưng tớ thường băn khoăn không biết sẽ có chuyện gì nếu Monica cắt đứt quan hệ.
Còn với cậu, như người Tây Ban Nha thường nói, un abrazo grande[113]. Tớ sẽ làm trang thư này nhòe nhoẹt nước mắt mất nếu tớ nói tớ mang ơn cậu thế nào, không chỉ vì lòng tốt - bất cứ ai cũng có thể tốt với người khác - mà còn vì chuyện tiền bạc nữa. Nếu không có số tiền ấy, tớ sẽ chẳng bao giờ gặp được anh Harvey, chẳng bao giờ đến được Ceylon và cuộc đời tớ sẽ chỉ vô vọng và vô nghĩa. Chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu đó và tớ sẽ cố gắng bày tỏ với cậu, nhưng tớ tin chắc cậu hiểu rõ.
Thân yêu,
Britta
Tái bút: Sống với anh Holt tức là sống với âm nhạc, nhưng máy ghi âm của anh ấy phức tạp đến nỗi anh ấy không cho tớ đụng vào. Tớ đã thuyết phục được anh ấy kiếm cho tớ một cái máy mà tớ có thể sử dụng được. Nó tốn 50 đô và tớ đã bảo với anh ấy nghe nó còn hay hơn cả máy của anh ấy.
Gretchen uống nốt cốc rượu, gấp thư lại, và mỉm cười khi hình dung ra cảnh ông Holt khắc khổ cố làm ra vẻ thờ ơ với Britta trong khi cô dệt quanh ông một tấm lưới tình yêu càng ngày càng chằng chịt. Nâng cái cốc không lên, cô chúc thành tiếng, “Vì Britta,” rồi đi dưới bóng cây thơm ngát quay về chiếc pop-top phân phát thư và nói với các bạn khi nào xem xong thư của mình họ có thể đọc thư của Britta gửi cho cô. Bức thư gửi cho Joe như sau:
Khách sạn Splendide
Lausanne, Thụy Sĩ
Ngày 3 tháng Chín năm 1969
Joe thân mến,
Đêm hôm đó ở Pamplona, chúng ta bàn về quân dịch, tôi đã diễn đạt chưa được rõ lắm. Điều tôi muốn nói là một thanh niên hai mươi mốt tuổi, hay bao nhiêu đấy tùy độ tuổi của anh, là thứ vô cùng đáng quý, và một người như tôi càng lớn tuổi càng hiểu rõ điều này. Hầu như tất cả mọi việc tốt đẹp trên thế giới từ nay trở đi sẽ được những người trẻ tuổi như anh thực hiện, và mất đi dù chỉ một người cũng sẽ là bi kịch.
Tôi không muốn thế giới này mất anh, Joe ạ. Nếu tôi có mặt ở một nơi nào quanh đó khi anh quyết định dùng Casino Nhỏ hoặc Casino Lớn[114], tôi sẽ làm hết khả năng để ngăn cản anh. Tôi thà để anh bị bắt, bị đánh nhừ tử hay bị tống vào nhà giam chứ sẽ không cho phép anh phạm phải một sai lầm sẽ khiến anh cả đời bị thương tổn... và tôi không có ý nói đến thương tổn theo quan điểm của tôi, vốn vẫn bị anh đả kích, mà theo quan điểm của chính anh, được anh coi trọng. Tôi nghĩ mình biết Casino Lớn là gì, và nếu anh lấy nó để tự bôi nhọ thanh danh của mình thì trong quãng đời sau này của anh, người hắt hủi anh sẽ không chỉ có mình tôi mà còn cả người thân của anh nữa vì họ sẽ không dám mạo hiểm phá hoại bất có điều tốt đẹp nào mà họ đang có đâu.
Joe ạ, tôi sẽ ở Lausanne trong vài tuần và sau đó tôi sẽ nhận công tác ở Ratmalana, ở đó lúc nào cũng có chỗ cho anh. Ở đó lúc nào cũng có người tiếp chuyện anh, ngay cả khi người đó là một gã lính thủy đánh bộ chết tiệt khác nữa, như có lần anh đã nói.
Điều tôi phải nói tiếp theo đây thật không dễ chút nào, chắc anh cũng đoán được. Nếu đến phút cuối anh cần một nơi để trốn lệnh nhập ngũ, anh có thể đến Ratmalana. Tôi vẫn nghĩ anh trốn quân dịch là sai lầm nghiêm trọng, nhưng bây giờ tôi sẵn lòng thừa nhận rằng quan điểm của anh có thể là thật lòng. Nhưng ý định chối bỏ cuộc đời của anh thì tôi không bao giờ hiểu được. Xin hãy suy nghĩ kỹ về chuyện này trước khi làm điều gì đó có thể khiến anh hối tiếc suốt phần đời còn lại.
Nếu cần tiền, anh cứ cho tôi biết. Tình cờ Britta cũng đang ở thành phố này và gửi anh tình cảm mến thương.
Bạn anh,
Harvey Holt
Thư Yigal gửi cho Cato đã theo đường bưu điện đến quán Alamo ở Torremolinos và được chuyển tiếp từ đó. Nội dung như sau:
Nhà ông ngoại tớ,
1188 Esplanade
Grosse Pointe, Michigan
Ngày 12 tháng Tám năm 1969
Cato và mọi người,
Khi ông kéo tớ khỏi Pamplona, tớ tức điên đến nỗi có thể siết cổ ông, nhưng bây giờ hai ông cháu đã về đến nhà rồi thì ông Holt cùng thể loại nhạc khủng khiếp của ông ấy và những giờ phút say sưa ở Bar Vasca lại dường như rất xa xôi. Tớ bắt đầu nhận thức được một điều mà ông Fairbanks đã nói khi tranh luận với tớ trong ngày cuối cùng đáng buồn ấy. Ông ấy nói rằng lúc này nước Mỹ như thanh nam châm của thế giới mà ta phải vận hết ý chí của mình để cưỡng lại. Ông ấy nói đúng. Đây là nơi việc này diễn ra và tớ cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tớ là cố mà hiểu nó, vì một khi chưa làm được điều đó thì tớ sẽ vẫn chưa có khả năng đánh giá đúng nước Anh và Israel, mà như tớ đã nói với cậu cái đêm ở Alte, một ngày nào đó tớ sẽ phải quyết định.
Thực ra, tớ cho rằng mỗi ngày tớ lại càng có thiện cảm với nó hơn. Giờ thì tớ thấy đây là một đất nước hay ra trò, và tớ kính trọng nó. Cậu sẽ thấy hứng thú với thứ đã làm tớ do dự cho mà xem. Truyền hình. Tớ không muốn nói đến các chương trình, cái đấy thì tớ xem cũng được mà bỏ cũng chẳng sao, mà là phần quảng cáo kia. Bất chấp chuyện gì đang xảy ra trên thế giới, thậm chí cả việc đổ bộ lên mặt trăng, mà đáng chú ý đấy chứ, cứ tin tớ đi, quảng cáo vẫn tràn lan và cho thấy tất cả những người đàn ông thất học và những người đàn bà ngớ ngẩn thảy đều phấn khích trước những khía cạnh tầm thường nhất của đời sống, và ta bắt đầu thành thật băn khoăn không biết liệu đó có phải là nước Mỹ đích thực hay không.
Cậu không thể tưởng tượng được ông tớ đâu. Ông là một lão già tuyệt vời và tớ hy vọng đến năm năm mươi tuổi tớ cũng có được sức sống như ông ở tuổi bảy mươi. Ông thường phấn khích quá mức trước những gì hãng General Motors đã làm được trong năm kinh doanh vừa qua, mà ông không còn làm việc trong công ty nữa đâu nhé. Cậu sẽ tưởng ông là giám đốc, tướng hoặc một nhân vật cao cấp nào đó và lượng tiêu thụ của GM lớn hơn của hãng Ford hay Chrysler là một thắng lợi ấn tượng hơn cả trận Waterloo và Zama cộng lại. Nhưng vẫn chưa hết. Điều làm ông phấn chấn thực sự là trong tập đoàn GM, chính hãng Pontiac được coi là đạt thành công lớn. Ông gọi điện cho các đồng nghiệp ở Pontiac mà nói, ‘Thề có Chúa, Harry, anh làm việc còn hiệu quả hơn cả chúng ta ngày xưa đấy. Khi chọn anh từ Bộ phận Thay thế tôi đã biết là anh có khả năng mà.’
Tháng trước tớ đã đến Case nhập học, và qua những gì tớ được nghe, trường này chắc hẳn chán lắm. Dường như họ dạy kiến thức khoa học bọn tớ đã được học ở Israel từ sáu năm trước, vậy nên cậu nghĩ xem công nghệ cao mà nước Mỹ thường khoe khoang ấy từ đâu mà ra. Đừng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó nhìn thấy tớ trên bậc cửa nhà cậu nhé. Tớ chẳng thích thú gì Detroit và tớ không biết Cleveland có khá khẩm hơn không.
Tớ không mấy ấn tượng với người da đen ở Detroit, và nếu các anh chàng của cậu mà không cố gắng, họ sẽ mãi mãi thua thiệt thôi. Tớ đã đi đến kết luận là họ cần độ một tá người như cậu, và sớm hay muộn cậu cũng phải quay về đây khuấy động tình hình lên vì cậu có những ý tưởng mang tính xây dựng. Hiện giờ ý tưởng chủ đạo trong cộng đồng người da đen là loại bỏ người Do Thái, một ý tưởng có vẻ quá điên rồ không đáng để quan tâm, ấy vậy nhưng mấy người lớn tuổi vẫn cứ nói là chỉ cần họ loại bỏ được người Do Thái, mọi việc sẽ đâu ra đấy ngay. Tớ muốn trao đổi kỹ càng hơn với cậu về vấn đề này, vì tớ không thể tin nổi người da đen vẫn nuốt trôi đơn thuốc Goebbelsd[115] đã bị vạch trần từ đời nảo đời nào.
Ngay bây giờ thì tin đáng chú ý nhất là về một phim Thụy Điển tên là I Am Curious (Yellow). Tớ chưa xem, nhưng theo bạn bè kể thì nội dung là về một cô nàng Thụy Điển hấp dẫn mê hồn phát cuồng vì tình dục, và thỉnh thoảng tớ có nói với họ tớ có quen một cô nàng Na Uy hấp dẫn mê hồn. Cho tớ gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến cô ấy và nhắc cô ấy coi chừng mấy anh chàng lính Mỹ ở quán đấy.
Bạn thân của cậu,
Yigal
Tái bút: Chúa ơi, tớ phát ốm vì phải làm Bruce rồi!
—★—
Nhờ tình yêu âm nhạc, chuyện thú vị nhất đã đến với họ trong thời gian họ thăm Moçambique, như hoàn cảnh thường thấy với thế hệ trẻ ngày nay.
Kỳ khai giảng ở Mỹ bắt đầu rồi kết thúc chẳng gây chút lo lắng nào nơi những kẻ trôi dạt kia. Mùa thu, mùa phải ổn định công ăn việc làm ở Anh và Hoa Kỳ, sắp đến trên những đất nước này, nhưng nhóm bạn đang ở Moçambique, nơi mùa xuân vừa mới bắt đầu, và họ thầm trông chờ một mùa hè vô tận. Không ai phải lo lắng chuyện tiền nong chừng nào cha Monica vẫn tiếp tục chu cấp cho cô, khoản thừa kế của Gretchen vẫn đến đúng kỳ và ông Wister vẫn gửi séc đều đặn cho Cato. Đây là một thời cơ để đi thăm thú, và họ định tận hưởng thời cơ ấy.
Và Ilha de Moçambique[116] vượt quá mong đợi của họ. Đó là xứ sở làm người ta quên sầu muộn, một vùng đất lịch sử nơi ngày tháng trôi dạt dưới mặt trời không gợn mây, bên một biển cả không sóng to gió lớn. Chuyện cắm trại ngày càng thú vị, vì những vị khách tạt vào chuyện trò, hay biếu hoa quả, dường như là sự gợi nhắc đến tất cả những người dân từng sống trên hòn đảo may mắn này từ thuở đầu lịch sử - không phải thứ lịch sử bị cắt xén của Vasco da Gama, vốn chỉ khởi đầu ở thời điểm hòn đảo đã hai nghìn năm tuổi, mà là lịch sử đích thực ngược về thời thổ dân.
Đối với Cato, đoàn diễu hành hàng ngày này đặt ra một thế tiến thoái lưỡng nan, vì trong số những người da đen đến nhìn chăm chăm vào chiếc pop-top và tò mò không hiểu bốn người trưởng thành ngủ trong đó như thế nào và việc thu xếp chỗ ra sao, có một nhóm đàn bà da đen đặc biệt. Họ là những phụ nữ da đen to lớn, cân đối, kiểu người châu Phi đích thực, không trộn lẫn dòng máu da trắng như nhiều trường hợp ở Mỹ. Cato đã có lần tính toán rằng anh có ít nhất ba phần tám là da trắng, và ở Philadelphia anh hầu như không biết người da đen thuần chủng nào, nhưng ở đảo Moçambique anh lại được gặp người châu Phi chưa bị nhiễm độc. Chưa bị, đúng vậy, trừ một việc! Trong hành trình bất tận săn đuổi sắc đẹp của giới nữ, những người da đen duyên dáng đó thường đắp lên mặt lớp bột làm bằng rễ nhai nhuyễn của một loại cây rậm lá mà khi khô sẽ biến thành chiếc mặt nạ trắng. Trong khắp cộng đồng, anh sẽ phát hiện ra những người đàn bà da đen thân hình hấp dẫn có thái độ đĩnh đạc khác thường, mặc quần áo bằng vải màu vàng nhạt và vàng óng rất đẹp, nhưng khi họ quay lại, mặt họ sẽ là một màu trắng nhợt nhạt ghê sợ.
“Họ không ngốc đâu,” Monica trêu chọc, “Họ hiểu rằng để được xinh đẹp thực sự, người ta phải trắng.” Có vẻ đúng thế thật. Một hôm, mong muốn thoát khỏi những lời khiêu khích của Monica, anh rời chiếc pop-top để đi tìm ông Hajj’ và nhờ người Ả rập cao lớn đó làm phiên dịch trong khi hỏi han một nhóm phụ nữ da đen. Tại sao họ lại xoa bột lên mặt?... Để được xinh đẹp. Tại sao họ lại dùng màu trắng?... Vì nó đẹp. Một người đàn bà da đen có thể xinh đẹp nếu không dùng bột không?...
Người đàn bà đó có thể hấp dẫn, nhưng để được xinh đẹp thì phải bỏ công bỏ sức. Họ có nghĩ rằng người đàn bà da đen đang đi trên phố kia là người xinh đẹp không?... Bà ta hấp dẫn thật đấy nhưng không bôi trắng mặt thì thật đáng xấu hổ. Anh thử đi thử lại hòng tìm hiểu xem tại sao họ lại chọn màu trắng cho cách hóa trang ma quái ấy, và điều rõ ràng nhất họ có thể nói cho anh là bộ lạc của họ luôn quan niệm màu trắng sẽ mang lại vẻ đẹp cho người phụ nữ, và khi họ nói thế, Cato chỉ một người đàn bà Bồ Đào Nha vừa béo vừa lùn có nước da xấu. Họ có cho là bà ấy xinh đẹp không?... Không giống chúng tôi, nhưng bà ấy là người da trắng.
“Mình không cho rằng châu Phi sẽ tiến lên được,” anh làu bàu một mình khi ông Hajj’ và đám đàn bà đã bỏ đi. “Trừ phi đạo Hồi cứu giúp chủng tộc da đen.” Anh vẫn cảm thấy châu Phi sẽ tìm được lối thoát trong đạo Hồi, nhưng một lần nữa đánh giá này bị lung lay đến tận gốc khi Gretchen, theo cách thức thẳng thắn quen thuộc tự mình tìm kiếm bằng chứng, chỉ ra rằng các tín đồ Hồi giáo ở Moçambique vẫn duy trì hai nghĩa trang, một khu trên đảo dành cho người da trắng, một khu dành cho người da đen khuất nẻo trong đất liền.
Trong số các công dân Ilha de Moçambique đang dần hình thành thói quen ghé vào pop-top để quan sát và thỉnh thoảng nói chuyện với nhóm khách nước ngoài trẻ tuổi, có ông thương gia Bồ Đào Nha béo tốt mặc đồ trắng đã đón tiếp họ đêm đầu tiên và giới thiệu họ với ông Hajj’. Một buổi chiều, trong lúc nói chuyện phiếm, ông phát hiện ra họ đã đến Silves, và ông vui vẻ reo, “Tôi từ Portimão đến đây!” vậy là họ bèn dành chút thời gian chỉ để nhắc đến tên mấy địa điểm mà họ nhớ rất rõ ở Algarve: Albufeira, Lagos, Faro và, với phần nào tôn kính, Alte; rồi Gretchen, trong nỗi thương nhớ ngôi làng trên núi có quảng trường được bức tượng nhà thơ bằng đá đứng canh, liền mang cây đàn guitar ra. Vậy là quảng trường chẳng mấy chốc đã đông nghịt những phụ nữ da đen với khuôn mặt trắng sáng mờ mờ trong ánh chiều tà.
Gretchen hát trong gần một giờ đồng hồ trước một đám thính giả biết trân trọng từng nốt nhạc mà cô trao tặng, và khi cô đặt cây đàn xuống, ông thương gia Bồ Đào Nha phát biểu bằng thứ thổ ngữ kinh khủng, “Thật dễ chịu biết bao được thưởng thức âm nhạc vào lúc cuối ngày,” và ông nhất định mời họ đi cùng đến Bar Africa để uống nước, và giữa cuộc tán gẫu, ông nói, “Tất nhiên các bạn có kế hoạch đi thăm khu bảo tồn cấm săn bắn tuyệt vời của chúng tôi ở Zambela rồi.” Khi các bạn trẻ đáp là họ chưa nghĩ đến chuyện đó, ông liền gọi một người biết tiếng Anh đến và cả hai cùng nhau giới thiệu về nơi nương náu lạ thường của thú rừng nằm cách đó ba ngày đường về phía Tây.
“Các bạn nhất định phải đi thăm nơi ấy,” hai người Bồ Đào Nha đều nhất trí, rồi ông béo nói thêm, “Chúng tôi biết các bạn đã nghe nói đến Kruger Park ở Nam Phi và Serengeti ở Tanzania rồi, nhưng Zambela rất đặc biệt vì các bạn sẽ được thấy một khu tập trung động vật hoang dã không thể tin nổi. Ý tôi không phải là các bạn sẽ nhìn thấy một vài con trâu Nam Phi đâu. Ý tôi là các bạn sẽ được thấy năm nghìn con, có khi cùng một lúc. Các bạn có thể tưởng tượng được năm trăm con hà mã chen chúc trên một hòn đảo nhỏ không?”
Hai người đàn ông thuyết phục giỏi đến mức tối đó các du khách đã quyết định sẽ đi đường vòng tới Zambela, vậy là hôm sau họ miễn cưỡng chất đồ lên chiếc pop-top và từ biệt nhóm người tốt bụng nhất mà họ tình cờ gặp được trong các chuyến đi. Khi biết tin nhóm cắm trại sắp rời đảo, cánh phụ nữ da đen mặt trắng không kìm được nước mắt, nhiều người còn tới hôn tạm biệt Gretchen và Monica. Ông thương gia béo mặc quần áo trắng tuyên bố, “Zambela sẽ là món quà tôi tặng các bạn để đền đáp những bản nhạc các bạn chơi.” Khi ông già Hajj’ đến chúc phúc cho họ lần cuối, như thể họ là những người hành hương sắp lên đường đi Mecca, cả nhóm đều cảm thấy buồn vì hiển nhiên họ sẽ không còn gặp lại ông nữa. Ông già kéo Cato sang một bên định cho anh vài chỉ dạy trong phút chót về đạo Hồi, nhưng những người khác nôn nóng lên đường quá nên ông đành đặt tay lên vai Cato mà nói, “Hãy nhớ, lời giải đáp cho mọi vấn đề của con đều trong tầm tay con,” và ông đọc một lời cầu nguyện bằng tiếng Ả rập.
—★—
Khu bảo tồn bao la, không rào chắn mà chiếc pop-top hướng đến nằm dọc biên giới phía Tây Moçambique bên bờ hồ Nyasa, và con đường lúc này họ lựa chọn không đưa họ men theo những bãi biển uốn lượn, mà vào trong đất liền xuyên qua một vùng bụi rậm, để rồi suốt mấy ngày liền họ chỉ gặp các kraal bụi bặm và người da đen thuộc thời kỳ đồ đá. Đối với những con người hầu như man rợ ấy, không có Bồ Đào Nha, không có Liên Hiệp Quốc, thậm chí cả châu Phi cũng không.
Buổi tối ngày thứ ba, trong lúc Joe đang lái xe, họ đến hai cây cột gỗ đánh dấu lối vào Zambela, và vừa tiến vào địa phận khu bảo tồn động vật, họ đã có cảm giác như vừa đổi thế giới thực tại lấy một giấc mơ. Bên lề đường có tấm bảng sơn chữ: Coi chừng đàn voi, và giữa đường lù lù một dấu hiệu còn thực tế hơn nữa: một cục phân màu nâu đen to đùng do một con voi mới vãi xuống vài phút trước, và họ có thể nghe thấy tiếng bước chân nặng trịch của nó cách đó không xa lắm.
Tại khu cắm trại nằm bên trong cách cổng mười dặm, họ thấy cảnh tượng khiến họ reo lên thích thú: một đám nhà tròn dựng rất khéo nằm giữa vô vàn hoa; và họ còn chưa kịp hoàn tất thủ tục nhận hai căn được phân - một cho nam, một cho nữ, cách sắp xếp vốn chỉ được tuân thủ trên giấy tờ chính thức - thì một người đàn ông đẹp rắn chắc, gầy gầy, tầm trên sáu mươi tuổi mặc đồ kaki đã đến gõ cửa và nói, “Tôi nghe nói con gái Ngài Charles Braham đang ở đây.” Khi Monica đi ra, ông liền tự giới thiệu, “John Gridley, Salisbury. Tôi từng làm việc với Ngài Charles ở Vwarda, hiện được chính phủ Rhodesia cử đến đây công tác.” Ông am hiểu cặn kẽ từng bạn trẻ, cho dù màu da đen của Cato và bộ râu bù xù của Joe chắc hẳn cũng làm ông bối rối.
Ông nói, “Chính quyền Lourenço Marques báo cho chúng tôi biết cô đang tới đây và yêu cầu chúng tôi tìm cô. Họ cũng chuyển tiếp thư này cho anh,” ông trao cho Joe một phong bì chính thức của lãnh sự quán Mỹ tại thủ đô.
“Lệnh gọi nhập ngũ lần cuối đây mà,” Joe nói, đón lấy chiếc phong bì như thể đó là một quả bom hẹn giờ, mà cũng đúng thế thật.
“Vậy là anh sẽ nhập ngũ sau chuyến du lịch này?”
“Không đâu, thưa ông. Tôi sẽ bỏ trốn.”
Lời thú nhận của anh gây ra một phút im lặng khó xử sau đó được Monica phá tan bằng câu hỏi, “Chẳng lẽ ông không thể gửi trả bức thư và làm cho họ tin là nó vẫn chưa được chuyển đến tay người nhận sao?” Cô nói câu đó ngọt ngào đến nỗi người gác rừng tưởng cô đùa, và phút gượng gạo qua đi.
Ông Gridley thuộc mẫu người có năng lực mà người ta hy vọng có cơ hội tiếp kiến nhưng lại chẳng mấy khi gặp được trên đường du lịch. Ông đã làm việc tại tất cả các khu bảo tồn ở Rhodesia và hiểu biết về các loài thú lớn sâu rộng hơn hầu hết nhân viên hiện thời, vì ông đã học hỏi từ các thợ săn lão luyện từng đi xuyên rừng già hồi cuối thế kỷ trước, ngoài ra ông còn có khả năng bẩm sinh phán đoán được phản ứng của thú vật gần như trong mọi tình huống. Ông thích chỉ bảo cho những người trẻ tuổi và biết đánh giá đúng sự may mắn của mình vì được làm việc ở châu Phi.
Ông nói chuyện hấp dẫn mà trang nghiêm, nhờ nền giáo dục Anh, nhưng mặc dù tên họ và cách cư xử của ông đều đậm chất Anh, và mặc dù với tư cách một người ủng hộ nước Anh ông thấy những ý kiến cực đoan của tiến sĩ Vorlanger ở Nam Phi nghe khá nực cười, ông vẫn là một người ủng hộ kiên định cho chính phủ Rhodesia hiện thời.
“Bảy giờ sáng mai cổng sẽ mở vào khu trong, tôi sẽ điều một chiếc xe chuyên dụng để chỉ cho các bạn xem những gì chúng tôi vẫn giấu ngoài đó. Còn hôm nay, bà Gridley sẽ rất hân hạnh nếu các bạn tới chơi nhà chúng tôi sau bữa tối.”
Một trận tắm bằng nước ấm và quần áo sạch sẽ đã biến nhóm khách du lịch trở lại thành các sinh vật xã hội, và sau một bữa ngon lành ở nhà ăn, với món đặc biệt là trái cây tươi, họ thong thả dạo bước qua khu đất được trông nom cẩn thận tới một khu nhà nhỏ dành cho nhân viên. Bà Gridley đang chờ họ, một phụ nữ Scotland tóc muối tiêu hơn năm mươi tuổi, nổi tiếng khắp châu Phi về thói quen mang tất cả những con thú mới sinh đau ốm hoặc bị bỏ rơi về khu vườn có hàng rào của mình, vậy nên cho dù chồng bà làm việc ở khu bảo tồn nào, chỉ nhìn qua cửa sau nhà bà là người ta có thể thấy một con trâu Nam Phi nhỏ, một con voi con, vài con ngựa vằn, và cả một con hà mã nhỏ đang dầm mình trong cái ao do bà cai quản. Bà không thấy khó chịu khi tiếp đãi Cato, nhưng hai cô gái mới khiến bà thích thú hơn cả. “Các cô có cần gì không?” bà ân cần hỏi họ. “Tôi có đủ loại thuốc và tất tật những thứ cần thiết trong cuộc sống kiểu này.” Bà chợt chú ý đến khối mủ nhỏ trên tay trái Monica, liền nói, “Tôi có món đặc trị cho thứ này. Cô không nên để mặc nó, cô biết đấy, nhất là với khí hậu này.” và khi bôi thuốc, bà nhận thấy một mảng vết thâm nổi rõ trên làn da trắng của Monica nhưng không bình luận gì, hiểu ngay thứ gì đã gây ra những vết ấy.
Sau này Joe kể lại với tôi, “Lúc đó tôi quan sát nét mặt bà ấy, để xem bà sẽ làm gì khi thấy những nốt kim tiêm, và bà cũng biết tôi đang nhìn. Ông nghĩ bà ấy đã làm gì? Sau khi tin chắc chỗ đau của Monica là một vết loét do tiêm chích heroin, bà săm soi cánh tay tôi, và tôi duỗi tay thoải mái để bà có thể thấy rõ, rồi sau đó bà lại nhìn sang tay Gretchen và Cato. Chỉ đến lúc đó bà mới rót trà.”
Ông bà Gridley là một cặp vợ chồng kỳ lạ, những người dân Rhodesia hết mực trung thành với chính phủ nhưng vẫn sẵn lòng bàn luận về các chính sách của nó với bất cứ ai, thậm chí là một người Mỹ da đen, và với người này, họ nói, “Chúng tôi tin người da trắng có thể trụ lại một cách khá yên ổn ít nhất ba mươi năm nữa. Chúng tôi có toàn bộ đạn dược, toàn bộ quyền lực. Rất có thể có sức ép từ phía Bắc dồn xuống, nhưng chúng tôi nghĩ có thể kiểm soát được chúng. Dĩ nhiên, sau ba mươi năm này, nhiều biến đổi có thể sẽ diễn ra trên hầu khắp toàn thế giới. Ai mà biết được lúc đó quan hệ giữa quốc gia và các chủng tộc sẽ như thế nào?”
“Các vị không sợ sẽ có nổi loạn sao?” Cato hỏi, kinh ngạc thấy hai ông bà sẵn lòng thảo luận chuyện này, vì họ không phải những thanh niên hút thử cần sa mà anh đã gặp ở Lourenço Marques. Cặp vợ chồng này hết lòng gắn bó với trung tâm Rhodesia, và những gì họ phải nói ra đều rất ý nghĩa.
“Có chứ, lúc nào cũng canh cánh mối lo về nguy cơ nổi loạn,” bà Gridley thú nhận. “Cũng như các bạn phải đối diện với nguy cơ nổi loạn ở Hoa Kỳ vậy. Nhưng ai lại nghi ngờ chuyện người da trắng sẽ bám trụ được khi nước Mỹ gặp thời điểm quyết định chứ... ít nhất là trong suốt chiều dài thế kỷ này?”
“Có ai nghi ngờ điều đó không?” ông Gridley nhắc lại.
Cato nói, “Bốn năm trước ở Mỹ, nhiều người như ông bà cũng đã đặt câu hỏi, ‘Có ai nghi ngờ việc Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ hùng mạnh có thể đánh bại nước Việt Nam nhỏ bé không?’ Rất nhiều người dân chúng tôi nghi ngờ điều đó. Chúng tôi không biết nó sẽ xảy ra như thế nào hay chuyện quái quỷ gì sẽ không đạt được hiệu quả, nhưng chúng tôi thực lòng nghi ngờ chiến thắng của nước Mỹ. Và ông bà có biết tại sao không? Tại vì chiến tranh là sai lầm mang tính lịch sử, và những sai lầm mang tính lịch sử thường được sửa lại cho đúng... bằng cách nào thì không ai đoán trước được.”
Bình thường, cứ đến điểm này là cuộc tranh luận lại sôi nổi hẳn lên, nhưng hôm đó thì khác. Với sự chính xác mang tính khoa học, ông bà Gridley ngẫm nghĩ về quan điểm Cato đưa ra và phản đối bằng những lý lẽ của mình. “Tôi nhất trí với anh,” ông Gridley nói với vẻ nhiệt tình chân thành. “Những sai lầm về mặt lịch sử không thể tồn tại lâu dài được. Nhưng trong trường hợp này, anh Jackson, tôi e là anh đã lý giải sai những sai lầm về mặt lịch sử ở châu Phi. Tôi là chuyên gia về công nghệ - nói chính xác hơn là nhà sinh thái học - và chúng tôi nhìn con người như một động vật. Con người cũng có đúng những vấn đề về sinh tồn mà một con voi gặp phải... hay như con linh dương châu Phi.” Ông ngừng lời để hỏi xem đã có ai trong bọn họ nhìn thấy linh dương châu Phi chưa. “Ái chà, tôi sẽ rất vui lòng được chỉ cho các bạn xem một trong những cảnh tượng diệu kỳ của tạo hóa. Nhưng thôi, quay trở lại với ý kiến của tôi đã. Là một nhà sinh thái học, tôi thấy hình như vấn đề quan trọng nhất của con người thời nay là tìm ra cách để sống chung với những tiến bộ kỹ thuật. Thực vậy, nếu không tìm được, anh ta không còn hy vọng gì nữa. Và chính người da trắng mới đang vật lộn với vấn đề này. Tôi không muốn nói đến các nhà khoa học da trắng và quốc gia da trắng đã đưa con người lên mặt trăng. Tôi muốn nói đến những người da trắng đang vật lộn với vấn đề tự động hóa, ô nhiễm không khí, quản lý đô thị, bất cứ vấn đề gì có ý nghĩa trên thế giới ngày nay.”
“Nhật Bản thì sao?” Cato chất vấn.
“Họ liên minh với chúng tôi. Người da đen thì không. Và đó là sự khác biệt khủng khiếp.”
“Ấn Độ thì sao?”
“Nói về mặt lịch sử, họ là người da trắng. Trên thực tế họ lại là người da đen.” Rồi ông nói với sự ngờ vực sâu sắc mà người Rhodesia hình như vẫn dành cho người Ấn Độ: như thể người Rhodesia dành những tâm tư khắc nghiệt nhất không phải cho người da đen, những người họ đã hiểu, mà là cho người Ấn Độ, những người họ sẽ không bao giờ hiểu. Ông Gridley nói tiếp, “Ấn Độ là một quốc gia giàu tiềm lực có thể hướng năng lượng của mình vào những vấn đề tôi vừa nói đến, nhưng suốt phần còn lại của thế kỷ này và chắc chắn là cả thế kỷ sau nữa, họ sẽ còn bận rộn với những cuộc đấu tranh tôn giáo và nạn quá tải dân số nặng nề. Thậm chí họ còn không thể quyết định về một ngôn ngữ chung. Và thất bại chủ yếu là ở vấn đề tôn giáo. Vì vậy tôi nghĩ chúng ta có thể bỏ qua, coi như Ấn Độ không kết quả gì.”
“Sự bỏ qua ấy cũng khá lớn đấy,” Gretchen nói. Như phần lớn thiếu nữ theo học tại các trường đại học có danh tiếng ở Hoa Kỳ, cô đã được truyền bá quan niệm rằng Ấn Độ sở hữu một nền văn hóa ít nhất cũng ngang bằng nền văn hóa Mỹ, có khi còn cao hơn, và giờ đây cô ngạc nhiên thấy một con người hiểu biết lại gạt bỏ toàn bộ tiểu lục địa ấy coi như không đáng quan tâm trong cuộc thảo luận nghiêm túc nơi mà những vấn đề cơ bản của cuộc sống đương thời được đề cập đến.
“Tôi không gạt bỏ Ấn Độ vì ác ý,” ông Gridley nói. “Chỉ là quốc gia đó không có khả năng tự tổ chức và vì thế chẳng có bất kỳ đóng góp nghiêm túc gì.”
“Nhưng vai trò lãnh đạo tinh thần của nó thì sao?” Gretchen vẫn khăng khăng.
Ông Gridley mỉm cười độ lượng. “Thử hỏi người Bồ Đào Nha về vấn đề đó xem. Cứ thử hỏi họ về vụ chiếm bang Goa[117] xem.”
“Điểm trọng yếu là,” bà Gridley nói, hướng về phía Cato, “các quốc gia da trắng rất quan tâm tới tương lai. Các quốc gia da đen lại mải mê thu xếp hiện tại, và đến khi họ đuổi kịp, thì dòng trôi dạt của lịch sử đã ở phía chúng tôi rồi.”
Cato bật cười. “Trong chuyến đi dài lên phía Bắc tới đảo Moçambique, tôi đã đi đến kết luận tương tự. Tôi nói với các bạn da trắng của mình là Rhodesia có thể trụ vững cho đến hết thế kỷ này. Lịch sử đã ở về phía các bà rồi. Vì vậy vấn đề lại trở thành - người da đen chúng tôi có thể thay đổi lịch sử chăng?” Căn phòng chợt yên lặng, và Cato nói tiếp, “Tanzania đang làm như vậy bằng cách quyết định chia sẻ số phận cùng Trung Quốc. Giả sử Nga chiếm đóng các nước Trung Đông như Jordan và Israel...”
“Anh có cho rằng Israel sẽ thất bại?” ông Gridley hỏi.
“Các tín đồ Hồi giáo quyết tâm lắm rồi.” Cato đáp, lần đầu tiên công khai biểu lộ niềm tin mới tiếp thu được. “Ngay cả người Hồi giáo ở Moçambique cũng đang bàn đến một cuộc thánh chiến.”
“Suốt một nghìn năm qua người Hồi giáo ở đâu mà chẳng bàn đến thánh chiến. Tôi được biết nhiều người da đen ở Mỹ đã cải đạo sang Hồi giáo. Để rồi xem. Trong mười năm tới các tín đồ Hồi giáo khắp thế giới sẽ bàn về cuộc thánh chiến nhằm cứu giúp các anh em đồng đạo ở Mỹ.” Cato suýt nữa nổi khùng, nhưng thay vì thế anh quay về với lý lẽ chủ yếu của mình: “Thế thì hãy giả sử là nước Nga, sau khi nuốt sống Trung Đông, quyết định nhảy vào châu Phi. Hãy giả sử là Trung Quốc Cộng sản gây sức ép lên Moçambique thông qua Tanzania, và nước Nga Cộng sản gây sức ép lên Rhodesia từ phía Congo. Thì sao nào?”
“Chỉ một năm là họ sẽ đấu đá lẫn nhau, còn chúng tôi sẽ ở đây củng cố vị thế của mình,” ông Gridley đáp.
“Ông không tin dòng trôi dạt của tương lai là sức ép của người da đen phương Bắc sao?”
“Ô, có chứ! Sức ép, khích động quần chúng, đe dọa. Chúng tôi sẽ phải sống chung với chúng trong suốt quãng đời còn lại. Nhưng quan điểm của tôi là người da đen chẳng làm được cái quái gì trong chuyện đó đâu. Ít nhất là trong thế kỷ này.”
“Ông nói không khác gì một vị tướng Mỹ bàn về chiến tranh Việt Nam... bốn năm trước.” Cả nhóm cười ồ, rồi Gretchen hỏi, “Con linh dương đen trông như thế nào ạ?” và ông bà Gridley liền lục trong đống sách cho đến khi tìm được một tấm ảnh màu, nhưng trước khi đưa cho nhóm bạn xem, ông Gridley nói, “Các bạn vẫn chưa cho tôi phát biểu hết ý kiến của mình. Tôi cho rằng cho đến hết thế kỷ này người da trắng vẫn có thể trụ được, và trong thời gian ấy họ sẽ định ra một số nguyên tắc xử thế chủ yếu. Đồng thời các quốc gia da đen sẽ đào tạo được nhiều công dân có năng lực và kiến thức như anh Jackson đây. Rồi biết đâu lại có một sự cộng sinh hoàn toàn khác giữa các chủng tộc, trong đó cơn nghiền cách giải quyết hiện tại của Rhodesia có thể không còn quá quan trọng nữa, vì nhiều giải pháp lớn hơn đang được chuẩn bị. Tuy nhiên, tôi tin chắc Rhodesia sẽ hợp tác trong các giải pháp lớn đó. Song tất nhiên, tôi đang phát biểu trên cương vị một người quan tâm đến cách voi giải quyết vấn đề của chúng ra sao. Chúng làm như vậy trong phạm vi những điều kiện như nước uống, thức ăn, sự an toàn và một điều bí ẩn gọi là lực sống, tức khát vọng sống còn. Trong cộng đồng da trắng ở Rhodesia hiện nay, lực sống vô cùng mãnh liệt.”
“Cho họ xem linh dương đi,” bà Gridley giục, nhưng chồng bà chưa kịp làm theo, Cato đã đặt tay lên bìa sách và nói, “Lực sống của người da đen cũng mãnh liệt kinh khủng,” vậy là ông Gridley đáp, “Tốt! Lòng tự trọng đòi hỏi điều đó. Nhưng khác biệt nằm ở chỗ, cho đến hết thế kỷ này người da trắng không những có lực sống mà còn có súng đạn và máy bay.”
“Như ở Việt Nam,” Cato nói.
—★—
Từ mấy tháng nay tôi đã có ý định xem xét lại các mối đầu tư của chúng tôi ở Lourenço Marques, đồng thời tìm cơ hội vươn tới Swaziland, một vương quốc da đen gần bên, và sự có mặt của bốn bạn trẻ ở Moçambique lúc này càng khích lệ tôi thực hiện chuyến đi. Đó là một chuyến du hành thoải mái bằng máy bay phản lực từ thủ đô đến Beira, sau đó chính quyền ở đó cho mượn chiếc phi cơ nhỏ để tới khu bảo tồn động vật.
Hạ cánh ở Zambela bao giờ cũng nguy hiểm vì mặc dù khu bảo tồn động vật duy trì một đường băng khá lớn được để mắt đến thường xuyên, nhưng cỏ dại ở đó vẫn sạch sẽ tươi tốt đến nỗi không thể ngăn thú rừng mở đường qua hàng rào vào kiếm cái ăn, và khi máy bay xuống gần đường băng, tôi phần nào lo sợ khi nhận thấy nơi này đã có sẵn mười bảy con trâu rừng, mỗi con nặng gần một tấn, hơn hai chục con linh dương sừng cong màu xanh, một đàn ngựa vằn khá đông, rất nhiều hươu cao cổ và ba con voi. Tôi giơ cả hai tay lên ra chiều bất lực, nhưng anh phi công không hề lộ vẻ lo lắng. Anh chỉ lượn ba vòng sát đất là đã đuổi được bọn thú đi chỗ khác, rồi lúc chúng tôi lướt trên đường băng tiến về phía các tòa nhà hành chính, đàn ngựa vằn và trâu rừng đã lại gặm cỏ như thường.
Các bạn trẻ được Lourenço Marques báo tin tôi sắp đến nên đã ra đường băng chờ đợi, vô cùng biết ơn tôi đã gợi ý cho họ tới Moçambique, và dành cả tiếng đầu gặp gỡ tranh nhau kể về hai bức thư của Britta và Yigal, về những việc họ đã làm cùng ông Gridley. Tôi cho rằng ông đã giúp họ có bước đầu làm quen đáng tin cậy với châu Phi, và mặc dù ông là người Rhodesia, Cato nói về ông với vẻ kính trọng. Kế hoạch của ngày hôm sau là chuyến thám hiểm sâu trong rừng để xem liệu họ có thể phát hiện ra một đàn linh dương đen chạy trốn cho đến nay vẫn lảng tránh họ không, và tôi cũng được mời đi cùng... “nếu chú có thể dậy lúc sáu giờ,” Gretchen nói thêm.
Tôi lui về căn nhà tròn của mình để dỡ hành lý ra thì ba người bạn Mỹ lần lượt tới chơi. Joe đưa cho tôi xem bức thư mà lãnh sự quán Mỹ ở Lourenço Marques chuyển cho anh. Thư này do hội đồng tuyển quân ở California gửi và là một lời thông báo lạnh lùng rằng từ nay Joe bị coi là kẻ trốn quân dịch, hộ chiếu của anh sẽ bị bất cứ viên chức chính quyền Mỹ nào tịch thu, và anh có thể ngồi tù rất lâu nếu không ngay lập tức quay về dưới sự điều khiển của hội đồng. Kèm theo là ý kiến hợp pháp của một cố vấn pháp luật thuộc chính phủ tuyên bố là Joe, vì lợi ích của chính mình, nên nhanh chóng quay về California.
“Tôi nên làm gì?” anh hỏi.
“Còn làm gì nữa? về đi.”
“Nhưng nếu chiến tranh là bất hợp pháp và do đó không thể biện hộ được?”
“Không cá nhân nào đủ tầm để nhận định như vậy.”
“Thế thì ai khác chăng?”
Chúng tôi tranh luận một lúc, rồi Joe nói, “Tôi đi Marrakech thì hơn. Tôi nghe nói ở đó có người chuyên xử lý những việc thế này.”
“Tôi sẽ tránh xa Marrakech. Tôi sẽ đi California.”
“Đối với ông California là nơi thích hợp. Đối với tôi, nó sẽ là số lùi. Sai lầm tuyệt đối.” Và anh xé bức thư của hội đồng tuyển quân.
Anh đi được một lúc thì Gretchen rẽ vào tìm tôi, một cô gái rõ ràng đã tìm được trong cuộc đời mình cảm giác tự do phóng khoáng mà trước kia cô chưa từng biết đến. Khi cô kể về Zambela, gương mặt cô rạng rỡ: “Hôm ở Pamplona chú đã rất có lý khi bảo chúng cháu phải thiết lập lại mối liên hệ với tự nhiên. Cháu chưa từng mơ rằng những nơi như thế này tồn tại thật. Chúng cháu dành cả chiều hôm qua chỉ để quan sát đàn sư tử lén đuổi theo một con ngựa vằn.” Rồi vẻ hài lòng biến mất và cô nói tiếp, “Chú Fairbanks, vấn đề là Monica. Cháu lo cho bạn ấy kinh khủng. Bạn ấy bắt đầu sử dụng heroin rồi. Đầu tiên chỉ hít. Bây giờ bạn ấy đã tiêm dưới da và bị một chỗ mưng mủ khá nghiêm trọng. Cháu cho rằng tiếp sau đây bạn ấy sẽ tiêm vào tĩnh mạch, và cháu thực sự không biết bạn ấy sẽ gặp phải chuyện gì.”
Tôi hỏi làm sao Monica lại chuyển sang heroin, Gretchen đáp, “Tự bạn ấy cả thôi. Theo cháu biết chẳng ai ép buộc bạn ấy cả. Ở Lourenço Marques, bạn ấy có gặp một vài thủy thủ kể với bạn ấy về một tay Ấn Độ đang lén lút bán lẻ ở đó. Nhưng cháu tin chắc chính bạn ấy ép lão Ấn Độ kia.”
Sau đó cô nói thêm rằng Cato cũng đang dùng thứ này nhưng chỉ hít thôi. Tôi hỏi cô học được từ ngữ như vậy ở đâu, thì cô đáp, “Thanh niên chúng cháu ai mà chẳng biết về Big-H. Tức là chúng cháu biết những gì cần phải biết.” Tôi nói với cô tôi nghi ngờ điều đó, rồi hỏi tại sao cô tin chắc là Cato chỉ mới hít thôi, cô liền đáp đơn giản, “Cháu hỏi anh ấy. Và cháu nhìn tay anh ấy. Anh ấy cũng tiêm chích một thời gian, nhưng bây giờ thì có vẻ sợ việc đó rồi.”
Gretchen nhờ tôi nói chuyện với Monica, cố gắng thuyết phục cô ấy, tôi nói, “Tôi làm gì được đây? Cô ấy đã là cô gái trưởng thành mà tôi không có quyền kiểm soát,” nhưng Gretchen chỉnh lại: “Bạn ấy mới mười bảy tuổi và cần được giúp đỡ.” Tôi nói với cô rằng trong những vấn đề liên quan đến ma túy, tôi hoàn toàn bất lực, nhưng cô bảo cô sẽ nhắn Cato đến trao đổi với tôi.
Cato đến, trên người chỉ mặc độc quần soóc, và nhìn thấy hai cánh tay không vết sẹo của anh, tôi hy vọng anh đã không quá lậm vào heroin. Tôi nhận thấy những trải nghiệm ở châu Phi đã làm anh mềm tính đi nhiều, nhưng tôi không được thoải mái lắm và cảm thấy khó mà đề cập đến đề tài ma túy. Anh nhanh chóng tháo gỡ khó khăn: “Với tôi heroin không còn là vấn đề nữa. Tôi đã dùng thử và ban đầu cứ tưởng dễ chơi. Nhưng rồi một hôm nó làm tôi sợ. Thế là tôi cai nghiện chay tịnh luôn.” Tôi nhận xét câu này nghe hơi giống một lời nói khoác kiêu căng ngạo mạn, nhưng anh lại hỏi, “Ông không tin những chuyện bịa về người tiêm một mũi morphine trong bệnh viện rồi đâm ra mắc nghiện suốt đời đấy chứ? Tôi đã từng hít, từng chích và rồi cai hẳn được rồi.”
“Cậu thấy tự mãn vì đã học đòi chơi với heroin và rồi thoát khỏi nó dễ dàng?”
“Tôi đã làm được. Tôi sẽ không bao giờ mắc nghiện vì tôi sẽ không cho phép việc đó xảy ra. Vì vậy chúng ta đừng nói đến vấn đề này nữa.”
“Tôi hy vọng anh đúng,” tôi nói.
Đột nhiên anh nói, “Monica đang gay go, không phải tôi. Cô ấy thích heroin, cần nó. Cô ấy dùng thường xuyên, và tôi khá chắc chắn cô ấy đang tiêm vào tĩnh mạch. Dù sao đi nữa, cô ấy thường xuyên mang đồ nghề bên mình - nắp chai để hơ nóng heroin, ống tiêm dưới da mà cô ấy mua ở Pamplona.”
“Hai người có sử dụng heroin ở Bar Vasca không?”
“Không. Cô ấy mua kim tiêm... chỉ để đùa cho vui thôi. Rồi, khi đã có kim, cô ấy lại muốn thử xem sao... Một số thủy thủ Mỹ đã dụ cô ấy bắt đầu ở Lourenço Marques. Và cô ấy cứ rầy rà bắt tôi phải thử. Cô ấy hầu như không ăn uống gì. Rồi khi chúng tôi lên giường, cô ấy gần như chỉ ngủ suốt. Cô ấy sụt cân ghê lắm.” Anh tiếp tục bản miêu tả kinh điển về một cô thiếu nữ trong giai đoạn đầu nghiện ngập, và qua những gì anh nói, tôi sẵn lòng tin tưởng lời cam đoan của anh là quả thực anh đã đi đến bờ của vực thẳm ấy và tự nguyện lùi lại. Tôi mừng cho anh.
Trong bữa tối hôm đó, lần đầu tiên tôi có cơ hội quan sát kỹ Monica, và nhìn bên ngoài trông cô hấp dẫn hơn trước, một cô thiếu nữ đáng yêu mười bảy tuổi với nhan sắc siêu phàm. Thân hình thon thả quá mức khiến cô càng thêm quyến rũ, vì lúc này khuôn mặt nhợt nhạt trông lại xinh đẹp bội phần. Cô mặc chiếc váy mini kiểu dáng khác lạ khiến tất cả khách đến tham quan khu bảo tồn đều phải nhìn cô chằm chặp. Dấu hiệu duy nhất tiết lộ các cuộc thám hiểm mới của cô là miếng băng dính nhỏ màu da mà bà Gridley đã khăng khăng dán vào chỗ mưng mủ.
Monica ngồi bên phải tôi và cố gắng làm tôi hài lòng, kiềm chế sự hóm hỉnh sắc sảo đôi lúc khiến người lớn tuổi phật ý. Cô ăn nhỏ nhẻ, và đến lúc cô gẩy đi gẩy lại mãi món tráng miệng, tôi nhận ra cô lặng lẽ thế là vì đang ở giai đoạn mệt mỏi trong chu trình phởn phơ-trầm cảm.
Ăn xong, chúng tôi tới thăm ông bà Gridley, người tôi quen từ hồi còn ở các khu bảo tồn tại Rhodesia, và sau khi ông thông báo tất cả chúng tôi phải đi ngủ sớm vì sáng mai sẽ khởi hành từ lúc sáu giờ để săn lùng linh dương đen, bà Gridley tìm được cơ hội dụ tôi vào bếp và nói thẳng, “Nếu quen Ngài Charles Braham, tốt hơn hết ông nên đánh điện bảo ông ấy đưa con gái rời khỏi châu Phi và gửi nó vào viện điều dưỡng đi.”
“Ngài Charles không có ảnh hưởng gì lên cô ấy.”
“Nhưng cô ấy đang bị suy dinh dưỡng nghiêm trọng... do heroin. Có mười bảy tuổi đầu. Tôi muốn khóc quá.”
“Bà đã trò chuyện với cô ấy về vấn đề này chưa?”
“Tôi không cần phải làm thế. Khi tôi xử lý vết mủ, cô ấy cũng hiểu là tôi đã biết. Ông Fairbanks, ông có nhận ra rằng cô ấy có thể mất cánh tay không? Cô bé hoàn toàn không có sức đề kháng và không chịu chữa trị gì cả.” Bà ngừng lời rồi hỏi thẳng tôi, “Cậu thanh niên da đen kia. Cậu ta có vẻ là người tử tế. Cậu ta không rủ rê con bé, phải không?”
“Ngược lại thì đúng hơn.”
“Cậu ấy mạnh mẽ hơn. Cậu ấy có thể chịu được một trải nghiệm như vậy. Cô ấy thì không. Họ có định cưới nhau không?”
“Tôi không nghĩ vậy.”
“Tạ ơn Chúa. Cô ấy sẽ hủy hoại cậu ta mất, và cậu ta sẽ cho rằng cô ấy làm vậy vì cậu ấy là người da đen. Thực ra, cô ấy sẽ hủy hoại bất kỳ người đàn ông nào cô ấy lấy làm chồng.”
“Tại sao bà nói vậy?”
“Vì cô ấy nằm trong số những kẻ bệnh hoạn của thế hệ này. Ông tưởng chúng tôi không gặp họ ở Rhodesia sao? Thế giới của chúng ta đã trở nên quá sức họ chịu đựng. Họ đã đến ngày tận số, và nói như một nhà di truyền học, họ bị loại bỏ khỏi xã hội này sớm chừng nào hay chừng ấy.” Rồi bà quay về với khách khứa của mình, một người đàn bà can đảm, nhìn mọi người đúng với bản chất của họ.
Sáu giờ sáng hôm sau, chúng tôi tập trung tại cánh cổng ngăn cách dãy nhà tròn với khu vực thú rừng tự do rong chơi, và tôi hài lòng thấy Monica tràn đầy sinh lực như thể bữa sáng đã vực tinh thần cô lên, nhưng Gretchen bảo tôi, “Chúng cháu mang theo một ít bánh mì kẹp thịt, vì Monica chưa ăn gì.” Sau đó, khi chuyến đi đã được một lúc, Cato mới nói riêng với tôi là cô đã tiêm heroin trước khi lên giường và bây giờ đang phê. Tôi tìm dấu hiệu cho thấy điều đó, nhưng không phát hiện được gì.
Chúng tôi lái hai chiếc xe băng qua những vùng đồng cỏ bình thường cho phép khách du lịch tham quan, dọc những con đường lấm bụi mở ra cảnh sắc kỳ thú này tiếp cảnh sắc kỳ thú khác. “Chú để mắt đến chỗ rẽ sắp tới nhé,” Gretchen nhắc tôi. “Voi đấy.”
Chúng tôi đang ở trên một khu đất nhiều cây lùn mọc cách nhau chừng hai mươi thước, quãng quãng lại xen cỏ cao ở giữa và chúng tôi vừa ngoặt vào chỗ rẽ thì chiếc xe dẫn đầu do ông Gridley lái từ từ giảm tốc độ. Phía trước, chắn ngang giữa đường là ba con voi khổng lồ. Ông Gridley nói với ra sau trong khi ba con vật to lớn chăm chú nhìn chúng tôi không nhúc nhích. “Chúng chính là ba con trên đường băng hôm qua.” Chúng tôi lái đến gần, cách chúng chưa đầy chục thước, hai chiếc xe sát bên nhau, và ông Gridley nói tiếp, “Hai tuần trước chúng đã tóm được một chiếc Volkswagen nhỏ và lật nó đổ kềnh đấy. Các bạn cứ cài sẵn số lùi nhé.”
Chúng tôi bị ba con vật màu xám to lớn ấy chắn ngang đường mất khoảng mười lăm phút, nhưng cuối cùng chúng thong thả bỏ đi; chúng tôi đang ở giữa một vùng đất nơi thú rừng làm chủ, như thời xa xưa. Cảm giác này càng rõ rệt hơn khi chúng tôi rời vùng rừng mà tiến vào một loạt đồng bằng rộng lớn, và rồi trông thấy trước mặt một đàn trâu rừng có lẽ phải hàng nghìn con, những con thú đen trũi, bộ sừng uốn cong lạ mắt khiến chúng trông như đang đội chiếc mũ chụp thịnh hành hồi cuối thập niên hai mươi. Khi chúng tôi đi qua, lũ trâu đực đứng thành một vòng tròn bảo vệ, vai kề vai, vũ khí đồ sộ của chúng hạ thấp như đang chuẩn bị tấn công.
Trên những đồng cỏ gần bờ sông chúng tôi tìm thấy đàn đàn lũ lũ ngựa vằn, linh dương và linh dương đầu bò đứng ken nhau. Tôi nhớ như in phản ứng của Joe và Cato. Joe phát biểu, “Một nghìn con trâu rừng châu Phi làm phong cảnh hấp dẫn hơn hẳn so với một nghìn con người,” và Cato, khi nhìn thấy các nhóm thú rừng túm tụm về một nơi, đã nói, “Tôi lúc nào cũng nghĩ đến châu Phi toàn con người... luôn da đen... luôn trần truồng. Lourenço Marques và nơi này chắc chắn đã làm thay đổi nhiều hình ảnh. Người đáng kể là người da trắng, còn sự sinh tồn vĩnh cửu là muông thú.” Tôi không ngồi cùng xe với hai cô gái, nên không biết các đàn thú tác động đến họ như thế nào, nhưng chắc chắn cánh trai trẻ đều bị cảnh tượng làm cho sửng sốt. Lúc chúng tôi tình cờ gặp đàn sư tử đầu tiên đang xé xác một con trâu, trong khi lũ kền kền và linh cẩu đứng rình gần đó, Cato, sau khi chứng kiến hai con sư tử đánh nhau để giành lợi thế, thốt lên, “Làm sao các vị lại thích thú cảnh kia được chứ?” Tôi có thể thấy anh xúc động sâu sắc trước sự man rợ của bọn thú và bản tính bất cần của chúng trước mọi thứ ngoại trừ cái bụng no nê.
Tới gần con sông, nơi chúng tôi sẽ đi dọc bờ hơn một tiếng đồng hồ cho đến một khúc cạn dẫn lên khu đồi cao hơn, tôi được biết các bạn trẻ vẫn chưa hề trông thấy một đảo hà mã, vậy nên vừa có cơ hội, tôi liền đề nghị ông Gridley, “Chúng ta ghé thăm lũ hà mã nhé,” rồi chúng tôi đi theo con đường vòng khá xa, một quyết định có thể coi là sáng suốt nhất trong ngày hôm đó, vì lối đi ấy đã dẫn chúng tôi băng qua một thế giới thần tiên đích thực, nơi cư ngụ của tất cả các loài chim con người có thể tưởng tượng ra: kền kền khổng lồ, đại bàng bắt cá oai hùng, hồng hạc, sếu có mào với vẻ duyên dáng hiếm có, và hàng trăm loài chim bay thấp lông cánh sặc sỡ. Đi lại giữa bầy chim là những đàn linh dương chân đen đông đúc, vừa nhảy vọt lên, vừa lượn vòng vèo mỗi khi chúng tôi tới gần, thân hình màu nâu vàng của chúng ánh lên trong nắng. Buổi sáng hôm ấy chúng tôi đã được thưởng thức kết hợp màu sắc và chuyển động mà thiên nhiên thỉnh thoảng vẫn ban tặng cho người quan sát may mắn; bất cứ ai yêu âm nhạc, hội họa hay khiêu vũ sẽ linh cảm được rằng mình đang ở trong thế giới của nền nghệ thuật khác. Khi chúng tôi dừng xe lại để uống nước mát, Gretchen phát biểu, “Giống như bộ não ta giảm số xuống chuyển động chậm còn mắt ta thành kính vạn hoa. Tôi có thể ngắm linh dương chân đen cả ngày.”
Tôi bảo họ vài dặm nữa thôi, một hình ảnh trái ngược đang chờ đợi họ, một hình ảnh họ sẽ không bao giờ quên, và khi hai chiếc xe đến gần một vùng trũng lầy lội, hai cô gái phát hiện ra thứ mà họ cho chính là thứ tôi vừa nói đến; một đàn năm con cá sấu lớn đang phơi nắng trên bờ sông. Trông chúng như những khúc gỗ trôi từ trên núi xuống, những sinh vật gớm ghiếc thân đầy u bướu và toát lên vẻ hiểm ác.
“Đứng tránh xa ra,” ông Gridley dặn dò khi ông và hai viên gác rừng da đen lái xe cho chúng tôi lấy súng ra. Lũ cá sấu khổng lồ quan sát chúng tôi đến gần, nhìn ánh nắng lấp lánh trên nòng súng, rồi lặng lẽ trườn xuống sông. Có thể nói, chúng trông như biến mất; một con vẫn nằm lại trên bờ, ngụy trang khéo đến nỗi không thể bị phát hiện, chiến thuật mà loài bò sát thấy hữu hiệu, và khi Monica hứng chí vì cảnh tượng trước mắt, xuống xe, chạy ngang qua bờ đầm cỏ mọc dày, vẻ mặt phấn chấn vì cảnh tượng trước mắt, con vật to lớn để cho cô tới ngay bên cạnh, rồi, với một phát trời giáng bằng cái đuôi dài nung núc, nó quật cô ngã sát mép nước, và từ dưới sâu hai con khác lập tức lao lên, mõm há rộng ngoác, trong khi con đã quật cô ngã cũng từ trên bờ xông đến.
Nhìn thấy những hàm răng nhọn hoắt đang ào đến từ cả ba phía, Monica rú lên, nhưng ông Gridley và hai người gác rừng, có Joe bám theo gần như sát nút, đã lao ngay đến chiến đấu với lũ cá sấu. “Đừng bắn!” ông Gridley thét bảo hai người gác rừng khi họ dùng báng súng phang vào mấy con thú, còn Joe thì đá mũi giày ống Texas cứng ngắc vào đầu chúng. Cũng nhanh như lúc tấn công, lũ cá sấu lùi lại và biến mất dưới làn nước đã bị chúng khuấy thành một màu nâu đục ngầu.
Trong cả nhóm chúng tôi, Monica ít hoảng sợ nhất. Ngoài tiếng thét báo động lúc đầu, cô tỏ ra bình tĩnh rõ rệt, lúc này cô phủi quần áo và nghiêng mình trước bốn người đàn ông đã cứu cô. “Có khối cô gái bị chó sói tấn công,” cô nói, “nhưng cá sấu thì chẳng mấy người bị.”
“Không đùa đâu,” ông Gridley nói. “Nếu Joe không đá vào đầu nó thì cô đã mất một chân... có khi còn tệ hơn nữa.” Tất cả chúng tôi vẫn còn bàng hoàng, Gretchen nói, “Chú Fairbanks, điều chú dành cho chúng cháu quả là bất ngờ thật,” tôi thì đáp, “Tôi có định thế đâu,” rồi sau đó Monica kêu, “Đi thôi,” và chúng tôi tiếp tục vượt qua vùng đầm lầy cho đến khi tới một gò đất thấp nhìn xuống sông. Tôi chờ xem ai sẽ là người đầu tiên phát hiện ra những gì nằm trước mắt, và cuối cùng Gretchen thốt lên, “Ôi Chúa ơi!”
Ở đó, trên một hòn đảo khá nhỏ giữa sông, ít nhất một trăm năm mươi con hà mã khổng lồ nằm xúm xít bên nhau, một núi thịt phập phồng, một trong những cảnh tượng lạ thường nhất ở châu Phi. Thật sự khó tin, bầy thú rừng đông đúc này, con nọ đè lên con kia thành một cộng đồng nằm ườn uể oải. Thỉnh thoảng, con hà mã nào đó lại tách đàn nặng nề lội bòm bõm xuống sông, trong khi các con khác, hài lòng với trận tắm buổi sáng, bèn chậm chạp bước từ dưới sông lên tìm cho mình một chỗ giữa núi thịt.
Quan sát một lúc, chúng tôi mới nhận ra số hà mã nằm chìm dưới sông - chỉ để lộ mắt và lỗ mũi trên mặt nước - đông hơn số chúng tôi nhìn thấy trên đảo nhiều, hai cô gái thử ước tính có bao nhiêu con ở đó. “Bốn hoặc năm trăm?” Monica hỏi, và ông Gridley gật đầu.
Chúng tôi quay về qua khu đầm lầy và bắt đầu hành trình dài lên đồi, đến trưa thì tới nơi. Chúng tôi bày bữa trưa ngoài trời ra và ăn uống dưới bóng cây râm mát trong khi ông Gridley cầm ống nhòm quan sát khu đất rộng bao la phía dưới và tả hết đàn thú này đến đàn thú khác mà chúng tôi không thể nhìn được bằng mắt thường. Chúng tôi đang chuyền tay nhau chiếc ống nhòm để tận hưởng cuộc tham quan từ xa đó thì ông Gridley chộp lấy ống nhòm, chăm chú quan sát một khoảnh đất rậm rạp cách chúng tôi không xa lắm và nói, “Ở kia có mấy con vật đẹp thật. Có ai biết chúng không?”
Mỗi người một lượt, chúng tôi nhìn qua ống nhòm thấy một đàn độ bốn mươi con thú lớn mà tôi dám nói là nai sừng tấm, vì đã nhìn thấy loài này ở vùng núi Bắc Mỹ. Gretchen hỏi, “Chúng có phải chồn zibelin không?” và ông Gridley tiếp lời, “Linh dương đẹp hơn nhiều. Đây là linh dương châu Phi và chúng tôi hiếm khi nhìn thấy chúng đông đúc thế này.” Thế rồi, như thể cũng tò mò về chúng tôi chẳng kém chúng tôi tò mò về chúng, những con thú to lớn chậm chạp tiến về phía chúng tôi, hơn ba mươi con đẹp đẽ vừa đánh hơi vừa thận trọng thăm dò địa hình. Chúng đến rất gần, hầu như thành hàng một, rồi bỗng sững lại ít nhất năm phút, trong khi chúng tôi vừa ăn nốt bữa trưa vừa thích thú thưởng thức màn trình diễn lạ lùng kia. Cuối cùng con linh dương đầu đàn cảm thấy điều gì đó mà nó không thích, thế là trong chớp mất cả đàn quay lưng biến mất.
“Ôi, ước gì chúng ta có ít âm nhạc!” Monica reo. “Như thế ngày hôm nay của chúng ta sẽ thật hoàn hảo,” và ba thanh niên Mỹ nhất trí rằng cái mà họ thực sự cần trong buổi cắm trại này là chiếc máy ghi âm của Harvey Holt. “Tôi sẽ bằng lòng ngay cả với những ca khúc ngớ ngẩn của ông ấy,” Cato tuyên bố, nhưng Monica phản đối, “Không phải thứ đa cảm ấy. Em sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì để anh Clive cưỡi linh dương đến đây, mang theo đĩa hát cho chúng ta có thể nghe lại các ca khúc của Octopus, Cream hay Blind Faith. Anh biết đấy, thứ gì đó thật sự khí thế, với một nhịp điệu mà anh có thể cảm nhận được.”
Cả bốn người đều nói về nỗi khát khao mà họ dành cho một bản nhạc sôi nổi nào đấy; và khi nhớ ra tôi thích bài “MacArthur Park” đến thế nào, Gretchen bèn làm bộ chơi guitar và cất tiếng hát: “Someone left the cake out in the rain...”
Cả nhóm tập trung lại thành một ban nhạc với những nhạc cụ tưởng tượng và trình bày một tiết mục mà tôi nghe riết đã thành quen, và trong lúc nghe họ hát, tôi lại một lần nữa thấy rõ thứ âm nhạc này đã động viên họ ra sao. Ông Gridley bối rối đứng nhìn, nhưng khi Cato bắt đầu hát “Sic ’Em, Pigs,” trong đó cảnh sát bị nhạo báng bằng tiếng kêu ủn ỉn và đủ loại âm thanh giả tiếng lợn khác, ông sững người lại. Ở Rhodesia vai trò của cảnh sát hết sức quan trọng, và kẻ nào phỉ báng họ là đã tự xếp mình vào hàng ngũ chống đối các lực lượng kiến thiết xã hội. Ông không nói gì, và một lúc sau, khi cả bốn ngả lưng trong bóng râm giữa buổi trưa nồng nực, vẫn tiếp tục bàn luận về âm nhạc, ông nháy mắt với tôi, một hành động mà khi đó tôi không hiểu rõ ý nghĩa.
Những bài ca làm cho Monica hay chuyện hẳn lên, cô nói, “Em vẫn còn nhớ những gì Gretchen nói với chúng ta hôm cắm trại ở tu viện... là luôn có những người như chúng ta đi hành hương. Những ca khúc chúng ta vừa hát mà ông Gridley không thích... ồ, em đã thấy ông cau mày. Em dám cược những người có địa vị sống trong các lâu đài cũng không thích thú gì kẻ hát rong. Mọi người biết không, đêm hôm nọ em đã ngẫm nghĩ về cách sống của dòng họ em từ đầu thế kỷ trước. Phu nhân Wenthorne, cầu Chúa cho linh hồn bà được yên nghỉ, đã quở trách em phí hoài cả cuộc đời lang thang khắp châu Phi. Nhưng tổ tiên em đã phí hoài cuộc đời lang thang khắp châu Âu. Như cụ Christopher Braham, bạn của Keats và Shelleyh[118] đấy. Cụ đã lang thang khắp châu Âu suốt mười một năm trời. Sống trong một ngôi nhà gần khu di tích Tam cấp Tây Ban Nha ở Rome. Và cụ Pittenweem Braham, tên được đặt theo ông chú ở Scotland. Phát âm tên mình thành Pinnim và đi du lịch châu Âu với một lũ đồng tính luyến ái. Và một Braham nổi danh nữa, cụ Fitzwilliam, từng làm việc trong nội các của thủ tướng Gladstone. Cho đến tận năm ba mươi bảy tuổi, cụ vẫn là một kẻ hoàn toàn vô tích sự, nhưng sau đó, với những kinh nghiệm giang hồ ở Tây Ban Nha và Đức, cụ lại thành tài sản vô giá cho chính phủ. Em cho rằng thời nào cũng thế thôi. Người giỏi thì sống sót và càng ngày càng giỏi hơn nhờ kinh nghiệm. Người kém cỏi thì lẹt đẹt mãi. Không, ý em không phải thế. Chính kinh nghiệm biến họ thành người giỏi. Người ta mất cụ Pittenweem vào tay bọn đồng tính luyến ái nam. Người ta giữ được cụ Fitzwilliam cho nội các.”
Cô trìu mến nhìn Cato, như thể gợi ý rằng một ngày nào đó anh cũng có thể là thành viên nội các, rồi nói thêm, “Em vẫn chưa nêu được vấn đề em đang bận tâm. Hồi thế kỷ trước chỉ người giàu mới đủ khả năng đi du lịch khắp châu Âu. Bây giờ thì ai cũng làm được việc này. Và điều khiến nhiều người khó chịu là hồi đó chỉ nam thanh niên mới đi được. Bây giờ thì con gái cũng đi được.” Cô bật cười, hơi có phần kích động, và nói, “Chẳng phải là một uyển ngữ hết sức thú vị sao? Tua du lịch bao quát thủ đô các nước châu Âu? Tua đời sống hạ lưu qua các nhà thổ ở châu Âu? Hơn một nửa tổ tiên của em trở về Anh mang theo bệnh giang mai. Ngày nay trở về ta mang theo những thứ khác.”
“Chúng ta nên quay lại xe thì hơn, muộn rồi,” ông Gridley nhắc, thế là chúng tôi bắt đầu đoạn đường khám phá gian nan, băng qua một vùng cây bụi lộ thiên không con đường nào chạy qua. Chừng nào chúng tôi còn bám sát những khu vực không bị voi và trâu quần đảo trong mùa mưa thì mặt đất còn khá bằng phẳng, nhưng đến những chỗ bị chân của đám thú ấy cày thành ổ gà, đường đi gồ ghề đến nỗi chúng tôi gần như bị xóc nảy khỏi ghế. Thật là một giờ đồng hồ căng thẳng, chỉ có thể chịu đựng được nhờ những lời trấn an luôn miệng của ông Gridley, “Sắp hết đến nơi rồi!”
Cuối cùng chúng tôi thoát ra một đồng cỏ bằng phẳng, dọc mé đồng cỏ là một hàng cây, và khi đến cách trăm thước, chúng tôi dừng lại còn ông Gridley chĩa ống nhòm nhẩn nha quan sát địa hình. Sau đó, lẳng lặng, ông giơ tay phải lên chỉ, và phía trước chúng tôi, đứng nửa dưới nắng, nửa trong bóng râm, nửa trên đồng cỏ, nửa trong rừng cây là hai mươi con thú tuyệt đẹp. Joe nhìn ông Gridley như thể muốn hỏi, “Linh dương đen ư?” Người đàn ông Rhodesia gật đầu.
Chúng thật đáng xem, đủ bù đắp cho mọi cú xóc chúng tôi đã phải chịu, những viên ngọc quý giá thanh tao của châu Phi. Chúng cỡ một con ngựa lớn, và mỗi lúc chúng bước vào và ra khỏi bóng râm, chúng tôi thấy bộ lông của chúng chuyển từ màu vàng nâu nhạt sang tía sẫm, nhưng cái khiến người ta không thể nào quên được là cái mặt chúng vằn vện: những dải trắng sáng cắt ngang một bề mặt gần như đen kịt. Khi nhìn những khuôn mặt lạ thường đó, Cato thì thầm, “Mọi mặt nạ của châu Phi đều từ đó mà ra cả,” và anh nói đúng. Sừng của chúng là những thanh mã tấu khổng lồ lượn về phía sau theo các đường cong ngoạn mục. Muốn sử dụng sừng, con vật sẽ phải cúi đầu song song với mặt đất. Ông Gridley nói nhỏ, “Với bộ sừng đó, một con linh dương có thể giết cả sư tử đấy.”
Chúng tôi quan sát đàn thú khoảng nửa tiếng đồng hồ, cầu mong chúng sẽ di chuyển hẳn ra ánh nắng, nhưng có lẽ vì đã phát hiện ra chúng tôi, chúng chỉ quanh quẩn nửa khuất nửa lộ, và có lẽ thế lại hay, vì chúng tôi phải vận dụng trí tưởng tượng để hoàn chỉnh nốt những đường nét lẩn trong bóng râm. Với ông Gridley, cảnh tượng lại thật buồn. “Lần cuối cùng tôi được trông thấy chúng trong năm nay,” ông nói và chỉ những đám mây đã bắt đầu tụ lại ở đằng Tây. “Sắp mùa mưa rồi.”
“Mưa có làm cho đường xá thành không thể đi được không?” Gretchen hỏi. Ông Gridley bật cười, rồi đáp, “Không thể đi được? Gần như tất cả các con đường chúng ta đi hôm nay đều sẽ ngập mét rưỡi đến hai mét nước... suốt năm sáu tháng liền. Ở đây, đã mưa rồi là cứ mưa mãi.”
Lúc này đàn linh dương đen đã tiến lại gần hơn, tuy vẫn loanh quanh trong thế giới nửa sáng nửa tối của chúng, và không lần nào chịu nhô ra ngoài nắng. Chúng tôi nhìn chúng như những bóng ma, với mặt nạ trắng đen, với bộ đao lấp lánh uốn cong ra sau, với bộ lông màu nâu vàng, xanh lơ và đồ tía. Vẻ đẹp và sự duyên dáng của những con vật thanh nhã này thật là choáng váng, và một lúc sau, chúng biến mất cứ như không vào trong rừng, lần lượt từng con một mà chẳng có chuyển động bất thình lình nào.
Đàn linh dương biến mất - tức là đối với tất cả chúng tôi, trừ Joe. Hiển nhiên đã bị mê hoặc bởi thoáng nhìn vào trong lòng châu Phi vẫn y nguyên một nghìn năm trước và chần chừ không muốn thoát khỏi bùa mê của nó, anh bỏ chúng tôi lại, rồi di chuyển như một thợ săn người bản địa, băng qua bìa rừng, nơi vài con linh dương vẫn còn nấn ná, và suốt một lúc đứng sững, chằm chằm nhìn vào bóng râm, và cứ đứng im tư thế này gần nửa giờ, quan sát đàn linh dương trong khi chúng cũng đang quan sát anh.
“Chẳng phải thế nguy hiểm sao?” tôi hỏi.
“Rất nguy hiểm,” ông Gridley đáp. “Nơi nào anh nhìn thấy linh dương, nơi đó anh sẽ nhìn thấy sư tử.”
“Chúng ta làm gì đây?”
“Đối với một chàng trai, có những chuyện còn quan trọng hơn sư tử.” Ông giơ ngón cái chỉ thứ mà chúng tôi đã không ai để ý: hai người gác rừng da đen đã lặng lẽ vác súng ra đó đứng canh.
Khi quay lại, Joe hỏi ông Gridley, “Chúng sẽ sống sót chứ?” và nhà sinh thái học đáp, “Chúng chẳng còn được bao nhiêu. Nhưng mật độ sinh sống dày sẽ cho phép chúng sống sót... nếu chúng ta hành động đúng.” Vẻ xúc động lộ rõ, Joe nói, “Chúng mà tuyệt chủng thì đúng là tội ác.”
“Chúng ta phải đi tiếp,” ông Gridley nhắc nhở, chỉ lên bầu trời phía Tây tối sầm, nơi những cơn mưa sắp chấm dứt một chu kỳ để bắt đầu chu kỳ tiếp theo. Lúc chúng tôi về đến trại, cả hai chiếc xe đều đã bị bùn đất phủ kín.
Chúng tôi định đêm hôm đó sẽ là bữa tiệc tạm biệt Zambela, nhưng mệt rã rời sau chuyến tham quan ban ngày, có ý kiến bàn bỏ qua kế hoạch ấy mà lên giường đi ngủ. “Sáng sớm mai chúng ta đã phải rời khỏi đây rồi,” Gretchen nhắc. “Con tàu Hy Lạp sẽ không chờ đâu. Chúng ta nên đi ngủ thì hơn.”
Nhưng Monica, vốn là người cần nghỉ ngơi nhất, lại phản đối: “Bà Gridley đã mất công chuẩn bị. Chúng ta sẽ tắm nước nóng, chợp mắt một lúc, khỏe lại ngay thôi.” Bước vào phòng tắm, tôi nghe có tiếng một chiếc phi cơ nhỏ bay qua, lượn sát đường băng để dọa lũ thú rừng, nhưng đến lúc lên giường, tôi quên khuấy mất chuyện đó.
Một giờ sau tôi bị Monica khua dậy khi cô trên đường lượn một vòng qua các căn nhà tròn để kéo chúng tôi đến bữa tiệc. Cô bước vào phòng tôi, người hầu như trần truồng, trông không khác gì một tiên nữ chốn rừng xanh, thoải mái như chú linh dương. “Đến giờ vui chơi rồi!” cô vừa nói vừa giật phăng chăn của tôi ra và hôn tôi một cái. Cô đang định chạy đi thì tôi chộp lấy cánh tay cô kéo lại, bất chợt nảy ra quyết định thử nói lý với cô xem sao, và trong một thoáng chắc hẳn cô tưởng tôi định làm tình với cô, vì mắt cô sáng lên như thể muốn nói, “Chuyện này thật điên rồ, nhưng có khi cũng vui đấy.” Tôi dập tắt ngay những suy nghĩ đó bằng cách khoác cho cô chiếc áo choàng tắm của mình và kéo cô ngồi xuống giường.
Kiên quyết buộc cô phải đối mặt với mối nguy hại của ma túy, tôi đi thẳng vào vấn đề, “Monica, cháu phải cai heroin đi thôi.”
“Chú có quyền gì mà ra lệnh cho cháu?”
“Chú là bạn cha cháu. Chú là bạn cháu.”
Kéo chiếc áo choàng tắm của tôi sát vào người, cô nóng nảy nhún vai và đáp lại, “Cháu không đòi hỏi tình bạn của chú... hay những lời răn dạy của chú. Và nếu chú định thuyết giáo như cha cháu thì cháu lại càng không muốn.”
“Phải có người làm việc này.” Tôi tóm lấy cánh tay trái cô và lắc cho lớp áo tuột ra. Chỉ vào miếng băng dính, tôi nói tiếp, “Cháu có nhận ra nếu để nó mưng mủ thêm hai ngày nữa là cháu có thể mất cả cánh tay không?”
“Ai bảo thế?”
“Bà Gridley. Bà ấy chăm sóc rất nhiều con thú bị thương, nhớ chứ? Và cháu là một con thú nhỏ bị thương nặng đấy, Monica.”
“Cháu có bị sao thì Marrakech cũng xử lý được hết.”
“Chú không cho phép cháu đi Marrakech.”
“Cháu thích đi đâu thì đi,” cô cãi với giọng hỗn xược.
Câu nói làm tôi điên tiết đến nỗi tôi vặn cánh tay cô, và mắt tôi bắt gặp một hình ảnh mà tôi tin chắc sẽ có ở đó - vết tím nhạt do một mũi kim tiêm để lại khi nó đi vào mạch máu. “Cháu điên rồi!” tôi quát lên. “Cháu đã tiêm ma túy vào mạch máu chính!”
“Cháu tiêm rồi thì sao nào?” cô hỏi với vẻ thách thức.
Không thể kiềm chế được cơn giận dữ đau đớn, tôi tát vào mặt cô. “Cháu đang tự giết mình đấy - vì Chúa, cháu không thể nhận ra điều đó được sao!”
Cô hét lên, vùng khỏi tay tôi đến nỗi rơi cả chiếc áo choàng, “Ôi, cút xéo đi!” và đùng đùng lao ra khỏi căn nhà tròn, nhưng khi chúng tôi tụ tập để ăn tối, cô vội chạy đến nắm lấy tay tôi thì thầm, “Cháu xin lỗi, ông chú thân mến hay lo lắng. Cháu sẽ cẩn thận. Cháu hứa đấy.”
Khi chúng tôi đến nhà ông bà Gridley, tôi mới hiểu tại sao lúc trước lại có tiếng máy bay: đang chờ sẵn trong phòng khách là hai chàng sĩ quan Bồ Đào Nha điển trai, đại úy Teixeira và trung úy Costa Silva từ doanh trại Vila Gonealo, và tôi thấy họ rớt cả mắt ra ngoài khi hai cô gái của chúng tôi xuất hiện trong chiếc váy ngắn. Ngay lập tức không khí buổi tối sôi nổi hẳn lên, nhưng sự hiện diện của hai sĩ quan không chỉ là xã giao; nó minh chứng cho sự chu đáo của hai vợ chồng Gridley, vốn đã không ít lần nghe các bạn trẻ than thở về nỗi thiếu thốn âm nhạc. Chiều hôm đó bà Gridley đã gọi điện đến doanh trại hỏi xem có ai có đĩa nhạc hiện đại không, và đại úy Teixeira nói, “Tôi có một ít, nhưng Costa Silva có nhiều đĩa hay lắm.” Anh còn có cả máy bay và máy quay đĩa, vậy nên lúc này đây, trước bữa tối, anh xếp đĩa thành chồng, đặt loa ở khoảng cách vừa phải, và mỉm cười.
“Thử đoán xem bài gì đầu tiên nào,” anh nói tiếng Anh khá lưu loát. Tôi có thể nhận thấy nét ngại ngùng trên khuôn mặt các bạn trẻ, dường như thể họ đang nghĩ đến Glenn Miller hay Benny Goodman. Khi bài “Aquarius” bật lên, với giọng ca mạnh mẽ và nhịp điệu sôi động, họ ồ lên mừng rỡ, và Monica nắm tay Costa Silva xoay vài vòng, hét vang át cả tiếng nhạc, “Anh được thăng chức đại tướng!” Ngay sau đó giọng hòa âm của ban nhạc Fifth Dimension gào thét, “Let the sunshine in!...” và chúng tôi yên vị nghe một chương trình âm nhạc lặp lại những gì chúng tôi đã được thưởng thức ở Torremolinos bốn tháng trước đây, chỉ khác là các đĩa hát mới hơn.
Tôi hỏi đại úy Teixeira làm sao có được những đĩa đó, vì anh vốn đóng quân tại một trong những vùng xa xăm nhất của châu Phi, thì anh giải thích, “Trong một tạp chí âm nhạc từ London chuyển đến, chúng tôi thấy danh sách những bài hát được ưa thích, vì thế mỗi lần lái máy bay đưa khách lạ đến khu bảo tồn động vật hoặc xuống con đập ở Cabora Bassa và được hỏi, ‘Chúng tôi có thể gửi gì từ New York cho các anh?’ chúng tôi lại đưa cho họ một danh sách đĩa hát và địa chỉ của hãng Sam Goody. Ông xem đây!” Anh lật qua các album và tôi thấy có Octopus, Cream, Led Zeppelin và The Mamas and the Papas. Trước sự ngạc nhiên của ông bà Gridley, những người vốn không quen nghe thể loại nhạc này, tôi đề nghị Silva Costa bật bài “Creeque Alley” trong album cuối cùng, và khi những giai điệu quen thuộc của nó tràn ngập gian phòng khách nhỏ, tôi lại nghĩ bài hát này thật đương đại: không hay ho, không đặc sắc, không cống hiến bất cứ gì hảo hạng ngoại trừ tính toàn diện, và cả thực tế là nó mô tả những gì xảy ra cho các bạn trẻ mà tôi quen biết.
Đĩa hát tiếp theo mang đến một quãng thời gian giải lao thú vị. Nó bắt đầu khi Cato tuyên bố, “Đây là nhạc hiệu của chúng tôi.” Các hợp âm đầu tiên vừa vang lên, Monica đã nhảy đến trước máy quay đĩa để bảo vệ nó theo đúng cách một con hổ mẹ bảo vệ đàn con của mình. Tôi không hiểu cô định làm gì, nhưng các bạn trẻ khác thì biết, vì họ đã nhận ra khúc nhạc ấy và phá lên cười giễu cợt. Hiển nhiên sự trêu chọc nhắm vào tôi, và rốt cuộc tôi cũng vỡ lẽ. Bài hát ấy là “Lucy in the Sky with Diamonds”, và nó cũng có vẻ vô hại như lần đầu tôi được thưởng thức.
“Savonarolad[119] của chúng ta sẽ đập nát cái này cho mà xem,” Monica cảnh báo Costa Silva. Rồi, như thể chưa hề có cuộc tranh cãi trong căn nhà tròn, cô xoay người hôn lên má tôi, và bất chấp cơn giận lúc nãy, tôi vẫn muốn tiếp tục trông nom cô.
Sau bữa ăn tối chóng vánh, chúng tôi nghe nhạc cho tới tận nửa đêm, rồi tôi nói, “Các sĩ quan này phải về doanh trại, chúng ta cũng phải ngủ một chút,” nhưng đại úy Teixeira nói, “Trời mưa thế này thì chúng tôi không thể bay khỏi đây được,” còn hai cô gái kêu lên, “Ai cần ngủ chứ?” Tôi nhìn bà Gridley, bà nhún vai nói, “Ngày mai không ai bận công việc gì mấy,” vì vậy chúng tôi nán lại, Joe mải mê lục tủ sách của ông Gridley để tìm kiếm thông tin về linh dương đen, rồi khoảng ba giờ sáng Costa Silva tình cờ đặt vào máy một ca khúc mới nói về hành xử của các bà nội trợ ở Pompell trong những ngày trước khi núi lửa hoạt động - tên bài này là “The Yard Went On Forever” - và ông bà Gridley đột nhiên nghe rất chăm chú, khi bản nhạc kết thúc, bà Gridley hỏi, “Anh bật lại một lần nữa được không?” vậy là chúng tôi ngồi đó, chín người cả thảy, lần đầu tiên trong đêm tất cả cùng hiểu một giai điệu chung. “Bài này hay lắm,” bà Gridley phát biểu.
“Bài nào cũng hay,” Monica nói.
“Tôi cho hẳn là thế,” bà Gridley tán thành. “Giá tôi hiểu được cái thứ inh ỏi ấy, chắc tôi sẽ thấy nó hay thật.” Bà là một phụ nữ cứng cỏi, quen thuộc rừng rậm và sa mạc, và cứ hễ liên quan đến châu Phi là bà lại có giác quan thứ bảy. Hướng ánh mắt về phía Cato, bà nói, “Tôi đồ hai chúng ta có thể nghe cùng loại nhạc, giả sử có bao giờ tai chúng ta hòa điệu được với nhau.”
“Không phải trong thế kỷ này,” Cato đáp.
“Tôi không nghĩ đến thế kỷ này,” bà nói. “Tôi đã năm mươi hai tuổi rồi và sẽ chết trong hai mươi năm nữa. Cậu hai mươi hai và sẽ chết trong năm mươi năm nữa. Có vẻ như chúng ta xong thế hệ của chúng ta rồi, nhưng chúng ta có thể hy vọng là đến năm 2050 điều hợp lý nào đó sẽ được thực hiện.”
“Bà cho rằng sẽ thế sao?” Cato hỏi.
“Không. Thế thì quá sớm. Nhưng chúng ta có thể lấy đó làm mục tiêu chung.”
Bà rơm rớm nước mắt khi đến lúc hôn từ biệt Monica. Hai sĩ quan Bồ Đào Nha đã thiếp ngủ trên trường kỷ và một trong hai chiếc ghế tựa lúc chúng tôi rời khỏi đó, còn trên đường băng máy bay của họ vẫn đậu dưới mưa. “Từ bây giờ sẽ chẳng còn mấy khách tham quan,” bà Gridley vừa nói vừa quan sát bầu trời. Bà hỏi chúng tôi định đi đâu. Tôi đáp, “Quay về Geneva,” còn Gretchen nói, “Con tàu Hy Lạp cập cảng Casablanca và đêm hôm nọ chúng cháu đã quyết định sẽ đi Marrakech.”
“Đó không phải nơi thích hợp với Monica,” bà Gridley nói, nhưng Gretchen thông báo, “Anh Joe phải giải quyết một vài vấn đề với hội đồng tuyển quân ở đó.”
Khi chuẩn bị lên đường, Cato bắt tay ông bà Gridley nói, “Đây là chặng dừng chân tuyệt nhất ở châu Phi,” và bà Gridley đáp lại, “Thật hữu ích, được nói chuyện với một thanh niên có thể thể hiện bản thân mình giỏi như vậy. Có thể đến khi cậu chết, tình hình sẽ sáng sủa hơn một chút... không nhiều lắm... nhưng cũng một chút.”
Cato nói, “Kể cũng lạ. Ở châu Phi tôi đã gặp người Bồ Đào Nha và Boer, các thẩm phán Anh, thánh nhân Ả rập, thủy thủ Mỹ, và đầu bếp Tàu. Nhưng tôi chưa gặp một người da đen chết tiệt nào... tức là, qua giao tiếp xã hội.”
“Họ vẫn chưa sẵn sàng lộ diện,” bà Gridley nói.
“Họ sẽ sẵn sàng thôi,” Cato tiên đoán.
Chuyến thăm Moçambique đáng lẽ phải kết thúc bằng vẻ đẹp của đàn linh dương đen hay không khí thân mật trong đêm nghe nhạc tại nhà ông bà Gridley, nhưng thực tế lại không phải vậy.
Khoảng năm giờ sáng, tôi tỉnh giấc vì bị lay mạnh và bởi giọng hoảng hốt của Joe. “Ông Fairbanks! Chúng tôi cần ông! Cato có chuyện.”
“Cậu ấy đã làm gì?”
“Cậu ấy đã chích vào tĩnh mạch. Tôi e cậu ấy sắp chết.”
Tôi vội mặc quần vào rồi phóng sang căn nhà tròn phía bên kia bãi cỏ. Tôi lao qua Monica lúc này đang đứng trên ngưỡng cửa vò đầu bứt tai, nhìn chằm chằm vào khoảng không với đôi mắt trống rỗng. Gretchen thì vừa khóc vừa cúi xuống giường đắp khăn lạnh lên vầng trán đẫm mồ hôi của Cato. “Trời ơi, anh ấy sắp chết rồi!” cô khóc nức nở, và tôi có thể thấy những cơn co giật khủng khiếp đang hành hạ thân xác anh.
Việc đầu tiên tôi làm là chộp lấy cánh tay trái anh rồi nhìn vào mạch máu, và bằng chứng hiện lên rõ rành rành. Ngay cả trên làn da sẫm màu của anh, một chấm nhỏ hơi sưng vẫn cho thấy dấu vết của một mũi tiêm dưới da. Bất chấp lời hứa với Joe và cam đoan ngạo nghễ với tôi, anh lại làm chính điều anh đã thề sẽ không bao giờ làm. Tôi ngước mắt lên, và Gretchen nói, “Monica quấy rầy anh ấy hơn một giờ. Bạn ấy bảo sẽ không sex siếc gì nữa nếu Cato không theo kịp bạn ấy. Từ trong nhà chúng cháu vẫn nghe thấy tiếng bạn ấy la hét.”
Tôi quay lại nhìn Monica, lúc này vẫn run rẩy cạnh cửa, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Tôi những muốn lay gọi cô, đưa cô ra khỏi thế giới tối tăm đáng sợ đó, làm cho cô nhận thức được hành động kinh khủng của cô.
Tôi quay lại với Cato, anh đã bắt đầu một loạt cơn co rút dữ dội, mà bất cứ cơn nào cũng có thể chấm dứt bằng cái chết. Có vẻ như anh đã tiêm một liều độc hại, và tôi cũng đâm hoảng sợ không kém các bạn trẻ. Tôi ra hiệu cho Joe và bảo anh, “Tốt hơn cậu nên mời bà Gridley đến. Chuyện này chúng ta không đủ khả năng xử lý đâu.”
Joe chạy đến ngôi nhà nhỏ của ông trưởng trạm và quay về cùng với bà Gridley, mang theo cả đồ sơ cứu. Bà tiến thẳng đến bên giường và bắt đầu kiểm tra tình trạng của Cato, “Cậu ấy sắp chết rồi!” bà khiếp sợ kêu lên. “Cậu ấy đã làm cái quái gì thế này?” Bà quan sát tay anh và thấy vết chích vào mạch máu chính.
“Dìu cậu ấy đi quanh xem,” bà hướng dẫn Joe và tôi. “Làm như vậy có thể không đúng cách, nhưng chàng trai này sắp chết rồi, ít nhất nó cũng có thể khôi phục khả năng tuần hoàn máu.”
Vậy là chúng tôi vực anh ra khỏi giường, quàng hai tay anh qua cổ chúng tôi và dìu anh đi tới đi lui. Anh không nặng lắm vì trọng lượng không vượt quá mức, và một lúc sau anh đã bắt đầu thở sâu được.
Đến rạng sáng, có vẻ như anh sẽ qua khỏi, vì vậy chúng tôi nhẹ nhàng đặt anh trở lại giường. Chỉ lúc ấy chúng tôi mới nhận thấy Monica đã ngủ ngon lành trên sàn nhà. Trông cô giống như chú mèo con chơi đùa đã mệt, và Joe giúp bà Gridley nâng cô lên đặt nằm bên cạnh Cato. Nhưng trong lúc dém chăn quanh khuôn mặt xinh đẹp xanh xao của cô, người đàn bà Scotland nói, “Đáng tiếc cô ta không phải người nhận liều thuốc chết người ấy.”
• Chú thích •
[100] Boer: Người Hà Lan định cư ở Nam Phi từ thế kỷ 17, hiện nay họ được gọi là người Afrikaner và chiếm 60% số người da trắng ở Nam Phi.
[101] BOSS: Bureau Of State Security: Văn phòng An Ninh Quốc Gia.
[102] Một đảo san hô nhỏ tại cửa vịnh Mossuril bên bờ biển Nacala ở phía Nam Moçambique.
[103] Đơn vị đo chất lỏng, bằng 4,54 lít ở Anh; 3,78 lít ở Mỹ.
[104] Lusitania là một tỉnh của đế chế La Mã xưa, gồm phần lớn diện tích Bồ Đào Nha và một phần diện tích Tây Ban Nha ngày nay.
[105] Thành phố Ả rập, nơi sinh ra Muhammed. Hajj là cuộc hành hương của tín đồ Hồi giáo tới thánh địa Mecca.
[106] Hốc tường trong nhà thờ Hồi giáo, đánh dấu hướng của thánh địa Mecca, cũng có nghĩa là hướng mà các tín đồ đạo Hồi nên quay mặt về trong khi cầu nguyện.
[107] Người da đen (tiếng lóng không thiện ý).
[108] Nguyên văn: Middle Passage: thuật ngữ dùng để gọi hành trình bắt buộc của những người nô lệ từ châu Phi đến châu Mỹ, được gọi như vậy do nó nằm ở phần giữa lộ trình thương mại tam giác xuyên đại dương trong suốt các thế kỷ từ 15 đến 19, trong đó tàu buôn từ châu Âu sang châu Phi nhận nô lệ da đen để chở sang châu Mỹ bán rồi sau đó chở rượu và mía quay về châu Âu.
[109] Jan van Eyck (1380-1441): Họa sĩ người Hà Lan.
[110] Maurice Maeterlinck (1862-1949): Nhà thơ, nhà soạn kịch người Bỉ.
[111] Người khám phá Moçambique vào năm 1496.
[112] Theo Cựu Ước, nữ hoàng xứ Sheba (phía Nam Yemen) đã đến triều kiến vua Solomon của Israel và cùng ông dệt nên một chuyện tình đẹp. Moçambique được cho là nơi bà thường đến chơi.
[113] Một cái ôm thật chặt.
[114] Little Casino và Big Casino, từ lóng chỉ hai cách trốn quân dịch trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam: giả vờ bị đồng tính hoặc nghiện ma túy nặng.
[115] Paul Josef Goebbels: (1897-1945) Bộ trưởng bộ Tuyên truyền Đức quốc xã, uống thuốc độc tự sát khi quân Đồng minh đánh chiếm Berlin.
[116] Đảo Moçambique.
[117] Ám chỉ chiến dịch đẫm máu của Ấn Độ năm 1961 nhằm đòi lại Goa từ tay Bồ Đào Nha.
[118] John Keats (1795-1821) và Percy B. Shelley (1792-1822), hai nhà thơ lãng mạn Anh.
[119] Girolamo Savonarola (1452-1498): Linh mục Ý, nhà cải cách tôn giáo và chính trị, bị thiêu sống vì tội dị giáo.