Là người trẻ trung, đang yêu, được ở Pamplona, vào tháng Bảy, ấy chính là niềm hạnh phúc thần tiên.
Về mặt lý thuyết, các cuộc đấu bò ở Pamplona được tổ chức là để tôn vinh bò rừng. Chín cuộc đấu, mỗi cuộc sáu con, vị chi là 54 con. Năm vừa qua, trong số đó có 21 con không đủ cân nặng, 14 con bị cưa sừng, 6 con dữ quá phải cho uống thuốc an thần pha vào nước trong bãi quây, và 5 con to nhất bị kìm cho bớt hung hăng bằng cách thả những bao xi măng ba trăm pound từ trên độ cao bảy foot xuống lưng chúng.
Người khờ dại thì phiêu dạt, người khôn ngoan thì phiêu du.
• Thomas Fuller
Khi J. Edgar Hoover tuyên bố là không có công dân đứng đắn nào tin tưởng được những người để tóc và râu dài, Claude đã phát biểu với anh phóng viên thường trú của Associated Press, “Thế thì đúng là ông ta nói về Chúa Jesus và Ulysses S. Grand[85] rồi.”
Chớ để đến ngày mai việc bạn có thể làm được hôm nay, bởi vì nếu hôm nay bạn thích việc ấy, ngày mai bạn còn có thể làm lại được.
Hãy ngoan ngoãn chấp nhận đi, tôi nghĩ là tôi yêu em.
Ông già tôi quát tháo om sòm, “Mẹ kiếp, con phải tin vào năm mươi tám năm kinh nghiệm của cha chứ.” Nhưng thật ra những gì ông có chỉ là một năm kinh nghiệm lặp đi lặp lại năm mươi tám lần.
Hãy tỉ tê tâm sự với em rồi em sẽ theo anh đi bất cứ đâu.
Người đàn ông duy nhất gạ gẫm tôi suốt đêm là một lão già đã bước vào thời kim loại. Bạc trên tóc, vàng trên răng và chì trong mông đít.
Tuổi già khó tính và tuổi trẻ không thể sống chung được.
• Shakespeare
Lòng can đảm đích thực là cho dù không có người chứng kiến vẫn làm tất cả những việc mình có khả năng làm trước bàn dân thiên hạ.
• La Rochefoucauld
Dường như một quy luật bất di bất dịch của bản chất con người là mỗi thế hệ mới lại ăn mặc, nói năng, làm tình và nghe nhạc theo cách được tính toán kỹ càng nhất để chọc giận các bậc cao niên.
King Kong đã chết vì tội lỗi của chúng ta.
Chắc hẳn thánh Paul là một bậc hiền nhân hiểu rõ
Niềm khát khao, khát khao nửa vời ấy
Được thấy cả phía bên kia lối rẽ cuối cùng.
Khi Ulysses diễn thuyết trước Hội Phụ huynh và Thầy giáo Athens.
Và kể cho các phu nhân danh giá Hy Lạp nghe
Về những điều kỳ thú mình từng thấy, hết sức kỳ thú,
Các phu nhân bất bình, “Chàng trai, đúng là cậu vừa hút cần sa.”
Ta cảm thấy niềm khát khao, khát khao nửa vời ấy,
Muốn chơi cho lão Lewis B.[86] khả kính một vố thật đau
Và để trốn thoát, con tàu của ta sẽ dong buồm vượt qua các vì tinh tú
Cho đến khi gặp được Ulysses
Và chúng ta thẳng tiến ra ngoài eo biển.
Nếu bạn tìm cách tử vì đạo thì thánh Paul là bạn đường,
Ông biết cách và đã kết liễu cuộc đời trên đoạn đầu đài.
Nếu bạn muốn bị kỳ thị và cô lập,
Thì Ulysses là bạn đường. Ông đã trừng trị toàn bộ kẻ thù.
Nhưng nếu muốn tìm kiếm bản thân thì, em bé ơi, hãy theo ta,
Bởi vì ta thực sự lạc lõng, lạc lối, lạc loài,
Và chính trong lúc lẻ loi, chúng ta sẽ tìm được bản thân.
Một người rời bỏ gia đình để sửa đổi bản thân và người khác là một triết gia; nhưng nếu ông ta đi hết nước này sang nước khác do bị tính hiếu kỳ mù quáng thôi thúc thì đó chỉ là kẻ lang thang.
• Oliver Goldsmith
Một nước lớn không thể tiến hành một cuộc chiến tranh nhỏ.
• Công tước Wellington
Miền Nam Florida đầy rẫy những người sáu mươi tám tuổi suốt đời lúc nào cũng chuẩn bị làm một việc lớn lao nhưng cứ chờ mãi cho đến khi việc đó an toàn. Bây giờ thì an toàn rồi và họ đã sáu mươi tám tuổi.
Thế giới này không có người lãnh đạo. Hãy làm con người bình thường bên trái bạn thay đổi quan điểm.
—★—
Ở phía Bắc Tây Ban Nha, nơi nhiều ngả đường quy tụ, có một cây cầu La Mã lâu đời với vẻ đẹp phi thường được đặt tên, vì những lý do lịch sử không ai nhớ nổi, là Puenta La Reina - cầu Nữ hoàng, chứ không phải Cầu của Nữ hoàng như một số người sẽ dịch.
Khi Harvey Holt và tôi đến địa điểm đó vào lúc chiều tà ngày mồng năm tháng Bảy trong chuyến đi từ Madrid lên phía Bắc, chúng tôi cảm thấy niềm phấn chấn trào dâng mặc dù trước đó chúng tôi đã du lịch cùng nhau tới mười một lần. Holt nhìn đồng hồ tốc độ và hài lòng nói, “Chỉ còn đúng sáu dặm nữa thôi,” rồi chúng tôi hướng về phía những quả đồi thấp nằm bên kia sông.
Hết sáu dặm ấy, chúng tôi vẫn chưa vào được thành phố Pamplona mà đến đỉnh một ngọn đèo cho phép nhìn bao quát xuống cả một quang cảnh bao la trước mắt. Nó được đặt tên là Puerto del Perdón. Đèo Xá tội, và buổi chiều hôm ấy, khi chúng tôi đến đó, Holt dừng xe lại như anh vẫn thường làm hàng năm, và chúng tôi bước ra để được ngắm thêm lần nữa một quang cảnh khiến chúng tôi xúc động ngay lúc ấy cũng như hồi chúng tôi được nhìn thấy lần đầu.
Trên dãy đồi thấp trước mắt có một cụm tháp vuông màu nâu đỏ tồn tại từ thời La Mã khi khu vực trung tâm này bị chiến tranh tàn phá. Những tòa tháp này đều đẹp đẽ uy nghi, ngày nay không còn được sử dụng mấy nữa, nhưng chúng góp phần làm cho phong cảnh thêm nổi bật, thậm chí là độc đáo, vì dường như chúng sắp xếp mọi vật vào đúng vị trí, như thể muốn tuyên bố, “Chúng tôi là những linh vật hộ vệ mà xã hội văn minh tập hợp xung quanh.”
Vượt qua cụm tháp tám dặm nữa, đến rìa dãy núi Pyrenees, chúng tôi có thể thấy những chóp nhọn trắng phau của thành phố Pamplona nép mình dưới bầu trời đã chuyển thành màu xanh thẫm vì hoàng hôn đang buông. Chắc hẳn Charlemagne có cảm giác tương tự khi ngó xuống Pamplona trên đường quay về Pháp sau khi chiến đấu với quân Moor. Ignatius Loyola cũng đã đứng tại địa điểm đó trong những ngày trước cải đạo, khi còn là một kẻ hung hăng chuyên gây lộn từ một ngôi làng miền Tây đi đến nơi này tìm vận may. Và cũng chính từ chỗ này Ernest Hemingway đã chiêm ngưỡng thành phố trong những ngày đầy ý nghĩa khi ông đang thai nghén tác phẩm quan trọng đầu tiên của mình.
Chiều hôm đó, chúng tôi đã thấy một Pamplona hẻo lánh, thanh bình, và thật khó tin là trong chín ngày sắp tới nơi ấy sẽ là trung tâm náo nhiệt của thế giới.
Gần trung tâm Pamplona có một tòa thị chính lâu đời, và cứ đến ngày mồng năm tháng Bảy hàng năm trông nó lại có vẻ bị vây hãm, tưởng như quân Visigoth từ dãy Pyrenees sắp ầm ầm kéo xuống, vì toàn bộ tủ kính cửa hàng trong khu vực đều bịt ván kín mít, bốn cảnh sát được tăng cường ở những nơi bình thường chỉ cần một người canh gác, các cửa hiệu bình chân như vại thì được khóa móc với lời chú giải mà mọi người dân thành phố đều hiểu: Cửa hiệu đóng cửa trong chín ngày.
Chúng tôi vừa tới Pamplona, Holt liền đi thẳng đến tòa thị chính xem tấm biển gắn vào tường: Độ cao trên mực nước biển tại Santander: 443,80 mét. Như mọi đại diện kỹ thuật khác, Holt tính theo mét chứ không theo foot, và anh thường lấy làm lạ không hiểu sao Hoa Kỳ chưa chuyển sang hệ thống hợp lý này: Độ cao so với mực nước biển, trên 1.450 foot, lý giải tại sao trời sẽ rất lạnh trong thời gian lễ hội San Fermín: “Tôi luôn cười nhạo những người Mỹ cho rằng vì Pamplona ở Tây Ban Nha cho nên chắc chắn phải nóng bức. Họ quên mất thành phố này còn nằm trên núi nữa.”
Đằng sau tòa thị chính là một quảng trường nhỏ bẩn thỉu, một phía dẫn tới chợ, phía kia tiếp giáp một trong những nhà thờ lạ mắt nhất châu Âu. Nó có tên Iglesia de Santo Domingo và chắc hẳn nó phải rất cổ kính vì mặt sàn gian giữa giáo đường nằm thấp thua mặt đường hiện tại bốn mét rưỡi, vốn được gạch vụn của chiến tranh và rác rưởi hàng ngày đắp cao dần lên qua bao thế kỷ. Mặt tiền nhà thờ là một thứ rất đáng xem vì nó đã bị xây gạch bít kín đến mức trông giống như một tòa chung cư với hàng lan can giả, cửa sổ giả, quả cầu cẩm thạch giả và một tháp chuông được làm giả rất tài tình.
Thực ra, nếu chỉ nhìn từ xa, một du khách không được cho biết trước sẽ hoàn toàn không thể phát hiện nổi một ngôi nhà thờ tọa lạc ở đó, bị mặt tiền chướng mất và các tòa nhà lấn chiếm che mất dạng. Không có bất cứ phần nào của gian giữa và nơi cầu nguyện lộ ra trước mắt mọi người; hàng bao thế kỷ trước chúng đã bị các hiệu buôn bán nhỏ và nhà cửa phong tỏa. Santo Domingo là một di tích bị các nhu cầu của cuộc sống áp đảo.
Holt và tôi đi về phía một tòa nhà trông khác thường đến nỗi làm cả chái phía Tây nhà thờ bị mờ nhạt hẳn. Nó được đặt tên là Bar Vasca, một sự sắp xếp phá cách các phòng thành năm tầng, mỗi tầng được xây thêm vào một thời đại khác nhau. Trông ra phố Santo Domingo chạy dài từ ngôi nhà thờ bị che khuất lên đến tòa thị chính, tầng trệt được bố trí làm một quán bar tối tăm, trần thấp mà trong chín ngày tới sẽ là trung tâm cuộc sống của chúng tôi.
Quanh bốn bức tường, trên những bệ cao cách mặt sàn gần hai mét rưỡi là hai mươi tư thùng rượu vang sherry, rượu đồ bình dân, rượu trắng hảo hạng, rượu vang hồng pha chế kém chất lượng và cognac nồng độ cao. Thùng nào thùng nấy đều đã thẫm lại theo thời gian, đai đồng sáng lấp lánh trên gỗ bóng loáng. Dưới những thùng rượu to đùng ấy là một dãy hốc tường ấm cúng nơi khách có thể ngồi tránh cảnh ồn ào náo nhiệt thường trực ở khu vực giữa quán, và trong những góc nhỏ khuất nào đó treo vô số tấm gốm tổng kết trí tuệ miền quê Tây Ban Nha:
“Nếu rượu gây trở ngại cho công việc, hãy từ bỏ công việc.”
“Một đêm uống rượu đã đời bằng cả một năm ngẫm sự đời.”
“Điều tệ hại nhất trên thế giới là một bạn nhậu có trí nhớ.”
“Muốn uống để quên sầu, xin trả tiền trước khi bắt đầu.”
“Đối với một ông già, ngay cả rượu vang quá hạn cũng giống như sữa mẹ.”
“Người nào ăn ngon tại bàn này và uống say tại quán này, sẽ chết vì một căn bệnh khủng khiếp: tuổi già.”
Hàng năm, cứ gần đến lễ hội là Bar Vasca lại bắt đầu chật ních những kẻ thành tích bất hảo từ khắp châu Âu. Họ là những người Thụy Điển tìm được niềm vui lớn lao trong nắng ấm và bò rừng, những người Đức táo bạo chạy ngay trước sừng bò, những sinh viên Mỹ từng đọc về Pamplona trong giờ Anh văn hồi năm thứ hai, cả một nhóm thợ đốn gỗ xứ Basque cao to lực lưỡng.
Holt và tôi quay lại quán trọ này suốt mười một năm qua, và chúng tôi đến một phần vì âm nhạc ở đó - được chơi bằng những nhạc khí lạ như kèn ô boa dân tộc và sáo txistula - phần nữa để nối lại quan hệ với người đàn bà mà tên được lấy đặt cho quán, Raquel La Vasca: người xứ Basque.
Bà là một phụ nữ to béo, người bạn đời thích hợp của thợ đốn gỗ, và khả năng ăn uống thì thật ghê gớm. Buổi tối hôm đó, chúng tôi tới Plaza de Santo Domingo, Holt đỗ xe, lấy túi xách và máy ghi âm ra, đi phăng phăng qua con đường rải đá cuội, đến cửa quán và cất tiếng gọi, “Raqueir!” Bà chạy từ sau quầy rượu ra đón chúng tôi, hai cánh tay khỏe mạnh nhấc bổng Holt lên và hôn vào cả hai má anh. Bà tầm sáu mươi tuổi, chúng tôi đoán như vậy, nhưng vẫn nhanh nhẹn như bao năm trước, hồi ông chồng người Pamplona tậu quán này. Hai vợ chồng đã cùng làm cho quán trở thành chốn đại dương, tụ điểm của tất cả những người thực sự say mê lễ hội.
“Thức ăn đã xong chưa?” Holt hỏi, hiếm khi tôi thấy anh để lộ vẻ hứng thú rõ ràng như vậy.
“Năm nay cậu làm việc ở đâu, chú hổ con?” người đàn bà phốp pháp hỏi.
“Afghanistan.”
Raquel ngây người nhìn anh, chẳng hiểu gì về từ này. Rồi bà vỗ tay đánh đét vui mừng được gặp lại bạn cũ và gọi các cô phục vụ bưng đồ ăn lên.
Món ăn ở Bar Vasca đáng ra phải dùng xẻng mà xúc, nhưng được cái ngon. Holt ăn ngày ba bữa giống hệt nhau. Anh nhét khăn ăn vào cổ áo chuẩn bị thưởng thức mòn ăn anh thích hơn hẳn mọi món khác. “Đồ ăn cho chú hổ con đây rồi,” bà Raquel nói vẻ cổ vũ trong lúc giúp cô phục vụ bưng một liễn to đến bàn chúng tôi. Trong liễn có đậu trắng chắc hạt nấu lẫn với thịt bắp và một vài dược thảo nào đó làm cho món vừa thơm vừa bùi như quả hạch. Theo thường lệ, khi dọn món pochas cô phục vụ cứ múc liên tục từng muôi lớn vào đĩa cho đến khi khách nói, “Basta!” - Đủ rồi! Bà Raquel tự tay phục vụ món đặc sắc của mình một cách khoa trương, và Holt chỉ mỉm cười chờ cho đến khi đĩa đầy tú ụ. Cuối cùng, anh hô, “Bastar,” và bữa ăn bắt đầu.
Cùng với pochas, anh còn dùng món salad tươi chế biến từ rau xanh hồi đó đang vào thị trường miền Bắc Tây Ban Nha và một suất nhỏ bò hầm nhừ, mà nếu có thể, sẽ được nấu từ thịt những con bò bị loại ở trường đấu hôm trước. Đồ tráng miệng là bánh vani; đồ uống là một thứ rượu vang đỏ khá nặng mà bà Raquel mua ở một nông trại vùng Rioja tận miền Tây.
Tôi đã đến cái tuổi khó tiêu hóa nổi món đậu trắng nấu với bắp bò, vì vậy đành bằng lòng với salad tươi và bò hầm, và suốt mấy ngày hội tôi cứ ngày hai bữa ăn độc có thực đơn này. Đồ ăn chắc dạ chế biến sơ sơ của miền Bắc ấy cũng ngon như những món tôi đã được thưởng thức ở bất cứ nơi nào trên thế giới, và có Raquel ngồi cùng bàn, chia sẻ mọi lời đồn đại của năm vừa qua, trong khi hai anh thợ đốn gỗ hát hò trong góc quán là một kỷ niệm mà tôi luôn nâng niu. Như trước đây tôi đã nói, quán này là thánh đường đối với Holt.
Lúc này Raquel gọi với ra từ sau quầy rượu, “Senor Fairbanks, mấy los jóvenes ông giới thiệu đã đến đây từ đầu buổi chiều. Họ đang ở trên gác.”
“Tôi có giới thiệu ai đâu.”
“Họ bảo ông giới thiệu. Họ từ Algarve đến.”
“Ôi, thế thì tuyệt quá!” Tôi rất mừng nghĩ đến việc được gặp lại bạn bè, mừng vì họ đã nhớ được Bar Vasca. Tôi dợm bước lên cầu thang chào họ, nhưng người phụ nữ phốp pháp đã gọi, “Ông ăn xong đi. Này, Manolo. Gọi mấy thanh niên Mỹ xuống đây,” và ngay sau đó là tiếng huyên thuyên ồn ào trên cầu thang khi sáu bạn trẻ ào xuống chào tôi.
“Chú không trông thấy xe của chúng cháu sao?” Monica vừa kêu lên vừa nghiêng người qua bàn để hôn tôi. Họ chỉ ra cửa sổ, đúng thật là ngoài quảng trường, không xa nơi chúng tôi đỗ xe, là chiếc pop-top màu vàng.
“Chúng cháu đã chán cảnh ngủ nghê tù túng rồi nên quyết định ăn ở cho ra trò,” Gretchen giải thích, và tôi đoán cô là người chi tiền phòng.
“Tôi muốn các bạn gặp anh bạn lâu năm của tôi,” tôi nói. “Anh ấy biết Pamplona rõ hơn bất kỳ người nào các bạn sẽ gặp - Harvey Holt, từ Afghanistan.”
Họ tiến lại tự giới thiệu và bắt tay Holt, tôi có thể thấy anh bối rối trước sự có mặt của Cato. Anh không hỏi thành tiếng, “Anh cùng đi với nhóm này ư?” nhưng có lẽ anh đang băn khoăn như thế.
“Ông có đến Pamplona thường xuyên không?” Monica hỏi thăm.
“Đây là năm thứ mười bảy.”
“Hết xảy!”
Holt nhìn cô gái Anh như định đề nghị cô giải nghĩa, nhưng anh chưa kịp mở miệng, các bạn khác đã hỏi dồn dập hết câu này câu khác, vậy là anh hết xúc thịt bò hầm đầy miệng lại giải thích về Pamplona.
Sau bữa ăn, các bạn trẻ tình nguyện đưa chúng tôi lên phòng, và Cato xách túi cho Holt, trong khi Joe vớ lấy đồ của tôi. Họ dẫn chúng tôi lên tầng ba, nơi chúng tôi đã trọ nhiều năm, đạp cửa phòng cho chúng tôi vào. Nơi đây có những phòng ngủ nhỏ mờ tối đã thành thân thuộc với chúng tôi, những ban công chúng tôi có thể xem đàn bò chạy, phòng vệ sinh tồi tàn cuối hành lang, phòng tắm dơ dáy không bao giờ có nước nóng, mùi thuốc diệt rệp không thể nào quên, tiếng ồn văng vẳng từ quảng trường, nơi ai đó đang so dây guitar.
“Chúng cháu cũng ở tầng này,” Gretchen nói và dẫn chúng tôi tới một phòng còn nhỏ hơn phòng của chúng tôi, trong đó Britta và cô đã cất đồ của mình. Ngay cạnh là một phòng không cửa sổ dành cho Yigal và Joe. Còn phòng thứ ba cực kỳ nhỏ là để cho Cato và Monica. Hành lý của họ đã ở trên giường và có thể thấy rõ là họ sống chung. Việc này được xác nhận khi Monica nói, “Cato và cháu sử dụng phòng này.”
Khi chỉ còn Holt và tôi trong phòng trọ, anh thì thầm hỏi, “Có phải ý cô ấy là cô ấy và cậu da đen ngủ chung không?”
“Họ đã như vậy mấy tháng rồi,” tôi đáp.
“Tôi nghĩ chắc mẹ cô ấy đau lòng lắm,” Holt nói với cảm xúc mãnh liệt.
“Mẹ cô ấy qua đời rồi.”
“Chắc bà ấy phải trở mình trong mồ mất.”
Những năm gần đây, Holt và tôi duy trì một nghi thức bày tỏ lòng quý mến mà với chúng tôi đã trở thành một phần của Pamplona như chính những lần nghỉ chân tại Puerto del Perdón và món pochas ở Bar Vasca, vì vậy chúng tôi hỏi các bạn trẻ xem họ có muốn tham gia không.
Chúng tôi cuốc bộ đến quảng trường có bãi đấu bò, mua một chiếc khăn tay đỏ rõ to rồi trịnh trọng đi đến bệ đá granit đặt bức tượng Ernest Hemingway bằng đồng rất đẹp, có râu và mặc áo cổ lọ. Tôi đan tay làm điểm tựa để Holt leo lên cổ bức tượng buộc chiếc khăn đỏ của Pamplona. Anh nhảy xuống, chúng tôi thảy đều vỗ tay hoan hô vì lúc này trông Don Ernesto hết sức hòa hợp với quang cảnh xung quanh. Không ai nghĩ ra được điều gì thích hợp để phát biểu, vì vậy chúng tôi quay lại quảng trường trung tâm tìm chỗ ngồi trong BarTxoco, ở đó các khách quen đến từ khắp châu Âu tíu tít chào hỏi Holt và bình luận về những lần hội trước.
Một cô gái Đức cầm bộ bưu ảnh nổi tiếng đến xin Holt chữ ký, Joe hỏi, “Ảnh gì đấy?” Cô gái Đức hỏi lại bằng tiếng Anh nghe rất hân hoan, “Anh ngồi cùng người này mà không biết ông ấy là ai ư?” Cô xòe bộ ảnh trước mắt các bạn trẻ của tôi, và tôi thích thú nhìn họ há hốc miệng xem cuộc đua bò buổi sáng năm 1953 đó.
“Ông làm việc này thật sao?” Yigal hỏi. Holt gật đầu, và chàng trai liền nói, “Chắc ông mất trí rồi.”
Monica chỉ tấm Holt ngã lộn đầu xuống đùa, “Nhìn cũng thấy là sau việc này thì ông ấy làm gì còn trí nữa.”
Britta bị mê hoặc bởi tấm ảnh chiếc sừng bò cắm vào ngực Holt, nên cô hỏi, “Cái sừng có đâm vào thật không? Có ngập sâu như trong ảnh không?”
Holt tỏ rõ vẻ không định trả lời, vì vậy tôi đáp thay là có và nắm tay Britta đặt vào ngực áo anh để cô sờ được đường lằn mà vết thương để lại. Cô giữ im tay ở đó một lúc, nhìn đăm đăm khuôn mặt cương nghị của Holt, rồi nói, “Chắc hẳn ông đã gần kề cái chết.”
“Thực ra,” Holt khẽ nói, “sừng bò không bao giờ cắm sâu được cả chục phân vào những cơ quan trọng yếu. Giống như vết sẹo do kiếm trong trận đấu tay đôi kiểu Đức. Trông đáng sợ, nhưng không nguy hiểm.”
Gretchen nhận thấy sự tương đồng với những tranh chấp ý kiến trong trường đại học bèn hỏi, “Có phải những người như ông bị áp lực xã hội thúc bách phải chạy với lũ bò?”
Holt nhìn cô chằm chằm. “Ý cô là gì, những người như tôi?”
“Ôi,” cô chỉ đám người dày đặc trong ảnh, “có rất nhiều người làm việc này cùng ông. Ý tôi là...”
“Thưa tiểu thư” - đây là một từ tỏ ý coi thường mà Holt dành cho những trường hợp thế này - “có vài nghìn người trên đường phố ấy và chắc chắn ai cũng có lý do chính đáng để có mặt. Còn tôi, tôi có mặt ở đó vì tôi thích.”
“Ý cô ấy là,” Cato xen vào, “điều gì đó làm ông bức xúc và ông cảm thấy buộc phải xuống phố để mà làm những việc như vậy.”
Holt nhìn hết người này đến người kia rồi nói, “Bọn trẻ ranh các cậu có thể bị áp lực của xã hội dồn ép. Tôi chỉ ham vui. Tôi làm quần quật mười một tháng mỗi năm và đến tháng thứ mười hai tôi đến Pamplona vui chơi. Các cậu biết đấy, đến Chúa cũng chỉ làm việc có sáu ngày, đến ngày thứ bảy ông ấy vui chơi.”
“Ông gọi thế này là vui chơi sao?” Yigal hỏi, chỉ tắm ảnh Holt đang lộn đầu xuống đất trong khi máu phọt ra nơi ngực.
Người đại diện kỹ thuật chưa kịp trả lời, cô gái Đức đã thu bộ ảnh và nói, “Các bạn phức tạp hóa quá rồi. Nhìn vẻ mặt ông ấy trong bức ảnh thứ hai các bạn không thấy ông ấy đang trải qua khoảnh khắc sung sướng sao?” Cô nghiêng người qua bàn hôn lên má Holt. “Ông ấy là người dũng cảm nhất, mấy ngày tới nếu để ý quan sát ông ấy, các bạn sẽ thấy thế nào là người đàn ông đích thực... tất cả các bạn.”
Ý kiến này chưa khiến Gretchen hài lòng. “Ông Holt, ý ông là trong chừng mực ông hiểu, ông không bị dồn ép bởi bất cứ thôi thúc mãnh liệt thầm kín nào? Bất cứ cảm giác hẫng hụt nào?”
Holt lắc đầu hỏi lại, “Thưa tiểu thư, tiểu thư có đến Pamplona đây vì một cảm giác hẫng hụt thầm kín nào không?”
“Có.”
Lời đáp khiến anh giật mình lúng túng mất một lúc rồi mới nói, “Cô thật khéo chọn chỗ để giải quyết cảm giác ấy nhỉ?” Anh đứng lên nhưng Gretchen đã túm tay kéo anh ngồi trở xuống ghế, “Ông Holt, chuyện này hoàn toàn mới mẻ đối với chúng tôi và chúng tôi đang cố gắng tìm hiểu. Ông làm ơn đi.”
“Được thôi. Nếu các cậu muốn hiểu Pamplona, sáng ngày mồng bảy xin mời dậy sớm, ra ngoài ban công, nghe tiếng ồn ào, chờ pháo thăng thiên nổ ở cuối phố rồi theo dõi sáu con bò đực và mười con bò thiến phi qua nhanh đến nỗi khó mà nhìn cho rõ. Chẳng có gì xảy ra cả, rồi khi mọi việc xong xuôi các bạn sẽ quay lại nhìn nhau nói, ‘Có gì to tát đâu?’ Và một người nào đó trong số các bạn, có lẽ là cô gái dễ thương này” - anh đặt tay lên tay Britta, rồi vội bỏ ra - “có lẽ trong tích tắc đàn bò lao qua, cô ấy sẽ thoáng nhìn thấy nét mặt một người - một người đàn ông trong trạng thái hoảng sợ đến kinh hồn bạt vía đang chạy chừng chục phân phía trước một con bò không hề có ý định động đến anh ta - và trong tất cả các bạn, cô ấy sẽ là người hiểu lờ mờ việc gì vừa xảy ra.”
Đối với Holt, nói như vậy là quá dài, nhưng anh quan tâm sâu sắc đến chủ đề này, nên sau hồi lâu ngừng anh nói tiếp, “Tất nhiên, nếu tình cờ đó lại là ngày một con bò nào đó điên lên húc vào một người ngay dưới ban công của các bạn, các bạn sẽ hiểu rõ hơn vô khối.”
Yigal tiến lên hỏi, “Nhưng ông làm việc này như một cách bù đắp điều gì đó, phải không?”
Tôi nhận thấy Holt không có cảm tình với Yigal, chắc hẳn anh liệt Yigal vào hạng Do Thái làm ra vẻ ta đây khôn ngoan hơn người, nên lúc này anh quay sang đối diện cậu thanh niên chắc nịch, “Này anh bạn trẻ, tôi không biết điều gì đang gặm nhấm anh - nhìn vẻ mặt lo phiền của anh thì tôi thấy là nhiều đấy - nhưng mọi vấn đề của tôi đều ổn thỏa. Còn bây giờ, tôi xin phép...”
Song anh không thoát được dễ dàng như vậy, vì Britta đã hỏi, “Ông nói ông làm việc mười một tháng một năm. Vậy ông làm việc gì?”
Holt đã đứng lên, nhưng khi nhìn xuống khuôn mặt Scandinavia dễ thương, anh có thể thấy chủ nhân của nó không tìm cách hỏi vặn anh. Cô gái thật sự muốn biết, anh đành ngồi xuống trả lời, “Tôi làm việc ở những nơi cô chưa bao giờ nghe đến... Kemajoran, Don Muang, Mingaladon, Dum-Dum... cứ hai năm chuyển chỗ một lần.”
“Vậy khi lễ hội Pamplona kết thúc... thì ở đâu?”
“Lại một nơi khác mà cô chưa bao giờ nghe nói. Chúng tôi bắt đầu lắp đặt Big Rally II ở Ratmalana... và tôi sẽ ở đó hai hay ba năm... sau đó lại một nơi nào đấy mà cô sẽ không biết ở đâu mà tìm.”
“Ông làm gì?”
“Tôi vừa nói rồi. Lắp đặt các Big Rally.”
“Trung tâm thông tin liên lạc cho sân bay,” tôi giải thích.
“Chắc là thú vị lắm,” Britta nói, “đi đây đi đó như vậy.” Cô ngừng lời như đang tận hưởng niềm vui sống, rồi lại chợt hăng hái hỏi, “Ông cho em biết, những nơi ấy có nắng không?”
“Chắc chắn là có nắng rồi.”
“Ý em là những nơi ấy có nóng không?”
Anh nhìn tôi bật cười. “Thưa tiểu thư bé bỏng,” - lần này đó không phải là từ có ý coi thường - “nếu tiểu thư coi ba mươi tám độ bách phân hết tuần này sang tuần khác là nóng, thì những nơi tôi làm việc quả có nóng.”
“Vậy thì nhiệt độ thực sự là bao nhiêu?” Cato thắc mắc.
Câu hỏi làm Holt bực mình và anh trả lời bằng cách nhún vai như muốn nói thời nay bất cứ người nào hiểu biết cũng dùng thang nhiệt độ bách phân. “Khoảng 100 độ F,” tôi nhắc riêng cho Cato nghe. Anh huýt sáo, “Thế thì nóng thật.”
Từ đầu đến giờ, Joe không nói câu nào. Lúc này anh mới nhoài người qua bàn làm một cử chỉ khác thường. Anh từ từ cởi khuy áo Holt cho đến khi vét sẹo lộ hẳn ra. Mắt nhìn chăm chăm vào vết sẹo, anh nói, “Ông đã ở đó.”
Britta, đang ngồi cạnh Holt, bèn quay người sang để nhìn cho rõ hai bên mép sần sùi của vết thương. Cô chỉ nhìn mà không nói tiếng nào, Monica thì lướt ngón tay dọc theo một bên mép vết sẹo, rồi đứng lên cúi chào. “Ông làm tôi kính phục,” cô nói.
Kinh ngạc vì cử chỉ thân mật tùy tiện đó, Holt cài lại khuy áo rồi nói, “Nếu các bạn thực sự quan tâm thì còn một vết hay ho ở mông trái đấy.” Anh đã bắt đầu tháo thắt lưng, nhưng Gretchen can, “Chúng tôi tin ông mà.” Britta quay sang tôi hỏi, “Có thật không?”
“Ba vết nữa,” tôi nói.
Britta nhìn thẳng vào mắt Holt nói, “Bây giờ chúng em đã thấy, ông hãy cho chúng em biết tại sao ông lại làm vậy.”
Holt cũng nhìn lại nói, “Bây giờ tôi cũng đã gặp các bạn rồi - ông Fairbanks từng kể với tôi về các bạn - hãy cho tôi biết tại sao các bạn lại làm vậy.”
“Làm gì?” Britta hỏi.
“Bỏ nhà ra đi... lang thang khắp châu Âu... hút cần sa... ngủ chung.” Nói đến ý cuối cùng, anh chằm chằm nhìn Monica.
“Đơn giản thôi,” Monica đáp. “Chúng tôi làm vậy vì cuộc sống ở nhà buồn tẻ hết chỗ nói.”
“Thế còn anh?” Holt hỏi Yigal.
“Tôi có nói, ông cũng không tin,” chàng trai Do Thái đáp.
“Chắc chắn tôi sẽ không tin.” Anh đưa mắt nhìn Joe chằm chằm, nhưng Joe phớt lờ, vì vậy Holt quay sang Gretchen, “Trông cô có vẻ hiểu biết.”
“Vì cảnh sát và con người,” Gretchen nói. “Cảnh sát ở Patrick Henry. Những người trong chính gia đình tôi.”
“Cô ấy muốn nói gì?” Holt hỏi tôi.
“Cảnh sát đã khiến cô ấy khốn khổ.”
“Có khi cô ấy đáng bị thế.”
“Còn con người,” Gretchen nói giọng đều đều, “là những kẻ ngớ ngẩn trong chính gia đình tôi.”
Holt đỏ bừng mặt, như thể cô đã chê trách cá nhân anh. “Một cô gái xinh đẹp, có giáo dục như cô không nên nói về cha mẹ như vậy,” anh nhắc nhỏ.
Cato không chờ đến lượt mình được hỏi. “Tôi đến đây, ông Holt, vì những người như ông ở Philadelphia buộc tôi đến đây.”
Holt gật đầu, không có ý kiến gì, rồi nhìn sang Britta, cô nói, “Em là kẻ đã thật sự trốn chạy. Em trốn chạy bóng tối... giá rét... cảnh đẹp ở miền bắc Na Uy.”
“Ngay lúc này ở đây cũng tương đối giá rét đấy chứ,” anh tiếp lời, nhận thấy Britta ăn mặc khá phong phanh.
“Nhưng ban ngày lại có mặt trời. Và chỉ cần mỗi ngày người ta có thể nhìn thấy ánh mặt trời một lát, mọi việc khác đều đáng được bỏ qua.” Giọng nói du dương với âm sắc Na Uy dễ thương của cô nghe thật hợp với Pamplona, Holt mỉm cười. Anh lại quay về phía Joe nói, “Anh vẫn chưa trả lời.”
“Tôi ở đây để tránh lệnh nhập ngũ,” Joe nói, bàn tay phải vuốt vuốt chòm râu.
Holt cứng người, nhìn chàng trai trừng trừng, đằng hắng hai tiếng rồi nói, “Tôi nghe có chính xác không? Anh đang ở tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự?”
“Vâng.”
“Và người ta đã gọi anh?”
“Vâng.”
“Và anh bỏ trốn?”
“Vâng.”
Holt đứng dậy, lùi khỏi bàn ba bước rồi quay lại nói với vẻ dứt khoát,
“Tôi không uống rượu với kẻ trốn lính. Ông Fairbanks, ông muốn uống thì uống, nhưng tôi sẽ bị trời đánh nếu làm vậy,” đoạn anh hiên ngang bước qua quảng trường chính.
Vài giờ sau, khi tôi đưa những người khác đi đường tắt về Bar Vasca và leo lên tầng ba, chúng tôi thấy trên cửa phòng Holt đã được đính phiên bản Pamplona tấm biển chỉ dẫn truyền thống:
Hiện tại bạn đang ở
PAMPLONA, TÂY BAN NHA
42° 48’ Bắc 1° 37’ Tây
Nếu bay dọc đường vĩ tuyến này theo hướng Đông, bạn sẽ nhìn xuống Orvieto, Sofia, Tashkent, Sapporo, Milwaukee, Detroit, Santiago de Compostela, Vitoria, Pamplona.
Nếu bay dọc đường kinh tuyến này theo hướng Bắc, bạn sẽ nhìn xuống Cherbourg, Leeds, Shetlands, Bắc Cực, Wrangel, Suva, Gisbourne, Nam Cực, Kumasi, Ouagadougou, Tlemcen, Calatayud, Pamplona.
Chúng tôi đọc tấm biển với mức độ thích thú khác nhau, ngạc nhiên trước thực tế Pamplona nằm xa biết bao trên phía Bắc, và gần đường kinh tuyến London biết bao. Tôi rời khỏi đó rồi, Britta vẫn nán lại, ngón tay dò theo từng vị trí, cố hình dung chúng trong những vùng khí hậu khác nhau.
Về một số phương diện, mồng 6 tháng Bảy là ngày dễ chịu nhất kỳ San Fermín. Không có các trận đấu bò, và vì thế cũng không có đàn bò chạy rầm rập, nhưng chúng tôi vẫn ăn sáng cùng nhau và trong khi Holt ăn pochas, những người còn lại đều uống một chút sô cô la hơi đặc bà Raquel pha, rất đắng nhưng đồng thời rất thơm. Sau khi nhấp ngụm đầu tiên thứ đồ uống đắng chết đi được ấy, khách quen thường nâng cốc hô, “Gan mật ơi, trôi tuột xuống đi,” nhưng nếu uống kèm bánh sừng bò nóng thì cũng không đến nỗi nào.
Buổi trưa, chúng tôi đến tòa thị chính, nơi một đám đông khủng khiếp đã tập hợp để nghe ông thị trưởng Pamplona khai mạc lễ hội bằng một tiếng hô “Viva San Fermín!” - đồng thời bắn một quả pháo thăng thiên dường như làm rách toạc cả mái tòa nhà chính quyền. Ngay khi tiếng pháo tắt hẳn, vẻ huy hoàng đích thực của San Fermín mới bắt đầu. Người ta bảo ở Pamplona không có âm nhạc; chính thành phố là âm nhạc, và lúc này Holt và tôi có cơ hội được nghe lại những âm thanh vẫn đọng lại trong tâm trí chúng tôi suốt mười một tháng qua.
Gây ấn tượng mạnh mẽ nhất là các nhóm nhạc - một cuộc hòa tấu hùng tráng và lảnh lót nổi lên quanh những cái trống to nhất và âm vang nhất mà người ta có thể mang vác. Tôi không biết thợ làm trống ở Pamplona có bí quyết gì khiến chúng có được năng lượng đó, mà hình như chúng còn vang hơn cả tiếng trống vang xa nhất, suốt mấy ngày sau đó, gần như lúc nào tôi cũng nghe tiếng chúng rộn ràng ở một nơi nào đó trong thành phố.
Các txistulari là những người thổi sáo có người đánh trống riêng. Họ chơi thứ nhạc chói tai mà dân Pamplona rất thích, và họ được chính quyền thành phố thuê đi lòng vòng khắp các phố phục vụ vũ hội dân gian. Họ đi đến đâu, nam nữ thanh niên theo đến đó.
Tiếp theo là một loại hình âm nhạc mà không người lạ nào ngờ rằng mình sẽ được nghe, nhưng mỗi khi nghĩ tới San Fermín họ sẽ nhớ đến nó như một trong những sự kiện quan trọng bậc nhất của lễ hội - những người thổi kèn túi vốn từ các huyện miền núi xuống, đeo túi da dê dưới cánh tay trái và thổi những giai điệu sầu bi cho đến khi tiếng nhạc ai oán vang lên khắp các con phố họ đi qua.
Những nghệ sĩ accordion theo sau đã mang đến sự say mê cho mọi người, một số sử dụng đàn nhỏ hình bát giác âm thanh lanh lảnh, một số khác chơi loại to hơn, du dương hơn thường thấy ở Ý. Họ chơi những điệu nhạc rất hay, và họ xuất hiện ở đâu là ở đó có người khiêu vũ.
Sau cùng xuất hiện loại nhạc khí kỳ lạ mà tôi cho là đáng chú ý nhất Pamplona ngay từ ngày đầu tiên tôi nghe tiếng nó vẳng đến từ một ngõ nhỏ gần chợ, nơi người ta bán tỏi buộc thành xâu. Cho đến bây giờ, dù ở bất cứ đâu, chỉ cần nhắm mắt lại và thì thầm cái tên Pamplona, tôi vẫn nghe thấy tiếng kèn ấy. Đó là tiếng ô boa miền quê, tổ tiên xa xưa của loại nhạc cụ có lưỡi gà mà ngày nay chúng ta thường thấy, chơi thành đôi, được đệm bởi một người vừa gõ trống vừa đánh cặp chũm chọe nhỏ xíu. Âm nhạc mộc mạc ám ảnh, những bài hát nói về thời Trung cổ và các trận đấu trên lưng ngựa; chúng có phần bị lấn át giữa đám đông chen chúc ngày hôm ấy, nhưng những ngày sau, khi tập trung lại tại các phố nhỏ vắng vẻ, kèm thêm đoàn vũ công, chúng sẽ gây ấn tượng không thể nào quên, những âm thanh hay nhất trong tuần lễ gây tiếng vang đó.
Cuối buổi chiều, háo hức gia tăng, vì có tin là đoàn người khổng lồ sắp tới. Từ các hướng khác nhau họ hành tiến về tòa thị chính, những nhân vật đi cà kheo cao lênh khênh đồng hành cùng đám người lùn nhỏ thó với những cái đầu to kinh khủng bằng giấy bồi. Những nhân vật đóng vai kiểu người thứ hai mang bong bóng lợn bơm đầy hơi, và cứ nhìn thấy đứa trẻ nào họ liền xông tới, quật vào người nó một cú cho dù vô hại nhưng vẫn làm nó sợ hãi kêu ré lên. Đoàn người khổng lồ cải trang thành vua, hoàng hậu, cướp biển và quân Moor, và trong những ngày tiếp theo họ sẽ hiên ngang đi giữa chúng tôi, cho nên sau này mỗi khi tôi kể, “Chúng tôi cuốc bộ về Bar Vasca,” bạn phải hình dung được rằng chúng tôi đi, thỉnh thoảng mới thấy đám cà kheo diễu qua các phố phường và những người đầu to quật bong bóng lợn vào trẻ con, còn thì thường xuyên đụng một ban nhạc hay một nhóm người thổi kèn túi hoặc, nếu may mắn, cả một cặp thổi ô boa nữa.
Suốt chín ngày, lúc nào cũng nhảy múa ngoài phố, hai tư trên hai tư giờ. Bạn sẽ về nhà lúc hai giờ sáng sau khi đã uống vài cốc tại một quán nào đó; bạn rẽ ở góc phố và bất chợt nhận ra mình ở giữa một đám đông khoảng sáu chục người đủ mọi lứa tuổi và quốc tịch đang nhảy điệu jota, họ sẽ hộ tống bạn một hai khối nhà, và khi bạn rời được họ thì rất có thể lại đụng phải một đám khác, gần đích đến hơn. Từ bình minh, giữa trưa, sau bữa tối và đặc biệt là suốt cả đêm, lúc nào cũng có nhảy múa ngoài phố. Nhiều du khách đến Pamplona sẽ chẳng hề xem một trận đấu bò nào - họ tới thuần túy để nghe nhạc và nhảy múa.
Đám đông năm nay dường như cư xử đàng hoàng khác thường, và bề ngoài khá tươm tất. Nhóm chúng tôi là một điển hình. Ngày nào Harvey Holt cũng ăn mặc một kiểu: quần trắng, áo trắng, khăn quàng cổ đỏ, khăn quấn bụng đỏ, giày vải trắng với dây buộc đỏ và đế bằng dây bện. Cái áo chẳng mấy chốc sẽ bị nhuộm màu đỏ nhạt do rượu rót trong lúc anh uống không biết bao nhiêu bầu được chuyền đến tay; Harvey thích để bầu cách xa môi, sao cho một tia rượu nhỏ chảy vào miệng. Tôi đi giày đế bằng dây bện, mặc quần áo xanh nước biển bạc màu và đội mũ nồi. Joe, chòm râu dày rối bù, mặc quần bò bó khít, không sơ mi, áo gi lê da thuộc lót lông cừu và giày ống kiểu Texas. Cato, với ý thức bẩm sinh về thời trang, luôn giữ cho bộ râu được cắt tỉa cẩn thận và bộ quần áo đúng mốt gọn gàng tươm tất; trong khi Yigal mặc quần vải thô, giày lính, áo khoác nhà binh và mũ lưỡi trai Israel nhỏ.
Các cô gái gặp phải vấn đề đặc biệt. Họ rất muốn mặc những chiếc váy mini xinh xắn, nhưng nhanh chóng phát hiện ra làm vậy trong đám đông xô bồ ở Pamplona thì chỉ dẫn đến những chuyện mạo hiểm mà họ chưa sẵn sàng theo đuổi. Britta nói, “Tớ không bao giờ ngờ một nghìn gã đàn ông lại có những tám nghìn bàn tay,” vì vậy các cô đành chuyển sang mặc quần; nhưng nếu vào một buổi tối đặc biệt nào đó chúng tôi dùng bữa ở nhà hàng, họ lại diện những bộ váy mốt nhất, và vì họ là những cô gái hấp dẫn đến thế nên đi đến đâu cũng làm mọi người xôn xao bàn tán.
Khi tôi nhận xét năm nay du khách có vẻ sạch sẽ, đám du côn ăn mặc lôi thôi mà tôi lường trước chỉ ở mức tối thiểu, Joe bật cười bảo, “Ông biết tại sao, phải không?” Tôi không biết, vậy là anh lái chiếc pop-top ra đường Zaragoza và chúng tôi quan sát những cảnh sát đi mô tô chặn bất cứ chiếc xe đang tới nào có chở dân hippy và lệnh cho họ, “Rửa ráy sạch sẽ, ăn mặc tử tế, gọn gàng tươm tất vào. Không thì quay ngược ra.” Nếu người trong xe khăng khăng họ không có quần áo nào khác, hoặc nếu họ từ chối cắt tóc hay chải đầu, cảnh sát liền bắt xe quay mũi đi về hướng ngược lại. “Trên đường từ Pháp sang cũng vậy,” Joe nói. Tôi bèn hỏi, “Cậu làm thế nào mà vào được?” anh đáp, “Trông tôi ăn mặc có vẻ lôi thôi nhưng tôi không bốc mùi.”
Đêm hôm đó tôi đã hiểu tại sao Pamplona có khả năng đón tiếp một lượng khách khổng lồ đến vậy mà rắc rối bề nổi lại rất ít. Mười giờ rưỡi, chúng tôi vừa giành được chỗ ở quảng trường chính để xem pháo hoa, thì hai người Mỹ trông đặc biệt mất cảm tình và một người Nam Phi say rượu bắt đầu quấy nhiễu chúng tôi, sau một lúc bọn họ đoán ra Cato hẳn là người yêu của một trong ba cô gái, vậy là bất chấp mọi nỗ lực của Holt và tôi, họ cư xử thô lỗ hơn nữa, nhưng rắc rối thực sự chưa kịp xảy ra, pháo hoa đã được bắn, một màn trình diễn xa hoa của công ty Caballer ở Valencia, và chúng tôi tạm quên được bọn quấy rối, mặc dù ngay khi pháo hoa vừa tắt là chúng lại làm phiền.
Tôi tự hỏi tại sao cảnh sát không can thiệp gì cả, bởi họ đã chứng kiến toàn bộ sự việc nhưng chỉ đứng nhìn. Monica nắm tay Cato bảo, “Chúng mình đi khỏi đây thôi,” thế là ba tên kia bắt đầu ngân nga, “Tình nhân mọi đen, tình nhân mọi đen!” Holt, mặc dù cảm thấy chướng tai gai mắt không kém gì đám người kia trước việc Cato quan hệ với một cô gái da trắng, vẫn coi việc bảo vệ bất cứ người nào ngồi cùng bàn với mình là nghĩa vụ, vậy nên ra hiệu cho Joe và Yigal xong là anh định lao vào bộ ba đó, nhưng cảnh sát đã ngăn lại bằng cách lắc nhẹ đầu và vẫy ngón tay trỏ ý thôi đi.
Holt và các bạn trẻ bỏ đi, còn tôi nán lại chuyện trò với hai người quen cũ từ California đến, một bác sĩ và bà vợ vẫn thường xuyên đến dự lễ hội San Fermín, và chứng kiến sự việc họ cũng bất bình như tôi. “Thật mỉa mai khi một người da màu lại bị sỉ nhục trong lễ hội San Fermín,” vị bác sĩ nói, “vì chính Fermín cũng là người da đen.” Tôi nhắc rằng người dân Pamplona rất nhạy cảm về điểm này, và trong khi mà bức tượng thánh Fermín, ngày mai đây sẽ được rước qua các phố, có màu đen nhánh thì truyền thuyết lại cho rằng ông là người Bắc Phi và chỉ bị cháy nắng mà thôi.
Tôi mới bình luận được đến đó, ba kẻ gây rối đã nhìn thấy và loạng choạng tiến lại gần nhiếc tôi là “cùng cánh với bọn mọi đen”. Ông bác sĩ, vốn trạc tuổi tôi, đã chực lao vào ẩu đả, và có lẽ tôi cũng sẽ vào cuộc, nhưng một lần nữa cảnh sát lại đứng ở vị trí chúng tôi có thể nhìn thấy liền xua tay ra hiệu.
Sau đó, lúc ba giờ sáng, khi đám đông đã thưa đi nhiều, một chiếc xe lặng lẽ chạy vào quảng trường, đỗ lại gần chỗ chúng tôi. Sáu cảnh sát ung dung lách mình giữa các bàn, bao vây ba kẻ càn rỡ, đấm chúng ngã nhào xuống đất một cách hữu hiệu đáng sợ, rồi lôi chúng đi, và chúng tôi không gặp lại bọn chúng nữa.
Ngày bảy tháng Bảy, lúc năm rưỡi sáng, tất cả mọi người ở Bar Vasca đều đã thức giấc. Thực ra, tất cả mọi người ở Pamplona đều đã thức giấc vì vào giờ này các nhóm txistulari bắt đầu đi khắp thành phố, người thổi sáo người đánh trống, vì vậy không ngủ được nữa. Và chỉ vài phút chúng tôi đã mặc xong quần áo rồi rảo bước về phía trường đấu, cũng như hàng nghìn người, đổ đến từ mọi hướng. “Chúng ta có cần đi nhanh như thế này không?” Monica nóng nảy nói to, và tôi đáp, “Để được việc thì cần,” cô liền đáp trả, “Chúng ta chỉ khăng khăng mỗi chuyện được việc, phải không, các nữ hướng đạo sinh?”
Lý do khiến tôi vội vàng đã trở nên rõ ràng khi chúng tôi đến được trường đấu bò, vì ngay cả vào lúc sớm sủa như vậy mà hơn ba nghìn người chen chúc bên ngoài, chờ cổng mở lúc sáu giờ, và nếu không may, chúng tôi sẽ lỡ mất màn làm quen lý thú với Pamplona. Nhờ may mắn, chúng tôi đã thúc khuỷu tay len được vào một vị trí thuận lợi, cho nên khi cánh cổng rốt cuộc cũng mở ra, tôi có thể chạy vụt lên những bậc cầu thang bê tông như một chú thỏ hoảng sợ và lao tới một chỗ không phải bên trong trường đấu mà là trên bậc cao trông xuống đường phố bên ngoài.
“Có người rồi, có người rồi!” tôi hét với mấy người lạ định xông vào chiếm chỗ, vì thế đã giữ được bảy chỗ cho đến khi các bạn trẻ thở hổn hển chạy lên xếp thành hàng bên cạnh tôi. Britta và Gretchen đứng sát cánh khuỷu tôi, và tôi cho hai cô gái biết là giờ mọi người sẽ đứng đợi một tiếng đồng hồ giữa tiết trời giá lạnh.
“Có đáng không nhỉ?” Monica hỏi, tôi bèn chỉ vào đám đông khổng lồ đã tụ tập phía sau chúng tôi, khao khát được nhìn lướt qua cho dù chỉ một phần những gì chúng tôi thấy tuyệt rõ.
“Chúng ta vất vả như thế này chỉ vì hai mươi giây phấn khích thôi,” tôi giải thích.
“Vậy hai mươi giây ấy nên thật tuyệt thì hơn,” Monica trả đũa, nên tôi cam đoan là cô sẽ được thỏa mãn.
Khoảng bảy giờ, đã có hai mươi nghìn người trong trường đấu, mười lăm nghìn người ở quảng trường bên ngoài, một số trèo cả lên đầu bức tượng Hemingway. Đột nhiên, từ phía bên kia thành phố, một quả pháo thăng thiên nổ ùng một tiếng ai nấy ở khắp Pamplona đều nghe thấy. Những người trong trường đấu từng xem cuộc chạy rồi đều hồi hộp chờ đợi, và một lúc sau nhẹ cả người nghe thấy tiếng nổ thứ hai, có nghĩa cả sáu con bò đực đã rời khỏi bãi quây thành một nhóm sát bên nhau. “Nếu quả pháo thứ hai bị đình lại,” tôi giải thích, “mọi người sẽ hiểu là một con đã tụt lại sau, là có rắc rối to rồi.”
Sau khi mấy quả pháo nổ, nhiều chuyện bắt đầu diễn ra ở quảng trường. Thứ nhất, cảnh sát đang giữ trật tự trên đường phi nước đại dẫn vào trường đấu của đàn bò phải rời khỏi vị trí mà leo lên chỗ an toàn. Thứ hai, tất cả mọi người trong khu vực đều mỗi lúc một thêm căng thẳng. Thứ ba, những người định tham gia chạy bắt đầu nhảy lên nhảy xuống, biết rằng chỉ hai phút nữa thôi đàn bò sẽ ập đến nơi. Ngay cả Monica thờ ơ là thế mà cũng hồi hộp chộp tay Joe, kêu ré lên, “Thế bây giờ anh có muốn xuống dưới ấy không?”
Khoảng cách từ bãi quây đến trường đấu vào khoảng một dặm, và vì một người đàn ông có thể chạy một dặm mất bốn phút còn một con bò mất chừng đâu hai phút, cho nên hiển nhiên bất cứ người nào chạy trước đàn bò rốt cục cũng sẽ bị đuổi kịp và buộc phải tự bảo vệ mình bằng cách nào đó trong khi đàn bò rầm rập chạy qua. Britta thét lên, “Nhìn kìa!” và chúng tôi thấy một đám đàn ông chạy bán sống bán chết vào quảng trường như thể thần chết đang bén gót, một lúc sau, những con bò đầu tiên xuất hiện, những hình thù to lớn đen trũi phăm phăm chạy về phía trước vừa nhìn bên nọ bên kia nhưng không đốn người bằng cặp sừng. Một đám đông người chạy dường như bít kín con đường trước mặt chúng, song mỗi khi đàn bò sắp chạm điểm nào là đám đông ở điểm đó lại giãn ra đầy bí ẩn và chỉ nhập lại sau khi chúng đã vượt qua.
Khi đàn thú ra tới quảng trường, chúng chạy thẳng đằng trước khoảng trăm thước, rồi, đến một tòa nhà văn phòng lớn tên là Teléfonos, chúng rẽ trái sang một đường dốc hẹp dẫn thẳng vào đấu trường, qua ngay dưới chỗ chúng tôi đứng. Buổi sáng hôm ấy, lúc đàn bò đang lao hết tốc lực định rẽ ở góc phố dẫn vào con đường dốc hẹp, đám người chạy trước mũi chúng dồn lại dày đặc một lúc, và tôi nghe thấy Monica thét lên thất thanh, “Chúa ôi! Nhìn người áo xanh kìa!”
Một người đang chạy thì bị ngã và có vẻ như không thể không bị đàn bò giẫm đạp lên, nhưng thật kỳ diệu là cả sáu con đều điều khiển móng guốc sao cho người ngã không bị thương. “Thần hộ mệnh đang che chở anh ấy đấy,” Monica nói yếu ớt.
Lúc này cả đàn bò đã vào con đường dốc và đang lao thẳng về phía chúng tôi, trước mắt chúng là hàng trăm người, người thì chạy, người thì ngã, người thì chen lấn, người thì đấm đá. Tôi nghĩ mỗi người trong chúng tôi đứng trên bao lơn đều cảm nhận được một sức mạnh khủng khiếp khi đàn bò lao qua mọi vật chướng ngại và cuốn phăng tất cả. “Ôi chao!” Gretchen hổn hển thốt lên khi làn sóng người và bò xô về phía chúng tôi, mờ nhạt đi trong một giây lát phấn khích cuồng dại, và chạy qua ngay dưới chỗ chúng tôi để tiến vào trường đấu.
“Nhanh lên!” tôi vội hô khi con bò cuối cùng chạy khuất, và chúng tôi lao lên một dãy cầu thang dài, xuống một hành lang và chạy vào trường đấu giữa ánh nắng sớm rực rỡ. Chúng tôi tới được chỗ ngồi đúng lúc những con bò chậm chân nhất đang bị dồn vào bãi rào để chờ đến năm giờ rưỡi chiều hôm đó ra sân đấu.
Sau đó chúng tôi được xem một tiết mục mua vui tuyệt đỉnh, vì sân đấu rải cát phía dưới đã chật cứng trai tráng mặc đồng phục trắng, đeo băng chéo và dây lưng đỏ, tay phải người nào cũng cầm một tờ báo cuộn tròn. “Để ý cánh cửa đằng kia,” tôi chỉ cho các bạn trẻ, và chưa dứt lời nó đã bật mở, một con bò cái sừng bọc da nhọn hoắt phóng vụt ra lao thẳng vào giữa khối người lanh lẹn đó. Với dáng vẻ dữ dằn tôi không sao tả nổi, nó lăn xả vào vô số mục tiêu xung quanh, lia đầu làm những người đàn ông trưởng thành ngã chổng kềnh, và tạo ra một cảnh lộn xộn đến vô hại như để bắt người xem cười không dứt. Tôi đoán là trong mười một phút con bò cái đó làm trò, chắc nó đã húc ngã khoảng chín mươi người. Có lúc trông nó như quả bóng bowling, vừa khó điều khiển vừa phá phách. Quy tắc là không người chơi nào được tóm bắt nó bằng bất cứ cách gì, dù là nắm sừng hay túm đuôi. Tất cả những gì họ có thể làm là đẩy nó ra xa hoặc quật bằng tờ báo cuộn tròn, mà giá thử ai đó quật nó, có khả năng nó sẽ bất ngờ tấn công, cắm sừng vào bụng hất anh ta ngã lăn quay.
Năm con bò cái như vậy được thả ra sân mỗi sáng - đôi khi theo cặp - và con cuối bao giờ cũng có vẻ sung sức hơn con đầu; hoặc có lẽ người tham gia đã mệt mỏi. Dù thế nào đi nữa, đó là một cách ồn ào để bắt đầu ngày hôm đó và nó định ra khuôn mẫu cho những gì tiếp theo. Đến khoảng tám giờ, trường đấu đã vắng tanh. Trong lúc chúng tôi mệt mỏi đi theo đám đông, Cato nhận xét, “Lũ bò cái này chắc biết rất rõ cách chơi,” và Yigal phát biểu, “Toàn bộ trò này chẳng ra làm sao cả.” Nhưng Joe không nói một câu. Anh có vẻ đang nhớ lại cảm giác về một sức mạnh bí ẩn bùng phát khi đàn bò rùng rùng rẽ vào con đường dốc.
Holt phản đối cả ba chàng trai trong nhóm: Joe vì chủ nghĩa hòa bình và bộ râu của anh, mặc dù không nhất thiết theo đúng thứ tự vừa nêu; Yigal vì ra mặt phản đối trò đấu bò và thái độ do dự không biết có nên chọn nước Mỹ làm tổ quốc không; Cato vì ăn nói báng bổ tôn giáo và ngủ với một cô gái da trắng, và một lần nữa thứ tự tôi xếp có phần tùy tiện.
Phản ứng của anh đối với ba cô gái phức tạp hơn. Anh nghi ngờ thái độ của Gretchen đối với cảnh sát, cho rằng bất cứ ai không tuân thủ pháp luật thì rất dễ gặp rắc rối; ngoài ra, anh còn không có lòng tin đối với những thanh niên cãi lời bậc sinh thành, mặc dù chính anh cũng đã từng trái ý cha mẹ khi gia nhập binh chủng thủy quân lục chiến, song ấy lại là chuyện khác. Monica thì anh không ưa. Anh nghĩ cô tự cho mình cao quý vì cô là người Anh và nói bằng thứ giọng được các phát thanh viên miền viễn Tây hồi những năm ba mươi ưa chuộng, và anh coi khinh cô vì cô quan hệ với một người da đen. Ngoài ra, sự hài hước của cô thường nhuốm màu giễu cợt, một đặc tính mà anh đánh giá cao ở người luống tuổi nhưng lại căm ghét ở người trẻ tuổi. Britta là người đáng ngờ vì làm sao một cô gái như thế mà lại hút cần sa, và anh không vừa lòng với thái độ thiếu tôn trọng của cô khi kể về cha mình, nhất là theo lời cô ông từng là một anh hùng trong thời Đức Quốc xã chiếm đóng.
Nhưng, cũng như tất cả các đại diện kỹ thuật khác, anh thấy khó mà tin được là những người xinh đẹp như ba cô gái này lại có bất cứ vấn đề gì. “Cuộc sống quá dễ dàng với họ,” một hôm anh nói với tôi, “chẳng có vấn đề gì cả, ấy vậy mà họ lại muốn tạo ra sóng gió. Người ta có lẽ cảm thấy họ đáng bị phát vào mông, nhưng tôi đoán cho dù người ta có khá giả và xinh đẹp thì xem ra đầu óc đôi lúc vẫn lộn xộn lắm.” Khi tôi nói Gretchen đã phải trải qua một phen khốn khổ thực sự với cảnh sát, anh gắt, “Biết đâu vì hút cần sa mà bị cảnh sát bắt.”
Bữa trưa hôm ấy, phản ứng của Holt đối với các bạn trẻ trở nên rõ ràng. Mọi chuyện khởi đầu tốt đẹp bằng việc một số người Tây Ban Nha dừng lại chúc mừng cuộc chạy của anh và Yigal chịu khó tìm cách làm hòa với một ý kiến, “Chắc ông đã chứng tỏ được gì đó.”
“Cũng đúng như Humphrey Bogart lái tàu thoát khỏi Cuba,” Holt trầm ngâm đáp. “Không có gì là ghê gớm nếu đó là việc cần làm.”
“Tôi tưởng Errol Flynn lái con tàu ở Cuba chứ,” Monica nói. “Cảnh mà Bogart bảo Lauren Bacall huýt sáo ra hiệu ấy,” Holt giải thích.
“Ô, thế ra ông đang nói về một bộ phim! Tôi chưa được xem.”
Các bạn khác cũng chưa xem phim đó, và Holt hỏi, “Ý các bạn là không ai trong số các bạn từng xem một trong những giây phút ấn tượng nhất lịch sử điện ảnh...”
“Bogart có đóng phim nào trong suốt thập kỷ qua đâu,” Gretchen nói. “Ít nhất thì tôi cũng không nhớ ra bất cứ phim nào.”
“Ông mất mười hai năm rồi,” Holt nói. “Nó được sản xuất năm nào ấy nhỉ?” anh hỏi tôi. “Bộ phim nổi tiếng về cuộc đời Hemingway ấy?”
“Tôi được xem ở Libya, trong thời chiến tranh.”
Holt nói anh không thể tin là phim ấy ra đời cách đây lâu đến thế.
“Tôi đã xem Bogart đóng trong một bộ phim,” Yigal nói. “Phim rất hay.”
“Ông ấy đóng vai gì?” Holt hỏi.
“Ông biết đấy, bộ phim bất hủ - Beat the Devil, với Robert Morley và dàn diễn viên xuất sắc đó.”
“Ôi, đúng rồi!” Monica reo lên. “Bộ phim hay tuyệt về Tangier.”
“Đáng lẽ đám ấy phải bị tống vào tù hết,” Holt dấm dẳn.
“Ai cơ? Morley và Bogart hả?”
“Nhà sản xuất, đạo diễn, bất cứ ai chịu trách nhiệm về việc lãng phí tài năng của Bogart. Bộ phim đó là một nỗi nhục, là phim tầm thường duy nhất mà Bogart đóng.”
“Có phải ông đang nói đến bộ phim kinh điển mà Truman Capote hợp tác với John Huston không đấy?” Gretchen hỏi.
Hiển nhiên là Holt không biết hai cái tên đó. Anh đáp, “Tôi đang nói đến bộ phim tồi tệ mà một thằng cha nào đó làm vội làm vàng khiến cho Bogart trông như một kẻ ngốc.”
“Đó là phim hay duy nhất ông ấy từng đóng,” Gretchen nói dứt khoát, và các bạn cô đều tán thành.
Holt đùng đùng nổi giận, “Các cô các cậu định nói cái thứ rác rưởi ấy…”
“Ông Holt, phim ấy rất phong cách, sâu sắc.”
“Cô có xem bộ phim mà cả ông ấy lẫn William Holden đều yêu Audrey Hepburn không?”
“Ai đạo diễn?” Gretchen hỏi.
“Đạo diễn ư? Ai thèm quan tâm đến đạo diễn chứ? Cô có xem cảnh ông đánh nhau với Leslie Howard ở sa mạc không? Hay lần ông ở châu Âu... cũng như các bạn bây giờ... chỉ có điều ông ấy yêu Ava Gardner?”
Chi tiết cuối cùng này Cato thấy quen quen, “Phải rồi, một đêm tôi đã tình cờ được xem trong một buổi chiếu rất muộn. Một phim dở bậc nhất.”
Rõ ràng là Holt đang cố gắng kiềm chế, anh hỏi, “Thật ra các bạn có biết bất cứ tác phẩm điện ảnh lớn nào đâu, phải không? Như phim mà Spencer Tracy dạy cho Freddy Bartholomew thành một người đàn ông thực thụ?”
“Xin ông đấy,” Cato cắt ngang. “Nói tên cho chúng tôi xem nào. Phim gì? Tôi nghĩ mình đã xem phim nào đó đại loại như vậy. Đó là ở sa mạc Death Valley và có một con thằn lằn độc Gila rồi Spencer Tracy di gót giày lên nó.”
Holt cắn môi, rồi hỏi, “Các bạn chưa bao giờ xem Spencer Tracy cứu vớt linh hồn... tương lai của Mickey Rooney? Phim Tracy đóng vai linh mục?”
Gretchen cố chen lời là đối với thế hệ cô Spencer Tracy chưa bao giờ đóng phim nào có liên quan ở bất cứ mức độ nào đến cuộc sống thực và các thiếu nữ như cô dứt khoát không chấp nhận những phim cổ lỗ sĩ tâm lý ủy mị mà ông đóng như...
“Chết tiệt!” Holt đập bàn quát, “Các cô các cậu là một lũ dốt nát. Các cô cậu chẳng hiểu cái quái gì cả. Các cô cậu nghĩ con người ta hình thành tính cách bằng cách nào? Bằng cách xem những vở kịch, những bộ phim hay và đọc những cuốn sách hay. Mỗi một người trong đám oắt con vắt mũi chưa sạch các cậu sẽ có cá tính hơn nếu được xem phim Spencer Tracy đóng vai ngư dân Bồ Đào Nha...”
“Ngư dân Cuba chứ,” Gretchen sửa, “và ông tìm cách bắt một con cá to... và đấy là một phim dở kinh khủng.”
Đang ngồi trên ghế, Holt xoay hẳn người lại nhìn Gretchen trừng trừng, “Tôi vừa nhận ra một điều. Đôi lúc cô thật ngốc nghếch. Tôi tin rằng cô được điểm tốt ở trường, nhưng cô thật ngốc nghếch. Cô biết không, nếu được xem những bộ phim xuất sắc mà Tracy và Hepburn cố hết sức để phối hợp ăn ý với nhau - vai nam chính diện, vai nữ chính diện, nhưng mọi vai nam vai nữ...” Anh ngập ngừng, rồi khẽ nói, “thì có lẽ bây giờ cô sẽ biết cách thân thiện với đàn ông hơn, cô Gretchen ạ.”
Gretchen đỏ mặt và trong một thoáng, có vẻ cô định công kích lại, nhưng bản tính lịch sự đã ngăn cô lại, cô đáp với thái độ nhiệt tình cầu hòa, “Tôi xin lỗi, ông Holt. Tôi từng xem một vai rất đạt của Tracy. Vai viên cảnh sát đồi bại trong It’s a Mad, Mad, Mad, Mad World. Ông ấy đã chứng tỏ sự hiểu biết đích thực về phim hài.”
Thế là thôi rồi. Holt quẳng cái dĩa vừa dùng để ăn pochas xuống bàn và hỏi, “Tại sao lại thế? Trong số tất cả những tác phẩm xuất sắc mà hai diễn viên ấy tham gia... tại sao cô lại chọn phim dở nhất mà mỗi người bọn họ đóng? Bộ phim vô giá trị mà Bogart đóng ấy. Bộ phim ngớ ngẩn mà người ta bắt Tracy phải đóng khi ông đã già và đang cần tiền. Thế là sỉ nhục nhân tài, ấy vậy mà đó lại là thứ cô nhớ.”
“Phần lớn phim của ông ấy thật nhàm chán,” Cato nói. “Mấy người bạn da trắng có rủ tôi đi xem Guess Who’s Coming to Dinner? Phim vớ vẩn.”
Holt bất ngờ phóng tay ra túm chặt lấy Cato. “Đừng nhạo báng những thứ anh không hiểu,” anh nghiêm nghị nói; sau đó, hình như ngượng ngùng vì đã không nén được cơn giận, anh sầm sầm bỏ lên gác, một lát sau chúng tôi nghe thấy bài “The Stars and Stripes Forever” và “From the Halls of Montezuma” rộn vang từ máy ghi âm của anh.
Ngày tám tháng Bảy, tiết mục trình tấu lúc năm rưỡi chiều bên ngoài Bar Vasca là sự kết hợp của ba cái trống đại có cường độ âm thanh rất lớn nện một bản Riga dài ba mươi phút. Đám người say sưa thâu đêm mời các tay trống vào quán, để rồi từ đó tiếng ồn khủng khiếp phát ra khiến trống ngực mọi người cũng đánh theo thình thịch, kể cả khách trọ trên gác ba. Chúng tôi tập hợp ở tầng một, và vì sáng hôm đó không có gì phải vội nên chúng tôi ngồi uống cà phê trong quán, thán phục quan sát ba người đánh trống tiếp tục biểu diễn.
“Cũng tuyệt đấy chứ,” Monica hét lên để át tiếng ồn.
“Nghe mà nở gan nở ruột,” Yigal nói. “Cứ như khẩu súng cối nã liên tục ấy.”
Vào khoảng sáu giờ rưỡi, chúng tôi nhẩn nha leo lên đồi về phía tòa thị chính, định chiếm mấy chỗ ngồi cao trên các rào chắn ở đó nhưng lại thay đổi kế hoạch khi một lao công mặc đồng phục đến thầm thì, “Xuỵt! Các senorita có muốn chỗ tốt không?” Tôi gật đầu, và với giá một vài đồng peseta, anh dẫn chúng tôi vào một cánh cửa tòa thị chính, qua cầu thang lên một bao lơn bao quát được toàn bộ đường chạy. “Chúng tôi muốn làm vừa lòng các vị khách xinh đẹp,” anh nói bằng tiếng Tây Ban Nha, và Britta đáp lễ, “Còn chúng tôi cũng muốn làm vừa lòng những người bạn lịch sự,” đoạn hôn anh. Xoa tay lên má, anh nói, “Ngày hôm nay sẽ được ghi vào sổ vàng.”
Tôi giải thích là chúng tôi sẽ chứng kiến ngày hôm đó khá khác lạ, trong một chừng mực nào đấy thì kinh điển hơn, Tây Ban Nha hơn. “Đàn bò sẽ lao lên quả đồi ta vừa leo, và khi đến điểm này, chúng buộc phải ngoặt sang trái tức thì. Chúng sẽ băng qua con đường ngay dưới chân chúng ta, sau đó phóng thẳng xuống phố Dona Blanca de Navarra xinh đẹp. Bà ấy là ai thì tôi không rõ, nhưng lúc này bà rất nổi tiếng. Cuối cùng, đàn bò sẽ rẽ phải chạy vào con phố lớn nhất, Estafeta, mà ngày mai chúng ta sẽ xuống.”
Joe hỏi chúng tôi đứng ở điểm này có nhìn thấy Harvey Holt không, nhưng tôi đáp, “Không, anh ấy chạy ở chỗ khác. Những người chạy ở đoạn này thích sự phóng khoáng, cảm giác rùng mình khi nhìn thấy đàn bò lên đỉnh dốc đằng kia, thấy những vòng cua và đoạn rẽ đột ngột. Tôi thường chạy ở đây.” Joe nhìn tôi không nói gì.
Khoảng bảy giờ kém mười lăm, quảng trường đã đông nghịt, Gretchen thốt lên, “Sao đông đúc thế này! Tưởng như chẳng còn đâu ra người mà đến trường đấu bò nữa. Nhưng cháu chắc ở đó cũng đông không kém.” Khi thấy tôi gật đầu, cô hỏi, “Mỗi sáng có độ bao nhiêu người đi xem bò chạy?” Tôi chưa bao giờ đếm thử, nhưng cứ đoán, “Một trăm nghìn. Có khi hơn.” Vậy là cô nói, “Trong cái thành phố nhỏ bé này.” Cô đưa mắt sang bên phải nhìn ngôi nhà thờ hẳn phải năm trăm năm tuổi và quảng trường từng in bước chân quân lê dương La Mã. “Nhiều hồn ma luẩn quẩn ở những đường phố này đây,” cô nói, và tôi nghĩ ngay đến bao người mình từng quen biết hỏi những năm giữa thế kỷ này nhưng nay đã không còn trên phố nữa. Họ đã chạy thỏa thích rồi.
Đúng bảy giờ quả pháo thăng thiên thứ nhất nổ, và ngay sau đó, quả thứ hai. Chúng tôi nín thở, và sau một khoảng dừng vừa đủ, trông thấy đám người tham gia chạy từ con phố bên phải túa ra, theo sau là những thân hình đen bóng trông giống những quả ngư lôi. Tại điểm này đàn bò sung sức hơn và phi nhanh hơn, đến mức đám người chạy trước mũi chúng có vẻ như đang bay, rồi chỉ một thoáng tất cả đã lướt qua và những người chẳng bao giờ dám đối mặt với một con bò bèn rời khỏi nơi an toàn sau hàng rào chắn, trèo xuống đường để có thể khoe, “Tôi đã chạy cùng đàn bò ở tòa thị chính đấy.”
Tất nhiên chiều nào cũng đấu bò, nhưng tốt hơn là không nói nhiều về chuyện ấy. Việc buổi sáng đàn bò chạy rầm rập qua các đường phố có nghĩa là buổi chiều chúng đã mệt mỏi và kích động, mà như thế đồng nghĩa là các trận đấu thường chẳng hay ho gì và... bao giờ cũng ồn ào náo loạn.
Khoảng một tiếng rưỡi trước khi bắt đầu trận đấu, tại nhiều nơi trong thành phố, hội viên các câu lạc bộ đấu bò trong bộ đồng phục truyền thống quần trắng và áo bông cộc tay mang phù hiệu dễ phân biệt bắt đầu tập hợp phía sau ban nhạc riêng của họ, vốn chỉ gồm vài nhạc sĩ nhưng lại có một số người gây tiếng ồn giỏi nhất Tây Ban Nha. Các hội viên sẽ đến theo từng đôi, mỗi đôi xách một thùng đầy đá và bia can. Một số mang theo những thùng rượu sangría sóng sánh, món đồ giải khát tuyệt hảo pha chế từ rượu vang đỏ rẻ tiền và nước quả. Trong mỗi câu lạc bộ có một ủy ban đặc biệt chịu trách nhiệm làm khoảng từ bốn mươi đến năm mươi cái sandwich với những lát pho mát và thịt hun khói to đùng kẹp giữa ổ bánh mì giòn tan dài đến một foot và được gói bằng giấy thiếc.
Một giờ trước trận đấu, các câu lạc bộ này, diễu hành hàng lối lộn xộn theo sau ban nhạc và cầm theo biểu ngữ xưng danh, bắt đầu đi qua các phố, mỗi câu lạc bộ một tuyến đường riêng, và vừa tiến lên vừa thu hút thêm nhiều người đang nhảy múa dọc phố, vậy nên đến khi các ban nhạc tụ họp ở trường đấu, sẽ có hàng trăm người cười nói ồn ào theo sau mỗi đoàn diễu hành.
Phía bên trong trường đấu, các ban nhạc tuân thủ quy tắc duy nhất: mỗi đội phải chơi ầm ĩ hết sức theo giai điệu riêng của mình để tranh tài với tất cả các đội khác cũng chơi điệu riêng của họ không ngừng nghỉ. Kết quả là một hợp âm chói tai dội vang ngang dọc khắp đấu trường như những làn sóng âm thanh từ núi lửa Khrakatau trong đợt phun trào lần chót. Trong khoảng thời gian giữa trận đấu thứ ba và thứ tư, các ủy ban phụ trách làm sandwich đứng trên hàng ghế cao nhất khán đài tung bánh bọc giấy thiếc lên không trung để chúng như những con tàu ngầm hạ thẳng xuống đầu đám đông. Nếu anh may mắn bắt được một gói thì sẽ có bữa trưa đủ cho ba người ăn.
Bấy giờ nước giải khát được đem ra phân phát, và bia thì chẳng có vấn đề, nhưng những thùng rượu sangría lại là chuyện khác, vì đã thành lệ, khi trong thùng chỉ còn độ một lít, người ta sẽ hắt rượu cặn xuống đầu đám đông ngồi phía dưới, và nếu anh đến dự lễ hội San Fermín chỉ với một chiếc áo sơ mi tươm tất, chẳng mấy chốc nó sẽ nhuốm màu rượu vang đẹp mắt. Khi rượu hết, các thứ nước giải khát khác được ném xuống cho đám đông phía dưới, và hễ bắt gặp đám đàn ông tiểu tiện vào cốc giấy, cảnh sát lại cau mày.
Trong thời gian diễn ra các trận đấu bò, Holt và tôi kiếm được chỗ ngồi tử tế trong bóng râm, đối diện với vị trí các ban nhạc trình diễn, vì vậy tránh được cảnh ồn ào mất trật tự, nhưng các bạn trẻ lại ngồi dưới nắng giữa đám người hắt rượu. Joe và Cato cùng ba cô gái dễ dàng chấp nhận không khí cuồng nhiệt xung quanh như một phần phát sinh của lễ hội San Fermín, thậm chí còn chuyện trò thân thiện với mấy người ngồi bên - những phần tử gây rối không ngớt huýt sáo trêu ghẹo ba cô gái bước từ lối đi xuống và ném giấy và bánh vào các cô - nhưng Yigal mỗi lúc mỗi bực bội và nói tuột ra những lời bất mãn.
Việc này khiến Holt rất bực bội, nên trong bữa ăn đêm thứ tư anh hỏi thẳng, “Nếu không thích xem đấu bò, sao anh còn bỏ thời gian đến Pamplona làm gì?”
Không muốn vướng vào một cuộc tranh luận khác, Yigal nói tránh, “Tôi giận vì họ hắt bao nhiêu là rượu vào người tôi mà chẳng bao giờ quăng cho chiếc bánh nào cả.”
Cố gắng pha trò này không xoa dịu được Holt. “Anh sợ bò chứ gì? Phải vậy không?” anh hỏi.
“Tôi khó chịu về cách cư xử nực cười của những người đàn ông trưởng thành tìm cảm giác mạnh kiểu này. Thế thôi.”
“Anh nói chúng tôi?”
“Tôi thấy việc này thật ngớ ngẩn... hai mươi nghìn người trong một sân đấu, làm tình làm tội một con bò non không có khả năng tự bảo vệ và sừng bị bọc kỹ.”
“Anh đã bao giờ bị một trong những con bò non không có khả năng tự bảo vệ đó húc chưa?”
“Hoặc chạy xuống phố Estafeta với sáu con bò đực đuổi sát đít. Ai cần kiểu cảm giác mạnh như vậy chứ?”
“Anh đã bao giờ gặp nguy nan... chỉ để thỏa mãn thú vui của mình chưa?”
Đáng lẽ tôi đã có thể báo trước cho Holt biết anh vặn lại như vậy thì sẽ bị hố to nhưng câu hỏi đã được đặt ra mất rồi, vì vậy tất cả nhóm chúng tôi vốn đã biết rõ tiếng tăm của Yigal đều ngồi im, trên môi ai cũng phảng phất nụ cười. Chàng thanh niên Do Thái thấy tốt hơn cả là không trả lời, vì vậy Holt tưởng mình đã động chạm đến vấn đề nhạy cảm của chàng trai trẻ bèn nói, “Đám mọt sách các cậu đôi lúc cũng nhìn mọi việc sáng suốt đấy, nhưng các cậu thường không thấy được điểm chủ yếu.”
“Điểm chủ yếu nào?” Yigal hỏi lại.
“Là con thú đực, trong suốt quá trình lịch sử, đã thích thử thách mình.”
“Nhưng nếu người ta không cần thử thách thì sao?”
“Không ai biết chắc mình can đảm đến mức nào nếu chưa trải qua thử thách. Tất cả mọi người đều cần thử thách.”
“Ý tôi là - thử thách rồi thì sao nào?”
“Cậu bé ơi,” Holt nói một cách cởi mở, “tôi không nói đến bóng đá... hay leo núi.”
Yigal đứng lên nói, “Tôi đi vệ sinh đây.”
Khi anh đã đi khuất, Cato mới lên tiếng, “Ông Holt, ông đã bao giờ nghe nói đến Qarash chưa?”
Holt ngẫm nghĩ một lúc, nhẩm lại cái tên đó hai lần rồi hỏi, “Có phải là trong Cuộc Chiến Sáu Ngày không?”
“Đúng.” Mọi người quanh bàn đều im lặng, và một lúc lâu sau Holt hỏi, “Anh định nói...” Anh chỉ về phía phòng vệ sinh, và Cato gật đầu.
“Hồi đó anh ấy mới mười bảy tuổi,” Monica nói, “thậm chí còn chưa nhập ngũ. Chỉ đi theo cho vui thôi.”
“Chắc ông đã đọc về chuyện đó rồi,” Cato nói thêm. “Bị sáu xe tăng bao vây, thế mà họ đã tiêu diệt được bốn.”
“Thằng nhóc ngốc nghếch ấy ư?” Holt hỏi lại, Cato liền đáp, “Nasser đã nói thế đấy.”
Khi Yigal quay lại, Holt đứng lên để tỏ lòng nể trọng, anh lúng túng một lúc vì không nghĩ ra được điều gì để nói, nhưng rồi nhớ ra một số chi tiết về Qarash anh bèn cất tiếng hỏi, “Anh có phải người sử dụng điện đài không?” Thấy Yigal gật đầu, Holt cởi mở hơn hẳn và nói, “Chắc hẳn anh phải rất hiểu biết về điện tử,” thế là chúng tôi để hai người ngồi lại trao đổi về Big Rally và máy ghi âm từ.
Ngày chín tháng Bảy, chúng tôi bị tiếng ô boa êm tai chơi những điệu nhạc dân gian cổ xưa của vùng này đánh thức lúc năm rưỡi sáng. Nghe tiếng họ thong thả đi từ đầu phố tới, ba người dân quê mang trống nhỏ và những ống sáo tuyệt diệu ấy, tôi đã hy vọng là các ban nhạc lớn sẽ đến muộn vì chúng tôi chẳng mấy khi được nghe ô boa ở Bar Vasca, nhưng không bao lâu sau tôi đã thấy từ đằng xa vẳng lại một bản hợp tấu khủng khiếp, hai ban nhạc đang cùng kéo về quảng trường chỗ chúng tôi, mỗi ban chơi một điệu riêng theo nhịp riêng, và thế là tiếng vang êm ái của kèn ô boa chìm xuống.
Lúc sáu giờ mười lăm phút, tôi dẫn các bạn trẻ đến bên rào chắn, nơi đàn bò sẽ rời quảng trường tòa thị chính để rẽ vào phố Estafeta, và khi leo lên vị trí có thể bao quát không chỉ khu vực hôm qua đã được chúng tôi tìm hiểu kỹ mà còn suốt phố Estafeta dài dằng dặc, chúng tôi đã có thể đánh giá tầm quan trọng rất ấn tượng của nơi này vì nếu chạy tại quảng trường tòa thị chính, người ta chỉ phải lo vượt qua một khoảng cách có hạn, với rất nhiều hàng rào để có thể chui qua trong tình huống khẩn cấp. Nhưng nếu quyết định chạy ở phố Estafeta, người ta phải đối mặt với một con phố rất dài, cực kỳ hẹp, lên dốc suốt lộ trình, và không có một hàng rào hỗ trợ nào. Khi đàn bò đuổi kịp, và chắc chắn chúng sẽ đuổi kịp, tất cả những gì người ta có thể làm là hoặc ép người sát vào tường hoặc lao xuống rãnh mà hy vọng phấp phỏng.
“Chú nói là những người kia sắp chạy ở đây?” Britta hỏi. Thấy tôi gật đầu, cô lại hỏi tiếp, “Đây có phải nơi ông Holt chạy không?” và tôi đáp, “Anh ấy chạy ở chỗ khác.”
Khi chúng tôi đã yên vị trên hàng rào, chân quặp chặt vào các thanh chắn để không bị đám đông đang dồn lại sau lưng đẩy xuống mặt đường, tôi nói với các bạn trẻ, “Có hai chuyện để xem. Chuyện thứ nhất rất thú vị. Chuyện thứ hai có thể làm các bạn ngạc nhiên. Nhưng khi đàn bò chạy đến cuối phố Dona Blanca de Navarra - ngay tại đây - chúng phải ngoặt gấp vào phố Estafeta. Một vài con có thể ngã... ngay dưới chân chúng ta.”
“Thế thì sẽ thú vị thật đấy,” Monica nói.
“Phần thú vị là khi chúng vùng dậy cơ. Nếu nhìn thấy các con khác chạy xuôi phố Estafeta, chúng sẽ cắm đầu cắm cố đuổi theo và không có gì nguy hiểm cả. Nhưng nếu khi ngã, chúng bị mất phương hướng và không thể nhìn thấy các con khác đang chạy dọc phố Estafeta thì các bạn phải đề phòng đấy.”
“Chuyện thứ hai là gì?” Yigal hỏi.
“Sau khi quả pháo thăng thiên thứ nhất nổ, các bạn sẽ thấy đám đông trước tòa thị chính đằng kia phá vỡ hàng rào cảnh sát và bắt đầu chạy về phía này. Một hai người trong đám sẽ chợt nhận thấy, ‘Trời ơi! Mình đang ở đúng nơi đàn bò sắp tới!’ Và họ sẽ cố chạy trốn bằng cách leo qua hàng rào chúng ta đang ngồi. Cứ xem chuyện gì xảy ra nhé.”
Đúng bảy giờ, quả pháo thăng thiên thứ nhất nổ, nhưng quả thứ hai lại không phụt lên ngay. “Đã có con bò tụt lại rồi,” tôi kêu lên. Mọi người phải đếm gần đến ba mươi quả pháo thứ hai mới nổ.
Chúng tôi chờ đợi, và rồi đám đông người rùng rùng chạy qua, rẽ vào phố Estafeta để có thể chạy xuôi xuống một đoạn khá xa trên con phố nguy hiểm đó trước khi đàn bò tới nơi, nhưng trong khi họ lao đi, tôi chợt để ý đến một cậu thanh niên tóc vàng độ mười chín đôi mươi, khuôn mặt lộ rõ vẻ khiếp đảm thực sự. Cậu ta đã muốn chạy, nếu không hẳn sẽ không có mặt ở đây. Thậm chí cậu đã xuống đường. Nhưng lúc này cậu mất hết can đảm, nên chạy được đến rào chắn nơi Britta đang ngồi đung đưa chân, cậu liền lao đến cố leo lên tìm chốn an toàn, chưa trốn được thì một viên cảnh sát đứng gần đó đã đẩy vào cậu, khiến cậu bật trở lại phố.
Vẻ mặt bối rối, chàng trai quay đầu về phía tòa thị chính, nơi những con bò đầu tiên đã xuất hiện làm cậu thất kinh hồn vía. Như một kẻ điên, cậu lại lao vào rào chắn, nhưng một lần nữa viên cảnh sát thô bạo đẩy mặt cậu ra và quát bằng tiếng Tây Ban Nha, “Cậu thích chạy cơ mà, thế thì chạy đi.”
Chàng trai ngước nhìn Britta, nhìn tôi và viên cảnh sát cứng rắn. Britta thét bằng tiếng Na Uy, “Lên lối này,” nhưng viên cảnh sát ngăn lại. Trong cơn kinh hoàng tột độ, chàng trai cuống quýt nhào xuống đất và nằm co quắp trên hè đường trong khi những con bò đầu tiên rầm rập chạy qua, không để ý đến cậu. Sợ run người và không sao nói được một lời, cậu đang lồm cồm bò dậy thì một người Tây Ban Nha tinh khôn, biết là thể nào cũng còn một số con bò nữa sắp đến vì chúng xuất phát chậm hơn, đẩy cậu ngã sóng soài và giữ cậu áp sát vào tường đúng lúc lũ bò chậm chân vừa tới nơi.
Một con trượt chân ngã, gần như đè lên người chàng trai đang hoang mang, đá cậu hai lần trong lúc chống móng guốc xuống để lấy lại thăng bằng. Đứng lên được xong, chú bò tức giận nhìn thấy các bạn đồng hành đã đến cuối phố Estafeta bèn phóng theo, không gây hại cho ai cả.
Chàng trai vẫn nằm dưới rãnh cho đến khi Britta và tôi tiến lại. Cậu là người Thụy Điển và cứ nói đi nói lại, “Tại sao viên cảnh sát kia lại làm thế?” - như thể viên cảnh sát khắc nghiệt kia còn đáng sợ hơn cả con bò nặng một nghìn pound đã đè lên người cậu.
Một trong những khoảnh khắc thú vị nhất trong ngày là khi cuộc chạy với đàn bò kết thúc, vì sau đấy chúng tôi sẽ tụ họp ở Bar Vasca dưới các thùng rượu trong hốc tường dành riêng cho chúng tôi. Tại đó, được bao bọc giữa ba bức tường và cái trần thấp phía trên đầu, chúng tôi tìm được chỗ trú ẩn trong thế giới riêng tư và chuyện trò về những gì mình vừa chứng kiến. Tấm gấm trong hốc tường của chúng tôi viết:
Dễ chịu biết bao suốt ngày dài không làm gì cả
Và sau khi đã không làm gì cả, thì nghỉ ngơi.
Các bạn trẻ thường về hốc tường ấy trước, rồi một lúc sau Holt sẽ gia nhập cùng chúng tôi, các cô gái sẽ hỏi, “Hôm nay ông chạy ra sao, ông Holt?” còn anh sẽ trả lời bằng một từ Tây Ban Nha vô song tỏ ý coi thường, “Regular,”[87] giọng kéo dài ở âm tiết cuối. Với những người hiểu về anh, đó là lời chê bai cao độ nhất: “Dở tệ... như thường lệ.”
Nhưng Britta, vốn nói lưu loát tiếng Tây Ban Nha, để ý thấy mỗi khi một dân kỳ cựu chính cống nào vào quán, người đó lại ghé qua bàn họ và nói với Holt bằng lời lẽ rất nể trọng: “Cuộc chạy hôm nay thật tuyệt, Americano ạ,” hoặc “Thời nay lũ bò có sừng ra sừng đấy chứ, ver- dad.[88]” Cô hai lần hỏi chi tiết về cuộc chạy của anh nhưng lần nào anh cũng phớt lờ. Hôm nay, sau lần thứ ba nghe nhắc đến thiên sử thi về anh thanh niên Thụy Điển đã bị đẩy trở lại phố Estafeta đúng lúc đàn bò đang lao tới, Holt gật đầu không nói tiếng nào, rồi đứng dậy bỏ đi. Một anh thợ đốn gỗ đang chuyện trò với Raquel bèn rời quầy rượu và nói với chúng tôi, “Ông ấy kinh nghiệm lắm!” rồi gật gù tỏ ý khen ngợi về phía bóng người đang đi khuất.
“Kinh nghiệm gì?” Britta hỏi.
Tôi chưa kịp trả lời, Joe đã hỏi, “Ông ấy có chạy ở những địa điểm chúng ta đã đến xem không?”
“Không.”
“Chú kể cho chúng cháu nghe về ông ấy đi,” Gretchen giục tôi.
Kể cả những lần họ ngắt lời và những lần tôi phải nhắc lại thì đây đại khái là những gì tôi kể với họ: “Có ba cách chạy với bò ở Pamplona, và cả ba cách ấy các bạn đều đã xem rồi. Phố Dona Blanca trong không gian rộng rãi, phố Estafeta xuôi xuống ngõ nhỏ, tòa nhà Teléfonos rẽ vào đoạn dốc.”
“Ông đã bao giờ chạy ở Estafeta chưa?” Joe hỏi.
“Một lần, và cũng như tất cả những ai đã làm việc này, mỗi khi đến một quán rượu ở Amsterdam hoặc Montevideo và có người đề cập đến Pamplona, tôi lại để mặc cho họ khoác lác, sau đó mới nói tưng tửng: ‘Lần nào tôi cũng chạy ở Estafeta,’ thế là mọi người im bặt.”
“Hay đấy,” Yigal nói. “Ông chỉ chạy có một lần từ lâu lắm rồi, nhưng hễ nói đến chuyện này ông lại khoe, ‘Lần nào tôi cũng chạy ở Estafeta.’”
Tôi cười bảo, “Anh đã học được quy tắc thứ nhất của Pamplona rồi đấy.”
“Tại sao lại không có nhiều người bị thương hơn?” Joe sốt sắng hỏi. “Anh đã bao giờ nhìn thấy những tấm ảnh nổi tiếng chụp những vụ xô nhau chồng đống ở Teléfonos chưa? Một người ngã, rồi người thứ hai, rồi một trăm người. Họ tạo nên ngay dưới chỗ chúng ta một quả núi nhỏ những người đang tối tăm mặt mũi, và nếu đàn bò đâm sầm vào họ thì sẽ có nhiều người chết. Nhưng loài bò lại có bản năng tuyệt vời luôn tiến lên phía trước - để theo kịp đàn. Vì vậy chúng giẫm bừa lên đám người mà không dừng lại húc bất cứ ai. Chính ham muốn bám theo bầy đàn đó làm cho lễ hội Pamplona có thể tồn tại.”
“Cháu cho rằng loài người cũng vậy,” Gretchen nêu ý kiến. “Nhưng đôi lúc cũng có người mất mạng chứ,” Britta nói. “Như sáng nay chẳng hạn... anh thanh niên Thụy Điển đó dễ bị húc lắm.”
“Khi đến Pamplona, người ta sẽ mất một nửa cảm giác hứng khởi nếu không tin những lời đồn đại. ‘Hôm qua có ba người chết, nhưng báo chí Tây Ban Nha ỉm đi vì chính quyền không muốn gây dư luận xấu.’”
“Nhưng hôm qua chẳng có hai người chết là gì,” Monica phản đối. “Cháu nghe người ta kể ở quán mà.”
“Quán nào mà chẳng có chuyện người này người nọ chết. Dân ngoại quốc trịnh trọng thề thốt là năm ngoái có mười một người bỏ mạng. ‘Thế mà bạn có đọc được tin đó trên báo không? Tôi cá là không. Chính phủ Tây Ban Nha có ngốc đâu cơ chứ.’ Những vị khách ấy không bao giờ tận mắt chứng kiến cảnh chết chóc, nhưng họ luôn quen biết một ai đó đã mắt thấy tai nghe. ‘Bạn tôi đang đứng ngay ở phố Estafeta thì con bò to tướng đỏ lừ ấy nổi điên và húc vào ngực ba người đàn ông. Họ đã chết trước khi đến bệnh viện!’ Bao giờ cũng là một người bạn thân chứng kiến tai nạn chết người.”
“Thực sự thì có bao nhiêu người chết?” Cato hỏi.
Tôi đưa mắt quanh hốc tường mời họ đoán thử. Gretchen nói, “Chúng ta áng chừng con số nào đây? Hàng trăm, hàng nghìn?”
Không ai lên tiếng, vì vậy tôi đưa ra lời giải đáp: “Trong bốn mươi năm vừa qua chỉ có bảy. Mà lần nào cũng là tai nạn không ngăn ngừa được. Trên đường từ bãi quây tới trường đấu, mỗi con bò có cơ hội húc cả nghìn mục tiêu, nhưng vì một lý do nào đó không giải thích nổi nó lại không để ý đến họ, cho đến khi bất ngờ, không theo logic nào hết, nó lao vào một người bất kỳ. Nếu muốn, chúng có thể húc chết bảy chục người mỗi năm. Chúng đã húc chết bảy người.”
“Thế còn tai nạn thì sao?” Cato hỏi.
“Đó lại là chuyện khác. Mỗi sáng, sáu hay tám thanh niên được đưa đến bệnh viện vì tai nạn... mức độ nghiêm trọng khác nhau. Một vài vụ quả thực do bị bò húc, và nếu Pamplona không có các bác sĩ thạo nghề thì một số người có lẽ đã chết rồi. Và nếu bác sĩ Fleming không tìm ra penicillin thì khối người sẽ bị cắt cụt chân tay. Nhưng thật ra, ngay trong những buổi sáng tồi tệ khi có đến mười một mười hai người được cấp tốc đưa lên bàn mổ, tất cả bọn họ rồi cũng hồi phục cả. Một vài người bị mất răng cửa. Một vài người tập tễnh xuất viện. Và một số ít, như Harvey Holt, cuối cùng sẽ lãnh đến bốn vết sẹo.
“Như vậy là có ba cách tham gia chạy với đàn bò, và trong cả ba nguy cơ tử vong đều không cao lắm. Nhưng còn cách thứ tư nữa, cách mà Holt đã chọn. Chỉ rất ít người ngoại quốc biết cách chạy này vì nó đòi hỏi lòng dũng cảm mang tính chất đặc biệt. Máy quay không ghi lại kiểu chạy này và người tham gia không phải là những thanh niên muốn tìm cảm giác hồi hộp thoáng qua hay thách thức chốc lát. Trong cuộc chạy này chỉ có những người đàn ông Pamplona rắn rỏi - thợ giết mổ gia súc, thợ đốn gỗ, tài xế xe tải, những người bốn năm mươi tuổi mà các bạn gặp trong quán này – mới tham gia. Và cả Harvey Holt, vì người Tây Ban Nha đã đón nhận anh như người anh em.
“Holt được mời tham gia cuộc chạy đặc biệt này từ 1954, một năm sau vụ anh bị bò húc nghiêm trọng. Một anh thợ đốn gỗ vạm vỡ ngồi trong quán này hỏi anh, ‘Có thật anh là người trong ảnh?’ Holt gật đầu, anh chàng xứ Basque thốt lên, ‘Thế mà anh vẫn quay lại?’ Holt lại gật đầu, và anh thợ đốn gỗ nói, ‘Sáng mai hãy chạy với chúng tôi.’ Mọi việc đã bắt đầu như vậy. Nếu anh tiếp tục chạy ở Estafeta hoặc Teléfonos, tôi nghĩ anh sẽ không quay lại hết năm này sang năm khác, nhưng chạy ở đoạn ấy, và với những người ấy, anh mới tìm được những người cùng hội cùng thuyền. Rồi thì việc này đã trở thành điều đáng quý nhất trong đời anh. Bởi vì anh được chạy cùng một nơi với những người đàn ông đích thực.”
Lời bình luận này kích thích tính hiếu kỳ đến mức ba chàng trai nhất định bắt tôi phải chỉ cho họ xem nơi tôi vừa nói, vì vậy, chúng tôi rời Bar Vasca, theo sau là ba cô gái, và đến phố Santo Domingo. “Các bạn đã thấy tòa thị chính nằm trên đỉnh đồi rồi đấy. Nhưng nếu rẽ xuống con đường này, chúng ta sẽ ra bờ sông, và dưới chân đồi...”
“Đây là tòa nhà nào vậy ạ?” Gretchen hỏi.
“Quân y viện. Phải nói là nó nằm ở vị trí cũng thuận tiện đấy chứ.”
Lúc này chúng tôi đang ở một vị trí thích hợp để phóng tầm mắt qua Pamplona ngắm một trong những cảnh tượng thú vị nhất miền Bắc Tây Ban Nha. Xa xa là một dãy đồi xanh và thung lũng chan hòa ánh nắng. Phía bên trái sừng sững một cụm tháp uy nghi và mặt tiền một tòa nhà rất cổ kính mà nay được sử dụng làm viện bảo tàng nghệ thuật. Tường của nó chạy dọc phố, một đoạn dựng đứng hơn trăm foot, và chính bức tường tạo ra một bên của con đường dốc giữ đàn bò chạy nối đuôi nhau khi chúng từ bãi quây vọt ra.
“Để hiểu Holt chạy như thế nào, các bạn phải biết về bãi quây đã,” tôi nói tiếp. “Đằng kia, phía bên kia sông là các bãi quây rộng nhốt rất nhiều bò. Chúng ta sẽ được xem tám trận đấu bò trong suốt lễ hội... cộng thêm hai trận buổi sáng. Các bãi quây kia có thể nhốt được khá nhiều bò. Các bạn có nhìn thấy những hố chôn cột trên đường từ sông lên không? Mỗi đêm, khoảng mười giờ - người ta thay đổi giờ giấc một cách triệt để như vậy để làm nản lòng những người hiếu kỳ - người ta lại dựng một đường chạy. Đàn bò ra khỏi bãi quây và vượt qua cái cầu đá nhỏ đẹp đẽ phủ dây leo kia. Chúng chạy lên đây rồi qua cái cổng nhỏ này. Đây là bãi nhốt tạm, nơi chúng sẽ chờ qua đêm và làm quen với lũ bò thiến sẽ dẫn đường cho chúng qua các phố.
“Lúc bảy giờ sáng, cổng bãi quây bật mở tung và quả pháo thăng thiên mà ở khu phố trên chúng ta có nghe thấy tiếng nổ được phụt lên trời, khiến đàn thú giật mình phóng như điên lên đồi vào thành phố. Trong một trăm thước đầu tiên không người chạy nào được phép xuống đường. Điều này cho phép đàn bò lấy đà. Chúng chạy trong khoảng trống mà bên này là tường của viện bảo tàng, bên kia là tường tòa nhà.
“Tại đây, nơi không còn tường của viện bảo tàng nữa, đoạn đường dốc dẫn lên một mặt bằng khác đã bị phong tỏa và đặc kịt hàng trăm khán giả, những người đầu tiên đàn bò nhìn thấy. Tại điểm này đường chạy thu lại chỉ còn mười lăm foot bề ngang. Không những thế, nó còn rẽ trái đột ngột và dốc lên đến quân y viện, sau đó tới Bar Vasca, như các bạn đã thấy.
“Sáu rưỡi mỗi sáng, những người tham gia chạy có lòng can đảm hiếm thấy được phép đứng tại vị trí này, nơi đường đua hẹp lại còn mười lăm foot và rẽ trái để bắt đầu cuộc chạy lên dốc. Khi pháo thăng thiên nổ, những con người hiếm có đó bắt đầu chạy - không phải lên dốc để tìm nơi an toàn mà là xuống dốc về phía đàn bò đang ào tới. Họ phải tính giờ thật chính xác, xoay tròn trên mũi giày, quay lại và chạy ngược lên dốc ngay trước sừng bò. Tôi chẳng hiểu gì về thể thao - ngay cả môn đua xe hay trượt tuyết - vốn là món đòi hỏi sự kết hợp giữa tinh thần dũng cảm và khả năng tính toán thời gian vì người chạy không những phải tính được tốc độ tương đối của bản thân và của đàn bò mà trong giây phút nguy cấp còn phải quay lại và chạy lên dốc trong tình cảnh hoàn toàn không có đường trốn, vì như các bạn thấy đấy, không có bất cứ cánh cửa hay lối ra nào cả. Cuối cùng, anh ta phải hoặc lăn xuống rãnh hoặc ép mình vào bức tường trống trơn, hy vọng đàn bò sẽ lao qua mà không dừng lại húc anh ta!”
“Ông đã bao giờ chạy xuống đón đầu đàn bò chưa?” Cato hỏi.
“Chưa bao giờ có đủ dũng khí. Nhưng Holt thì chạy ở đây mỗi sáng trong mười sáu năm - từ 1954 đến 1969 - ba vết sẹo sau cùng là bị chính tại đây. Trong số bảy người thiệt mạng, phần lớn đã bị húc trên đồi này. Cái hay là ở chỗ, nếu một con bò đuổi kịp anh, nó sẽ húc anh ngã ngay trước cổng quân y viện. Không đến một phút sau là anh đã được lên bàn mổ rồi. Khi quan sát Harvey Holt, đó là các bạn đang quan sát một người đã hơn trăm lần chạy thẳng đến đám sừng bò.”
Yigal nhận xét, “Ông ấy hẳn hoàn toàn mất trí rồi,” nhưng Cato nói, “Ông ấy gan dạ thật.”
Chúng tôi quay về quán chờ Holt xuất hiện. Từ trước đến nay không ai trong nhóm bạn trẻ được xem anh chạy và vì thế họ không có khái niệm về những gì anh đã làm được, nhưng sau khi nghe tôi giải thích họ đã sẵn sàng nói chuyện với anh một cách kính nể, cho nên khi anh vào quán ăn pochas, Britta liền hỏi, “Hôm nay ông có chạy xuống dốc không?” Holt nhìn tôi với vẻ trách móc và không nói gì, vì vậy Britta hỏi tiếp, “Ngày mai chúng em xem ông chạy được không?”
“Không phải chỗ của đám đàn bà con gái,” Holt đáp, nhưng đêm hôm đó, sau cuộc bắn pháo hoa, khi chúng tôi đang trên đường về nhà đi ngủ, Britta và Gretchen túm lay tay tôi nói, “Chúng cháu muốn xem ông Holt làm được những gì,” và tôi bảo họ, “Các cô nên đi xem. Chuẩn bị sẵn sàng lúc sáu rưỡi nhé.”
Sáng ngày mười tháng Bảy chúng tôi dậy sớm, tranh nhau vào phòng tắm, xuống tầng một để chào hỏi các ca sĩ trong quán rồi ra phố Santo Domingo tới đoạn đường dốc có lối thoát hiểm dẫn lên bảo tàng nghệ thuật. Sau khi xem xét một vài vị trí, cuối cùng Joe và Yigal quyết định chúng tôi không nên đứng cuối đường chỗ gần bãi quây nhất mà tới chỗ xa hơn trên đồi, ở đó chúng tôi có thể nhìn thấy đám đàn ông chạy xuống dốc, quay lại, rồi lao ngược về phía quân y viện.
Khi ba cô gái ngó xuống khu bãi quầy im ắng phía chân đồi và thấy độ hẹp của con đường dốc mà đàn bò sẽ lao lên, họ bắt đầu đánh giá được cảnh tượng mạnh mẽ sắp diễn ra trước mắt.
Phải đến bảy giờ kém mười lăm, Britta mới reo lên, “Nhìn kìa! Ông Holt kìa!”
Harvey đứng ở hàng đầu sau rào chắn cùng các bạn Tây Ban Nha. Tất nhiên, trong số những người chạy xuống dốc về phía đàn bò chỉ mình anh không phải người Tây Ban Nha. Những người khác đều là đàn ông xấp xỉ tuổi anh, chỉ có một hai thanh niên ngoài hai mươi đã được các bậc kỳ cựu chấp nhận vào hàng ngũ.
“Để ý xem anh ấy làm gì khi pháo nổ nhé,” tôi khuyên, và cả ba cô không rời mắt khỏi Holt trong bộ đồ trắng với thắt lưng và khăn quàng đỏ.
Chiiiiúú! Quả pháo thăng thiên nổ một tiếng rất to. Cảnh sát khéo léo mở tung rào chắn và bỏ chạy vào nơi an toàn trên con đường dốc. Đúng lúc đó, quả pháo thăng thiên thứ hai nổ. Ngay lập tức Holt và các bạn đồng hành lao thẳng xuống dốc về phía đàn bò đang chạy tới. Khi đám sừng gần như móc vào họ đến nơi, họ bèn xoay người cắm cổ chạy thục mạng suốt bốn mươi thước ngay trước mũi đàn bò đang đuổi sát sạt.
“Trời ơi!” Britta thét lên khi con bò đầu đàn đã bắt kịp Holt, vươn mình ra trước như thể chực quật ngã hay húc anh. Chính lúc đó Holt lăn vào một kẽ hở giữa bức tường cao và mặt phố lát gạch, phóng qua anh là hai con bò đực và ba con bò thiến sáng hôm ấy không chạy sát nhau lắm.
Britta nhắm mắt lại, trông như sắp ngất vì cô tưởng con bò đã húc Holt ngã, nhưng Gretchen, vốn quan sát gần hơn, thấy anh không bị húc mà cũng chẳng bị giẫm lên người, bèn nói cho Britta biết, “Ông ấy đứng lên rồi.” Britta mở mắt và thấy Holt đang phủi quần áo, song lại đến lượt Monica thét, “Nhìn kìa!”
Từ một điểm trước Bar Vasca, nơi một con bò vừa húc một thanh niên khiến nửa mình trên anh ta lênh láng máu, sáu người đàn ông đang chạy xuôi xuống phố Santo Domingo. Trước mặt chúng tôi hai cánh cổng lớn của bệnh viện quân đội đã mở rộng tiếp nhận anh thanh niên. Tôi chưa kịp trấn an các cô gái rằng chàng trai chắc sẽ ổn cả thôi thì hai nhóm khác đã chạy băng băng xuống đồi, khiêng hai thanh niên khác bị húc trúng. Trên người họ không có vết máu. “Gãy xương sườn rồi,” tôi nói một cách tự tin. “Họ sẽ không sao đâu,” nhưng Monica vẫn la, “Nhìn họ lôi xềnh xệch người ta kìa!” Yigal, vẫn đang quan sát Holt, lắc đầu nói, “Giờ thì tôi tin chắc ông ta mất trí.”
Lúc này Gretchen đã phát hiện ra Holt và gọi to bảo anh chờ chúng tôi, vậy là cả nhóm chúng tôi xuống phố, đến đó Britta nói, “Ông chạy về phía đàn bò trông thật đẹp.” Holt lẩm bẩm trong miệng rồi dẫn chúng tôi về hốc tường quen thuộc trong Bar Vasca, ở đó một đám đông đã tụ tập bàn luận về mấy vụ tai nạn. Có tổng cộng bảy người được đưa vào các bệnh viện khác nhau, nhưng không trường hợp nào nặng lắm. Một người Tây Ban Nha đến bên bàn chúng tôi thuật lại, “Họ không phải mời một linh mục nào. Thế là tốt rồi. Còn ông thì thế nào, Senor Holt?”
“Regular.”
—★—
Việc bố trí chỗ ngủ ở Bar Vasca có khuynh hướng lộn xộn và tôi sẽ không có lập báo cáo xem ai ngủ trên giường ai... hoặc nói đúng hơn là dưới giường ai. Để làm được như vậy, cần phải có một máy tính bán dẫn, vì có nhiều người đổ đến Pamplona tham gia lễ hội San Fermín đến nỗi đơn giản là không sao đủ giường cho họ, và những người không may đành phải có những điều chỉnh bất thường. Phía Bắc thành phố có một chỗ cắm trại trên sườn đồi trông xuống thung lũng, nhưng lều bạt căng san sát đến nỗi chẳng thể chen thêm chiếc nào vào nữa. Như tình hình này, mỗi lều đã chứa số người nhiều gấp bốn lần bình thường, và khi tham quan khu vực đó người ta phải hết sức cẩn thận để không giẫm phải những cẳng chân thò ra ngoài lều. Một số khoảnh đất rộng được bố trí cho xe moóc đậu nhưng đã chật kín ba ngày trước hôm khai mạc lễ hội. Khá nhiều du khách phải ngủ trên nền đất, vài người ở chỗ khuất gió của bức tượng Hemingway, vì vậy mỗi khi thành viên nào trong nhóm đến quảng trường trung tâm là chúng tôi biết chắc sẽ gặp năm, sáu người đang tuyệt vọng cần chỗ ngủ. Cũng chẳng có gì bất thường nếu Joe và Yigal về quán lúc hai giờ sáng dẫn theo ba hoặc bốn cô gái, chủ yếu là người Canada hay Úc, cho các cô chen chúc cùng nhóm chúng tôi, người ngủ chung giường cùng mấy chàng trai, người nằm dài trên sàn.
Có hai lần tôi về phòng thì thấy mấy cô gái ngủ trên giường mình, mệt lử đến nỗi hầu như không thức dậy khi tôi chuyển họ xuống đất; vì ai cũng biết tôi có phòng riêng, Britta và Gretchen thường trấn an bất kỳ người nào mới quen ở quảng trường, “Ông ấy là người tốt. Cứ vào phòng trước một giờ đêm và đừng nói gì cả.” Phòng trọ của tôi thường la liệt túi ngủ, trong đó có cả nam lẫn nữ, đôi khi nam nữ ngủ chung, và không ai chú ý đến tôi.
Về những người lạ từng đi qua phòng tôi, tôi có thể nói họ đều thật thà, vì tôi không bao giờ bị mất gì; họ cũng sạch sẽ hết mức trong điều kiện đời sống không tắm rửa; và khá nhiều người vẫn còn trong trắng đúng như hồi còn với mẹ ở Úc, Canada hay Texas, nhưng một số cũng nhiều không kém thì không.
Thực ra, trong thời gian lễ hội San Fermín từ “ngủ” chuyển tải một định nghĩa tùy tiện: một việc người ta hiếm khi làm được. Người ta thức giấc lúc năm rưỡi sáng, gặp bạn bè ở quảng trường trung tâm lúc tám giờ, ăn trưa ở đâu đó, đi xem đấu bò vào buổi chiều, ăn tối, đêm đêm xem bắn pháo hoa, nhảy múa ngoài phố cho đến khoảng ba rưỡi sáng, và hai giờ sau đã dậy, đầu óc vẫn tỉnh táo như thường. Khoảng thời gian duy nhất Pamplona tương đối yên tĩnh là từ chín giờ sáng đến mười hai giờ, và chính lúc đó hầu hết chúng tôi tranh thủ ngủ hoặc giặt giũ. Những người sao nhãng việc thứ hai, và số này không phải là ít, thì đến ngày thứ ba đã bắt đầu bốc mùi, nhưng vì chẳng mấy người bọn tôi có cơ hội vào buồng tắm nên ai cũng nặng mùi, vì vậy chuyện không còn quan trọng.
Trên tầng ba Bar Vasca xảy ra chuyện gì liên quan đến tình dục, tôi chẳng bao giờ biết rõ. Tất cả những gì tôi có thể yên tâm mà nói là Cato và Monica vẫn tiếp tục cuộc tình mãnh liệt của họ, được hỗ trợ bởi những chậu cần sa hằng đêm và LSD vào những dịp đặc biệt, một vấn đề không ngừng khiến tôi kinh sợ. Nếu Joe và Yigal vẫn kiềm chế được dục vọng, họ quả có khí chất của người hùng, vì những cô gái tôi thấy họ tiếp xúc đều thuộc loại quyến rũ nhất lễ hội. Một buổi sáng tôi vào phòng họ lấy vé xem đấu bò thì thấy trên giường cậu nào cũng có một cô gái nằm chung và dưới sàn là hai cô khác đang ngủ say. Vì cùng đêm đó hai cô gái khá hấp dẫn cũng ngủ nhờ phòng tôi mà không có sự cố gì nên tôi không muốn vội vã kết luận về những gì có thể hoặc không thể xảy ra với Joe và Yigal.
Căn phòng Britta và Gretchen trọ lại là vấn đề khác. Hai cô gái này cư xử rất thận trọng; Britta không cho phép ai dễ dàng lọt vào giường cô, còn Gretchen vẫn tỏ ra xa cách. Bất cứ người lạ nào chung phòng với họ đều phải là con gái và đang cần chỗ để ngủ một giấc ban đêm không gián đoạn; nhưng trong những việc tôi kể sau đây, tôi không nói đến người lạ.
Vào bữa trưa hôm chúng tôi lần đầu xem Holt chạy với đàn bò, không khí trong quán đột nhiên rộn ràng hẳn lên và tôi nghe thấy Raquel gọi bằng tiếng Tây Ban Nha, “Cậu bé tóc vàng thân yêu, hoan nghênh cậu về nhà.” Ngay sau đó, Monica, đang ngồi quay mặt ra ngoài, bèn đứng bật dậy và lao ra khỏi hốc tường để ôm hôn ai đó. Tôi quay lại và nhận ra Clive với cái túi du lịch đỏ tía, chòm râu giống như của Chúa Jesus và nụ cười dễ thương. Anh đi một vòng quanh bàn, ôm hôn tất cả, không trừ một ai, và tôi nói, “Clive, đây là người bạn lâu năm của tôi và là chuyên gia về Pamplona, Harvey Holt,” thế rồi Clive liền hôn anh khiến Harvey gần như ngã nhào xuống đĩa pochas. Trong khi Holt vẫn còn kinh ngạc, Clive đã cầm lấy thìa của Harvey và kêu lên, “Ngon quá! Raquel, bà vẫn tuyệt vời như xưa. Giờ thì cho chúng tôi mượn máy quay đĩa nào, vì ở đây tôi có mấy bản nhạc hay tuyệt cho bà đây.”
Chúng tôi nhường một chỗ cho Clive trong hốc tường, và trong lúc Raquel chuẩn bị máy, anh góp vui cho chúng tôi bằng những tin tức giật gân chấn động London. “Octopus đã tan rã! Phải, giải tán rồi. Nhưng lại xuất hiện một nhóm mới có tầm ảnh hưởng gồm một số thành viên cũ của Octopus. Các bạn phải nhớ tên vì họ tạo ra những âm thanh kỳ diệu nhất mà các bạn từng nghe. Mauve Alligator, và các bạn sắp được thưởng thức giai điệu thần diệu của họ.” Anh thận trọng kéo khóa túi du lịch và nhấc ra một đĩa hát bìa màu xanh nhạt. “Đĩa này phải trải qua cả chặng đường đến tận Marrakech cơ,” anh giải thích, “và đây mới là điểm dừng chân đầu tiên.” Anh nhẹ nhàng đặt kim xuống đường rãnh ngoài cùng, vặn âm lượng gần như hết cỡ, rồi ngồi xuống với nụ cười rạng rỡ trên môi, trong khi những âm thanh cực kỳ mạnh mẽ rộn lên từ loa phóng thanh. Các bạn trẻ không thiết gì đến món pochas nữa mà thả mình vào dòng cảm xúc đang xâm chiếm tâm hồn họ. Holt nhìn tôi nhún vai, rồi hỏi, “Chúng ta vặn nhỏ xuống một chút được không?” Nhưng Clive đã gạt tay anh ra khỏi bảng điều khiển.
Khi mặt thứ nhất của đĩa hát Mauve Alligator hết, Clive cất món đồ quý giá ấy vào túi và cho máy nghỉ vài phút trong lúc anh kể cho chúng tôi, với vẻ bẽn lẽn dễ thương, về một sự kiện lớn mới xảy ra với anh, “Ban nhạc Homing Pigeons đã đến tìm tôi bảo là họ muốn có bài hát mới. Họ vẫn mơ đến đoạn nhạc dạo choáng váng này... các bạn chờ một chút nghe thử nhé. Thứ họ đang ấp ủ là một tập hợp từ được nhắc đi nhắc lại. Một đêm, ở câu lạc bộ, tay guitar chính của họ nghe tôi nói về Torremolinos, Ibiza và con đường âm nhạc vô tận liên kết tất thảy chúng ta. Anh ta nảy ra ý tưởng rằng đây có thể là một khái niệm... vậy đấy, một khái niệm phù hợp với phần nhạc về mặt tinh thần. Tôi bảo muốn nghe lại đoạn dạo của họ, vì vậy họ ghi vào đĩa cho tôi... chỉ vài nhịp... chỉ là một ý tưởng... thế là tôi đến nhà mẹ tôi rồi đặt vào máy nghe suốt ba ngày liền. Mẹ tôi bỏ đến căn hộ của bà ở London. Và khi nhịp điệu đó tràn ngập cả thế giới... Nghe nhé.”
Anh lấy từ trong túi ra đĩa nhạc mới nhất của Homing Pigeons, bìa đĩa màu sắc sống động đến dữ dội in hình hai phần ba bức tượng nhân sư, một lát cắt của lăng Taj Mahal, những hình trang trí rạn vỡ trên tường ngôi đền Parthenon, một khu nhà ổ chuột ở Liverpool và khuôn mặt Clive giữa một vòng hoa. Tên album là St. Pauly Ulysses and Me.
“Anh viết ư?” Gretchen hỏi.
Clive gật đầu và đặt đĩa vào máy, giữ âm lượng ở mức tối đa, và lần đầu tiên bạn bè anh được nghe ca khúc sau này sẽ vang lừng khắp thế giới. Nó mở đầu bằng nhịp điệu mạnh mẽ của ba cây đàn guitar, không trống, chơi liên miên đoạn dạo. Nó không đơn điệu vì đoạn dạo khá hay và mấy cây guitar tô điểm cho nó bằng nhiều cách mộc mạc, nhưng sau khoảng một phút dạo, một giọng bất mãn, sầu não cất lên những ca từ mà thanh niên ở nhiều nước sẽ thấy thật tâm đắc:
“Chắc hẳn Thánh Paul là bậc hiền nhân hiểu rõ
Niềm khát khao, khát khao nửa vời ấy
Được nhìn cả phía bên kia lối rẽ cuối cùng.”
Đó là ca khúc của kẻ vỡ mộng, kẻ không bị điều gì ràng buộc đã tung ra lời thách thức những sức mạnh mà họ không thể kiểm soát. Có một đoạn thu hút sự chú ý của tôi vì, mặc dù là một người Anh viết cho một ban nhạc Anh, nó liên quan đến những thứ mà thoạt tiên người ta có thể cho là một đề tài thuần túy Mỹ:
“Ta cảm thấy niềm khát khao, khát khao nửa vời ấy
Muốn chơi cho lão Lewis B. khả kính một vố thật đau.”
“Tại sao một ý tưởng như vậy lại ở trong một ca khúc Anh?” tôi thắc mắc. “Có gì để người nghe bên ấy quan tâm đến đại tướng Hershey?”
“Ông Fairbanks, có hai lời giải đáp cho thắc mắc của ông,” Clive đáp với sự chính xác thái quá. “Thứ nhất là thính giả của tôi không ở bên ấy, như ông có thể lấy chính nơi này làm ví dụ, trong chúng ta chỉ có vài người Anh. Và thứ hai là chúng tôi rất quan tâm, vì nếu có thể đánh bại tướng Hershey và kế hoạch tuyển quân ngu ngốc của lão ta ở nước ông, chúng tôi cũng có khả năng đánh bại những kẻ như lão ta ở mọi nước.”
“Còn một lẽ thứ ba nữa,” Gretchen nói. “Một lẽ cốt yếu. Ca khúc này có thể quan trọng ở Nga hay Brazil hơn ở Anh rất nhiều. Chú thấy không, chú George, đĩa nhạc này mang tính quốc tế thực sự đấy.” Rồi cô hạ giọng nói thêm, “giống như chúng ta cũng đậm tính quốc tế... giống như ông, ông Holt.”
Clive bật cho chúng tôi nghe mãi đến giờ đi xem đấu bò. Đó là một buổi hòa nhạc rất cuốn hút, và tôi được dịp nhớ lại phạm vi nghệ thuật rộng lớn của nhạc pop hiện đại. Một mặt anh bật âm lượng cực đại như của Mauve Alligator trong sự bùng nổ âm thanh có tên “Sunday Excursion”, mặt khác lại là những bản nhạc vừa ngọt ngào vừa cay đắng như “Dangling Conversation” của Simon và Garfunkel. Để cười vui, anh có màn biểu diễn bằng giọng mũi “Winchester Cathedral”, nhưng đa phần anh trung thành với những bản mới hơn do các ban nhạc Blind Faith, Led Zeppelin và Crosby, Stills và Nash trình diễn.
Sau bữa tối, vài ca sĩ Tây Ban Nha vào quán, và thật lạ là phong cách biểu diễn của họ lại phù hợp dễ dàng đến thế với những gì mà các ban trẻ vừa được thưởng thức. Rồi Gretchen mượn một cây guitar và hát vài khúc ballad cổ, khiến cho một anh thợ đốn gỗ hứng lên nhờ người đi gọi bạn diễn, một thanh niên có khả năng hát giọng kim rất cao, vậy là trong một tiếng đồng hồ hai người ấy đã cho chúng tôi được thưởng thức những bài jota vùng Navarra và Aragón, và chúng tôi nhất trí rằng những tiết mục ấy là hay nhất.
Khoảng hai giờ sáng, chúng tôi lê bước về giường, và vì Pamplona không còn phòng nào trống, chắc chắn cả Bar Vasca cũng vậy - mấy ca sĩ ngồi lại đây suốt đêm, nên trong giấc ngủ chúng tôi vẫn nghe thấy tiếng họ từ xa vẳng lại - tôi tự hỏi Clive sẽ ngủ ở đâu, và đang định nếu chưa ai có lời thì mời anh chung giường với tôi, nhưng Gretchen đã tế nhị xen vào câu chuyện giữa hai chúng tôi, và bằng cách ra hiệu nào đó mà tôi không thể nhận thấy, cho biết Clive sẽ ngủ trong phòng cô.
Những đêm kế tiếp, anh vẫn quay về đó, và họ thu xếp thế nào với Britta, tôi chẳng bao giờ biết được, nhưng tôi dám chắc trạng thái căng thẳng cho đến lúc bấy giờ vẫn bao trùm lên Gretchen dường như tan biến. Ở quảng trường chính, khi bọn đàn ông quấy phá túm lấy cô, cô không còn giật lùi do hoảng sợ một cách vô thức nữa, và một sáng, khi tôi gặp cô và Clive ra khỏi phòng, mà cô lại tươi cười và tóc cài nơ, tôi tin chắc là nếu người cha khôn ngoan của Gretchen có thể nhìn thấy cô thời khắc ấy, ông sẽ tán thưởng con gái đã hồi phục.
—★—
Ngày mười một tháng Bảy năm ấy thật đáng nhớ vì hai sự kiện: buổi picnic của Clive trong buổi sáng và cuộc gặp bất ngờ của Yigal vào buổi chiều.
Sau khi xem đàn bò chạy, Clive thông báo, “Chuyến picnic này sẽ rất thú vị. Ông có thể tham gia, ông Holt, vì chúng tôi cần máy ghi âm của ông. Và ông cũng có thể tham gia, ông Fairbanks, vì chúng tôi cần xe của ông.” Các chàng trai đã tình cờ làm quen với hai sinh viên Mỹ đang sống ở nước ngoài một năm, và các cô này lại dẫn theo một anh bạn người California cứ luôn miệng nhắc đi nhắc lại, “Chà, tôi khoái Octopus quá!” Anh rất thất vọng khi Clive cho biết, “Octopus tan rã rồi còn đâu.”
Chúng tôi chia nhau lên hai xe xong, Clive hỏi, “Chúng ta đi đâu bây giờ?” và vì không ai có ý kiến nên tôi gợi ý, “Các bạn đã thăm Estella chưa nhỉ?”, chưa có ai đi, bởi vậy chúng tôi hướng về phía đèo Puerto del Perdón và cây cầu đá Puenta la Reina tuyệt đẹp. Chưa đến một tiếng sau, chúng tôi đã tiến vào Estella, thị trấn cổ kính còn in đậm dấu vết chiến tranh từng chịu đựng hơn một chục cuộc vây hãm, chính từ nơi đây, thời Trung cổ, các con đường hành hương nối thẳng đến những thánh địa ở phía Tây. Tôi cho chiếc xe moóc nhỏ của chúng tôi dừng lại trước một quán cà phê nhìn xuống một quảng trường lâu đời nơi du khách từ khắp châu Âu hay tụ tập để rủ nhau cùng đi về phía Tây cho an toàn.
Trong lúc chúng tôi nhấm nháp cà phê và nghỉ ngơi, tôi hỏi Gretchen xem cô có hiểu rõ giai đoạn lịch sử lạ lùng ấy không, cô đáp, “Tây Ban Nha thời Trung cổ thì cháu mù tịt,” vậy là tôi hỏi tiếp, “Cô có biết gì về các cuộc hành hương không... tức là theo quan điểm của người Pháp ấy?”
“Chú muốn nói đến Compostela?” Thấy tôi gật đầu, cô đáp, “Ai cũng biết về vấn đề đó. Qua sách của Chaucer.”
“Đây là nơi bắt đầu con đường đi về phía Tây,” tôi nói. “Tại quảng trường nhỏ này. Nó đã tiếp đón hàng triệu người hành hương.”
Gretchen đứng lên, dạo một vòng quanh quảng trường kín đáo ấy, trở lại chỗ chúng tôi và phát biểu một câu làm mọi người kinh ngạc: “Có thể đây chính là đề tài em đang tìm kiếm. Quân Thập tự chinh ở Silves đã chứng tỏ họ là những kẻ thất bại. Em nhận ra mình không thực sự quan tâm đến họ, vì họ là một lũ du côn - lại còn giả nhân giả nghĩa. Nhưng những người đi trên con đường này có niềm tin. Có lẽ đó chính là điều ngày nay chúng ta đang thiếu - nhận thức sâu sắc về niềm tin.”
Chúng tôi quay lại xe và tôi dẫn cả nhóm đến một tu viện lịch sử đã canh giữ con đường này suốt bảy trăm năm. Tòa nhà đã đổ nát gần hết và có một hàng hiên mọc khá nhiều cây sồi cổ thụ. Chúng tôi trải chăn dưới bóng cây, và qua bức tường đổ nát, có thể nhìn xuống một thung lũng trải dài mà chẳng khó để tưởng tượng ra ở đó cảnh đoàn người trùm kín đầu đang thận trọng bước về miền đất thiêng.
“Bảy trăm năm trước mấy tòa nhà này trông như thế nào nhỉ,” Gretchen nói nhỏ trong lúc tham gia phân phát bánh mì và pho mát.
Tôi bảo cô, “Cô phải hình dung cảnh hàng nghìn lữ khách cuốc bộ theo con đường chúng ta vừa đi, bị cám dỗ bởi hy vọng được cứu rỗi. Họ đến cánh cửa đổ nát ở kia, đập vòng sắt gọi cửa và cầu xin giúp đỡ. Họ đã lần bước trên đường nhiều tháng rồi, và còn phải đi tiếp một tháng nữa... xuống thung lũng kia và băng qua nhiều quả đồi.”
Gretchen đăm đăm nhìn về phía chân trời, nói, “Điều cháu muốn viết là thứ niềm tin nào đã giúp họ thực hiện được một hành trình như vậy.”
Trong những người nghe chúng tôi nói chuyện, người có vẻ hiểu rõ ý Gretchen nhất là Cato. Anh ý thức được một cách sâu sắc thế nào là hành hương. Anh nói với chúng tôi, “Tôi tin chắc mình không tình cờ mà đến một tu viện thế này. Chắc hẳn phải có một mục đích... nhưng mục đích gì? Tôi không sao đoán được.” Khi tôi nhắc anh rằng mọi thanh niên có chí khí đều trải nghiệm cảm giác thực hiện cuộc hành trình để khám phá bản thân, anh nói, “Tôi không ám chỉ chuyện đãi bôi đó... cái vấn đề cũ rích về bản thể ấy. Tôi biết rất rõ mình là ai. Ý tôi là ở đâu đó - có lẽ dưới thung lũng kia - nhất định phải có một bí mật sẽ làm cho toàn bộ chuyện này trở nên sống động... cho nó ý nghĩa.” Tôi nói với anh là ý nghĩa chỉ có thể nảy sinh từ nội tại, nhưng ý kiến này anh không chấp nhận, “Ai đó biết bí mật... cứ niệm thần chú là hang núi mở ra.”
Anh không nói thêm gì nữa mà chăm chú nghe Gretchen tiếp tục ước đoán trong khi Clive bày đồ ăn: “Có lẽ cháu sẽ lấy một gia đình Pháp làm nhân vật chính... có thể là người xứ Flanders. Khoảng một trăm năm trước thời Chaucer. Cháu sẽ nghiên cứu một cách toàn diện, đặc biệt là tôn giáo và kinh tế học, cháu sẽ để cho người cha và người mẹ hành hương trên con đường này. Khoảng năm 1240 gì đó. Lúc này cháu đã có thể hình dung ra họ - một người đàn ông trạc tuổi ông Holt, một người vợ trẻ như Monica.”
Tôi cũng say sưa với đề xuất của cô và bàn, “Khi đến cổng tu viện, gia đình đó gặp bốn chàng trai đang chuẩn bị đi về phía Tây. Anh chàng Joe với bộ râu rậm. Cato với bước chân nhanh nhẹn. Yigal với tập sách. Và Clive chàng hát rong. Họ mặc quần áo bằng vải thô và đi dép, mang theo gậy và đội mũ đính vỏ sò... như người đàn ông kia.” Tôi chỉ cánh cổng đổ nát của tu viện chạm nổi một bức tượng người hành hương bằng đá ăn mặc đúng như tôi vừa nêu, gương mặt bị xói mòn ấy có thể là của bất cứ người nào trong số bốn chàng trai nhóm chúng tôi.
“Làm gì có nhiều người da đen đến đây,” Cato phản đối.
“Nhiều chứ,” tôi đáp, “từ Bắc Phi đến.”
“Nô lệ ư?”
“Một số thôi. Cả giáo viên. Thương nhân. Trong nghĩa trang đằng kia, tôi tin chắc các bạn sẽ tìm thấy hài cốt của nhiều người da đen.”
“Có người Do Thái không?” Yigal hỏi.
“Họ làm chủ một nửa Estella,” tôi đáp.
Trong lúc chúng tôi dùng bữa trưa - pho mát cứng, xúc xích tỏi, bánh mì hảo hạng - Gretchen ăn nhỏ nhẻ và nói, “Em nghĩ nếu hiểu rõ thực tế, chúng ta sẽ thấy thời nào cũng có những người trẻ tuổi lang thang khắp châu Âu... giống như chúng ta ngày nay. Em không cho rằng mình khác mọi người. Hay như cậu, Monica. Có thể là bảy trăm năm trước cậu cũng đi trên con đường này và gặm cùng loại pho mát này. Thực ra, em cảm thấy mình hợp với các cô gái thời xưa ấy thực hiện chuyến hành hương tinh thần thực sự hơn là một cô nàng đương thời ngốc nghếch nào đó ở ngoại ô Boston.”
Lưng ngả vào một thân cây, Joe nói, “Tôi tin chắc phần lớn bọn họ theo lệnh mà đến đây.”
Gretchen chăm chú nhìn anh, cong ngón trỏ bàn tay phải thành nòng súng, nhằm thẳng vào anh mà bắn. Về dòng chữ khắc trên bia mộ, cô nói, “Joe, người đi tiên phong, đánh lui bọn cướp.”
“Và nguyền rủa mỗi phút của cuộc hành trình,” Joe bổ sung từ trong mộ.
“Điều em muốn nói là những động cơ dẫn em đến châu Âu - và cả mọi người nữa - cũng không khác gì những động cơ từng thúc đẩy người hành hương lên đường. Dù thế nào đi nữa, đây cũng là đề tài tuyệt vời cho một cuốn sách.”
Câu chuyện tạm ngừng khi chúng tôi phóng tầm mắt qua tòa tu viện đổ nát nhìn con đường lịch sử của niềm tin, lối mòn gập ghềnh từng cám dỗ người hành hương, và rồi một sự lạ diễn ra. Harvey Holt, theo tôi biết vốn không quan tâm đến những gì Gretchen và Cato vừa trao đổi, chợt cất tiếng đọc một đoạn thơ mà có lần anh bảo với tôi là anh không biết:
Nào, một lần nữa cho ta đọc lại câu chuyện thường được kể!
Chuyện nhà thông thái Oxford khốn khổ,
Trí tưởng tượng bay bổng, óc sáng tạo thông minh,
Cứ mệt mỏi gõ hoài cánh cửa hiển vinh;
Rồi sớm mùa hè nọ, ông quyết tâm rời bỏ
Bạn bè đồng nghiệp, đi tìm dân gypsy học hỏi,
Rong ruổi khắp nơi cùng đám bằng hữu tự do,
Thiên hạ kháo nhau, kết quả gì đâu, chuyến xa xứ,
Nhưng từ đó, Oxford, bạn bè xưa mãi là quá khứ.
“Ông Holt!” Gretchen reo lên. “Những câu thơ ấy có lẽ được viết cho anh Joe đấy!”
“Cô biết bài này sao?”
“Tôi có biết gì đâu.” Không ai khác biết nên Holt nói, “‘Gypsy-Nhà thông thái.’ Có lần một giáo sư yêu cầu tôi học thuộc lòng, nhưng tôi bảo dài quá. Rồi trong một dạo nóng bức, hỏi tôi ở Simpang Tiga mà lại không có ai để chuyện trò...”
“Tôi phải kiếm một bản mới được,” cô nói, và lần đầu tiên cả nhóm cảm thấy gần gũi với Holt, tuy nhiên những gì diễn ra tiếp sau đó lại khiến họ thay đổi hoàn toàn.
Vì Clive đã đề nghị, “Ta phải nghe chút nhạc chứ,” và Holt liền lấy máy ghi âm ra cắm vào hệ thống điện của xe. Băng nhạc đầu tiên, vốn được anh xem như tuyệt tác, hóa ra lại là một thất bại hoàn toàn. Băng gồm những bài hay nhất kỷ nguyên big-band, và khi giọng nhỏ nhẹ của các nam ca sĩ cùng tiếng hát lanh lảnh của các nữ ca sĩ solo từ máy ghi âm phát ra, như thể những hồn ma ngớ ngẩn đang tuôn ra những lời vô vị kiểu cách của thời phong kiến nào đó, các bạn trẻ bật cười. “Này, chúng tôi nghe lại bài đồng ca ấy được không?” họ yêu cầu, và khi Holt tua băng rồi bật lại September in the Rain, đám thanh niên cười như nắc nẻ xin nghe lại lần thứ ba. “Tuyệt!” họ kêu lên. “Nghe giọng hát đó xem... giọng vè đó.”
Tất cả những bài Holt và tôi yêu thích, bọn họ đều chê ỏng chê eo: “Just One of Those Things”, “Don’t Sit Under the Apple Tree”, “I’ll Never Smile Again” và “Symphony” đều bị họ coi thường, nhưng khi băng nhạc chạy đến bài “My Reverie” mọi người cười phá lên và xin nghe lại nhiều lần.
“Người ta vẫn thường bảo chúng tôi, ‘Họ không viết lời ca theo cách cũ nữa.’ Đây có phải một ví dụ cho những điều ông nói không, ông Fairbanks?”
Holt hỏi với vẻ phòng thủ, “Bài ‘My Reverie’ của tôi có gì dở nào? Dù sao thì cũng là Bea Wain hát đấy chứ,” vậy là Cato hỏi thẳng thừng, “Thế thời ấy người ta có bao giờ lên giường cùng nhau không?” khiến Holt gắt lên, “Có chứ, họ có lên giường, nhưng họ không hát về chuyện ấy trong đĩa hát của hãng Victrola,” Cato nói, “Thành thực mà nói, nhạc nhẽo này nghe chán cả tai.”
Holt muốn biết tại sao, Joe xen vào, “Lý do là...” nhưng anh chưa kịp phát biểu ý kiến thì Gretchen đã ngắt lời, “Giai điệu đều đều buồn tẻ... một, hai, ba, một, hai, ba... lời ngây ngô... trí tuệ như của đứa trẻ chín tuổi.” Holt đang định biện hộ cho những bài mình ưa thích nhất thì Gretchen đã cướp lời, “Ông Holt, ông đã bao giờ nghe nhạc trữ tình chưa?”
Anh tra mục lục băng nhạc đặc biệt đó, vừa tua đi tua lại vừa điều chỉnh âm thanh cho đến khi tìm được bài anh muốn: Ella Fitzgerald trình bày “Love For Sale” của Cole Porter. Giai điệu ngọt ngào và đắng cay ấy thu hút được các bạn trẻ, và khi lời ca vang lên, họ không bật cười ngay lập tức nữa.
“Cách vận dụng ca từ tài tình đấy,” Joe thừa nhận. “Nhưng vần vè thì hơi gượng ép.”
“Đừng đòi hỏi kỹ thuật quá cao như vậy,” Holt nói. “Công nhận là hay đi.”
“Vâng thì hay. Bảy bài mới có một bài hay.”
“Harvey này,” tôi gợi ý, “tôi nghĩ trong băng này có ‘Night and Day’ đấy. Anh xem có tìm được không?” Trong khi Holt tìm, tôi nói với đám thanh niên, “Khi các bạn nghe bài này, tôi muốn các bạn tin rằng hàng nghìn người cùng lứa với tôi thấy nó tổng kết... không phải những quan điểm của họ... thế thì to tát quá. Ý tôi muốn nói là tình cảm của họ, họ cảm thấy thế nào khi hai mươi hai tuổi... hoặc ngay cả ba mươi.”
“Chú diễn đạt vụng về quá,” Monica nói. “Ý chú là, chú cảm thấy thế nào về các cô gái chứ gì?”
“Nghe này!” Holt đã tìm ra bài hát nổi tiếng, một trong số những bài hiếm hoi mà lời thơ còn hay hơn cả đoạn đồng ca, và khi nó vang dội khắp tu viện, tất cả những gì tôi có thể làm là cố không nhắm mắt lại mà tưởng tượng - có khi còn toét miệng ngẩn ngơ - rằng mình đang nghe mà lần đầu tiên đa sầu đa cảm. Tôi biết thể nào cũng bị các bạn trẻ cười nếu làm như vậy, và không có chuyện này thì buổi chiều hôm đó đã đủ căng thẳng rồi.
Trong khi lời ca tuôn trào, hòa hợp rất tuyệt với giai điệu, tôi hỏi các nhà phê bình xem họ nghĩ thế nào. “Phản ứng vẫn vậy,” Cato đáp. “Thế hệ các ông chưa từng rủ con gái lên giường sao?”
“Mẹ kiếp! Nghe lời ca đi chứ!”
“Tôi đang nghe đây, bài này thật vô nghĩa. Một bài vô nghĩa sướt mướt. Chẳng trách thế giới này lâm vào tình trạng như hiện nay, nếu thế hệ các ông nghe cái thứ rác rưởi đó và Tổng thống Kennedy đọc tiểu thuyết James Bond. Xin tha cho tôi, nhưng đó là đồ bỏ đi.”
Tôi nhìn những người khác, họ phát biểu những câu đại khái như: “Nhạc nhẽo chẳng có sức sống gì cả.” “Nhịp điệu như vậy sẽ dồn người ta vào thế phải thủ dâm.” “Rác rưởi không phải từ chính xác, nhưng cũng gần như vậy.” Và: “Ông Holt, nhạc của ông giống những bài hát ngắn có đoạn điệp thời Elisabeth, hay đại loại thế. Ngày xưa thì hay nhưng...” Còn Cato, đang nghe lại bài “My Reverie”, phát biểu ngắn gọn, “Ối dào.”
Đúng lúc không vui ấy, băng của Holt chạy đến bản “Taking a Chance on Love” do Sammy Kaye và nhóm Three Kaydettes trình bày, và vừa nghe phần mở đầu tôi đã làu bàu tự nhủ, “Bài này đáng ta tua cho qua đi,” nhưng khi mấy giọng nam cất lên nghe chẳng khác nào tiếng đám quan hoạn giữa một ngày hội trong cung điện, nhóm bạn lại cười ngặt nghẽo. Chúng tôi chuyển sang nói chuyện nghiêm túc, tôi thừa nhận rằng những bài dở nhất của chúng tôi kể ra cũng dở thật, và chúng dở chính vì lẽ Joe vừa khéo nghĩ ra: nghe chúng thì thấy có vẻ như các ca sĩ nhạc sĩ đều chưa bao giờ lên giường với ai. Những uyển ngữ rắc rối họ dùng thật tức cười, và nghe những ca khúc đó trong hoàn cảnh này, tôi cũng tự hỏi làm sao từ trước đến nay mình lại có thể coi trọng chúng được.
Chính bản thân cũng ngạc nhiên về những kết luận của mình, tôi hỏi Clive xem anh nghĩ thế nào, anh nói, “Tôi rất ấn tượng. Các nghệ sĩ phải làm việc trong những hạn chế kinh khủng ấy... chỉ một vài nhịp điệu chấp nhận được... hình thức thể hiện ca từ cứng nhắc... mọi nhạc cụ nghe na ná nhau... và chẳng có nhịp điệu gì cả. Tôi lấy làm lạ là họ đạt được kết quả như vậy. Nhưng tôi đồng ý với Joe ở một điểm. Lời ca tởm tột độ. Hết sức giả tạo, hết sức thanh giáo. Người ta có thể thấy áp lực xã hội qua những vần điệu ngớ ngẩn.” Anh tạm ngừng lời, rồi nói thêm, “Tất nhiên, nếu người ta có thể phục hồi ‘My Reverie’, có lẽ nó sẽ đạt được thành công lớn... giả tạo tột độ.”
Holt tắt máy giữa chừng lời tuyên bố đó, nhưng khi Clive dứt lời, Harvey bỗng khúc khích, rồi cười phá lên không chút e ngại. Yigal hỏi anh có gì khôi hài, Harvey đáp, “Tôi đang mong đến tháng Bảy năm 1998, khi một vài kẻ ta đây các bạn đi picnic ở nơi này với một đám thanh niên thời đó. Và các bạn cố gắng giải thích cho họ hiểu hồi trẻ các bạn đã mê mẩn cái thứ rác rưởi một trăm phần trăm mà các bạn gọi là âm nhạc như thế nào.” Nói xong, anh đóng máy ghi âm đánh sầm một cái.
Joe nói, “Khoan đã. Ông vẫn chưa nghe những bài mới Clive mang đến mà.”
“Tôi nghe đêm qua rồi - ở Bar Vasca - và sáng nay xuống tầng một tôi đã hỏi xem người ta xông khói tẩy uế nơi ấy chưa.”
“Ông đúng là một lão già,” Cato nói gay gắt.
“Có đôi tai thành thạo để nghe từng nốt nhạc được đánh lên, và tôi dám nói rằng thứ rác rưởi mà ngài Clive ra sức khai thác đêm qua là một trò lừa gạt công chúng.”
“Thế mà đó lại là nhạc thời đại này đấy,” Monica giận dữ đối đáp.
“Thế thì thời đại này rác rưởi. Nếu các bạn phải nghe nhạc như vậy để có cảm giác... Và hút cần sa...”
“Ông có phải Savonarola[89] thời đại mới không đấy?” Gretchen lạnh lùng hỏi.
“Ông ta có phải kẻ đốt nhiều tác phẩm ở Florence không?”
“Phải.”
“Chúng ta cần ông ta... ngay tại đây.”
“Tôi sẽ không đốt nhạc của ông,” Gretchen nói. “Tôi sẽ giữ chúng trong bảo tàng hoài cổ.”
“Của các bạn thì tôi đốt,” Holt nói. “Đó là phản kháng những gì các bạn không hiểu... phá hủy những gì các bạn đã làm.”
“Tôi thấy buổi picnic hôm nay kết thúc rồi,” Monica gắt gỏng, nhưng Britta, với bản tính điềm tĩnh tự nhiên của người Scandinavia, đã giành lấy máy ghi âm từ tay Holt, đặt lại xuống đất rồi tháo móc cài.
“Người lớn cư xử như vậy thì thật buồn cười,” cô nói. “Tôi nghĩ ông Holt nên bật lại băng đó và chúng ta nghe xem có bài nào chúng ta đánh giá cao không. Nếu không chúng ta làm thế nào học hỏi được?” Cô quay sang Holt nói, “Ông mở máy thế nào ấy nhỉ?”
“Ấn núm này,” Holt đáp, không chịu gánh trách nhiệm, nhưng chưa âm thanh nào kịp nổi lên, anh đã tắt máy. “Chúng ta làm thế này nhé,” anh đề nghị. “Ông Fairbanks đã nói thẳng thắn với các bạn về ‘Night and Day’ và các bạn đã cười. Tôi sẽ liều làm vậy xem sao, ở đây có một bài khiến tôi đau đớn hồi tôi còn bé. Hãy cho tôi biết các bạn thấy thế nào.” Anh tua băng cho đến khi tìm được bài anh muốn, vặn âm lượng hợp lý và chỉnh lại loa.
Một lát sau chúng tôi nghe thấy giọng khàn khàn của Jo Stafford trình bày bài “Blues in the Night,” với ảo tưởng ám ảnh của tầng lớp thanh niên tại một thị trấn nghèo có đường xe lửa chạy qua và hai dòng thơ tuyệt vời:
“Tôi đã nhìn mình trong những thành phố lớn
Và nghe mình trong buổi thuyết trình...”
Các bạn trẻ lắng nghe với thái độ tôn trọng, và tôi thấy buồn cười vì Holt và tôi hồi hộp chờ đón ý kiến đánh giá của họ như thế nào. Đến phần cuối Joe phát biểu, “Bài này cũng đẳng cấp đấy,” Gretchen nói, “Đêm nay, ông Holt, khi ông nghe bài ‘MacArthur Park’ hy vọng ông sẽ có lòng trắc ẩn như vậy.”
“Tôi nghe rồi,” Holt đáp. “Cũng đẳng cấp đấy.”
Trên đường về, Holt đang lái chiếc xe dẫn đầu đến ngoại ở Pamplona thì hai cảnh sát phất cờ ra hiệu cho chúng tôi dừng lại, liếc nhìn chòm râu của Joe, hướng dẫn chúng tôi đỗ sát lề đường và hỏi, “Chàng trai này có phải tên là Yigal Zmora không?”
“Trong xe sau,” tôi đáp.
Khi cảnh sát dừng chiếc pop-top, tôi quay lại làm phiên dịch. “Anh có phải Yigal Zmora không?” họ nhắc lại. Thấy Yigal gật đầu, họ bảo Gretchen, “Đi theo chúng tôi. Có người cần gặp anh ấy.”
Tôi hỏi, “Để làm gì?” thì họ đáp, “Đừng hỏi nhiều.”
Chúng tôi lái xe vào thành phố, nhưng tới ngã ba dẫn đến đồn cảnh sát, họ lại rẽ theo hướng đối diện, và tôi chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, họ đã dừng lại trước Tres Reyes, khách sạn sang trọng nhất thành phố, nơi người ta hầu như không thể đặt được chỗ trong thời gian lễ hội San Fermín.
Hai viên cảnh sát xuống xe, dựng mô tô trên lối vào gara và bảo Yigal, “Đi theo chúng tôi.” Anh vừa dợm bước vào khách sạn, một người đàn ông luống tuổi vóc dáng nhỏ nhắn, quen quen đã lao từ trong sảnh ra, huých khuỷu tay gạt hai viên cảnh sát sang bên và ôm chầm lấy Yigal. “Bruce!” người ấy reo lên. Vẻ mặt sững sờ, hai tay buông thõng, Yigal ngoái cổ lại báo cho chúng tôi biết, “Ông ngoại tôi đấy.”
Chính là Marcus Melnikoff, ăn mặc lịch sự và vẫn nhanh nhẹn như xưa. Thấy tôi, ông bèn chạy lại chào, nhưng vẫn nắm chặt tay Yigal. “Tôi mất bao nhiêu thời gian mới tìm được thằng bé này đấy,” ông phàn nàn khi chúng tôi đã tập trung đông đủ quanh chiếc pop-top. “Bruce, phòng trọ của cháu trong quán... thật tồi tệ. Chính hai ông cảnh sát tử tế đây đã tìm ra cháu. Thưa các ông, tôi muốn tỏ lòng biết ơn...” Ông dẫn hai viên cảnh sát đang bối rối sang một bên, đưa cho mỗi người một nghìn peseta. “Tây Ban Nha được quản lý rất chặt. Anh chỉ cần nói, ‘Cháu tôi ở đâu?’ thế là người ta tìm được ngay.”
Tôi hỏi ông trọ ở đâu, Melnikoff chỉ về phía khách sạn Tres Reyes, và tôi bảo ông sao có thể đặt phòng ở đó, thì ông bảo, “Được chứ, nếu anh quen lãnh sự Tây Ban Nha ở Chicago và đại sứ Mỹ ở Madrid. Tôi là người đóng góp nặng ký cho đảng Cộng hòa mà.”
“Có chuyện gì mà ông lại đến đây?” tôi hỏi.
Điệu bộ trang trọng, ông Melnikoff im lặng chỉ cháu mình. Rồi ông nói, “Tôi đến đón cháu về nhà.”
“Cháu không về Detroit,” Yigal phản đối.
“Ông xin cháu! Trước mặt bao nhiêu người thế này, không nhất thiết ông cháu ta phải bàn chuyện gia đình.”
“Cháu sẽ không về nhà bây giờ. Cháu đã báo là có thể vào giữa tháng Chín.”
“Giữa tháng Chín thì quá muộn để cháu xin vào Viện Công nghệ Case.”
“Ai nói cháu muốn học ở Case?”
“Cháu có biết là thời buổi này xin vào một trường tốt khó thế nào không? Chỉ vì một giáo sư hàng đầu của trường Case lại tình cờ là chuyên viên tư vấn cho hãng Pontiac...”
“Ông ấy có thể dành chỗ trống ấy cho một người da đen đáng được giúp đỡ.” Yigal nói.
Câu trả lời bất ngờ của Yigal làm ông Melnikoff tức giận, ông gắt, “Ông đã nghe nói về cháu ở trường Technion... Bỏ phí một tài năng như cháu... Nào, ông cháu ta ra chỗ khác nói chuyện. Đây là lối vào gara công cộng.”
Yigal nói, “Nhóm chúng cháu đang định ăn tối cùng nhau. Ông dự với chúng cháu đi.”
“Tôi rất vinh hạnh được làm quen với bạn bè của Bruce,” ông Melnikoff nhã nhặn nói. “Nhưng chỉ với điều kiện tôi được thanh toán hóa đơn.”
Monica reo lên, “Chắc chắn là được rồi. Này các bạn, chén không mất tiền đấy!” Ông Melnikoff bật cười hỏi liệu có nhà hàng ngon lành nào ở Pamplona không, Monica nhanh nhảu gợi ý ba nơi, rồi chốt lại, “Nhưng ngon nhất là ở một lâu đài cổ trên tường thành. Ông sẽ thích cho mà xem, và vì đã biết thức ăn ở đó rất ngon cho nên chúng cháu cũng sẽ thích.”
“Cháu sẽ ngồi bên phải ta,” ông Melnikoff nói.
Nhà hàng Monica giới thiệu vốn rất được ưa chuộng ở Pamplona, El Caballo Blanco, nằm ở khu phố cổ, trên một vách đá nhìn xuống dòng Río Arga. Đó là một tòa nhà cổ, xà rầm bằng gỗ hạt dẻ lâu đời được sơn dầu, nó truyền tải cảm giác đời sống sung túc. Trong thời gian diễn ra lễ hội San Fermín, nhà hàng rất đông khách nhưng viên quản lý ở khách sạn của ông Melnikoff lại quen biết mấy bà điều hành ở đó nên đã thu xếp được một bàn cho mười bốn người, gồm cả hai cô sinh viên Joe cho đi nhờ và cậu thanh niên đang đau buồn vì ban nhạc Octopus tan rã.
Buổi tối rất vui vẻ và ông Melnikoff tỏ ra là một chủ tiệc có duyên. Ông kể nhiều chuyện ngành công nghiệp sản xuất xe hơi ở Detroit, rồi lắng nghe Clive giải thích cách thức hoạt động của các ban nhạc London. Ông muốn biết những hoạt động mới nhất của World Mutual và chúc mừng tôi về những thành công gần đây của tập đoàn, việc này đã dẫn đến một cuộc bàn luận nghiêm túc giữa hai chúng tôi. “Làm sao một người quan trọng và có học thức như ông lại quan tâm đến một lễ hội như thế này?”
“Tình cờ một vài người trong chúng tôi lại tôn sùng Pamplona.”
“Vì sao?”
“Như sự gợi nhớ cuối cùng đến một thứ quan trọng.”
Ông Melnikoff nhún vai nói, “Tôi thì lại thích bãi biển Miami. Bạn bè tôi ở Detroit cho rằng tôi dở hơi.” Ông ngập ngừng rồi hỏi, “Bruce là mẫu thanh niên như thế nào?”
“Trước hết cậu ấy tên là Yigal.”
“Một thời thôi. Ông có nghe nói chuyện điểm số của cháu không? Trong môn khoa học nào cháu cũng đạt gần một trăm điểm. Có lẽ là một thiên tài đấy. Chúng ta không nên để phí hoài.”
“Israel đã sản sinh ra một số nhà khoa học rất giỏi. Và đất nước đó cần cậu ấy.”
“Nước Mỹ chúng tôi cần cháu.” Ông nhìn về cuối bàn, nơi Yigal đang tranh luận sôi nổi với một trong hai cô gái mới quen. Người ta có thể thấy ông già đó yêu thương chàng trai nhiều như thế nào. “Cháu có nói cho ông biết cháu là một anh hùng trong cuộc chiến tranh với Ả rập không? Một thằng bé từng ấy tuổi làm được gì trong chiến tranh?”
“Cuộc sống ở đâu chẳng có hiểm nguy, ông Melnikoff. Những vụ bạo loạn ở Detroit...”
“Một thời thôi. Thực tế đơn giản là Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ cần thằng bé này.”
“Cậu ấy biết thế. Tôi có thể bảo đảm với ông là cho đến bây giờ cậu ấy vẫn chưa quyết định quay lưng lại với nước Mỹ.”
“Thế thì nó đang làm cái quái gì ở Pamplona? Ở Torremolinos? Và nơi khỉ ho cò gáy đó ở Bồ Đào Nha? Một cô gái nào đó đã bẫy nó vào tròng rồi chăng?”
“Ông Melnikoff, ông có thấy cô gái xinh đẹp ngồi ở cuối bàn kia không, cô mà mọi người gọi là Gretchen ấy. Sáng nay cô ấy đã dẫn chúng tôi đi picnic ở một tu viện cổ.”
“Tôi biết rồi, cảnh sát ở đây gọi cho đồng nghiệp ở đó và họ báo là có nhìn thấy các ông vào tu viện.”
“Cái xứ Tây Ban Nha già cỗi ma xó này.”
“Cái gì?”
“Dù sao thì, chúng tôi đã thảo luận về chuyện suốt trong bảy trăm năm vừa qua người hành hương vẫn xuôi ngược trên những con đường này... những người lang thang trong hành trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời. Đó chính là điều lôi cuốn Yigal.”
“Hành hương! Ông đã thấy cái quán bẩn thỉu nó ở trọ đấy.”
“Tôi cũng trọ ở đó.”
“Ông phải lấy làm xấu hổ vì việc đó.”
“Tôi đoán là ngày xưa một nửa số người hành hương ngủ nhờ trong các tu viện, nửa còn lại trong nhà thổ.”
Đến đó thì câu chuyện của chúng tôi bị cắt ngang vì Cato đã đến đầu bàn chỗ chúng tôi ngồi để chào ông chủ tiệc. Monica đi cùng anh. “Chúng cháu phải đi gặp mấy cậu nhóc Đan Mạch trên sân khấu,” anh giải thích, và khi họ đi khỏi, ông Melnikoff nói, “Mười năm trước tôi sẽ rất phẫn nộ vì một cảnh như vậy. Bây giờ tôi lại thấy thú vị. Nếu còn trẻ và có tài, tôi cũng muốn là người da đen, và việc đầu tiên tôi làm là lấy con gái ông chủ... Vì lợi ích của cả hai bên.”
—★—
Rất lâu sau nửa đêm, tôi đang ở trong phòng thì có tiếng gõ cửa. Tôi tưởng có ai đó đến ngủ nhờ, nhưng là Melnikoff; một chiếc taxi đã đưa ông từ khách sạn đến. Ông hỏi nhỏ, “Tôi nói chuyện với ông được không, ông Fairbanks?” Tôi gật đầu, vậy là ông đi đến cửa sổ ra hiệu cho taxi chờ. Ngồi xuống giường tôi, ông nói, “Tôi cảm thấy mình như phát điên. Nơi ghê tởm mà ông đang trọ này. Chiều nay, khi tôi vào phòng Bruce, có một cặp trai gái lạ trên giường. Tôi tin chắc họ vừa hút cần sa. Thằng cháu tôi làm gì với một lũ như vậy?”
“Cậu ấy là bộ phận của một cuộc cách mạng toàn diện,” tôi đáp, tự bản thân cũng thấy không hài lòng với câu trả lời của mình.
“Ở Mỹ thì sinh viên thiêu trụi các tòa nhà. Thế là sao chứ?”
“Ông Melnikoff, tôi đã gặp những người trẻ tuổi này ở đây và tôi thấy họ nằm trong số vài cô cậu ưu tú nhất tôi từng biết.”
“Điều này tôi không thể nhất trí. Tôi nghĩ có một chứng bệnh mới giáng xuống đầu cả một thế hệ.” Tôi chưa kịp phản đối, ông đã nắm tay tôi nghiêm trang nói, “Cho tôi biết điều này. Người da đen. Tại sao họ không thể phấn đấu leo lên nấc thang xã hội cao hơn... theo cách cha mẹ tôi đã làm? Theo cách tôi đã làm?”
“Đó là thắc mắc ông nêu ra ở Detroit phải không?”
“Không. Ở đó thì tôi giữ mồm giữ miệng. Tôi đoán đang xảy ra chuyện gì đó mà tôi không hiểu và tôi không muốn trông giống một tay khờ.”
“Tôi mừng ông đã không công khai rao giảng chuyện đó. Nó lý giải cái ác cảm của người da đen cứ nhắm vào người Do Thái.”
“Và còn một vấn đề nữa. Tôi đã đóng góp hội phí cho NAACP[90] trong ba mươi năm. Không có sự lãnh đạo của người Do Thái chúng tôi, người da đen còn chưa được hưởng quyền công dân. Ông cứ thử đọc hồ sơ xem.”
“Nhưng đừng có nói với họ rằng vì người Do Thái các ông đã phấn đấu vươn lên cao nên họ cũng có thể làm được vậy.”
“Bruce có nghĩ như ông không?”
“Nếu hiểu biết, cậu ấy sẽ nghĩ thế. Nhưng tạm thời cứ bỏ qua vấn đề người da đen và người Do Thái. Tôi tình cờ được biết về dân Ailen ở Boston. Khi sang đây, họ bị đối xử tệ hơn cả người da đen. Nhưng rồi họ vươn lên bằng chính sức mình. Vì sao? Vì họ được tùy ý sử dụng một cái thang có tính lưu động thẳng đứng. Người Ailen xưa không đoạt được gì từ các tín đồ Tin lành ở Boston. Nhưng những người Ailen có tài xoay xở ấy đã phát triển lề lối sinh ra con gái xinh đẹp và con trai khỏe mạnh là ngôi sao bóng bầu dục ở các trường trung học Boston. Vậy chuyện gì xảy ra? Dù các tín đồ Tin lành Boston có muốn hay không, con trai họ vẫn cứ phải lòng các cô gái Ailen xinh đẹp, và trường đại học Harvard vẫn cứ cấp học bổng bóng bầu dục cho các chàng trai Ailen khỏe mạnh, rồi đến một lúc nào đó các chàng trai này sẽ lấy chị em gái của bạn cùng phòng. Nhưng người da đen thì chẳng bao giờ tiếp cận được cái thang có tính lưu động thẳng đứng đó. Một cô gái Ailen da trắng có thể giấu chuyện mình là tín đồ Công giáo, hoặc cô có thể gia nhập nhà thờ Tân giáo. Nhưng một người da đen thì chẳng bao giờ giấu được màu da, và chúng ta không cho phép họ theo đạo nào. Một người da đen đứng ì tại chỗ không thể sánh kịp với một người Do Thái liên tục vượt lên phía trước. Thậm chí họ còn không chơi cùng một môn bóng.”
“Vậy là ông nhất trí với bọn trẻ? Nước Mỹ có vấn đề không ổn?”
“Nhiều vấn đề.”
Ông im lặng một lúc lâu rồi đột ngột nói, “Việt Nam. Chúng ta có nên tống giam những kẻ phản đối không?”
“Tôi đã từng ở Sài Gòn. Ông nói đi, trong quá khứ đã có cuộc chiến tranh nào tồi tệ hơn chưa?”
“Ông nói đi thì có. Nếu còn trẻ, ông có đốt thẻ quân dịch không?”
Đến lượt tôi im lặng. Chúng tôi đang tranh luận thẳng thắn, vì vậy tôi cũng trả lời thẳng thắn, “Tôi không thể suy nghĩ như một thanh niên được vì tôi đã trót mang dấu ấn của nền giáo dục mà tôi được tiếp thu - lòng yêu nước máy móc, quan điểm cũ rích về đàn bà, niềm tin vào các giao kèo, lòng trung thành với những lý tưởng vốn phổ biến vào năm 1932 và bây giờ lộ rõ là hết sức sai lầm. Tôi là một ông già, đã thâm nhiễm mọi sai lầm và thói xấu của tuổi tác. Nếu tiếp tục mang dấu ấn hiện tại của mình, mà bỗng nhiên được trở lại tuổi mười chín, tất nhiên tôi sẽ tôn trọng chế độ quân dịch và ra trận. Nhưng nếu thực sự mười chín tuổi - suy nghĩ như những thanh niên mười chín tuổi ngày nay được nuôi dạy dưới chế độ ngày nay - tôi không biết mình sẽ làm gì... rất có thể là đốt thẻ quân dịch.”
Ông Melnikoff đứng lên, đi đi lại lại một lúc rồi hỏi, “Ông nghĩ sẽ có chuyện gì xảy đến với Bruce?”
“Tôi nghĩ cậu ấy sẽ đi Mỹ, nghiên cứu tình hình cẩn thận, và rốt cuộc quyết định chia sẻ số phận với Israel.”
Ông ngồi xuống giường. “Sao ông lại nói như vậy?”
“Bởi vì tôi hiểu cậu ấy rất rõ, và cậu ấy là một thanh niên nhìn sự việc với đầu óc logic tỉnh táo.”
“Nhưng mọi sự việc đều có lợi cho Hoa Kỳ.”
“Sự việc vật chất hữu hình, thì đúng. Tình cảm thì không. Và thế hệ này sẽ không tự lừa gạt mình trong những vấn đề liên quan đến tình cảm.”
“Ông có khuyên cháu ở lại Israel không?”
“Tôi đã khuyên cậu ấy thử Hoa Kỳ xem sao... nhưng không phải ở Detroit.”
“Tại sao lại không? Chúng tôi sống rất dễ chịu ở đó.”
“Tôi cam đoan với ông điều này. Nếu giữ cậu ấy ở Detroit cạnh ông, ông sẽ mất cậu ấy.”
“Chúng tôi biết làm gì để giữ cháu đây?”
“Làm một việc duy nhất từng giữ được thanh niên - tức là những thanh niên tốt - thả cho họ được tự do.”
“Tự do để làm gì?”
“Đối với Yigal, có thể là thành kỹ sư tại một trong những nước cộng hòa da đen mới như Vwarda, hoặc nghiên cứu ở Oxford, hoặc giảng dạy tại một trường đại học nào đó ở phương Nam. Tôi không biết sẽ là việc gì, nhưng ông sẽ không giữ được cậu ấy, trừ phi cậu ấy tìm được nó, tự tìm.”
“Ông nói về bọn trẻ có vẻ thạo đời gớm. Tôi tưởng ông không có đứa con nào.”
“Tôi có một con trai. Rất giống Yigal. Và tôi đã mất nó.”
“Sao thế?”
“Vì dùng những phương sách ông đang dùng với Bruce... như ông gọi cậu ấy đấy.”
Tôi lấn cấn mãi sau cuộc trao đổi với Melnikoff. Tôi thấy quan điểm của mình rất gần với của Yigal, còn quan điểm của Melnikoff lại tương tự như của Holt đến mức tôi muốn thảo luận vấn đề với Harvey để xem liệu biện hộ cho Yigal như vậy có đúng không. Đặc biệt, tôi nóng lòng muốn biết phỏng đoán của Holt về việc Yigal có lựa chọn ở lại Mỹ hay không, vì tôi không muốn ông Melnikoff bị tác động bởi quan điểm có phần thành kiến của tôi.
Vì thế, trước khi về phòng, tôi rẽ vào phòng Holt. Mới đẩy cửa mở - trong Bar Vasca không có khóa, cũng không còn bao nhiêu then chốt lành lặn - tôi thoáng nghĩ hình như anh đặt va li hay vật gì đó đằng sau, và chỉ đến khi mở hẳn cửa rồi tôi mới nhận ra đó là một cái ghế để chặn, có chủ ý hẳn hoi. Tôi định lui ra, nhưng đúng lúc đó Holt làu bàu với tôi từ phía giường và tôi, như một kẻ ngốc, đã đứng lại để đáp lời. Tôi chỉ ước giá mình đừng làm vậy.
Trong mấy ngày vừa qua, tôi nhận thấy - buổi picnic chiều hôm đó chẳng hạn, khi chúng tôi bàn về âm nhạc, và cả hôm trước khi chúng tôi tranh luận về phim ảnh - là Britta luôn tôn trọng quan điểm của anh. Về mặt chính trị và xã hội, anh hoàn toàn không giống những người cô ưa thích, nhưng trong bản tính thẳng thắn vững như bàn thạch, anh lại giống một vài người mạnh mẽ hơn mà cô quen biết hồi ở Tromsø. Cô từng nói với tôi là Holt phần nào có chất trung thực rất Na Uy. Những người đàn ông Na Uy mà cô kính nể thường lầm lẫn mọi điều trừ điều quan trọng nhất - chí khí. “Có họ bên cạnh người ta cảm thấy nếu mình bị cuốn vào một cuộc ẩu đả... Giả sử chúng ta rơi vào một cuộc ẩu đả thực sự. Cháu có thể tin cậy ông trong việc xác định bên nào đúng về mặt đạo đức. Cháu có thể dựa vào anh Cato để diễn đạt ý mình. Cháu có thể dựa vào anh Yigal để biết phải làm gì nếu tình hình căng hơn. Và cháu có thể dựa vào anh Joe để có sự thông cảm nếu mọi việc diễn biến xấu. Holt thì cháu có thể trông cậy trong phần đánh trả. Về mặt này ông ấy rất giống cha cháu.”
“Tôi tưởng cô đã bảo cô thấy thương cho cha mình.”
“Cháu cảm thấy thương cho Holt.”
Khi tôi nhìn thấy họ ở bên nhau - chẳng hạn trong bữa trưa hoặc nếu chúng tôi đến nhà hàng ăn tối - ờ, họ không ở bên nhau theo nghĩa ấy, nhưng họ thường tìm được chỗ ở cùng một đầu bàn... Vậy đấy, tôi ngờ là cô bé Britta xinh đẹp đã chấm Holt như cơ hội tối ưu cuối cùng để thoát khỏi Tromsø. Chắc chắn quan hệ của cô với Joe đã chấm dứt vĩnh viễn, và trong vài năm tới Yigal sẽ có những vấn đề quan trọng hơn chuyện bạn gái, mà thời gian của cô thì sắp cạn vì chỉ có một ít tiền Gretchen đưa. Trong hoàn cảnh mờ mịt như vậy, hẳn Holt có thể coi là cửa cược chắc ăn duy nhất, và tôi cảm phục sự sáng suốt của cô.
Về phần mình, Holt chưa bao giờ nhắm mắt bịt tai trước một cô gái đẹp, và nếu cô nào tâng bốc anh, như Britta đã làm sau buổi chạy sáng hôm ấy, anh rất dễ xúc động. Đáng lẽ tôi phải nắm bắt được vấn đề khi anh hỏi tôi, “Người Na Uy có giống người Thụy Điển không?” Thế mà tôi lại đi giải thích những gì mình biết về lịch sử Scandinavia.
“Tôi có hỏi về lịch sử đâu,” anh ngắt lời. “Tôi muốn biết về phong tục xã hội... thời nay. Người Na Uy có... chà... phóng khoáng không?”
“À, anh định hỏi về tình dục? Tôi không rõ lắm.”
“Ông đã tới đó rồi mà.”
“Phải, nhưng nếu anh muốn biết về các nhà máy thủy điện, lương hưu, hàng hải...”
“Ông toàn nghiên cứu những thứ vớ vẩn,” anh làu bàu, và rồi tôi cũng quên luôn cuộc nói chuyện đó.
Sau này tôi mới biết là một đêm, sau màn bắn pháo hoa, Holt và Britta đã đi dạo hàng mấy dặm đường xuyên qua thành phố tối om, ghé hết quán này đến quán khác, cho đến tảng sáng. Britta kể với tôi, “Cháu cảm thấy ông ấy vừa là một cậu bé vừa là một người đàn ông mạnh mẽ, và đó là cách cảm nhận nguy hiểm cho một cô gái.” Trong một quán bar có mấy sinh viên Anh đã thức trắng ba đêm liền và rõ là nghiện cần sa, Holt hỏi cô có hút không, vậy là cô đáp, “Ai mà chẳng thử thứ đó.” Câu trả lời ấy tác động lạ thường đến anh; lần đầu tiên anh lờ mờ hiểu rằng đó là một xã hội tuyệt đối nơi những người trẻ tuổi này sinh sống, một xã hội mà trong đó không có chuyện một người trẻ tuổi ham thích tìm hiểu những điều mới lạ lại tránh đối mặt với cần sa.
“Cô cũng đã thử LSD rồi?” anh hỏi cô.
“Em không điên đến mức đó,” cô đáp. Sau đó anh hỏi cô xem Monica có hút không, nhưng cô lảng tránh, “Đó là vấn đề của từng cô gái. Ông hỏi bạn ấy xem.”
Holt thấy cô rất quyến rũ, như cánh cửa sổ mở ra một thế giới mới, và vì đó là một thế giới mà anh vẫn coi thường nên anh thấy đặc biệt thích thú được cùng cô khám phá nó. Tất nhiên lý do quan trọng hơn cả là Britta có vẻ đẹp lạ thường - một cô gái cao ráo thân hình cân đối, nước da đáng ghen tị, hàm răng trắng bóng và mái tóc vàng nhạt mà ra nắng thì sáng óng lên còn đứng gần một ngọn nến thì lốm đốm ánh vàng.
Một buổi chiều, trên đường đi xem đấu bò về, tôi để ý thấy Britta sải bước theo sát chúng tôi như thể cô là người bạn đường đã trải qua thử thách của chúng tôi, và Holt chợt hỏi cô, “Cô đã bao giờ cưỡi ngựa thảo nguyên chưa?” Britta đáp, “Xe Mỹ[91] quá đắt đối với dân Na Uy chúng em.”
Vào đêm Holt làu bàu với tôi vì đã đẩy cái ghế sang bên, nhờ ánh sáng lọt vào phòng tôi đã nhìn thấy anh có lý do chính đáng để chặn cửa vì một cô gái đang nằm trên giường với anh. Dựa trên những quan sát trong mấy ngày qua, tôi cho rằng đó là Britta. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm một cách kỳ lạ khi nhận ra đó là một trong hai cô sinh viên của Joe, trên người không một mảnh vải và chẳng buồn trùm chăn lên mặt. Cả hai người đều không tỏ ra ngượng ngập, và khi tôi rút ra ngoài, Holt còn nhắc, “Làm ơn kéo cái ghế sát vào cửa hộ.”
—★—
Ngày mười hai tháng Bảy diễn ra một trong những cuộc chạy kịch tính nhất những năm gần đây, và điều này thật không may, vì đứng cạnh tôi trên khoảnh đất bằng của bảo tàng nghệ thuật là ông Marcus Melnikoff, người cứ khăng khăng đòi chứng kiến tận mắt trò điên rồ đã thu hút cháu ngoại ông. Tôi khuyên ông không nên đi, báo trước là ông sẽ không hiểu mà cũng chẳng thấy thích thú với những gì được chứng kiến, còn Yigal thì quả quyết là lũ bò không lôi cuốn được anh: “Thực ra, cháu nghĩ trò ông sắp xem... hội chạy ấy... nó là trò điên rồ và không người sáng suốt nào thèm quan tâm đâu.”
“Thế tại sao cháu lại ở Pamplona?” ông Melnikoff hỏi trong lúc chúng tôi uống sô cô la nóng.
“Cháu thích những thứ khác. Cháu thích Pamplona... âm nhạc... pháo hoa.”
“Ông sẽ tự mình kiểm nghiệm,” ông Melnikoff tuyên bố, và bấy giờ thì ông đã ngoan cường yên vị trên bờ dốc, như thể muốn nói, “Chứng minh đi.”
Tôi nói với ông, “Điều Yigal nói là đúng đấy...”
“Xin ông đừng gọi cháu nó là Yigal.”
“Yigal hay Bruce thì cậu ấy vẫn là chàng trai tuyệt vời và cậu ấy như thế nào thì ông cũng nên chấp nhận.”
“Một trong những sai lầm cơ bản của thời đại chúng ta. Bất cứ người nào chấp nhận cho một thằng bé mười tám tuổi đầu thích làm gì thì làm... người đó là đồ điên. Toàn bộ mục đích cuộc đời là làm con người trở nên tốt hơn.”
Tôi bèn chuyển sang đề tài bò tót, và giải thích, “Chúng sẽ lao từ bãi quây dưới kia ra... Ông nhìn người đàn ông đứng sát tường kìa. Đó là anh bạn chúng ta cùng dùng bữa đêm qua đấy. Bạn của Yigal, anh Harvey Holt.”
“Ông muốn nói là một người lớn sắp làm trò cười cho thiên hạ ư? Anh ta làm nghề gì?”
“Đại diện kỹ thuật cho hãng UniCom... ở Afghanistan.”
“Đó là một công ty vững mạnh. Một viên chức UniCom làm gì ở một nơi như thế này?”
“Năm nào anh ấy cũng tới đây... để chạy với đàn bò.”
“Ý ông là anh ta sẽ ở dưới kia? Khi đàn bò chạy đến?”
“Phải. Hơn nữa, ông Melnikoff ạ, anh ấy là người thông minh. Và khá giàu có.”
“Tôi thấy khó hiểu quá.”
Tôi không còn biết nói gì, vì vậy hai chúng tôi dõi mắt xuống đồi quan sát những nhân viên cảnh sát đang chậm chạp tiến lên bờ dốc nơi chẳng mấy chốc nữa họ sẽ tạm lánh. Quả pháo thăng thiên thứ nhất nổ và hầu như ngay sau đó là quả thứ hai, khiến đàn bò lồng lên lao như vũ bão lên đồi.
“Nhìn gã ngốc kia kìa!” ông Melnikoff la lên khi Holt bắt đầu lao về phía đàn bò. “Bruce, Bruce, anh ta chết mất thôi!”
“Anh ấy biết mình đang làm gì,” tôi trấn an ông, nhưng chính tôi cũng thở phào nhẹ nhõm khi Holt, phát hiện ra mối nguy nào đó mà tôi không nhìn thấy được, quay lại nhanh hơn bình thường và bắt đầu chạy nhanh chưa từng thấy. Nét mặt anh lộ rõ vẻ sợ hãi thực sự và anh nhào vào bức tường.
Holt đã nhìn thấy điều gì khiến anh nghĩ có rắc rối? Tại đoạn đường hẹp nhất, nơi bọn thú thường chen lấn nhau, một con bò thiến va vào một con bò đực hung hăng làm nó trượt chân. Con bò đực định húc con bò thiến nhưng không trúng, nên loạng choạng mất một phần mấy giây. Cố gắng lấy lại thăng bằng, nó bất ngờ chuyển hướng sang trái, và vì vậy dịch lại gần bức tường mà Holt dựa vào tránh nạn.
Nhìn thấy dọc bức tường lố nhố một đám người, vài người lại động đậy, con bò chúi đầu xuống, và như một cái liềm cắt lúa mạch, nó quét sừng trái dọn sạch cả bức tường. Ba, bốn, năm, sáu người gục xuống trước cái sừng hung dữ ấy, thây bị đâm lủng không thế này cũng thế khác.
Người thứ bảy bị húc đứng ngay sát Holt nhưng ở vị trí thấp hơn, và không may là thay vì đai truyền thống anh lại đeo thắt lưng da khiến con bò bị mắc sừng vào, không sao tiến về phía trước. Bị giam chân trong chốc lát, con bò điên cuồng bổ đầu, húc thêm hai lần nữa. Rồi nó rời ra và chỉ trong thời gian đếm được đến bốn nó đã đứng đối diện Harvey Holt lúc này lúc này đang ngay đơ như hóa đá, cái sừng bò cách bụng anh chừng mười mấy centimet. Người đứng bên trái Holt chợt cựa quậy, thế là con bò lao tới hất anh ta ngã xuống đất, sục vào người anh ta, lúc đầu bằng mũi, sau đó bằng sừng.
Ông Melnikoff hét lên, “Vì Chúa, lôi con bò ra đi chứ!”
Đứng bên trái tôi, Britta cầu nguyện thành tiếng, “Xin làm cho con bò đi đi. Xin làm cho nó đi đi.” Nhưng Joe đang ở cạnh Britta thì như bị mê hoặc, im lặng quan sát Holt đứng bất động trong lúc con bò hung dữ tấn công người đàn ông dưới chân anh. Tôi thở hổn hển đến nỗi hầu như không nhận thấy ông Melnikoff đang túm chặt tay mình. “Khủng khiếp quá!” ông thét. “Đuổi con bò đó đi!”
Với sức mạnh bất ngờ, con bò bỏ Holt lại và một lần nữa quệt sừng vào tường, hạ gục chín, mười, mười một người, cuối cùng là một người đứng ngay cửa quân y viện. Rồi, bật hai chân sau lấy đà, con thú to lớn chạy thẳng lên phố Santo Domingo, không thèm để ý đến ai.
Ngay khi nó đi khỏi, các nhóm bắt đầu thu nhận người bị thương. Một vài người bị bò húc đã ngất xỉu, máu ướt đẫm. Những người không bị sừng bò đâm thủng thì run lẩy bẩy, sờ bụng và bộ phận sinh dục, rồi bỏ đi. Tám người được khiêng vào bệnh viện.
Ông Melnikoff nói, “Tôi muốn ngồi xuống một lúc.” Yigal cùng ngồi với ông ngoại và cam đoan với ông là sẽ không người chạy nào chết cả, nhưng ông già gắt, “Làm sao cháu biết được? Cháu đã trông thấy cái sừng đó húc thủng bụng người kia rồi đấy.”
“Tin cháu đi, ông ơi, người ấy sẽ không chết đâu. Ông cứ hỏi ông Fairbanks mà xem.”
“Sao ông lại phải đi hỏi lão ngốc ấy chứ? Một người trưởng thành mà năm nào cũng đến đây chứng kiến một cảnh tượng như vậy. Ông ấy quay lại thời Nero cũng được đấy. Cho ba vé vào đấu trường Colosseum.” Ông dừng lại lấy hơi, rồi nắm tay cháu ngoại hỏi, “Nói cho ông biết, Bruce, có phải chiến tranh đã làm cháu trở nên nhẫn tâm đến nỗi thích thú cái trò này... nhìn những vũng máu kia... giữa phố đông?”
“Cháu ghê tởm nó.”
“Thế thì, xin Chúa chứng giám, sao cháu lại có mặt ở đây?”
“Vì Pamplona còn rất nhiều cái khác nữa. Thậm chí có những thanh niên còn không đi xem đấu bò nữa kia. Họ chưa bao giờ nhìn thấy con bò nào. Ông ạ, đến sáng họ mới về giường ngủ. Sao họ lại để tâm đến trò này chứ?”
“Nói cho ông đi, Bruce. Vì một cô gái sao? Vậy đấy, cháu có bạn gái ở đây.”
“Ông ơi, cháu chỉ đến đây cho vui thôi.”
“Vui! Vui! Cháu nói cứ như Tướng Goering[92] ấy. Bruce, chiều nay cháu sẽ bay về với ông.”
Và ông Melnikoff lập tức bắt tay vào việc, về đến Bar Vasca, trong khi một đám đông ồn ào bàn tán cho rằng cuộc chạy hôm nay thuộc hàng thê thảm nhất trong những năm gần đây và chúc mừng Holt đã thoát nạn một cách thần kỳ, ông Melnikoff gọi điện thoại, đặt chỗ trên chuyến bay cuối ngày của hãng TWA tới New York, thuê một chiếc taxi để đưa hai ông cháu đi Madrid và gửi một lô điện tín đến Tel Aviv và Grosse Pointe. Sau đó ông mời tôi theo hai người lên gác thu xếp hành lý cho Bruce, nhưng khi chúng tôi về đến phòng, ông vừa mở cửa ra đã lùi lại vẻ ghê tởm, vì hai cô gái cùng đi picnic với chúng tôi và chàng trai California say mê Octopus đang nằm trên giường Bruce.
“Đuổi chúng ra ngay,” ông Melnikoff ra lệnh cho tôi như thể tôi là một trong những nhân viên quèn của ông, vậy nên tôi đi vào bảo bọn trẻ, “Có chuyện rồi. Tốt hơn rời khỏi đây đi.” Cả ba người đều trần truồng, họ vội vàng mặc một ít quần áo.
“Tôi nghĩ đây là áo của Yigal đấy chứ,” tôi nhắc một cô.
“Anh ấy sẽ không quan tâm đâu,” cô nói, đoạn họ lê bước dọc hành lang vào phòng Gretchen, rồi lại leo lên giường ngủ tiếp.
“Bạn thân của cháu đấy à?” ông Melnikoff hỏi cháu, giọng châm chọc sâu cay.
“Cháu mới gặp họ hôm qua,” Yigal chống chế.
“Chúng ngủ trên giường cháu mà.”
“Họ mặc cả quần áo của cháu nữa ấy chứ - nhưng cháu biết làm gì đây?”
“Cháu có thể thu xếp đồ.”
Giờ phút quyết định đã tới. Qua mọi dấu hiệu mà tôi nhận thấy, Yigal muốn ở lại với nhóm bạn, anh muốn tiếp tục khám phá những nguyên tắc ứng xử của họ, ý nghĩa của họ. Anh định bảo ông ngoại muốn đi đâu thì đi, nhưng thay vào đó anh lại quay sang tôi hỏi, “Ông Fairbanks, cháu nên làm gì?”
“Làm gì ư?” ông Melnikoff hét toáng lên. “Chỉ có một việc để làm thôi, xếp đồ vào!”
“Ông ra khỏi đây đi!” Yigal đùng đùng nổi giận. “Đi đi. Đợi ngoài hành lang đi.” Anh định đẩy ông ngoại ra hành lang, nhưng ông già cưỡng lại.
Tôi can, “Nếu cứ khăng khăng làm theo ý mình, ông Melnikoff, ông sẽ mất chàng trai này đấy. Ông cứ chờ ngoài hành lang, để tôi nói chuyện với cậu ấy.” Tôi hích khuỷu tay đẩy nhẹ ông ra - ông làu bàu rằng tôi tưởng tôi là ai kia chứ, nhưng tôi giả vờ không nghe. Sau khi đóng cửa, tôi quay lại thì thấy Yigal đã ngồi xuống giường, hai tay ôm đầu.
“Cháu nên làm gì?” anh hỏi.
“Cậu không yêu cô nào ở đây đấy chứ?”
“Không. Cháu thích Britta, nhưng cô ấy không biết.”
“Thế thì ở đây cậu chẳng có gì để mất cả.”
“Lúc nào mà chẳng có gì đó để mất.”
“Đúng, nhưng không phải điều cốt yếu. Yigal này, tôi thấy vấn đề quan trọng của cậu giống hệt như của Harvey Holt... Và xét ở phương diện nào đó thì cả của tôi nữa.”
“Cháu chẳng bận tâm về lũ bò.”
“Tôi không nói đến lũ bò. Tôi muốn nói đến nước Mỹ.”
“Ồ... chú nói thế là có ý gì?”
“Nước Mỹ là thỏi nam châm lớn trong thời đại chúng ta. Nó giống như mặt trời đang sử dụng lực hút phi thường của mình. Đặc biệt nếu người ta từng dính líu đến nước Mỹ, nó sẽ thành sức mạnh vô cùng to lớn mà người ta phải tìm mọi cách cân bằng. Holt chẳng bao giờ làm được. Số phận bắt anh ấy phải sống tha hương. Tôi thì là kẻ bên lề. Tôi có thể sống ở Hoa Kỳ. Tôi đã chứng tỏ điều này. Và tôi có thể thành công với hệ thống kinh tế của Hoa Kỳ... y như ông ngoại của cậu. Tôi cũng đã chứng tỏ điều này. Nhưng tôi luôn sẵn lòng đi xa. Hoàn cảnh của tôi cũng giống như của Joe và Gretchen khi họ năm mươi tuổi. Là người Mỹ đấy, nhưng rất bằng lòng khi được sống ở Nam Tư... hay Israel.”
“Chú muốn nói trách nhiệm hiện tại của cháu là điều chỉnh cho thẳng thớm những suy nghĩ của bản thân về Hoa Kỳ?”
“Cậu phát biểu vấn đề rõ ràng hơn tôi đấy.”
“Cho dù như vậy có nghĩa là phải nghe ông già láu cá kia khoe khoang ông ấy đã thành công thế nào ở Detroit?”
“Tôi cũng là một ông già láu cá. Rồi cũng có ngày tôi sẽ khoe khoang với cậu tôi đã thành công thế nào ở World Mutual.”
“Chú thấy cháu nên đi cùng ông phải không? Bay về nhà ngay đêm nay?”
“Tôi sẽ không bảo cậu phải làm gì.”
“Nhưng quỷ tha ma bắt, chú đang bảo đấy thôi. Bằng cái cung cách trịch thượng của chú. Không, chú sẽ không thẳng thắn nói, ‘Này chàng trai, về nhà độ hai tháng mà cân nhắc mọi việc.’ Chú không có gan nói thẳng điều đó. Chú không muốn mua dây buộc mình.”
Anh nói lớn tiếng, vì vậy tôi cũng lớn tiếng lại, “Thôi được, tôi sẽ nói với cậu. Về nhà đi. Về ngay hôm nay đi, nếu như cậu không sợ thử thách.”
“Được rồi. Chú đừng có hét lên với cháu,” anh quát. “Cháu sẽ về nhà,” và anh bắt đầu nhét đồ vào túi du lịch một cách hằn học đến nỗi người ta sẽ tưởng anh hẳn phải thù ghét từng cái quần, cái áo. “Cái áo xanh của tôi đâu rồi?” anh nổi giận hét.
“Cô kia lấy đi rồi.”
Anh đạp cửa lao ra khỏi phòng, sầm sầm phóng qua ông ngoại, xông vào phòng Gretchen, lật tung chăn lên và giật phăng cái áo xanh ra khỏi lưng cô gái trước khi cô kịp tỉnh hẳn. “Đồ lợn!” anh hét vọng vào phòng.
—★—
Mỗi mùa hè, khi những ngày lễ hội San Fermín dần kết thúc, Bar Vasca lại tự khắc chuyển mình thành một hãng du lịch. Hầu như hai tư trên hai tư giờ, lúc nào cũng có các du khách trẻ ghé vào để hỏi bà Raquel xem bà có biết ai đi Brussels hoặc Istanbul không. Những cuộc thương lượng tùy tiện nhất được tiến hành, và những chuyến đi đòi hỏi kinh phí hàng trăm đô la cùng thời gian mười tám hay hai mươi ngày được thu xếp trong vài phút đồng hồ.
Song tôi thường tự hỏi một bà mẹ thận trọng ở Appleton, Wisconsin sẽ nghĩ gì nếu biết cô con gái mười chín tuổi được ăn học tử tế của mình rong ruổi từ Pamplona đến Split ở Nam Tư bằng cách nào. Joe mới quen cô ở quảng trường buổi sáng hôm đó, và lúc tôi ghé vào bàn họ uống nước, sau khi tiễn hai ông cháu Yigal đi Madrid, anh giới thiệu cô là “Rebecca bang Wisconsin”. Cô gái xinh đẹp hiếm thấy, đã theo học ba năm ở trường đại học Minnesota. Tôi thích nói chuyện với cô vì cô là sinh viên kinh tế, lại quan tâm đến nhiều vấn đề vẫn làm tôi băn khoăn.
Chiều hôm đó Joe đưa cô đến Bar Vasca nghe các đĩa nhạc của Clive, và chúng tôi ngồi trong hốc tường chờ trận đấu bò bắt đầu. Cô hỏi vu vơ, “Các bạn có biết ai sắp đi Milan không? Tôi muốn xem nền công nghiệp ở đó.”
Chúng tôi hỏi quanh quán, không ai biết về xe cộ đi Ý, tuy nhiên một người Đức, đang vừa ngồi uống bia vừa nghe những đĩa nhạc mới mang từ London đến, mách, “Tôi biết một người Hà Lan sẽ đi Nam Tư ngay sau trận đấu chiều nay.” Đang nhìn Rebecca khi anh bạn Đức nói câu đó, tôi thoáng thấy trong mắt cô lộ vẻ đắn đo, rồi cô nói, “Tôi đi Nam Tư cũng tốt. Có khi chẳng bao giờ có cơ hội nào khác.” Vậy là anh bạn Đức được cử đi tìm người Hà Lan kia, lát sau một thanh niên rất đẹp trai, cao lớn, da rám nắng đi vào quán nói với chúng tôi anh là Klaus người Amsterdam, và anh sẽ lái chiếc Taunus đi Split ngay sau trận đấu.
Tôi giới thiệu, “Đây là Rebecca người Wisconsin. Chuyên ngành kinh tế.”
“Luật.”
Rebecca mất đúng một phút để đánh giá tính cách của anh, rồi nói, “Tôi sẽ trả một nửa.”
“Cô tự trả tiền ăn của mình và thanh toán tiền trọ. Tôi trả tiền xăng dầu.”
“Anh tính mất mấy ngày?”
“Cô biết lái xe không?”
“Giỏi nữa là khác.”
“Thế thì chắc chúng ta mất năm ngày. Tôi không muốn đi nhanh quá, nhưng khoảng nửa đêm mai chúng ta sẽ tiến sâu vào nước Pháp được.”
“Tôi sẽ đi lấy đồ.”
“Tôi giúp được không?”
“Cảm ơn. Quá khách sạn Tres Reyes một chút thôi.”
Thế là họ lên đường đi Split.
Cùng với việc Yigal về Mỹ, ai nấy ở Bar Vasca đều chuyển sang suy nghĩ xem tiếp theo nên làm gì. Holt và tôi sẽ lái xe trở lại Madrid. Năm người còn lại trên chiếc pop-top vàng chưa có kế hoạch cụ thể - có lẽ là miền Nam nước Pháp, mặc dù nghe đồn khá đắt đỏ. Hai cô sinh viên định đến Rome, còn chàng trai mê Octopus tuyên bố anh sẽ đứng ở đường quốc lộ và chiếc xe đầu tiên cho anh đi nhờ đi về hướng nào thì tương lai của anh sẽ được quyết định theo hướng ấy.
Theo như tôi nhớ, cho đến lúc ấy chưa có bạn trẻ nào nhắc đến cái tên Moçambique. Nó được nhắc đến một cách gián tiếp khi Holt nói, “Nhìn cô gái đó đi Split, tôi lại nhớ chuyện Humphrey Bogart đã quyết định cùng Hepburn đi về hạ lưu sông. Cũng đại khái như vậy, chỉ khác là họ lớn tuổi hơn.”
“Ông đang nói về chuyện gì vậy?” Joe hỏi với giọng cáu kỉnh.
“Một trong những bộ phim hay nhất của Bogart. Tôi xem phim đó trong một rạp chiếu bóng ở Gago Coutinho.”
“Gago Coutinho là cái xó xỉnh chết tiệt nào?”
“Moçambique,” tôi giải thích.
“Nơi đó ở đâu?”
“Thật ra,” tôi đáp, “đó là một trong những nơi thú vị nhất tôi từng làm việc. Miền Nam châu Phi, nhưng phía bờ Ấn Độ Dương. Tôi đến đó làm một nghiên cứu khả thi và mê luôn.”
“Chín mươi bảy phần trăm người da đen,” Holt tiếp lời. “Nhưng người Bồ Đào Nha nắm quyền,” và anh ấn mạnh ngón tay cái xuống bàn.
“Thú vị lắm,” tôi nói với Cato. “Phía Nam giáp Nam Phi, nơi người da đen bị khuất phục. Phía Bắc giáp Tanzania, nơi họ cầm quyền. Moçambique ở giữa - cả về mặt địa lý lẫn tinh thần.”
“Có phải đó là nơi có khu cấm săn bắn cực lớn không?” Monica hỏi. Tôi gật đầu, và cô nói tiếp, “Cha cháu đã đến một lần và bảo đó là nơi hay nhất ở châu Phi.” Cô ngập ngừng vì lục địa đó vẫn lưu dấu nhiều kỷ niệm không vui, rồi bật ngón tay nói, “Em thấy chúng ta nên đi. Ngay sau Pamplona.”
“Chúng cháu đi xe đến được không?” Gretchen hỏi.
“Không,” tôi đáp, “nhưng có tàu xuống đó... rẻ thôi... mang theo xe cũng không tốn lắm.”
“Có một tàu Hy Lạp rời Barcelona chiều ngày mười lăm,” Holt nói.
“Sao ông biết chuyện đó?” Monica hỏi.
“Công việc của tôi là phải biết rõ về ngành vận tải. Khởi hành ngày mười lăm hàng tháng từ Barcelona. Từ Livorno thì ngày mười bảy.”
Sự háo hức bắt đầu gia tăng, Gretchen hỏi, “Chúng tôi có cần visa không?”
“Có chứ, nhưng các bạn có thể xin được ở Barcelona,” Holt đáp. “Người ta sẽ đóng dấu hộ chiếu cho các bạn ở Luanda. Đó là ở châu Phi... phía Đại Tây Dương.” Anh còn biết cả lệ phí và thời gian hiệu lực.
“Đất nước ấy như thế nào?” Cato hỏi.
Tôi trả lời, “Các bạn đã nghe cụm ‘hàng dặm bãi biển’ chưa? Đấy, Moçambique có hàng nghìn dặm... những bãi biển vắng vẻ đẹp nhất thế giới... Rừng già, sông rộng, những hòn đảo mê hồn, những thành phố đẹp đẽ. Càng nghĩ tôi càng thấy nó tuyệt diệu. Nếu các bạn có đủ tiền để mua vé tàu.”
Không do dự một giây, Gretchen nói. “Nếu anh Joe và Britta cần tiền, em có thể giúp. Nhưng chúng cháu có đi xe ở Moçambique được chứ?”
“Đường sá khá tốt,” tôi đáp.
“Không tốt... nhưng vẫn là đường,” Holt đính chính. “Ông ấy đi khắp nơi bằng máy bay. Còn tôi phải đi bằng ô tô.”
“Ông thấy chúng tôi gọi điện đến hãng tàu thủy ở Barcelona được không?” Gretchen hỏi.
Vậy là Britta ra gọi điện, nói chuyện với nhân viên trực tổng đài bằng tiếng Tây Ban Nha, và trong một khoảng thời gian ngắn đáng kinh ngạc Gretchen đã hỏi được hãng tàu Hy Lạp xem họ có còn cabin đi Moçambique không. Sau đó cô cau mày chia sẻ nỗi thất vọng với chúng tôi. “Đặt kín cả rồi,” cô báo tin và đang định dập máy thì Monica chộp lấy cánh tay tôi nói, “Chú quen các chủ tàu Hy Lạp cơ mà. Chú làm gì đi chứ.”
Thế là tôi cầm điện thoại và bắt đầu giải thích là tôi có giao thiệp với công ty họ, rồi thì anh nhân viên ở đầu dây bên kia tạm bỏ máy, tôi nghe thấy anh nói chuyện với ai đó. Ngay sau đó một người Hy Lạp tôi từng gặp trong đợt thương lượng ở Torremolinos hét lên với tôi bằng giọng sang sảng, “Vâng, một con tàu của công ty chúng tôi khởi hành ngày mười lăm tháng Bảy từ Barcelona. Vâng, đặt hết chỗ rồi. Ô, ông là ngài Fairbanks ở World Mutual! Vâng, tất nhiên tôi nhớ chứ, người thu xếp khoản vay của chúng tôi! Ông cần ba cabin? Ông Fairbanks, vì ông mà chúng tôi phải hủy chỗ của cả một gia đình Thổ Nhĩ Kỳ. Người quen của ông có thể chuyển điện tín cho chúng tôi năm nghìn peseta không? Họ có thể thanh toán số còn lại bằng séc du lịch Mỹ khi tới đây... Vâng, chúng tôi có thể thu xếp chỗ cho một chiếc pop-top Volkswagen.”
Tôi chỉ vào từng người trong số năm du khách, và ai cũng gật đầu nhất trí. Tôi liền báo với phía Barcelona, “Vậy là thống nhất! Họ sẽ gặp ông vào ngày mười lăm.”
Trong lúc Gretchen ra bưu điện, bốn người kia ngồi lại trong hốc tường, tham gia một cuộc thảo luận vốn tại thời điểm đó đang được nêu ra ở khắp Pamplona: “Chúng ta ở lại xem trận đấu cuối cùng hay sẽ chuồn sớm một ngày?” Những người thận trọng khuyên nên ra khỏi thành phố sớm vì sau trận đấu cuối cùng đường sá, đặc biệt là đường đến Pháp và Barcelona, sẽ tắc nghẽn; nhưng những người táo bạo hơn, vốn đã phải bỏ ra tám đến mười đô la mua vé trận đấu cuối cùng này, lý luận rằng rời khỏi hội San Fermín trước lúc kết thúc thì thật đáng hổ thẹn. Đám bạn trẻ của tôi, gồm năm người thay phiên nhau lái xe, quyết định ở lại xem trận đấu rồi sẽ đi suốt đêm.
Thỏa thuận xong, họ thi nhau hỏi về chuyến phiêu lưu mà họ đã tự dính vào một cách vội vàng đến thế, khiến Holt và tôi phải tận tâm tận sức giải đáp. Khi Gretchen quay về, cô dẫn Clive theo, và anh tuyên bố, “Tôi chỉ có thể đi xa nhất là tới Barcelona thôi. Sau đó tôi sẽ phải ghé vào Ibiza, nhưng Moçambique nghe tuyệt đấy.”
Tôi nói, “Chuyện này có thể rất quan trọng, và vì một lý do mà các bạn sẽ không bao giờ đoán trước được. Các bạn sống ở thành phố... hay những nơi tương tự thành phố như Torremolinos và Pamplona. Cũng là chuyện tốt nếu các bạn được tiếp xúc với thiên nhiên ở một nơi như Moçambique... những cánh rừng bạt ngàn và những dòng sông mênh mông mà các bạn chưa từng mơ thấy. Trước khi đến tuổi ba mươi, người ta cần phải tự mình kiểm nghiệm xem thực tế thiên nhiên là thế nào.”
“Nghe có lý đấy,” Joe nhận xét.
Rồi sau đó một việc bất ngờ xảy ra, cô đúc những ngày cuối ở Pamplona. Hai thanh niên tôi chưa gặp bao giờ đang ngồi ở hốc tường kế bên chỗ chúng tôi, và chắc hẳn họ đã nghe chúng tôi nói chuyện vì họ xin lỗi đã xen vào và xin được ngồi cùng chúng tôi. “Các bạn sắp đi Moçambique?” một người hỏi. Thấy Gretchen gật đầu, họ ướm ý, “Chúng tôi đi cùng được không?” Tôi rất kinh ngạc thấy cả nhóm cân nhắc một cách nghiêm túc khả năng ấy nhưng rồi kết luận là sẽ không đủ chỗ.
Thấy mặt hai thanh niên lộ vẻ chán nản, Clive bật ngón tay như đang cố nhớ lại một cái tên hay một nơi nào đó. “Chờ một chút! Có ba cô gái ở Bar Txoco. Có phải họ định đi Hy Lạp không nhỉ? Họ đang cần một người đàn ông đi cùng để trông chừng giùm họ. Cato, cậu cũng biết mấy cô mà tôi nói đấy.”
“À, họ!”
Hai bên thống nhất là Cato sẽ đi tìm ba cô gái, và chẳng mấy chốc họ đã tổ chức một cuộc hội ý ngay tại bàn chúng tôi. Mấy cô gái đều là người miền Trung Tây Hoa Kỳ, chưa đến hai mươi tuổi, mặt mũi sáng sủa và trông có vẻ lắm tiền. Họ ngắm nghía hai anh thanh niên, hỏi han vài câu, sau đó trao đổi ý kiến với nhau, nhưng nói khá to nên chúng tôi cũng nghe được. Thực ra họ chỉ cần một người thôi nhưng hai thì có lẽ tốt hơn. Xe moóc của họ đủ chỗ cho bốn người ngủ thoải mái nhưng năm cũng có thể bố trí được. Hai chàng trai sẽ không phải trả bất cứ chi phí nào, ngay cả ăn uống cũng vậy, nhưng họ phải hứa đi cùng ít nhất là đến Hy Lạp và quay về Ý. Mọi điều kiện đã được thỏa thuận xong, sau đó một cô gái, chắc chỉ tầm mười tám tuổi, hỏi, “Các anh hút thuốc lá không?”
“Tất nhiên.”
“Xài thứ nặng hơn không?”
“Không.”
“Các anh không phiền chứ?” Cô cúi xuống và cuộn tay áo một cậu thanh niên lên để kiểm tra tĩnh mạch ở phía trong khuỷu. Cô cũng làm vậy với người kia, sau đó nói với các bạn, “Họ không nghiện.” Cô nói với tất cả mọi người quanh bàn, “Chẳng thích thú gì khi cố gắng kiểm soát một người đàn ông nghiện heroin.”
Một cô khác nói, “Xe đậu ở kia. Chúng tôi rời khỏi đây ngay bây giờ... bỏ hết những trận đấu còn lại.”
“Chúng tôi không quan tâm đến các cuộc đấu bò,” một trong hai thanh niên nói.
“Các anh cất đồ ở đâu?” cô gái vừa tiến hành cuộc kiểm tra hỏi. “Gói đồ ở đằng kia.”
“Lên đường thôi.”
—★—
Tại Pamplona, chúng tôi lại một lần nữa bàn về điện ảnh. Một đám đông thanh niên xếp thành vòng tròn ở quảng trường trung tâm giữa trời nắng chờ trận đấu bò bắt đầu, rồi khi Holt và tôi đi qua họ bèn gọi chúng tôi vào nhập bọn. Họ đang bàn về những buổi chiếu bóng, theo cách họ gọi, và sự hăng hái của họ rất khác của Holt. Họ công kích các đạo diễn, các lời tuyên bố khiêu khích nửa nạc nửa mỡ, và họ rất ngưỡng mộ Ingrid Bergman và Antonioni. Họ nhất trí rằng Hollywood chưa bao giờ làm được một bộ phim ra hồn, vậy là Holt liền chất vấn, “The Spencer Tracy và Fredric March thì sao, khi họ đấu trí về khoa học ấy?”
Không ai hiểu Holt nói về phim nào, vì vậy họ lơ câu hỏi ấy đi. Một lúc sau, khi họ nói vấn đề của phim Mỹ là thiếu tính xác đáng, Holt hỏi chẳng lẽ họ không nghĩ là đôi khi những phim hay của Mỹ cũng phần nào tổng kết được cảm xúc của một thế hệ, và chẳng phải đó là xác đáng hay sao. Khi họ yêu cầu anh nêu dẫn chứng, anh nói, “Như hồi đầu Đại chiến Thế giới II, hồi trai tráng chúng tôi tản mát khắp những vùng đất xa lạ, bắt đầu hiểu cái chết và lòng dũng cảm và chúng tôi được xem Humphrey Bogart phải thỏa hiệp với mọi loại quan điểm đối nghịch, ở một đất nước xa lạ, nhưng vẫn đem hết khả năng để cứu Ingrid Bergman...”
Một chàng trai búng ngón tay reo, “Trời đất ơi! Ông ấy muốn nói đến Casablanca,” và một cô gái đế vào, “Ôi dào! Phim gì mà dở ẹc.”
“Nó nói lên tâm trạng... Vậy đấy, tâm trạng của bạn bè tôi.”
“Ông Holt,” Gretchen giải thích, “Casablanca là một mớ tạp nham những lời sáo rỗng, chỉ nhằm kiếm được nhiều tiền từ mấy thanh niên mơ mộng hão huyền như ông. Nó đã thành công. Nhưng đừng yêu cầu chúng tôi coi trọng nó. Những người làm phim đó cũng có coi trọng đâu.”
Tôi tưởng Holt sẽ mất bình tĩnh, nhưng anh lại ngả người ra sau mà lắng nghe, và một lúc sau anh nghe thấy một phát biểu nực cười, một sự khiêu khích láo xược mà sau này anh thường nhắc đến. Một thanh niên Mỹ cao lêu đêu với chòm râu lưa thưa nói, “Các bạn quên một thực tế cơ bản. Điều Hollywood làm được là năm thì mười họa cũng nảy ra ý tưởng về một nơi trú ẩn lý tưởng. Đôi lúc nó làm đúng những gì ông Holt đã ám chỉ - nắm bắt trọn một thời đại và làm nó chết cứng trong chuyển động bất động.” Một người Pháp trong đám cử tọa hỏi ý anh ta là gì, anh ta đáp, “Phim hay nhất từng được sản xuất tại nước chúng tôi bên bờ đại dương - tôi cho là một trong những phim hay nhất trên toàn thế giới - King Kong.”
Trong tranh luận, hiếm khi tôi nghe thấy một luận điểm được hoan nghênh đông đảo đến thế. Tất cả đều nhất trí King Kong là bộ phim duy nhất thực sự giá trị từng được Hollywood sản xuất, nhưng tôi giật mình khi chàng trai có chòm râu lưa thưa còn cho rằng nó là mức thành tựu cao nhất của nền văn hóa Mỹ.
“Chúng ta sẽ uống mừng điều đó,” hai cô gái tán thành. “Thứ đặc sắc duy nhất chúng ta từng làm được. Tôi cho rằng Fay Wray là người đàn bà Mỹ lý tưởng.” Họ bắt đầu bàn luận về diễn xuất của Wray trong phim này, và tôi thấy ngạc nhiên là họ nhớ từng chi tiết trong bộ phim đến thế. Họ nâng cốc chúc mừng Wray, người có vẻ rất được mến mộ, nhưng anh thanh niên râu thưa phản đối, “Đừng quên là không có diễn xuất siêu việt của Robert Armstrong thì còn lâu các bạn mới có phim để xem.” Anh bắt chước dáng vẻ vai u thịt bắp của Armstrong, và cả nhóm đều phải công nhận danh tiếng Armstrong đã thành bất hủ.
“Uống mừng đỉnh cao cống hiến của chúng ta cho nền văn hóa thế giới,” một cô đề nghị, và họ cũng nâng cốc vì điều này nữa.
Holt hỏi bằng giọng tự chủ, “Nếu King Kong là phim hay duy nhất chúng ta làm được thì các bạn xếp kịch bản của Eugene O’Neill vào hạng nào?”
Cả đám cười ồ, rồi một cô gái hỏi lại, “Ông đã bao giờ cố ngồi xem từ đầu đến cuối một trong những bộ phim chán ngấy ấy chưa?”
“Đừng nói giỡn. Thế còn Strange Interlude thì sao?”
“Lạy Chúa tôi! Xin đủ.”
“Còn Long Day’s Journey into Night, trong đó mẹ ông ấy bị nghiện heroin?”
“Ông Holt, không ai, đúng là không ai, đánh giá cao bộ phim vô giá trị ấy được nữa.”
“Thế còn Ralph Waldo Emerson thì sao?”
“Ông thầy Trường Chủ nhật ấy ư?”
Một cô gái cho rằng Emerson chỉ là một nhà biện giải cho giới cầm quyền, nhưng Holt hỏi, “Người ta chưa bao giờ dạy cô về tiểu luận ‘Sự bù đắp’ của ông ấy?” Chưa ai nghe nói đến tiểu luận đó, anh nói tiếp, “Theo ông ấy, cho dù người ta làm gì thì cũng sẽ nhận được phản hồi bù đắp. Thí dụ như nếu các bạn tiêu tốn thời gian ở trường đại học mà chẳng tiếp thu được gì... Vậy đấy, các bạn thực sự gặp khó khăn rồi.”
Phớt lờ ý kiến của Holt, một chàng trai phát biểu, “Có một phim Mỹ khác đáng được lưu tâm một cách nghiêm túc. Đã có ai trong các bạn xem bộ phim xuất sắc nhất mọi thời đại I Was a Teenage Werewolf chưa?” Anh nói thêm một câu mà người ta thường nghe thấy trong các cuộc bàn luận gần đây, “Nó dở đến nỗi lại đâm ra hay. Câu chuyện về một học sinh trung học sáng sủa chỉ có một khiếm khuyết. Thỉnh thoảng cậu ta lại biến thành ma sói giết hại các cô gái.”
Một cô trong đám đã xem phim đó và công nhận đó là một kiệt tác. “Họ có một cảnh thực sự giá trị. Một gia đình trung lưu Mỹ hoàn hảo. Người cha làm nghề bán hàng, tôi nhớ hình như thế. Cuộc thảo luận nghiêm túc về việc liệu có ổn không nếu để con gái họ hẹn hò với một chàng trai cứ luôn biến thành ma sói.”
Lúc này một cô khác đã nhớ ra bộ phim liền góp chuyện, “Hay tuyệt.” Đó là một từ tôi thấy rất chướng tai, nên để tránh buột miệng phát biểu gì đó, tôi nghĩ tốt nhất là đến bãi đấu bò, nhưng các nhà phê bình trẻ còn một quả bom tấn. Một người Pháp thả nó ra khi nói, “Chúng ta đã bỏ qua một người hiện vẫn đang làm việc mà chắc chắn đó là người Mỹ ưu tú nhất. Người châu Âu chúng tôi xem ông ấy ngang hàng Fellini.”
“Anh định nói Jerry Lewis?” một cô gái hỏi.
“Còn ai khác nữa? Với vai trò diễn viên, ông ấy thật phi thường, nhưng trong vai trò đạo diễn thì ông ấy là thiên tài. Người duy nhất của các bạn đấy.”
Cách đánh giá này được tuyệt đại đa số tán thành đến nỗi tôi phải lên tiếng phản đối: “Các bạn ăn nói cho nghiêm túc nào!”
“Ô hay, chúng tôi nghiêm túc đấy chứ!” anh bạn Pháp đáp, và khi những người châu Âu khác gật đầu, anh nói tiếp, “Ở bên này chúng tôi thấy đất nước các ông thật buồn cười, điên rồ, thiếu phương hướng và gần như thần kinh. Lewis là đạo diễn duy nhất của các ông nắm bắt được đặc tính đó. Sau một thế hệ nữa ông ấy sẽ được cả thế giới công nhận là sự cống hiến đáng kể duy nhất của nước ông cho nền điện ảnh.”
“Đáng kể hơn cả King Kong ấy chứ,” một cô gái Đức phát biểu. Thế này thì thật quá sức chịu đựng, vì vậy tôi xẵng giọng, “Tôi sẽ không phải chờ đến thế hệ sau mới thấy rằng các bạn chẳng ai có được chút xíu óc suy xét.” Tôi giận dữ bỏ đi không thèm bàn luận nữa, nhưng chưa được bao xa thì Holt đã đuổi kịp. “Cảm ơn ông,” anh nói. “Tôi thật nghẹn lời.”
—★—
Ngày mười ba tháng Bảy mang đến cho chúng tôi một bất ngờ thực sự. Khi tôi dẫn các cô gái xuống bảo tàng xem Holt chạy, chúng tôi tưởng thảm họa hôm trước sẽ khiến đám đông thưa hơn, nhưng hóa ra không phải. Có thể nói số người sẵn lòng thử sức với lũ bò tại đường dốc còn đông hơn trước, như thể cuộc đổ máu ngày hôm qua kích thích khao khát được thử lửa thực sự.
Chúng tôi đang bình luận về chuyện này thì Monica la lên, “Trời ơi! Nhìn xem ai ở dưới kia kìa!”
Đó là Joe, rất dễ nhận ra trong chiếc quần bò Levis, giày cao cổ và áo vest da, lưng dựa vào tường một cách bình thản và trông hoàn toàn lạc lõng giữa đám đông. Anh đứng không xa hàng rào cảnh sát lắm, ngay tại nơi hôm trước con bò đã bắt đầu công cuộc dọn dẹp của nó. Bị thảm họa ấy mê hoặc, anh đã xuống dưới để trở thành một phần của bất kể sự kiện gì có thể xảy ra ngày hôm đó.
Monica gọi Holt, “Đoán xem ai chạy cùng ông kìa!” thế là Harvey nhìn quanh và phát hiện ra Joe. Anh định hét, “Anh không chạy được với đôi giày ấy đâu,” nhưng vừa há miệng thì pháo thăng thiên đã nổ và đàn bò lao thẳng lên đồi. Joe bình thản bước lên hàng đầu đám người tham gia, ung dung chạy xuống đồi, tính nhầm khoảng cách, xoay người lại quá chậm và bị một con bò thiến to húc thẳng vào mông khiến anh ngã sấp xuống và sau đó phóng qua người anh. Đến khi ngước mắt lên thì những gì anh có thể nhìn thấy chỉ là đuôi của những con bò đang dần biến mất theo khúc quành rẽ về bệnh viện.
“Nó xảy ra nhanh khiếp,” Joe kể lại khi chúng tôi ăn sáng ở Bar Vasca. “Tôi đã trông thấy cách làm của Holt. Nhưng lũ bò ấy to lớn kinh khủng!”
“Con bò có húc được anh không?” Monica hỏi.
“Giá như tôi có thể tuyên bố nó là một con bò mộng,” Joe đáp, “nhưng mấy đồ chết tiệt các bạn lại hẳn phải được chứng kiến rồi.”
Khi Holt về, anh nghiêm khắc nói với Joe, “Anh nên báo cho tôi chứ. Tôi sẽ bảo anh không nên chạy ở chỗ ấy. Lũ bò non thường chạy rất sát khúc quành ấy.”
“Thế thì bây giờ tôi báo với ông. Mai tôi sẽ chạy.”
“Cả tôi nữa,” Cato nói, có lẽ do một phút hăng hái bột phát.
“Cả tôi nữa,” tôi tiếp lời, chắc chắn do một phút hăng hái bột phát.
“Khoan đã nào!” Holt phản đối. “Tôi sẽ không chịu trách nhiệm về ba gã hề các người trên dốc Santo Domingo.”
“Hôm nay tôi có yêu cầu ông bảo vệ đâu,” Joe nhắc.
“Phải, thế cho nên anh mới bị húc vào đít... bởi vì anh rất ngớ ngẩn.” Anh đứng bật dậy, giận dữ đi lại quầy bar, gọi Raquel ra làm nhân chứng. “Ngày mai họ định chạy đấy... Ngày Bastille[93]... đông nhất trong năm. Một kẻ hậu đậu ngớ ngẩn đâm thẳng vào con bò thiến. Một lực sĩ xó bếp. Và một ông già mỏi gối chồn chân tóc bạc phơ. Trời đất hỡi.”
Anh ngồi xuống, và chúng tôi khẳng định với anh rằng dù anh có hợp tác hay không, sáng mai ba chúng tôi cũng sẽ xuống đường. “Vì sao cơ chứ?” anh hỏi.
Tôi có thể hiểu Joe. Trước ngày hôm qua, anh giữ thái độ thờ ơ với cuộc chạy, nhưng khi chứng kiến con bò quét sạch bức tường bên trái, anh đã nắm được ý nghĩa hội chạy. Đó là một việc thích hợp với anh, một việc có thể hiểu được. Việc anh tham gia chạy cũng không thể tránh được như việc Monica thích đàn ông và thử LSD. Đó là số mệnh của anh.
Cato thì lại khác. Anh đã bắt đầu dần chấp nhận thực tế mình là một thành viên trong nhóm mà không có bất kỳ hạn chế nào. Người duy nhất anh chưa thuyết phục được là Harvey Holt với những thành kiến đã ăn sâu bén rễ, vì vậy nếu chạy với đàn bò là tiêu chuẩn để Holt chấp nhận, Cato sẽ cho thấy đó là một đòi hỏi tầm thường. Thêm nữa anh thích và tin Joe và có phần muốn sát cánh cùng bạn.
Về phần tôi, chuyện khá đơn giản. Tôi đã sáu mốt tuổi và rất có thể không bao giờ còn cơ hội gia nhập một nhóm những người tâm đầu ý hợp mà tôi sẽ rất vui lòng được chạy cùng như vậy. Trước hết, về lý do muốn chạy, tất nhiên tôi không đủ trình độ chuyên môn để giải thích. Các nhà tâm lý học tranh cãi rằng đàn ông ở đảo Crete cổ xưa chạy thi với bò để đoạt lấy tính cương cường và chí can trường của con thú. Kẻ hoài nghi thì gạt bỏ ý kiến đó, coi việc những người đàn ông trưởng thành cố trở lại làm trẻ con là hành động nực cười; và các bác sĩ tâm thần thường giải thích thiết bị hi-fi như một vật thay thế cho kỹ năng tình dục thì lại lý luận rằng chỉ những người bất lực tình dục mới chạy trước mũi bò, hy vọng xoa dịu cho sự kém cỏi của mình. Tôi e lý thuyết này có gì đó sai lầm, vì nó làm dấy lên rất nhiều mối nghi hoặc về Bar Vasca. Nếu những người đàn ông tôi gặp ở đó có thêm chút tình dục nữa thôi, họ sẽ không có khả năng đứng vững trên đường phố, nói chi đến chuyện chạy. Một số người biện luận rằng đó là thói thích phô trương của những ông già, song một nửa số người tham gia chạy lại còn trẻ; và một số khác lập luận rằng đó là hội chứng tự mê ở những người trẻ tuổi, nhưng một nửa so người chạy lại đứng tuổi. Một nhà phê bình Mỹ nổi tiếng đã khẳng định rằng chín phần mười số người chạy là những sinh viên cuồng nhiệt từ Mỹ và Đức, trong khi thực tế chín phần mười số người chạy lại là công dân Tây Ban Nha, có thể họ cuồng nhiệt thật nhưng chưa bao giờ biết đến một trường đại học nào. Tôi thì lại thấy đó là trò vui - trò vui không thể giải thích - như nhà tắm Thổ Nhĩ Kỳ... hoặc cá trống và bia... hoặc một cô gái Tàu ở Hồng Kông.
Holt chịu thua. Anh nói, “Thôi được. Ngày mai cả bốn chúng ta sẽ chạy. Nhưng không phải ở Santo Domingo. Các vị ngờ nghệch quá, dễ chết lắm.” Sau đó anh dẫn chúng tôi ra phố và lên tòa thị chính, tại đó anh phác ra một chương trình hợp lý, “Ông, ông Fairbanks, ông đứng ở góc rào chắn này. Ông đừng chạy, và nếu có chút xíu tình cờ khiến một con bò vô tình húc ông, chúng tôi chẳng giúp được chuyện chết tiệt gì đâu. Ba chúng ta sẽ xuất phát ở đây, ngay trước tòa thị chính, và sẽ chờ cho đến khi đàn bò chạy quá chỗ ông Fairbanks. Lúc đó chúng ta sẽ chạy thục mạng đến góc tiếp theo, như vậy khoảng cách cũng đủ xa để chúng ta có thể đến nơi trước khi đàn bò đuổi kịp. Giờ thì chúng ta xuống đó và quyết định xem chúng ta sẽ làm gì, được phần nào hay phần ấy. Ngắm nghía địa điểm đi rồi mỗi người sẽ tự mình quyết định.”
Chúng tôi chậm rãi đi đến góc phố, nơi đàn bò sẽ rẽ vào Estafeta, và Cato là người đầu tiên lên tiếng. Anh chấm một cửa hiệu bán quần áo trẻ em, Los Zamoranos - Bé con Zamora. Cửa hiệu này nằm ở góc cách xa nơi thỉnh thoảng lũ bò bị ngã, và dưới tủ kính bày hàng là khe hở tạo một chỗ nấp tốt hơn mức trung bình rất nhiều. “Tôi sẽ lăn vào đó, dưới tủ kính kia. Ông nghĩ sao?”
“Mỗi người phải tự lo cho mình, nhưng đó là chỗ tốt đấy. Thôi được rồi, đó là nơi rèn luyện của Cato. Joe thì sao?”
“Tôi sẽ chạy thẳng đến chỗ rào cản và bám vào đó thật nhanh.”
“Còn ông?” Cato hỏi tôi.
“Tôi cảm thấy an toàn hơn ở dưới lòng đường. Tôi sẽ chạy cho đến khi chúng đuổi kịp rồi xoay người.”
“Làm thế có an toàn hơn không?” Cato hỏi.
“Với tôi thì có. Vì tôi biết lúc nào thì phải xoay người... Và xoay như thế nào. Các anh cứ làm theo kế hoạch của mình.”
Holt do dự rồi nói, “Nhớ nhé, mai là Ngày Bastille đấy. Sẽ rất đông và chuyện gì cũng có thể xảy ra. Tôi muốn các vị xem một tấm ảnh nói lên được nhiều điều.” Anh đưa chúng tôi đến một hiệu ảnh đối diện chỗ rẽ vào phố Estafeta, và ông chủ hiểu ngay anh muốn gì. Đó là tấm ảnh có một không hai. Một con bò đen to lừng lững bị ngã trên đường và đang cố đứng dậy, trông hết sức giận dữ. Cặp sừng của nó chỉ cách hơn chục phân trước một đám lộn xộn ba người đang kinh ngạc và không tìm được vật gì che chắn. Họ biết con bò hẳn phải húc một trong ba người. Người thứ nhất, ở gần con bò nhất, đang túm lấy eo người thứ hai để có thể kéo anh ta ra trước làm lá chắn; người thứ hai bóp cổ người thứ ba, tìm cách kéo anh ta vào vị trí sẽ bị con bò húc trúng; người thứ ba thì lại vặn vẹo để có thể né vào chỗ an toàn sau lưng hai người kia.
“Có lẽ tấm ảnh này nên được dán nhãn ‘Tinh thần Pamplona,’” Holt nói. “Đó là mọi người đều vì bản thân, bởi vì khi con bò đó nhìn xuống cổ anh thì anh không biết mình sẽ phản ứng như thế nào đâu.” Anh gõ nhẹ lên tấm ảnh nói, “Tôi tin chắc cả ba người sẽ kinh ngạc lắm nếu biết mình sẽ làm gì khi con bò tấn công.”
“Thế nó đã húc người nào?” Cato hỏi.
Holt quay lại ông chủ hiệu ảnh. “Có phải lần đó con bò đứng dậy, giũ mình, rồi điềm tĩnh chạy xuôi phố Estafeta không?”
Ông thợ ảnh gật đầu.
Bữa tối hôm đó, Holt đề nghị Joe và tôi lên gác gặp anh trong một phòng ăn nhỏ nơi chúng tôi có thể chuyện trò, và sau mấy câu tán gẫu không thể thiếu về trận đấu bò, Holt nói, “Joe, tôi hy vọng anh chưa suy nghĩ kỹ về việc trốn lệnh nhập ngũ.”
“Kỹ lắm rồi.”
“Chuyện này làm tôi rất bối rối. Tôi biết anh can đảm... làm được như anh sáng nay không phải dễ.”
“Không phải vấn đề can đảm.”
“Tất nhiên là phải. Anh sợ chết. Tất cả chúng ta đều thế. Nào, để tôi nói cho anh biết là trong lần gần đây nhất được tặng huân chương, tôi đã rất hoảng sợ...”
“Thôi đi, đừng phân phát món xúp nhàm chán ấy nữa.”
Holt cố nén giận vì anh cảm thấy chàng trai này xứng đáng được lắng nghe. “Nếu không phải vấn đề can đảm thì là gì?”
“Chiến tranh là sai lầm. Một người đứng đắn không thể tham gia được.”
“Tất cả các cuộc chiến tranh đều sai lầm. Nhưng một quốc gia buộc phải chấp nhận chiến tranh và việc vinh dự duy nhất một người đàn ông có thể làm...”
“Ông đang dùng một vốn từ cổ lỗ đấy, ông Holt. Chúng tôi không chấp nhận những định nghĩa mà ông dùng đâu.”
“Anh muốn nói là anh sẽ đặt ý kiến của mình lên trên ý kiến của Tổng thống nước anh, Quốc hội nước anh?”
“Đúng và không đúng. Như bốn Tổng thống gần đây nhất của chúng ta đấy, tôi không nghĩ ý kiến của họ đúng đắn lắm. Còn Quốc hội, theo như tôi được biết, có được hỏi ý kiến đâu. Vì vậy chiến tranh không chỉ sai lầm. Nó còn bất hợp pháp nữa.”
“Anh không tin chủ nghĩa cộng sản là mối đe dọa đối với chúng ta ư?”
“Những vấn đề trong nước còn là mối đe dọa lớn hơn nhiều.”
Họ vừa đối đáp vừa ăn pochas, nhưng khi Raquel mang món hầm lên, Holt chuyển đề tài. “Tôi đoán anh sẽ không chấp nhận bài thơ mà tôi đã thuộc từ hồi đại học:
Có cái chết nào vẻ vang hơn
Chiến đấu cam go mà lìa đời,
Vì tro tàn tổ tiên cha ông,
Vì thánh đường ngôi nhà Chúa Trời?”
Joe cố không mỉm cười, nhưng thất bại, “Tôi thấy nó cũng nực cười ngang với phim về Charlie Chan.” Khi thấy vẻ mặt choáng váng của Holt, anh nói thêm, “Bài thơ này được sáng tác từ thời khiên giáo. Tôi đang nói đến thời của bom khinh khí cơ.”
Holt đỏ bừng mặt, rồi nói, “Joe, hồi ở trại huấn luyện tân binh tôi đã được một trung sĩ rất nghiêm khắc rèn giũa, Schumpeter. Ông không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng những quy tắc cơ bản thì ông có thể nhìn với con mắt sáng suốt. Tôi mong anh có thể ở Parris Island một tháng dưới quyền Schumpeter. Anh sẽ nhìn mọi việc trung thực hơn.”
Joe ném khăn ăn xuống bàn. “Đáng lẽ tôi phải nhận ra mới phải. Ông là cựu binh thủy quân lục chiến! Ông bị nhồi sọ khẩu hiệu gung-ho[94] ấy từ khi còn trẻ và đó là điều đáng nhớ nhất từng xảy ra trong đời ông. Ông Holt, đối với chúng tôi binh chủng lính thủy đánh bộ chỉ là dư âm của một thời đại đã lụi tàn... cả họ lẫn những Schumpeter của họ và những chuyện vớ vẩn của họ.”
Tôi ngạc nhiên thấy Holt không tỏ ra giận dữ. Đặt dĩa ngay ngắn bên cạnh đĩa thức ăn, anh ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi, “Anh bạn Yigal của anh là người Do Thái phải không? Anh có nhận ra rằng nếu không có những người như Schumpeter tin vào bài thơ cổ lỗ vừa rồi, hay những điều đại loại thế... chẳng hạn như công lý... thì bạn anh sẽ chết trong lò thiêu... bị thiêu sống... cùng mọi người Do Thái khác trên trái đất. Điều đó chẳng lẽ là vô nghĩa?”
“Trong hoàn cảnh nào đó thì...”
“Anh có chiến đấu chống Hitler không?”
“Vấn đề đó không được đặt ra cho thế hệ tôi.”
“Vấn đề đó được đặt ra cho mọi thế hệ. Dưới hình thức khác. Và vấn đề lòng dũng cảm được đặt ra cho mỗi cuộc đời. Cứ hỏi ông Fairbanks mà xem.”
Không thể đưa ra lý lẽ nào mà Joe chưa từng nghe nên tôi giữ im lặng, nhưng anh nói, “Lòng dũng cảm thì tôi cũng có. Nếu chính quyền bắt được tôi, tôi sẽ đi tù. Tôi sẵn sàng nói thẳng nói thật.”
“Anh sẽ trốn chạy đất nước?” Holt hỏi với vẻ không tin.
Joe bật cười, “Có vẻ như ông không được nghe nói đến những điều chúng tôi sẵn lòng thực hiện ngoài việc bỏ trốn? Ông có biết là chúng tôi có những phòng khám chỉ cách cho chúng tôi vượt qua đợt khám sức khỏe không? Tám viên aspirin uống một giờ trước khi khám. Nó có tác dụng trong năm giờ, phòng khi họ lần chần đối phó với anh. Cứ đến gặp bác sĩ vào giai đoạn cuối cơn ảo giác vì LSD mà xem, anh sẽ làm máy móc loạn xạ hết. Sang châu Âu một tuần trước sinh nhật thứ mười tám và chứng thực đó là nơi cư trú hợp pháp. Tôi biết ít nhất hai mươi cách để thoát tội, và nếu các cách ấy không hiệu quả, tôi có thể dùng đến Little Casino và sau đó là Big Casino.”
“Là cách gì?”
“Little Casino, anh tìm một bác sĩ chứng nhận anh thường xuyên sử dụng LSD và heroin.”
“Các anh viết giấy trắng mực đen ư?” kinh hãi nghĩ đến các vấn đề liên quan, Holt hỏi.
“Có lẽ tôi sẽ phải làm như vậy trước cuối năm.”
“Không được, Joe! Nó sẽ lưu trong hồ sơ của anh... giả dụ anh muốn xin việc...”
“Tôi sẽ không chấp nhận bất cứ loại công việc nào mà tôi bị đánh giá theo hồ sơ nghĩa vụ quân sự.”
“Nhưng hầu như công việc nào cũng thế. Một ngân hàng, World Mutual mà ông Fairbanks đang làm việc, UniCom...”
“Tôi sẽ không nhận việc ở bất kỳ hãng nào như thế. Hình như ông không hiểu. Chế độ này đã thối nát và tôi sẽ không góp phần vào. Nếu chấp nhận Little Casino, tôi sẽ không đặt bất cứ thứ gì liên quan đến mình vào vòng nguy hiểm. Tôi đã làm điều đó rồi.”
“Nhưng còn chuyện hôn nhân? Giả dụ anh muốn lấy con gái tôi. Chẳng lẽ tôi đây, là cha cô gái, lại không tìm hiểu lý lịch của anh?”
Joe cười hết cỡ. “Có đến một nghìn năm nữa ông cũng không bao giờ cho con gái lấy tôi, ông Holt, dù tôi có dùng Little Casino hay không. Tôi cũng sẽ không cưới con ông. Chúng ta đang sống ở hai xã hội hoàn toàn khác nhau. Thử nhìn những cô gái quanh đây xem. Ông đã bao giờ gặp những cô gái xinh xắn hơn chưa? Ông tưởng tôi không thể cưới được họ nếu tôi muốn sao? Ông tưởng trước hết họ sẽ về hỏi cha mẹ, ‘Anh Joe có phải một thanh niên đáng được chấp nhận không? Anh ấy có thích hợp làm việc ở First National Bank không?’ Chết tiệt, chúng tôi cứ cưới nhau đã, rồi ba tháng sau sẽ gửi bưu ảnh từ Tangier báo tin cho họ.”
Cả Holt lẫn tôi đều không biết phản ứng thế nào vì ngay lúc này chúng tôi không thể lĩnh hội được khái niệm cấp tiến này. Chúng tôi đã được nuôi dạy trong một xã hội mà việc cưới con gái nhà người ta phải kèm theo cam kết nào đó mà những đàn ông lịch sự phải thực hiện bằng những cách được thừa nhận. Holt đã viếng thăm chính thức cha mẹ bạn gái; tôi cũng làm như vậy. Việc đó chẳng có gì quan trọng, tôi nghĩ thế, và cũng không làm cho cuộc hôn nhân của chúng tôi kéo dài hơn, nhưng với cánh đàn ông chúng tôi, nó rất có ý nghĩa. Năm hay sáu lần trong đời, tôi phải tuyên thệ nhậm chức hoặc thực hiện một nhiệm vụ trọng đại, và việc tuyên thệ có ý nghĩa nào đó, vì nó xác nhận một lời cam kết mà vì danh dự tôi buộc phải thực hiện, và tôi coi những lời cam kết mình tự nguyện đưa ra như những con đê giữ cho thác lũ cuộc đời trong vòng kiểm soát.
“Chúng tôi bác bỏ tất cả những quan niệm mà các ông ném vào mặt, ông Holt. Chúng tôi sẽ sống đời sống tốt đẹp và hữu ích theo những điều kiện của mình.”
“Về lâu về dài, các điều kiện phải giống nhau cả thôi. Lúc nào chẳng vậy. Anh có thể cười nhạo Horatius đứng vững trên cây cầu của mình, nhưng trừ phi anh xác định được cây cầu của anh và có gan bảo vệ chúng...”
“Chúng tôi đã xác định cây cầu đầu tiên của mình. Chiến tranh Việt Nam là sự sỉ nhục trí tuệ con người và chúng tôi không tham gia.”
“Cậu vẫn né tránh câu hỏi trước của tôi. Thế chiến II có phải sự sỉ nhục trí tuệ con người không?” Joe không trả lời nên Holt hỏi tiếp, “Thế còn Triều Tiên thì sao?”
“Thì sao ư? Chẳng phải mọi rắc rối đều bắt đầu thực sự từ đó sao? Nước Mỹ từ chối tuyên chiến vì không muốn làm xáo trộn nền kinh tế trong nước. Chín người làm ra vô khối tiền và người thứ mười phải ra trận. Chúng ta nhận thấy chúng ta có thể thoát được lần đó, vì thế ở Việt Nam chúng ta cố tình làm trò bẩn thỉu tương tự. Và gậy ông mới đập lưng ông. Đó là cuộc chiến sai lầm, ông Holt, sai lầm về mọi mặt.” Joe tạm ngừng một chút rồi hỏi, “Làm sao ông lại muốn bị gọi vào quân đội để tham gia một cuộc chiến như vậy?”
“Tôi tình nguyện,” Holt nói.
Joe nhìn xuống đĩa thức ăn, và Holt nói tiếp, “Theo cách tôi đã tình nguyện trong Chiến tranh Thế giới II và chiến tranh Triều Tiên. Tôi coi cuộc chiến ở Triều Tiên là một sự nghiệp cao cả. Chúng ta đã cứu Nhật Bản khỏi chủ nghĩa cộng sản và ổn định vùng đó của châu Á. Tôi cũng nghĩ như vậy về Việt Nam. Anh bảo bốn Tổng thống gần đây nhất của chúng ta là những kẻ ngớ ngẩn. Tôi thì lại thấy họ là những người xuất sắc... chung cuộc.”
“Khoảng cách rộng hơn tôi tưởng,” Joe nói, Holt liền hỏi, “Big Casino là gì?” thì Joe đáp, “Nó rất nghiêm trọng. Có lẽ tôi phải dùng cách ấy trước tháng Giêng,” rồi thì Holt can, “Joe, anh là người hữu ích. Anh còn trẻ nhưng rồi sẽ già dặn hơn. Đừng làm bất cứ việc gì có thể phá hỏng những năm tháng sau này của mình. Năm tháng còn dài và anh sẽ cần đến toàn bộ nghị lực mà anh có thể thu góp được.”
Holt đặt dao dĩa xuống đĩa thức ăn và đi lên phòng, nhưng lần này chúng tôi không thấy anh mở nhạc.
—★—
Ngày mười bốn tháng Bảy không khí Pamplona náo nhiệt đến tột đỉnh. Suốt đêm, hàng nghìn người Pháp rầm rập vượt qua biên giới để “regarder les taureaux”[95]. Họ là những con người đẹp đẽ, quần trắng giản dị và áo dệt cộc tay gọn gàng thêu hình cá sấu trên ngực trái. Nhiều người đội mũ nồi và ai cũng cười nói ồn ĩ.
Năm giờ rưỡi các ban nhạc tập trung tại Bar Vasca, và vì đó là buổi sáng cuối cùng được đánh thức thành phố dậy nên họ chơi hoàn toàn thoải mái, tiếng trống ầm ầm như pháo bắn. Holt nhảy ra khỏi giường, cạo râu bằng nước lạnh, và sau đó, vẫn ăn mặc như thường lệ, đến gõ của một vài phòng. Khoảng sáu giờ, một nhóm thanh niên nam nữ mỗi người mỗi vẻ tề tựu trong phòng anh, kể cả hai cô gái Mỹ rất xinh học ở trường Wellesley mà đêm trước Joe thấy loay hoay tìm chỗ ngủ ở quảng trường.
Holt phân công Clive giữ chỗ cho các cô gái ở cạnh rào chắn dẫn vào phố Estafeta: “Bây giờ đi ngay thì hơn. Đến sáu giờ thì mọi vị trí thuận lợi sẽ bị chiếm hết đấy.”
Khi chỉ còn lại bốn người chúng tôi, anh dặn, “Cà phê xong rồi chúng ta lên tòa thị chính. Chúng ta phải giành được chỗ an toàn ở góc đó cho ông Fairbanks.”
Trên đường rảo bước lên đồi, anh mua cho mỗi người một tờ báo, và trong lúc cuộn tròn tờ của mình lại, anh nhắc chúng tôi về chiến thuật của chúng tôi, đoạn nói thêm, “Không được hành động khinh suất, khi các bạn nghĩ đàn bò đã chạy qua an toàn. Bởi vì chúng có thể quay lại bất thình lình và loại các bạn khỏi cuộc chơi.”
Khi chúng tôi tới tòa thị chính, quảng trường đã đông nghịt những người là người, trong đó có rất nhiều du khách Pháp đi chơi nhân Ngày Bastille và chưa từng chạy bao giờ. “Đám đông này không ngon lành rồi,” Holt nhận xét với vẻ chuyên nghiệp. “Mọi người phải cảnh giác vì hôm nay chuyện gì cũng có thể xảy ra.” Dẫn tôi vào vị trí, anh nhỏ giọng nói thêm để mấy bạn kia không nghe thấy, “Có lẽ tôi không cần dặn ông, nhưng hãy cố cưỡng lại cám dỗ chạy theo đàn bò khi chúng đã vượt qua chỗ ông. Nếu một con quay lại quảng trường này thì hẳn sẽ có chuyện, và tôi không muốn lo lắng cho một lão già ấm ớ như ông.”
Tôi nhìn theo trong lúc anh dẫn hai thanh niên mà anh nhận trách nhiệm trông nom vào vị trí. Lúc đầu tưởng như có lầm lẫn gì đó vì họ bị đám đông vây cứng, nhưng bảy giờ kém hai phút, khi cảnh sát cho phép những người ở hàng trên cùng len qua rào chắn, Holt và hai chàng trai thấy mình đang đứng đúng chỗ đã định, ngay hàng đầu những người sẽ tham gia chạy cùng đàn bò trên đoạn đua hồi hộp nhất.
Đúng bảy giờ, pháo thăng tiên phụt nổ và một nỗi lo sợ thắt ruột thít chặt tất cả chúng tôi. Tôi không thể giải thích vì sao tôi, một người những năm trước vẫn thường chạy với đàn bò và lần nào cũng giữ vững được tinh thần từ đầu đến cuối cuộc đua, lại phấn khích như một người Pháp mới toanh, vậy mà tôi đã thế. Tôi vô tình nhìn Cato khi quả pháo thăng thiên thứ hai nổ, và có thể nhận ra anh đang bị mắc kẹt vào một việc mà giờ anh không thể rút lui.
Tôi không quan sát Holt và hai chàng trai nữa mà đưa mắt xuống bãi quây, và trong khoảnh khắc tôi bắt được những hình ảnh đầu tiên của đàn bò đang chạy rầm rập lên dốc, qua bệnh viện quân đội, qua Bar Vasca, vào con ngõ hẹp sẽ dẫn thẳng chúng đến tôi. Tôi thấy mình lầm rầm cầu nguyện là từng con sẽ rẽ vào phố Dona Blanca, chứ không phải vào tôi.
Lúc này chúng đã ở đây, sáu con bò đực hung hăng và mười con bò thiến to lớn xông thẳng vào tôi, tôi thấy mình như sắp xỉu, nhưng đến phút cuối cùng, như mọi lần, chúng rẽ sang trái, chạy qua tôi chỉ cách non một mét, rồi vào phố Dona Blanca. Quá phấn khích không sao kiềm chế được, tôi dợm bước đuổi theo chúng để xem có chuyện gì xảy ra với Holt và hai chàng trai không, nhưng tôi vừa chạy được mấy bước, một người Tây Ban Nha nhỏ nhắn đã túm lấy tay tôi kéo vào trong đám đông, miệng hét, “Señor, otro!”[96]
Trong cơn phấn khích, tôi đã không đếm đàn bò - thực ra, tôi có cố cũng không đếm được vì chúng chạy qua tôi như những bóng mờ, và đầu óc tôi rối tinh rối mù đến nỗi tôi không sao thấy rõ mà cũng chẳng đếm chính xác được - và lúc này con cuối cùng, bị tụt lại sau đàn, đã chạy thình thịch đến gần, lao thẳng đến vị trí tôi vừa rời đi. Chẳng thèm để ý đến tôi và những người như tôi, nó phóng về phía trước, chỉ chăm chăm đuổi kịp các bạn. Tôi lại tiếp tục chạy, và vì thế được chứng kiến khá gần những chuyện xảy ra ở chỗ rẽ vào phố Estafeta.
Nhìn lướt qua tình hình, tôi nhẹ cả người thấy Cato đã nằm thu lu trong khe tường dưới tủ kính cửa hàng quần áo trẻ em, trong khi Joe ép sát vào rào chắn. Holt vẫn an toàn giữa phố, nhưng vì đã đếm số bò chạy qua, anh biết còn một con nữa sắp tới và có thể sẽ nguy hiểm. Hét lên “Nằm yên đấy!” với Cato và “Giữ nguyên như thế!” với Joe, anh bước vài bước khôn ngoan để tự bảo vệ bản thân. Nhưng anh không thể biết được mình đang bước đến ngay trước mặt một thanh niên Pháp hoảng loạn, người mà theo như những diễn biến sau đó hẳn đã trải qua buổi sáng hãi hùng nhất trong đời.
Khệnh khạng bước vào quảng trường tòa thị chính lúc bảy giờ kém mười lăm, anh chàng huênh hoang tuyên bố sẽ chạy với đàn bò mừng Ngày Bastille, và khi quả pháo thăng thiên được bắn lên, anh vui vẻ di chuyển xuống phố Dona Blanca, nhưng khi đến phố Estafeta và nhìn dọc con đường dài đáng sợ vốn là nơi thử thách bản lĩnh đàn ông ấy, anh hoàn toàn rụng rời và thét lên “Mình làm gì ở đây?”
Trong cơn hoảng loạn, anh cố chui qua rào chắn, nhưng viên cảnh sát mà chúng tôi đã chứng kiến thi hành phận sự trước đó liền đẩy anh trở lại đường đua. Sau đó anh chạy lại chỗ rào chắn nơi các cô gái đang ngồi nhưng rồi lại bị viên cảnh sát thứ hai xô trở lại lòng đường. Hồn bay phách lạc, anh cuống cuồng lao đến chỗ thứ ba, ở đó anh lại tình cờ chạm trán một đại úy cảnh sát, người này đấm vào mặt anh quát, “Muốn chạy hả - chạy đi!”
Vẫn sợ Estafeta, anh thanh niên quay về hướng tòa thị chính, nhưng đàn bò đã vòng qua góc phố và đang lao thẳng về phía anh. Anh thét lên kinh hoàng, “Tôi phải làm gì?” Holt liền đẩy anh xuống đất rồi hướng dẫn anh nằm thu mình sát tường một cửa hiệu. Anh thanh niên nằm run như cầy sấy ở đó trong khi năm con bò đầu tiên ầm ầm lao qua, nện móng cồm cộp xuống mặt đường, không xa cái đầu đang bị che đi của anh.
Khi chúng đã chạy qua, anh đứng dậy đi ra giữa đường, nhưng đúng lúc đó con bò cuối cùng xuất hiện... anh bạn trẻ đứng sững như trời trồng. Những gì vừa xảy ra từ sáng tới giờ đã quá sức chịu đựng của anh. Hiểu được điều gì xảy ra, Holt một lần nữa đến giải cứu và đẩy anh lùi về bức tường phía sau, rồi đứng ngay đơ thành một tượng đài bất động nhỏ nhoi trong khi con bò lạc đàn lao qua. Đó là giây phút đầy kịch tính, tất cả những người được chứng kiến, trong đó có cả tôi, đều vỗ tay tán thưởng.
Vì vậy đáng lẽ mọi việc sẽ diễn ra tốt đẹp, không ngờ khi định rẽ vào phố Estafeta con bò lạc đàn ấy lại phóng quá nhanh và trượt chân ngã. Rồi xảy ra hai việc thay đổi cuộc chạy buổi sáng ấy. Lấy lại thăng bằng xong, con bò thành ra quay đầu sau, và cuối cùng khi nhìn suốt phố Estafeta không thấy một bạn đồng hành nào, nó cuống lên, bắt đầu giương sừng quật túi bụi bất cứ thứ gì ở phía trước.
Bằng một đòn quét sừng trái điên cuồng nó rạch vào rào chắn, ngay dưới chân Monica, rồi lao sang bên kia đường, đúng nơi Cato vẫn nằm thu mình trong khe tường dưới tủ kính, đầu gối co lên để bảo vệ bụng. Nếu anh bị bò húc trong tư thế cả người áp vào hai mặt phẳng cứng, vết thủng sẽ rất tệ hại, có thể còn nguy hiểm đến tính mạng. Nhìn thấy cặp sừng đang lao tới, Cato rú lên, nhưng cặp sừng lại không xọc xuống vì đúng lúc quyết định ấy Holt đã nhảy đến trước mũi con bò, xua tay và phẩy tờ báo, bằng cách đó đánh lừa nó quên Cato đi.
Hành động này thật phi thường, một trong những hành động quả cảm nhất những năm gần đây, và một thợ ảnh tinh mắt, ở tư thế sẵn sàng chờ biến cố khi chú bò đơn độc trượt ngã, đã chớp được vẻ đẹp trọn vẹn của cảnh tượng ấy; con vật đang điên tiết, cách Cato chừng chục phân; Cato nằm co rúm ngoài phố; Holt, với hành động tự nguyện hy sinh, thu hút con bò để nó quên người bị ngã mà hướng về phía anh. Và tấm ảnh nổi tiếng này còn cho thấy một chi tiết nữa: phía sau Holt là một người Pháp đang khiếp sợ sắp túm lấy anh để sử dụng anh như cái mộc.
Đó là những gì đã xảy ra. Bình thường Holt sẽ xoay người ra ngoài tầm với của con bò và nó sẽ đổi hướng đúng vị trí để chạy xuôi xuống phố Estafeta mà không gây hại gì, nhưng khi người Pháp kia túm lấy Holt thì anh không thể làm thế được. Bị siết chặt từ phía sau như trong gọng kìm, anh không thể di chuyển khi con bò lao thẳng tới. Lúc này tôi đang đứng cách đó hơn ba mét, kinh hãi chứng kiến con vật cắm phập sừng phải vào bụng Holt rồi bổ thêm hai nhát nữa, trong khi người Pháp kia giữ anh chặt cứng. Cuối cùng một công nhân cầm cây sào thúc cho con bò chạy xuống phố Estafeta, không gây thêm rắc rối nữa.
Tôi không phải người đầu tiên đến chỗ Holt khi anh đổ xuống lề đường, nhưng tôi ở trong số những người đầu tiên. Tôi chộp lấy một chân anh, thấy máu đã chảy thành dòng xuống đó, nhưng hình ảnh cuối cùng của tôi về góc đường đáng sợ ấy là Cato đang đấm anh người Pháp thùm thụp. Hai cảnh sát Tây Ban Nha kéo Cato đi và rồi chính họ cũng bắt đầu đấm anh người Pháp kia, còn dã man hơn.
Chúng tôi chạy dọc phố Santo Domingo, qua Bar Vasca, thế là bà Raquel nhìn thấy chúng tôi khiêng Holt đến bệnh viện. Bà thét lên, rồi mấy anh thợ đốn gỗ chạy ra phố theo chúng tôi. Cổng quân y viện đã mở sẵn, chúng tôi lao lên tầng trên đến phòng mổ, tại đó các bác sĩ khám sơ qua vết thương ở bụng anh và nói, “Rất sâu.” Rồi họ nhìn thấy vết sẹo ở ngực do chính họ khâu, một bác sĩ phẫu thuật luồn tay vào quần Holt sờ vết sẹo ở mông. “A, el Americano. Ông ấy sẽ không sao đâu. Người này biết rõ cách tự vệ mà.” Rồi họ bắt tay vào việc phẫu thuật.
Ra đến phố, tôi thấy ba cô gái đã chờ bên ngoài cổng bệnh viện. Mặt Monica tái mét. Môi Gretchen mím chặt. Còn Britta thì thổn thức. Tôi đến gần cô theo bản năng, và cô áp má vào ngực tôi. “Cháu yêu ông ấy vô cùng,” cô thì thầm.
“Anh ấy sẽ sống.”
“Thật không?” ba cô gái hỏi.
“Người khác có thể không, nhưng anh ấy sẽ sống.”
Chúng tôi đang đứng đó thì Joe và Cato lên đến nơi. “Ông ấy đã hy sinh thân mình để cứu tôi,” Cato lẩm bẩm luôn miệng.
“Đúng là anh ấy đã làm thế,” tôi gắt. “Cậu đừng bao giờ quên những lời ấy.”
“Thật đáng xem,” Joe nói. “Một người đàn ông và một tờ báo.”
“Anh bạn Pháp ấy đẹp trai đấy chứ, phải không?” Monica hỏi.
“Anh chỉ muốn giết chết hắn,” Cato đáp.
“Chú Fairbanks,” Britta thì thầm, “cháu muốn đến nhà thờ.” Vậy là tất cả chúng tôi rời bệnh viện lên đồi đến nhà thờ Santo Domingo. Chúng tôi đẩy cửa đi xuống hai nhịp cầu thang tới gian giữa giáo đường nơi lễ mi xa buổi sớm vừa bắt đầu, nhưng chưa kịp ngồi thì một người đưa tin của bệnh viện đã chạy tới mời linh mục.
“Lạy Chúa tôi!” Britta thổn thức trong khi tôi đến chỗ người đưa tin hỏi thăm tin tức. Anh này nói, “Phòng xa... Vết thương ở bụng mà, ông biết đấy.”
Tôi quay lại chỗ Britta thông báo, “Chỉ phòng xa. Giờ chúng ta sẽ ngồi đây cho đến khi lấy lại được bình tĩnh.”
Và cả Cato cũng cầu nguyện.
—★—
Ngày hôm đó thật thảm đạm. Chúng tôi không nhận được thông tin gì của bệnh viện, đến tận trưa mới có một linh mục tới Bar Vasca báo là tôi có thể gặp Holt, có vẻ như anh đã đỡ hơn sau khi được phẫu thuật. Tôi vội vã xuống phố, theo sau là nhóm bạn trẻ, nhưng đến cổng quân y viện, họ bị một viên chức mặc áo trắng ngăn lại. Tôi được một người dẫn đường đưa lên tầng hai, mặc dù không cần phải thế vì trước kia tôi đã đến vài lần. Ngồi tựa trên giường là Harvey Holt, khuôn mặt trắng bệch nhưng đang mỉm cười.
“Vết kim châm thôi mà,” anh đùa.
Bác sĩ điều trị bảo, “Không sốc. Không biến chứng. Một người lạ thường, nhưng tất nhiên những vết sẹo khác đã cho thấy điều đó rồi.”
“Nó húc anh ở chỗ nào?” tôi hỏi Holt.
“Ở bụng... nhưng phần không nguy hiểm. Rất ý tứ đấy chứ.”
“Màn cứu người của anh cũng khá đấy.”
“Anh chàng Pháp ấy cũng dễ thương... phải không?”
“Cato muốn giết anh chàng. Cậu ấy muốn gặp anh... rất muốn.”
“Ông nói với Gretchen là tôi muốn nói chuyện với cô ấy nhé.”
Khi tôi giải thích yêu cầu này, ông bác sĩ gật đầu, vì vậy tôi nhờ người hướng dẫn xuống tìm Gretchen, và khi cô tới, nhợt nhạt và căng thẳng, Holt cười trêu cô. “Sao lại sầu não thế kia?” anh hỏi.
“Có thể ông không biết, ông Holt, nhưng chuyện xảy ra ngay dưới chân tôi. Tôi hận tên Pháp ấy quá!”
“Chuyện tôi muốn nói với cô là... hãy bắt con tàu ở Barcelona đó.”
“Ông Holt, chúng tôi không thể rời khỏi đây trong khi ông...”
“Tôi ra lệnh cho cô đấy. Hãy bắt con tàu đó.”
“Chúng tôi sẽ ở lại đây... chúng tôi đã bàn bạc và quyết định...”
“Gretchen, con tàu ấy rất quan trọng.”
“Ông mới quan trọng.”
“Nhưng con tàu đó quan trọng với nhiều người.”
“Ông có cho rằng Cato sẽ ra đi khi ông chưa được khỏe không?”
“Điều cuối cùng tôi nhìn thấy trước khi ngất đi là Cato đấm anh chàng Pháp. Đó là thị thực xuất cảnh của cậu ấy.” Anh nhắm mắt lại khẽ nói, “Ông khuyên cô ấy đi, ông Fairbanks.”
Tôi lên tiếng, “Holt nói phải đấy. Anh ấy sẽ sống. Không có lý do gì để phá vỡ kế hoạch của mọi người.”
Rồi Holt nói thêm, “Còn một việc nữa, Gretchen. Clive là gã ngốc. Cô có thể gặp được người tốt hơn.”
Cô đỏ mặt, định nói gì đó - và tôi có thể thấy mắt cô rơm rớm. Chắc hẳn bản năng của cô mách bảo khóc trước mặt người bị thương này là không phải phép, vì vậy cô không nói gì mà chỉ cúi xuống giường hôn anh. Sau đó cô quay đi và rời khỏi phòng.
Một lúc sau, có tiếng xô đẩy ở ngoài cửa và Cato xông vào. Người hướng dẫn chạy theo cố túm lấy anh, nhưng bác sĩ nói không sao. Cato lại bên giường ngập ngừng nói, “Ông nằm ở đây... không phải tôi. Tôi muốn ông biết rằng...”
“Chàng trai ơi, tôi đã nói là khi anh chạy với đàn bò, việc gì cũng có thể xảy ra.”
“Điều tôi muốn nói là cha tôi... suốt cuộc đời ông ấy... chưa từng hành động như một người đàn ông. Có lẽ nếu ông ấy...”
“Có lẽ người da đen các bạn phải chạy với những con bò hung bạo hơn.”
Hai kẻ xung khắc nhau ấy im lặng nhìn nhau, rồi Cato nói, “Những con bò mà tôi chạy cùng, ông Holt ạ, có sừng to như chiếc giường này.”
“Bao giờ mà trông chúng chẳng có vẻ to... bao giờ cũng vậy.”
“Tôi sẽ không bao giờ quên ông đã liều mạng để cứu tôi.”
“Ai tính toán làm gì cơ chứ?” Holt hỏi, và Cato rời khỏi phòng. Holt chỉ làm ra vẻ khỏe thế, chứ anh đã mất một lượng máu đáng kể, nên Cato vừa đi khỏi anh liền ngả lưng xuống gối.
“Vết thương có nặng lắm không?” tôi hỏi.
“Không. Anh cảm thấy mình mắc kẹt trong vòng tay chắc khỏe ấy... anh chàng Pháp đáng thương sợ chết khiếp và hoàn toàn mất trí. Tôi còn làm được gì? Tôi nhớ đã cảm thấy hài lòng vì con bò đó sẽ không húc Cato lúc ấy đang dán mình sát tường. Tôi nhớ đã nghĩ con bò nên tấn công tôi thì tốt cho nó hơn nhiều vì đằng sau tôi còn có người, họ sẽ dãn ra một chút khi sừng bò lao đến. Và mọi việc đã xảy ra đúng như vậy.”
“Nhìn cảnh tượng ấy thật lạ thường,” tôi nói.
“Nhìn tôi còn ngồi ở đây được mới thật lạ thường,” Holt đối đáp. Bác sĩ ra hiệu tôi nên đi thì hơn, nhưng tôi vừa ra đến cửa, Holt lại nói, “Phải đảm bảo các bạn trẻ lên con tàu đó nhé.”
Ngoài cổng Britta đang hỏi xem cô có lên được không, nhưng người gác bảo, “Nada más”[97], thế là chúng tôi đành quay lại quảng trường chính và đến đó thì bị các khách quen vây quanh đòi nghe tình hình tức thời. Cô gái Đức chúng tôi gặp đêm đầu tiên nói, “Người ta bảo với chúng tôi là linh mục đã được mời đến và ông ấy chết rồi.”
“Anh ấy đang ngồi trên giường cười nói kia kìa,” tôi nói.
“‘Ông đã xem ảnh chưa?” cô hỏi.
Ngạc nhiên thấy ảnh được rửa sớm thế, Britta giục chúng tôi đến hiệu ảnh, và ở đó chúng tôi được xem một loạt hình liên hoàn cho thấy cảnh con bò trượt ngã, cảnh nó quay lại lao về phía tòa thị chính, và cảnh Holt bị húc, nhưng tấm ảnh khắc sâu trong tâm trí tất cả những người đã chứng kiến vụ tai nạn là cảnh Harvey Holt, tờ báo trong tay, đang kích động con bò ở khoảng cách có lẽ là gần hai mét. Đó là bức chân dung về lòng dũng cảm và sự khoan dung, của một con người đơn độc đang làm những gì cần làm.
Các bạn trẻ ngồi trong nắng bàn xem họ có nên bỏ trận đấu buổi chiều và hủy kế hoạch đi Moçambique vì nể trọng Holt không, nhưng tôi khuyên họ, “Điều cốt lõi của Pamplona là người ta chạy với đàn bò vào buổi sáng, xem chúng đấu vào buổi chiều, và nếu các bác sĩ ở bệnh viện đó không trông coi cẩn thận, không chừng chiều nay các bạn sẽ thấy Harvey Holt ngồi cạnh tôi xem đấu bò đấy. Trước đây anh ấy đã làm như vậy.”
Hai giờ chiều chúng tôi quay về Bar Vasca ăn pochas để tỏ lòng kính mến Holt, và sau bữa trưa Britta lại đến bệnh viện, nhưng một lần nữa cô không được vào.
Tôi kiên quyết bảo các bạn trẻ sắp xếp đồ đạc lên chiếc pop-top màu vàng để có thể rời đi ngay sau trận đấu. “Đường đến Barcelona khá xa và vất vả, vì vậy nếu các bạn không muốn nhỡ tàu thì phải bắt tay vào việc đi.” Mắt Britta ngấn lệ trong lúc cô xếp đồ vào chiếc túi dài có dây rút, song tôi cam đoan với cô là Holt sẽ khỏi và cô có thể viết thư cho anh theo địa chỉ bệnh viện quân đội, nhưng sau đó, lúc ở trường đấu, nhìn ra phía sau nơi các bạn trẻ đang ngồi, tôi thấy Britta đã không đến xem đấu bò. Trong thời giải lao, tôi đến chỗ họ hỏi xem Britta đâu, Monica cho biết, “Bạn ấy muốn từ biệt ông Holt. Bạn ấy sẽ đợi chúng cháu tại nơi đỗ xe.” Clive đang ngồi ở chỗ của cô.
Khi trận đấu kết thúc, trận đấu gay go cuối cùng của năm, và các ban nhạc đã tập trung dưới sân chuẩn bị cho cuộc diễu hành lần cuối xuyên qua thành phố, nhóm bạn trẻ vội len qua đám đông đến chỗ chiếc pop-top, Britta đã đứng sẵn ở đó, cái túi dài bằng len của cô đặt trên hè, “Tôi không thể đi cùng các bạn được,” cô nói, và điều làm tôi kinh ngạc là tất cả mọi người chấp nhận quyết định đó như chuyện bình thường.
“Poste restanté[98], Lourenço Marques,” Gretchen dặn. “Cho chúng tớ biết tình hình ông ấy nhé.”
Cato bắt tay Britta và nói, “Anh sẽ gặp em ở Hoa Kỳ... hay Na Uy... hay một nơi nào đó.”
“Tạm biệt, chú Fairbanks,” họ hét lên, và chiếc pop-top hướng về phía bờ biển, trong khi một vầng mặt trời khổng lồ vẫn còn đỏ rực ở đằng Tây.
—★—
Britta và tôi đi về quảng trường trung tâm. Tôi đề nghị xách túi hộ cô nhưng gì thì gì cô cũng không chịu, qua một vài khối, chúng tôi bị kẹt giữa một đám người đang tìm cách diễu hành cùng các ban nhạc trong đêm đặc biệt này. Trong lúc len lách để tự giải vây, chúng tôi lại lọt vào một đám đông hỗn loạn theo sau một trong những ban nhạc ầm ĩ nhất và bị cuốn đi hơn một khối nhà nữa mà không sao thoát ra được. Tiếng ồn rất kinh khủng, như thôi miên, màn kết thúc huy hoàng của một lễ hội, và trong một thoáng Britta tạm quên mối lo lắng cho tương lai của bản thân cô cũng như của Holt và thả lỏng mình.
Rồi đột nhiên, theo một hiệu lệnh phát ra chẳng từ đâu khác ngoài trái tim những người đang chào tạm biệt một tuần lễ vui chơi thoải mái, nhạc ngừng lại, các ca sĩ im bặt, tiếng ồn lắng dần, cả tiếng xì xào trong đám đông cũng tắt. Mọi người trên phố đều quỳ xuống và bắt đầu dập trán xuống đá lát đường. Trong không khí im lặng bỗng vang lên giọng của một người, rồi nhiều người, cùng hát bài hát truyền thống dành cho giây phút long trọng này:
“Khổ thân ta, khổ thân ta! Buồn xiết bao.
Bây giờ thì Lễ hội San Fermín
Kết thúc rồi. Tội nghiệp ta chưa.”
Bị những người xung quanh đẩy nằm sấp xuống, Britta đưa mắt nhìn tôi đang nằm trên đá lát, và tôi nhận thấy nét mặt cô bị kinh nghiệm bất ngờ này làm cho rạng rỡ hẳn lên. Nỗi buồn đang bước đi khắp đường phố và hiện hình rõ rệt - nỗi buồn của cô, cô là một phần của nó. Mắt cô ngấn lệ và cô vội áp bàn tay vào miệng. Cô quay đi, dập trán xuống đá lát đường.
Rồi, vẫn theo một hiệu lệnh vô hình, các ban nhạc đồng loạt tấu lên những giai điệu rộn rã, hàng nghìn người đang nằm úp liền bật dậy, tiếng ồn chối tai lại tiếp tục, ầm ĩ hơn cả lúc trước. Khi chúng tôi đã phải trải qua ba vòng than vãn và reo hò, tôi cầm túi của Britta, bảo cô, “Cô nên diễu hành cùng với đám người than khóc kia,” và cô làm vậy.
Gần nửa đêm, đang kéo lê cái túi của cô về Bar Vasca, tôi tình cờ nhìn thấy đoàn diễu hành đi qua một phố hẹp, và trong đó có Britta, vẫn rạp người dập đầu xuống đá lát đường, tôi chợt hiểu cô làm vậy không phải vì buồn bã do lễ hội San Fermín sắp kết thúc mà vì một nỗi khổ đau khôn nguôi thỉnh thoảng vẫn bao trùm lên những người trẻ tuổi khi họ phải bất ngờ đối diện cái chết, hoặc khi ảo tưởng tan vỡ, hoặc khi họ thoáng nghĩ đến những năm tháng chán ngắt trước mắt. Cô không trông thấy tôi, mà hình như cũng không để ý đến những người đang vừa đi vừa than vãn bên cạnh mình. Cô như một bóng ma, đôi mắt vô hồn, đi qua những đường phố thân thương đã mang lại cho cô biết bao niềm vui.
Hai giờ sáng, khi đoàn diễu hành vẫn còn bốn tiếng nữa mới đến bình minh, Britta bỏ họ lại và đến Bar Vasca, tìm thấy tôi đang ngồi cùng mấy người thợ đốn gỗ.
“Chú Fairbanks, chú phải đưa cháu đến bệnh viện. Ngay bây giờ.”
“Vào giờ này ư!”
“Cứ nói với họ cháu là vợ ông ấy... Vừa từ Madrid tới.”
Tôi đi cùng cô qua con đường tối đen tới quân y viện, nói với người gác cổng đang ngái ngủ, “Đây là vợ người Mỹ bị thương.”
“Ông bảo bà ấy sáng ra hẵng đến.”
“Nhưng cô ấy vừa mới từ Madrid tới.”
Thái độ khó chịu, người đàn ông trong chiếc áo choàng trắng nói, “Được rồi, nếu là vợ ông ấy thì tôi sẽ lên báo.”
Ra hiệu cho chúng tôi chờ, anh định lên gác, nhưng tôi đã chặn trước bằng cách túm tay Britta dẫn đi. Khi chúng tôi tới cửa phòng Holt, người gác ngó vào xem anh có ngủ không, nhưng Holt đang thức, vì vậy tôi mở rộng cửa đẩy Britta vào. “Su esposa está aquí,”[99] tôi nói, thế là người gác bỏ đi. Tôi định tránh đi, nhưng cả Britta lẫn Holt đều muốn tôi ở lại.
Cuộc nói chuyện của họ khá lạ lùng, và nếu không được nghe tận tai tôi sẽ không tin nổi nếu có bất kỳ ai khác kể lại.
Britta lại gần giường và nắm hai tay Holt, “Chúng em đã cầu nguyện cho ông... ở ngôi nhà thờ nền trũng ấy,” cô nói.
“Tôi đã bảo các bạn phải đi cho kịp con tàu đó cơ mà.”
“Các bạn khác sẽ đi.”
“Cô cũng nên đi.”
“Ông Holt, em đã cùng đoàn diễu hành đi theo các ban nhạc. ‘Khổ thân ta, khổ thân ta,’ họ than như vậy. ‘Khổ thân ông Holt,’ em thì lại hát thầm như vậy.”
“Tôi có sao đâu.”
“Không. Ông có sao đấy. Ông là người bất hạnh và cô đơn. Thật kỳ cục. Một người tuổi ông... những cuộc tình một đêm rẻ tiền với các nữ sinh viên.”
“Cô ấy còn lớn tuổi hơn cô,” Holt biện bạch.
“Và khi năm tháng qua đi ông sẽ còn bất hạnh và cô đơn hơn nữa. Ông Holt, em muốn ông cưới em.”
Holt há hốc miệng kinh ngạc, và tôi đã lo anh phát bệnh gì đó nhưng chỉ là vì anh sững sờ nghe cô nói vậy. Tất cả những gì anh có thể làm được là nhắc lại, “Tôi đã bảo các bạn phải đi cho kịp con tàu đó cơ mà.”
“Em chẳng lên con tàu nào cả, ông Holt. Em sẽ ở lại đây với ông. Và ngay sau khi đi lại được bình thường, ông sẽ cưới em.”
“Thật điên rồ!” Holt nói dứt khoát.
“Em không thể sống một cuộc đời cô độc, và ông cũng vậy.” Khi nhìn thấy vẻ mặt bối rối của Holt, Britta dịu dàng nói thêm, “Em có thể đi làm, ông Holt. Em có thể kiếm tiền phụ giúp chi tiêu cho hai chúng ta, nếu đó là việc ông lo lắng.”
Holt nhắm mắt lại. Anh không có gì để nói. Britta thấy anh cau mày và đoán là anh đang đau đớn cả về tinh thần lẫn thể xác, vì vậy cô nói, “Em sẽ không bỏ ông đâu, ông Holt. Em sẽ đi theo ông, dù là tới Ratmalana.” Cô ngập ngừng, rồi nhìn tôi cầu khẩn, “Ratmalana ở đâu, chú Fairbanks?”
“Một sân bay ở đâu đó.”
“Ở đâu hả, ông Holt?”
“Ceylon.”
Con chữ dường như nổ tung trong căn phòng. Britta bắt đầu run rẩy, đặt một tay lên trán như để trấn tĩnh bản thân; nhưng cô không nói gì, chỉ đăm đăm nhìn vào mắt Holt cho đến khi mắt cô đẫm lệ. Rồi cô quay đi và, hướng về một bức tượng Đức Mẹ đồng trinh trang trí trên tường, cô nói nhỏ, “Cha em cả đời ao ước được đến Ceylon. Cha mua mọi cuốn sách về hòn đảo đó. Cha em là một người rất tốt, ông rất dũng cảm khi quân Đức xâm chiếm đất nước em. Cha em cũng như ông, ông Holt, một anh hùng thực sự. Nhưng cha không bao giờ tới được Ceylon. Em sẽ đi với ông đến đó, ông Holt, dù ông có muốn em làm vợ ông hay không.” Nói rồi cô lại gần giường và hôn anh. “Chúc ông sớm bình phục,” cô nói và rời khỏi phòng.
Holt bối rối nhìn tôi, rồi quệt má nói, “Có vẻ như tất cả những gì anh phải làm để được các cô gái xinh đẹp hôn là nhận một cái sừng bò dài cả gang tay vào bụng.”
“Cô ấy nói thật đấy,” tôi nói.
Cố làm rõ những gì Britta vừa nói, anh đưa ra lời bình luận thường lệ, “Giống như cảnh Signe Hasso chăm sóc Spencer Tracy. Cô ấy cũng là người Scandinavia đấy.” Tôi không hiểu gì cả, thế là anh làu bàu, “Khi họ trốn tránh bọn Đức quốc xã ấy.”
Người gác cổng tiễn Britta và tôi, anh ta nói, “Chồng bà sẽ khỏe lại.”
Chúng tôi đi ngược lên phố Santo Domingo, Britta nắm tay tôi cầu xin, “Mai chú hãy nói với ông ấy, nhân danh chú, là cháu sẽ không thành gánh nặng tài chính cho ông ấy đâu. Cháu có thể đánh máy, chú biết rồi mà.”
Tôi gợi ý, “Britta, tốt hơn chúng ta hãy về ăn một ít pochas, nếu bếp vẫn còn đỏ lửa.” Thế là chúng tôi đi vào quán, nơi góc nhà một vài người đang hát những bài ca xứ Navarra cổ xưa buồn thảm, và tôi hỏi xin Raquel một ít pochas nhưng khi món đó được dọn lên thì nguội ngắt vì bếp đã ủ.
“Cô có quyền được biết một điều về Holt,” tôi nói. “Anh ấy không cần tiền dù cô có thể kiếm được nghề phụ. Anh ấy được nhận lương cao cộng với nhiều khoản thu nhập thêm như lương công nhật, tiền công mạo hiểm leo lên tháp trong bão to và một số món thưởng vì đã chịu đựng gian khổ sống ở một nơi như Ceylon. Cô đoán xem anh ấy kiếm được tổng cộng bao nhiêu một năm?” Cô nói cô không thể đoán một cách thông minh được, nhưng khi tôi gặng hỏi, cô bèn ước chừng, “Có lẽ cỡ sáu nghìn đô la?”
“Hơn ba mươi chín nghìn đô la.”
“Ý chú là mỗi năm?”
“Có năm còn nhiều hơn, không bao giờ dưới con số đó. Tôi biết vì tôi giữ tiền tiết kiệm cho anh ấy. Và cô cho là anh ấy đã tiết kiệm được bao nhiêu rồi?” Một lần nữa cô lại không muốn đoán, vì vậy tôi nói, “Gần một triệu đô la.”
“Chú không định nói là đô la Mỹ đấy chứ?” Khi thấy tôi gật đầu, cô nhìn chằm chằm xuống bàn, rồi nói nhỏ, “Là một triệu phú... triệu phú đô la... thế mà sống khổ cực như vậy.” Lúc đó cô không nói thêm gì nữa, nhưng khi các ca sĩ tạm dừng, chúng tôi vẫn nghe thấy các ban nhạc còn chơi ở phía xa xa, lúc bốn giờ sáng, và cô bảo tôi, “Chú Fairbanks, đêm nay cháu cô đơn đến nỗi sẽ nhảy qua cửa số nếu cứ có ngủ. Cháu sẽ lại tham gia đoàn diễu hành.” Tôi đưa cô trở lại tòa thị chính, ở đó tôi nhìn thấy cô sụp xuống sau một trong những ban nhạc đang chơi rất ồn ào. Khi tiếng nhạc ngừng, Britta buông mình xuống đất và bắt đầu dập đầu vào đá. Tôi để cô ở lại đó.
—★—
Ngày mười lăm tháng Bảy Pamplona như địa ngục. Cảm giác bức bối khó chịu bắt đầu lúc năm rưỡi sáng, khi không còn một txistulari nào thổi sáo hay chơi kèn coóc nê. Bảy giờ, không quả pháo thăng thiên nào nổ và trong các quán cà phê chẳng có ca sĩ nào. Với một tốc độ dường như bất khả, thành phố công nghiệp xóa sạch mọi vết tích ăn chơi hôm trước, và các cửa hàng lại mở cửa theo giờ thường lệ. Các rào chắn bằng gỗ mà phía sau hàng nghìn người từng đứng xem bò chạy đã được chở vào kho chờ năm sau, còn các hố chôn cột trên phố được chèn gỗ và lấp cát.
Quảng trường trung tâm không còn cảnh chuẩn bị bắn pháo hoa, màn trướng trên sân khấu đã được gỡ hết. Lúc này xe cộ đã lưu thông bình thường, Estafeta đã lắng xuống thành một phố buôn bán nhỏ, và Teléfonos lại là nơi để người ta gọi điện thoại chứ không phải hiện trường của lòng can đảm do adrenalin gây nên. Lúc trưa Bar Vasca chỉ có bốn khách, tính cả Britta và tôi.
“Thành phố này hiu quạnh đến không sao chịu nổi,” cô phàn nàn sau khi từ bệnh viện về và bị người gác mới không cho vào.
“Cô đã nhớ các bạn rồi à?”
“Cháu muốn nghe... chỉ một lần nữa thôi... tiếng anh Clive và các đĩa hát của anh ấy. Như ban nhạc Octopus chơi một điệu hay chẳng hạn.”
“Cô sẽ làm gì?”
“Cháu không biết. Nhưng cháu sẽ không rời ông Holt.”
“Nếu định lấy anh ấy, cô có nên gọi anh ấy là Harvey không?”
“Ông ấy sợ cưới vợ.”
“Cô nghĩ mình có thể thay đổi được điều đó?”
“Việc ấy không quan trọng. Cháu sẽ đi Ceylon với ông ấy. Cháu phải đi.”
Chúng tôi chuyện trò như vậy suốt bữa trưa, và bà Raquel đến hốc tường của chúng tôi để thông báo món hầm được nấu từ thịt con bò đã húc Holt. Tôi hỏi làm sao bà biết, nhưng bà chỉ cười. Britta hỏi, “Bà đã xem ảnh chưa?” Bà Raquel liền chỉ cái bảng cạnh quầy rượu, ở đó có bốn tấm đã được đóng khung.
“Mọi người đều bất ngờ về hành động dũng cảm của Holt,” bà Raquel nói. “Họ nghĩ anh ấy đã làm gì trong những năm qua chứ?” Bà thở dài và quay lại quầy rượu.
Ba giờ chiều tôi lại đến bệnh viện và nhận thấy Holt đang vô cùng bối rối vì cuộc viếng thăm của Britta đêm trước. “Cô gái Na Uy ấy rõ là điên.”
“Nhưng anh lại thích như vậy.”
“Tôi đang nhẩm tính đây. Tôi có thể kể tên bốn mươi cô gái đã lấy chồng già. Nhưng trong đám đàn ông đó chẳng có ông nào nghèo khổ cả.”
“Cô ấy thì lại tưởng anh nghèo. Anh nghe cô ấy đề nghị đi làm rồi đấy.”
“Diễn thế thôi. Diễn thế thôi. Tôi biết làm gì khi giao du với đám bụi đời ấy chứ?”
“Dùng từ sai rồi.”
“Ông nghĩ là từ gì đây?”
“Tôi không biết. Những thanh niên đặc biệt, anh nghĩ thế nào?”
“Còn Clive? Anh ấy rất khá đấy.”
“Có lẽ anh ấy là người khá nhất bọn.”
“Gretchen cũng nghĩ thế. Ông có biết hai người ngủ với nhau không?”
“Như có người đã nói, ‘Ai lưu thành tích chưa?’ Bụng anh sao rồi?”
“Không sao. Một hai ngày nữa là tôi sẽ ra viện. Bác sĩ ở đây đúng là không thể tin nổi.” Anh cho tôi xem cái bụng quấn băng và vui vẻ vỗ vào đó. Tôi cau mày.
“Bao giờ chúng ta có thể đi Madrid?” tôi hỏi.
“Ngày kia. Ông lái xe.”
“Britta cũng là một tài xế cứng tay đấy,” tôi gợi ý.
“Giữ cô ấy tránh xa đi. Cô ấy mới mười tám, còn tôi thì đã bốn mươi ba.”
“Cô ấy còn yêu anh nữa. Cả đêm đau khổ lang thang khắp các phố đấy.”
“Đêm qua thì có đến hàng nghìn người lang thang ngoài phố.”
“Harvey, cô gái này sẽ đi Ceylon với anh. Dù anh có đồng ý hay không.”
“Tôi sẽ mua cho cô ấy một cái quán ở Torremolinos.”
“Cô ấy biết một điều mà tôi cũng biết, Harvey. Anh cần cô ấy.”
“Thời nay con gái lại đi cầu hôn?”
“Lớp người mới là thế đấy.”
“Tôi không ưa lớp người mới. Và tôi không muốn cô ấy có mặt trong xe. Cho cô ấy lên tàu về đi.”
“Harvey, cô ấy đã đúng về một chuyện. Đây là cơ hội cuối cùng của anh. Nếu gạt bỏ cô ấy thì rồi anh sẽ thành một ông già khó tính khó nết... cô độc đấy.”
Hình như vết thương có vẻ nghiêm trọng hơn những gì anh để lộ ra bên ngoài vì tôi thấy anh hít vào thật sâu. Tôi rời đi, và nhá nhem tối Britta đến phòng tôi rủ, “Chú có đi dạo với cháu không?” thế là hai chúng tôi bắt đầu chuyến đi dài thâu tóm cả Pamplona. Chúng tôi đi dọc con đường lớn, qua khách sạn ông Melnikoff đã ở trọ, giờ còn rất nhiều phòng trống, ra ga tàu hỏa nằm ở vùng nông thôn. “Cháu cho rằng ông ấy muốn cháu rời khỏi đây bằng tàu hỏa,” cô nói với giọng châm biếm.
“Sao cô biết tôi đã gặp anh ấy?”
“Cháu theo dõi bệnh viện mà.”
“Cô chưa thuyết phục được anh ấy đâu.”
“Cháu sẽ làm được.”
Chúng tôi quay về qua những đường nhỏ dọc bờ bên kia sông và đến một khu yên tĩnh, nơi nhốt lũ bò mới, và trong lúc nhìn bãi quây trống trơn, Britta nói, “Cháu hiểu vì sao đàn ông lại muốn chạy cùng với đàn bò. Cháu mà là đàn ông thì cũng sẽ chạy. Cháu hài lòng thấy có nhiều người Scandinavia xuống đường như vậy.”
Đi qua cây cầu phủ dây thường xuân mà đàn bò phải chạy qua để vào bãi quây, chúng tôi có thể nghe thấy những tiếng ầm ầm tưởng tượng; trong bóng tối chúng tôi có thể thấy những hình bóng đầy sức sống từng thách thức con người từ thuở bình minh của lịch sử. Britta nói, “Nơi này hiu quạnh đến nỗi con tim có thể tan nát... như một cành khô. Trời đất, làm sao ông ấy có thể trở lại đây hết năm này sang năm khác chứ? Không cần giải thích đâu. Cháu hiểu mà. Đây là nơi nâng cao thể diện. Tại con phố dốc đứng này.”
Lúc này chúng tôi đang ở chân dốc Santo Domingo, và nhìn vào con hẻm tối om, cô có thể mường tượng đàn bò nhìn thấy những gì khi chúng nhảy vọt ra xa sau quả pháo thăng thiên buổi sáng. Đây là hai bên tường chắn giữ chúng; đây là bờ dốc mà cảnh sát thoát lên vào phút chót; đây là vị trí Harvey Holt đã đứng để chờ lao xuống dốc đón đầu đối thủ. Trong bóng đêm cô có thể thấy anh chạy, thấy đúng vị trí anh xoay người rồi dũng cảm lao ngược lên dốc. Cô thử đặt mình vào vị trí con bò và chĩa sừng lao vào anh. Cô ngừng lại và thầm thì ba câu trong bài hát Clive đã sáng tác cho ban nhạc Octopus:
“Tuổi đời dường như là một phần của lòng dũng cảm,
Nhưng chẳng thuộc phần nguồn gốc sinh ra.
Cha ta còn nhát gan hơn ta nhiều lắm.”
Lúc này chúng tôi đã tới đoạn đường hẹp nhất và Britta quan sát kỹ hai bên bờ tường hướng lũ bò chệch sang bên trái. Cô sờ mặt tường, hít ngửi, rồi nhìn về phía trước, nơi Bar Vasca hắt ánh sáng nhàn nhạt ra con phố vắng hoe.
“Và chúng ta đã tới bệnh viện đây rồi... nơi vòng tròn khép lại,” Britta nói khẽ. “Đêm qua cháu rất cô đơn và chỉ nghĩ đến bản thân. Cháu cảm thấy mình phải thoát khỏi Tromsø bằng bất kỳ giá nào... Cháu hoảng sợ... khi ông ấy nói lên từ Ceylon, nó làm cháu đau đớn.” Cô che mặt và lẩm bẩm, “Đêm nay cháu cô đơn đến không chịu nổi. Ơn Chúa, chú thật tử tế đã đi dạo với cháu. Nhưng đêm nay cháu buồn vì người khác... Vì loài người... tất cả chúng ta... Vì chú ngày càng già và quan sát những người trẻ hơn xuất hiện với những quan niệm khác... Vì ông Holt sợ tất cả mọi thứ trừ lũ bò... Vì ông ấy ghét Cato và Clive, và vì họ có thể cứu ông ấy.” Cô quệt nước mắt nói tiếp, “Bây giờ chú phải đưa cháu vào bệnh viện một lần nữa.”
Tôi nhẹ cả người khi nhìn thấy người lính gác tôi quen. Tôi nói với anh rằng señora đã trở lại, và anh cho chúng tôi vào. Trong lúc lên cầu thang, tôi thấy Britta rất căng thẳng, nhưng tôi khó mà đoán được cô định làm gì.
Khi chúng tôi vào phòng, cô đặt túi xuống ghế, và không nói một lời cô hất dép đi, bắt đầu cởi váy áo cho đến khi hoàn toàn trần truồng. Rồi cô bước đến bên giường và nói, “Ông Holt, ông là người bị tổn thương sâu sắc, em có mặt ở đây để chăm sóc ông.”
Sững sờ trước sắc đẹp và sự bạo dạn của cô, Holt đặt tay lên chỗ vết thương băng kín, nhưng cô vừa kéo chăn xuống vừa nói, “Em không muốn nói đến vết thương này, ông Holt. Ý em là vết thương khủng khiếp trong trái tim ông cơ.” Đặt tay lên ngực anh, cô nói tiếp, “Vết thương này, em sẽ chữa cho ông.” Cô hôn lên môi anh, nằm xuống cạnh anh, kéo chăn lên, và ra hiệu cho tôi rời khỏi phòng.
• Chú thích •
[85] Ulysses Simpson Grant (1822-1885): Tổng thống thứ 18 của Hoa Kỳ (1869-1877)
[86] Lewis Blaine Hershey (1893-1977): Giám đốc hội đồng tuyển quân từ 1941 đến 1971, đã cưỡng bách tòng quân hơn 14.500.000 người tham gia chiến tranh Thế Giới II, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam.
[87] Thường thôi( Tiếng Tây Ban Nha).
[88] Đúng không? (Tiếng Tây Ban Nha).
[89] Nhà cải cách người Ý (1452 - 1498), thầy dòng Dominic, nhà truyền giáo, người kiên quyết chống tham nhũng trong chính trị và tôn giáo.
[90] Hiệp hội quốc gia vì sự tiến bộ của người da màu.
[91] Từ gốc: Mustang. Vừa là ngựa thảo nguyên, vừa là tên một loại xe thể thao của hãng Ford.
[92] Herman W. Goering: Thống chế quân đội Đức, lãnh tụ Đức quốc xã, người thành lập Gestapo và trại tập trung.
[93] 14/7 là ngày nhân dân Pháp đánh chiếm ngục Bastille, đồng thời là ngày quốc khánh Pháp.
[94] Tiếng hô xung trận do trung tá đội đột kích thủy quân lục chiến E. F. Carlson sáng tạo trong Thế chiến II, dùng để động viên tinh thần hăng hái, sát cánh cùng nhau trong chiến đấu.
[95] Xem bò mộng (tiếng Pháp).
[96] Ông ơi, còn con khác (tiếng Tây Ban Nha).
[97] Không được thêm (tiếng Tây Ban Nha).
[98] Hòm thư lưu (tiếng Pháp).
[99] Vợ anh đến (tiếng Tây Ban Nha).