Tôi không yêu chiến tranh, nhưng tôi yêu lòng can đảm mà người bình thường dùng để đối mặt với chiến tranh.
Thế giới chỉ là một nơi đầy bóng tối. Khách khứa dừng chân một vài đêm rồi lại ra đi trong mơ hồ bối rối, chẳng bao giờ biết chắc mình vừa ở đâu. Phía bên kia chân trời, anh ta cảm thấy mình nhất định sẽ tìm được một thành phố tốt đẹp hơn, một tiền đồ tươi sáng hơn, một nhóm bạn bè hát hò ngân vang hơn. Nhưng khi đàn lạc đà của mình đã được buộc yên ổn, anh ta lại thấy mình vẫn còn bị vướng víu vào một cảnh bóng tối khác.
Quê hương chúng ta là bất cứ nơi nào chúng ta được sống phong lưu.
• Cicero
Đây là cửa ra vào nơi bạn nhận những cuốn sách nói về nước Mỹ khi bạn muốn học đại học, còn đây là cửa sổ nơi bạn ném bom khi chúng tôi tham gia cuộc biểu tình tiếp theo.
Rừng rậm, sa mạc, lãnh nguyên, chỏm băng, những vùng biển hoang vu dài dặc... đó là những ngôi nhà của tâm hồn đơn độc.
Ở thành Baghdad cổ có một người đàn ông thông thái đã đọc sách của Somerset Maugham, và khi nhìn thấy thần chết lẩn quất ở chợ, ông ta nói, “Tôi không dại dột đến nỗi tìm cách ẩn náu ở Samarra. Tôi sẽ nằm bẹp trong một ngôi làng nhỏ ở đầu bên kia cây cầu San Luis Rey.”
Tổng thống sắp thực hiện chuyến công du mười hai ngày thăm một số nước bạn. Ngài sẽ làm gì trong mười một ngày kia?
Chưa bao giờ là một nhà ái quốc, nhưng một kẻ khờ dại thì rồi.
• Dryden
Lasca vẫn thường cưỡi
Con tuấn mã thảo nguyên xám tro, sát cánh bên tôi,
Khăn “serape” phớt xanh và đinh thúc ngựa lấp lánh lanh canh;
Ngắm nhìn nàng, tôi vui sướng cười vang!
Sách vở, kinh thánh, em đâu cần;
Chỉ “Ave Maria”, em đã thấy đủ đầy;
Mặc sự đời, duy nhất em chỉ mong,
Bên tôi, trên lưng ngựa thong dong...
• Frank Desprez
Về phần tôi, tôi đi du lịch không phải để đi đến đâu mà chỉ để được đi thôi. Tôi đi du lịch để thỏa cái thú đi đây đi đó. Điều quan trọng là được di chuyển.
• Stevenson
Một nhà ái quốc kiên định của thế giới đơn thương độc mã,
Bạn của tất cả các quốc gia, trừ đất nước của chính mình.
• Canning
Lần gặp Harry vừa rồi, tôi thấy anh ta say ngất ngư. Đó là trong một bữa tiệc tối ở Jersey City và anh ta cứ khăng khăng đòi bày tỏ lời khen ngợi với đầu bếp nhằm xin thêm mấy cái bánh kem xốp nhỏ nữa.
Cả trường đua xôn xao rộn rã, vì tin tức lan truyền khắp nơi
Rằng chú ngựa non giống Old Regret đã sổng chuồng,
Và nhập vào bầy đàn hoang dã - chú ngựa non giá một nghìn bảng
Vậy nên mọi tay cừ khôi đã tập trung để cùng nhau xung trận.
• Banjo Patterson
Cứ hút thuốc lá đi. Ai mà cần hai lá phổi chứ?
Chúng ta không bao giờ biết chắc mình can đảm hay không cho đến khi phải đối diện với hiểm nguy.
• La Rochefoucauld
Nữ hướng đạo sinh đội mũ nồi xanh lá cây.
Hãy chỉ cho tôi xem một người đàn ông đứng được cả hai chân trên mặt đất và tôi sẽ chỉ cho bạn xem một người đàn ông không thể tự cởi quần được.
Bậc thiện nhân dạy dân bảy năm mới có thể dùng dần vào việc chiến đấu. Đưa dân không được huấn luyện ra chiến trường tức là bỏ dân.
• Khổng Tử
Lòng can đảm là quan trọng nhất. Mọi việc đều suôn sẻ nếu có lòng cam đảm.
• Barrie
Họ thường xuyên ngủ tại những đảo nhỏ để chúng ta được ngủ yên ở nhà.
—★—
Lúc này đã là ngày mồng một tháng Bảy, vì vậy lẽ đương nhiên mọi ý nghĩ của tôi đều hướng cả về Afghanistan, nên khi khóa cửa văn phòng ở Geneva, tôi có thể mường tượng được vùng cao nguyên bao la với những đoàn lạc đà trôi dạt từ biên giới Nga xuống, những phiên chợ đông đúc, những dây dưa hấu ngon ngọt nhất thế giới trĩu trịt quả, những quán trà dơ dáy nơi đám đàn ông ngồi xổm có mỗi một chén trà lây nhây uống tận ba tiếng đồng hồ trong khi bàn luận những vấn đề không đâu vào đâu vốn làm bận tâm trí dân du mục từ năm nghìn năm nay.
Đó là một miền đất thuộc về đàn ông, những người đàn ông vô kỷ luật đúc trong cùng một chiếc khuôn cổ lỗ, và dù có đang làm việc ở đâu đi chăng nữa, chỉ cần một người nào đó thốt ra từ Afghanistan là tôi lại muốn lên đường đến đó ngay lập tức. Tôi muốn thăm lại thành phố Kabul, dãy Hindu Kush cao vút, và những đoàn bộ hành đêm đêm về nhà qua cổng thành Herat hoặc Mazari-Sharif. Tôi đã có ba dịp đến Afghanistan công tác, cố gắng kết hợp cơ hội đầu tư cho World Mutual, nhưng đều không thu được kết quả, chủ yếu vì người Nga luôn đưa ra một thỏa thuận có lợi hơn. Trong số mọi quốc gia tôi từng đến công tác, Afghanistan là nơi bao giờ tôi cũng muốn quay trở lại.
Song vào ngày đầu tiên của tháng Bảy đó, tôi nghĩ đến Afghanistan không phải vì bất cứ lý do nào nêu ở trên. Tôi không nhớ những núi non và đoàn bộ hành mà là một người đàn ông, một người đàn ông vạm vỡ thô kệch, bốn mươi lăm tuổi, tóc đen, mắt xám trầm mặc, chiều cao chừng mét sáu, một đường xẻ không sâu lắm ở cằm và bộ dạng quả quyết, u buồn sâu lắng. Tôi không nhớ hình ảnh của anh trên vùng sa mạc đã khiến anh tốn rất nhiều thời gian trong hai năm vừa qua, mà là trong ngôi nhà thuê ở Kabul, gần một sân bay xây vội. Ngôi nhà đó rất khó quên ở chỗ tất cả mọi thứ bên trong đều ở đúng vị trí. Chẳng hạn như trong phòng tắm, hai chiếc bàn chải răng - màu xanh cho buổi sáng, màu đỏ cho buổi tối - được treo chính xác cạnh cái tủ gương chứa một hàng chai lọ, từng cái ở đúng vị trí đã định: lọ nước thơm dùng sau khi cạo râu, lọ nước súc miệng, lọ thuốc kiết lỵ, vân vân. Áo choàng tắm treo ở một cái móc đặc biệt, khăn bông xếp gọn gàng ba cỡ, thảm chùi chân Sears, cái cân Rocbuck bọc hợp kim crôm bóng loáng đặt cạnh cửa, cái gãi lưng để bên bồn tắm.
Mọi phần còn lại của ngôi nhà cũng như vậy. Trong phòng thay đồ có nhiều chồng gọn gàng, nào khăn tay, nào áo sơ mi trắng, nào quần soóc lửng; trong tủ chứa đồ của anh com lê và giày da thuộc được sắp xếp theo hàng lối. Đó tuyệt nhiên không phải ngôi nhà của một người đàn ông khó chiều hoặc mang tính đàn bà; đó là ngôi nhà của một người tỉ mỉ, muốn mọi thứ sắp xếp đâu vào đấy, với mức lộn xộn tối thiểu. Giá súng của anh ngoài hành lang, toàn những cây đã được sử dụng khá nhiều, đập ngay vào mắt, và trải trên sàn phòng làm việc là một tấm da hổ lớn, cái đầu hầm hè nhe những chiếc răng to tướng trắng nhởn.
Đó là ngôi nhà của Harvey Holt, công dân hợp pháp bang Wyoming, đã ly hôn, cử nhân khoa Cơ khí và Nông nghiệp Colorado, chuyên gia hệ thống ra đa ngoài trời và nhân viên công ty United Communications ở New York được cử sang làm việc cho chính phủ Afghanistan. Nói tóm lại, Harvey Holt là một đại diện kỹ thuật.
Trong những năm gần đây tôi có được bất kể vận may tài chính nào thì cũng chủ yếu là do được làm việc với các đại diện kỹ thuật, những con người cứng cỏi, khó tính, phục vụ trong lĩnh vực công nghiệp hiện đại. Nếu được yêu cầu hoạt động tại một địa bàn nguy hiểm, tôi thà có cộng sự là một đại diện kỹ thuật giỏi còn hơn là bất cứ kiểu người nào khác. Tôi có thể tin vào anh ta.
Vậy đại diện kỹ thuật là gì? Hãy xem xét vấn đề theo cách này. Hãng hàng không Pan American có một nhúm máy bay cánh quạt cổ lỗ không thể sử dụng cho những chuyến bay đường dài trong cuộc cạnh tranh với máy bay phản lực. Vì vậy hãng bán tống bán tháo chúng cho một số nước nhỏ mới xây dựng đường hàng không riêng và cần mua máy bay đường ngắn... như Miến Điện chẳng hạn. Để cuộc thương lượng được suôn sẻ, Pan American đã thỏa thuận với Lockheed, hãng sản xuất máy bay cánh quạt, gửi theo một nhóm sáu đại diện kỹ thuật đến dạy người Miến Điện điều khiển những chiếc máy bay lạc hậu ấy.
Nhóm này làm việc ở Miến Điện bảy tháng, thâm nhập từng phi trường mà máy bay hạ cánh. Khi cần thiết, họ sống trong lều cỏ, sông cạn, đánh lui thú rừng, gây náo loạn ở Rangoon mỗi khi may mắn được đặt trụ sở tại thủ đô, và chẳng mấy chốc đã hiểu biết về Miến Điện hơn cả các chuyên gia, vì không có phần kinh nghiệm nào của Miến Điện mà họ không trực tiếp dấn thân. Thường thì họ còn học nói cả một thứ tiếng Miến Điện tàm tạm nữa. Nhưng công việc chính của họ vẫn như vậy: “Trông nom cho những chiếc máy bay ấy bay được!” Nếu phải gia công một phụ tùng cần thiết trong một xưởng máy địa phương thì họ cũng làm. Và đồng thời họ còn dạy người Miến Điện cách tiếp quản.
Hết bảy tháng, năm đại diện kỹ thuật trở về Mỹ để nhận nhiệm vụ tiếp theo. Người thứ sáu ở lại Miến Điện, chịu trách nhiệm về toàn bộ máy bay Lockheed trong nước. Còn lại một mình, anh ta thu xếp cho mình một cuộc sống khác thường và đôi khi còn khá thú vị nữa, với một căn hộ ở Rangoon, một nơi thường xuyên lui tới ở Mandalay, một quán bar ở Myitkyina nơi anh ta gửi một ít quần áo để thay đổi, và một túp lều trên núi tận đầu mút của tuyến đường hàng không. Anh ta thường bao một cô nhân tình Miến Điện, hay hai, ba cô ở những sân bay khác nhau, và cứ ở Rangoon một thời gian là anh ta lại đưa ra lý lẽ gay gắt chống lại nhân viên bộ Ngoại giao của ta hoặc của Anh vì anh ta đã trở thành một người Miến Điện và bảo vệ quyền lợi của họ. Anh ta đồng cảm với các vấn đề của họ chứ không phải của tổ quốc mình.
Năm tháng trôi qua, anh ta vẫn ở lại Miến Điện để bảo dưỡng máy bay Lockheed. Anh ta có thể xử lý không những các vấn đề phát sinh về điều khiển máy bay mà còn cả việc bảo quản, bảo dưỡng phanh, tu sửa điện đài và thay hệ thống thủy lực. Hiểu biết về kỹ thuật của anh ta thật đáng nể. Có những khi anh ta giữ cho cả phi đội Miến Điện có thể hoạt động; không có anh ta thì máy bay không thể cất cánh. Và anh ta thực thi nhiệm vụ trong bất kỳ thời tiết nào, ở bất kỳ độ cao nào, trong bất kỳ tình huống khẩn cấp nào. Nếu dùng một từ để mô tả anh ta thì đó phải là “thạo nghề”. Việc gì anh ta cũng làm được. Anh ta duy trì cho phi cơ bay đều, và nếu một phi công sắp kiệt sức, chính anh ta có thể lái thay.
Tại nhiều vùng xa xôi nhất trên thế giới, tôi đã quen biết hàng trăm đại diện kỹ thuật - trong công nghiệp hàng không, máy kéo hạng nặng, truyền thông, kỹ thuật viên X-quang, nhà sản xuất chai Coca-Cola, bảo dưỡng máy móc cho hãng General Motor - và họ luôn có bốn đặc tính.
Thứ nhất, họ rất thông minh. Phần lớn bọn họ đã bỏ học trước khi nhận bằng tốt nghiệp đại học, nhưng họ đều hiểu biết hơn nhiều so với người đã có bằng đại học loại trung bình. Và họ vẫn tiếp tục học tập suốt đời. Nếu hãng Lockheed tìm ra cách hay hơn để làm một chuyện gì đó, người đại diện kỹ thuật ở Miến Điện sẽ nghiên cứu bản tường trình trong túp lều giữa rừng rậm cho đến khi nắm vững mọi sắc thái của kỹ thuật mới kia, có khi còn vững hơn cả chính người nghĩ ra nó. Hoặc nếu Lockheed bỏ sót một điều đáng chú ý nào đó, một đại diện kỹ thuật tại Miến Điện hay Pakistan sẽ sáng chế một thiết bị hiệu quả. Kiến thức của họ từ thực tế mà ra, nhưng rất sâu rộng.
Thứ hai, họ là những người khó chế ngự. Để họ một mình trong rừng rậm Myanmar, họ quản lý công việc một cách tốt đẹp. Đưa họ trở về California, nơi họ phải dự những bữa tiệc do kỹ sư trưởng tổ chức, họ rời rạc ngay lập tức. Trong xã hội văn minh, họ thường nghiện ngập rượu chè, phóng đãng, bất mãn và vô trách nhiệm. Ngoài biên giới, họ lại là những người có tổ chức mạnh mẽ. Nói một cách khác, họ là của quý của ban điều hành kỹ thuật, là nỗi thất vọng của bộ phận nhân sự. Chỉ cần đưa một đại diện kỹ thuật về cơ quan đầu não trong vòng hai tuần là có thể tin chắc người phụ trách trụ sở chính đã kêu trời, “Làm ơn tống khứ tên chó đẻ khốn khổ này đi đâu thì đi.” Nhưng nếu bạn cử đến Miến Điện một người không có tâm lý phù hợp để làm đại diện kỹ thuật thì nhiều chuyện rắc rối tệ hại hơn lại nảy sinh, và chính người phụ trách kia, sau khi đọc báo cáo từ chính phủ Miến Điện gửi sang, sẽ lầm bầm, “Hãy gọi thằng cha vô tích sự ấy về và gửi cho họ một người đàn ông thực sự.” Thế là người đại diện kỹ thuật khó tính khó nết, bất phục tùng và thạo nghề được đưa lên chuyến bay sau đó, và ở Miến Điện không còn rắc rối nữa. Vì vậy người đại diện kỹ thuật là sự tiếp nối của một dòng giống cơ bản trong đời sống Mỹ. Anh ta là hậu duệ trực hệ của nhà phát minh tài năng đã chế tạo ra xe ngựa, người không thể hòa mình vào nền văn minh định cư của Lancaster, Pennsylvania, nhưng lại vô giá ở miền biên Santa Fe.
Thứ ba, trên thực tế mọi đại diện kỹ thuật tôi quen biết đều có rắc rối với đàn bà. Anh ta yêu đàn bà... anh ta luôn yêu họ một cách có phần cứng nhắc, mạnh mẽ. Nhưng anh ta không thể sống chung với họ. Tính bất nhất đàn bà của họ khiến anh ta bối rối, đảo lộn cuộc sống của anh ta. Nếu anh triệu tập một trăm đại diện kỹ thuật đến một cuộc hội thảo ở Bombay, anh sẽ thấy ít nhất cũng phải tám mươi người đã ly dị, một số còn không chỉ ly dị một lần. Nhưng trong các quầy bar, khi cuộc hội thảo đã kết thúc, anh sẽ không nghe thấy họ chê trách vợ cũ một câu. Thường họ chỉ phát biểu vì trong lòng bối rối sâu sắc: “Tôi không hiểu đã có chuyện gì xảy ra. Có lẽ, cô ấy không chịu được cuộc sống xa nhà.” Bạn sẽ không phải nghe lời buộc tội oán hận nào: “Rốt cuộc, tôi được phân đi Đài Loan trong mười bảy tháng. Làm gì có chỗ cho cô ấy, vì vậy tôi mới để cô ấy ở Amarillo và không bao giờ gặp lại nữa.” Nhưng đôi khi anh cũng nghe được vài chuyện vui: “Tôi gặp cô nàng xinh xắn ấy ở Cửu Long, giúp vốn cho cô ta mở một cửa hàng thời trang nữ ở Hồng Kông. Một kiểu hùn vốn kinh doanh. Tôi bỏ ra mười hai nghìn đô vào phi vụ ấy, và tôi mới ở Hokkaido được đúng hai tháng thì cô ả đã sang nhượng luôn cửa hiệu, trốn đi với mười hai nghìn đô ấy... và một tay phóng viên Chicago Tribune.”
Nhưng có vỡ mộng hay bị đối xử tồi tệ đến đâu chăng nữa thì vẫn chẳng đủ để người đại diện kỹ thuật quay lưng lại với đàn bà. Trong số họ tôi chưa gặp một ai căm ghét đàn bà. Họ nhảy từ tai họa này đến tai họa khác với một tâm trạng tạm gọi là niềm hân hoan hoang dã, và anh chàng mới hôm trước bị cô nhân tình cũ người Trung Hoa cuỗm đi mười hai nghìn đô la ngay hôm sau lại cho cô nhân tình mới người Nhật Bản mượn mười bốn nghìn. Không phải mọi vết sẹo tình yêu của những người đàn ông ấy đều thuộc về tâm lý; nhiều người bị thương vì dao hay chai vỡ. Hai người tôi quen bị những cô vợ tâm thần bất ổn bắn. Một người bị đầu độc thức ăn với liều lượng ngày một tăng cho đến khi anh ta phản đối, “Món bột yến mạch này không thiu thì cũng có thuốc độc, mà anh mới mua cái thứ chết tiệt này ngày hôm qua đấy chứ.” Nhưng trước tòa, anh ta nhất định không chịu làm chứng chống lại vợ. Khi người ta phát hiện ra ba trong số những ông chồng cũ của cô ta đã chết một cách bí ẩn - cả ba đều rất thích bột yến mạch - anh ta nói đơn giản, “Đôi khi một anh chàng cũng phải ra đi đúng lúc chứ.” Anh ta kể cho tôi nghe chuyện này trong một túp lều ở miền Bắc Thái Lan, nơi cô nhân tình người Thái đã học cách làm món bột yến mạch bằng những hộp ngũ cốc anh ta xoáy được ở căn cứ quân sự Mỹ sát Bangkok.
Thứ tư, mọi đại diện kỹ thuật tôi từng quen biết đều say mê hệ thống âm thanh hi-fi và tốn rất nhiều tiền cho trang thiết bị. Bất kể dựng lều ở đâu, bất kể sâu trong rừng rậm hay xa cách thủ đô của quốc gia mà họ phục vụ tới thế nào chăng nữa, các đại diện kỹ thuật kiên quyết phải có âm thanh hoàn hảo, và để đạt được điều đó, họ sẵn sàng làm bất cứ việc lạ thường nào. Vì việc cung ứng điện ở các nước rất khác nhau nên bất cứ đại diện kỹ thuật nào phụ thuộc vào hệ thống điện địa phương đều phải lo liệu cho mình bộ điều chỉnh điện áp, máy biến thế, trụ điện và thiết bị chuyển mạch an toàn. Để chuyển điện thế 220 vôn hay dao động của Miến Điện xuống 110 vôn ổn định mà thiết bị Mỹ đòi hỏi, người đại diện kỹ thuật thường cần số thiết bị chiếm một nửa trọng tải chiếc xe Jeep, và anh ta sẵn sàng kéo theo những thứ ấy từ căn cứ này sang căn cứ khác, vui lòng tiêu tốn thời gian và tiền bạc vào việc đó, miễn là cuối cùng có được âm thanh chất lượng cao. Trong quá trình thu thập thiết bị, anh ta tiêu tiền rất phóng tay vì anh ta sử dụng loa Leak của Anh, máy ghi âm Tandberg của Thụy Sĩ, bộ amply Sony của Nhật, đế quay đĩa hát Dual của Đức và bộ tiền khuếch đại McIntosh của Mỹ. Việc thu thập từng ấy thiết bị phức tạp từ nhiều nguồn khác nhau như vậy đòi hỏi phải có tài trí hơn người, và một trong những việc đầu tiên mà người đại diện kỹ thuật thực hiện khi đến nhận nhiệm vụ ở một đất nước mới là tìm hiểu chắc chắn những cách thức để nâng cấp các bộ phận khác nhau mà anh ta cần. Phi công thuộc Hệ thống Hàng không Scandinavia có thể đáng tin cậy trong việc mang hộ máy móc Tandberg, kỹ thuật viên Đức làm việc ở nước đó thường tìm được đế quay đĩa hát sản xuất ở Ruhr, và sớm muộn gì thì mỗi đại diện kỹ thuật cũng thiết lập được quan hệ với một người nào đó ở sứ quán Mỹ để nhờ mua thiết bị McIntosh hay Fisher. Các đại diện kỹ thuật lớn tuổi mà có tiêu hai hay ba nghìn đô la cho một bộ phận lắp ráp thì cũng không có gì là bất thường cả.
Họ bật những thể loại nhạc nào trên các dàn máy siêu việt của mình? Một số lượng đáng ngạc nhiên chỉ nghe nhạc cổ điển, trong đó Vivaldi và Mozart được ưa thích nhất. Một số khác lại thích điệu valse cực kỳ quyến rũ từ thời kỳ đầu họ biết tán tỉnh, và những người đàn ông ấy thường xuyên ngồi nhìn chằm chằm vào khoảng không trong khi nhớ lại những mối tình và cuộc hôn nhân đã bắt đầu tuyệt vời biết bao nhiêu chỉ để rồi kết thúc đau đớn thế. Tuy nhiên phần lớn lại có bộ sưu tập khá phong phú toàn những đĩa hát không ai biết đầy rẫy trong các bảng danh mục: Music for a Rainy Day, Music for Lovers, Music for the Hours before Dawn. Tôi chợt nhớ đến một người ở Hy Lạp có Bing Crosby’s Greatest Hits, đĩa I. Anh ta còn có cả Greatest Hits của hai mươi chín ca sĩ khác nữa, hầu hết trong số đó tôi chưa từng nghe nói đến bao giờ.
Cho dù từng cá nhân đại diện kỹ thuật thích thể loại nhạc nào hơn, bạn cũng có thể tin chắc là trong bộ sưu tập của anh ta có một số lượng lớn những mẫu tác phẩm từ các đĩa hát do Enoch Light sản xuất. Tôi biết Light không nổi tiếng lắm ở Hoa Kỳ, nhưng ở nước ngoài, ông ta là một người hùng vì đã sản xuất cả loạt đĩa hát nhằm vào những khách hàng như các đại diện kỹ thuật. Những đĩa đó tập hợp các bài được ưa thích nhất, một số đã có từ rất lâu như “What Is This Thing Called Love?” và “Tea for Two”, trình bày sao cho anh nghe được giai điệu, nhưng với các nhạc cụ trong dàn nhạc chơi riêng rẽ đến mức cường điệu. Tôi đã từng ngồi hàng giờ tại các trạm xa lắc xa lơ ở Sumatra hay Thổ Nhĩ Kỳ trong khi một đại diện kỹ thuật nào đó bật đĩa của Enoch Light: “Tôi muốn anh nghe theo cách âm thanh chói tai đó vang lên cao hơn nửa nốt ở kênh trái.” Nếu đang viết một vở opera về các đại diện kỹ thuật, tôi sẽ đề nghị Enoch Light soạn phần tổng phổ, và tôi sẽ cung cấp những thứ như trống định âm, trống bongo và sáo, một số nhạc cụ ở phía ngoài cùng bên tay trái của dàn nhạc, một số ở phía ngoài cùng bên phải, và sẽ không bao giờ có bất cứ âm nào vang lên từ ở giữa. Thế mới là âm nhạc đích thực dành cho các đại diện kỹ thuật.
Sau khi tôi đã làm việc với các đại diện kỹ thuật được mấy năm, một người trong số họ đưa cho tôi xem bài báo của một bác sĩ tâm thần Đức viết rằng đàn ông chỉ tìm đến sự trấn an của hệ thống hi-fi khi nào họ nhận thấy mình không thể kiểm soát được xã hội xung quanh, đặc biệt là đàn bà. Ông bác sĩ tâm thần ấy khẳng định một người đàn ông làm cho quan hệ với vợ hay với người tình rối tung lên thường tìm được nguồn an ủi tinh thần trong khả năng xoay một đĩa số nhỏ và làm cho cả một hệ thống to lớn và phức tạp đáp ứng. Ngay một động tác xoay khẽ nhất cũng mang lại kết quả. Ngay một kẻ đầu óc tối tăm nhất cũng có thể cảm thấy mình đã làm chủ được số phận khi có thể giảm nhạc Beethoven xuống tiếng thầm thì hay tăng Bing Crosby lên còn to hơn cả tiếng người gầm thét. Tưởng tượng xem! Anh ta làm được tất cả những việc đó với một động tác vặn cổ tay, vì thế rõ ràng anh ta không phải là đồ hoàn toàn ngớ ngẩn. Nhà tâm lý học Đức kết luận rằng không người đàn ông thực sự bình thường nào cần bận tâm tới việc nuôi dưỡng lòng tự trọng của mình bằng máy móc. Rồi, để cho lời của mình đỡ khó hiểu, ông ta viết thêm, “Không người đàn ông nào thỏa mãn trong mối quan hệ với đàn bà lại cần lập một hệ thống âm thanh hi-fi mà anh ta có thể chế ngự được!” Tôi có một bản sao của bài tiểu luận đó và đã đưa cho nhiều đại diện kỹ thuật có hệ thống âm thanh phức tạp xem, họ đều cười nhạo lời phân tích ấy, nhưng tôi nhận thấy tất cả bọn họ đều đã ly hôn.
Bản thân tôi cũng có một hệ thống rất tuyệt ở Geneva.
—★—
Tôi đã nói là các đại diện kỹ thuật chịu trách nhiệm về an ninh tài chính của tôi. Chuyện là thế này. Khi rời khỏi hải quân năm 1945, tôi đã loanh quanh chỗ này chỗ nọ thử nhiều công việc khác nhau - Texas, Connecticut, California - nhưng cũng như nhiều chàng trai khác, tôi thấy những công việc thông thường thật vô vị sau cuộc chiến tranh đầy ý nghĩa, vì vậy cuối cùng hoàn cảnh xô đẩy tôi đi bán quỹ tương hỗ cho một hãng kinh doanh ở Minneapolis, công việc này cho tôi một chút tự do đi đây đi đó. Tôi trở nên tương đối thạo việc vì bản thân cũng thực sự tin vào việc tiết kiệm, và điều này đã giúp tôi thuyết phục người khác. Tôi chỉ cần cho họ xem tài khoản của mình và đưa hợp đồng cho họ ký.
Tin đồn về cách làm việc siêng năng của tôi đã đến tai các công ty khác và tôi nhận được một số đề nghị hấp dẫn, nhưng tôi không muốn thay đổi. Rồi năm 1954, World Mutual được thành lập và hãng kinh doanh ở Minneapolis của chúng tôi là một trong số những đơn vị đầu tiên gia nhập. Lúc đó tôi mới được biết thế nào là thị trường rộng khắp thế giới, và sau chuyến công tác đầu tiên ở nước ngoài tôi biết đây chính là loại công việc dành cho mình. Tôi tình nguyện đi tới tất cả các nước xa xôi ít người biết đến mà không nhân viên bán hàng nào khác muốn nhận vì tôi biết những điều mà họ không biết. Người Mỹ ở biên giới Indonesia, Campuchia hay Afghanistan kiếm được khá nhiều tiền, vì vậy có rất nhiều cơ hội ở đó, miễn là anh tìm được. Và trong khi một người bận rộn ở Brussels không cho anh thời giờ để chào hàng thì người ở các trạm xa xôi hẻo lánh lại háo hức nghe điều anh muốn nói. Và khi người Đức, Bỉ, Nam Tư và Thụy Điển nhìn thấy những người Mỹ tương nhiệm tiết kiệm được bằng đấy tiền mà lại còn có lãi nữa, họ cũng muốn tham gia, vì vậy đôi lúc anh có thể ngồi trong một văn phòng lốm đốm vết phân ruồi và chỉ đơn giản điền vào một vài tờ khai; tự họ sẽ làm công việc chào hàng.
Thế đấy, dù sao thì chính ở những trạm xa xôi hẻo lánh đó tôi đã lần đầu gặp gỡ các đại diện kỹ thuật, và khi nhận thấy họ ăn tiêu hoang phí như thế nào, tôi đã trở thành chuyên gia bán tri thức thường nghiệm cho họ. World Mutual cho xuất bản một lượng lớn sổ tay bán hàng, nhưng không cuốn nào giới thiệu kiểu chào mời mà tôi đã dùng.
“Nghe này, chàng ngốc! Năm ngoái anh bạn đã phí phạm hai mươi nghìn đô la cho rượu chè và gái điếm Singapore - và rút cục anh bạn được gì nào? Một trận lậu nguy khốn. Vì vậy tôi sẽ không tranh cãi thêm nữa. Tôi sẽ ký cho anh hợp đồng mười lăm nghìn đô la.”
“Ai bảo thế?”
“Tôi đã nói rồi đấy. Ký vào chỗ này đi.”
Kết quả là Giáng sinh nào tôi cũng nhận được một tá thư từ những vùng đất xa xôi cảm ơn tôi đã giúp các đại diện kỹ thuật để dành được tiền.
Trong số những người đầu tiên thuộc nhóm đã đầu tư với tôi có một chuyên gia kỹ thuật đặc biệt khó tính mà hồi tôi gặp đang làm việc ở Thổ Nhĩ Kỳ - Harvey Holt. Dạo đó tôi bốn mươi sáu tuổi còn anh hăm tám, một cựu đại úy thuộc binh chủng lính thủy đánh bộ đang bị vợ đẩy đến chỗ khánh kiệt. Là người quyết liệt, cứng rắn, giỏi giang, anh đang thực hiện nhiệm vụ đầu tiên ở nước ngoài trong vai trò đại diện kỹ thuật cho United Communications New York, công ty vừa lắp đặt hệ thống liên lạc sân bay cho Thổ Nhĩ Kỳ. Các thành viên khác của đội đầu tiên đã về Mỹ, để Holt ở lại phụ trách toàn bộ trang thiết bị tại nước đó. Mặc dù được yêu cầu giữ một căn hộ tại trụ sở chính ở Ankara nhưng phần lớn thời gian anh ở sân bay Yesilkoy gần Constantinople, nơi các máy bay bốn động cơ cỡ lớn hạ cánh để tiếp nhiên liệu cho cuộc hành trình tới châu Á.
Holt không phải người dễ kết thân vì anh không được mau mồm miệng, và khi nói chuyện anh lại kể rất ít về bản thân. Chỉ đến khi anh nhất thiết phải chỉ định một người thụ hưởng cổ phần của mình ở World Mutual, tôi mới biết anh đã ly hôn vì anh nói với thái độ hết sức trang nghiêm, “Ông cứ ghi tên Lora Kate. Khi vấn đề liên quan tới cháu bé, cô ấy làm hết sức cẩn thận.” Đáng lẽ tôi có thể giúp anh để dành được nhiều tiền hơn nhưng anh một mực đòi gửi cho cậu con trai nhỏ mức trợ cấp hàng tháng lớn hơn nhiều số tiền tòa án đã phán quyết. Năm hay sáu năm, anh mới được gặp con trai một lần, và có hôm anh nói với tôi, “Tôi muốn cháu sống với tôi một năm, nhưng ở đây làm gì có trường học?”
Bản thân Holt được học hành đến nơi đến chốn, được hưởng nhiều điều kiện thuận lợi từ việc đó. Tại trường Laramie High ở miền Đông Wyoming, anh đã may mắn được gặp một thầy vật lý giỏi dạy anh điện tử cao cấp trong một câu lạc bộ sinh hoạt sau giờ học, vì vậy năm mười bảy tuổi, khi Holt khai man tuổi để gia nhập hải quân, người ta đã nhận anh ngay, cho anh làm chuyên viên thông tin liên lạc. Tại Iwo Jima, anh bám trụ tại bờ biển điều khiển hệ thống radio kiểm soát tàu bè cập bến; tại Okinawa, anh được nhận nhiều huân huy chương vì lòng dũng cảm.
Đại chiến Thế giới II kết thúc, anh mới mười chín tuổi và đang chuẩn bị đổ bộ vào Nhật Bản theo làn sóng tấn công thứ nhất. Tính cách của anh đã hình thành và thay đổi rất ít trong những năm sau này: lầm lì, dũng cảm, tài giỏi. Từ cuối là quan trọng nhất: “Tôi kính trọng những người thạo việc.” Đúng như dự đoán, chiến tranh Triều Tiên nổ ra, anh tình nguyện gia nhập binh chủng lính thủy đánh bộ, dù đơn vị của anh không nằm trong kế hoạch điều động, và khi đang phục vụ ở phía Bắc Seoul, anh được biết tin về vụ ly dị. Một tuần sau, anh được thăng cấp đại úy, vì vậy hai sự việc coi như bù đắp cho nhau.
Sau thời gian ở Thổ Nhĩ Kỳ, tôi còn gặp anh tại nhiều địa điểm ở nước ngoài: Sumatra, Thái Lan, sa mạc phía Tây nước Úc, đáng nhớ nhất là Afghanistan, nơi tôi gặp anh lần gần đây nhất trong ngôi nhà ngăn nắp, tấm thảm da hổ trên sàn, dàn hi-fi vĩ đại đang chơi bài “A String of Pearls”, trong bếp là cô thư ký xinh đẹp của đại sứ quán Iraq đang giúp anh chuẩn bị bữa tối, đập ngay vào mắt khi bạn bước vào cửa, một tấm biển mà khách không bao giờ quên được:
Hiện tại bạn đang ở
KABUL, AFGHANISTAN
34° 30’ Bắc 69° 13’ Đông
Nếu bay dọc đường vĩ tuyến này theo hướng Đông, bạn sẽ nhìn xuống Malakand, Xiêm, Thiều Châu, Hiroshima, Santa Barbara, Prescott, Little Rock, Wilmington, Bắc Carolina, Fez, Limassol Homs, Herat, Kabul.
Nếu bay dọc theo đường kinh tuyến này lên phương Bắc, bạn sẽ nhìn xuống Tashkent, Petropavlovsk, Bắc Cực, Medicine Hat, Great Falls, Tucson, Guaymas, Nam Cực, Đảo Kerguélen, Bhuj, Kabul.
Harvey Holt khăng khăng phải biết mình đang ở đâu.
—★—
Tôi từng nghe lập luận kỳ cục rằng chính các đại diện kỹ thuật đã tạo điều kiện cho Hoa Kỳ có cuộc sống tốt đẹp. Tức là theo nghĩa đen, có hàng nghìn công ty Mỹ không làm được gì hơn bán hòa vốn cho khách hàng ở Hoa Kỳ. Mức lợi nhuận của họ do lượng tiêu thụ ở nước ngoài quyết định. Và họ không thể bán hàng ra nước ngoài nếu không cung cấp các chuyên gia giỏi kỹ thuật để bảo đảm cho sản phẩm vận hành.
Chúng ta hãy xem xét từng ý kiến một. Một hãng tủ lạnh mà tôi biết - hay có thể là một hãng xe hơi hay công ty sản xuất thiết bị thông tin liên lạc - có thị trường tại Hoa Kỳ cho một trăm nghìn đơn vị sản phẩm. Nhưng do cạnh tranh, giá cả vật liệu và thang lương, công ty đó không lãi một xu với sản lượng ít như vậy. Do đó, với khoản phụ trội không đáng kể cho việc hoạch định tổng chi phí, và với phí tổn nguyên liệu thô và nhân công đã được giảm thiểu, công ty sản xuất thêm một trăm nghìn sản phẩm nữa, đem bán ở nước ngoài. Bỗng nhiên hoạt động này lại có lãi và mọi người đều có lợi hơn - người tiêu dùng Mỹ, người lao động Mỹ, công ty vận tải biển Mỹ, nhà đầu tư Mỹ và người tiêu dùng nước ngoài, riêng thành phần cuối cùng này được mua sản phẩm chất lượng cao với giá bằng một phần mười số tiền anh ta phải trả nếu có người thử cung ứng nó tại địa phương.
Hãy tạm quên một thực tế là để tạo điều kiện cho người nước ngoài mua được tủ lạnh, chúng ta đã đưa tiền cho họ thông qua con đường viện trợ nước ngoài. Một cá nhân hay một quốc gia phải sử dụng tiền của mình vào việc gì đó chứ. Và ngoài ra, chín mươi xu của mỗi đồng đô la ấy lại quay về tay chúng ta - thế thì có ai thiệt thòi đâu? Tôi nghĩ có lẽ anh sẽ rất ngạc nhiên nếu biết rằng biết bao nhiêu thứ anh có thể mua được là do lợi nhuận trong sản xuất đã được bảo đảm bởi số lượng tiêu thụ ở nước ngoài.
Người đại diện kỹ thuật có vai trò gì? Tôi nhớ lại những năm năm mươi, khi thị trường ở nước ngoài hầu như là của riêng chúng ta... à, chúng ta và người Anh. Sau đó người Nhật láu cá bắt đầu chen chân vào, nhưng thành thực mà nói, thời kỳ đó sản phẩm của họ không được bền chắc lắm - máy móc thì mau hỏng; linh kiện thì khó kiếm... và bao nhiêu nhân công ở Pakistan nói được tiếng Nhật chứ?
Chính người Đức - tức là người Tây Đức - cùng người Thụy Điển và đặc biệt là người Thụy Sĩ đã thay đổi tất cả. Trước tiên họ sản xuất máy móc chất lượng cao - không khá hơn sản phẩm của chúng ta và người Anh, nhưng cũng rất tốt. Thế thì khác nhau ở chỗ nào? Họ đảm bảo với bất kỳ khách hàng nào ở các nước chậm phát triển, “Nếu cỗ máy này hỏng vào ngày thứ Hai - đã là máy móc thì phải hỏng hóc thôi, như các vị đã biết qua kinh nghiệm với máy Mỹ - các vị điện cho chúng tôi và chúng tôi sẽ đưa một người lên máy bay trong vòng hai giờ và anh ta sẽ có mặt ở chỗ các vị vào tối thứ Ba để giải quyết vấn đề của các vị.” Và họ đã thực hiện đúng như vậy. Họ đã cho chúng ta thấy một cách tiếp cận quan hệ công nghiệp hoàn toàn mới. Chắc hẳn họ phải chi một triệu đô la cho các chuyến đi bằng máy bay, nhưng lại thu được mười triệu từ việc đó, bởi vì tin tức lan truyền, “Ông mua hàng của Đức thì họ sẽ bảo hành tốt cho máy móc.”
Thế còn người Mỹ? Vậy đấy, những năm đó các chàng trai của chúng ta khá là hống hách. Họ đã bán hàng chất lượng cao rồi, và nếu có trục trặc ấy chỉ là tại bọn ngu đần không biết điều khiển thôi. Bao giờ rảnh rỗi, chúng ta sẽ cử ai đó đến giải thích thêm. Hồi đó chúng ta ngạo mạn lắm.
Người Anh thì sao? Nói mà buồn thay. Họ biết tay nghề công nhân trong các nhà máy của họ cao nhất thế giới, đạo đức kinh doanh của họ tốt nhất, nhân viên hiện trường trong vai trò đại diện là đáng tin cậy nhất - vì vậy nếu một thằng ngố chết tiệt nào đó ở Miến Điện hay Pakistan làm hỏng máy móc, bọn chúng nhất định có thể tự giải ngố được nếu không thì cứ chờ cho đến khi ai đó ở London ngẫu nhiên đáp tàu chạy hơi nước của hãng P. and O. đến. Tôi còn nhớ rõ một kỹ thuật viên người Anh từng làm việc cùng tôi trong một dự án ở Hyderabad. Một công nhân Ấn Độ nhận ra mình không thể dùng vặn vít để lựa đinh vít vào đúng vị trí, vì vậy anh ta mới lấy búa đập nhẹ. “Lạy Chúa tôi!” người Anh kia kêu lên căm phẫn và giành lấy búa, vung lên trước đôi mắt sững sờ của anh công nhân. “Anh không biết người ta gọi cái này là gì sao?” anh ta hỏi bằng một giọng mỉa mai lạnh lùng. “Một cái vặn vít của Mỹ.” Sau đó anh ta làm một bài lên lớp ngắn cho người công nhân kia về sự giảm sút của trình độ lành nghề đáng tin cậy trên khắp thế giới và cảnh cáo người đó không bao giờ được dùng búa đóng đinh ốc vào máy móc của Anh nữa. Chỉ người Mỹ mới làm thế. Sau đó ở khách sạn, anh nói với vẻ buồn phiền thực sự về nỗi đau lòng mà anh cảm thấy khi phải chứng kiến tình trạng tay nghề có trách nhiệm cao giảm sút đều đều. “Chẳng trách cái máy chết tiệt ấy bị hỏng. Đời thủa nhà ai lại đi vặn đinh vít bằng búa cơ chứ!”
Trong khi đó người Đức, Thụy Điển và Thụy Sĩ lại bay ngay đến để lo giữ cho máy móc của họ chạy tốt, và nếu phát hiện một người Ấn Độ lấy búa đóng đinh vít, họ sẽ đề xuất với trụ sở chính là có lẽ cái đinh vít đặc biệt ấy nên được thay bằng một thứ gì đó tốt hơn để người ta có thể dùng búa cố định.
Bất cứ ý nghĩ nào tôi từng có cho rằng sản phẩm của Mỹ nhất định phải tốt hơn do quyền năng thiêng liêng nào đó của nền công nghiệp Mỹ đều tan biến khi tôi quan sát những người Đức ấy. Họ không chỉ sản xuất những sản phẩm tuyệt hảo mà còn biết cách làm cho khách hàng hài lòng, và sau khi bắt đầu mất thị trường trên khắp thế giới, chúng ta mới nghĩ ra giải pháp của mình cho vấn đề ấy. Chúng ta sẽ không cử chuyên gia bay từ New York đến. Chúng ta sẽ có chuyên gia sống ngay tại hiện trường. Nếu Đức có thể cung cấp sự hỗ trợ trong vòng hai ngày thì chúng ta sẽ làm việc đó trong hai giờ.
Đó chính là cách để các đại diện kỹ thuật từng trải và cô đơn của chúng ta trở thành một bộ phận chức năng của hệ thống Mỹ. Nếu một hộ gia đình ở Des Moines, bang Iowa, được ngủ yên nhờ một anh lính Mỹ nào đó đang đứng gác dọc theo tuyến DEW[82] thì cũng chính hộ gia đình đó được mua nhiều hàng hóa với giá hời vì một kỹ thuật viên người Mỹ nào đó ở Sumatra hay Peru đang góp sức giữ cho công ty của mình có thể đứng vững. Đường biên giới không bao giờ ở nơi chúng ta tưởng, những người có năng lực nên canh gác đường biên giới ấy thì hơn.
Hãy xem thời gian Harvey Holt còn lại một mình ở trung tâm Sumatra để duy trì hệ thống thông tin liên lạc mà UniCom đã lắp đặt cho chính phủ Indonesia. Anh được cử làm việc tạm thời tại Simpang Tiga, sân bay gần Pakanbaru, tìm cách giải quyết trục trặc nào đó phát sinh tại một trạm tiếp âm nằm cao trên một quả đồi nhỏ có đỉnh nhìn xuống rừng rậm. Nhiệt độ là 38, độ ẩm 100 phần trăm. Thiết bị thông thường bị gỉ sạch trong hai tháng đầu và phải thay bằng thép không gỉ.
Khi Holt tổ chức một đoàn đi bộ để đưa anh từ Pakanbaru đến trạm trên đồi, một vài công nhân đứng tuổi người Sumatra khuyên anh, “Nên mang theo một người đi săn chuyên nghiệp thì hơn.” Anh đáp, “Tôi có súng rồi,” vì vậy họ đành nhún vai và lo lắng tiễn anh lên đường.
Hoàng hôn ngày thứ nhất, đoàn người nghe thấy một tiếng thét kinh hoàng, và giật mình ngoảnh lại đúng lúc thấy người đi cuối hàng bị một con hổ chắc phải dài đến ba mét tính từ mũi đến móng chân sau cào phăng mặt. Các vị thấy đấy, phần lớn những người đến xem hổ trong vườn thú chỉ để ý những cái răng to tướng và nói, “Nó cắn đứt đôi một người lớn dễ như bỡn.” Không phải như vậy. Vấn đề là con hổ đã lẻn đến vồ con mồi từ phía sau. Người ta tuyệt đối không thể nghe thấy tiếng con hổ tiến đến gần. Rồi, với một cú nhảy mạnh áp đảo, con hổ lăng vuốt chân phải về phía trước, khoanh vòng quanh mặt nạn nhân, trong khi vuốt trái cắm sâu vào vai trái và cổ họng. Với đòn hung bạo thứ nhất, con hổ xé toạc cả mặt lẫn hai con mắt của mục tiêu, hủy hoại hoàn toàn hai bộ phận này. Với đòn thứ hai, nó giật đứt khí quản cùng một số mạch máu chủ trên vai. Với bộ răng, tất nhiên, nó ngoạm vào cổ, nhưng việc này không cần thiết vì chính cái tát mạnh mẽ bằng vuốt mới gây ra cái chết. Trong khoảng ba mươi giây đồng hồ sau khi bộ vuốt cào trúng, mục tiêu đã chết, và đêm hôm đó con hổ kéo lê anh công nhân vào rừng rậm trước khi Holt kịp quay lại với cây súng.
Lúc ấy trời đã chạng vạng, vì hổ báo thường thích săn bắt khi màn đêm buông xuống. Thế rồi, do tình thế thôi thúc, Holt quyết định ngay những gì phải làm. Anh tập hợp công nhân lại để dựng trại và dặn họ chú ý giữ cho lửa cháy. Anh sẽ đuổi theo con hổ. Họ cảnh báo anh là không ai có thể theo dấu hổ vào ban đêm, nhưng anh đáp, “Tôi sẽ không theo dấu nó.”
Anh tự tắt đèn, phát hiện vết máu trong ánh sáng mờ nhạt, liền lần theo con đường gồ ghề mà con hổ đã kéo xác anh công nhân. Khi vết máu biến mất trong rừng sâu, Holt không chú ý đến nó nữa mà tiếp tục bám sát con đường anh vẫn theo từ đầu. Cuối cùng, anh đến một khoảng rừng thưa nhỏ, nơi cỏ dại thay thế cho cây cối rậm rạp. Tại đó, dưới ánh sáng cuối cùng trong ngày, anh quan sát xung quanh và chọn một cái cây có cành tạo thành một chạc đôi cách mặt đất khoảng ba mét rưỡi. Người nhễ nhại mồ hôi, tay trầy xước vì vỏ cây xù xì, anh leo lên cái bệ thô sơ đó, bám thật chắc, và còn phòng xa dùng thắt lưng buộc đầu gối vào một cành cây to để ngay cả khi ngủ gật cũng không thể rơi xuống được. Rồi anh bắt đầu chờ đợi.
Anh nắm chặt cây súng trong tay phải, đèn pin chắc nịch trong tay trái, và suốt mấy giờ đồng hồ trước nửa đêm anh lắng nghe những âm thanh hoang dã của ban đêm nổi lên trong rừng rậm Sumatra. Anh nhận ra tiếng lợn rừng, tiếng chim đêm và côn trùng. Anh đoán rằng chuyển động hầu như không một tiếng vang phát ra từ cái cây gần chỗ anh chắc hẳn là do một con rắn, nhưng vùng này không có rắn độc nên anh không quan tâm lắm.
Tiếng động mà anh mong ngóng, tiếng gầm gừ thỏa mãn của một con hổ no nê lần mò về hang sau bữa tiệc vừa ý, đêm hôm đó anh không nghe thấy, vì vậy khi trời hửng sáng anh bèn tháo thắt lưng buộc đầu gối, tụt xuống đất và nằm dưới bóng cây đánh một giấc mấy tiếng đồng hồ liền, hài lòng là con hổ hẳn cũng đang ngủ. Buổi chiều, anh trải qua một phen khốn khổ khi nhận thấy lũ côn trùng đang thám hiểm khắp người mình. Hơi nóng không sao chịu nổi. Mồ hôi chảy thành dòng xuống lưng anh như nước lũ rút khỏi thành phố. Anh không có nước mà cũng không liều mạng đi kiếm được vì trông thấy lũ kền kền lượn vòng trên cao rình rập hòng xâu xé phần thịt người chết, việc này chứng tỏ con hổ đã bỏ cái xác lại và đang lang thang đâu đây trong rừng rậm.
Holt tin chắc là con hổ, sau khi no bụng, sẽ không tấn công nhóm công nhân lần nữa nhưng nó sẽ rời khỏi rừng sâu và lộn lại đến khoảng rừng thưa rồi băng qua đó để đi tiếp đường cũ về phía bên kia. Anh đoán nó sẽ đi qua bãi trống này ngay sau nửa đêm.
Tại sao Holt biết được điều này? Bất kể được cử đến công tác ở đâu, anh đều tận dụng tối đa cơ hội tìm hiểu địa hình và dân địa phương. Anh có đức tính ham hiểu biết không bao giờ thỏa mãn, cộng thêm khả năng hấp thu và hiểu thấu kiến thức thực nghiệm. Từ những ngày đầu ở Sumatra, khi các trung tâm thông tin liên lạc và trạm tiếp âm khác nhau đang được xây dựng, anh đã bị loài hổ hấp dẫn, và mặc dù chưa bắn hạ được con nào, anh hiểu rõ cần phải có những gì để làm được như vậy. Anh tin chắc vào ý kiến của mình về loài hổ cũng ngang với đánh giá của mình về ống điện tử radio: “Nếu anh có nơi ẩn náu cao hơn ba mét rưỡi, cành cây sẽ vướng đường ngắm. Thấp hơn thì con hổ có thể tóm được anh khi nó vồ lấy đèn.”
Vì vậy lúc nhá nhem tối Holt lại leo lên chạc cây cách mặt đất ba mét rưỡi - trong tình trạng mệt mỏi, nhớp nháp mồ hôi, ngứa ngáy bởi những vết côn trùng đốt và môi miệng khô khốc vì khát. Đó là sáu tiếng đồng hồ dài dặc trước nửa đêm, và anh đã ngủ lơ mơ hai lần, nhưng chiếc thắt lưng cài chặt giữ anh ngồi vững.
Khoảng nửa đêm, những tiếng động lúc này đã quen thuộc càng quấy rối anh, nhưng tai anh vẫn phải căng ra ngóng đợi dấu hiệu duy nhất không thấy đâu. Chẳng có con hổ nào. Hai giờ sáng, chợt có tiếng động lạ, nhưng đó chỉ là con vật nhỏ hơn nào đó đang bận tâm đến những vấn đề của bản thân. Bốn giờ, con hổ vẫn bặt tăm và Holt đã bắt đầu buồn ngủ trĩu người, nhưng đến năm rưỡi, ngay trước lúc bình minh, anh nghe thấy một tiếng gầm hoang dã, như thể con hổ phởn phơ đang chuyện trò với chính mình, và khi tiếng gầm gần hơn, Holt lại bắt đầu toát mồ hôi.
Chính là con thú ấy, đáng sợ nhất trong số những con vật ăn thịt người, và nó sắp đi qua cái cây, đúng như Holt dự đoán. Đêm rừng đặc quánh đến nỗi ngay cả cái bóng một vì sao in xuống cũng không lộ rõ, vì vậy mánh khóe là phải chờ cho đến khi nó đến gần khoảng rừng thưa, rồi, với nòng súng và đèn pin trong tay trái, làm lóa mắt con thứ bằng ánh sáng bật lên bất thình lình. Trong một khoảnh khắc, con hổ sẽ đứng sững, ngơ ngác trước cuộc chạm trán bất ngờ, và chính lúc ấy, anh phải bắn thẳng vào tim con vật, đập tan sức mạnh của nó. Nếu anh bắn trượt, con hổ bị thương sẽ lần theo dấu vết anh và không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi nó chết vì mất máu hoặc tìm thấy anh và giết anh.
Holt nổ súng và bắn trượt. Giá có sự chuẩn bị để bắn từ trên cây xuống, anh sẽ bố trí thiết bị giữ đèn pin, để rảnh cả hai tay sử dụng súng. Hoặc anh sẽ tìm một người giúp điều khiển ánh sáng. Còn như tình huống này, khi đèn bật, anh cũng giật mình hoảng sợ chẳng kém gì con hổ, vì ngay bên dưới anh là con thú khổng lồ, vằn vện và ghê rợn những răng cùng vuốt, đang gầm lên. Cây đèn pin vô tình va phải nòng súng, bèn trượt đi, và khi cố nắm nó chắc hơn, tay trái Holt hơi rung rồi mất tự chủ, thế là phát đạn lạc đi đâu mất. Ngay lập tức, anh vội nắm chặt đèn pin và khẩu súng rồi bắn lần nữa, nhưng lúc này con hổ đã chồm lên và viên đạn găm vào vai trái nó. Lực của viên đạn cũng đủ mạnh để đẩy lùi con vật đang giữa đà nhảy, nhưng lại không trúng vào điểm chí tử, Holt nghe thấy con thú điên cuồng lăn lộn giữa những đám cây con và bụi rậm trong khi tìm nơi ẩn náu trong rừng sâu.
Holt không bao giờ kể anh nghĩ gì trong giây phút nguy ngập ấy, nhưng tôi có thể suy ra được qua hành động của anh. Mặc dù trời vẫn chưa sáng, anh tháo thắt lưng, cẩn thận luồn qua đỉa quần, giấu cây đèn pin phiền phức đi và thận trọng tụt từ trên cây xuống. Anh bước chầm chậm vòng quanh thân cây, chú ý để lưng lúc nào cũng quay vào phía trong, mặt lúc nào cũng xoay về hướng phát ra tiếng gầm dữ tợn của con hổ. Anh hy vọng con thú sẽ tấn công mình, nhưng cũng biết là cùng với bình minh tới, con thú khổng lồ sẽ thấy tốt hơn hãy tạm rút lui để liếm vết thương, sau đó sẽ quay lại xử lý con người kia.
Trong ánh bình minh mờ nhạt đầu tiên, Holt nhìn rõ vệt máu mà mình phải dò theo. Anh không bao giờ nảy ra ý nghĩ mình còn có lựa chọn nào khác. Nguyên tắc của mọi vùng định cư ở Sumatra hay Malaya hay Miến Điện hay Ấn Độ, nơi hổ báo thường rình mò, rất rõ ràng: “Khi đã làm một con hổ bị thương, anh phải tìm và giết nó. Nếu anh không làm được, nó sẽ giết sạch toàn bộ dân làng.”
Suốt cả ngày hôm đó Harvey Holt kiên trì bám theo con thú bị thương, mỗi lúc một thêm thận trọng, vì anh biết khi con hổ đã bình tĩnh lại sau cơn choáng váng vì bị trúng đạn cỡ lớn, tính xảo trá của nó cũng sẽ phục hồi, và cơn điên cuồng khao khát trả thù cũng tăng thêm. Gần đến giữa trưa, Holt nhận ra con hổ đã chuyển từ vai trò bị săn đuổi sang vai trò đuổi bắt.
Buổi chiều nóng bức ngột ngạt ấy, trong hoàn cảnh không có thức ăn và không có cơ hội đến gần suối để khỏi bị hổ vồ, là khoảng thời gian cực kỳ khổ sở đối với Holt, về chuyện này, vài năm sau anh có kể cho tôi nghe vài lần: “Làm sao tôi biết nó vẫn lẩn quẩn ở đó ư? Tôi cảm thấy nó ở đó. Nhưng tất nhiên nó có lợi thế. Nó nghe thấy tôi mà!”
Khi trời sắp chạng vạng, Holt có cảm giác hoang mang sợ hãi lần đầu tiên. Nếu không chạm trán với con thú trong một vài phút trời còn sáng, anh có thể làm được gì trong bóng tối? Con hổ có bỏ đi một cách đơn giản và biến mất trong rừng sâu không? Thế thì Holt làm sao theo dấu nó?
Nỗi lo con hổ có thể bỏ mặc anh hóa ra lại vô căn cứ, vì khi màn đêm buộc anh phải trèo lên một cái cây khác, con thú đã đi theo anh, nhưng lấp đầy không gian đêm trống trải bằng vô số tiếng gầm đáng sợ. Nó biết rằng đến sáng con người kia sẽ phải xuống đất để sa vào hàm răng đang nhe ra và móng vuốt đang giương sẵn của mình. Suốt đêm con thú dữ lồng lộn gầm thét, nhưng điều làm cho cảnh tượng có vẻ ma quái là mỗi khi Holt có cơ hội rọi đèn pin, hy vọng bắn một phát vào con thú, cây cối hay bụi rậm lại cản trở, thành ra Holt nhìn thấy hình thù vằn vện nhưng không nổ súng được vì cành lá sẽ làm viên đạn chệch hướng. Và con hổ sẽ tránh ra chỗ khác như một bóng ma hung hiểm.
Bấy giờ lại đến lượt cơn đói hành hạ, và cả cơn khát. Hai lần Holt có cảm tưởng như mình phải nhảy từ trên cây xuống để đi tìm nước; thậm chí anh còn thử thúc đầu gối vào thắt lưng xem có làm nó đứt được không. Qua những mẩu chuyện mà sau này được nghe Holt kể, tôi đoán chắc hẳn anh đã bị mê sảng phần lớn thời gian, hay ít nhất cũng bị những âm thanh và hình ảnh mà anh không kiểm soát được quấy nhiễu, nhưng bất cứ hành động hấp tấp nào anh dự tính cũng bị tiếng gầm gừ của con hổ chặn lại. Và đêm cứ trôi qua như vậy.
Bình minh lên, con hổ sẽ thành mục tiêu lồ lộ cho người đi săn, vì vậy nó bỏ đi, và một lần nữa Holt lại cẩn thận luồn thắt lưng vào đỉa quần, giấu đèn pin, và tụt xuống để thực hiện công việc cực kỳ ghê sợ mà anh vẫn phải đương đầu. Suốt cả buổi sáng, người và thú lượn đi lượn lại hết vòng này đến vòng khác một cách thận trọng và quyết tâm, bên nào cũng cố gắng bắt được đối thủ trong thế có lợi cho mình. Holt có hai viên đạn cỡ lớn trong nòng súng. Con hổ có hai bộ vuốt mà cơn đau buốt nhói dội lên từng đợt và truyền dọc xuống thân bên trái làm cho lợi hại gấp đôi. Không một tia nắng nào lọt được qua vòm lá và dây leo chằng chịt trĩu nặng phía trên những nơi hai đối thủ rình rập nhau. Có một lần Holt phải khụy xuống bên một dòng suối phủ kín lá rụng để uống nước vì anh sắp chết khát, nhưng vừa mới hớp vội được có mấy ngụm dè dặt thì đã cảm thấy sau lưng có gì đó lay động, thế là anh buộc phải đứng lên bước tiếp.
Giữa trưa, độ ẩm trong rừng trở nên không chịu nổi. Một lần Holt từng hỏi tôi: “Làm sao một người sắp chết khát lại đổ mồ hôi nhiều đến thế được nhỉ?” Hai lần trong khoảng thời gian đó dường như anh sắp lả đi, nhưng mối nguy hiểm rình rập phía sau bức màn lá cây rậm rịt đã giữ cho anh tỉnh táo.
Và rồi gần đến giữa buổi chiều, cái nóng gay gắt đã dịu đi một chút, Holt bất ngờ gặp một dòng suối thứ hai, và anh đã bị mất nước nhiều đến nỗi không thể tự kiềm chế lâu hơn được nữa mà phải ngã sấp xuống uống ừng ực. Anh vừa làm vậy, con hổ, đang chăm chăm trông đợi chính khoảnh khắc đó, nhờ tính xảo quyệt ở động vật mà hiểu được rằng một người hoạt động liên tục như vậy, đổ mồ hôi nhiều như vậy, tất sẽ phải uống nước, lập tức phóng vụt ra khỏi nơi ẩn nấp bên bờ suối, nhảy vọt lên ba bước dài phi thường, hạ xuống với bộ vuốt xòe rộng và hàm răng nhe sẵn để rồi đối mặt với nòng một cây súng cỡ lớn vừa đột ngột xoay đúng vị trí vào phút chót.
Một tiếng nổ chát chúa vang lên, rồi đến tiếng thứ hai. Không hề hoảng sợ, Holt bắn thẳng vào ức con hổ đang chồm đến, và tay anh nắm chắc cây súng đến mức viên đạn thứ hai trúng gần như đúng vị trí của viên đạn thứ nhất, phá vỡ cấu trúc xương của con thú to lớn và làm nổ tung quả tim của nó.
Bộ móng vuốt, như được ý chí của bản thân tiếp thêm sinh khí, vẫn điên cuồng cào Holt, nhưng đều trượt. Cái đầu đồ sộ, với bộ ria tua tủa và những đường vằn nhăn nhúm dữ tợn, lao vào mặt Holt sát đến nỗi anh có thể cảm thấy răng của nó sượt qua vai mình. Trong lúc giãy chết, thân nó rơi ngang qua người anh, máu phọt ra vấy bẩn quần áo anh. Và trên các cành cây quanh đó, chim chóc và khỉ ríu rít bàn tán về sự kiện lạ lùng mà chúng vừa được chứng kiến.
—★—
Như các bạn hẳn đã đoán được, Harvey Holt yêu thích hệ thống hi-fi. Anh yêu bản thân âm nhạc, nhưng vì còn là một chuyên gia điện tử, nên anh lại càng say mê tính kỹ thuật của thiết bị có độ trung thực cao. Anh lắp đặt nhiều bộ dàn cho người ta đến nỗi thỉnh thoảng một chuyến bưu kiện chuyển tới, sau khi nằm hàng tuần tại một kho phân phối chính nào đó, sẽ chứa khoảng nửa tá bộ phận mà anh đặt mua giùm bạn bè tại bất cứ đất nước nào anh đang công tác trong thời gian đó.
Bộ dàn của anh mà tôi thường được nghe hồi ở Afghanistan là một kiệt tác đáng giá hơn ba nghìn đô la nhiều. Anh có amply Marantz đặt mua ở Mỹ, bốn thùng loa phóng thanh đa hướng từ London, một đế xoay đĩa hát Mirachord lắp đặt đặc biệt tại Đức, máy ghi âm Roberts với một số bộ phận lắp thêm ở Nhật, và đủ loại thiết bị phức tạp khác của Thụy Điển và Pháp. Anh có khoảng chừng hai mươi bảy núm điều chỉnh và đĩa số mà anh có thể tha hồ vặn vặn xoay xoay, cho nên bộ dàn của anh có thể phát ra tiếng rì rầm hoặc âm thanh với sức mạnh của một cơn bão. Anh không thích bạn bè đụng đến bộ dàn của mình - nó quá phức tạp cho bất cứ ai không thành thạo - nhưng anh lại vui lòng giải thích hàng giờ nếu có người quan tâm.
Holt không được nhiều người yêu mến lắm. Cảm phục thì có. Yêu mến thì không. Nhưng anh đã làm một việc khiến các fan âm nhạc trong vùng quý trọng. Anh sưu tập từ nhiều nguồn những đĩa hát hay nhất sẵn có. Cổ điển, rock-and-roll, đồng quê, soul - bất kỳ thể loại nào. Anh thích dùng những đĩa hát mới được bật chỉ một hai lần, và vì khá nhiều người ở nước ngoài du nhập những đĩa hát tuyệt vời của công ty Sam Goody hay cùng công ty ấy ở Copenhagen cho nên khá dễ dàng thu thập mẫu tiêu biểu của bất cứ thể loại âm nhạc nào. Sau đó Holt sẽ chuyển biên những đĩa ấy sang băng từ chất lượng cao - chẳng hạn như hai mươi chín bản hot jazz hay nhất hoặc nhạc thính phòng của Bach, kể cả sáu bản concerto của Brandenberg - cho đến khi bộ sưu tập bất cứ thể loại âm nhạc nhất định nào của anh đủ để chơi trong hai giờ. Anh rất giỏi việc ấy và trang bị của anh chính xác đến mức bao giờ anh cũng có được một băng chất lượng cao hơn bất cứ sản phẩm nào do một công ty chuyên môn làm ra. Sau đó anh sẽ xử lý tiếp băng đó trong các loại máy móc của mình và sang lại thành khoảng nửa tá bản mới để tặng bạn bè. Kết quả sẽ là thứ âm nhạc tuyệt hảo đến mức cuộc sống ở những trạm xa xôi hẻo lánh sẽ dễ chịu hơn một chút.
Gu của anh lại khá đặc biệt. Anh coi trọng nhạc cổ điển, và thỉnh thoảng, khi làm một băng gồm chín bản giao hưởng của Beethoven hay bản Requiem của Verdi giúp ông thủ tướng nước sở tại, anh sẽ miễn cưỡng công nhận, “Không đến nỗi dở.” Nhưng anh không giữ lại băng nào cho mình. Các khúc nhạc khàn khàn trong những năm gần đây thì anh không hiểu gì cả, nhưng lạ thay, anh lại thích làm các bản chuyển biên cho những đại diện kỹ thuật trẻ hơn, vì nó là một thách thức kỹ thuật: “Một cái đĩa như vậy ư... chỉ thuần là tiếng ồn... nó kiểu như thử nghiệm trang bị của anh. Nghe xem thiết bị này thu được những nốt trầm và chia tách chúng ra như thế nào.”
Nhạc Tây Ban Nha, Mexico, phương Đông, Nga, Bồ Đào Nha và tất cả những gì thuộc những dòng ấy, anh đều gạt bỏ và gọi là “nỗi ám ảnh kinh hoàng”. Tôi nhớ có lần một người Tây Ban Nha mê âm nhạc nhờ anh ghi một số đĩa flamenco quý giá vào băng từ, Holt nghe đĩa thứ nhất độ một phút, rồi làu bàu, “Tôi sẽ làm cái thứ ám ảnh kinh hoàng này, nhưng tôi mà nghe thì trời đánh thánh vật tôi đi.” Và anh chuyển biên toàn bộ bằng máy, trong yên lặng tuyệt đối, không cho phép tiếng nhạc khó chịu ấy vang lên trong nhà một lần nào. Thể loại grand opera cũng bị gọi là nỗi ám ảnh kinh hoàng, nhưng các bản orato hay nhạc phổ cho lễ Mixa, chẳng hạn bản Requiem của Verdi, thì lại không phải vậy. “Đó là nhạc lễ,” anh thành kính nói.
Thể loại Holt ưa thích là nhạc pop Mỹ từ thập kỷ 1930 và 1940, những năm tháng không thể nào quên, khi các ban nhạc nổi tiếng đi khắp đất nước, biểu diễn tại các phòng khiêu vũ lộng lẫy hay thậm chí là trên kênh truyền thanh nửa đêm. Nhờ đào sâu tìm kiếm, anh đã tập hợp được những đĩa hát hay nhất của giai đoạn đó và ghi thành nhiều băng từ gợi lên ký ức về thời kỳ kinh điển của nhạc Jazz Mỹ, nhưng sau một thời gian tôi nhận thấy, dù là chương trình gì đi chăng nữa, anh cũng luôn kín đáo đưa vào ba tác phẩm không lời mà có vẻ như anh cho rằng đã tổng kết được cả thời đại: “A String of Pearls” với Glenn Miller; “In the Mood” với Tex Beneke, người đứng đầu ban nhạc Miller; và “Take the A Train” với Duke Ellington. Một lần hồi ở Miến Điện, tôi đã thử hỏi Holt về những bản nhạc đó, nhưng anh chỉ trả lời câu hỏi của tôi về “A String of Pearls”. “Chắc hẳn đó là bản nhạc hay nhất từng được sáng tác” là tất cả những gì anh đáp, nhưng qua những lời bóng gió của anh, tôi hiểu là anh thích các bài ấy vì chúng gợi lại những tháng ngày anh còn trẻ và mới bắt đầu hẹn hò.
“Nó mới tuyệt làm sao chứ,” một lần anh nói với tôi. “Anh có một chiếc Ford. Một cặp trong số bao nhiêu cặp khác. Anh lái năm mươi dặm đến Cheyenne để nghe Glenn Miller chơi tại phòng khiêu vũ Crystal, thậm chí một trăm hai mươi dặm đến tận Denver dự buổi biểu diễn của Charley Barnett ở Elitch’s Gardens. Đèn đóm...” Giọng anh nhỏ dần. “Thời nay chẳng có gì như vậy nữa. Chẳng có gì.”
Trong loại nhạc ưa thích của mình Holt có sự tinh tế tuyệt hảo - không violon nỉ non, không phòng vọng rẻ tiền. Anh chọn âm thanh mạnh mẽ và trong trẻo của nhạc jazz Mỹ và thường yêu cầu bạn bè chú ý đến những đoạn nhạc lạ tai, nếu không họ có thể không nhận thấy. Anh rất mê thích ban nhạc cuồng nhiệt có tên là The Empire City Six, những người từng chơi một loạt khúc biến tấu theo giai điệu “The Battle Hymn of the Republic”, nâng cao giọng lên sáu lần khác nhau cho đến khi cả căn phòng rung chuyển vì những âm thanh hùng tráng. Anh còn giới thiệu cho chúng tôi một khúc nhạc lạ lùng mà tôi chưa từng nghe, nhưng hiển nhiên đối với anh lại có ý nghĩa rất lớn. Louis Armstrong và Duke Ellington cộng tác trong khúc nhạc này, giọng whiskey và tiếng piano xót xa. “Duke’s Place”, bài đó tên như vậy, và có lần Holt tâm sự với tôi, “Nó nhắc tôi nhớ đến tất cả các quán cà phê hẻo lánh tôi từng đến dùng bữa.” Nó vẫn ám ảnh tôi đến tận bây giờ, mỗi khi Harvey bật lên, một khúc nhạc tầm thường, khó chịu mà đáng lẽ không thể có khả năng gợi nhớ như vậy: trở về Duke’s Place, nơi chúng tôi đã trải qua những giờ phút đau đớn và trống rỗng của tuổi thanh niên.
Tôi có thể nhớ lại cả tá lần trong những năm gần đây, khi tôi đến những vùng xa lắc xa lơ trên thế giới, thiếu tiện nghi hoặc không thức ăn ngon hay không có âm nhạc sạch nước cản. Công việc thì tốn sức và cô đơn, và ngay cả việc kiếm được tiền hoa hồng khá cao cũng không làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn chút nào. Rồi tôi đến thị trấn nơi Harvey Holt công tác, và anh đưa tôi về ngôi nhà sạch bong của anh, với hai cái bàn chải răng vẫn treo đúng vị trí như vậy, tờ Time số mới nhất, mấy chai bia Tuborg mát lạnh trong tủ đá, một cô gái địa phương nấu thịt và khoai tây trong bếp, rồi tôi buông mình xuống một chiếc ghế mây còn Harvey tra vào máy một trong những băng nhạc anh thích nhất, nhưng anh chọn lựa làm sao để trong đó có cả những bài tôi thích, vậy là tôi ngồi ngả người trên ghế mà thưởng thức tiếng nhạc từng một thời tôi say mê đến thế: “Boogie Woogie” với Artie Shaw; hay “Two O’clock Jump” của Harry James; hay “Muskrat Ramble” của Dukes of Dixieland. Đôi lúc tôi có cảm tưởng như chính thế giới có kỷ luật chặt chẽ của Harvey Holt đã giữ cho đầu óc tôi sáng suốt.
Nói chuyện với Holt không phải dễ. Câu hỏi dài nhất, anh cũng sẽ chỉ trả lời bằng một tiếng làu bàu. Ngoài ra, khó có thể nhận biết được những địa điểm anh nói đến, vì anh không bao giờ nhắc tên các thành phố hay quốc gia mà chỉ tên các sân bay, nơi anh lắp đặt hệ thống UniCom: “Đó là thời kỳ tôi đang ở Yesilkoy để lắp đặt hệ thống Big Rally II.” Như thế nghĩa là anh đang làm việc tại sân bay Constantinople, lắp đặt hệ thống liên lạc phức tạp mức độ hai. Tôi không hiểu cái tên Big Rally được lấy ở đâu ra, nhưng có bốn hệ thống cả thảy, và chỉ các sân bay lớn nhất như Kennedy hay Orly mới có Big Rally IV. Có hệ thống này tức là anh có ra đa, dải sóng phụ, truyền hình cáp và nửa tá trạm tiếp âm rải rác khắp đất nước, tất cả những thứ này Harvey Holt đều có thể giữ cho vận hành bình thường khi anh được cử ở lại làm đại diện kỹ thuật.
“Công việc thú vị nhất tôi từng làm là ở Don Muang,” một lần anh kể với tôi. Bangkok là nơi anh khởi đầu sự nghiệp, và anh đã được sống hai năm vui vẻ ở Xiêm. Hồi đó, nỗi đau về vụ ly hôn đang lắng dịu và anh bắt đầu thích ứng với cuộc sống độc thân có trật tự. “Don Muang hay lắm.” Nó còn là Kai Tak chứ không phải Hồng Kông; Kemajoran chứ không phải Djakarta; và Dum-Dum chứ không phải Calcutta. Người ta cũng phải chú ý khi anh thỉnh thoảng dùng tên chính thức vì trong một vài lần nhắc đến các thành phố và quốc gia, anh lại nói theo những tên mà anh đã được học ở trường phổ thông. Vì vậy đó là Constantinople, Ba Tư, Xiêm, và mặc kệ những sáng kiến mới như Istanbul, Iran và Thái Lan.
Còn có đề tài khác mà Holt thường dùng vốn từ ngữ chuyên môn hóa: lĩnh vực chung của đời sống, những niềm say mê, thành và bại bất ngờ phủ chụp lên con người bình thường. Vì trong những đề tài này, anh thường liên kết mọi đánh giá ý nghĩa với Spencer Tracy và Humphrey Bogart. Cũng như nhạc jazz khắc khoải của những năm ba mươi, đối với Holt một loạt phim đặc sắc do hai diễn viên ấy đóng đã tổng kết khá chính xác kinh nghiệm sống, như những câu nói dưới đây cho thấy.
Con trai một người đại diện của hãng Pan American tại New Delhi khúm núm trước một kẻ hay bắt nạt bạn ở trường quốc tế: “Cậu hãy nhớ cách Spencer Tracy bắt Freddy Bartholomew đương đầu với cuộc sống trên con tàu ấy.”
Một chính trị gia người Nhật tiếng tăm lừng lẫy bị vạch trần là kẻ lừa đảo: “Cũng y như trường hợp Spencer Tracy chứng minh sự thật về chồng của Hepburn.”
Anh luôn nhắc đến Katharine Hepburn thon thả dễ thương một cách trang trọng, và có lần, khi vợ một đại sứ ở Indonesia ngồi lê đôi mách về bà, Holt đã đứng lên bỏ ra khỏi phòng.
Hai người đàn ông cùng tán tỉnh một nữ thư ký làm việc ở đại sứ quán Pháp tại Constantinople: “Các ông đã thấy việc gì xảy ra khi cả Humphrey Bogart lẫn William Holden đều phải lòng Audrey Hepburn rồi đấy.” Còn Hepburn kia, bao giờ anh cũng chỉ gọi là Audrey thôi. Đối với anh, chỉ có một Hepburn, ngôi sao màn bạc.
Một viên phụ tá phải thực hiện nhiệm vụ khó khăn là chở một thiết bị rất nặng đến một trạm xa: “Anh đã thấy Humphrey Bogart và Raymond Massey đưa tàu của họ đến Murmansk như thế nào rồi đấy.”
Chi phí lắp đặt vượt quá ngân sách rất nhiều: “Đúng như những gì Spencer Tracy phải đối mặt khi tìm cách thuyết phục Elisabeth Taylor kết hôn.”
Một việc gay go chỉ có thể hoàn thành nhờ ý chí bất khuất: “Vấn đề của anh cũng giống như của Spencer Tracy khi ông quyết tâm bắt được con cá ấy.”
Một quan chức chính phủ Indonesia phải đưa ra một quyết định sinh tử: “Ngài phải luôn kiên trì với vấn đề đó, cũng như Humphrey Bogart khi ông viết lên sự thật về Rod Steiger và thủ đoạn dàn xếp các trận đấu quyền Anh.”
Một tùy viên nông nghiệp thuộc sứ quán Mỹ tự biến mình thành trò cười cho thiên hạ vì một cô nàng ăn chơi ở Hồng Kông: “Ai mà giải thích nổi những việc như vậy cơ chứ? Hãy xem Humphrey Bogart được Ava Gardner nhớ đến như thế nào sau khi ông đã làm cho cô trở thành một ngôi sao sáng chói.” Cũng như nhiều lời ám chỉ khác của anh, câu này làm tôi bối rối. Khi tôi hỏi anh đang nhắc đến phim nào, anh trả lời với vẻ thiếu kiên nhẫn, “Ông đã biết rồi còn gì. Bộ phim có bài ‘Que Será, Será’ làm nhạc nền ấy.”
Cuộc sống tình cảm của anh rất mãnh liệt, và mới nhìn sơ qua thì tưởng như nó được xây dựng theo những bộ phim mà hai diễn viên đó đóng. Thực ra thì là ngược lại; lối sống ở Mỹ trong những năm đó rất rõ ràng, tiêu chuẩn đạo đức của toàn dân được nhất trí tán thành đến mức phim ảnh phản ánh chính kiểu sống đồng thuận mà Holt trải qua. Thay vì anh bắt chước Tracy và Bogart, chính họ lại lấy anh làm hình mẫu. Như vậy là nghệ thuật phỏng theo cuộc sống, chính là chuỗi phối hợp được ưa thích hơn cả; nghệ thuật ngày nay, đặc biệt là nhạc pop, sáng tạo ra những mẫu hình mới mà học sinh sinh viên noi theo một cách say sưa.
Vì Tracy và Bogart tổng kết những gì tốt đẹp nhất mà nước Mỹ sản sinh ra trong những thập niên giữa thế kỷ này, Holt nhớ được hầu hết các tác phẩm điện ảnh mà họ đóng và coi việc họ chưa bao giờ xuất hiện trong cùng một bộ phim là thích hợp. “Họ không ăn khớp,” anh nói khi tôi hỏi về việc này. “Những người hoàn toàn khác nhau.” Anh không nói, “Phong cách của họ khác nhau.” Anh nói, xét ở phương diện con người bình thường thì họ sẽ bất đồng sâu sắc, vì anh không coi họ là diễn viên mà là người thực ngẫu nhiên bị đẩy vào những tình huống gợi lên.
Bogart đại diện cho người đàn ông mà Holt cảm thấy giống hệt mình; Tracy lại là con người hào hiệp mà anh mong muốn mình sẽ sánh kịp. Tại các trạm gần biên giới, anh có dư cơ hội được xem hai diễn viên mình ưa thích trong những tác phẩm điện ảnh hay nhất họ thủ vai, vì các công ty xây dựng cung cấp đều đặn cho nhân viên năm bộ phim một tuần, và loạt phim cổ thời kỳ 1940 đến 1960 chiếm phần lớn. Một lần, khi một bà thợ may quần áo nữ ở Hồng Kông phải đóng cửa tiệm vì bị một kẻ bất lương người Nam Tư lừa lấy hết tiền, Holt ngồi trầm ngâm nghe băng nhạc của Glenn Miller và ngẫm ngợi về vấn đề đó, “Tôi cứ nghĩ mãi về cách Humphrey Bogart cứu nguy cho tòa báo để giúp bà Ethel Barrymore. Đàn bà làm kinh doanh thì phải có ai đó mà trông cậy.”
Tôi đã kể là Holt nhớ hầu như mọi tác phẩm điện ảnh mà hai người hùng của anh tham gia diễn xuất, nhưng khi anh nói với tôi rằng họ chưa bao giờ đóng chung thì tôi cứ thấy lấn cấn, vì dường như tôi nhớ có một bức ảnh cho thấy họ cùng đóng trong một phim về cuộc nổi loạn trong tù. Khi tôi hỏi về chuyện đó, Holt làu bàu, “Không thể thế được. Họ sẽ làm hỏng vai diễn của nhau mất,” nhưng tôi không thể gạt bỏ tấm ảnh xưa cũ ấy ra khỏi đầu óc, vì vậy tôi viết thư hỏi một tạp chí điện ảnh và nhận được lời xác nhận: họ từng đóng chung trong bộ phim đầu tay của Tracy nhưng sau đó thì không có lần nào nữa. Tôi chuyển lá thư đó đến Miến Điện cho Holt, và anh trả lời: “Hẳn là một bộ phim cực kỳ dở. Một ngày nào đó tôi cũng muốn xem cho biết.”
Bất cứ lần nào về Mỹ nghỉ phép hay nghiên cứu máy móc mới, anh đều ở lì trong nhà trọ và ngồi hết đêm này sang đêm khác trước máy thu hình xem những bộ phim cũ. Anh cảm thấy hài lòng là dân chúng trong nước cũng được thưởng thức các bộ phim cũ mà anh đã từng thích thú ở những nơi xa xôi như Chengmai và Kandahar. Chính sau một chuyến về nước như vậy, Holt bất ngờ đến Sumatra tìm tôi giữa lúc tôi đang bận rộn với chiến dịch chào hàng để báo tin, “Trên Pakanbaru, đám người Anh đang chiếu một bộ phim đấy. Tôi đã xem cách đây nhiều năm và một lần nữa trên truyền hình Seattle. Ông nên xem đi.”
Chúng tôi lái xe bốn mươi dặm mới tới thị trấn ẩm thấp đó, nơi một công ty xây dựng của Anh đã lo liệu được một cái lán bằng lá dừa với một màn ảnh căng tạm ngay tại chỗ và một máy chiếu cũ kỹ rung rinh liên tục. Vì chỉ có một máy chiếu nên chúng tôi phải uống rượu gin ngồi chờ giữa ánh điện mờ mờ trong khi người phụ trách thay phim. Tôi ngồi cạnh một chuyên gia cao su người Đức và sau lưng một người Thụy Sĩ đang tìm cách bán cho dân Sumatra một cỗ máy làm kính khá phức tạp. Trong lán có khoảng năm mươi người từ khắp trung tâm đảo Sumatra đến, nhưng không ai say sưa xem phim như Harvey Holt.
Có lẽ say sưa chưa phải là chính xác. Dường như chính bản thân anh cũng trải qua mỗi giây mỗi phút trên màn ảnh với tình cảm mãnh liệt kinh khủng, tạo cho tôi cảm giác là đối với anh bộ phim này hay hơn hẳn các phim khác trong một loạt tác phẩm điện ảnh xuất sắc mà Bogart tham gia. Tôi chưa từng xem và cũng chưa bao giờ được nghe nói đến bộ phim đó, và trong những tuần lễ tiếp theo, khi nói ở các trại khác về cảm tưởng của mình, tôi nhận thấy các đại diện kỹ thuật tại đó cũng chưa hề nghe đến nó. Bộ phim thật đặc sắc. Bogart đóng vai một nhà biên kịch Hollywood bị buộc tội giết người và chỉ có Gloria Grahame tin tưởng ông. Khi những thước phim đầu tiên được chiếu lên chập chờn, ta ngỡ đây chỉ là một vụ giết người bí hiểm nữa và chắc chắn Grahame sẽ cứu được Bogart thoát khỏi ghế điện hay phòng hơi ngạt hay bất cứ hình phạt tử hình nào mà người ta vẫn áp dụng ở California. Trong thời gian giải lao khá lâu để thay cuộn tiếp, chúng tôi bàn luận với ông người Đức trong ngành cao su về diễn biến chắc hẳn sẽ xảy ra, và ông ta nói với vẻ tán thành, “Làm được một cuốn phim policies[83] thật hay thì cần phải có người Mỹ hay Pháp.” Tôi hỏi xem ông ta có cho là Bogart liên quan đến vụ ám sát người đàn bà trẻ kia không, ông ta nói, “Không bao giờ. Trong phim Mỹ thì không. Trong phim Pháp thì có.”
Ý kiến đó vẫn được giữ nguyên trong suốt bốn lần tạm ngừng ngắn để thay phim, nhưng tôi nhận thấy Holt không có phản ứng gì trước các phỏng đoán. Anh là khán giả duy nhất ở đó biết câu chuyện kết thúc như thế nào, nhưng anh vẫn ngồi im thích thú nghe những phỏng đoán sai bét của chúng tôi, vì trong lần giải lao thứ năm ông người Đức và tôi phải thú nhận là chúng tôi đã lầm. Đó không chỉ là một cuốn phim policier đơn thuần. Đó là một công trình nghiên cứu tính cách của nhà biên kịch trong mối quan hệ với cô gái dễ thương đã đối xử tử tế với anh ta. “Tôi có cảm giác rất lạ,” ông người Đức thì thầm trong lúc chúng tôi nhìn ra cánh rừng rậm đang dần lấn vào Pakanbaru, “là lần này Bogart sẽ không chinh phục được cô gái. Ông ta đúng là kẻ tâm thần... đại khái như anh bạn Holt của ông ấy.”
Và trong cuộn phim cuối cùng, Bogart đã trở thành nguyên mẫu một đại diện kỹ thuật - cô độc, cảnh giác, bền bỉ, hoàn toàn không có khả năng thấu hiểu đàn bà - vì vậy ở cảnh cuối ông hiên ngang bước ra khỏi ống kính, một con người đau khổ, thất bại, đem cuộc chiến của mình đến một vùng đất khác của những diễn viên khác mà ông sẽ không thể thấu hiểu và hòa nhập được. Đó là một kết cục gây sốc, nên khi ánh đèn chập chờn được bật lên, những âm thanh của rừng già ban đêm bủa vây sát chúng tôi, một cảm giác cô đơn bỗng lan khắp cái lán làm bằng lá dừa. Sau khi chào tạm biệt, người đàn ông Đức nhận xét, “Thỉnh thoảng chúng ta cũng bị bất ngờ, ngay cả trong phim Mỹ.”
Trên con đường dài quay về trại của Holt, tôi bảo anh, “Tôi vẫn chưa biết tên bộ phim đó.”
“In a Lonely Place,” anh đáp. Anh ít khi nói tên phim. Trong những lần trao đổi sau này, nó thường được diễn tả là “phim mà Humphrey Bogart đánh mất tình yêu của Gloria Grahame ấy”. Anh nghĩ đáng lẽ Bogart phải được giải Oscar cho phim này. “Cả Grahame cũng thế, nhưng cô ấy lại được một giải cho vai vợ của Dick Powell rồi.” Tôi không hiểu anh đề cập đến phim nào, nhưng chưa kịp hỏi thì anh đã trầm ngâm nói thêm, “Buồn cười thật, Powell cũng là một biên kịch. Tôi đoán Grahame thích biên kịch thì phải.”
Trong phút bốc đồng, tôi buột miệng hỏi, “Khi theo dấu con hổ, anh có tưởng tượng mình là Humphrey Bogart không?”
Anh xoay người rời mắt khỏi tay lái, nhìn tôi không nói một lời, vẻ mặt sửng sốt. Tôi chỉ con đường trước mặt, anh quay mặt trở lại phía tay lái. Sau một vài phút im lặng, anh mới trả lời, “Theo như tôi biết thì Humphrey Bogart chưa bao giờ đến Sumatra.” Một lúc sau, anh lại nói thêm, “Grahame... trong một vài cảnh cuối ấy... trông rất giống Lora Kate.” Tôi cho là Bogart có những rắc rối trong hôn nhân như Harvey Holt, nhưng tôi không nói ra, rồi khi chúng tôi về đến khu lán trại gần nơi làm việc của Holt, anh chợt hỏi tôi, “Ông nghe chút nhạc không?”
Holt tra vào máy một băng nhạc mà anh đã kiên nhẫn góp nhặt dần suốt nhiều năm ròng rã gồm tất cả các ca khúc và bản ballad thời hoàng kim, thời mà các ban nhạc nổi tiếng đưa các cô gái mảnh mai xinh đẹp đi theo, vài cô có giọng hát đáng ngạc nhiên, và chúng tôi ngồi trong bóng tối của cánh rừng nghe tiếng ca nhẹ nhàng, tình cảm, thu lại từ chương trình ca nhạc ở phòng khiêu vũ Meadowbrook do Frank Dailey làm chủ, từ nhà hàng Glen Island Casino và Đài phát thanh WOR: “That Old Black Magic”, “Falling in Love with Love” do Sara Vaughan trình bày, “Love for Sale” với tiếng hát của Ella Fitzgerald và “Night and Day” do ba nghệ sĩ solo biểu diễn riêng biệt. Khi “Green Eyes” bất ngờ vang lên, Holt vội xin lỗi vì đã đưa một bài Tây Ban Nha vào, “Thường thì tôi không thu cái thứ ám ảnh kinh hoàng này, nhưng đây là bài mà Lora Kate rất thích.”
“Anh gặp cô ấy ở đâu?”
“Trường đại học. Trường Colorado Aggies ở Fort Collins. Cô ấy lớn lên ở Fort Morgan.”
“Chuyện gì đã xảy ra?”
Băng nhạc vừa chuyển sang một trong những bài mà Holt thích nhất, “Sentimental Journey”. “Tôi nghe bài này lần đầu tại doanh trại ở đảo Iwo Jima. Lúc đó tôi mới mười tám tuổi. Tôi tự hỏi không biết mình có bao giờ quen được người phụ nữ nào xinh đẹp như mấy cô tôi đã nhìn thấy hát cùng các ban nhạc nổi tiếng không. Ông biết đấy, chẳng hạn như Helen Forrest và Martha Tilton. Hay Bea Wain.” Anh ngập ngừng. “Không phải tôi sợ chết đâu. Tôi đã phải chứng kiến quá nhiều người chết đến nỗi tôi biết đó hoàn toàn chỉ là may rủi. Như Humphrey Bogart khi anh ấy đánh nhau với Sydney Greenstreet để giành pho tượng.”
Anh tua đi tua lại cuộn băng để nghe lại “Sentimental Journey”, và im lặng cho đến khi hết bài, buồn bã mong nhớ những đêm xa xưa ấy. Khi băng chuyển sang “I’ve Got You Under My Skin”, anh vặn nhỏ tiếng và nói, “Vì vậy, khi tôi an toàn trở về nước và gặp cô sinh viên khoa Hóa tuyệt đẹp đó... chúng tôi lấy nhau... tôi muốn làm việc ở nước ngoài... thây kệ Wyoming và Colorado...” Anh bật cười. “Ông đã bao giờ tìm cách làm cho một người đàn bà quê ở Fort Morgan, Colorado, hạnh phúc với cuộc sống ở Yesilkoy chưa?”
Chúng tôi nghe nhạc đến tận bình minh: “Just One of Those Things”, “I’ll Never Smile Again”, “Symphony”. Khi Ella Fitzgerald hát bài “I’ve Got You Under My Skin”, Holt tua băng để nghe ba lần liền, và khi chúng tôi đi ngủ, anh nhận xét, “Tôi chưa tiếp xúc nhiều với người da đen, nhưng riêng về khoản ca hát, chắc chắn họ quá biết hát.”
—★—
Holt được trả lương hậu hĩnh. Khi làm đại diện kỹ thuật, bạn có thể kiếm thêm khá nhiều tiền nếu tự nguyện nhận những nhiệm vụ được cho là nguy hiểm. Holt luôn làm thế, vì mặc dù theo bản năng anh rất sợ những tháp thông tin liên lạc, anh vẫn tự rèn luyện bản lĩnh để leo lên.
“Tôi đã làm việc ở Gago Coutinho...”
“Tôi không hiểu anh nói đây là đâu.”
“Moçambique,” Holt sốt ruột bảo. “Coutinho bay qua Đại Tây Dương trước Lindbergh mấy năm cơ đấy. Chúng tôi lắp đặt xong một hệ thống Big Rally II và những người khác đã về nước. Trận bão ấy thổi qua Ấn Độ Dương - tuy nhằm hướng xa khỏi chỗ chúng tôi nhưng đuôi bão vẫn còn mạnh vô cùng. Đánh gãy đỉnh tháp của chúng tôi ở cách sân bay Gago Coutinho bốn dặm - nhưng không đứt rời. Một thanh rầm không chịu gãy hẳn... khiến cả khối thép lủng lẳng... đập ghê sợ vào phần còn lại. Vì vậy ai đó phải leo lên cưa đứt. Ta đương đầu với những chuyện này. Cũng giống như trường hợp Humphrey Bogert lái chiếc xe tải rời khỏi quán ăn của Ann Sheridan.”
Sau này, khi tôi nghiên cứu tổng quát tình hình Moçambique để chuẩn bị cho một dự án công nghiệp mà chúng tôi định làm, anh nhân viên dự báo thời tiết người Bồ Đào Nha ở sân bay Gago Coutinho đã kể cho tôi nghe chuyện xảy ra đêm hôm đó. “Gió mạnh khủng khiếp. Có lẽ phải đến chín mươi dặm một giờ. Một thanh rầm nhất định không chịu gãy hẳn. Chúng tôi nhìn thấy rất rõ qua ống nhòm. Ông quản lý trạm la, ‘Ai đó phải lên cắt đứt hẳn cái đồ lỏng lẻo chết tiệt ấy ra chứ.’ Người ta có thể nghe thấy nó đập rầm rầm vào tháp. Nó mà va trúng ai thì chỉ có nát bét người ra trong giây lát, vì vậy ông quản lý không ngừng kêu gọi mọi người xung phong, nhưng bản thân ông ta thì chắc chắn không chịu nhúc nhích và không ai trong số những người Bồ Đào Nha hoặc dân địa phương muốn làm gì cả. Ông ta nhìn sang tôi bảo, ‘Cậu là người dự báo thời tiết. Cái tháp cũng là của cậu như của bất kỳ ai khác đấy’. Nhưng tôi lảng đi. Thế rồi Harvey Holt lái xe đến, và ông quản lý vừa quay sang gọi anh, anh đã nói, ‘Tìm cho tôi một cái đèn,’ ông quản lý, từng làm việc ở Anh, vội giục tất cả bọn tôi đi kiếm một cái đèn pin, nhưng Holt bảo, ‘Đèn xì ấy’ Rồi ông tin hay không thì tùy, anh ấy leo lên tháp ấy giữa cơn bão, trong khi cả khối thép khổng lồ vẫn tiếp tục đập rầm rầm vào các thanh chống. Chúng tôi có thể nhìn thấy anh ấy từ bên dưới... ánh sáng trắng chập chờn trên cao tít... như một bóng ma... một bóng ma.”
Holt tự buộc mình vào thanh rầm mà phần đỉnh bị gãy nứt không chịu rời ra hẳn, và bắt đầu dùng đèn xì cắt vào chỗ thép bị móp, nhưng trong lúc anh làm việc, phần còn lại của cái đỉnh cột, bị gió mạnh quăng đi quật lại không khác gì cây gỗ balsa, vẫn không ngừng đập vào cột tháp, vì vậy anh phải rụt tay rụt chân liên tục để khởi bị thanh thép nghiến nát. Anh mải miết làm việc trong hoàn cảnh nguy hiểm như vậy khoảng nửa tiếng, mỗi khi gió tạm lắng lại tranh thủ cưa một chút, nhưng phần lớn thời gian anh phải lo né tránh thanh thép đánh qua đánh lại.
Khi thanh rầm bị cắt gần đứt hẳn, một cơn gió dữ dội ầm ầm ập vào đất liền và giật tung không những đỉnh cột lủng lẳng mà cả những thanh rầm bên dưới, kể cả thanh mà Holt buộc mình vào. Anh nhân viên dự báo thời tiết nói với tôi, “Thấy đỉnh cột đổ xuống, quét theo cả dây dợ và các công trình gỗ, chúng tôi hết cả hồn vía. Chúng tôi đã tưởng Holt ở giữa mớ sắt thép ấy nhưng chắc thanh rầm mà anh bám vào phải cứng cáp lắm vì nó vẫn không chịu đứt rời ra, mặc dù tất cả các thanh khác đã rơi hết. Vì vậy trong ít nhất mười phút đồng hồ, đoạn rầm thép ấy cứ lủng là lủng lẳng từ bên này sang bên kia trong cơn gió mạnh... với Holt bị buộc chắc vào đó. Chúng tôi cứ tưởng anh ấy nếu không bị nghiến nát thì cũng sẽ bị văng đi.”
“Tôi bám chắc,” sau này Holt kể với tôi.
Khi cơn bão xâm lăng đã lui quân, gây xong bao tổn thất, Holt thận trọng tháo mở dây buộc đã cứu anh, nhoài người trèo từ thanh thép đu đưa xuống những tầng tháp thấp hơn, nơi anh tiếp tục bình tĩnh cắt nốt thanh rầm. Khi tôi hỏi anh làm cách nào giữ được cây đèn xì không tuột khỏi tay trong lúc bị quăng quật liên tục như vậy, anh đáp, “Nếu nhiệm vụ của anh là cắt thép thì chắc chắn anh không được để rơi đèn.”
Điểm sáng trong cuộc đời Holt là thời kỳ anh phục vụ trong binh chủng lính thủy đánh bộ, và những gì đáng chú ý nhất trong sự nghiệp quân nhân của anh lại không diễn ra tại Iwo Jima hay Okinawa hay Triều Tiên, nơi anh được tặng thưởng nhiều huân huy chương, mà là tại trại huấn luyện tân binh trên đảo Parris, nơi anh may mắn được gặp một trung sĩ huấn luyện tên là Schumpeter. “Ông ấy nhận vào một thằng nhóc và đưa ra một người đàn ông trưởng thành,” Holt kể. Hiển nhiên anh tôn thờ Schumpeter theo cách anh ngưỡng mộ Humphrey Bogart và Spencer Tracy, nhưng anh ít khi kể về ông, ngoại trừ một điều là nhờ Schumpeter anh mới giữ được mạng sống và có được thang giá trị của riêng mình.
Trong những năm đầu quen biết Holt, tôi cứ nghĩ rằng trong thời gian huấn luyện ở đảo Parris, Schumpeter đã can thiệp vào một tai nạn nào đó để cứu anh, nhưng đó không phải ý Holt. Việc cứu giúp ấy là về mặt tinh thần và diễn ra qua suốt quá trình huấn luyện khắc nghiệt mà Schumpeter thực hiện theo nguyên tắc cơ bản của chiến đấu giáp lá cà. “Nhiều bạn đồng ngũ lớn tuổi hơn tôi cho rằng họ đã biết tất cả rồi,” Holt nói một cách khó hiểu. “Một tay bụng phệ như Schumpeter thì chẳng dạy nổi họ điều gì. Bọn họ đã chết cả.”
“Ông ta dạy anh những gì?”
“Nhiều điều... những điều có ích... như cách đặc biệt để bảo quản súng... hay cách dùng lưỡi lê.” Holt không chịu tâm sự về những kinh nghiệm chiến tranh của mình, nhưng anh có nói thêm mấy câu sau: “Dĩ nhiên, bất cứ trung sĩ huấn luyện giỏi nào cũng có thể dạy anh những điều ấy. Điều mà Schumpeter thêm vào là triết lý chiến tranh. Đối với ông ấy đó là hai thứ. Thứ nhất là anh nhất định phải chiến thắng. Thứ hai là anh nhất định phải sống sót.”
Nhiều lần tôi đã cố ép Holt nói rõ hơn về những luận điểm này, nhưng anh không chịu kể gì chỉ trừ việc Schumpeter có thể là một kẻ bụng phệ như người ta giễu cợt, nhưng khi hải quân tống ông ra đảo Okinawa vì tội đấm một sĩ quan, ông đã thực hiện nhiệm vụ tại chiến trường còn xuất sắc hơn cả ở trại huấn luyện. “Một người đàn ông ra đàn ông, bụng ra bụng,” Holt khẳng định. “Ông không có to mồm.”
Một đêm ở Baghdad, tôi tình cờ được biết thêm một số chuyện về Holt trong thời gian chiến tranh. Một đại tá binh chủng lính thủy đánh bộ được đặc phái sang Iraq tình cờ ngồi cạnh tôi ở quầy rượu trong khách sạn và chúng tôi nói lan man hết chuyện này đến chuyện khác, rồi khi thấy tôi kể là đã cộng tác rất nhiều với các đại diện kỹ thuật, ông ta bèn hỏi, “Ông đã bao giờ gặp một anh chàng kỳ khôi tên là Harvey Holt chưa?”
Hóa ra ông ta từng là đại úy cấp trung đội của Holt ở Okinawa. “Vừa sang tuổi mười tám, mắt sáng như sao. Cậu ta đại khái đẹp trai, rất thẳng tính và hăng hái, chỉ tội hay làm tôi tức phát điên. Mỗi lần tôi ra lệnh gì đó, cậu ta lại bảo, ‘Trung sĩ Schumpeter dạy chúng tôi làm cách này,’ cho đến khi tôi yêu cầu điều cậu ta sang đơn vị khác. Chỉ huy gọi cả hai chúng tôi lên bảo ông tin chúng tôi có thể giải quyết chuyện này, nhưng tôi báo cáo là đã chán đến tận cổ vì phải nghe về trung sĩ Schumpeter rồi, vì vậy chỉ huy hỏi Holt, ‘Thế là sao hả chàng trai?’ Holt đáp, ‘Tôi chỉ biết là hồi ở Iwo Jima tôi đã làm tất cả những gì Schumpeter dạy và tôi còn sống đây. Lũ ra vẻ ta đây hơn người chết ráo cả rồi.’ Chỉ huy nhắc lại là ông tin chắc tôi có thể khép Holt vào khuôn khổ, vì vậy tôi nói, ‘Chẳng phải Schumpeter là cái gã to mồm tháng trước bị kỷ luật vì đấm một sĩ quan ở đảo Parris?’ và khi tìm hiểu kỹ, chúng tôi mới biết là gã đã bị đưa đến Okinawa như một hình thức trừng phạt.
“Vậy đấy, Holt sung sướng đến phát cuồng, chạy khắp đảo cho đến khi tìm được Schumpeter, và có lẽ ông đã đọc được trên báo, chính buổi chiều hôm đó quân Nhật bất ngờ tấn công. Đó là một trận dữ dội ra trò, và quân Nhật lại tấn công ác liệt nhất ở đúng vị trí của Holt và Schumpeter, một đội quân chỉ có hai người. Quả là một cảnh tượng đáng để chứng kiến... thật hùng tráng. Tôi ở phía sau họ khoảng một trăm thước, không làm gì được. Chiều hôm ấy đúng là một cuộc tàn sát... tàn sát. Và hai nhân vật của chúng ta cố thủ trong một cái lán đổ nát chỉ còn ba mảng tường, người ta tưởng như họ là Napoleon và Ulysses S. Grant. Họ không phạm phải một hành động sai sót nào. Chúa ơi, có lần họ còn xông ra phá vây, ngay trước mũi một khẩu súng máy nhưng may mà nó không kịp xoay để bắn vào họ. Tôi tin chắc là bọn Nhật tưởng trong lán đó phải có ít nhất năm mươi người. Câu chuyện thật nên thơ, giống như cách Homer miêu tả một cặp đôi Hy Lạp, chẳng hạn, Achilles và Ajax - một chàng trai mới lớn và một trung sĩ bụng phệ bị giáng cấp.”
Viên đại tá bật cười, tôi bảo, Harvey Holt như một nhân vật Hy Lạp thì thật khôi hài, nhưng ông ta giải thích, “Tôi đâu có cười chuyện đó. Vì gã Schumpeter đấy chứ. Đêm hôm đó, sau khi Schumpeter và Holt quay lại chỗ chúng tôi và mọi người đang nói với họ là họ đã trình diễn một màn ra trò như thế nào, họ xứng đáng được tặng thưởng huy chương Sao Bạc hay đại loại thế, thì một tốp lính Nhật chiếm được một vị trí có thể từ đó pằng pằng thẳng vào đơn vị chúng tôi, tôi bèn kêu gọi các chiến sĩ xung phong đánh úp chúng từ phía sau - một việc không phải quá khó - và tôi vô tình nhìn thấy Schumpeter thu mình vào một góc, vì thế sau khi tổ xung kích đã đi làm nhiệm vụ, tôi mới nói nửa đùa nửa thật, ‘Schumpeter, trông cậu sợ hãi chưa kìa,’ nhưng Holt quát tôi, ‘Tất nhiên là ông ấy sợ. Ông thì cũng thế thôi.’ Tôi quay lại nhìn thằng nhóc mặt mũi sáng sủa ấy và vừa định hỏi cậu ta là ai mà... Cậu ta ngắt ngang ngay lập tức và nói, ‘Ở trại huấn luyện tân binh, Schumpeter đã dạy chúng tôi là mỗi ngày con người ta chỉ có một số cơ may nhất định thôi, và khi chúng đã hết sạch thì hãy nằm im một chỗ. Ông ấy còn dạy chúng tôi rằng chỉ thằng ngu mới đâm đầu vào rắc rối của đơn vị khác. Bản thân ông ấy cũng đã có đủ phiền phức rồi. Đây đâu phải đơn vị của ông ấy và ông ấy không dám thử vận may một lần nữa. Vì hôm nay ông ấy đã tận dụng hết vận may của mình rồi.’
“Tôi chắc là hồi ấy thể nào các cậu thanh niên nghịch ngợm cũng sẽ đơm đặt giả định kỳ quái nào đó về Holt và Schumpeter để chứng minh quan hệ của họ là đồng tính luyến ái ngấm ngầm. Dù thế nào đi nữa, Holt cũng khẩn khoản yêu cầu cấp trên của viên đại úy và được chuyển sang đơn vị của Schumpeter, và chính tại đó - chắc cậu ta đã kể cho ông nghe rồi - cậu ta đã giành được đủ mọi loại huân huy chương.”
“Cậu ấy có kể gì với tôi đâu.”
“Lúc nãy tôi có nói một đội quân hai người. Thực ra là đội quân một người vì Schumpeter giữ vai trò huấn luyện viên. Holt là một trong những anh hùng đích thực của Okinawa. Người ta giao cho cậu ta nhiệm vụ ngoài chiến trường. Cậu ta được lệnh dẫn đầu một trong những đơn vị đổ bộ lên bờ biển khi quân ta tấn công Nhật Bản. Cậu ta xin Schumpeter về làm trung sĩ, nhưng cái gã béo ấy lại bảo là vận may của mình đã hết và xin chuyển về nơi công tác cũ. Gã lại làm trung sĩ huấn luyện ở đảo Parris. Khi binh chủng lính thủy đánh bộ vớ được người tài giỏi thì họ cứ giữ chịt lấy.”
—★—
Theo tôi, điều đáng ngạc nhiên nhất ở Harvey Holt là tài trích dẫn thơ ca vì anh không phải là dân văn chương, thậm chí chẳng thèm quan tâm đến nghệ thuật, ấy vậy mà hồi năm thứ nhất tại trường Colorado Aggies, trong buổi nghe giảng đầu tiên của chương trình tiếng Anh 101[84], giáo sư Carrington hỏi có bao nhiêu sinh viên đọc được trọn vẹn một bài thơ, bất kể độ dài thế nào. Khi chỉ thấy hai cánh tay giơ lên, giáo sư than, “Thật đáng xấu hổ. Thơ ca là một kho kinh nghiệm đáng kể của nhân loại và các anh chị phải biết một số bài chứ.” Rồi ông phát biểu một câu khiến Holt ấn tượng sâu sắc, như thể trước Carrington chưa có ai ấp ủ một ý nghĩ như vậy: “Các anh chị hãy học thuộc lòng một bài thơ và các anh chị sẽ có nó suốt đời.” Sau đó Carrington đưa ra đề nghị, “Cứ mỗi mười bốn dòng thơ mà các anh chị thuộc được trước giữa học kỳ, tôi sẽ cộng thêm năm điểm vào kết quả thi. Tại sao tôi lại nêu lên định mức là mười bốn câu?” Một cô gái thông minh trước kia học trường trung học ở Massachusetts thưa, “Vì đó là một bài xon nê.”
Từ trước tới giờ Holt chưa bao giờ được nghe từ ấy.
“Chính thế! Các anh chị học thuộc hai mươi bài xon nê - rồi các anh chị sẽ không chỉ được một trăm điểm mà còn trở thành giàu có vô hạn nữa”.
Thấy lời đề nghị táo bạo đó hấp dẫn quá, Holt liền tìm đến phòng làm việc của giáo sư Carrington ngay buổi chiều hôm đó để xin ông cho lời khuyên nên học thuộc bài nào, Carrington hỏi, “Dài hay ngắn?” và Holt đáp nhanh đến nỗi chính anh cũng thấy ngạc nhiên, “Có lẽ bài nào đó dài dài,” vậy là giáo sư Carrington bảo, “Đối với một sinh viên trường nông nghiệp, chỉ có ba bài đáng xem xét thôi,” rồi ông kể tên: “The Scholar-Gypsy” của Matthew Arnold, “The Deserted Village” của Olivier Goldsmith và “Elegy Written in a Country Churchyard” của Thomas Gray.
Bài thứ nhất vượt quá khả năng hiểu biết của Holt còn bài thứ hai lại quá dài. Anh bèn nói, “Tôi sẽ thử bài này,” và anh vẫn còn nhớ những ngày thu đó - khi tuyết đầu mùa xuất hiện trên sườn phía Tây dãy Rockies và lá dương dọc bờ sông Cache la Poudre chuyển màu vàng óng - anh đã học thuộc những vần thơ mộc mạc, tuyệt cú ấy.
Một điều kỳ lạ đã xảy ra. Khi học đến ba khổ thơ cuối thể hiện lời văn khắc trên bia mộ, anh thấy chúng được in nghiêng, và những dòng ấy, anh đọc với giọng điệu buồn thảm như thể chúng là một phần của một khóa lễ trong nhà thờ. Đến lúc phải trả bài cho giáo sư Carrington nghe, anh đọc sai mấy khổ giữa khó nhất, nhưng đến mấy khổ in nghiêng anh có thể thấy chúng đã khắc sâu vào trí nhớ từng dòng rất rõ nét, và bằng vẻ nghiêm trang sâu lắng, anh trình bày lời văn về chàng trai sống và chết lặng lẽ trong ngôi làng xa xôi hẻo lánh:
Nơi đây anh ngả đâu trong lòng Mẹ Đất
Một chàng Thanh niên mà thần May mắn và Tiếng tăm chưa hề biết.
Thần Trí tuệ lắc đầu trước xuất thân khiêm tốn của chàng,
Chỉ nàng U sầu chọn chàng kết tóc xe tơ.
Giáo sư Carrington hắng giọng tuyên bố với anh chàng cựu chiến binh Okinawa, “Anh qua.”
Trong thời gian làm việc đơn độc tại những trạm xa xôi, Holt đã thuộc làu làu cả bài thơ ấy và bây giờ anh có thể đọc lại mà không mắc lỗi nào. Anh còn học thuộc thêm nhiều đoạn dài của bài “Horatius at the Bridge,” và vì việc này được thực hiện sau thời kỳ anh phục vụ ở Okinawa cho nên anh nhận ra rằng một vài dòng của bài thơ thể hiện chuẩn xác hình ảnh trung sĩ Schumpeter, và bây giờ, mỗi khi đọc bài thơ ấy trong rừng sâu hay men rìa sa mạc, anh lại nghĩ đến người thầy huấn luyện tân binh của mình:
Rồi người gác cổng, chàng Horatius dũng cảm,
Cất tiếng hiên ngang:
“Bất cứ ai sinh ra trên trái đất này
Cái chết đến, sớm muộn tất có ngày;
Và đối với con người còn cái chết nào cao đẹp hơn
Đối mặt với kẻ thù đáng sợ
Vì tro cốt của cha ông,
Và đền thờ Thánh thần linh thiêng?”
Nhưng hai bài thơ mà Holt yêu thích nhất thì chỉ đến lúc nghe anh đọc tôi mới biết. Bài thứ nhất là một khúc ballad vui nhộn mà anh học được từ mấy đồng nghiệp người Úc cùng làm việc tại một trạm liên lạc, “The Man from Snowy River”. Tác phẩm này nói về một cuộc rượt đuổi hăng say từ trên núi xuống trong lúc một bầy ngựa chạy tán loạn, và đó là một bài thơ hợp với đàn ông, ngập tràn hình ảnh mạnh mẽ và vần điệu hùng tráng. Khi đọc những dòng thơ đầy khí thế ấy, Holt hất đầu về phía sau, nên người ta có thể tưởng tượng anh ngồi trên lưng ngựa phi trên sườn núi dưới ánh chiều tà, bất chấp vực sâu và đá nhọn. Lần nào anh cũng làm cho mọi người có cảm tưởng bài thơ ấy hay hơn, hấp dẫn hơn, đến độ tôi cứ tự hỏi tại sao mình lại chưa bao giờ nghe về nó. Anh nói cho tôi biết bài thơ này rất được ưa thích trên khắp nước Úc, anh cũng đã tạo được ấn tượng sâu sắc trước những người Úc dày dạn sương gió tại nhiều nơi khác nhau ở châu Á bằng cách đứng trong bóng tối mờ mờ tại một quán bar nào đó và chậm rãi đọc những vần thơ làm trái tim họ đập mạnh hẳn lên:
Anh lao đi, đá bay vèo vèo, nhưng chú ngựa non không hề chậm bước
Sải bước dọn quang những cành cây gãy
Và người đàn ông từ Snowy River không một lần đổi nhịp
Thật tuyệt biết bao khi được ngắm nhìn chàng kỵ sĩ miền sơn cước vững vàng trên lưng ngựa.
Bài thứ hai khá đặc biệt. Tôi đã hỏi khá nhiều người am hiểu xem họ có biết về thiên sử thi của miền Tây nước Mỹ đó không, nhưng cho đến nay chưa có ai nghe nói đến. Hiển nhiên nó vẫn được lưu truyền rộng rãi ở các bang như Wyoming và Colorado, nơi mỗi đống lửa trại sẽ có ít nhất một người thuộc lòng. Nhịp điệu bài thơ khá đặc biệt theo phong cách thảo nguyên hoang dã tự do phóng khoáng. Tôi nhớ đã nhiều lần hỏi Holt là anh có đọc đúng mấy câu mở đầu không, vì vậy anh đã viết thư tới Denver để xin một bản sao - và nó là thế này:
... Lasca thường cưỡi
Con tuấn mã thảo nguyên xám tro, sát cánh bên tôi...
Bài thơ kể về anh cao bồi sống ngoài vòng pháp luật chỉ có một người bạn duy nhất, một cô gái Mexico cứng cỏi tên gọi Lasca, người đã chia sẻ may rủi cùng anh qua biết bao cuộc phiêu lưu mạo hiểm ở miền Tây, cho đến ngày... Chà, kết cục khá bầy hầy, phần nào một thiên sử thi của dân cao bồi, nhưng sức mạnh từ những dòng thơ khiến cho công nhân trại chăn nuôi phải đăm đăm nhìn vào khoảng không lạ thường, ấy là Holt diễn tả như vậy.
Tôi biết Holt thích bài thơ này vì nó làm cho anh tin chắc rằng trong cuộc sống đôi khi người đàn ông may mắn cũng có thể tìm được người đàn bà tự nguyện chia sẻ nỗi khó khăn gian khổ ở vùng đất hoang vu gần biên giới, rong ruổi trên lưng ngựa sát cánh bên họ qua mọi chặng đường đời. Khi hãng Ford Motor tung ra thị trường một mẫu xe mới, đặt tên là Mustang - ngựa thảo nguyên, Holt liền mua ngay một chiếc trong đợt đầu và cho tàu thủy chở tới đảo Sumatra, nhưng rồi một thời gian ngắn sau anh lại đem bán đi.
Một lần, trong lúc lái xe qua vùng bán sa mạc ở Afghanistan, anh tâm sự với tôi, “Điều tôi thực sự mong muốn là có một cặp ngựa ở một ngôi làng ven sa mạc. Và một cô gái nào đó sẵn lòng cưỡi... ông biết đấy, cô ấy sẽ có con ngựa thảo nguyên của riêng mình, còn tôi sẽ có con của tôi.”
Nếu nơi anh công tác có cặp vợ chồng nào thì anh đều chịu khó đối xử tử tế và lịch sự với các bà vợ. Anh nói rằng xét về mọi mặt thì hôn nhân là một việc tốt và người ta phải làm tất cả những gì có thể để đàn bà cảm thấy mình được cần đến. Rõ ràng vụ ly hôn của anh vẫn để lại nỗi đau sâu sắc, một dấu hiệu thất bại mà anh phải chịu phần lớn trách nhiệm, và hễ khi nào anh ngẫm nghĩ về thất bại của mình trong việc tìm kiếm một người đàn bà chung tình như nàng Lasca, người ta lại có thể nhận thấy nét thất vọng trên mặt anh.
Tôi chưa bao giờ nghe thấy anh nói xấu vợ, nhưng một người từng quen biết cả hai vợ chồng hồi ở Thổ Nhĩ Kỳ đã nhận xét về cô ta, “Một cô ả lẳng lơ hết chỗ nói. Ngủ với ba người đàn ông khác nhau ở Istanbul và lằng nhằng với anh chàng tiếp viên trên con tàu về nước. Cậu Harvey tống khứ được cô ả là may đấy.”
Harvey lại không nghĩ thế. Anh thường xuyên kể cô ta chăm nom con trai họ chu đáo ra sao, và một hôm, khi anh cho tôi xem ảnh cháu bé, tôi thấy bên cạnh cậu là một người đàn bà ngoài ba mươi tóc vàng quyến rũ, khuôn mặt như một ngôi sao điện ảnh. Tôi nói, “Vợ anh xinh hơn mấy cô gái thường hát đệm cho các ban nhạc đấy chứ,” anh cũng tỏ ý tán thành.
Tôi không sao thuộc được toàn bộ bài thơ “Lasca”. Nhịp điệu trúc trắc của nó không hợp với tôi chút nào, nhưng tôi cũng nhớ được một số dòng đủ để gợi hứng cho Holt trong lúc chúng tôi lái xe từ trạm này sang trạm khác, và anh sẽ đọc tiếp, và ngay sau đó xe chúng tôi sẽ biến thành một đôi ngựa, chúng tôi phi như bay khắp miền Tây với một cô gái Mexico bốc lửa ở bên cạnh:
Em thà chịu đói để tôi khỏi cồn cào,
Em tranh phần đắng cay, dành cho tôi vị ngọt ngào;
Nhưng một hôm, đùa cho em ghen
Tôi chơi trò thầm thì, liếc mắt...
Em rút con dao nhỏ giấu sẵn trong nịt tất,
Và - ong vò vẽ đã châm một phát! - làm tôi choáng váng!
Lệch một chút sang trái, quá một chút sang phải,
Thì đêm nay tôi sẽ không còn được nói cười mê mải;
Nhưng em thổn thức, thổn thức mãi không thôi
Nhanh tay xé vội rebosa băng vết thương cho tôi,
Thế là tôi hết giận em ngay. Trầy xước có là chi
Ở Texas, bên sông Rio Grande.
Từ thích hợp nhất để thể hiện tính cách của Harvey Holt là lòng yêu nước, được dùng theo cả nghĩa xấu lẫn nghĩa tốt. Anh không thể chịu được cuộc sống ở Hoa Kỳ, tuy nhiên anh vẫn yêu tổ quốc và tất cả những gì tổ quốc anh đại diện; “Xét về mọi mặt, đó là một đất nước tươi đẹp nhất trên trái đất, và nếu anh không tin tưởng được chúng tôi thì anh không còn tin tưởng được ai nữa.” Nếu người ta hỏi anh hồi anh mười bảy tuổi tại sao anh lại muốn đăng ký vào binh chủng lính thủy đánh bộ, anh sẽ lẩm bẩm điều gì đó về tình hình gay go của đất nước anh. Nếu người ta hỏi tại sao ở Iwo Jima hay Okinawa anh lại hành động như thế, anh sẽ đưa ra một câu trả lời thiếu mạch lạc nào đó về tổ quốc và mối nguy nan. Và khi tôi muốn có một lời giải thích tại sao anh bỏ công việc thuận lợi ở UniCom để sang Triều Tiên tham gia chiến đấu, anh nói với tôi, “Ai mà an nhàn thoải mái được khi đất nước đang có chiến tranh?” Và lúc này, mặc dù không hiểu rõ tình trạng xung đột ở Việt Nam lắm, anh vẫn ủng hộ chính phủ và cảm thấy Eisenhower và Kennedy hiểu rõ họ đang làm gì, nhưng anh không tin chắc về Johnson lắm.
Theo ý kiến anh thì một thời kỳ rèn luyện căng thẳng trong binh chủng lính thủy đánh bộ sẽ có lợi cho bất kỳ thanh niên nào, và anh mong là thêm nhiều thanh niên thời nay có điều kiện sống với trung sĩ Schumpeter một thời gian: “Ông ấy sẽ đập cho họ sáng óc ra.”
Nhưng lòng yêu nước của anh không đi đến chỗ phục tùng một cách mù quáng. Lẽ thường là như vậy, nhưng những kinh nghiệm choáng váng mà anh phải trải qua ở Triều Tiên đã xua tan bất cứ ý nghĩ nào có thể nảy sinh trong đầu anh rằng những người tình cờ được nắm quyền chỉ huy bao giờ cũng đúng.
Thảm họa bắt đầu vào cuối tháng Mười một năm 1950, khi đơn vị hải quân của anh bắt đầu cuộc hành quân trong niềm hân hoan chiến thắng từ Hungnam tiến lên biên giới Trung Quốc. Tình hình quân đội Bắc Triều Tiên đang rối ren, và bộ chỉ huy cấp cao của chúng ta tin rằng, nếu binh chủng lính thủy đánh bộ có thể dồn địch vào các hồ dự trữ nước ở phía Bắc thì sẽ tiêu diệt được chúng và quân Triều Tiên sẽ phải đầu hàng. Thậm chí còn có những lời xì xào chắc chắn là chiến tranh sẽ chấm dứt trước lễ Giáng sinh.
Nhưng trên đường hành quân, Holt đâm ra mỗi lúc một thêm lo ngại. Hồi đó anh đã là trung úy chính thức, và anh luôn miệng nhắc viên đại úy, “Anh biết không, trung sĩ Schumpeter sẽ chán lắm nếu thấy được đội hình hành quân kiểu này.”
“Trung sĩ Schumpeter là thằng cha nào?”
“Trại huấn luyện lính mới.”
“Chắc hẳn hắn biết rõ về chuyện huấn luyện, nhưng đây là chiến tranh.”
“Ông ấy còn biết rõ về chiến tranh nữa.”
Holt nhắc mãi không ăn thua, và điều này làm anh rất bực mình vì anh có thể thấy là quân lính thủy đánh bộ của anh đang lao đầu vào chỗ khó khăn. Anh lo lắng đến mức nhất định xin được nói chuyện với thiếu tá và sau đó là với đại tá.
Anh trình bày, “Tôi không muốn các cậu lính thủy đánh bộ của tôi dàn mỏng đội hình đến mức người đi sau không thấy được người phía trước. Địch có thể dễ dàng lọt vào đội hình của chúng ta...” Hai vị chỉ huy ấy bảo đảm với anh rằng bộ chỉ huy cấp cao, cả ở Nhật Bản lẫn Hàn Quốc, đều biết họ đang làm gì, rằng đây là cuộc tấn công đại quy mô cuối cùng và nếu may mắn thì họ sẽ làm cho quân Bắc Triều Tiên lùi về khu hồ dự trữ trong sáu ngày.
“Thế còn quân Trung Quốc thì sao?” anh thắc mắc. Họ nói với anh rằng cơ quan tình báo đã kiểm soát được vấn đề Trung Quốc, nhưng khi quay về đơn vị và thấy cự ly giữa các binh sĩ còn xa hơn so với trước khi anh đi gặp chỉ huy, anh chợt nhớ đến châm ngôn của trung sĩ Schumpeter là quân đội phải liên tục siết chặt hàng ngũ, đặc biệt khi tiến vào vùng địch vừa chiếm đóng, vì vậy anh cố gắng dồn người đi trước xuống và đẩy người đi sau lên để duy trì một đội hình tạm cho là chặt chẽ, nhưng anh vừa thực hiện xong biện pháp ấy thì một thiếu tá chạy lên quát, “Mẹ kiếp, Holt, cậu đã tạo ra những kẽ hở lớn ở cả đầu lẫn cuối hàng rồi đấy. Quên ngay những thắc mắc lẩn thẩn của cậu đi và chỉnh lại đội hình đúng như trước.”
Holt đành tuân lệnh, nhưng khi kiểm lại quân số, anh nhận thấy mình phải mất hơn ba mươi phút mới chạy được từ đầu đến cuối hàng. Rất ít binh sĩ có thể nhìn thấy đồng đội theo chiều dọc, và về vấn đề địch thâm nhập vào hàng ngũ, sau này anh có nói với tôi, “Thâm nhập vào hàng ngũ ư? Rõ khỉ, quân Trung Quốc có thể dẫn cả một đơn vị bộ binh cắt ngang giữa đại đội của ta, nếu họ đi cách nhau. Thật ra, họ đã làm đúng như thế đấy.”
“Sao anh biết chắc đó là quân Trung Quốc?”
“Tất nhiên, quân tình báo của ta cứ khăng khăng không phải người Trung Quốc. Nhưng nếu anh ngang nhiên hành quân đến biên giới một quốc gia, nước đó có điều quân xuống phía Nam thì chẳng phải cũng là chuyện bình thường sao?”
Lúc nhá nhem tối ngày thứ Năm, khi đầu óc Holt đã mụ mẫm vì lo lắng, quân thâm nhập Trung Quốc mới tấn công, đúng như anh dự đoán, và vì hàng ngũ lính thủy đánh bộ dàn mỏng quá, ít khả năng yểm hộ lẫn nhau cho nên cuộc tàn sát diễn ra thật kinh người. Nếu trong lịch sử quân đội Mỹ có khi nào bộ phận chỉ huy của chúng ta phụ lòng tin của lính bộ binh ta thì đó chính là trong cuộc hành quân lên phía Bắc đến khu hồ dự trữ nước. Các chiến sĩ lính thủy đánh bộ của chúng ta đã bị đẩy một cách mù quáng vào cuộc chiến chống lại một kẻ thù mà họ chưa biết là ai, chưa xác định được vị trí, chưa đánh giá được hoặc chưa sẵn sàng đối phó. Quân ta buộc phải hành quân trong điều kiện cách bố trí lực lượng không thể phòng thủ được, không được yểm trợ đầy đủ, không có đủ lương thực hay đạn dược. Đó không phải canh bạc lớn mà nếu thành công thì sẽ dẫn đến một thắng lợi lớn lao nào; đó là một hành động hoàn toàn ngu ngốc được thúc đẩy bởi tính ngạo mạn mù quáng, và mọi thứ đã tan tành thành thảm kịch đúng như số phận định đoạt ngay từ đầu.
Có lần, khi tôi gặp Holt ở Don Muang sau một chuyến đi lên vùng cao xuyên qua Thái Lan, anh nói, “Lính thủy đánh bộ như tôi được nhồi sọ là quân Trung Quốc toàn dân Quảng Châu nhỏ bé, gầy nhom, thiếu ý chí, chuyên ăn cơm và làm thuê tại hiệu giặt là. Người ta đưa ra quan niệm chính thức là một lính thủy đánh bộ ngang sức mười gã da vàng. Nhưng quân Trung Quốc mà chúng tôi chạm trán ở khu hồ dự trữ lại là người phương Bắc. Chúng ăn thịt và khoai tây. Chúng không gầy yếu ẻo lả. Ý chí của chúng không thiếu. Và có Chúa biết, chúng không nhỏ bé chút nào. Ngay trong mấy trận đụng độ đầu tiên, chúng đã làm cho quân ta sợ vãi đái. Phải công nhận là chúng có mọi lợi thế. Đội hình của chúng co cụm lại còn chúng ta thì rải rác khắp vùng, nhưng chúng đã đánh bại chúng ta... chúng đã đánh cho chúng ta tơi bời.”
Chính lúc chiến đấu với quân Trung Quốc phương Bắc cao to, được ăn uống đầy đủ ấy, Harvey Holt đã thực hiện một hành động dũng cảm trong Chiến tranh Triều Tiên. Trong điều kiện thời tiết trở rét thấu xương, tuyết rơi dày đặc còn quân nhu không có, anh đã tập hợp đại đội tan tác của mình lại dưới một lùm cây thấp, đánh giá mọi khả năng của họ thẳng thừng đến mức tàn nhẫn - “Không lương thực, không nước uống, không đạn dược, không vũ khí hạng nặng, không người lãnh đạo, không liên lạc được với sở chỉ huy, không có kế hoạch tác chiến” - và chỉ nhờ vào lòng can đảm và ý chí quyết tâm mà anh đã dẫn họ Nam tiến trong mười một ngày ròng rã, giữ cho họ bám sát nhau, tránh đụng độ với quân Trung Quốc ở bất cứ nơi nào có thể, truyền cho họ niềm tin là họ sẽ về được Hungnam và tàu của ta sẽ đưa họ rút khỏi đó.
Đó là một thử thách. Một phóng viên tình cờ đến đơn vị khi họ vừa thoát khởi Hungnam được một ngày đã viết một bài ca ngợi hết lời lòng dũng cảm mà những người lính đó đã thể hiện. Anh chỉ đoán được đại khái tình hình ở phương Bắc xa xôi. Khi được nghe báo cáo về những gì Holt đã thực hiện, bộ chỉ huy cấp cao đã phong anh lên đại úy ngay tại mặt trận, và toàn bộ các chiến sĩ sống sót trở về đều vỗ tay tán thành. Không có người nào nói, “Ôi dào, thằng cha ấy hoàn toàn bất tài vô dụng. Hắn chỉ may hơn khôn thôi.” Họ đều hiểu Holt biết mình phải làm gì. Và một lần anh đã nói với tôi về kinh nghiệm đó, “Tôi giữ được mạng sống nhờ Schumpeter,” vì hiển nhiên là khi những ngày đêm rút quân trở nên không chịu đựng nổi - thực sự vượt quá sức chịu đựng của con người - anh đã nhớ đến lời khuyên oang oang của Schumpeter: “Hãy tập trung quân một chỗ. Bám lấy những nơi cao ráo ngay cả khi dễ bị giết hơn. Trong thời tiết lạnh giá hãy lấy vải bọc khóa nòng khi đêm xuống. Đừng đợi tuyết tan mới uống. Cứ ăn tuyết đi. Anh sẽ không bị thiếu nước.” Vân vân và vân vân, toàn những kinh nghiệm tích lũy dần được đúc rút từ thời Hannibal và Scipio xa xưa.
Khi ký ức về thảm họa đó đã phai mờ, được che đậy tối đa bởi các phương tiện truyền thông khôn khéo, các cơ quan công luận mới bắt tay vào việc biến cuộc rút chạy khỏi Hungnam thành một thắng lợi. Câu đối đáp của một đại tá thủy quân lục chiến được truyền đi khắp nơi, “Rút lui ư, không đời nào. Chúng tôi tiến theo một hướng mới đấy chứ.” Thậm chí một bộ phim còn được sản xuất với câu đó được dùng làm tiêu đề, chủ nghĩa anh hùng khoa trương trong phim thắp lên một niềm tin mới trong quân chủng lính thủy đánh bộ. Việc bàn luận về cuộc rút quân như một chiến công vẻ vang được lập kế hoạch từ trước và chứng tỏ ưu thế của quân Mỹ tự nhiên trở thành thời thượng.
Holt biết là không phải vậy. Thực tế đó là một thảm họa, một thất bại nặng nề. Một đội quân Mỹ không có chỉ huy giỏi và không được chuẩn bị chu đáo đã bị một đội quân Trung Quốc có chỉ huy giỏi và được chuẩn bị kỹ càng áp đảo, và nếu có gì gọi là vẻ vang trong vụ này, hẳn người ta phải viện đến những định nghĩa lạ lùng để chứng minh. Anh dũng thì đúng. Vẻ vang thì không. Trừ phi có thể coi là vẻ vang khi làm hỏng bét mọi sự và chạy trốn với số người còn nhiều hơn số cơ may ban phát.
Sau này Holt đã thử xem xét lại những trải nghiệm ở Triều Tiên. Việc điều binh khiển tướng hết sức sai lầm như vậy không làm cho quân lính thủy đánh bộ bị coi là thiếu năng lực. Họ đã tuân theo mệnh lệnh, và mặc dù trông thật thảm hại khi bị quân Trung Quốc tấn công, họ đã ổn định lại đội ngũ rất nhanh, thậm chí còn thể hiện được phần nào phẩm chất cao quý trong khả năng chấp nhận thất bại và vẫn rút lui có trật tự chứ không tháo chạy tán loạn. Theo đánh giá lại của Holt, tinh thần của những người lính thủy đánh bộ bình thường ấy không hề suy sụp.
Bộ chỉ huy cấp cao, cả của binh chủng lính thủy đánh bộ ở Hàn Quốc lẫn của quân đội ở Nhật, bị đưa ra phê phán gay gắt trước tiên, vì Holt chỉ là cấp đại úy mà cũng đã dễ dàng nhìn thấy những gì sắp xảy ra, những gì tất sẽ xảy ra, và anh lấy làm lạ rằng các tình báo viên giỏi giang là thế không nhận ra những điều không thể tránh khỏi kia. Anh chủ yếu đổ lỗi cho họ.
Tướng MacArthur không bị chê trách về bất cứ điều gì: “Ông đã quay về Tokyo và phải tin vào những gì quân tình báo trình lên chứ.” Tôi bèn hỏi anh liệu tướng MacArthur có biết đơn vị lính thủy đánh bộ đang hành quân lên phía Bắc, tiến thẳng đến trước họng súng của ba trăm nghìn quân địch, đi theo hàng một, cách nhau ba mươi thước không. “Một vị tướng không thể biết hết mọi việc. Tôi không thấy tướng MacArthur có lỗi gì cả. Cũng giống như Humphrey Bogart khi anh đưa tàu vào đám rong nhung nhúc đỉa ấy. Không thể yêu cầu anh biết tất cả được.”
Rồi thời gian trôi đi, Holt nhìn nhận thảm họa Hungnam như một sự cố không mấy quan trọng bất ngờ ập đến với các đội quân và các quốc gia: “Chúng ta đã thoát khỏi đó.” Thật ra, khi cuộc chiến tranh Việt Nam leo thang, anh đã cố hết sức để được giao nhiệm vụ chiến đấu, nhưng anh được thông báo là đã quá tuổi phục vụ ở cấp bậc của mình. Anh từng nói với tôi rằng anh coi toàn bộ cuộc chiến tranh Việt Nam như một nước cờ sai Hungnam quy mô lớn. “Có bất ổn phát sinh ở đâu đó, nhưng chỉ vài người tài giỏi có thể giải quyết được.” Nếu không phải trải nghiệm sự kém cỏi trong vụ Hungnam thì, cũng như phần lớn các đại diện kỹ thuật khác, chắc chắn anh sẽ chỉ quy trách nhiệm cuộc chiến tranh Việt Nam cho các chính trị gia. Tận mắt chứng kiến những gì có thể xảy ra ngay cả với những ý định tốt đẹp nhất, Holt không còn chắc chắn nữa.
—★—
Vì sao trong các chuyến công tác tôi lại chịu khó ghé thăm Harvey Holt? Vì sao, trong tất cả các đại diện kỹ thuật mà tôi từng có quan hệ công việc, anh lại là người lôi cuốn được tôi?
Kể ra nguyên nhân cũng khá kỳ lạ. Như tôi đã nói, lần đầu tôi gặp Holt là năm 1954 ở Yesilkoy, ngay sau khi vợ anh đùng đùng bỏ đi khỏi Thổ Nhĩ Kỳ. Vì nhà cửa trống trải, anh mời tôi dùng tạm một phòng trong thời gian tôi tiếp thị World Mutual đến các đại diện kỹ thuật khác ở khu vực Constantinople; và một hôm, tôi định vào buồng tắm thì đụng phải anh đang từ đó ra, trên người chỉ độc cái khăn tắm quấn quanh bụng. Tôi nhìn thấy một vết sẹo hằn rõ ngang ngực anh. Trông như thể một tia chớp hình răng cưa đã đánh trúng vào vị trí đó và làm cháy sém da thịt ngay tại chỗ. Bình thường, người ta nên tránh đả động đến vết thương của người khác vì không biết người bị thương sẽ phản ứng ra sao trước mọi thắc mắc, nhưng có thể nói nó gây chú ý quá, dễ sợ quá, đến nỗi tôi phải buột miệng hỏi.
“Anh bị vết thương này ở Triều Tiên ư?”
“Không, ở Pamplona. Năm ngoái.”
Câu trả lời ấy đã ngăn tôi lại, và hiển nhiên là Holt không có ý định nói thêm gì nữa, nhưng rồi một ký ức bỗng lóe lên trong đầu giúp tôi nhớ ra. “Có phải đó là thành phố miền Bắc Tây Ban Nha mà Hemingway từng viết không?”
“Phải.”
“Ý anh là một con bò đã gây ra vết sẹo này ư?”
“Phải.” Và đó là tất cả những gì anh nói ngày hôm ấy, song buổi tối sau đó hai ngày, một người bạn của anh có mấy đĩa hát Tây Ban Nha muốn chuyển sang băng, khi tiếng trumpet chói tai và những hồi kèn hùng tráng đã tắt, Holt kể, “Hồi đó chúng tôi đang lắp một hệ thống Big Rally III ở Portela, vào khoảng cuối tháng Sáu mấy anh bạn từng ở Tây Ban Nha một vài năm hỏi xem tôi có đi Pamplona dự lễ hội bò chạy không. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến nơi đó, nhưng họ kể nghe hấp dẫn đến nỗi tôi đáp là mình cũng thích đi cùng, dù tôi không muốn tham gia chạy trước đàn bò chút nào. ‘Trời đất ơi,’ họ kêu lên, ‘chúng tôi chẳng bao giờ đụng vào lũ bò. Chúng tôi đến trọ ở Bar Vasca rồi uống say sưa suốt tám ngày liền, nghe nhạc và xem những thằng dở hơi chết tiệt khác chạy với lũ bò. Trò ấy chỉ dành cho những thằng ngốc thôi.’
“Thế là tôi đi Pamplona, đến trọ ở Bar Vasca và thưởng thức âm nhạc, và ba buổi sáng liền tôi xem những người khác chạy trước đàn bò, rồi đến sáng ngày thứ tư - vì sao ư, tôi sẽ không bao giờ hiểu được - tôi có mặt ở con phố hẹp đó trong khi lũ bò rầm rập chạy vượt qua tôi. Đến sáng ngày thứ tám thì một con Pablo Romero to vật vã húc đúng vào ngực tôi. Nhưng đối với những vết thương do bò húc, Pamplona có những bác sĩ giỏi nhất thế giới. Họ được thực hành thường xuyên mà lại.” Anh bất giác đưa tay phải lên áp chặt vào ngực áo sờ vết sẹo dài mà ca mổ để lại.
Sau trải nghiệm đầu tiên đó với Pamplona, hợp đồng của Holt với UniCom có quy định là thời gian nghỉ phép của anh bắt đầu vào ngày mồng một tháng Bảy. Đúng ngày hôm ấy anh sẽ ra phi trường gần nhất và bay đi Rome, nơi anh coi là thành phố tuyệt vời nhất thế giới. Ngồi trên cao giữa quảng trường đẹp mắt đối diện ngôi nhà thờ cổ Santa Maria ở Trastevere, anh bỏ ra hẳn hai ngày quan sát màn trình diễn đa dạng của khách du lịch, giáo sĩ, kẻ ăn xin, các cô gái xinh đẹp, đĩ đực và đám hầu bàn mệt mỏi bực tức. Cuối buổi chiều ngày ba tháng Bảy, anh bay sang Madrid, nơi tôi sẽ đang đợi, vì sau lần đầu đến đó hồi năm 1958, tôi cũng đâm ra mê Pamplona và không khí vui nhộn nực cười ở Bar Vasca. Ngày bốn tháng Bảy, Holt tới trình diện chính thức ở sứ quán Mỹ, tại đây anh sẽ ký vào sổ và bày tỏ lòng kính trọng với ngài đại sứ. Đêm hôm ấy chúng tôi đi ngủ sớm để sáng ngày mồng năm có thể dậy trước bình minh, tắm nước nóng coi như lần cuối vì còn lâu mới lại có chuyện ấy, chất đồ lên chiếc xe thuê và khởi hành đúng lúc bình minh.
Chúng tôi đặt kế hoạch đến Pamplona vào chiều muộn để có thể chọn được phòng tốt nhất ở Bar Vasca - thật ra làm gì có phòng nào tốt - và đến ngày mồng sáu chúng tôi ngồi ở quảng trường xem đốt pháo hoa, gặp gỡ bạn bè cũ từ khắp châu Âu đổ về. Năm giờ rưỡi sáng ngày mồng bảy khu chợ trước Bar Vasca huyên náo ầm ĩ đủ loại âm thanh các ban nhạc lưu động phát ra, và chính lúc đó Holt nhẹ nhàng ra khỏi giường, đứng trước bộ đồ đã được anh trải sẵn cẩn thận gọn gàng từ đêm hôm trước: giày quần vợt, quần trắng, khăn quấn bụng màu đỏ, áo sơ mi trắng, khăn quàng đỏ. Trong bộ trang phục cổ truyền đó, anh ra khỏi quán để gặp lũ bò.
Đối với Holt, thú vui chạy đua với lũ động vật hoang dã đã trở thành một nghi thức tôn giáo, một hoạt động mang lại trạng thái cân bằng và ý nghĩa cho cuộc sống vốn cứ đều đều trôi. Lần đầu tiên anh giải thích về cuộc chạy, tôi đã không hiểu được tính chất quan trọng của nó - cả đối với anh lẫn với người khác - và ngay cả lần đầu được tận mắt chứng kiến, tôi cũng vẫn cho rằng đó chẳng là gì ngoài những chuyện điên rồ thường xảy ra ngoài đường, nhưng rồi một người biết tôi quen Holt có nói, “Tôi chắc anh ấy đã cho ông xem những bức ảnh nổi tiếng chụp năm 1953.” Khi tôi đáp rằng Holt không bao giờ khoe ảnh của mình với bất cứ ai, người đó nói, “Chúng được trưng bày trong hiệu Kodak ở góc phố kia kìa,” vậy là hai chúng tôi đến đó xem. Năm 1969 loạt ảnh vẫn còn được bày tại chính cửa hiệu ấy, và hàng năm các tấm rửa thêm vẫn được bán vì chúng chính là hình ảnh thu nhỏ của Pamplona, một cách rõ nét hơn bất kỳ thứ gì khác.
Tôi vẫn còn giữ một tập ở Geneva, và những người không hề biết về Pamplona hay về Harvey Holt chắc sẽ không thể tin được những gì mà máy ảnh đã chớp được. Họ nhìn thấy Holt chạy trước lũ bò đang hùng hục lao lên có một vài phân. Họ nhìn thấy anh ngoái cổ lại, vẻ mặt tươi cười, như thể trò chơi này là niềm vui đỉnh cao mà con người có thể biết. Họ nhìn thấy anh chệnh choạng ngay trước mũi đàn bò đang xông thẳng đến. Họ nhìn thấy năm con bò đực và mười con bò non đạp lên người anh mà chạy như thể anh là một tấm lát đường. Và ấn tượng nhất trong toàn bộ tập ảnh, họ nhìn thấy con bò chạy sau rốt cắm ngập sừng phải vào ngực Holt và hất anh lên cao. Tấm ảnh cuối cùng chớp được cảnh anh ngã cắm đầu xuống đất, hai chân choãi hình chữ V, máu ướt đẫm ngực áo trắng, trong khi sáu con bò đực và lũ bò non theo đuôi đang biến khỏi tầm mắt.
Đến tận lúc được xem những tấm ảnh ấy, người ta mới hiểu lễ hội Pamplona, và đến tận lúc được biết rằng suốt mười sáu năm tiếp theo nhân vật chính trong tập ảnh vẫn trở lại chạy thi với đàn bò - tổng cộng một trăm mười hai buổi sáng, sáu trăm bảy mươi hai con bò, trong đó bất cứ con nào cũng có thể húc anh như con Pablo Romero - người ta mới hiểu được Harvey Holt.
“Tại sao người ta lại làm việc đó... một cách tự nguyện?” nhiều vị khách của tôi ở Geneva thường thắc mắc. Khi tôi giải thích là hàng năm anh vẫn quay trở lại Pamplona để làm việc đó, họ không tin, “Anh ấy hết sức may mắn đấy. Nhìn xem... lũ bò giẫm cả lên người anh ấy mà chạy!” Và khi tôi nói với họ là ngoài cái lần bị húc suýt chết ấy, Holt còn bị đâm trúng thêm ba lần nữa, vì vậy bây giờ nửa thân trên của anh trông như cái gối nhỏ cắm kim khâu, họ liền lẩm bẩm, “Dại dột quá.”
Cuối cùng tôi đưa ra cho họ xem tấm ảnh Pamplona mà tôi cho là đã chụp được một cách thành công nhất tính mê hoặc của nơi ấy. Đó là lúc sáng sớm, tất nhiên là vậy, những đường phố trên tuyến chạy của đàn bò chật ních đám đàn ông táo bạo trong trang phục trắng. Hiển nhiên Harvey Holt vừa chạy thục mạng ngay trước một rừng sừng bò, nhưng giờ thì anh không thể vượt đàn bò được nữa. Anh cảm thấy hơi thở phì phò của chúng ngay sát lưng mình, vì vậy bằng một động tác dũng cảm anh lao sang một bên đường, kiễng đầu ngón chân, vung hai tay lên cao, thót bụng lại và đứng trong thế thăng bằng ở đó trông giống hệt một bức tượng Hy Lạp uy nghi nhất trong khi đàn bò hung hăng lao qua, sừng chúng chỉ cách eo lưng anh chưa đầy một inch. Con người, một loại động vật, hiếm khi nào trông hùng dũng hơn là trong cuộc chạm trán này với bò, một loại động vật to lớn hơn; anh treo lơ lửng trong thời gian, trong không gian, trong ý nghĩa cuộc đời. Có lẽ John Keats sẽ hiểu được tấm ảnh và sẽ không đặt những thắc mắc đại khái như: “Tại sao người ta lại làm những trò như vậy nhỉ?” Câu hỏi thích hợp hơn sẽ là, “Nếu ai đó tìm được niềm vui lớn như vậy trong một hành động nhất định, tại sao anh ta lại phải làm bất kỳ việc gì khác?”
• Chú thích •
[82] DEW: Distant Early Warning, hệ thống ra đa của Mỹ.
[83] Policier: (tiếng Pháp) Phim hay tiểu thuyết trinh thám.
[84] English 101: Khóa học nâng cao trình độ viết văn, khả năng nghiên cứu và cung cấp tư liệu, tư duy và đọc.