Sáu Người Đi Khắp Thế Gian

Lượt đọc: 1510 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
algarve

Một người Tây Ban Nha là một người Bồ Đào Nha có đầu óc.

Một người Bồ Đào Nha là một người Tây Ban Nha có nghị lực.

Cả ở Tây Ban Nha lẫn Bồ Đào Nha, không có nhiều thứ làm bạn phấn khích một khi bạn đã được tham quan Disneyland và Knott’s Berry Farm.

Tạo hóa rất hiếm khi sai, còn tục lệ thì luôn luôn sai.

• Lady Mary Wortley Montagu

Nếu không có gương, và cũng không có cả trí nhớ, tôi sẽ tưởng mình mới mười lăm tuổi.

• Jane Digby ở tuổi 44, khi bà sắp kết hôn với một tộc trưởng người Ả rập

Cách tốt nhất để biến đổi xã hội là thay thế lần lượt từng người một.

Trẻ em mê thích trò chơi; tầng lớp thấp giải trí bằng các trận đấu bò; nhà quý tộc thì tiêu khiển bằng những cuộc đàm luận cao siêu.

Oui, c’est elle!

C’est la déesse plus charmante et plus belle!

Oui, c’est elle, c’est la déesse

Qui descend parmi nous!

Son voile se soulève

Et la foule est à genoux!

• Les Pêcheurs de Perles

Phải, chính là nàng!

Nữ thần duyên dáng xinh đẹp thay!

Phải, chính là nàng, chính nữ thần

Phất phơ, tấm mạng bay

Giữa chúng ta, giáng trần!

Dân chúng phủ phục dưới chân nàng!

• Thơ mò ngọc trai

Tôi cho rằng xã hội phải bảo vệ quyền tự do ngôn luận của giáo sư đại học, nhưng khi có ai đó tìm ra lý thuyết buộc tội cả một giống nòi - và đó chỉ là lý thuyết không có bằng chứng - thì tôi lại cho rằng giáo sư đó không được phép nấp sau tấm áo choàng tự do trừu tượng. Ông ta phải bị kéo thẳng xuống nơi họp chợ, và nếu lý thuyết của ông ta sai thì ông ta đáng bị đá cho gãy răng. Tất nhiên, tôi đang nói đến luận điểm của tiến sĩ Shillington cho rằng người Ý vốn kém về quy tắc đạo đức và mafia theo trực giác.

Đừng bao giờ từ chối bất cứ điều gì chàng yêu cầu. Giữ một mức độ dè dặt và duyên dáng nào đó trước mặt chàng. Hãy duy trì tính lãng mạn của tuần trăng mật dù là ở nhà hay trên sa mạc. Đồng thời đừng lo lắng này nọ ra vẻ đoan trang, như thế chỉ gây chán ghét và lại không phải sự thùy mị đích thực. Đừng bao giờ cho phép bất cứ ai nói năng bất kính về chàng trước mặt mình, và nếu có người làm vậy thì dù khó đến đâu cũng phải ra khỏi phòng. Đừng bao giờ cho phép bất cứ ai buôn chuyện về chàng, đặc biệt là về cách cư xử của chàng đối với những người đàn bà khác. Luôn giúp chàng giữ vững tinh thần mỗi khi chàng thất bại.

• Bản tự nhắc nhở của Isabel Arundel hôm trước ngày làm đám cưới với Richard Burton.

Hieronymus Bosch là kẻ tố giác. Ông ta đã vẽ Giới Quyền Uy đúng theo bản chất.

Một chàng trai độc thân là người mỗi ngày lại đến nơi làm việc theo một hướng khác nhau.

“Đêm qua ấm áp trên chiếc giường lông cừu,

Giữa biết bao lụa là gấm vóc;

Và giờ ta nằm trong kho thóc,

Kẻ cầu bơ cầu bất vây quanh.”

• Child 200

Mẹ tôi thường răn dạy: “Con trai, con không thể mua được hạnh phúc!”

Nhưng bà chẳng bao giờ nói tôi không thể thuê được hạnh phúc.

Hãy thận trọng. Nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của cô ấy. Không người đàn ông nào có $500.000.000 lại bị coi là già thực sự.

Những người sống trong nhà cô thì không thể say ma túy được.

Khi ta cô đơn, em yêu trong trắng ơi,

Dù biển động hay đêm tối đen,

Ánh sáng tình yêu vẫn khiến chân ta

Tìm được con đường xưa về với em.

• Eriskay Love Lilt

Gà Con[80] nói quả không sai.

—★—

Hành trình từ Tây Ban Nha sang Bồ Đào Nha có ảnh hưởng quyết định tới hai người trong nhóm du khách.

Ngồi sau tay lái chiếc pop-top, lần đầu tiên Joe chứng kiến sự mạo phạm mà Tây Ban Nha đã xúc tiến dọc theo dải đường bờ biển trải dài về phía Tây từ Málaga tới Gibraltar. Trong khi len lỏi giữa dòng xe cộ dày đặc, anh buộc phải nhìn những gì đã xảy đến cho các thị trấn nhỏ từng khiến nơi này trở thành một trong những con đường đẹp nhất châu Âu.

Từ Torremolinos đến Fuengirola, một rừng bê tông đã mọc lên, thừa thãi những căn hộ cao tầng chen chúc dọc bờ biển, một mớ lều lán và quầy xúc xích mọc trong đất liền nơi người ta kiếm bộn tiền. Những khoảng đất trống ít ỏi còn sót lại mà anh thấy đều đang bị biến thành sân gôn.

Và cảnh tượng xấu xí, xấu trên tài xây dựng tùy tiện. Tưởng như Tây Ban Nha đã triệu tập những kiến trúc sư tồi nhất thế giới tới vùng đất Đông Nam này và giao cho họ nhiệm vụ: “Biến bãi biển này thành đỉnh cao về sự xấu.” Tiền thưởng sẽ phải chia đều, vì nếu các kiến trúc sư Đức tạo ra quái thai, người Tây Ban Nha còn làm nên những thứ xấu hơn. Mỉa mai thay - các chủ thầu cả đời sống ở Stockholm, từng được chiêm ngưỡng vẻ đẹp mà những kiến trúc sư phương Bắc tạo nên, vậy mà vừa đến Fuengirola là đã dựng lên những khu nhà ổ chuột, chẳng đẹp đẽ mà cũng chẳng hài hòa.

“Thật ảm đạm,” Joe nói khi họ đang trên đường đến Marbella và nhìn thấy những khách sạn tổ ong đang xây dở; những công trình đó là của người Mỹ, được bê nguyên xi từ khu thương mại Los Angeles - tức là khu vực nghèo khổ hơn.

Điều làm anh thất vọng là các khu chợ ngoài trời, từng khiến cho những thành phố này hấp dẫn, tạo cho chúng một quang cảnh buôn bán sầm uất nhờ ngư dân đến kiếm sống, thì nay nhồi nhét bê tông: những cửa hàng, hiệu đồ cũ và chung cư chẳng bao giờ hấp dẫn được ai. Nhịp sống từng đặc trưng cho vùng tiền hải giờ đã bị tàn phá vô phương cứu chữa.

“Tây Ban Nha đâu rồi?” Joe kinh hãi thốt lên khi nhìn chằm chằm những căn hộ xấu xí mọc lên dọc con đường từng một thời quang đãng chạy từ Marbella tới Estepona, và bằng thắc mắc này anh đã chạm được vào nét đặc trưng tồi tệ nhất của sự xâm hại này: các công trình phá hỏng phong cảnh này được xây dựng không phải dành cho người Tây Ban Nha mà cho người Bỉ, người Đức và người Thụy Điển, những người đã dựng tại thành phố quê hương mình những ngôi nhà đẹp đẽ. Khi nào dải bê tông được hoàn thành, nó sẽ không trở thành nơi định cư cho dân Tây Ban Nha mưu sinh bằng nghề đi biển, mà dành cho những người phương Bắc giàu có, chỉ dùng chỗ này làm nơi nghỉ ngơi. Chẳng có mấy gia đình sinh sống trong khung cảnh xấu xí này và nếu có thì họ cũng sẽ không nói tiếng Tây Ban Nha.

“Tôi thấy như một vụ bán tống bán tháo,” Joe lẩm bẩm và nhấn ga chiếc pop-top hướng về Gibraltar, trong đầu hiện lên những mảnh phong cảnh anh vẫn còn nhớ sau hành trình xuyên nước Mỹ, và anh bắt đầu xác định một quan điểm về vấn đề nên sử dụng trái đất ra sao. Anh chưa có được hiểu biết gì đáng kể, song trong cơn bão tuyết quay cuồng từng làm anh choáng ngợp giữa ngã tư đường ở Wyoming, anh đã thấy hiện ra những hình mẫu rõ nét về đất đai thoáng đãng, những công trình thích hợp với đất đai như vậy, một sự cộng sinh phì nhiêu giữa nhu cầu và vẻ đẹp, và trên hết là nghĩa vụ giúp người dân di chuyển và tập trung một cách sáng suốt.

Anh nói với Gretchen đang ngồi ghế bên cạnh, “Nếu một số người châu Âu... phá hoại vùng này, ý anh là... ừm, nếu họ hủy hoại được cả một khu vực.” Anh dừng lại, tập trung lái xe, rồi kết luận, “Thử tưởng tượng xem nếu thực sự chủ tâm thì chúng ta sẽ có khả năng tàn phá những gì ở nước Mỹ.”

Đó là một suy nghĩ u ám và anh không thấy khuây khỏa bởi ý kiến của Gretchen: “Biết đâu đến lúc đó thế giới sẽ có ý thức hơn thì sao.” Anh lắc đầu nói với cô, “Em đừng có mà tin điều đó.”

Anh vẫn giữ tâm trạng nặng nề suốt đoạn đường dẫn đến các lối vào Gibraltar. Hành khách của anh muốn thăm The Rock, nhưng một tranh chấp vô nghĩa nào đó giữa chính phủ Tây Ban Nha và chính phủ Anh đã không cho phép họ làm vậy, vì thế họ đỗ xe trước hàng rào chắn đường và xuống xe để chiêm ngưỡng pháo đài hùng vĩ, nằm cách đó có mấy trăm thước.

“Tại sao chúng ta không được tham quan?” Cato thắc mắc.

“Chính phủ,” Monica đáp. “Bất cứ lúc nào ta gặp chuyện vô cùng ngớ ngẩn, câu trả lời nhất định là ‘tại chính phủ’.”

“Chính phủ nước nào?” Cato hỏi.

“Nước em,” Monica cáu kỉnh. “Phải công nhận nước Anh cũng có điểm tốt. Họ không thiên vị. Nếu đã làm cho Vwarda và Gibraltar rối tung lên, sau đó họ cũng phải làm cho xứ Wales và Ireland rối tung lên nốt.”

Trong tâm trạng có phần bực bội, họ quay về xe và bắt đầu quãng đường dài dọc bờ biển tới Cadiz. Về phương diện nào đó còn ảm đạm hơn nhiều, vì con đường này đã rời khu vực mà người Đức và người Thụy Điển ở để vắt ngang những công trình thuần Tây Ban Nha, và sự khác nhau rất dễ nhận thấy, bởi vì suốt một dải vừa hoàn thành, người phương Bắc tạo ra sự xấu xí bằng nguồn tài chính đầy đủ, và có trong các tòa nhà cao tầng giống như những tòa nhà người Hy Lạp đã xây ở Torremolinos phần nào tính chuyên nghiệp, còn ở phía bên kia của Gibraltar, ngoại tệ chưa được rót vào, nên các nhà thầu Tây Ban Nha đang cố gắng thực hiện những dự án rẻ tiền không đủ kinh phí.

“Những khu ổ chuột tạm bợ,” Joe chua chát nói trong khi quan sát từng khu nhà tồi tàn một.

Chợt nhớ đến các công trình đẹp đẽ ở Grosse Pointe và Haifa, Yigal nói, “Hình như cứ đến gần đại dương là kiến trúc sư Tây Ban Nha lại phát rồ.”

“Chẳng phải đây vẫn là Địa Trung Hải sao?” Cato hỏi.

“Đại Tây Dương rồi,” Yigal đáp. Anh vẫn luôn lấy làm lạ không hiểu sao người Mỹ được coi là điều khiển thế giới lại hiểu biết về thế giới ít ỏi như vậy.

“Các bạn hãy tưởng tượng,” Joe nói một cách chán nản, “có người thổi còi và thét lên, ‘Nếu phải làm, hãy làm cho thật tốt vào.’”

“Ai mà thèm nghe chứ?” Monica hỏi, và suốt đoạn đường còn lại của ngày hôm đó không ai đả động đến việc Tây Ban Nha phá hoại vẻ đẹp tự nhiên nữa.

Nhưng, vì lúc nào cũng phải nhìn thấy cảnh đó trước mắt trong lúc lái xe, Joe bị hút vào việc tìm cách phân biệt cái hay và cái dở, và cái dở chiếm ưu thế đến nỗi mỗi khi phát hiện ra một công trình nào đó cho thấy con người giải quyết những vấn đề của con người, anh đều ghi nhớ với tình cảm yêu mến.

Đêm đó, khi họ dừng lại bên con sông Guadalquivir rộng lớn đục ngầu để chuyển chiếc pop-top thành phòng ngủ tập thể, Joe hỏi Yigal, “Ở Israel người ta có làm ăn tệ hại như thế này không?” và chàng trai Do Thái đáp, “Chúng tôi có quá ít đất nên phải coi trọng.”

Một lúc lâu sau - trong khi côn trùng vo ve quanh rèm và bay tán loạn mỗi lần Monica vừa xịt thuốc diệt côn trùng vào chúng vừa rủa, “Cút đi, lũ mọi đen lít nhít!” khiến Cato lầu bầu, “Ăn nói cẩn thận đấy, cô gái!” - Joe vẫn ngẫm nghĩ về những gì Yigal nói. Khi anh có ít đất đai, anh phải biết quý trọng từng tấc. Nhưng trên thực tế, như Joe nhận thấy rõ ràng ngay từ đầu, mỗi người chỉ có một ít đất đai, mà không ai buồn quan tâm đến nó.

Nằm mãi không sao ngủ được, anh bèn bỏ ra ngoài và đi xuống bờ sông, một lúc sau Gretchen đến nhập hội, vậy là hai người nói về Tây Ban Nha và cảnh tiêu điều anh đã thấy ngày hôm đó, cô nói, “Ở trường, chúng em có một số buổi thuyết trình về lịch sử Tây Ban Nha, và luận điểm chính là Tây Ban Nha có truyền thống tàn phá đất đai... chuyện gì đó về chăn nuôi cừu và không coi trọng nông nghiệp. Em nhớ hình như là di sản từ thời người Moor. Vùng cao Tây Ban Nha đã bị tàn phá cách đây bốn trăm năm. Bây giờ bọn phá hoại lại chuyển xuống bờ biển.” “Chúng ta không làm như thế chứ... ý anh là ở Mỹ ấy?”

“Như Monica nói đấy, ‘Nếu có thể phạm sai lầm thì nhất định chính quyền sẽ phạm.’”

“Nhưng chúng ta có truyền thống ngược lại,” Joe nói. Anh nhớ lại thành phố quê anh đã vận động như thế nào để đưa đất rừng vào diện bảo tồn quốc gia. Những người lãnh đạo cộng đồng đã bay đi Washington. Rồi anh nói tiếp, vẻ giễu cợt, “Trong khi ở bên này rừng chúng ta đấu tranh để cứu nó, phía bên kia các chủ trại lại đấu tranh để tàn phá nó.”

“Ở Tây Ban Nha thì chủ trại luôn thắng,” cô nói.

Sáng hôm sau, họ tới Sevilla thăm ngôi nhà thờ nổi tiếng ở đó. Đến đêm họ cắm trại trong cánh đồng nho và sáng ra lại chậm rãi lái xe đến La Rábida ngắm bãi biển nơi Christophe Colombus đã giong buồm ra đi khám phá châu Mỹ. Tất cả những người khác đều ngạc nhiên nhận thấy chính Britta là người có vẻ xúc động sâu sắc nhất; cô nấn ná trên bãi biển, nhìn đăm đăm về phía Tây. Bình minh ngày hôm sau, Joe lái pop-top xuống bờ sông Río Guadiana ngăn cách Tây Ban Nha với Bồ Đào Nha, và các cô gái nín thở khi anh cho xe nhích dần lên một cái phà mục nát dường như sắp chìm ngay cả khi trống trơn. “Ave Maria, gratia plena,” Monica ngâm nga khi đặt chân lên cái phà mỏng mảnh.

“Trời!” Cato kêu thất thanh. “Nhìn kìa!” Thì ra một chiếc xe tải lớn chở ống nước đang ì ạch bò xuống con đường dẫn lên phà.

“Các ông cho cả xe tải lên ư?” Britta hỏi người chở phà bằng tiếng Tây Ban Nha.

“Tại sao không?” Anh ta ra hiệu cho tài xế thận trọng tiến lên, và khi bánh trước vừa lăn được lên phà, chiếc tàu liền chìm xuống khoảng hai foot, nước bắn tung tóe, song chiếc xe vẫn tiến tới cho đến khi bánh sau lọt lên sàn, lúc đó mép phà chỉ còn cách mặt nước một vài phân.

“Vừa đẹp!” người chở phà vui vẻ reo.

“Anh ta nói gì thế?” Yigal hỏi, Britta dịch xong tin tức tốt lành đó, Monica liền thốt lên, “Ái chà,” rồi làm dấu thánh giá.

Hành trình mạo hiểm vượt qua dòng sông đục ngầu trên chiếc phà cũ nát đó là một màn làm quen đầy hứng thú với Bồ Đào Nha. Bên kia sông phía Bồ Đào Nha là một bầu không khí bối rối vui vẻ, tất cả mọi người đều dừng tay làm việc trong khi nhóm nhân viên hải quan tập trung quanh chiếc pop-top để kiểm tra. Viên chỉ huy trèo lên xe đề nghị Gretchen cho biết sáu người bố trí chỗ ngủ như thế nào.

Một thanh niên Bồ Đào Nha đầu tiên chỉ tay vào Joe và Gretchen sau đó chỉ vào chiếc giường, ra ý hỏi có phải hai người ngủ chung không, chưa ai kịp trả lời thì viên chỉ huy đã khiển trách anh ta. Britta bắt lời với viên chỉ huy bằng tiếng Tây Ban Nha, nhưng ông ta nhìn cô nghiêm khắc và trả lời bằng tiếng Pháp: “Chúng tôi không bao giờ nói tiếng Tây Ban Nha ở đây. Chúng tôi nói được, nhưng không nói.” Ông ta tìm thấy một tấm bản đồ bèn đưa cho Gretchen với vẻ ga lăng đậm chất nông thôn. Ngón tay trỏ ngắn ngủn mập mạp của ông ta chỉ cô theo dấu những con đường Bồ Đào Nha, dừng lại ở một ngôi làng khuất nẻo nằm trên con đường cách xa đại dương. “Alte bốn quả núi. Alte con sông cuồn cuộn chảy qua. Các bạn là những thanh niên đứng đắn và tôi hy vọng các bạn sẽ giúp tôi một việc. Hãy lên thăm Alte. Bởi vì tôi muốn các bạn được thấy mặt tốt đẹp nhất của Bồ Đào Nha.”

Ông ta bắt tay lần lượt cả sáu người và chúc họ lưu trú vui vẻ trên đất nước ông. Một viên phụ tá trả giấy tờ xe cho Joe, dấu đóng cẩn thận hết cả, chiếc pop-top vừa rục rịch rời trạm hải quan, viên chỉ huy liền quay sang làm việc với người Tây Ban Nha lái chiếc xe tải, và Britta nghe thấy ông ta làu bàu bằng tiếng Tây Ban Nha, “Thế anh định làm cái quái gì với những cái ống kia?”

Quá trình làm quen với đất nước mới này là một khám phá. Vì Bồ Đào Nha tụt hậu rất xa so với Tây Ban Nha về bất cứ chỉ số xã hội hay kinh tế nào - đó thực sự là một mảnh đất thuộc thế kỷ mười tám - những hành động thái quá của thời hiện đại từng làm hỏng bờ biển Tây Ban Nha vẫn chưa thâm nhập vào đây, và người ta được thấy cảnh núi non có thể đẹp đẽ đến thế nào khi đổ thoai thoải xuống những bãi biển sạch sẽ, yên tĩnh. Các thành phố ở Bồ Đào Nha đều sạch sẽ, cổ kính và đậm chất phong kiến. Dọc bờ Đại Tây Dương không có tòa nhà chọc trời nào, các triệu phú nước ngoài lẻn vào vùng này xây dựng nhà cửa đều buộc phải tiến hành một cách kín đáo để du khách trên xa lộ quanh co uốn khúc không thể nhìn thấy những tòa nhà mới.

Nhưng chính đất đai là thứ quyến rũ Joe. Các quả đồi được che phủ bằng những hàng cây thấp đang kỳ sinh trưởng đẹp đến mức Joe phải dừng xe và thuyết phục Britta hỏi xem đó là cây gì. Cô thử dùng tiếng Tây Ban Nha, nhưng người đàn ông cô hỏi chuyện lại không chịu sử dụng ngôn ngữ ấy, dù cô ngờ là ông ta hiểu hết. “Cây hạnh,” ông ta trả lời bằng tiếng Pháp. “Cô nên đến đây vào tháng Giêng, khi chúng nở hoa. Cách xa hàng dặm, cô đã có thể ngửi thấy mùi thơm rồi.”

Trên đồi có cam, sồi cổ thụ và cây thường xuân, nhưng nhiều nhất vẫn là vẻ trù phú của các trang trại nhỏ, các cánh đồng được chia ranh giới bằng tường đá, nhà cửa đều xây thấp và trông như thể mọc thẳng từ lòng đất lên chứ không phải được xây trên đó. “Đất nước này khá đặc biệt đấy,” Joe nói, và càng ngắm nhìn vùng đất, nhìn những dấu hiệu rõ ràng cho thấy nó đã được chăm sóc và yêu quý qua bao thế kỷ, anh càng thích Bồ Đào Nha. “Tôi có cảm giác như trước kia mình đã tới đây rồi,” anh phát biểu. “Giống như đang về nhà vậy.”

Anh cho xe chạy chầm chậm xuyên qua vùng đất thần tiên với rừng, đồi và đại dương tên là Algarve ấy. Anh ngờ rằng đây là một trong những địa điểm tuyệt vời nhất thế giới, một nơi tự bản thân đã may mắn, lại còn nhận thêm phần may mắn vì bị lịch sử và sự phát triển bỏ qua. Tại đây không có sân bay Malaga mỗi ngày đưa đến hàng nghìn du khách thích tiêu tiền. Nếu muốn thăm Algarve, anh phải bỏ ra cả thời gian và trí lực, chứ không chỉ đơn thuần là tiền.

“Chúng ta hãy ăn trưa ở Albufeira,” anh nhìn bản đồ nói. “Nó ngay ngoài biển. Sau đó chúng ta có thể quay vào vùng đồi để xem Alte có gì hay không.” Những người khác đều tán thành, vậy là họ tiếp tục đi - nhiều lần dừng lại ngắm nhìn những bãi biển dài không một bóng người - về phía thị trấn lạ thường trong khu cảng đó, nơi phố xá uốn lượn vào vào ra ra các đường hầm đưa họ xuyên qua những quả đồi thấp. Phút trước họ còn ở trên đỉnh đồi... hai lần rẽ trái, thế là phút sau họ đã ở trong lòng đất ngay dưới chỗ lúc nãy. Thích thú với chất thần tiên của thị trấn, Monica reo lên, “Khác xa Torremolinos một cách tuyệt vời.” Song Joe nhận thấy, như sau này anh kể với tôi, đến giờ ăn, cô đã nhờ trực giác mà tìm ra được một quán bar đủ nhếch nhác để thích hợp với quang cảnh Torremolinos.

Bên trong quán, một người Anh tha hương gầy giơ xương, mặt mũi nhợt nhạt được biết đến dưới cái tên Churchill đang ngồi uể oải trong góc, và với khả năng thần giao cách cảm kỳ lạ, ông ta và Monica lập tức nhận ra nhau, không phải nhờ tên tuổi mà nhờ hoàn cảnh.

Hullo,” ông ta lầm bầm như vẫn chưa tỉnh hẳn. “Chỉ nhìn cũng biết cô là người Anh.”

“Tên tôi là Monica. Thức ăn ở đây thế nào?”

“Dở kinh khủng.”

“Còn bia?”

“Tạm được, nếu cô đãi.”

“Được, tôi đãi, nếu ông cho chúng tôi biết vài nét về nơi này.” Monica chỉ đạo Cato ghép mấy bàn lại và bảo Churchill, “Mời ông ngồi cùng chúng tôi.”

Ông ta bảo là chưa thấy đói nhưng vẫn đến ngồi cùng, và vừa uống bia vừa nhận xét về Algarve. “Đây coi như một thuộc địa của Anh. Người Anh chúng tôi khôn lắm. Chúng tôi biết chỗ nào làm ăn được.” Giơ một ngón tay xương xẩu lên, ông ta chỉ vào đám khách du lịch đang băng qua quảng trường. “Hai người kia là dân Anh. Cả ba người kia cũng thế. Chết tiệt, họ đều là người Anh cả. Dở kinh khủng.”

Khi người bồi bàn mang hai tờ thực đơn nhờn mỡ đến, Churchill quăng ngay xuống đất và bảo anh ta bằng tiếng Bồ Đào Nha lưu loát, “Cậu sang bên kia đường lấy cho chúng tôi sáu suất caldeirada de peixe.

“Ông gọi món gì đấy?” Britta hỏi.

“Gọi gì thì ăn đó,” ông ta thô lỗ đáp lại. Ông ta khoảng bốn mươi tuổi, người gầy đét, râu tóc không cắt, mặt khoằm khoặm như chim ưng, quần áo luộm thuộm, đôi giầy quần vợt bẩn thỉu, và có vẻ chán cuộc sống tha hương đến độ không muốn tỏ ra dí dỏm hay thực sự châm biếm nữa. Nhưng ông ta là người hiểu biết, và khi Joe nói, “Chúng tôi định ngó qua Alte một chút,” ông ta liền siết chặt hai bàn tay lông lá vào cái cằm râu mọc tua tủa mà nói, “Chắc chắn Chúa đã cho các bạn mượn chiếc la bàn của Người. Tôi xin chúc mừng các bạn đã chọn được nơi tuyệt nhất Algarve.”

Trong lúc ông ta kể về vùng này và nhấm nháp bia đen Bồ Đào Nha, anh bồi bàn bưng về một chiếc khay trên có ba cái liễn to và đặt trước mặt mỗi cô gái một liễn. “Món gì thế này?” Britta hỏi. Churchill lấy thìa của cô mò xuống tận đáy liễn và vớt lên mấy con sò cùng một con bạch tuộc con. Ông ta giơ chúng lên cao trong không khí rồi lại thả tõm xuống liễn. “Hải sản thượng hảo hạng đấy,” ông ta lầm bầm.

Không hề bối rối trước hành động của ông ta, Britta mỉm cười ôn hòa và hỏi, “Ông có dùng một vài con không?” vậy là ông ta đáp, “Xin các bạn một hai miếng thôi,” rồi nhúng thìa vào liễn, vớt một con bạch tuộc nhỏ, giơ lên thật cao và thả cho nó rơi tọt vào miệng, một cái xúc tu trượt xuống cằm. Ông ta bèn hút cái xúc tu lạc lõng ấy nghe đánh chụt một cái, nhai chóp chép, nuốt ực và nói, “Món ngon nhất ở Bồ Đào Nha đấy.” Ông ta lại thọc thìa vào liễn của Monica, rồi của Gretchen, lấy ở mỗi liễn một con bạch tuộc.

Bữa trưa là một bước làm quen Bồ Đào Nha khá thú vị: bánh mì tỏi nóng giòn, rượu vang xanh, rất nhiều hành và khoai tây trong món caldeirada. Britta đánh giá các loại hải sản trong suất ăn của mình: cá chình, sò, ốc, tôm, cua, cá rôi, cá mòi, mực ống và ngon nhất là bạch tuộc con, vừa ngọt vừa giòn lại đậm đà vị biển. “Món này ngon thật,” cô nói với Churchill, và ông ta lại lầm bầm, “Chất lượng thượng hảo hạng mà lại. Tôi đã bảo là ngon mà.”

Khi nhóm bạn rời Albufeira thì trời đã xế chiều. Họ đi khá sâu vào trong đồi mới tìm được đường dẫn đến thị trấn Alte. Sau mấy dặm lên dốc với tốc độ vừa phải, họ đến một chỗ rẽ trông xuống một ngôi làng nhà cửa san sát đến mức chỉ cần liếc mắt đã bao quát được toàn bộ quang cảnh. Nằm cheo leo bên cạnh một thác nước đổ xuống hẻm núi hẹp, Alte được bốn quả đồi bao bọc; ấy là một ngôi làng búp bê đẹp chưa từng thấy.

Trời đã nhá nhem tối, lái ngựa đã lùa bầy ngựa từ trên đồi xuống.

“Tôi sẽ mê nơi này mất thôi,” Joe nói.

—★—

Người thứ hai mà cuộc đời bị ảnh hưởng bởi chuyến đi Bồ Đào Nha là Britta, vì đêm đầu tiên rời khỏi Torremolinos, khi đến lúc sắp xếp chỗ ngủ trên chiếc pop-top, cô phải đối diện với một việc đã khiến cô đau đầu suốt mấy tuần qua. Chiếc pop-top sau khi được sửa sang có sáu chỗ ngủ, và việc phân chỗ trở thành vấn đề quan trọng. Nhà máy đã thiết kế bốn chỗ ngủ: một chiếc giường đôi dọc khoang xe, rộng rãi và thoải mái; một chiếc kê vừa khít dọc theo ghế trước, êm ái nhưng nhỏ; và một cái võng mắc trên trần xe, vừa không dễ chịu vừa không rộng rãi lắm. Còn hai chỗ bổ sung do Yigal và Cato nghĩ ra là hai cái giường tách biệt gá vào hai bên thành xe; chúng khá rộng nhưng không được êm lắm.

Vì vậy ngủ nghỉ trở thành vấn đề yêu cầu sự khéo léo tương tự những gì một người lần đầu tiên đóng hộp cá trích phải đương đầu: ai nằm cạnh ai. Cách sắp xếp phải bắt đầu với chiếc giường đôi, vì việc đó mà xong thì mới xác định được phần còn lại, và Gretchen, trên cương vị chủ xe, đã giải quyết một cách dứt khoát với thái độ không chấp nhận tranh cãi.

“Joe phải lái xe nên anh ấy cần được nghỉ ngon giấc. Anh ấy sẽ ngủ trên giường đôi. Cato cao nên sẽ nằm cùng Joe. Monica nhỏ bé nhất đám nên sẽ nhận chiếc giường nghiêng ở phía trước, còn Yigal không cao lắm nên nằm võng sẽ vừa vặn. Còn lại hai chiếc giường mới thì dành cho Britta và em.” Monica định nói nhưng Gretchen đã cắt ngang: “Và ai cần tình tự thì có thể mượn tạm chiếc giường to vào buổi chiều.” Nói rồi cô khẽ hất đầu về phía Monica và Britta.

Chuyện đó đã buộc Britta phải đi đến một quyết định. Tính đến lúc này cô đã xa nhà được bốn tháng, và trong lúc bước qua người Joe để vụng về leo lên chiếc giường đã được phân, cô chợt nảy ra ý nghĩ những hạn chế của chiếc pop-top đúng là do ý trời. Thời gian gần đây, cô đã hiểu quan hệ của cô với Joe sắp đến lúc kết thúc rồi.

Cả hai đứa mình còn gì nữa đâu? Cô nằm trằn trọc suy nghĩ trên chiếc giường xa lạ. Anh ấy là người tốt... nhưng chuyện sẽ đi đến đâu?

Cô không quan tâm đến chuyện Joe không có tiền để giúp cô hay chuyện trước mắt anh chẳng có khả năng kiếm được gì. Cô cũng không lo lắng về việc chưa chắc anh đã cưới cô; cô thích thú quan hệ tình dục theo điều kiện của mình và cũng thích đàn ông đủ để có thể sống cùng họ với sự chủ động. Cô định một ngày nào đó sẽ xây dựng gia đình, nếu như, theo cách nói quen thuộc của các thiếu nữ cùng tuổi cô, “mọi sự như ý”. Như vậy có nghĩa là cô phải gặp người đàn ông thích hợp, trong hoàn cảnh thích hợp và với triển vọng thích hợp về một tương lai hữu ích. Nếu như, cũng theo lời thanh niên thường nói, “mọi sự không như ý”, cô sẽ không phản đối việc sống như bốn tháng vừa qua.

Lần đầu tiên leo lên giường Joe, Britta đã nhận thấy anh là người chu đáo, đúng mẫu đàn ông cô hằng mong đợi. Họ đã sống bên nhau rất vui vẻ, và nếu những mối quan hệ tương lai của cô cho thấy độ thỏa mãn bằng một nửa như vậy, cô sẽ không oán trách gì cả. “Hoàn toàn thành thực mà nói,” cô nhủ thầm trong lúc nằm trằn trọc ngay phía trên người đàn ông mà cô định gạt ra khỏi cuộc đời mình, “mình không cho là sẽ có đám cưới. Chỉ là một loạt Joe nối tiếp nhau mà thôi. Mình chỉ may mắn trong những việc nhỏ chứ việc lớn thì không. Được thôi, nó cũng chẳng đến nỗi không chịu nổi.”

Tại sao cô lại đi đến những kết luận bi quan như vậy? Tôi có thể tóm tắt lập luận của cô đêm hôm đó vì đến lần tiếp theo chúng tôi gặp nhau, cô đã xem xét lại tình hình của mình cùng tôi và nói, “Lúc ấy cháu đã quyết định là quan hệ giữa Joe và cháu sẽ không phát triển một cách tốt đẹp thực sự được. Chuyện chăn gối thì vui thú thật đấy nhưng chúng cháu có thực sự quan tâm đến nhau không? Chúng cháu sẽ không xây dựng được một tổ ấm, không sinh con đẻ cái hoặc phấn đấu vì một mục tiêu chung - vì vậy sống với nhau để làm gì cơ chứ?”

“Gia đình và con cái có phải mục tiêu của cô không?” tôi hơi ngạc nhiên hỏi lại.

“Không nhất thiết. Nhưng đúng là phải như vậy. Cháu muốn cuộc đời cháu...” Cô ngập ngừng, rồi bật cười vì thấy mình ăn nói có vẻ khoa trương quá. “Ông Fairbanks, nguyên nhân thực sự là nếu ở cùng Joe, chúng cháu sẽ không có khả năng đi Ceylon. Joe không thích mặt trời. Anh ấy không khác gì cha cháu. Anh ấy sẽ tìm một góc tối ở đâu đó và chiến đấu với thái độ ngoan cố âm ỉ.”

Tất nhiên cô còn nói với tôi nhiều điều nữa, và qua đó tôi nhìn thấy chân dung một thiếu nữ hướng nội, một nhân vật nữ chính trong kịch Ibsen từ đất nước phương Bắc, tự tin trong lòng nhưng lại hay bối rối trong quan hệ với người ngoài. Nếu lúc đó có một người đàn ông, cho dù năng lực ở mức tối thiểu, mời cô đi Ceylon hay Hồng Kông, cô sẽ bỏ chúng tôi lại sau sáu phút, thời gian đủ để sắp xếp hành lý. Tình dục và sự gắn bó về mặt tình cảm không đóng vai trò quan trọng trong cuộc đời cô, nhưng cô nhất quyết đòi hỏi cả hai phải có ý nghĩa trong một thời gian dài, và nếu sau khi người đàn ông đưa cô tới Ceylon mà cô nhận thấy hoặc nơi đó hoặc anh ta không được như mong đợi, cô sẽ bỏ rơi anh ta ngay lập tức rồi đến Lima hoặc Wellington, tùy xem thành phố nào hứa hẹn một cuộc sống vẹn toàn hơn.

Tôi chẳng bao giờ biết chắc được theo cô thì cuộc sống vẹn toàn gồm có những gì. Đó không phải tình dục, hay hôn nhân, hay một gia đình ổn định, không phải một nguồn thu nhập chắc chắn, hay bất cứ điều gì làm các cô gái xao xuyến thời tôi còn trẻ. Một buổi chiều, khi tôi đề nghị cô giải thích rõ, cô nói một cách đơn giản, “Từ đó là tươm tất. Cháu muốn mọi phần đời của cháu đều có thêm được gì đó tươm tất.”

Vậy là trong đêm đầu tiên đó, khi nằm trên võng giữa cánh đồng ô liu bên sông Guadalquivir, cô quyết định là việc thu xếp chỗ ngủ mà Gretchen đưa ra sẽ là cố định. Quan hệ với Joe đã kết thúc.

Sau chuyến thăm Sevilla, khi đang ngồi bên đống lửa trại sửa soạn cho chiếc pop-top để sáng hôm sau xuống con phà chở họ sang Bồ Đào Nha, Britta nói, “Em rất thích La Rábida. Em nghĩ được đứng tại nơi Colombus đã xuất phát là chuyện có ý nghĩa đối với một người Na Uy hơn là đối với mọi người khác trong các bạn.”

“Tại sao?” Gretchen hỏi.

“Nó chứng minh rất nhiều điểm trong lịch sử người Viking. Ai cũng biết chúng em đã phát hiện ra châu Mỹ hàng trăm năm trước Columbus. Nhưng việc đó không giúp chúng em làm được gì. Chúng em thừa dũng cảm nhưng lại thiếu ý tưởng. Em thường tự hỏi không biết khi trở về xứ sở, người Viking đã kể những gì cho dân của họ nghe. Em nghĩ họ đã tâu bày, ‘Ở đó có một vùng đất,’ và nhà vua chỉ hỏi, ‘Thế thì sao?’ và chỉ có vậy. Chúng em quên cả việc đã tới được châu Mỹ. Nhưng Columbus thì trở về với vô vàn ý tưởng... cuộc thám hiểm của ông đã đạt được một điều gì đó... không phải vì lòng dũng cảm mà vì những ý tưởng của ông.”

Không thấy ai phản ứng trước lập luận của mình, Britta ngả người ra phía sau, hướng mắt lên bầu trời. “Chắc nước Mỹ cũng thế thôi. Em nghĩ tháng sau người của các anh sẽ bay lên mặt trăng. Nhưng việc đó cũng chẳng có ý nghĩa lắm vì người Mỹ là người Viking của thời đại này. Dũng cảm nhưng ngốc nghếch. Người Mỹ các anh thiếu ý tưởng... và mặt trăng thì ở đó. Một trăm năm nữa, một ai đó như người Nhật sẽ đi tiếp con đường của các anh và mang theo một sức tưởng tượng phi thường, và chính họ mới là người thực sự khám phá ra mặt trăng.”

Một lần nữa lại không ai lên tiếng đáp, nhưng Britta làm tất cả ngạc nhiên khi bỗng nắm lấy tay Gretchen và Cato mà hôn. “Thật vinh dự biết bao vì được làm người Viking. Ngốc nghếch, tự cao tự đại, không có triết lý... nhưng rất dũng cảm. Cuối cùng chính người dũng cảm đứng ra dẫn đường chỉ lối.”

Cô đã vô tình động chạm vào một vấn đề đau đớn và giận dữ đến mức Cato đứng bật dậy quẳng đĩa thức ăn vào đống lửa, làm dao dĩa nảy thìa lia qua đống than hồng, “Mặt trăng quỷ tha ma bắt!” anh hét lên. “Tôi đã cố nói với các người nhưng các người có thèm nghe đâu. Cô kia, mẹ kiếp, chính cô đấy!” Và anh chỉ tay về phía Gretchen. “Hôm nay cô dám hỏi liệu tôi có nhạy cảm quá mức không? Cô tưởng cô là ai cơ chứ, một quý bà thượng lưu người Boston phán xét như một quan tòa, ‘Quá sướt mướt’ ư?”

“Anh đang nói gì thế?” Gretchen hỏi.

“Mặt trăng chết tiệt kia kìa! Tôi đang nói đến nó đấy. Và các anh em cùng màu da nữa.”

“Cato,” Gretchen cắt ngang, “anh đang nói vớ vẩn đấy.”

“Cô có nghe tôi nói đâu. Trong một thập kỷ nước Mỹ chứng kiến các thành phố của nó đi đời nhà ma - dân da đen thì sa đọa, trường học thì tan rã - việc duy nhất chúng ta làm tốt là xây đường quốc lộ. Thế thì lúc đó chúng ta làm gì? Chúng ta tuyên bố với các thành phố, với ngành đường sắt và người da đen, ‘Không có xu nào cho các anh đâu,’ nhưng chúng ta lại tiếp tục tiêu tốn - như một kẻ nghiện ma túy vào đêm thứ Sáu - hai mươi sáu tỷ đô la để đưa một người lên mặt trăng.”

“Bao giờ mà chẳng khó quyết định thứ tự ưu tiên,” Gretchen dè dặt nói.

“Tôi không nói chuyện ưu tiên,” Cato gắt. “Cô đã bao giờ xem các chương trình truyền hình về trung tâm vũ trụ chưa? Hay về công ty máy bay sản xuất phụ tùng? Hay về bất cứ vấn đề chết tiệt gì liên quan tới chương trình vũ trụ? Tổng thống mỉm cười tiến vào. Ông ta được một ủy ban mười sáu người mỉm cười đón chào. Và họ dẫn Tổng thống đi xem xét trang thiết bị... hàng nghìn bàn làm việc... mỗi bàn là một nhân viên cười tươi như hoa... và...”

Anh ngừng lại, và trong ánh lửa bập bùng, chăm chú quan sát từng người rồi kết luận, “không có đồ ngốc nào trong các bạn hiểu tôi định nói gì, phải không?”

“Điểm cốt yếu của cậu là gì?” Joe hỏi.

“Trong tất cả những bộ mặt đó, các bạn không thấy có ai là người da đen cả. Toàn bộ chương trình... hàng tỷ đô la... chi cho một việc mà người da đen bị loại trừ. Những người ngay lúc này cần được giúp đỡ hơn ai hết...” Giọng anh cất lên cao thành tiếng thét và có vẻ cô đơn lạc lõng trong cái tĩnh lặng của miền Nam Tây Ban Nha. Giận dữ đá vào đống lửa, anh nói tiếp, “Chẳng có gì tức cười khi nghĩ rằng Hoa Kỳ đã quyết tâm đổ tất cả tiền của vào chương trình chinh phục vũ trụ vì đó là việc duy nhất - trong số hàng nghìn việc cho họ tiêu tiền - người ta có thể cô lập không cho người da đen tham gia. Đâu có dễ mà mơ đến chuyện đưa người lên mặt trăng, nhưng tổng thống Kennedy đã làm được đấy thôi. Cũng như ông ta đã làm mọi việc khác để hạ thấp người da đen. Người bạn tồi tệ nhất chúng tôi từng có. Nixon còn tốt gấp đôi vì ta còn biết lập trường của ông ta.”

Britta là người phá tan bầu không khí im lặng chua xót. Cô phát biểu, “Người Viking chúng tôi lựa chọn sai lầm hết lần này đến lần khác và đã biến mất khỏi lịch sử mà chẳng lưu lại được gì. Nếu nước Mỹ của người da trắng làm như vậy thì cũng sẽ biến mất thôi.”

Cô nói một cách căng thẳng đến nỗi lúc tới giờ ngủ, Gretchen kéo cô ra một chỗ thầm thì, “Britt, nếu cậu muốn nằm chung với Joe thì chúng ta sẽ thu xếp bằng cách nào đó,” nhưng Britta nói, “Ồ không! Tớ đã quyết định không ngủ cùng giường với anh ấy nữa.”

“Anh ấy có biết không?”

“Làm sao anh ấy biết được? Tớ vừa mới quyết định mà.”

Nhưng khi Gretchen chuẩn bị leo lên giường mình, Joe chộp cổ tay cô kéo xuống cạnh anh trên chiếc giường đôi. Anh thì thầm, “Anh nghĩ em nên để Cato và Monica ngủ ở giường này. Trông hai người có vẻ khổ sở quá,” và Gretchen hỏi, “Thế còn anh và Britta?” thì Joe khẽ đáp, “Bọn anh ổn cả mà. Ý anh là em rất sáng suốt khi sắp xếp chỗ ngủ như thế này. Anh không nghĩ Britta và anh...” Anh bỏ dở câu nói, vậy là Gretchen thì thầm, “Nếu thế thì chúng ta cứ giữ vị trí như đã bàn nhé.” Và sáng hôm sau, họ vượt sang đất Bồ Đào Nha.

—★—

Cách trung tâm thị trấn Alte không xa có một công viên um tùm mà phía Đông giáp một thác nước cuồn cuộn. Đó là một quang cảnh đẹp đẽ lạ thường, vì vẻ đơn sơ mộc mạc, bục sân khấu bé tí và những con đường đi dạo viền gạch khiến nó giống một căn phòng ngoài trời rộng rãi hơn là một nơi công cộng, trong khi nước róc rách chảy qua lớp đá cuội tạo nên tiếng nhạc liên miên, dù dàn nhạc có mặt hay không.

Nổi bật trong công viên là bức tượng thô sơ tạc hình người con duy nhất của thị trấn quê hương từng đạt được chút tiếng tăm. Trên nét mặt đá cổ điển nổi bật bộ râu dài, Candido Guerreiro nhìn xuống công viên mà ông từng yêu quý; hồi ông còn sống, nó còn chưa được lát gạch. Tấm biển đặt ngay dưới bộ râu của ông có khắc:

A MEMORIA DO GRANDE POETA ALTENSE.

Bởi vì tôi sinh ra dưới chân bốn quả núi.

Nơi tiếng suối reo vui...

Người ta cho rằng đây là hai dòng mở đầu của bài thơ thi sĩ viết tặng Alte; một lần tôi đã được nghe người ta ngâm mấy câu này theo giai điệu thương tâm hơn cả bài cầu nguyện tang lễ, nên đi đến kết luận là nếu thi sĩ quá cố ấy có sống vui vẻ gần công viên này thì ông cũng không thể hiện được thực tế đó trong lời thơ của mình.

Chiếc pop-top không được phép đậu trong công viên. Một đường ống dốc từ trên một trong bốn quả núi được dẫn ngầm đến vòi đài phun nước bằng đá gắn vào chính bức tường đặt tượng nhà thơ, và tất cả đàn bà con gái thị trấn Alte phải đến chỗ đài phun nước này, kéo theo những bình đất sét nung rất lớn để hứng đầy nước. Vì vậy công viên này không chỉ là nơi vui chơi hội hè; nó còn là trung tâm thiết yếu của thị trấn, vì đây là nguồn cung cấp nước duy nhất.

Gretchen hỏi một viên cảnh sát xem họ có thể đậu xe ở đâu, và anh ta tìm cho họ một địa điểm có nhiều cây cối nằm sát thác nước, vì vậy họ ở ngay trong tầm tiếng nhạc của nó. Sau này, tại những thời điểm khác nhau, mỗi người trong sáu bạn trẻ đều kể với tôi, “Cho dù chúng cháu có đi đâu... cháu vẫn nhớ về Alte như phần thú vị nhất của cuộc hành trình.”

Một nguyên nhân khiến họ nhớ Alte với cảm tình như vậy chính là ban nhạc. Đêm thứ Sáu, thứ Bảy và Chủ nhật, các nhạc công mang theo những nhạc cụ mòn vẹt vì thời gian tập hợp ở bục để hòa tấu. Vì trong thị trấn không có truyền hình, không rạp chiếu phim và chỉ một vài cái đài cho nên các buổi hòa tấu này là nguồn tiêu khiển duy nhất, và những lúc như thế công viên chật ních người.

“Họ từ đâu ra thế nhỉ?” Gretchen thắc mắc, rồi cô bắt đầu đi tìm hiểu và được biết ít nhất một nửa số thính giả là người từ các vùng quê lân cận. “Không biết em có hiểu được hết lời họ nói hay không,” cô nói với các bạn vào một đêm khi cả nhóm đang nấu bữa tối bên thác nước, “nhưng em dám chắc họ kể một số phụ nữ phải cuốc bộ mười bốn, mười lăm dặm đấy.”

“Cả đi cả về ư?” Britta hỏi.

“Mười bốn dặm để đến đây, mười bốn dặm đi về.”

Yigal huýt sáo. Rồi đến tối thứ Bảy, họ đã hiểu ra. Khi tới công viên để xem dàn nhạc địa phương trình diễn, họ thấy những chiếc ghế mà dân thị trấn mang theo đã được xếp vòng tròn, để lại một khoảng trống lát gạch ở giữa. Ban nhạc bắt đầu chơi một khúc rộn ràng, nam nữ thanh niên nông thôn liền kéo nhau ra nhảy, và chẳng mấy chốc công viên đã biến thành một màn trình diễn đẹp mắt của chuyển động, những bộ quần áo dân dã đu đưa xoay tròn và cái gật gù của những bộ mặt nhăn nheo sạm nắng khi người già quan sát với vẻ tán thưởng.

Các bước nhảy khá phức tạp nhưng không khó, và sau vài phút nhóm bạn đứng ngoài theo dõi, Yigal nắm tay Gretchen kéo vào vòng. Anh đã học nhiều điệu nhảy dân gian ở Israel, và màn trình diễn của anh được dân Bồ Đào Nha vỗ tay khen ngợi nhiệt liệt, trong khi Gretchen, vốn có sẵn tình yêu âm nhạc, nhanh chóng nắm bắt được nhịp điệu và cố gắng theo bước nhảy khá chuẩn. Khi tiết mục tiếp theo bắt đầu, Cato mời Britta nhảy, họ thành một đôi ấn tượng vì cô biết nhiều điệu nhảy Na Uy cổ điển và dễ dàng chỉnh sửa cho chúng thích nghi với phong cách Alte, còn Cato nhảy điệu swing - đám người Bồ Đào Nha tán thưởng ầm ĩ.

Đến điệu thứ ba, viên pháp quan của thị trấn đến mời Gretchen nhảy cùng ông, và bằng cách đó bước làm quen thuận lợi của sáu bạn trẻ với cuộc sống địa phương đã bắt đầu. Họ thật trẻ trung, cách cư xử thẳng thắn có sức lôi cuốn đến mức dân lao động của thị trấn chấp nhận họ ngay. Họ được mời tới dự những bữa ăn đơn giản đến khắc khổ và phong phú đến thừa mứa. Họ đến nhà thờ cùng dân thị trấn, đi thăm bệnh cùng ông bác sĩ địa phương, tổ chức picnic trên đồi, và ngày nào cũng leo lên nơi có thể phóng tầm mắt thấy toàn bộ thị trấn như một hình ảnh thu nhỏ của một thế giới đã biến mất từ lâu. Trong mấy tuần lễ ấy, họ đã sống như người ta từng sống ở châu Âu năm trăm năm trước, và để đáp lại lòng hiếu khách của thị trấn, nhóm bạn đứng ra biểu diễn vào những tối ban nhạc không chơi.

Gretchen mang theo cây guitar, rồi, ngồi trên một cái ghế dài kê giữa đài phun nước và nhà thờ, cô chơi những khúc ballad cổ mà có lẽ mỗi bài đều bắt nguồn từ cuộc sống hàng ngày của chính những người dân kia. Thực tế này được Gretchen nhận thấy rõ vào đêm thứ Năm đầu tiên khi cô đang hát, vì cô nhìn thấy một phụ nữ nông thôn gầy khẳng khiu, mặt mũi hốc hác, có lẽ phải ngoài bảy mươi đứng bên rìa, đáng chú ý là bà ta đi cùng người con gái rất xinh khoảng mười sáu mười bảy tuổi. Cả hai đều đi chân đất và đứng tách xa đám đông, lắng nghe bản nhạc với niềm thích thú lộ rõ trên nét mặt. Người đàn bà còn vỗ tay đánh nhịp và lúc nào cũng có vẻ như sắp bật lời hát theo.

Gretchen đang băn khoăn không biết hai người mới đến ấy là ai thì một phụ nữ đứng gần đó xích lại gần nói, “Có một người tôi nói chuyện với cô rồi. Bà ta đã đi bộ mười bốn dặm đấy.” Vì vậy lúc nghỉ giải lao, cô đến bắt tay người đàn bà và kinh ngạc nhận ra bà ta chỉ khoảng trên bốn mươi. Gretchen cũng nói chuyện với cô con gái - bằng tiếng Pháp nhưng cô bé không hiểu - vì vậy họ đành đứng thế một lúc cho đến khi có người đến phiên dịch giúp.

“Vâng, tôi và con gái sống trên núi...”

“Vâng, chúng tôi đi bộ mười bốn dặm...”

“Có chứ, chúng tôi có giày dép nhưng phải để dành đến lúc nhảy...”

“Có, tôi có chồng nhưng nhà tôi làm việc vất vả quá nên chẳng thể nghĩ gì đến âm nhạc.”

“Vâng, trên núi mọi người đều biết các anh chị đang ở đây.”

Hai mẹ con cũng tham dự buổi hòa nhạc thứ Sáu, và tối thứ Bảy cô gái xuất hiện trong bộ váy quê rất dễ thương, đi bít tất có sọc nổi và giày cao gót. Hiển nhiên cô là người xinh đẹp nhất trong đám nông dân, một thực tế khiến bà mẹ hãnh diện ra mặt. Nhiều thanh niên Bồ Đào Nha đến mời cô nhảy, và đến giữa buổi tối Yigal tiến lại gần cô, cúi chào và đưa tay ra. Cô liếc nhìn mẹ thấy bà chau mày, nhưng Yigal đã đưa cô vào vòng nhảy rồi.

Họ tạo thành một cặp ăn ý, mặc dù cô cao hơn anh một chút, và lúc này Joe đã xin được nhảy cùng cô, rồi đến lượt Cato. Cô nói với họ tên cô là Maria Concepcião, và sau đó Gretchen phát hiện ra cô không biết đọc biết viết.

Đêm Chủ nhật, khi ban nhạc biểu diễn xong bài cuối cùng, Maria và mẹ cô cẩn thận gói ghém giày và váy áo đẹp định đi chân không lên núi, nhưng Gretchen đã vội ngăn lại, nói cô sẽ đưa họ về nhà. Ý kiến này quá bất ngờ khiến Maria và bà mẹ ngơ ngác không hiểu được cho đến khi Joe lái chiếc pop-top tới. Cato và Monica ở lại ân ái trong rừng, còn bốn người kia leo lên xe cùng hai người phụ nữ Bồ Đào Nha và bắt đầu men theo những con đường núi ngoằn ngoèo.

Khi cả đoàn về tới nhà Maria Concepcião thì đêm đã khuya, và sự choáng váng mà cha cô phải trải qua khi thấy vợ con về nhà trên một chiếc xe tư nhân chỉ thua mỗi cảm giác kinh ngạc của các bạn trẻ khi thấy những người Bồ Đào Nha này sống như thế nào. Họ chỉ có một túp lều một gian xây bằng đá, nền nhà đất, một cửa sổ và một lò sưởi tỏa khói khắp phòng. Giường của họ là một tấm nệm rơm đặt trên những tấm ván cách mặt đất vài phân; Gretchen và Britta thấy hình như cô gái phải ngủ cùng cha mẹ ở đó.

Căn phòng khá tuềnh toàng, chỉ có một cái bàn ọp ẹp và một cái tủ nhỏ, hiển nhiên là chỗ ba người cất quần áo, xoong nồi bát đĩa và bất kể của nả nào mà họ cóp nhặt được. Đáng chú ý là trong hoàn cảnh thiếu thốn, gần như không có tiện nghi gì như vậy, Maria Concepcião lại có thể ăn mặc đẹp đẽ đến thế ở vũ hội. Gretchen quan sát cô bé cẩn thận cất bộ váy áo quý giá vào tủ, còn Britta, vốn đã quá quen với cảnh nghèo khổ, lại quay mặt đi vì nước mắt cô đã rân rấn.

Maria và cha mẹ cô dốc hết sức bày tỏ lòng mến khách. Nhà không có ghế, họ ra hiệu chỉ chiếc giường thấp tè mời khách ngồi. Không có trà, họ rót một chút xíu loại rượu đồ nguyên chất nhất thế giới. Không có bánh ngọt, họ mang ra vài mẩu bánh mì nhỏ và pho mát cứng. Không có ngôn ngữ chung, họ nói chuyện như mọi người vẫn làm trong hoàn cảnh tương tự, bằng cử chỉ, nụ cười và cách lắc gật đầu, nhưng Gretchen vẫn làm cho hai người phụ nữ hiểu được là thứ Năm tới cô và Joe sẽ đưa xe lên đón họ xuống thị trấn. Ba người Bồ Đào Nha gật gù một cách thụ động, như thể đó là một việc vượt ngoài khả năng hiểu biết hay làm chủ của họ.

Tối thứ Năm, Gretchen lái xe lên núi đón Maria Concepcião, và tất nhiên Yigal cũng đi theo. Trong buổi diễn không chính thức, khi Gretchen chơi nhạc, Yigal và Maria ngồi cạnh nhau. Họ cũng làm vậy trong buổi hòa tấu của ban nhạc vào tối thứ Sáu, và trong vũ hội thứ Bảy, họ là đôi đầu tiên ra giữa sàn nhảy. Trên đoạn đường dài trở về nhà, Yigal ngồi cạnh Maria, và mặc dù không trao đổi được lời nào, họ vẫn nắm tay nhau và chia sẻ cả một thế giới ý nghĩ. Khi xe về đến túp lều, Gretchen và Britta lấy ra vài chai rượu vang và mấy giỏ đồ ăn thức uống nhỏ đem tặng, món quà được ông bố và bà mẹ đón nhận với thái độ khiêm nhường và biết ơn.

“Một trong những bữa ăn ngon nhất của cháu,” sau này Gretchen kể với tôi, “là ở trong túp lều đó. Suốt quãng đời còn lại, cháu sẽ thích rượu vang và pho mát.” Dấu hiệu cho thấy đó là lần cuối cùng họ được đến thăm túp lều đã xuất hiện khi Gretchen tình cờ nhìn thấy ông bố cau mày, liền nghĩ: Ông ấy không giận dữ. Ông ấy chỉ không vui thôi. Nhưng khi ngoảnh nhìn phía sau, cô thấy Yigal đang hôn Maria.

Hai ngày sau, vị linh mục của làng ghé thăm chiếc pop-top trong lúc nhóm bạn đang quây quần ăn trưa. Rõ ràng ông muốn nói với họ chuyện gì đó, nhưng đầu tiên ông ngồi xuống cùng họ ăn qua loa một chút. Một lúc sau, ông mới nói bằng tiếng Pháp, “Maria Concepcião và cha mẹ cô ấy đề nghị các con đừng lái xe lên núi nữa.”

“Sao lại không ạ?” Gretchen hỏi. “Họ không đến vũ hội nữa ạ?”

“Họ có đến,” vị linh mục ngập ngừng nói. “Có, họ có đến.” Ông nhai nốt miếng thịt bò muối rồi nói tiếp, “Nhưng họ muốn đi bộ đến.” Ông lại do dự rồi nói thêm, “Và lúc về cũng vậy.”

“Có phải con đã làm gì sai không?” Yigal hỏi thẳng.”

“Con là người đã hôn cô ấy phải không? Không, con chẳng làm gì sai cả... mặc dù ta cho rằng thực sự tại con.”

Mọi người ngơ ngác không hiểu gì, và Britta nói lưu loát bằng tiếng Tây Ban Nha, “Thưa Cha, chúng con không hiểu.”

“Chính ta cũng không hiểu,” ông thừa nhận. “Mà ta đã học đại học rồi đấy.”

Câu này càng khó hiểu hơn, vì vậy Gretchen đề nghị, “Thưa Cha, Cha cứ nói theo cách hiểu của Cha ạ. Gia đình Maria Concepcião không muốn đi xe cùng chúng con nữa. Tại sao ạ?”

“Đó là mấu chốt của vấn đề đấy.” Ông linh mục cầm tay Yigal nói, “Rõ ràng họ quý các con. Các con đã giúp đỡ họ... rất hào phóng. Rõ ràng Maria có cảm tình với con, anh bạn trẻ. Cô bé thích được hôn, và thế cũng là lẽ tự nhiên thôi. Nhưng ở vùng núi Bồ Đào Nha này, một gia đình và một cô gái chỉ có một cơ hội trong đời. Nếu họ phạm phải cho dù một sai lầm nhỏ nhất, như đi vũ hội trên một chiếc xe đắt tiền...” Ông ngắm nghía chiếc pop-top và nói với Gretchen, “Dân thị trấn nói với ta là tất cả các con cùng ngủ trong chiếc xe nhỏ này.” Khi thấy Gretchen gật đầu, ông nhìn tay trái cô, rồi tay Britta, “Và các con vẫn chưa kết hôn. Vậy đấy, ta chắc là không có gì tệ hại cả, nhưng các con được phép làm những việc như vậy. Một cô gái vùng núi thì không được.”

“Cô ấy không làm gì sai cả, chưa bao giờ...” Yigal phản đối.

“Nhưng đáng lẽ phải cuốc bộ, cô ấy lại đi đi về về bằng xe hơi. Cô ấy đã đến tuổi phải tìm lấy một tấm chồng, hoặc ở một mình suốt quãng đời còn lại. Chỉ một sai lầm nhỏ thôi... bất cứ sai lầm nào như tỏ vẻ kiêu kỳ quá chẳng hạn...” Ông nhìn lần lượt từng người trước mặt rồi gật đầu mệt mỏi. “Đó là từ chính xác nhất ta nghĩ ra được... kiêu kỳ. Nếu người ta nói về cô ấy, ‘Cô ta là hạng người phải có một chiếc xe hơi...’ Vậy đấy, nó có thể làm tiêu tan cơ hội kiếm chồng của cô ấy. Nó có thể kinh khủng và tàn nhẫn... ảnh hưởng mà cô bé phải hứng chịu ấy.”

Ông nhìn Britta, người đã gây được ấn tượng tốt với ông, và nói, “Con là người Thụy Điển. Con sẽ hiểu những gì ta nói.”

Gretchen hỏi bằng tiếng Pháp, “Thế thì không phải tại Yigal phải không ạ? Nó là tại con?”

“Nó là tại con.” Linh mục gật đầu. “Con đại diện cho một cách sống xa hoa. Con làm người ta e ngại, và nếu thanh niên vùng này nảy ra ý nghĩ Maria sẽ thành người như con... thôi được, nói một cách đơn giản là Maria sẽ không lấy được chồng.” Ông ngừng lời, thấm mồ hôi trên trán và nói tiếp với vẻ áy náy, “Các con không hiểu đâu. Nhưng ở chỗ chúng tôi mỗi cô gái chỉ có một cơ hội thôi.”

Gretchen không nén được cơn giận. “Cơ hội?” cô nhắc lại. “Cha định nói nếu cô ấy là một cô gái ngoan, đi chân không mười bốn dặm và chỉ có một bộ váy... cha định nói là may ra cô ấy sẽ được quyền sống như súc vật trong một căn phòng không có đồ đạc... cho đến hết đời sao?”

“Tôi định nói đúng như vậy đấy,” vị linh mục đáp.

“Sẽ tốt hơn nếu cô ấy lên xe đi cùng chúng con tới Lisboa, rồi để mọi sự muốn ra sao thì ra.”

“Tốt hơn đối với con, và với cô gái này,” nói đến đây linh mục đặt tay lên cánh tay Britta, “nhưng không tốt với Maria Concepcião. Cuộc sống của cô bé phải được định đoạt tại đây.”

Không ai lên tiếng, và một lúc sau linh mục đứng lên bắt tay từ biệt từng người. Ông nói với Gretchen đêm hôm nọ ông đã nghe cô chơi guitar và cô chơi rất hay, rồi ông thêm, “Nhưng tuần này, khi mẹ con Maria Concepcião đến, cứ để họ đứng yên trong bóng tối. Còn trong buổi khiêu vũ, chàng trai, con đừng bao giờ nhảy với cô ấy nữa, vì nếu làm thế, con sẽ làm cuộc đời cô ấy thay đổi không sao cứu vãn được.” Ông cúi chào rồi rời khỏi đó.

Đột nhiên xảy ra một việc không ai đoán trước được. Yigal chộp lấy họng Joe và nói một cách cay đắng, “Đồ lắm mồm.” Thế đấy, nếu có kiểu người nào mà Joe không phải thì đó chính là kẻ lắm mồm, vậy nên không ai hiểu ý Yigal, nhưng anh đã nói tiếp: “Cậu cứ khen Bồ Đào Nha đẹp hơn Tây Ban Nha biết bao, người ta quản lý mọi việc ở đây tốt hơn biết bao. Thế đấy, điều hành một quốc gia còn khối vấn đề khác cần làm chứ có phải chỉ có mỗi nhiệm vụ giữ gìn vẻ đẹp tự nhiên cho bờ biển thôi đâu. Còn con người nữa chứ. Và ở Tây Ban Nha tôi đã được chứng kiến người ta sống... người ta đang dần thoát khỏi những căn nhà tồi tàn trên núi.”

“Ở Torremolinos cậu có bao giờ thấy người Tây Ban Nha đâu,” Joe chống chế.

“Cậu nói đúng đấy. Cậu có hiểu tại sao tớ lại lên núi không. Để được mắt thấy tai nghe. Phía sau Ronda, phía sau Granada. Tớ có thể nói cho cậu biết người Tây Ban Nha sống như thế nào bởi vì tớ đã ở đó... ở trong nhà cùng họ. Có những người sống nghèo khổ cùng cực, nhưng họ vẫn sống, và nếu có ông linh mục nào đó đến bảo một gia đình là con gái họ không nên đi nhảy, họ sẽ đá thẳng vào của quý của ông ta.”

“Thế tức là cậu thích cô gái,” Joe nói.

Cơn giận của Yigal xẹp xuống cũng bất ngờ như lúc bùng lên. “Tớ rất tiếc,” anh nói và bắt tay Joe. “Nhưng về phong cảnh còn cả đống chuyện cậu không hiểu được đâu. Thật đấy.”

Không ai nhắc đến mẹ con Maria Concepcião nữa. Tối thứ Năm tuần đó, họ vẫn đi chân trần đến nghe nhạc nhưng không chuyện trò gì với mấy người ngoại quốc. Đêm thứ Bảy, Maria xuất hiện trong đủ bộ giày và váy, trông rạng rỡ như cây dương non trên đồi, nhưng không ai trong số sáu bạn trẻ ngoại quốc hỏi chuyện cô, và một lúc sau trai địa phương bắt đầu mời cô ra nhảy.

—★—

Trong khi công viên thị trấn Alte rộn rã tiếng đàn hát thì tôi lại bị cầm chân ở Geneva. Những cuộc thương lượng với các ông chủ công ty tàu biển Hy Lạp đã kết thúc một cách bất ngờ: bằng một phép màu nào đó họ đã thu gom được gần đủ tiền để cứu khu bất động sản ở Torremolinos. Tất cả những gì họ cần từ chúng tôi là khoản vay ba triệu đô la, và ban điều hành của chúng tôi đã quyết định chấp nhận khoản này vì tin chắc đến cuối năm 1970 nhất định đám người Hy Lạp sẽ phải phá sản, rồi thì chúng tôi có thể mua được khu căn hộ của họ với giá thấp hơn mức chúng tôi định đề nghị năm nay. Những buổi thương lượng chi tiết - mà các luật sư của chúng tôi ở New York gọi là thực chất của vấn đề - kéo dài hơn dự kiến, nhưng rồi mọi việc cũng được giải quyết ổn thỏa và tự nhiên tôi có hai tuần rỗi rãi trước kỳ nghỉ phép tháng Bảy.

Trên bàn tôi có hai tấm bưu ảnh gửi từ Algarve. Tấm thứ nhất là cảnh một sườn đồi gần Albufeira phủ kín cây hạnh đang kỳ nở hoa. Mấy chữ kèm theo được viết nắn nót ở mặt sau: “Đây là thứ tuyết cháu thích,” và bên dưới ký tên “Britta”. Tấm kia là hình một trong những ống khói màu sắc đặc trưng của vùng Algarve, với một con cò như thường lệ. Nội dung như sau: “Đồ con hoang này đừng có đến gần chúng tôi thì hơn,” và ký tên “Monica và Cato”.

Hai tấm bưu ảnh đó gợi lên trong tôi nỗi nhớ nhung vì tôi đã tới Algarve từ năm 1954 và rất thích vùng này. Tôi thích môi trường trong sạch, nét cổ kính, những bãi biển đẹp tuyệt và các món ăn dân dã ngon lành của nó.

Tôi đã đến Algarve trong trường hợp nào ư? Nhờ tư chất thông minh của một người tên là Martin Rorimer. Không cần nhớ tên ông ta làm gì vì sau này tôi sẽ không nhắc đến nữa, chỉ cần biết rằng cuối Đại chiến Thế giới II ông ta đóng quân bên bờ một con sông băng ở Alaska, và một buổi chiều lộng gió, trong lúc ngắm mặt trời lặn, ông ta chợt nảy ra một ý nghĩ được ông ta gọi là “ý tưởng vĩ đại của tôi”.

Kể ra cũng không có gì phức tạp. Ông ta mường tượng về một tương lai khi hàng trăm nghìn người như ông ta sẽ mơ ước có một nơi nắng ráo yên tĩnh gần biển. “Đất đai dọc bờ biển,” ông ta tự nhủ. “Bí quyết chỉ có vậy.”

Nhiều người, có thể một hai lần trong đời, từng ấp ủ những ý tưởng vĩ đại, nhưng chẳng mấy người thực hiện chúng. Ông ta thì có. Vừa được giải ngũ, ông ta liền đem đổi toàn bộ tiền tiết kiệm của mình thành tiền mặt, vay mượn thêm của bạn bè được chừng nào hay chừng nấy, và thuyết phục bà mẹ cho ông ta hưởng trước phần thừa kế. Ông ta đã làm gì với số tiền đó? Ông ta quay lại tất cả những nơi ông ta đã đến thăm trong mười lăm năm qua và tậu bất cứ mảnh đất đầu thừa đuôi thẹo nào mà ông ta tìm ra được dọc bất cứ bãi biển nào. Khi niềm khát khao mà ông ta tiên đoán đó trở thành sự thật, ông ta đã có đất đai bên bờ đại dương để bán.

Ông ta gặt hái được thành công đáng kể nhất ở Hawaii (mỗi mẫu đất mua với giá $4.000, bán $167.000) và ở St. Thomas thuộc quần đảo Virgin (mua $3.000, bán $139.000). Ông ta còn tậu thêm đất dọc Địa Trung Hải, ở miền Nam nước Pháp, ở Acapulco, ở vùng rừng núi phía Bắc Seattle, và ở Costa Brava thuộc Tây Ban Nha. Nhưng thương vụ mạo hiểm nhất của ông ta là sáu trăm mẫu Anh thuộc loại tốt nhất dọc bờ biển phía Nam Thổ Nhĩ Kỳ; ông ta tin chắc rằng đến năm 1973 khu đất ấy sẽ đáng giá cả một gia tài.

Khi kế hoạch thu mua đã hoàn thành, Rorimer bay tới Geneva đề nghị World Mutual đứng ra quản lý toàn bộ đất đai cho ông ta. Chúng tôi chấp nhận, vì ông ta kiểm soát đến nửa tá địa điểm mà chúng tôi muốn phát triển, và tôi được hân hạnh bay khắp thế giới cùng ông ta để xem xét những thứ ông ta đã tậu được, vì trong thời gian đầu mỗi lần bán được một mảnh ở Hawaii có lãi là ông ta lại tái đầu tư phần lớn số tiền đó tại những vị trí gần đại dương như ở Úc hay Nhật Bản.

Nhưng mảnh đất ông ta thích nhất lại nằm tại một địa điểm không mấy ai biết đến ở Bồ Đào Nha có tên là Algarve. Lần đầu tiên ông ta nhắc đến cái tên này, hôm chúng tôi đang ở Barcelona, tôi còn chưa từng nghe đến nó, nhưng khi bay cùng ông ta tới Faro, tôi đã ý thức được tầm vóc lớn lao chưa được đánh thức của vùng này cùng tiềm năng của nó trong một thế giới càng ngày càng đông.

Lúc này ngồi ở Geneva, tôi chợt nghĩ đến việc đi Algarve một chuyến, nhưng tôi không thể nói được là để ngắm những bãi biển trắng xóa và những cái ống khói hay để gặp các bạn trẻ mà tôi biết là đang ở đó. Tôi định bay xuống đó kiểm tra một khách sạn mà chúng tôi đang xây dựng. Tôi chợt nghĩ: Nhưng mình có biết họ hạ trại ở đâu đâu. Rồi tôi tự giải thích rằng vì Algarve không lớn lắm nên chắc chắn cư dân sẽ biết chỗ của bất cứ thứ gì thu hút sự chú ý như chiếc pop-top màu vàng.

Cuối cùng chính một việc nhỏ nhặt lại khiến tôi đi đến quyết định. Đang ngồi nhàn rỗi, tôi cầm tấm bưu ảnh của Britta lên, hình dung ra khuôn mặt cởi mở, dễ thương và tràn đầy sức sống của cô. Đột nhiên tôi thấy mình nhất thiết phải biết được cô và các bạn đang làm gì lúc này, thế là tôi vớ lấy một bộ đồ cạo râu nhét vào cái cặp đựng hồ sơ về những khu đất ở Algarve và lên đường ra sân bay.

Quần áo ư? Mấy năm trước tôi đã bị cuốn vào một cuộc tranh luận về vấn đề này. Một cặp vợ chồng người Mỹ nghe tôi giải thích rằng hành lý của tôi rất gọn nhẹ vì tôi duy trì sáu, bảy nơi cất quần áo tại những thành phố cửa ngõ trên khắp thế giới - có thể kể Tokyo và Roma ra làm thí dụ - và tôi bay đến những thành phố đó như thể di chuyển từ ngôi nhà thành thị ra trang trại vùng ngoại ô. Ông chồng khịt mũi, “Vô lý,” rồi khi tôi khẳng định rằng có một số người cũng làm như vậy, bà vợ bảo, “Chắc ông đang nói đùa.” Hôm đó chúng tôi đang ở Bombay và tôi hỏi họ định đi đâu, ông chồng liền đáp, “Bangkok.”

“Khách sạn nào?”

“Erawan.”

“Được rồi. Khi đăng ký khách sạn, ông bà cứ đề nghị nhân viên trực tầng cho xem gian phòng nơi họ trông giữ loại hành lý như vậy. Đồ của tôi cũng ở đó.” Tôi hy vọng họ sẽ kiểm tra.

Từ lần đầu tiên du lịch phương Đông, tôi đã có thói quen đi tay không tới Hồng Kông rồi đến ngay hiệu của Jimmy Yen để đặt một lúc bảy hay tám bộ com lê và một tá áo sơ mi may đo mà chỉ mất chưa tới hai trăm đô la. Jimmy cung cấp cho khách hàng va li bìa cứng, và chúng tôi sẽ rời khỏi đó với những cái hộp in lời tuyên bố: Tôi mặc rất đẹp. Tôi may quần áo ở hiệu Jimmy Yen, Cửu Long, Hồng Kông. Do thường xuyên phải đến Algarve vì vấn đề đất đai nên tôi đã để sẵn ở thị trấn Faro một chiếc va li hiệu Jimmy Yen xếp đầy com lê và áo sơ mi.

Các bạn trẻ của tôi đang ở đâu? Tôi hỏi thăm nhiều nơi nhưng không ai trông thấy họ, và chuyến bay của tôi không khéo lại thành vô ích. Song, trong quá trình tìm kiếm, tôi được hai người mách cho, “Có một người Anh tên là Churchill việc gì cũng biết. Ông ta năng lui tới một quán bar ở Albufeira. Có lẽ ông ta biết đấy.” Hy vọng may ra thì được, tôi mượn xe công ty và lái tới Albufeira, tìm kiếm khắp các bar cho đến khi tới một quán ở quảng trường. Ngồi trong góc quán là một người đàn ông cao gầy, vẻ ngoài nhếch nhác, chân đi giày quần vợt, khuỷu tay đặt trên bàn, cái cằm không cạo tì lên những khớp đốt ngón tay xương xẩu. Mặt mũi ông ta xám ngoét như da thằn lằn và bơ phờ như người ốm.

“Ông là Churchill?” tôi hỏi. Ông ta gật đầu xuống chưa đến một centimet, đôi mắt thằn lằn nhìn tôi chằm chằm. “Ông có thể cho tôi biết liệu một nhóm sáu thanh niên... trong đó có một người da đen...” Ông ta lại gật đầu khẽ đến nỗi khó nhận thấy. “Họ có ở Albufeira không?” tôi hỏi tiếp. Ông ta khẽ lắc đầu. “Alte,” ông ta nói như thể ngay cái tên thị trấn cũng đáng kinh tởm.

Tôi thấy thái độ của ông ta khá khó chịu và đang định bỏ đi thì ông ta rên rỉ, “Ông không uống bia sao? Ông biết không, rất ngon đấy.” Tôi gọi hai vại, và vừa uống từng hớp ông ta vừa kể về sáu kẻ trôi dạt mà tôi đang tìm kiếm.

“Cô gái Na Uy... điềm tĩnh như bò rừng... một cô công chúa Viking thực sự. Cậu da đen của ông thì khá bồn chồn. Không bao giờ thoải mái trong mối quan hệ với Monica. Ông có biết cô ta là con gái Sir Charles Braham không? Khá ra dáng một tiểu thư người Anh, nhưng tôi dám cá thực chất cô ta là loại lông bông bất trị. Còn cậu Do Thái ư?... Tôi không ưa dân Do Thái. Láu cá quá mức. Anh bạn của ông cũng như những người khác thôi. Cô gái Boston ư? Cô này thâm trầm đấy. Cô ấy đi với đám này chỉ phí thời gian thôi.” Ông ta quan sát tôi kỹ càng, và tôi cảm thấy nếu có ai đó tình cờ hỏi về tôi, ông ta cũng có thể đưa ra một bức phác thảo tương tự. “Ôi, phải rồi. Tôi chưa nói đến Joe. Cậu ta khá tách biệt. Cậu ta giống tôi ở nhiều điểm.”

Tôi nhìn ông ta chằm chằm, thầm kinh ngạc về sự so sánh ấy. “Tôi đi đường nào thì đến được Alte?” tôi hỏi. “Đi theo đường đến Silves rồi rẽ phải.” Ông ta chẳng buồn đứng dậy khi tôi bỏ đi.

Khi tới vùng ven thị trấn Alte dưới chân đồi, tôi dừng lại trước một quán bar hỏi thăm xem có ai biết mấy người Mỹ ở đâu không, và tôi chưa dứt lời, đám đàn ông đang quanh quẩn ở đó đã hiểu ngay tôi muốn gì. “Trên kia!” họ kêu lên với vẻ thích thú rõ rệt, và ba người trong bọn leo lên xe cùng tôi vì họ biết nếu giúp người Mỹ thì sẽ được mời rượu hay có khi còn được nghe guitar nữa.

Họ hướng dẫn tôi đi qua một con đường rải đá cuội tới công viên, nơi có nhiều phụ nữ đang hứng nước vào bình. Họ chỉ cho tôi chiếc pop-top ở phía lùm cây xa xa. Britta, đang ngả người thoải mái trên ghế ngoài trời cạnh chiếc Volkswagen, nhìn thấy tôi trước tiên. “Chú Georges kìa!” cô reo mừng, vậy là ngay lập tức các bạn khác ùa ra khỏi xe và Cato lắc lấy lắc để tay tôi mà hét, “Ông già láu cá này! Ông không xa chúng tôi được hay sao!”

Tôi chỉ ba người dẫn đường, và Cato làu bàu, “Ba kẻ đói khát nhất Bồ Đào Nha đây,” nhưng anh vẫn mang rượu vang và pho mát ra thết họ - sau đó chúng tôi sum họp bên cạnh thác nước đổ ào ào.

—★—

Không có gì đáng ngạc nhiên khi Churchill đánh giá Monica chính xác đến thế vì những ngày Gretchen lái pop-top xuống Albufeira để đi chợ hay tận hưởng niềm vui được ngắm biển, cô gái người Anh, vốn có cái tài kỳ lạ ngưu tầm ngưu mã tầm mã, đã lập quan hệ mật thiết với Churchill và bắt đầu mua hàng của ông ta rồi sử dụng dưới sự hướng dẫn của ông ta. Một liều là một vuông giấy thông thảo nhỏ, dài khoảng một inch, rộng nửa inch, ở giữa mảnh giấy đó có một vết bạc màu xam xám. Churchill cất chúng trong ví, vì vậy cả bốn mép đều bị quăn, và nếu anh là người mới thử lần đầu thì phải xé mẩu giấy ra làm hai và chỉ nhai một nửa liều rồi nuốt từ từ trước khi tiến tới cả liều, mà như vậy thì đã là nghiện nặng rồi. Khi nhai, người ta không thấy có mùi vị gì đặc biệt cả.

Lần thử đầu tiên, đúng như dự đoán, Monica nuốt trọn cả liều, lại là một liều với vết bạc màu lớn hơn bình thường, nhưng Churchill đã có kinh nghiệm xử lý những trường hợp như thế, vì vậy trong cuộc phiêu lưu lần thứ hai này Monica đã nếm trải mùi lysergic acid diethylamide tartrate 25, loại ma túy được những kẻ cùng hội cùng thuyền của cô biết đến với tên gọi LSD-25. Cuộc phiêu diêu do ngấm thuốc của cô kéo dài bảy tiếng, và trong suốt nửa sau của thời gian ấy năm bạn trẻ đã bổ đi khắp nơi tìm cô, và càng lúc càng thêm lo lắng vì không thấy cô đâu. Cato là người đầu tiên nghĩ đến gã người Anh ở quán bar, và quả đúng như vậy, khi anh và Britta tới đó hỏi thăm, người hầu bàn trả lời bằng tiếng Anh không trôi chảy lắm, “Cô ấy đến đây. Bây giờ phòng ông ấy, tôi nghĩ thế.” Thấy mắt Cato long lên giận dữ và ghen tuông, anh ta bật cười. “Không kim đại. Ssstt!” anh ta nói, và làm bộ điệu cắm một cây kim tưởng tượng vào cánh tay.

Được dúi năm escudo, người bồi bàn nhanh nhảu chỉ nơi Churchill sống; nó nằm trên tầng ba một ngôi nhà rất cổ trông xuống biển, và khi đến cửa phòng ông ta, hai người nghe thấy từ bên trong vọng ra tiếng Monica vừa cười vừa rên xen lẫn giọng Churchill rên rỉ trấn an cô, “Sẽ tuyệt diệu lắm. Mọi thứ ổn cả thôi.” Khi Cato đẩy tung cánh cửa, Britta chạy vào trước thấy Monica gần như trần truồng nằm trên chiếc giường bừa bãi, đầu ngật về phía sau trên chiếc gối dính sáp thơm, đồng tử giãn ra và có vẻ như tràn ngập những ảo ảnh dị thường.

“Ông đang làm trò khỉ gì thế này?” Cato hét lên, nhưng Churchill chỉ nói, “Suỵt. Chúng ta không được đánh thức cô ấy đột ngột, phải không?”

“Ông là đồ chó đẻ!” Cato gầm lên và lao tới gã người Anh gầy đét, nhưng ông ta lặng lẽ tránh sang bên. “Đừng làm gì dại dột,” ông ta nói. “Cô ấy đang thoát khỏi ảo giác và cần yên tĩnh.”

Vậy là Cato và Britta đành ngồi xuống sàn nhà, theo dõi Monica từ từ trở lại những phản ứng gần như bình thường. “Thật mênh mông,” cô rên rỉ nhắc đi nhắc lại. Cô không còn cách nào khác để miêu tả về cuộc phiêu diêu của mình; chỉ là cảm giác mênh mông theo một kiểu huy hoàng nào đó.

“Em về báo với các bạn là chúng ta đã tìm được cô ấy thì hơn,” Cato bảo Britta. Sau khi cô đi, anh liền mặc quần áo cho Monica, lúc này đang dao động giữa sự kiểm soát tư duy bình thường và cảm giác trôi lại cõi hư ảo. Rốt cuộc, khi nhận thức được mình đang ở đâu và với ai, cô hôn Churchill và kêu lên, “Ông bạn yêu quý, ông bạn thân mến! Tuyệt hơn ông nói gấp mười lần.” Và những lời đầu tiên cô nói với Cato đã xác lập một kiểu mẫu mà cô kiên quyết trở đi trở lại với nó trong suốt thời gian còn lại ở Bồ Đào Nha: “Cato, anh phải thử đi! Màu sắc... cảm giác... Chúa ơi, làm tình khi lên đến đỉnh điểm cuộc phiêu diêu... Cato, chúng ta phải thử đấy nhé!”

Khi mọi người đưa được cô lên chiếc pop-top và quay về Alte, nơi không khí thoáng mát hơn, đầu óc Monica mới trở lại tỉnh táo và cô nói mạch lạc, “Cuộc phiêu diêu ấy làm cho giác quan của ta tách ra và mở rộng. Tất nhiên, ta vẫn chỉ có năm thôi, nhưng mỗi giác quan dường như có tầm quan trọng gấp đôi. Em nhớ mình nhìn lớp vữa không phẳng trên tường. Những chỗ lồi biến thành núi non. Một mảng tường tróc vữa thành dãy Alpes, đầu mỗi chỗ lồi là đỉnh núi. Em nghe thấy Churchill nói, “Sẽ đẹp lắm.” Em nghe được các lời nói. Em hiểu chúng. Và em biết là em hiểu. Các anh biết không, suốt thời gian đó ta vẫn nhận biết được. Ta nhận biết được mọi việc.” Cô ngừng lời, nhớ lại tác động của những lời Churchill nói, rồi tiếp tục, “Chỉ ba từ! Nhưng chúng trở thành bài diễn văn cao thâm nhất em từng nghe. Như thể ông ta là ngài Churchill thật, lại thêm cả Hitler và Mussolini... một diễn thuyết gia tuyệt vời. Ông ấy mất khoảng mười lăm phút để nói ‘Sẽ đẹp lắm,’ nhưng trong suốt thời gian đó dân chúng hoan hô nhiệt liệt. Chúa ơi, họ hoan hô ghê lắm.”

Cô lại quay về với lời dụ dỗ quyết liệt của mình, “Các bạn à, phải thử đi. Thực ra, lần đầu ở Torremolinos ấy... với bao trở ngại... nó chẳng là gì cả. Nhưng thử một cách nghiêm túc... với Churchill hướng dẫn... một liều đích thực với chỗ nằm hợp lý. Đó là kinh nghiệm tuyệt vời nhất em từng trải qua. Em nói cho các anh biết, chuyện đó còn tuyệt hơn gấp trăm lần quan hệ tình dục thỏa thuê ấy chứ.”

Cô nhất định rủ Britta và Gretchen tham gia chuyến phiêu du lần sau, nhưng cả hai đều xin kiếu. Yigal cũng từ chối, còn Joe nói, “Chắc em điên mất rồi.” Song cô đã thuyết phục được Cato, vì vậy ba ngày sau hai người cuốc bộ đi vẫy xe quá giang vào thị trấn với thỏa thuận là khoảng mười tiếng sau chúng tôi sẽ đưa xe đến đón họ.

Khi Britta đưa chúng tôi tới căn phòng ám bụi của Churchill, Cato và Monica đang nằm trên giường trần như nhộng, còn lão Churchill thì liếc nhìn họ với vẻ đểu cáng. “Đây là một chuyến chu du mà họ sẽ không bao giờ quên,” ông ta khẳng định với chúng tôi, và khi Cato và Monica về Alte, những gì họ kể với chúng tôi chứng minh cho lời tiên đoán của ông ta: “Anh đã bao giờ tự hỏi tình dục sẽ như thế nào khi lên đến đỉnh cao của sự hoàn hảo suốt hai mươi bốn giờ chưa?” Monica hỏi, và Cato đáp, “Cũng không tồi.”

Vậy là sức ép quy y nhập đạo lại tiếp tục, hôm thì Britta, hôm thì Yigal phải đương đầu. Một buổi sáng, khi Monica khăng khăng đòi Britta phải thử LSD vì nó sẽ giúp cô mở mang đầu óc, cô gái Na Uy đáp, “Sáng nào thức dậy nhìn thấy mặt trời, đầu óc tớ cũng được mở mang rồi. Cậu không hiểu đâu. Cậu có bao giờ phải ở Tromsø suốt mùa đông đâu.”

Yigal gay gắt hơn. “Anh nhức đầu với các phép tính lắm rồi. Anh chắc chắn không muốn làm rối beng chút trí lực mình có đâu,” thế là Monica kêu lên, “Anh chỉ là đồ gà con, gà con, gà con,” Yigal nhìn cô trừng trừng, nhưng Joe đã lên tiếng, “Anh nghĩ em dùng từ sai rồi, Monica. Không thể gọi chàng gà trống bantam nhỏ con này như vậy được.”

Monica bực bội quay về phía tôi hỏi, “Chú George, chú từng làm việc ở châu Á, nơi người ta biết về việc mở mang đầu óc. Chú thấy thế nào?”

“Chú không hiểu sao lại có người dám liều với một loại ma túy chưa được kiểm nghiệm,” tôi vừa mở lời thì Joe đã xen vào, “Tại vì cô ấy quá ngốc nghếch.” Ý kiến của Joe làm dấy lên một cuộc tranh luận, trong đó Monica khẳng định, “Đây là một bước phát triển mới của loài người. Quỷ tha ma bắt, chú George, chú thì làm gì có hy vọng hiểu được. Trước năm 1938, loại này còn chưa được tìm ra cơ mà. Có ai thử nó trước năm 1943 đâu.”

“Sao em biết?” Joe hỏi.

“Churchill nói với em. Ông ta sản xuất đủ cho toàn bộ Algarve. Hóa chất thì ông ta mua ở Thụy Sĩ. Nhưng vấn đề là ở chỗ, đây là một kinh nghiệm mới và các bạn không thể loại bỏ nó khi chưa thử.”

Tôi không ngờ lập luận này lại bén rễ trong một trí óc mà tôi từng đánh giá ít khả năng tiếp thu cái mới nhất. Một buổi sáng, tôi và Joe đang nói chuyện bên cạnh bức tượng nhà thơ thì Gretchen đến tìm tôi và nói, “Chú George, cháu nhờ chú một việc. Chú làm ơn coi sóc cháu trong lúc cháu thử LSD.”

“Em mất trí rồi à?” Joe hỏi.

“Không, nhưng em muốn được mất trí. Em không biết Monica nói có đúng không. Đây là ảo ảnh về tương lai. Nó có thể là một mẫu hình cuộc sống hoàn toàn mới.” Cô nhìn xuống hai bàn tay mình và nói tiếp, “Chúa biết rõ là em không tán thành cách sống hiện tại của bản thân.”

“Cô tưởng LSD sẽ đưa ra một giải pháp sao?” tôi hỏi.

“Cháu chẳng tưởng gì cả. Nhưng cháu muốn tự mình kiểm chứng.” Cô lại nhìn xuống hai bàn tay. “Điều cháu cần là một ảo ảnh về thế giới - một ảo ảnh nhất quán trong đó mọi thứ đều đâu vào đấy. Cháu không thể tự mình nghĩ ra được.” Cô cố gắng nuốt cục nghẹn trong cổ họng. “Cháu tuyệt đối không thể tự mình làm được.”

“LSD cũng không làm được,” Joe can ngăn.

“Nhưng cũng có thể chứ.”

Cô quyết tâm đến nỗi cuối cùng tôi đành phải đồng ý lái xe đưa cô xuống Albufeira, và chúng tôi gặp Churchill ở đó, trông ông ta vẫn xám ngoét như trước, mấy sợi tóc lưa thưa được chải ép xuống cả hai bên trán. Gretchen nói, “Monica giới thiệu tôi. Cô ấy bảo ông sẽ giám sát...”

“Sáng nay tôi bận rồi.”

“Tôi rất tiếc,” Gretchen nói, và nỗi thất vọng của cô lộ rõ đến nỗi Churchill nắm lấy cánh tay tôi nói, “Nhưng nếu ông đây bằng lòng ở bên cạnh cô thì không có vấn đề gì.”

“Tôi có biết gì về LSD đâu,” tôi phản đối.

“Ông không cần biết gì cả. Chỉ cần ngồi bên đối tượng và thỉnh thoảng trấn an cô ấy thôi. Ông biết đấy, hình ảnh trở nên rối loạn, nên cần phải có một điểm làm chuẩn.”

Ông ta thuyết phục được Gretchen tin vào lý luận này, và xác nhận lại lần nữa khi nói, “Dù sao đi nữa, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu cô chỉ dùng một nửa liều thôi.” Ông ta dẫn chúng tôi lên căn phòng ở tầng ba, rồi trong khi tôi ngắm biển, ông ta móc từ ví ra một liều, giơ lên ngược sáng để xem nó chứa khoảng bao nhiêu LSD, khéo léo xé ra làm đôi và đưa một phần cho Gretchen kèm theo lời dặn, “Để tờ giấy thông thảo tan trong miệng rồi hãy nuốt.” Và ông ta biến luôn.

Khi Gretchen vẫn còn cầm nửa mảnh giấy mỏng tang trong tay, tôi cố gắng lần cuối thử can ngăn cô đừng làm xáo động tâm trí mình, “Cô không cần thứ đó đâu,” tôi lựa lời khuyên nhủ, nhưng cô nhắc lại cái điệp ngữ mà thế hệ tôi phải nghe ở khắp thế giới: “Làm sao cháu biết được nếu bản thân chưa thử?” Tôi bắt đầu mất kiên nhẫn với cách lý sự như vậy ở một cô gái tài năng là thế nên liền gắt, “Chẳng lẽ cháu ăn học đến nơi đến chốn như vậy mà không biết là một số việc cần được tiếp cận dựa trên sự từng trải của tổ tiên hay sao? Giả sử cháu có mang và muốn dùng thalidomide để làm dịu bớt căng thẳng, thì tôi sẽ khuyên cháu, ‘Qua những hậu quả khủng khiếp mà chúng tôi chứng kiến tại Đức, chúng tôi biết rằng phụ nữ có mang không nên dùng thalidomide.’ Vậy thì liệu, bất chấp bằng chứng ấy, cháu có cảm thấy mình cần phải tự mình chứng minh sự thật đó một lần nữa không?”

Vốn là cô gái thông minh, cô dừng lại, nhìn mảnh giấy và phân tích những điều tôi vừa nói. Qua cách cô nhíu mày, tôi cho rằng cô đã nhất trí với lý lẽ của tôi, và tôi tưởng cô sẽ xé mảnh giấy đi. Nhưng thay vào đó, cô lại run run nói nhỏ, “Chú không thể đoán cháu khốn khổ thế nào đâu. Nếu LSD chứa đựng một khả năng dù là mỏng manh đưa ra được lời giải đáp...” Cô bướng bỉnh đút tọt mảnh giấy vào miệng.

Cô ngậm mảnh giấy khoảng một phút, trong thời gian đó vẫn nói chuyện với tôi, “ít nhất vị của nó cũng không tệ.” Tôi nhìn cô nuốt và chờ đợi một phản ứng tức thời nào đó, nhưng không có gì xảy ra cả. Cô vẫn hoàn toàn bình thường, và suốt gần một tiếng đồng hồ chúng tôi nói về chuyến đi cắm trại từ Torremolinos đến Bồ Đào Nha.

Thế rồi, bất ngờ, cô chìm vào giấc ngủ. Trong khoảng một tiếng đồng hồ cô nằm bất động, và tôi không thể không nhận thấy cô là một cô gái mới cân đối và dễ thương biết bao. Cô thiếu những nét đẹp lồ lộ nhưng lại sở hữu sự hài hòa sâu sắc giữa diện mạo, nét sôi nổi hoạt bát và cá tính, đến mức anh biết rõ rằng trên bốn mươi tuổi cô sẽ vẫn xinh đẹp hơn bất cứ cô thiếu nữ đáng yêu nào đang bao quanh cô lúc này, vì cô sẽ trưởng thành với sự tương xứng hoàn hảo của mọi cấu phần cơ thể. Cô là một trong số những phụ nữ trẻ nhất định sẽ gặp được nhiều điều tốt đẹp trong đời.

Sang đến giờ thứ ba, cô bắt đầu co giật nhẹ và rên rỉ, “Thật tráng lệ,” và một kiểu vận động bị chi phối bởi cảm giác vận động đã kiểm soát toàn bộ cơ thể cô, tựa như những đợt sóng dữ dội đang tràn qua căn phòng, ảnh hưởng trước hết đến đầu cô, rồi vai, rồi thân, và cuối cùng xuống đến chân. Hiển nhiên cô đang nằm trong vòng kiềm tỏa của một sức mạnh mà cô không kiềm chế nổi, và sẽ vẫn không kiềm chế nổi trong bốn hay năm tiếng tiếp theo. Nhớ đến lời hướng dẫn của Churchill, tôi trấn an cô, “Sẽ huy hoàng lắm đấy.”

Rõ ràng, lời tôi nói khá gần sự thực, vì cô tiếp tục lẩm bẩm những từ như “tráng lệ”, “thật êm dịu”, rồi “màu sắc, màu sắc”, và những lời đó đã ru tôi vào giấc ngủ lơ mơ dễ chịu. Qua những gì quan sát được cho đến lúc này, tôi thấy nói chung LSD cũng hữu ích và tôi bắt đầu tự hỏi mình có cần ngồi đây không.

Accccchhhhh!” một tiếng thét vang lên từ phía chiếc giường. Tôi bật dậy khỏi ghế và nhìn thấy Gretchen đang bị co kéo bởi một sức mạnh dữ dội nào đó giật mạnh đầu cô về phía này, thân về phía kia. Cô co giật loạn xạ và chỉ rú lên được một tràng điên dại, “Accccchhhhh!

Tôi cố ấn vai cô xuống đệm, vật lộn với cô như vậy một lúc cho đến khi dòng xúc cảm mạnh mẽ đó giảm bớt, rồi cô rũ xuống, vừa thổn thức khe khẽ vừa run lên với từng cơn co giật dữ dội khiến toàn bộ cơ thể cô căng ra theo những cơn sóng ngược. Suốt cả thời gian ấy, cô không nói một lời nào. Mặc dù rất khiếp sợ, tôi vẫn cố trấn an, nhưng cô không nghe thấy.

Trong chu trình này, lặp đi lặp lại ba lần, hai tiếng đồng hồ nữa trôi qua và nỗi lo ngại trong tôi mỗi lúc một tăng, nhưng sang đến giờ thứ năm, cô lại chìm vào giấc ngủ hiền hòa và một lần nữa vui thú với những ảo ảnh lúc trước đã khiến cô hân hoan đến thế, vậy nên tôi đoán cơn khủng hoảng đã qua và cô sẽ nằm im trong khoảng thời gian còn lại của cuộc phiêu diêu. Tôi rất mừng là mình đã ở đó trong những giờ phút gay cấn nhất và tự hỏi không biết cô có thể làm được gì nếu chỉ có một mình khi bị nỗi thống khổ vô cùng hành hạ.

Căn phòng thật yên ắng. Đột nhiên cô rú lên một tiếng kinh khủng hơn lần trước nhiều, rồi cơ thể bắt đầu bị hành hạ bởi một cơn co giật dữ dội mà tôi không làm sao ngăn chặn được. Thật ghê rợn khi phải chứng kiến tác động của nó lên cô: mặt méo mó, vai co giật, chân tay quẫy đạp, và trên hết là những tiếng thét của cô gái trong cơn đau đớn.

Lúc này tôi đã bắt đầu đổ mồ hôi - chảy ròng ròng từ nách xuống, mùi khó chịu đến buôn nôn - trong khi vật lộn với cô gái đang mê muội. Dù gắng hết sức, tôi cũng không thể giữ Gretchen nằm im trên giường được vì lúc thì đầu, lúc thì chân cô trượt xuống sàn, co giật và quằn quại như thể chúng có đời sống riêng. Váy áo cô đã rách tươm, và trong một khoảng thời gian đáng sợ, chính tôi cũng bật cười như phát cuồng, có lẽ vì tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là trông cô giống một ả gái điếm Ai Cập trụy lạc ở cảnh quay yến tiệc trong một bộ phim do Cecil B. DeMille đạo diễn.

Thế rồi, lần đầu tiên cô bật lên từ chết. Lúc đầu cô còn nói giọng khe khẽ, khàn khàn, rồi với nỗi khiếp sợ càng lúc càng tăng cho đến khi căn phòng nhỏ dường như tràn ngập hiện diện của Thần Chết, đích thân đến đón cô đi. Cô cầu xin, quằn quại trốn tránh ông ta, van tôi cứu giúp, ý thức được tên tôi và việc tôi đang ở bên cô. Mặt cô xám ngoét, có lúc cô chìm vào cơn hôn mê giảm trương lực mà tôi tưởng như là biểu hiện của cái chết hay trạng thái hấp hối.

“Gretchen!” tôi hét lên, tát vào mặt cô để làm cô tỉnh lại. Lúc này khắp người tôi đã đầm đìa mồ hôi; tay tôi ướt đẫm và trơn tuột khi tôi túm lấy vai cô mà lắc.

“Chết!” cô nhắc lại và cầu xin thống thiết, “Chú George, đừng để cháu chết.”

Dù đã làm hết cách nhưng vẫn không có kết quả, tôi đành đau đớn nhìn cô dần dần đi đến cái chết; hơi thở cô dường như đã tắt, tay chân cô đã bắt đầu cứng đơ. Tôi tìm được một cái cốc bèn hứng đầy nước lạnh rồi hắt vào mặt cô, nhưng làm thế chẳng có tác dụng gì mà chỉ làm cho tóc cô trông như đống dây hay đám rắn. Miệng cô há hốc, lưỡi thè ra, và trông cô thật gớm ghiếc.

Đau đớn và bất lực, tôi ra đầu cầu thang hét gọi Churchill, nguyền rủa ông ta, quy trách nhiệm cho ông ta về tai họa này, nhưng tất nhiên ông ta không đáp lại. Ông ta còn đang bận bán ma túy ở Faro và các cảng khác dọc bờ biển.

Khi tôi quay vào bên giường, Gretchen đã không còn chống chọi nổi với trạng thái thụ động mà về phương diện nào đó tôi thấy còn đáng sợ hơn cả trạng thái chủ động vì lúc này cô rền rĩ là lũ rắn đang trườn khắp người cô, những cái đầu lạnh toát ngoáy vào nách và dưới sườn cô. Những chuyển động huy hoàng ban đầu từng quyến rũ cô một cách dễ chịu giờ thoái hóa thành đàn rắn ngọ nguậy, gây ra những tiếng kêu la kinh hoàng mới.

“Trời ơi, trời ơi, hãy đuổi chúng đi!” cô van xin. Trán cô đầm đìa những giọt mồ hôi sáng lờ mờ trong căn phòng tối và cô tiếp tục run rẩy khi đàn rắn tấn công.

“Giết chúng đi!” cô van xin, và một lần, khi tôi lại gần giường định vỗ về cô, cô liền giữ chặt tay tôi và nài nỉ tôi hãy tìm một cái chổi. Thể nào trong góc phòng cũng có một cái. Tôi phải cầm chổi xua đàn rắn đi.

Sang đến giờ thứ sáu, cái chết trở lại lần nữa. Cô lăn lộn trên giường, la thét khủng khiếp khiến tôi kinh hãi phải quay người đi, nhưng Gretchen, lo sợ tôi sẽ bỏ cô, bèn bò ra khỏi giường túm lấy chân tôi, cầu xin tôi ở lại. Chạm tay vào đôi giày da cứng của tôi, cô tìm được cảm giác yên lòng cần có bèn sụp xuống sàn, và tôi không sao vực cô lên giường được. Cô nằm lại ở đó, co quắp run rẩy.

Tôi không thể mô tả chính xác nửa tiếng đồng hồ tiếp vì đó là một địa ngục khủng khiếp với tiếng rên la, tiếng thổn thức và cả tá cánh tay chộp lấy tôi. Tất nhiên, khi nghĩ lại, tôi nhận ra không phải Gretchen sắp chết; chỉ là cô phải chịu sự chi phối của một ảo giác mạnh mẽ nào đó, nhưng tại thời điểm ấy, đó đúng là kinh nghiệm hãi hùng nhất tôi từng trải qua. Tôi càng hoảng hồn hơn khi cô trở lại với tiếng thét “Accccchhhhh!” kéo dài - nhưng sau hơn chục lần bật ra tiếng kêu này, cô bắt đầu thư giãn và những đợt sóng nhè nhẹ truyền khắp cơ thể cô lúc khởi đầu cuộc phiêu diêu đã trở lại, mang theo những màu sắc không ngừng mở rộng cùng những âm thanh kéo dài.

Cô ngủ suốt giờ thứ bảy, nửa đầu thời gian đó thì nằm dưới sàn, nửa sau thì trên giường vì lúc này khi tôi tìm cách kéo cô dậy, cô đã chịu hợp tác và bám chặt lấy tôi một lúc. “Ơn Chúa, chú đã ở đây với cháu,” cô thì thầm và chìm vào cơn vô thức cuối cùng mà từ đó cô sẽ thoát ra để làm người một lần nữa.

—★—

Gretchen không bao giờ kể lại được cho các bạn nghe về chuyến phiêu diêu của mình. Hiển nhiên những nỗi kinh hoàng có sức tàn phá ghê gớm đến nỗi cô cho rằng mình may mắn mới qua khỏi, và bây giờ thì xua đuổi hồi ức ra khỏi tâm trí. Nhưng khi Monica và Cato vẫn ra sức thuyết phục các bạn khác thử LSD - thậm chí hai cô cậu còn gạ cả tôi nhập bọn - Gretchen tỏ ra rất tức giận khi họ đặt vấn đề với Joe. Đặt tay lên vai anh, cô nói, “Nếu có thể nhìn nhận mọi việc sáng suốt như anh, Joe ạ, em sẽ không cần bất cứ cách mở mang đầu óc nào cả,” vậy là Monica hỏi lại, “Nhưng làm sao anh ấy biết thế giới như thế nào nếu chưa được thấy tận mắt?” Gretchen đáp, “Những gì tớ đã thấy, tớ cho là không cần phải thấy làm gì,” Monica liền chọc tức cô, “Cậu sợ phải không?” nhưng Gretchen đáp, “Không, tớ chấp nhận những gì đã thấy và thích ứng với nó. Chuyện đó bị chôn sâu rồi. Và tớ hài lòng vì đã để nó bị chôn sâu.” Nghe câu ấy, Monica giễu cợt, “Cho đến ngày nó nổ tung và hủy diệt cậu,” thì Gretchen nói, “Tớ nghĩ đời là thế - giữ cho mọi việc cân bằng, trì hoãn vụ nổ đó được ngày nào hay ngày ấy. Cuối cùng, khi nó xảy ra thì... thì chết.” Còn với Joe, cô khuyên nhủ, “Anh có mất trí thì hẵng thử. Anh không cần thứ đó đâu.”

“Ý cậu là tớ cần chứ gì?” Monica hỏi gặng.

“Tất cả chúng ta chẳng ai giống ai cả,” Gretchen đáp. “Có lẽ cậu chịu được. Tớ thì không.”

“Cậu nói thế là ngụ ý Joe không chịu được?” Monica hỏi lại. “To lớn như anh ấy mà không chịu được?”

“Nếu cậu muốn tớ nói thẳng thì đúng là tớ không tin anh ấy chịu được. Anh ấy dễ xúc cảm đến nỗi ma túy sẽ thổi bay anh ấy xuống địa ngục mất.” Cô tạm ngừng, lùi lại một chút quan sát Joe, sau đó nói tiếp, “Có lúc chính những người to lớn mạnh mẽ lại dễ tự hủy diệt mình hơn. Joe, anh không cần phải chứng minh gì cả.”

Vậy là Monica và Cato xoay sang Yigal, hỏi anh làm sao có thể hiểu được cấu trúc bên trong của khoa học nếu không có khả năng cảm nhận nó dưới dạng LSD. “Hãy tin em khi em nói điều này,” Monica nhấn mạnh, “mọi khám phá mới trong khoa học sẽ đều từ những người sử dụng LSD mà ra. Họ nhìn thấy những mối liên quan mà người tầm thường các anh sẽ không bao giờ tưởng tượng ra. Này nhé, đến một đứa ngu dốt như em còn có thể nhìn vào một mảng bê tông vỡ và thấy được từng phân tử... mỗi phân tử có giá trị riêng...” Cô nhún vai khi thấy anh nhất định không chịu nghe.

Song khi Monica và Cato trở lại thúc ép Britta, họ vấp phải một phản ứng mạnh mẽ và dứt khoát. Trong mấy ngày liền, cô đối phó với họ bằng cách từ chối lịch sự, nhưng một buổi sáng ở chợ khi hai người đưa ra lý lẽ là cô sẽ không bao giờ hiểu được tình dục nếu không quan hệ trong thời gian chịu ảnh hưởng của LSD, cô nổi giận dữ dội chưa từng thấy; cô vung cả hai tay lên phản đối họ và nói, “Chết tiệt, các cậu tránh xa tớ ra. Các cậu giống hệt cha tớ và bộ sưu tập đĩa hát ấy.”

Lời tuyên bố của Britta lạ lùng đến nỗi tất cả chúng tôi đều sững sờ nhìn cô. Đứng dựa vào bức tượng, cô nói tiếp, “Tớ hình thành niềm tin của mình từ kinh nghiệm đó, và không ai trong các bạn có thể thay đổi chúng, vì vậy đừng cố làm gì, Monica ạ.”

“Niềm tin gì thế?” Monica dịu dàng hỏi. Tôi luôn lấy làm lạ là đám trẻ này có thể đi tới chỗ sắp đánh nhau đến nơi rồi lại rút lui mà lòng tự trọng vẫn không bị tổn thương. Đó là một đặc tính tuyệt vời chúng ta thường đánh mất khi già đi. Nếu Britta mà nói với tôi gay gắt như vậy, tôi sẽ suy sụp suốt ba ngày liền, nhưng Monica nhỏ bé thì lại vui vẻ nói, “Được thôi, chúng ta hãy nghe câu chuyện của Britta nào.”

“Tớ đã kể cho ông Fairbanks nghe là cha tớ bị ám ảnh bởi một vở opera,” Britta nói. “Thợ mò ngọc trai. Vở này dính dáng và liên quan đến Ceylon, nhưng chỉ biết một điều là khi tớ còn bé bố tớ không ngừng nghe các phần lĩnh xướng của vở này. Ông thích chúng thực sự. Chúng như một phần cuộc sống của ông. Ông chỉ biết chúng trong những đĩa cổ do các ca sĩ Ý hát. Caruso, Tetrazzini, Gigli. Hay thì hay thật, nhưng bằng tiếng Ý. Vì vậy, vừa lĩnh được chi phiếu đầu tiên từ ông Mogstad - tớ làm thuê cho ông ta, lão ngu xuẩn đó - tớ bèn đặt mua ở Oslo bản ghi âm Angel của trọn vẹn vở opera. Đó là món tiền lớn nhất mà tớ tiêu từ trước cho đến lúc đó - tặng ông vở opera ông thích được bọc trong giấy bóng kính. Ông rơm rớm nước mắt khi nhận nó. Ông đặt đĩa đầu tiên vào máy như thể đó là một thứ châu báu - cậu biết không, rón ra rón rén không dám chạm vào mép đĩa.

“Rồi một chuyện chết tiệt đã xảy ra. Nghe thấy giọng hát bằng tiếng Pháp - theo đúng cách người ta đã viết vở opera - ông liền nổi giận quát, ‘Người ta đã làm gì thế này?’ Tớ sẽ không bao giờ quên một đoạn nhạc. Nữ tư tế đang cầu xin các thần phù hộ cho ngư dân. Trong đĩa hát bằng tiếng Ý, để tiết kiệm tiền người ta không dùng đội hợp xướng mà chỉ có một giọng nữ cao cùng một cây violon thay cho đội hợp xướng. Trong đĩa mới thì tất nhiên là họ dùng cả đội hợp xướng, và hiệu quả thật mỹ mãn, nhưng cha tớ lại than, ‘Người ta làm trò gì thế này?’ Và cậu biết không, ông chỉ nghe vở opera tuyệt vời đó một lần duy nhất. Giọng hát bằng tiếng Pháp, âm nhạc sống động, dàn hợp xướng hùng hậu - đối với ông thế là quá nhiều. Ông muốn hình dung về vở opera như trong những đĩa hát đầu tiên xưa cũ của ông - giọng mỏng manh hát bằng tiếng Ý. Lúc đó tớ chợt hiểu, nếu ông có khi nào đến được Ceylon... nó sẽ làm ông suy sụp. Ông đã trông chờ nó giống như trong các ảnh màu mà ông thấy nhiều năm trước, thời ông còn ẩn nấp trong vùng núi. Ceylon thực sẽ giết chết ông.”

“Chuyện này có nghĩa gì?” Monica thắc mắc.

“Cái mà cậu tìm kiếm, Monica ạ, là ảo ảnh về thế giới... chứ không phải thế giới.”

“Còn cậu?”

“Tớ muốn thế giới đúng y như nó vốn có. Nếu Chúa đã thảo ra thế giới này bằng tiếng Pháp thì tớ không muốn nó bằng tiếng Bồ Đào Nha.” Cô bật cười vì những lời lẽ hoa mỹ mình vừa nói và kể cho chúng tôi nghe một trải nghiệm ở Tromsø.

“Về mùa đông ở chỗ chúng tớ tuyết rơi không ngớt. Trên khắp đảo các cậu sẽ không nhìn thấy một mảnh đất hay mặt đường quốc lộ nào. Tất cả đều bị phủ kín. Tuyết rơi nhiều đến nỗi máy xúc phải gạt chúng thành đống dọc đường, có lẽ phải cao đến tám foot ấy. Đường đi lối lại biến thành những con kênh cắt ngang qua tuyết - một kiểu tường an toàn ở hai bên để ta không gặp phải chuyện bất trắc, trừ phi ta đâm vào ai đó tại những ngã rẽ. Đêm khuya, bọn trẻ con chúng tớ thường đi tìm một ông lái xe taxi khùng khùng điên điên tên là Skaanevik. Chúng tớ đưa cho ông ta tất cả số tiền chúng tớ có và ào lên xe để được đi xuyên qua đảo đến tận sân bay. Tại sao chúng tớ lại làm thế? Bởi vì Skaanevik là tay lái xe điên nhất Na Uy. Ông ta thường cho taxi chạy đến năm mươi dặm một giờ và lao ầm ầm dọc con đường được bức tường tuyết bảo vệ hai bên. Muốn rẽ, ông ta sẽ thắng gấp - và chúng tớ cứ nảy thia lia giữa các bức tường suốt cả trăm thước, từ bên này sang bên kia. Chuyện gì có thể xảy ra với chúng tớ được chứ? Mỗi khi đến ngã rẽ, ông ta nhá đèn tắt rồi lại sáng, bất cứ ai đang ở đoạn đường ngang cũng đều dừng lại và người lái xe sẽ bảo hành khách, ‘Chúng ta chờ thì hơn. Có lẽ Skaanevik đang lái xe đấy.’ Và chúng tớ sẽ ầm ầm lao qua, nghiêng từ bên này sang bên kia, đâm vào rồi lại bắn ra khỏi các bức tường. Thật tuyệt vời biết bao, với những ngôi sao trên trời và gió thổi qua rặng thông.”

“Thế thì sao?” Monica hỏi.

“Thế thì nghĩa là tớ không sợ,” Britta đáp. “Tớ chính là người bảo Skaanevik, ‘Nhanh hơn nữa đi.’ Nhưng tớ muốn cảm giác hồi hộp phải thực tế... do thế giới này tạo ra... mà tớ làm chủ được. Tớ không muốn những mơ tưởng. Vì vậy xin cậu hãy thôi đi.”

Monica không gạ gẫm Britta thêm nữa.

—★—

Tôi luôn có gắng thận trọng khi nói về cần sa và LSD với các bạn trẻ vì tôi không muốn là kẻ giả dối. Vốn là cựu đại diện phụ trách quỹ và nay là chuyên gia đầu tư quốc tế, tôi thường thấy mình trượt tới ranh giới cuối cùng của sự thực và buộc phải phát huy điều mà người Anh gọi là “sự tôn trọng tế nhị dành cho tính trung thực”. Tôi không cho phép mình nói với các bạn trẻ những gì bản thân tôi không tin tưởng, và trong những phản ứng của mình trước ma túy, tôi thường lâm vào tình thế tế nhị.

Hồi lần đầu đi công tác xa Geneva, tôi được cử đến Campuchia để bán các quỹ tương hỗ cho những người Mỹ làm việc tại một con đập mà công ty Morrison-Knudsen ở bang Idaho đang xây, và những lúc rảnh rỗi tôi hay la cà quanh khách sạn Bijou ở Phnom Penh, nơi một đám phóng viên Mỹ tụ họp viết bài về nền độc lập mà Campuchia đã giành lại được từ tay người Pháp. Đối với tôi, thành phố đó là một trải nghiệm mới mẻ, sự hòa trộn giữa buồn tẻ và thách thức. Suốt cả tuần, anh sẽ chẳng có việc gì để làm ngoại trừ nhìn ngắm các cô gái hông hẹp trong bộ sampot; thỉnh thoảng những sự việc kỳ quái sẽ nhắc anh là anh đang ở một thành phố phương Đông với các luật lệ khác.

Tôi thành bạn thân của cánh phóng viên, những người cũng chịu tác động của sự buồn tẻ và đang háo hức muốn phiêu lưu. Chúng tôi đi thăm điện Phật, cuốc bộ cùng các nhà sư mặc áo cà sa trong những vòng khất thực buổi sáng, lên vùng cao tới các ngôi đền âm u ở Angkor, và lần đến các quán rượu chui.

Phnom Penh là nơi gặp gỡ của hai con sông, sông Mê Kông đục ngầu và sông Tonle-Sap nhỏ hơn, và gần chỗ hợp lưu của chúng có một vài dãy lều cỏ thấp lè tè. Dân ở đó toàn là cu li và phu quét rác, anh có thể đoán được gia đình nào có của ăn của để dựa vào việc họ đặt những tấm tôn múi đè lên mái cỏ, dấu hiệu của sự sung túc ở khắp Đông Nam Á.

Một buổi tối, lúc ruồi bay dày đặc trong khách sạn Bijou, một phóng viên Denver khoảng hai mươi lăm tuổi đề xuất, “Chúng ta xuống bờ sông chơi đi,” và tất cả người nghe đều hiểu ý anh. Khoảng bảy người hưởng ứng, “Sao lại không nhỉ?” vậy là chúng tôi thuê bốn chiếc xe kéo rồi lập tức khởi hành. Tôi bị nhét vào ngồi chung xe với anh phóng viên Denver, trên đường đi anh nói với tôi, “Tôi cho rằng cứ giam chân ở Phnom Penh mà không thử một lần thì thật ngu ngốc.” Tôi tán thành và hình như những người khác cũng vậy.

Xe kéo dừng lại trước một túp lều có mái tôn múi bên bờ sông Mê Kông. Một người Campuchia hoặc Trung Quốc gầy quắt queo - chúng tôi chịu không phân biệt nổi là người nước nào - đứng bên cửa niềm nở gật đầu chào. Ông ta dẫn chúng tôi vào và hỏi bằng tiếng Pháp, “Trước kia đã có ai trong các ông hút thuốc phiện chưa?” Chúng tôi đều bảo là chưa, vậy là ông ta liền nói để chúng tôi yên tâm, “Không có gì ghê gớm đâu. Tôi sẽ hướng dẫn.”

Ông ta có hai phòng để hút, mỗi phòng chỉ đủ chỗ cho sáu người, và chúng tôi chia làm hai nhóm, anh Denver ở cùng tôi. Quan niệm truyền thống về những cơ thể lờ đờ duỗi dài trên chiếc giường chật hẹp mà đa số chúng tôi hình dung về cảnh hút thuốc phiện không thích hợp với thực tế ở đây. Chúng tôi ngồi trên ghế, một người phục vụ mang đến những ống điếu đã châm lửa sẵn bốc lên một làn khói dày đặc nhưng không mù mịt, có mùi lờm lợm đặc biệt mà không khó chịu.

Chúng tôi từ từ hít vào, đinh ninh sẽ bị tác động mạnh của thuốc phiện hạ gục, nhưng không có gì to tát xảy ra cả, ít ra là trong phòng chúng tôi. Tôi ý thức được khói thuốc đượm đà và dai dẳng hơn khói thuốc lá bình thường, nhưng ngoài ra chẳng có gì khác. Đầu óc tôi không quay cuồng, tôi cũng không nhìn thấy ảo ảnh, không phải trải qua trạng thái hôn mê vốn được coi là biểu hiện của người dùng thuốc phiện.

Tôi nói được về những điều này một cách có căn cứ chắc chắn vì tất cả chúng tôi đã theo dõi cẩn thận suốt buổi hôm đó và trao đổi nhận xét khi quay về khách sạn Bijou. Chúng tôi đã đi đến kết luận rằng nếu thuốc phiện là mối đe dọa mà các nhà văn vẫn khẳng định thì ở đây ảnh hưởng của nó đã bị che giấu một cách khéo léo. Là nhà báo và người từng làm việc ở nhiều nơi trên thế giới, chúng tôi sẽ cảm thấy bị lừa nếu không có cơ hội vừa rồi để được trực tiếp đánh giá hiện tượng này.

Đối với sáu trong số bảy người chúng tôi, chuyện đó chỉ đến thế là xong. Anh Denver muốn tìm hiểu kỹ lưỡng hơn, vì vậy anh mới phát hiện ra một cơ sở lịch sự tại khu dân cư của thành phố và mời tôi cùng đi. Tôi bảo anh, “Tôi không động đến thuốc phiện nữa,” thì anh nói, “Có ai nài ép đâu? Anh chỉ cần đợi trong khi tôi xem chuyện đó có ảnh hưởng thực sự như thế nào thôi.”

Vậy là một chiếc xe kéo đưa chúng tôi đến một công trình kiến trúc trang trí công phu có lẽ từng là một nhà thổ ở Denver thời kỳ 1880, vì nó cũng có cùng tấm rèm bằng vải nhung lông màu đỏ và các tấm gương, cũng có cùng bầu không khí lãnh đạm thư giãn trong phòng đợi. Ông chủ, lần này thì chắc chắn là người Tàu, nói chuyện với chúng tôi bằng tiếng Anh khá trôi chảy, và anh bạn tôi giới thiệu mình là phóng viên Mỹ muốn thăm tiệm và nhân tiện hút một hai tẩu trong một phòng tiện nghi. Ông chủ cúi đầu tiếp nhận yêu cầu.

Lần này chúng tôi được thấy những chiếc đi văng có lưng ghế ngả ra sau và đám khách gần như bất tỉnh thả hồn theo làn khói thuốc do chính họ phà ra. Họ đã quay lưng lại với thực tại và chối bỏ mọi trách nhiệm. “Khách quen cả,” ông già Tàu nói với chúng tôi. Ông ta có một cơ sở rộng hơn, có lẽ phải đến mười hai phòng, và không phòng nào có bóng dáng đàn bà, bởi vậy trong tôi hình thành một ấn tượng mà tôi vẫn giữ cho đến tận bây giờ, đó là ma túy và tình dục không phải bạn đồng hành tốt, mặc dù các tài liệu gần đây tuyên truyền ngược lại. Chúng tôi được đưa vào một phòng nhỏ trang trí đẹp đẽ, anh bạn Denver nói, “Tôi sẽ hút cho đến khi có chuyện xảy ra.”

Trong khi anh đang bận rộn, tôi quay ra phòng khách hỏi thăm ông chủ về tình hình làm ăn. Ông ta kể với tôi ông ta nhận thuốc phiện từ Trung Quốc... không có rắc rối gì... ngày xưa người Pháp đã phê chuẩn việc buôn bán này và ngày nay người Campuchia vẫn tiếp tục. Theo quan điểm của ông ta, rất ít người Phnom Penh bị thuốc phiện gây hại. “Đa số khách của tôi là người đứng tuổi đã nghỉ việc nữa và không còn dính líu đến đàn bà. Đối với họ, đời thế là hết. Nếu họ được ra đi thanh thản... thì sẽ chỉ tốt hơn thôi.”

Sau một giờ chuyện trò, thường bị gián đoạn vì những người trên dưới năm mươi rõ là giàu có ra ra vào vào, chúng tôi bị một người phục vụ đến cắt ngang. Anh ta thì thầm gì đó vào tai chủ khiến ông ta bật cười. “Bạn ông đang nôn,” ông ta cho tôi biết, và một lát sau anh bạn phóng viên ở Denver quay ra phòng khách, nhợt nhạt và bối rối. “Thuốc phiện sẽ không bao giờ quét khắp thế giới được,” anh phát biểu.

Tuy nhiên, hai tuần sau anh lại khăng khăng yêu cầu chúng tôi đến một cơ sở khác để hít heroin, và tôi nhớ chúng tôi đã tìm thấy trong đó cảm giác mạnh mẽ, và cả sợ hãi nữa. Hai trong số những người Mỹ muốn giết thời gian còn thử tiêm vào cánh tay một liều nhỏ heroin, và họ kể lại đó là một cảm giác chấn động thực sự. “Đáng sợ lắm,” anh bạn Denver nói. “Tôi sẽ không bao giờ dính vào bất cứ thứ gì như vậy lần thứ hai.” Cuối năm đó, có công việc ở Tokyo, tôi ở cùng phòng với anh trong ba tuần. Anh đang vướng vào cuộc tình mãnh liệt với một gái nhảy ở Ginza tên là Hiroko-san; họ quen nhau đã được khoảng ba năm, và trong lúc anh đi Phnom Penh, cô ta bắt đầu tiêm chích helipon, một chất dẫn xuất từ heroin được sử dụng phổ biến ở Nhật.

Tôi nhớ là cứ thứ Năm, tại sao lại ngày đó thì tôi không bao giờ hiểu được, cô ta lại phê helipon - hai ống tiêm vào cánh tay trái - rồi xông vào phòng chúng tôi, bất kể tôi vẫn đang nằm trên giường, và lôi hết áo sơ mi của bạn trai xuống giữa sàn nhà, lấy giày cao gót giẫm lên, sau đó cô ta đổ dầu dưỡng tóc vào đống bừa bộn, vừa làm vừa nguyền rủa anh bằng tiếng Nhật và tiếng Anh. Đi làm về, anh nhà báo sẽ thấy cô người yêu nằm cuộn tròn trên mớ sơ mi rách nát bẩn thỉu và nức nở vì ân hận. Một cuộc giải hòa mùi mẫn sẽ diễn ra, lần nào cũng kết thúc bằng việc cô ta dốc ví đổ hết ống helipon ra và giẫm nát chúng... ngay giữa đống áo sơ mi của anh. “Em không bao giờ chích helipon nữa!” cô ta hứa, nhưng rồi đến thứ Năm tuần sau cô ta lại đến với một ôm đầy.

Tôi theo dõi trò hề của cô ta với cảm giác thích thú khách quan cho đến ngày thứ Năm cô ta lôi cả áo sơ mi của tôi ra và giẫm nát mấy ống helipon trên đó. Tôi tuyên bố, “Hiroko-san phải đi khỏi đây,” nhưng anh bạn Denver nói, “Anh đi thì tốt hơn. Tôi nghĩ tôi có thể làm cho cô ấy đỡ u mê được.” Vì áo sơ mi của tôi chỉ có hạn nên tôi quyết định bỏ đi.

Ý tôi đang cố gắng làm rõ là như thế này. Nếu là một thanh niên làm việc tại phương Đông và có ý định ở đó một vài năm, tôi sẽ muốn biết những thông tin cơ bản về thuốc phiện và các chất dẫn xuất của nó. Tôi đã tiếp xúc với hơn hai chục phóng viên Mỹ chuyên đưa tin về Đông Á, và phần lớn bọn họ, khi bị mắc kẹt ở những nơi như Bangkok hay Sài Gòn, đều từng có lần thử hút thuốc phiện, nhưng chỉ anh bạn Denver là quay lại thử lần thứ hai. Không có ai trong số bạn bè của tôi mắc nghiện, dù là ở mức độ thấp. Họ đủ khôn ngoan để không tự trừng phạt bản thân với một gánh nặng đáng ghét như vậy.

Sau khi cân nhắc mọi mặt, tôi nghĩ mình sẽ bỏ lỡ một phần quan trọng trong đám rước những điều huyền bí ấy của phương Đông - Phật giáo, đền đài nguy nga, lũy tre lúc hoàng hôn, cồng chiêng, các vị tư lệnh, bộ máy chính quyền mới bận rộn - nếu không xem qua vấn đề thuốc phiện nữa. Hút xách ư? Tôi không thể tưởng tượng được mình lại làm việc này ngay cả khi có phải sống ở Phnom Penh một trăm năm. Lại còn châm thủng cánh tay để tiêm một chất lạ vào máu mình? Không thể nào. Ngay cả rượu tôi cũng uống mức độ, vì không muốn nâng khả năng cảm nhận của mình; tôi vốn đã trải qua những chuyện quá sâu đậm rồi. Hơn nữa, lúc nào tôi cũng đặc biệt ghê tởm bất cứ thứ gì có thể làm máu bị thoái hóa, vì đã chứng kiến quá nhiều bạn bè chết vì bệnh bạch cầu hoặc máu bị nhiễm độc đến nỗi không thể không coi trọng dòng máu, sự cân bằng mỏng manh của nó không bị xáo trộn thì hơn. Tôi vẫn luôn thấy khó hiểu là lớp trẻ của chúng ta, những người vốn sáng suốt như thế trong việc phản đối nạn ô nhiễm sông hồ, lại có thể thờ ơ đến vậy trước sự thoái hóa máu của chính bản thân, vấn đề mà tôi nghĩ ít nhất cũng có tầm quan trọng không kém đối với họ.

Vậy là, vì đã tìm hiểu một cách thận trọng văn hóa thuốc phiện ở phương Đông, tôi thấy không thể dùng lời răn dạy của một ông già để lên án những người thuộc thế hệ trẻ hơn khi họ đang tìm hiểu vấn đề đó. Nhưng tôi không bao giờ cảm thấy muốn nói với họ, “Tôi đã thử rồi, không có hậu quả đâu. Cứ hút đi.” Bởi vì trò chơi mà họ tham gia còn tàn nhẫn hơn nhiều so với trải nghiệm của tôi.

Khi thử hút thuốc phiện và heroin ở Phnom Penh, tôi biết chắc chắn mình sẽ không tiếp tục sống ở đó hoặc ở bất cứ thành phố nào mà ma túy bao giờ cũng dễ kiếm nếu chẳng may tôi đâm ra nghiện ngập. Tôi cũng không có những người bạn nằng nặc đòi tôi tiếp tục thói quen hút xách nếu tôi muốn giữ tư cách thành viên trong nhóm họ.

Nhưng lớp trẻ ngày nay lại sống trong xã hội như vậy. Ma túy đầy rẫy. Bạn bè luôn rủ rê. Vì vậy vấn đề của họ nghiêm trọng hơn của tôi hồi đó, và còn nguy hiểm hơn nhiều khi có thêm LSD, nhân tố chưa được biết đến rộng rãi. Vì thế tôi cố tránh phát biểu võ đoán, điều này giải thích tại sao, khi Monica hỏi ý kiến tôi về LSD, tôi lại trả lời, “Chú không hiểu rõ lắm...”

Nhưng đó là trước khi tôi chứng kiến tác động của ma túy đến Gretchen. Ngay cả bây giờ, tôi vẫn không thể xóa khỏi tâm trí hình ảnh căn phòng nhỏ ấy, hình ảnh cô quằn quại trên giường và bò khắp sàn. Kinh nghiệm đó làm tôi nhận ra là những người nhạy cảm phải tránh xa ma túy, và giờ thì tôi không do dự cảnh báo Monica về sự nguy hại của LSD. Thấy tôi lo sợ, cô lại cười nhạo. “Các cuộc phiêu diêu của cháu đều rất tuyệt,” cô nói.

Vì các bạn trẻ mời tôi phát biểu ý kiến về hành động của họ nên tôi phải cô đúc suy nghĩ của mình về vấn đề đó. Tôi nghĩ gì về ma túy? Phản ứng của tôi đối với ba loại không giống nhau: heroin, LSD, cần sa. Để hiểu được tại sao tôi cực lực phản đối loại thứ nhất, chúng ta phải quay lại Tokyo, nơi cô Hiroko-san xinh đẹp vẫn tiếp tục trình diễn tiết mục helipon. Trò này vẫn gây cười cho đến thứ Năm đó, khi anh bạn Denver la ầm lên ngoài hành lang, “Fairbanks, vì Chúa, giúp tôi với!” Tôi chạy vào phòng anh và thấy Hiroko-san, say thuốc đứ đừ, đã xếp áo sơ mi của anh thành chồng giữa sàn, đổ dầu dưỡng tóc lên, tung những ống helipon vỡ vào, rồi lăn người xuống đống đó và cứa cổ họng mình bằng một lưỡi dao cạo. Đối với tôi, heroin luôn gắn liền với hình ảnh máu của Hiroko-san thấm trên đống sơ mi trắng.

Nhìn lại khá nhiều trường hợp, tôi chưa gặp bất cứ người nào sử dụng heroin trong bất cứ thời kỳ dài nào mà cuộc đời lại không bị hủy hoại. Rất có thể một số người đã bỏ được thói quen và quay lại cuộc sống có ích, nhưng tôi không quen biết họ. Hình phạt mà heroin bắt người ta phải chịu có sức tàn phá ghê gớm đến nỗi bất cứ người nào bất cẩn sử dụng chính là tự kết án mình khốn khổ suốt đời; những kẻ cố ý đánh bẫy người khác đáng bị nhốt vào trại giam. Tôi thà mất cánh tay trái còn hơn liều mình trước những nỗi kinh hoàng của heroin, và khi các bạn trẻ hỏi ý kiến, tôi đã phát biểu như vậy.

Khi LSD lần đầu tiên xuất hiện trên chân trời y học, tôi được nghe nhiều hy vọng rằng nó sẽ là phương thuốc chữa trị một số dạng rối loạn tâm thần đặc biệt, nhưng điều đó đã không thành sự thật, và việc thanh niên lạm dụng nó một cách phổ biến, kèm theo bao hậu quả tai hại cho nhiều người trong bọn họ, làm tôi tin rằng tuyệt đối không nên dính đến nó. Dường như Monica và Cato có thể sử dụng LSD mà xem chừng chỉ bị ảnh hưởng rất ít, nhưng nó suýt nữa đã giết chết Gretchen. Bản thân tôi sẽ không đụng đến LSD, chủ yếu vì sợ nó sẽ tác động lên hệ thần kinh, nhưng cũng còn vì đầu óc tôi đã được các khái niệm, âm nhạc và niềm vui từ thiên nhiên mở mang đến mức nếu còn bị LSD mở mang thêm nữa, chắc sẽ nổ tung mất.

Cần sa dấy lên những vấn đề khó khăn đặc biệt, vì chúng ta hầu như không có thông tin rõ ràng về ma túy mặc dù nó đã được sử dụng hơn hai nghìn năm. Tính đến nay tôi đã được tận mắt quan sát nhiều người hút cần sa, và ảnh hưởng của nó dường như không tiêu cực lắm, nhưng hai câu hỏi day dứt lòng người vẫn dai dẳng: cần sa có leo thang đến các loại ma túy nguy hiểm hơn không? Nó có gây trạng thái mỏi mệt toàn thân làm tiêu tan ý chí không? Bằng chứng y học khá rõ ràng cho thấy bản thân cây gai dầu không gây nghiện, và tôi chưa tìm được người sử dụng nào thừa nhận anh ta đạt đến sự thèm muốn mà chỉ những loại ma tuý mạnh hơn mới thỏa mãn được. Nhưng tôi thấy rõ là xã hội có người hút sẽ khuyến khích những cuộc thử xa hơn. Monica hút cỏ ở Vwarda, giảng giải học thuyết của mình ở Torremolinos và tích cực tìm kiếm LSD ở Albufeira, chủ yếu là vì cô đang ở trong một ambiente[81] làm cô đã phấn khích lại càng phấn khích. Điều tôi muốn nói là: Bản thân cần sa có thể không dẫn đến LSD, nhưng những người cùng hút thì có thể.

Về vấn đề chán chường mệt mỏi thì ở mức độ nào đó tôi là người hiểu khá rõ. Tôi từng làm việc ở bảy nước nơi sử dụng cần sa phổ biến đến nỗi gần như là tập quán quốc gia, và tôi chán ghét cái xã hội mà các nước đó đã sản sinh ra. Đâu mất rồi thư viện, trung tâm chăm sóc trẻ em, nền giáo dục cơ sở, đường quốc lộ, ủy ban công bằng xã hội? Nói chung tôi chỉ thấy trạng thái đờ đẫn thờ ơ, cả ở từng cá nhân lẫn trong xã hội, và tôi đi đến kết luận là cần sa đối lập với cuộc sống lành mạnh tốt đẹp. Nó phá hủy ý chí.

Tôi không mấy ấn tượng trước lý lẽ cho rằng cần sa cho thanh niên chỉ như một ly martini cho người lớn tuổi vì đó là một sự so sánh khập khiễng: môi trường người ta uống martini không dẫn tới việc sử dụng heroin và cũng không gây ra trạng thái đờ đẫn thờ ơ phản xã hội. Nói cách khác, người uống martini vẫn có thể hoạt động mang tính xây dựng, mặc dù anh ta có thể làm tổn hại bản thân, về lý lẽ được nhắc đi nhắc lại là hút thuốc phiện không ngăn cản Thomas de Quincey viết văn hay, tôi chưa bao giờ hứng thú với thành quả của ông ta cả.

—★—

Các bạn trẻ nói họ sẽ xuống Albufeira ăn bữa trưa caldeirada, vì vậy tôi đến quán bar để gặp họ, và trong lúc tôi ngồi chờ, Churchill bật máy hát. Lúc ấy tôi không nhận ra, nhưng ông ta đang chuẩn bị để cho mọi người thấy tôi là một thằng ngốc.

Vì quán bar này không phải nơi dừng chân của Clive và chiếc túi du lịch màu đỏ nên không có chiếc nào trong số những đĩa hát mới mà tôi đã dần yêu thích ở Torremolinos, có nghĩa là những bài Churchill bật đều lỗi thời và lạ tai. Tôi không đánh giá cao chúng cho đến một hôm, đang lơ đễnh nghe tôi chợt bắt được một âm điệu dồn dập, mạnh mẽ khiến tôi thích thú, vậy là tôi liền hỏi, “Đĩa gì thế?” ông ta đáp, “Sergeant Pepper,” rồi tôi hỏi tiếp, “Anh ta là ai?” và ông ta nhìn tôi với vẻ coi thường chán chường mà chỉ một sinh viên Oxford chuyên bán LSD lậu ở Algarve mới thể hiện được. “Đây là ban nhạc Beatles,” ông ta nói.

Ở Torremolinos, chắc chắn tôi đã được nghe đĩa của ban nhạc nổi tiếng này rồi, nhưng hồi đó tôi chưa hiểu biết về nhạc pop đủ để nhận ra. Lúc này tôi chăm chú lắng nghe một ca khúc chua chát, trong đó những tiếng cello thổn thức cùng violon chơi phần đệm bắt buộc thịnh hành ở thế kỷ mười chín khi một cô gái Anh thuộc gia đình trung lưu trốn nhà ra đi lúc bình minh để sống với một người đàn ông thuộc ngành kinh doanh xe hơi. Ca khúc này thật ấn tượng.

“Tôi không biết Beatles lại sử dụng cello,” tôi nói, và ông ta nhìn tôi với vẻ lạnh lùng. “Ông bạn thân mến, họ sử dụng bất cứ nhạc cụ nào.” Rồi ông ta nói tiếp, “Tôi không nghĩ ông đã được nghe bài này,” nói rồi ông ta chuyển sang một bài dữ dội trong đó một chàng trai non nớt ngẫm nghĩ về vụ tự tử của một Thượng nghị sĩ... hay đại loại như vậy. Lựa chọn của cậu ta là dựa vào LSD, nhưng việc đó cũng chẳng mấy hiệu quả vì cuối cùng thế giới sụp đổ tan tành trong một vụ nổ bom nguyên tử. Đó là lời tuyên bố mạnh mẽ, ảm đạm như một hoang mạc, và tôi không nghĩ là mình sẽ thích khi biết ca khúc đó rõ hơn.

“Nghe chói tai quá,” tôi nói.

“Hai năm trước đây bài này được hoan nghênh lắm đấy,” ông ta đáp, vẻ coi thường lộ rõ. “Tại Bồ Đào Nha mọi thứ đến được tay chúng tôi bao giờ cũng chậm trễ.” Tôi hỏi ông ta có phải công dân Bồ Đào Nha không, thì ông ta đáp, “Ông tưởng tôi điên chắc?”

Tôi đang ngẫm nghĩ câu đối đáp thích hợp thì chợt thấy vang lên một trong những bài hát thú vị nhất tôi từng nghe suốt hơn chục năm qua. Nó mở đầu bằng giọng ca rụt rè của một cậu bé đang kể về những hình ảnh vô nghĩa: những cây quýt, những thiên đường mứt cam, những chiếc bánh nướng kẹo dẻo. Bình thường tôi rất ghét những bài hát như vậy vì thấy chúng có cái vẻ ngây thơ giả vờ, nhưng ca khúc này mang dấu ấn xác thực, như thể cậu bé đã thực sự nhìn thấy những hình ảnh ấy.

Sau đó lời ca chuyển sang một mức độ nghiêm trang hơn vì người hát đã gặp được một cô gái có đôi mắt màu sắc biến ảo; hình tượng kỳ lạ này không những vô cùng vui vẻ, vì nó nhắc tôi nhớ đến các cô gái xinh xắn, nhẹ dạ với cặp mắt đong đưa từng làm tôi ngẩn ngơ khi còn trẻ, mà nó còn có phần nhạc đệm khiến hình ảnh nhảy múa đầy sức sống. Chàng trai này đã thật sự gặp một cô gái như vậy.

Không khí cổ tích đột nhiên bị phá vỡ bởi ba tiếng trống lanh lảnh, và ngay sau đó một bản đồng ca - toàn bộ thành viên Beatles, tôi nghĩ vậy – cuồng nhiệt gọi đi gọi lại cái tên rất lạ của cô gái: Lucy in the Sky with Diamonds. Tên cô gái đúng là như vậy, và nó đã làm tôi như bị mê hoặc, tôi nói, “Một thế kỷ rưỡi trước đây, John Keats đã miêu tả kiểu người lạ lùng đó bằng những từ ngữ cũng lạ lùng không kém.”

“Ông thích bài này chứ?” Churchill hỏi với vẻ thân thiện mà hẳn là lần duy nhất tôi thấy ông ta thể hiện.

“Nó tóm lược thời đại của chúng ta,” tôi nói, vì nó đã nắm bắt được tinh thần phóng khoáng tự do của những thanh niên tôi gặp ở châu Âu và châu Á.

“Quả thực là như vậy,” Churchill hòa nhã tán thành. Ông ta hỏi lại lần nữa xem tôi có thích thật không, và khi thấy tôi gật đầu, ông ta nói vẻ bí hiểm, “Thế thì một ngày nào đó ông phải thăm phòng tôi thôi.” Tôi thấy việc mình thích một bài hát được ưa chuộng chẳng liên quan gì tới chuyện thăm phòng ông ta, nhưng tôi chưa kịp nói tiếp về vấn đề đó thì sáu bạn trẻ đã đến và chúng tôi gọi món cá hầm ở cửa hàng phía bên kia quảng trường.

“Xin mời các bạn nghe bài mà ông Fairbanks chọn là bài yêu thích nhất,” ông ta nói một cách ác ý. Khi giai điệu của bài “Lucy in the Sky” rộn vang khắp quán, các bạn trẻ của tôi cười phá lên, và Gretchen nói, “Chú George, cháu chẳng bao giờ hiểu được chú cả,” còn Monica vừa nói vừa liếc nhìn tôi với vẻ tinh nghịch, “Cháu biết chú là lão dê già mà!” Khi tôi hỏi như thế nghĩa là gì, các bạn trẻ liền trêu chọc tôi nhưng không chịu giải thích. Churchill cho đĩa đó chạy hai lần nữa; có vẻ như nhóm của tôi biết rõ bài này vì họ lẩm nhẩm hát theo. Tôi đang định nài họ giải thích cho rõ ràng thì Monica nói, “Cháu rất muốn biết chú làm trò gì những lúc ở một minh, ông già quỷ quái thô bỉ ạ,” và đúng lúc ấy anh bồi bàn xuất hiện bên kia đường, tay bưng bảy liễn caldeirada của chúng tôi mà Churchill lại thu phần bạch tuộc con như thường lệ.

Trong lúc dùng bữa, tôi không nghĩ đến bài hát ấy nữa, nhưng Monica, vốn khảnh ăn, đã xong trước tiên và lại bật đĩa nhạc đó. “Chú vẫn chưa biết nó có nghĩa gì sao?”

“Chưa.”

“Cái tên! Cái tên ấy! ‘Lucy in the Sky with Diamonds.’ Chú có phải kẻ ngốc không đấy?” Chắc hẳn trông tôi khá ngơ ngác nên cô nói, “LSD. Đó là quốc ca của LSD.”

Tôi bực bội lẩm bẩm. Tôi đã hoàn toàn bỏ qua điểm cốt yếu của ca khúc. Nghe lại lần nữa, tôi không thể tin được là ban nhạc Beatles đã chơi xỏ mình, nhưng cách Monica giải thích mấy từ ấy chứng tỏ quả thực nó đã gợi lên cả một kỷ nguyên, nhưng không theo nghĩa tôi tưởng. Uể oải giải quyết nốt con bạch tuộc cuối cùng, Churchill nói, “Ca khúc này thức tỉnh thanh niên trên toàn thế giới nhận ra những điều kỳ diệu của LSD nhiều hơn bất kỳ thứ gì khác.”

“Bài hát chủ đề của ông đấy ư?” tôi hỏi, giận dữ vì bị coi như thằng ngốc.

“Đúng vậy. Nó giúp rất nhiều cho việc làm ăn của tôi.”

Tôi phát bực với bữa trưa. Ngay món cá hầm cũng thành nhạt phèo và tôi không còn thích thú với ca khúc mình vừa phát hiện. Khi Monica bật lại bài ấy, mắt cô nhắm lại trông vẻ ngây ngất của một thiếu nữ mới lớn, tôi càng thấy phẫn nộ. Vì sao ư? Bởi vì đáng lẽ phải là một sức mạnh chủ yếu và cao đẹp trong xã hội chúng ta, nhạc pop lại đang bị xuyên tạc để làm thanh niên trụy lạc.

Phản ứng một cách vô thức, tôi đi đến bên máy quay đĩa, giật mạnh đầu đĩa than, vớ lấy cái đĩa rồi tì trên đầu gối bẻ làm đôi.

Nhóm bạn trẻ kinh hãi trước cách cư xử của tôi, và Monica, mở choàng mắt vì bị cắt ngang đột ngột, la lên, “Chú George! Chú làm cái quái gì thế?” Nhưng Churchill đã giải thích, giọng ngọt xớt, “Thôi, bỏ qua cho ông ấy. Ông ấy là một ông già lạc vào thế giới mới mà.”

—★—

Nghe và hiểu được tiếng Bồ Đào Nha thì không có gì là khó cả. Nếu anh đã biết tiếng Tây Ban Nha thì cũng đọc được tiếng Bồ Đào Nha. Nhưng nói ư? Đó lại là chuyện khác.

Hồi tôi ở Geneva, khi một đồng nghiệp sắp đi Bồ Đào Nha nói với tôi, “Tôi sẽ xoay xở được vì tôi biết tiếng Tây Ban Nha,” tôi không tranh luận dài dòng với anh ta. Tôi chỉ đưa ra tên một mũi đất hoang vắng nơi hoàng tử Henri, nhà hàng hải huấn luyện các thuyền trưởng của mình chuẩn bị cho công cuộc chinh phục châu Phi, hỏi xem anh ta sẽ phát âm như thế nào: Sãgres. Sau khi anh ta đoán thử, tôi nói, “Đó là cách người Tây Ban Nha phát âm, còn người Bồ Đào Nha lại nói Shagrzh thành một âm nén. Nguyên tắc,” tôi khuyên anh ta, “là nuốt càng nhiều nguyên âm càng tốt và đưa vào từng ấy âm h’s.”

Vì vậy, một buổi sáng khi Gretchen háo hức nói với tôi, “Nhập hội với chúng cháu đi! Chúng cháu đi thăm Silves đây,” tôi bèn bảo cô, “Nếu các bạn muốn hỏi thăm đường, hãy phát âm là Shilvzh thì hơn.”

Gretchen háo hức là vì được biết ở Silves, thủ phủ xưa kia của Algarve, có một lâu đài của quân Thập tự chinh vẫn còn khá nguyên vẹn. Cô nói với tôi, nó đã được các tín đồ Hồi giáo xây dựng hồi thế kỷ thứ mười. Khi tôi hỏi cô làm sao nó trở thành pháo đài của quân Thập tự chinh, và lại ở Bồ Đào Nha, mắt cô sáng ngời với vẻ hăng hái mà tôi từng chú ý khi gặp cô lần đầu tiên ở Boston.

Tôi rất mừng được thấy điều này. Hồi Cuộc Chiến Trăm Năm tỏ ra là một đề tài không đúng như mong đợi, cô không còn bất cứ mối quan tâm chủ yếu nào về mặt trí tuệ nữa, và tôi đã hy vọng một chủ đề mới nào đó ở Tây Ban Nha sẽ thu hút sự chú ý của cô, nhưng không được. Lúc này, nghe nói đến Silves và quân Thập tự chinh, nhiệt tình của cô đã được nhen lại và có khả năng đây chính là đề tài cô sẽ tập trung nghiên cứu.

Cô nói với tôi đầy một giai đoạn lịch sử khá lạ lùng. Trong thời kỳ đầu các cuộc Thập tự chinh, một nhóm hiệp sĩ người Anh và Đức, sùng đạo nhiều hơn can đảm, đã nhẹ cả người phát hiện ra rằng họ không cần vượt biển đến tận Đất Thánh mới có thể chiến đấu với bọn dị giáo. Tình cờ ngay tại Bồ Đào Nha cũng có một số người Moor, ẩn náu trong các thành trì có thể dễ dàng tiếp cận nếu đi từ biển lên và nếu chiếm được mấy nơi này, người ta có thể kiểm soát cả một vùng đất nông nghiệp có lẽ rất màu mỡ.

Vì vậy nhóm các nhà chinh phục bất đắc dĩ kia thả neo ngay phía Nam Lisboa, nơi có một vài tòa lâu đài hiện lên phía chân trời, rồi cho đến tận lúc đã đốt phá nhà cửa và tàn sát cư dân xong, họ mới biết những người đó là tín đồ Cơ Đốc giáo. Người Moor, một trong số những người sống sót nói phều phào, sống xa hơn về phía Nam.

Vậy là đoàn người đi dọc bờ biển để đốt thêm vài thành trì nữa và phát hiện ra rằng chúng thuộc về những người Na Uy từng chinh phục người Moor từ hàng trăm năm trước. “Kẻ thù,” những người sống sót giải thích, “sống ở quá chỗ ngoặt sang Bồ Đào Nha, ở bờ biển phía Nam.”

Thế là những kẻ hiếu chiến dũng cảm giong buồm xa hơn về phía Nam, rẽ vào mũi Cabo de São Vicente và đến một bờ biển nơi từ đó họ có thể nhìn thấy kẻ thù thực sự trong lâu đài Silves của quân Moor. Với ngọn lửa rực cháy trong tim, họ lao lên bờ, tàn phá vùng đất nằm giữa bãi biển và lâu đài rồi bao vây dinh lũy của quân dị giáo. Đó là một sự kiện đẫm máu kéo dài và sau nhiều tuần lễ quân Cơ Đốc giáo giành được thắng lợi. Đối với họ, cuộc Thập tự chinh đã kết thúc. Họ củng cố vị thế, chiếm đoạt các vùng đất xung quanh, và gieo rắc nỗi kinh hoàng cho hàng trăm dặm ven biển.

Dân địa phương kể, “Họ là những người Anh đầu tiên định cư ở Algarve, một lũ kẻ cướp dữ tợn đầu têu cho tất cả những kẻ sau.” Huy hiệu của Silves cho thấy tòa lâu đài cổ được hai người lính Thập tự chinh có râu và hai chiến binh Moor dữ tợn đầu quấn khăn canh gác. Dân chúng vẫn còn tranh luận xem kẻ nào đáng sợ hơn.

Chúng tôi lái xe tới Silves trên con đường cao nội địa, thỉnh thoảng lại thoáng thấy đại dương phía bên trái, và tôi vô cùng ấn tượng trước cách Gretchen hướng toàn bộ tâm trí vào những gì cô nhìn thấy: “Nếu chúng ta ở ngoài kia trên một chiến thuyền của quân Thập tự chinh... ngay bây giờ... chúng ta sẽ nhìn thấy con đường này và biết nó dẫn tới một khu định cư nào đó.” Có một lần cô yêu cầu Joe dừng chiếc pop-top lại để cô có thể khảo sát đất đai kỹ hơn. “Nếu là nông dân Anh, anh có thử trồng trọt ở đây không?” Không có gì lại không đáng để cô khảo sát; cô muốn nhớ tên những cây hoa mọc bên đường và những con chim đồng hành cùng họ. Cô trở thành một thuyền trưởng Anh tham gia cuộc Thập tự chinh tám trăm năm trước đây.

Từ trên đường cao, chỉ cần nhìn lướt qua Silves một cái là người ta đã có một bản tóm lược lịch sử, vì ở rìa phía Bắc thành phố nổi lên những bức tường nâu thẫm của một tòa lâu đài Moor nhiều tháp nhỏ, mà tận cùng phía Đông, nối liền thành một khối kiến trúc, là một nhà thờ theo phong cách Gothic, mỗi tòa nhà lại tựa vào tòa nhà khác. Tọa bên dòng suối chảy từ núi xuống, bản thân thành phố trông có vẻ sạch sẽ với những tòa nhà màu phấn theo phong cách thế kỷ mười chín xen kẽ những công trình đồ sộ bằng đá bảy tám trăm tuổi. Cũng như các thành phố khác ở Algarve, Silves vẫn còn khá nhỏ nên người ta có thể chỉ nhìn thoáng qua là bao quát được toàn cảnh.

Gretchen khởi đầu một cuộc tranh luận tưởng tượng về những gì người Cơ Đốc giáo và người Moor hẳn đã suy nghĩ trong những thế kỷ họ bận tâm vì chiến tranh. Cato lầm bầm, “Y như người Nga và người Mỹ ấy... chẳng thích hợp gì cả.” Nhưng Britta lại chỉnh anh. “Nếu anh cho rằng chủ nghĩa cộng sản là không thích hợp thì tức là anh chưa bao giờ sống sát nách họ cả.” Ý Britta là gì thì chúng tôi vẫn không ngừng tìm hiểu.

Joe phát biểu, “Thật khó tưởng tượng nổi tôn giáo lại là một sức mạnh như vậy... cả một nền văn minh gây chiến với một nền văn minh khác,” nhưng Yigal nói, “Nước các bạn có theo Ailen đâu... và họ đều là người Cơ Đốc cả.” Gretchen thắc mắc, “Các tín đồ Hồi giáo ngày nay có bận tâm đến người Do Thái nhiều như ngày xưa họ bận tâm quân Thập tự chinh không?” Cô chỉ tòa lâu đài xa xa, Yigal đáp, “Nếu hiện giờ sống ở Israel, ngày nào em cũng sẽ nghe thấy từ ‘Thập tự chinh’.”

“Sao?”

“Người Ả rập tin rằng vì họ từng chống lại được quân Thập tự chinh suốt hai trăm năm và đuổi chúng ra biển cho nên ngày nay họ cũng có thể làm vậy với chúng tôi. Trong con mắt người Ả rập ở Syria, thành trì của quân Thập tự chinh là một hình ảnh đầy hứa hẹn.”

Khi đến gần thành, chúng tôi phát hiện ra một cấu trúc hoàn chỉnh - với vườn, vườn cây ăn quả, hệ thống cấp nước và lòng đường rộng rãi – nằm trên mặt thành lũy. Trông pháo đài hẳn vẫn y nguyên như thời người Moor trấn giữ, nên tất cả chúng tôi đều có thêm hiểu biết về lịch sử. Tôi nhớ lúc ấy Cato đang đứng cùng tôi dưới chân một tòa tháp từng bị quân Thập tự chinh tàn phá trong cuộc vây hãm rồi sau đó đã được xây lại. “Ông biết không,” anh nói với vẻ trầm ngâm, “tôi bắt đầu ngờ rằng ông già tôi có lý. Có lẽ tôn giáo quan trọng hơn tôi tưởng rất nhiều.” Tôi định đáp, nhưng anh đã bước vội đi xem một tòa tháp khác; anh đã nêu lên một nhận định mà không muốn bị cật vấn gì cả.

Sau khi thăm tòa thành và ngôi nhà thờ kỳ lạ nối liền với nó, chúng tôi đi tiếp khoảng bảy dặm nữa về phía Nam để tới bờ biển, tại đây Gretchen rời xe lội xuống Đại Tây Dương, cố gắng tưởng tượng cảm giác của một người lính Thập tự chinh đang lao lên bờ tấn công một vùng đất xa lạ.

“Ai lội bộ trở lại thành với tôi nào?” cô hỏi mọi người, Cato tình nguyện theo vì anh cũng bị tòa thành này mê hoặc và muốn chứng kiến nó hiện ra trong tầm mắt. Thế là hai người lên đường, cuốc bộ suốt bảy dặm, vừa đi vừa xem xét cẩn thận mọi khía cạnh của cảnh vật dưới con mắt kẻ xâm lược, số còn lại rẽ vào quán bar, mua báo chí châu Âu và nghe bất cứ đĩa nhạc nào người ta bật sẵn; thỉnh thoảng, chúng tôi lại vượt qua hai bạn đi bộ và tôi nghĩ nếu có lúc nào đó Gretchen viết về quân Thập tự chinh ở Bồ Đào Nha, ít nhất cô cũng đã biết rõ địa thế.

Chúng tôi gặp lại họ trong thành và cùng nhau đi dạo một lần nữa khắp thành lũy rộng thênh thang; lúc này chúng tôi lại đặt mình vào địa vị quân Cơ Đốc giáo đã đột chiếm được pháo đài, và trong lúc chúng tôi đi tản bộ, Cato nói, “Các bạn biết không, đây chính là việc mà một nhóm người Anh và Đức sẽ làm. Xây một nhà thờ lớn ở đằng kia.” Anh thấy cách xây thêm ngôi nhà thờ thành một phần phụ của lâu đài thật khôn ngoan, tôi còn nhớ rõ như vậy.

Trên đường về cuối buổi chiều hôm ấy, Gretchen lại yêu cầu chúng tôi dừng xe để ngắm nhìn lần cuối thành phố Silves nép mình trên sườn đồi, rồi khi chúng tôi ngồi dưới những cây hạnh lâu năm Britta đề nghị Gretchen hát, vậy là cây đàn guitar được mang ra và chúng tôi đồng thanh hòa theo một vài khúc ballad đã học được. Khi mọi người tạm nghỉ, tôi nói, “Thật lạ là các bạn không biết một bài dân ca hay nhất từ xưa tới nay.” Gretchen háo hức quay sang hỏi, “Bài gì?” tôi liền đáp, “Eriskay Love Lilt.

“Chưa từng nghe,” cô nói, vì vậy tôi cất tiếng hát ca khúc của vùng Ngoại Đảo Scotland; chắc hẳn ca khúc này được phổ biến hồi quân Thập tự chinh tập hợp lại để làm mưa làm gió thành trì Silves, một bài hát não nùng về biển hết sức đơn giản:

Vair me o rovan o

Vair me o rovan ee,

Vair me o-ruo-ho,

Lòng em đau đớn, thiếu vắng anh.

Trong ca khúc không có lời lẽ khoa trương, không án mạng ở ven đường hay chuyện phản trắc; đó chỉ là lời than thở bất tận của một người đàn bà ngoài đảo có người yêu ra khơi. Giai điệu được các nhà chuyên môn xếp vào hàng trong trẻo nhất từ trước tới nay, một chuỗi nối tiếp những nốt nhạc mộc mạc chan chứa cảm xúc. Chắc chắn đây là một trong những ca khúc êm ái và được nhớ lâu nhất.

“Chú học được ở đâu vậy?” Gretchen hỏi.

“Trong Thế chiến II. Chú đóng quân một thời gian trên một hòn đảo Scotland tên là Barra... rất nhỏ, tàu khó lòng cập bến nổi ở đó. Gần đấy còn có một hòn đảo nữa tên là Eriskay. Nhỏ bằng một phần mười thôi. Ca khúc này được người ta phát hiện ra tại hòn đảo đó nhiều năm trước.”

Gretchen thử gảy giai điệu ấy, rồi phần đệm, và khi bóng đêm bắt đầu buông tỏa khắp tòa lâu đài, bởi lúc này đã sắp chín giờ tối, chúng tôi hát thử ca khúc cổ xưa:

Trái tim trong sáng dấu yêu ơi,

Khi em cô đơn, dù đêm đen hay biển dữ,

Ánh sáng tình yêu soi đường cho em bước

Tìm tới bên anh, theo lối mòn quen.

Trong khi hát chúng tôi có thể hình dung ra hình ảnh người Moor và tín đồ Cơ đốc sống dưới thung lũng này, sáng sáng đưa thuyền đánh cá ra khơi, chiều chiều trở về bến.

—★—

Hành trình tới Silves có kết thúc không vui lắm. Khi chúng tôi về đến Alte và đang chuẩn bị xuống núi, Britta bỗng bật kêu - nên chúng tôi quay lại xem chuyện gì xảy ra.

Một trong những tờ báo chúng tôi vừa mua là của Thụy Điển, tờ đầu tiên Britta được đọc sau một thời gian dài, và ở trang trong cô thấy bài tường thuật khó hiểu này:

Tromsø.

Chính phủ Na Uy hôm nay tuyên bố rằng thành phố phương Bắc này, nơi tuần trước các khu vực trung tâm đã bị lửa thiêu hủy, sẽ được trợ cấp để tái xây dựng sao cho thành phố công nghiệp có thể tiếp tục hoạt động như trước.

Ngọn lửa, không rõ nguồn gốc đã thiêu trụi thành phố trên diện rộng, trong đó có hơn 47 cơ sở kinh doanh lớn và nhiều nhà riêng. Nhiều công trình dọc bến cảng nổi tiếng từ lâu gắn liền với công cuộc thám hiểm phương Bắc bị thiệt hại nặng nề, nhưng dân thành phố đã cam kết khôi phục nhanh chóng khu vực bị tàn phá.

Và thế là, đột nhiên, tất cả chúng tôi để hết tâm trí vào một thành phố xa xôi chưa bao giờ đặt chân tới, và trong lúc Britta cố suy từng từ để luận ra cả một mẩu tin, tưởng tượng một đám cháy còn khủng khiếp hơn thực tế, chúng tôi đã lờ mờ ý thức được các tổn thất.

“Lão Mogstad có cơ sở kinh doanh ở một trong những tòa nhà cũ đó. Thật tội nghiệp lão ta.”

“Hôm trước em bảo lão ta là một thằng đểu,” Cato nhắc.

“Đúng thế, nhưng bây giờ lão ta là một thằng đểu tội nghiệp.”

Chúng tôi cố tìm cách để Britta thu thập được tin tức cụ thể, và Gretchen có một ý kiến hay: “Ngày mai chúng ta sẽ tìm đến một văn phòng của hãng hàng không SAS. Thể nào họ cũng lưu báo của vùng Scandinavia.”

“Tối nay chúng ta làm được gì không?” Joe hỏi. Anh luôn quanh quẩn bên Britta, cố gắng trấn an cô rằng tình hình chưa chắc đã xấu như cô tưởng, nhưng cô chỉ một từ Thụy Điển mà nói, “Bị tàn phá. Nó nói thế mà.”

Monica đề xuất, “Sao chúng ta không gọi điện thoại nhỉ?” thế là chúng tôi vội phóng xuống Albufeira, nhờ người trực tổng đài ở khách sạn lớn nhất thử gọi tới Tromsø nhưng anh ta chỉ liên lạc được với sân bay Bardufoss cách đó không xa lắm. Chúng tôi lắng nghe trong khi Britta nói một thứ tiếng mà không ai trong chúng tôi hiểu cả. Cô nói lại với chúng tôi là người ở sân bay đang bắc loa sang phòng chờ hỏi xem có ai là người Tromsø không, và chúng tôi nghe thấy Britta đọc một số cái tên: “Britta Bjørndahl. Holger Mogstad. Gunnar Lindblad. Britta Bjørndahl.” Có một khoảng lặng dài mà cô òa khóc, và qua những giọt nước mắt của cô chúng tôi có thể hình dung ra Tromsø khá rõ. Cô nói lời cảm ơn và đặt ống nghe xuống máy. Cô đã vất vả biết bao nhiêu để chạy trốn Tromsø, vậy mà nó lại theo cô tới tận Bồ Đào Nha.

Chúng tôi đến quán bar mà Churchill năng lui tới và hài lòng nhận thấy ông ta không có mặt ở đó. Chúng tôi buồn bã uống bia trong khi Britta thuật những gì đã xảy ra. Ngọn lửa dọc bến cảng liếm từ tòa nhà này sang tòa nhà khác cho đến khi một nửa khu thương mại của thành phố chìm trong biển lửa. Những công trình lịch sử từng là nơi Amundsen khởi hành đi Bắc Cực và Nam Cực mất sạch. Hãng cung ứng trang thiết bị cho con tàu Fram của Fridtjof Nansen bị thiêu rụi, và công ty lâu năm của Otto Sverdrup tiêu tùng. Xưởng đóng tàu của ông Mogstad tổn thất hoàn toàn, và Tromsø bị tàn phá nặng nề.

“Còn lại những gì?” Joe hỏi.

“Phần lớn khu dân cư,” Britta đáp. “Em chắc nhà em thoát được.” Cô vội cắn môi khi thốt ra từ “nhà em”, vì cô đã nhiều lần nói với chúng tôi rằng đó không còn là nhà cô nữa, và việc này khiến chúng tôi lao vào một cuộc tranh luận thâu đêm về giá trị cuộc sống, rồi chính Britta phải công nhận, “Em nghĩ mình đã bị cái nơi chết tiệt đó ám rồi. Em không ngờ em lại yêu quý cha mẹ mình đến thế.”

Họ hỏi tôi nghĩ như thế nào, tôi nói, “Tôi ấn tượng sâu sắc trước cách ứng xử đúng đắn của các cháu với nhau. So với tuổi hai mươi của thế hệ chúng tôi, các cháu vượt xa. Các cháu sẽ không tin nổi chúng tôi ngây thơ và ngốc nghếch đến thế nào về tình dục và tiền đồ đâu. Lối sống của các cháu hay hơn nhiều. Nhưng bí quyết rành mạch trong đời không phải ở chỗ hòa hoãn qua năm tháng từ mười bảy đến hai mươi lăm tuổi. Ai cũng làm được thế, và có vẻ như dễ dàng hơn tôi từng nghĩ nhiều, vấn đề nằm ở chỗ phải tạo lập được một thứ gì đó đảm bảo cho bạn từ ba mươi lăm đến sáu mươi tuổi. Tìm được công việc nào đó khiến bạn hài lòng. Tìm được ai đó khác giới bạn có thể chung sống qua những năm tháng khó khăn. Tìm được cách nuôi dạy con cái. Và trên hết, giữ được sự sáng suốt và lòng tận tụy.” Gretchen muốn biết tôi coi đâu là tiêu chuẩn, và tôi nói, “Khoảng mười lăm năm trước, quan sát cuộc đua chen quyết liệt trong xã hội, tôi đã chọn không tham gia. Tôi sẽ không bao giờ là chủ tịch World Mutual vì tôi muốn đi đây đi đó... làm những việc mình thích. Lúc đó tôi đã khẳng định dứt khoát với mình là nếu một người đàn ông có thể sống đến sáu mươi tuổi mà không bị vào tù hay nhà thương điên thì ông ta được coi như thành công. Bất cứ điều gì khác đều không quan trọng.”

“Chú nghĩ thế thật sao?” Joe hỏi.

“Thật chứ.” Không ai lên tiếng, vì vậy một lúc sau tôi nói thêm, “Tôi nghĩ thật tuyệt khi cánh thanh niên các cháu có thể sống tập thể... sự tự do mà các cháu có. Nhưng tôi vẫn chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ các cháu đã tiến gần hơn đến chỗ giải quyết những vấn đề lớn. Chẳng hạn như công ăn việc làm? Bạn gái? Thành phố? Lòng tận tụy? Các cháu chưa tiến xa hơn tôi hồi tôi ở tuổi các cháu đâu. Có lẽ còn chưa bằng tôi nữa kia, vì tôi được đảm bảo bởi một số ảo tưởng.”

Cato lên tiếng, “Thực lòng cháu không muốn nêu vấn đề này ra, nhưng chẳng phải chú đã ly hôn? Chẳng phải con trai chú phải ngồi tù ở đâu đó?”

“Phải.”

“Vậy tức là chính chú cũng không giải quyết được ổn thỏa những vấn đề lớn.”

“Đúng thế. Nhưng ngay hành động thất bại cũng có cái hay. Tôi sáu mươi mốt tuổi rồi. Tôi không ở tù. Tôi không bị thần kinh. Vì vậy tôi nghĩ mình đã đi trước đón đầu cuộc chơi rồi.”

“Chú không nghĩ chúng cháu làm được à?”

“Tôi chưa thấy có dấu hiệu gì khẳng định cả... trừ một điểm. Các cháu có sự hăng hái nhiệt tình nhất định. Và cái đó có thể khá quan trọng.” Lúc này Britta mới thấm thía mức độ nghiêm trọng của những gì xảy ra tại quê hương mình, và cô gục xuống bàn, đầu gối lên cánh tay. Gretchen tìm cách an ủi bạn, “Đừng căng thẳng quá, Brit,” Britta liền ngước lên nói, “Chẳng phải rất lạ sao, một đám cháy ở tận Tromsø lại có thể khiến người ta bị tổn thương đến thế?”

Tôi thì nói, “Tôi nhớ có lần ở Torremolinos, tôi đã gặp một cộng đồng hippy, tất cả đều ở tuổi hai mươi, không ai có bất cứ nghĩa vụ nào, và mọi việc đều tốt đẹp. Nhưng có một thắc mắc lạ lùng cứ luẩn quẩn trong đầu tôi: ‘Các bạn sẽ chôn người chết theo nghi lễ nào?’ Cuộc đời đòi hỏi phải có những nghi thức tiễn đưa nhất định. Không thể tránh được chuyện đó. Tôi chưa bao giờ quan tâm nhiều đến các nghi lễ cổ xưa, nhưng chúng rất hữu ích. Tôi không hiểu các bạn ấy sẽ đặt ra những nghi lễ nào.” Câu trả lời đến một cách bất ngờ. Churchill đi vào quán, Monica nói với ông ta, “Cato và tôi đang thèm một liều thật đã đây. Đến chỗ ông thôi.”

Khi Gretchen định hỏi làm như vậy có khôn ngoan không, Monica nói, “Một khi đã nắm được thứ gì đó mà bạn biết là tuyệt vời thì đừng chùn bước.”

Rồi cô và Cato biến mất.

—★—

Sáng hôm sau, trong lúc tôi đang ở Faro thu dọn hành lý để quay về Geneva, sáu bạn trẻ ở Alte bị đánh thức rất sớm. Trời vừa sáng thì Churchill, trông vô cùng nhợt nhạt trong ánh sáng ban ngày, dẫn một người Đức cao to, tóc vàng, khoảng ba mươi tuổi đến đập cửa xe sầm sầm.

Khi Cato, người nằm gần cửa nhất, thò đầu ra, anh thanh niên Đức nói bằng tiếng Anh trôi chảy, “Tôi cần nói chuyện với các bạn,” Cato hỏi, “Tôi có làm gì đâu?” thì tay người Đức nói, “Với tất cả... cả sáu người.”

“Dậy đi, dậy đi!” Churchill gọi vọng qua tấm lưới trên nóc. “Detlev, xem họ ngủ như thế nào này.” Tay người Đức trèo lên nhòm vào bên trong, anh ta mặt đối mặt với Britta. “Em xinh thật đấy,” anh ta nói vẻ tán thưởng.

Các bạn trẻ đã có mặt đầy đủ ngoài cửa chiếc pop-top, mỗi người ăn bận một kiểu, lại có cả đám đàn bà trong làng đang trên đường đến đài phun nước cũng dừng lại quan sát, Churchill giới thiệu, “Đây là Detlev, người Dusseldorf. Cậu ấy có một đề nghị rất hấp dẫn.”

“Anh lên đây bằng cách nào?” Cato hỏi, người Đức kia liền tự hào chỉ một chiếc xe Mercedes-Benz nửa chở khách nửa chở hàng khá lớn, kỳ thực là một chiếc xe tải, sơn màu xám giống như chiến hạm và đậu dưới bóng cây ở đầu kia quảng trường. “Xe tôi đấy,” anh ta nói. “Của chúng ta, nếu mọi việc tiến triển tốt.”

“Việc gì?” Cato hỏi.

Đến đây Churchill bắt đầu diễn vai trò người trung gian. “Detlev đã làm việc này ba lần rồi, vì vậy không có gì không chắc chắn cả. Nếu đã nói định đi đến đó là cậu ấy sẽ đi thật.”

“Đi đâu?” Cato hỏi dồn.

“Thế này nhé, cậu bạn thân của tôi đã mua chiếc xe này - chiếc xe tải này, các bạn có thể gọi như vậy - ở Dusseldorf và cậu ấy sẽ lái đi Nepal - Nepal nhé, xin các bạn hãy chú ý - và bán lại với tiền lãi rất cao. Đó là cách kiếm sống của cậu ấy.”

“Thế thì liên quan gì đến chúng tôi?”

“Mỗi người chỉ cần bỏ ra một trăm đô la - vừa đủ trả tiền ăn uống xăng dầu - Detlev sẽ chở các bạn tới Nepal.”

Lời mời được đón nhận trong im lặng. Trời mới tinh mơ, quá sớm để nhóm bạn nghĩ đến khả năng đi một chuyến xuyên suốt châu Âu, qua vùng Cận Đông và phần trung tâm châu Á để tới vương quốc Nepal núi non trùng điệp. Monica là người duy nhất lên tiếng: “Tôi nghe nói cỏ ở Nepal tuyệt lắm.”

“Tuyệt quá đi chứ!” Detlev hào hứng thốt lên. Anh ta là một thanh niên khỏe mạnh, đẹp trai, trông như mẫu người mà một trường đại học ở New Mexico sẽ thuê để chơi bóng đá. “Tại Katmandu em sẽ gặp nhiều kẻ ăn chơi sành điệu hơn... Khách sạn Nga, nhất định em phải đến thăm nếu muốn thâm nhập đời sống ở đó.”

“Bao giờ anh rời khỏi đây?”

“Hai tiếng nữa.”

“Có một nhóm rất thú vị cùng đi với cậu ấy,” Churchill xen ngang. “Tôi đã gặp tất cả bọn họ đêm qua.” Và ông ta giơ những ngón tay dài ngoẵng ra kiểm lại số người: “Có một cậu người Úc, một cậu người Texas, hai cô người Bỉ và hai cô người Canada.”

“Chẳng phải như vậy là xe đầy rồi sao?” Gretchen hỏi.

“Không đâu,” Detlev nói. “Tất cả đều mang theo đồ cắm trại. Các bạn ngủ dưới gầm xe, bên rìa đường, trong các nhà thờ cũ.”

“Ông có đi không?” Gretchen hỏi Churchill.

“Không, không, cô bạn thân mến. Tôi chỉ quan tâm với tư cách bạn bè thôi. Cô biết đấy, Detlev mang cho tôi hàng dự trữ từ Thụy Sĩ đến đây. Và ở Nepal về cậu ta lại mang cho tôi rất nhiều thứ hay ho.”

“Vậy, nếu bất cứ bạn nào mong được đi một chuyến thực sự ra trò,” Detlev nói, “thì chỉ phải bỏ ra một trăm đô la. Nhưng chúng tôi sẽ rời khỏi Albufeira sau hai giờ... đúng hai giờ nữa.” Anh ta đến gần Britta, người từ đầu đến giờ chưa nói câu nào. “Em có hứng thú không?”

“Tôi là người Na Uy,” cô gạt lời mời đó đi.

“Anh có hứng thú không?” Detlev hỏi Yigal, nhưng anh nói, “Tôi là người Do Thái.”

Gretchen bị vướng chiếc pop-top; Joe có hứng thú nhưng lại không có tiền; Cato có hứng thú nhưng phải ở quanh Albufeira cho đến khi tấm séc của ông Wister được chuyển tới. Monica thì hứng thú. “Em muốn đến thăm Nepal,” cô phát biểu.

“Em có tiền không?” Detlev hỏi.

“Có.” Bầu không khí im lặng bao trùm cả nhóm cho đến khi bị tiếng cười gượng gạo của cô phá tan. “Nhưng em ở lại cùng các bạn thì tốt hơn.”

“Đoàn chúng tôi có bốn cô gái,” Detlev vội nói cho Monica yên lòng.

“Ở đây có hai. Và hai bạn ấy dễ thương hơn,” Monica đáp. Detlev nhún vai, gật đầu quả quyết nói với sáu người, “Các bạn đang bỏ lỡ một chuyến đi rất thú vị.”

“Anh cũng đang bỏ lỡ một chuyến đi thú vị,” Britta đáp, tay gõ nhẹ lên chiếc pop-top.

“Điều đó thì anh tin chắc, cô gái Na Uy xinh đẹp ạ.” Anh ta gửi cô một cái hôn gió đoạn rảo bước về chiếc Mercedes.

Hai tiếng sau tôi vừa về đến Alte thì thấy mọi người trong chiếc pop-top đang nháo nhác. “Ôi, chú George!” Gretchen kêu lên khi tôi đến để tạm biệt. “Monica đã bỏ đi rồi. Trên đường lên đây chú có nhìn thấy bạn ấy không?”

“Tôi đi đường phía sau... từ Faro. Cô ấy đi đâu?”

“Đi Nepal.” Tôi chưa kịp lấy lại hơi, cô đã đưa cho tôi một mẩu giây trong đó có mấy chữ viết nguệch ngoạc như trẻ con: “Tôi có số tiền một trăm đô la ấy, vì vậy tôi đi đây. Monica.”

“Nghĩa là thế nào?” Cả nhóm thuật lại cho tôi nghe, và tôi nói ngay, “Chúng ta nhất định phải ngăn cô ấy.” Vì tôi đã tưởng tượng ra hình ảnh cô gái tuổi mười bảy phiêu bạt từ đầu này sang đầu kia mái nhà châu Á, vạ vật trong những phòng trà nhung nhúc chấy rận ở Afghanistan mà tôi từng biết, nên tôi nhắc lại, kiên quyết hơn, “Chúng ta nhất định phải ngăn cô ấy.”

Tôi dặn hai cô gái chờ ở công viên cho đến khi chúng tôi quay về và đừng hoang mang. Rồi tôi cùng ba chàng trai nhảy lên chiếc pop-top lao xuống con đường núi dẫn tới Albufeira. Vội vã lượn một vòng các quảng trường chính mà không thấy gì, chúng tôi đỗ lại ở quán bar của Churchill, ông ta nói với chúng tôi, giọng nhạt nhẽo, “Phải, cô gái dễ thương ấy đã quyết định đúng.” Ông ta nhìn đồng hồ của tôi, bản thân ông ta không đeo, và nói tiếp, “Cô ta đã lên đường sang Nepal được bốn mươi phút rồi... với một nhóm trẻ chịu chơi... vì vậy các bạn không phải lo.”

Tôi muốn đấm vào mặt ông ta mà quát hỏi xem bọn họ đi đường nào, nhưng Joe, trong khi lái xe đã nghiên cứu bản đồ, khẳng định, “Chắc chắn họ phải qua Loulé,” vì vậy chúng tôi lại nhảy lên chiếc pop-top và phóng về hướng đó.

Bình thường Joe lái xe rất cẩn thận, nhưng lúc này anh lao chiếc Volkswagen vun vút quanh các khúc ngoặt và lên những con dốc nghiêng với vận tốc hung bạo, và không ai trong chúng tôi cảnh báo anh đi chậm lại vì chúng tôi quyết tâm đuổi kịp chiếc Mercedes và thuyết phục Monica tỉnh táo lại. “Tên người Đức có lẽ hung tợn lắm đấy,” Yigal nhắc. “Tức là, nếu chúng ta đuổi kịp được hắn.”

“Hắn sẽ không lái nhanh đâu,” Joe tiên đoán, và anh nói không sai vì trên đường núi phía bắc Loulé, chúng tôi đã phát hiện ra chiếc Mercedes màu xám đằng xa, đang rẽ một cách thận trọng. “Trong ngày đầu tiên của cuộc hành trình dài, người ta không bao giờ lái quá nhanh,” Joe nói.

Chúng tôi phải mất một lúc mới đuổi kịp chiếc Mercedes-Benz, và vừa đuổi kịp thì những hành khách trên xe hiểu ra ngay chúng tôi là ai nên Detlev bèn bẻ ngoặt tay lái sao cho chiếc pop-top không vượt được anh ta. Chúng tôi cứ đi như vậy một quãng đường khá dài, Yigal nói, “Chắc sẽ gay go đây,” nhưng Joe bảo, “Gay go thì gay go.”

“Đừng tìm cách vượt sát mép ngoài khúc cua,” tôi nhắc nhở vì có một con dốc thẳng đứng để xuống thung lũng phía dưới. Joe nói để tôi yên tâm, “Cháu sẵn sàng cứ chạy theo thế này năm mươi dặm nữa. Tên chó đẻ kia cũng phải dừng xe vào lúc nào đó chứ.”

Lúc này Monica hiện ra qua kính hậu, xua tay ra hiệu cho chúng tôi quay lại, tôi cảm thấy kinh hoàng khi nhìn từ xa trông cô mới yếu đuối và nhỏ bé làm sao. Ấn tượng đó càng sâu sắc hơn khi hai người đàn ông ngồi cùng cô xoay người lại nhìn chúng tôi giận dữ, khuôn mặt lờ mờ của họ trông to bè bè và đầy đe dọa. “Một tên Texas và một tên Úc,” Cato lẩm bẩm. “Thật đúng là vận chúng mình.” Tận mắt nhìn thấy khổ người của hai tên đó, và nhớ lại Detlev vạm vỡ như thế nào, anh thấy đối thủ trong chiếc Mercedes chắc chắn là không vừa. Tôi có cảm tưởng Cato sẽ không giúp ích được gì nhiều trong một trận ẩu đả, còn Yigal lại khá nhỏ bé. Joe thì đáng gờm, tôi cho là như vậy. Ít nhất anh cũng không tỏ dấu hiệu muốn lùi bước hoặc lo sợ khi đám người bên chiếc Mercedes có những cử chỉ đe dọa.

Đột nhiên, bằng một động tác khiến tất cả mọi người trong chiếc pop-top cũng như ba thanh niên trong chiếc Mercedes sững sờ, Joe bẻ ngoặt tay lái sang mép đường, vượt lên trước tên người Đức còn đang choáng váng và lái chiếc pop-top xoay ngang đường quốc lộ khiến chiếc Mercedes buộc phải phanh gấp.

“Chuyện quái gì thế này?” một tiếng gầm vang lên từ chiếc Mercedes, đồng thời một người Texas rất cao lớn giận dữ nhảy xuống đường. “Mày muốn giết hết bọn tao phải không?”

“Tôi chỉ muốn ngăn các anh lại,” Joe cũng ra khỏi xe và nói. “Chúng tôi sẽ đưa cô gái người Anh quay về.”

“Mày sẽ chết với ông!” tên người Úc quát, tháo một khung dây kim loại và bước ra giữa đường. Hiển nhiên hắn vừa ôm hôn Monica trên ghế sau vì má trái hắn nhoe nhoét son môi, và hắn không có ý định từ bỏ thứ gì hứa hẹn thú vị đến thế trong cuộc hành trình dài xuyên châu Á.

Joe vẫn bình tĩnh nói, “Cô ấy xuống xe ngay bây giờ thì hơn.”

“Mày mà động vào cô ấy, mày sẽ toi mạng,” tên người Úc nói.

“Thế thì chúng ta cùng toi mạng,” Joe đáp và vụt một phát vào tên người Úc. Anh chỉ mới quệt qua hàm hắn, nhưng thế thôi cũng đủ để anh chàng gầy gò bật ngửa về phía sau.

Tôi chưa kịp hiểu việc gì đang xảy ra, con đường núi bỗng chốc đã loạn xạ những nắm đấm bay vèo vèo, những đầu gối nhằm vào chỗ hiểm, những khuỷu tay huých vào cổ họng. Cả ba thanh niên bên chiếc Mercedes đều cao lớn hơn bất cứ người nào trong phe chúng tôi và xem ra ba chàng trai của chúng tôi sẽ bị đánh bại nhanh chóng, nhưng điều này không xảy ra vì Joe là một thanh niên dũng cảm, Cato đánh đấm khá hơn tôi tưởng, còn Yigal thật phi thường. Với tinh thần gan dạ mà tôi không ngờ, mặc dù tôi đã biết về những chiến công của anh ở Qarash, anh liên tục len vào rồi lại lách ra khỏi đám loạn đả, giáng được thật nhiều quả đấm quyết liệt. Khi Detlev quay sang để tập trung đối phó với anh, tôi tưởng anh sẽ bỏ chạy. Nhưng không, anh chống chọi với tên Đức to lớn và trả đòn khá nhiều cho đến khi khuỵu một đầu gối.

Nhưng phe kia hiển nhiên sẽ thắng vì tên Texas và tên Úc đều tập trung vào Joe và đấm đá anh không thương tiếc. Lúc này tôi chợt nhớ đến biết bao bộ phim tôi đã xem mà trong đó, kệ hai người đàn ông đánh nhau một trận sống mái, cô gái cứ đứng im, không giúp bên nào. Tôi luôn thấy chướng tai gai mắt với những cảnh đó, cho nên bấy giờ cảm thấy mình buộc phải ứng xử khác đi. Vì thế tôi vội di chuyển đến bên Joe xem có giúp được gì không, song tên Texas nhìn thấy tôi lại gần liền thúc đầu vào bụng tôi, đánh tôi ngã bệt xuống đất khiến tôi hết sức bất ngờ. “Đừng có dây vào, lão già điên!” hắn lầm bầm, đá vào mạng sườn tôi nhưng trượt.

Tôi bị sỉ nhục. Thế mà tôi đã mong ít nhất cũng vinh dự lĩnh một nắm đấm vào hàm. Bị húc và đá thì thật nhục nhã. Tôi cảm thấy máu bốc lên đầu, và trong cơn giận dữ tôi nhìn quanh tìm một hòn đá để nện hắn, nhưng không thấy hòn nào cả - còn hắn đã quay lại đấm Joe túi bụi.

Đúng lúc đó tôi nhìn thấy trong lùm cây ven đường quốc lộ một cành cây lớn dễ có thể gây chết người đã bị tỉa khỏi một cây ô liu già cỗi. Khó có thể coi đó là vũ khí lý tưởng vì nó quá to, nhưng tôi biết nếu vung lên được thì tôi có thể tự mình trả thù. Mặt mũi nhăn nhó vì bị đá đau, tôi bò xuống vườn ô liu, vồ lấy cành cây, quay lại cuộc chiến.

Nắm chặt cành cây trong tay với tất cả sức lực có được, tôi vung tay xoay một vòng và đập trúng vào bả vai tên Texas trong lúc hắn lơ là, đúng chỗ nơi giữa cổ và vai. Hắn ngã vật xuống, Cato nhảy bổ vào, cưỡi trên người hắn như thể đó là một con bò to đã ngã quỵ và thụi tới tấp đến khi hắn ngất đi.

Lúc này tôi mới quay sang phía tên Úc đang dồn Yigal vào thế bí, và bằng động tác xoay cành cây một vòng thật rộng, cách mặt đất chừng một mét, tôi đập trúng khoeo chân hắn làm hắn khá lúng túng, sau đó tôi tranh thủ cơ hội quật tiếp trong khi hắn gục xuống, rồi Yigal nhảy vào giải quyết dứt điểm.

Thấy tôi mang gậy tiến lại và biết rằng Joe, mặc dù bị đánh tả tơi, còn lâu mới chịu dừng lại, Detlev đành nhượng bộ. “Cứ việc mang con điếm đi,” hắn làu bàu.

“Đó chính là điều chúng tôi định làm,” Cato cương quyết đáp và trèo lên chiếc xe Mercedes túm lấy tay Monica.

“Anh hùng thế đấy,” tên Đức mỉa mai. “Lợi dụng cả một lão già với một cây gậy.”

“Cái gì mà chẳng được miễn là xong việc,” Cato vừa đáp vừa lôi Monica về phía chiếc pop-top.

“Còn anh ta thì sao đây?” Detlev hỏi, tay chỉ tên Texas vẫn đang bất tỉnh.

Joe đáp, và câu trả lời thận trọng của anh khiến tôi phải ngạc nhiên: “Hắn có chết đâu, vì vậy hắn là trách nhiệm của các anh. Và tôi sẽ không đi báo cảnh sát, bởi vì tôi xin thề, nếu các anh làm như vậy, tôi có thể khai là các anh bắt cóc một cô gái mười bảy tuổi...”

“Cô ta tự đi đấy chứ. Churchill sẽ làm chứng.”

“Và tôi sẽ tố cáo các anh buôn lậu LSD và heroin vào Bồ Đào Nha... thường xuyên.” Trong lúc nói câu đó, Joe đứng sát sạt tên Đức. Không thấy hắn có phản ứng, Joe lẳng lặng giơ tay phải lên nhẹ nhàng gạt đối thủ sang bên. “Tôi sẽ quay xe trở về Alte. Và các anh đừng có ai ngăn cản. Các anh lên xe sang Nepal đi.”

Joe quành chiếc pop-top theo một đường vòng cung hẹp, và với bánh xe phía ngoài gần như trượt xuống thung lũng phía dưới, anh hướng trở về nơi Gretchen và Britta đang nóng lòng chờ đợi.

Gần đến Alte thì xảy ra một việc khó xử. Khi mới quay về, chúng tôi không khác gì các cầu thủ bóng rổ trung học vừa trở về sau trận đầu tiên đấu trên sân khách.

“Chà, cậu nện cái thằng Texas ấy ghê thật!” Cato nhắc đi nhắc lại với Joe.

Joe thì bảo Yigal, “Cậu đã không ngại nhảy vào cuộc. Tớ tưởng tên Úc ấy sẽ bẻ cậu làm đôi cơ đấy.”

“Chắc hẳn hắn sẽ làm được,” Cato kêu lên, “nếu ông bạn già không lấy gậy hạ gục hắn. Tôi không tin đầu gối hắn còn được lành lặn như trước.”

Trong khi các đấu sĩ say sưa bàn luận, Monica ngồi im như nàng Helen thành Troy, choáng váng trước toàn bộ sự việc. “Thế mà em cứ tưởng mình đang trên đường tới Nepal chứ,” cô nói.

“Với mấy con khỉ hình người ấy ư?” Cato hỏi. “Chúng sẽ bỏ em lại Thổ Nhĩ Kỳ.”

Tôi cũng góp phần vào màn tự khen này và đang bày tỏ sự thán phục trước màn trình diễn của Joe thì thình lình toàn thân rã rời. Sự căng thẳng suốt buổi sáng ngấm vào người làm tôi bỗng thành một ông cụ già nua, hoảng sợ nhớ lại trận ẩu đả mình đã bị lôi vào. Dù trong bất cứ tình huống nào, nện gậy tới tấp vào đầu một người vô tình trở thành địch thủ của mình cũng là hành động đáng hổ thẹn, nhưng làm như vậy ở tuổi tôi thì không thể tha thứ được. Mạng sườn tôi đau nhói và tôi bắt đầu run lập cập. Tôi khoanh tay ép lên bụng, nhưng vẫn không sao hết run.

Monica là người đầu tiên nhận thấy tình trạng của tôi. Nhoài người sang hôn tôi, cô nói, “Chú George, đừng quá căng thẳng chuyện đó.”

“Làm sao thế?” Cato hỏi.

“Nhìn kìa. Chú ấy đang run.”

“Chú có bị thương không?” Yigal lo lắng hỏi. “Cháu thấy hắn đá chú một cú như trời giáng.”

“Tôi sợ,” tôi đáp. “Sợ ngộ nhỡ xảy ra điều gì.” Điều này thì họ đều hiểu. Họ cũng sợ, nhưng là thanh niên, họ có thể kiềm chế nỗi sợ hãi. Tôi thì không thể.

Khi chúng tôi gặp lại Gretchen và Britta, mọi người nhất định đòi tôi hoãn chuyến bay về Geneva, và lúc Britta giúp tôi cởi áo sơ mi, nhìn thấy vết bầm khá lớn ở mạng sườn, chỗ bị tên Texas đá, cô bèn dọn giường cho tôi nằm và sang nhà hàng xóm xin nước nóng. Nghe nói có người bị ốm, một phụ nữ Bồ Đào Nha khéo tay bèn đến đắp thuốc cho tôi, tôi phải xấu hổ thú nhận rằng tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ và nằm bẹp như vậy mấy tiếng đồng hồ liền.

Tôi bị đánh thức bởi chính những lời đã chào đón tôi sáng đó khi tôi quay lại Alte: “Monica bỏ trốn rồi.” Một cậu bé trong làng đã nhìn thấy cô bắt xe đi Albufeira, và vừa nghe thấy cái tên ấy, tôi đã hiểu ngay mọi chuyện. Tôi biết chính xác cô đang ở đâu.

Chúng tôi lên xe vào thành phố, và tôi để những người kia ở quán bar, trong khi một mình tới phòng Churchill. Cửa khóa, nhưng tôi đá tung ra, mạng sườn lại nhói đau khi tôi làm vậy, và ở trong đó chính là cảnh tượng mà tôi biết mình sẽ được chứng kiến: Monica đang nằm trên giường cùng Churchill.

“Mặc quần áo vào rồi chúng ta sẽ rời khỏi đây,” tôi ra lệnh.

“Lão già ba hoa đây rồi,” cô làu bàu từ phía giường.

“Tự chú đã đoán ra. Chú sẽ giữ kín.”

“Cô ấy là người tự do...” Churchill lên tiếng.

“Im miệng!” tôi quát, “nếu không tôi sẽ đá cho ông một trận kinh hồn táng đởm đấy. Cô ấy biết rõ tôi làm được thế.”

Ông ta định nói gì đó, và lần thứ hai trong ngày hôm ấy máu nóng dồn lên đầu tôi. Mặc dù mạng sườn đang đau, tôi vẫn cố nói, “Thêm một lời nữa thôi, Churchill, và tôi sẽ thực sự...” Tôi không nghĩ ra phải kết thúc lời đe dọa như thế nào nên đành bỏ lửng câu nói.

Monica mặc áo váy, một cách lừng khừng và xấc láo, sau khi đã bước lại sát người tôi nhiều lần trong lúc còn trần truồng, và khi tôi dẫn cô xuống cầu thang, cô hỏi, “Làm sao chú biết cháu ở đây?”

“Vì cháu muốn làm tổn thương chúng tôi... không chỉ Cato... mà tất cả mọi người. Bằng cách cứu cháu thoát khỏi tay tên Đức, chúng tôi đã chứng minh chúng tôi yêu mến cháu biết bao nhiêu... thế mà cháu lại muốn làm chúng tôi bị tổn thương.”

“Chú ngốc lắm,” cô nói, “nhưng chú có câm đâu. Chú có nói cho những người khác biết không?”

“Không cần. Mỗi người đều có cách hiểu riêng về sự vắng mặt của cháu... vì họ cũng yêu mến cháu.”

Cô nắm cánh tay tôi khi bước xuống những bậc thang cuối và nói, “Thật ra chú sợ phải về nhà, phải không?”

“Cháu đã bao giờ sợ chưa?”

“Chưa bao giờ.”

Tại sao tôi lại phải lo nghĩ cho Monica? Cách xử sự của cô ở Algarve khó sửa đổi đến nỗi tôi có bỏ mặc cô cũng là lẽ thường tình. Tôi đã tự kiềm chế vì hai lý do. Xét ở mặt nào đó, cô là con gái tôi. Cô không có mẹ, và tại nhiều thời điểm quyết định trong đời cô, cha cô lại bỏ rơi cô, phó mặc việc dìu dắt cho tôi, và chắc là trong tương lai ông vẫn sẽ làm như vậy. Tôi đã phải vất vả lắm mới mang lại cho cô phần nào sự ổn định, và trong quá trình đó tôi đã thành ra thương mến cô như chính con đẻ của mình. Tôi đánh giá cao những phẩm chất hiếm hoi mà cô có và tin rằng nếu tôi giúp cô vượt qua được giai đoạn vị thành niên đầy xáo trộn mà bước vào tuổi hai mươi có trách nhiệm, cô có thể đạt tới một sự cân bằng nào đó hữu ích cho quãng đời còn lại. Thất bại với chính con trai mình đã khích lệ tôi kiên trì.

Lý do thứ hai của tôi lại hơi khác. Tôi nhớ đến một danh sách dài dằng dặc những người đàn bà lập dị mà nước Anh vốn đứng đắn đã giới thiệu ra thế giới nhằm mua vui và đôi khi còn để mở mang đầu óc cho thiên hạ. Không có nước nào chặt chẽ về mặt phép tắc như Anh quốc, và cũng không nước nào phù hợp đến thế trong việc sản sinh ra những phụ nữ khác thường. Rất có khả năng Monica sẽ tìm được một chỗ đứng trong đội ngũ khó tính ấy nếu cô phấn đấu làm chủ được bản thân.

Ở tuổi mười bảy, cô chẳng tệ hơn phu nhân Mary Wortley Montagu, người đàn bà đã làm cả châu Âu chấn động bởi cách cư xử ngang ngược và miệng lưỡi sắc sảo. Và lòng quyết tâm đi Nepal của cô còn thua xa thiên hướng tương tự của Isabel Burton, một thiếu phụ đứng đắn đã nảy sinh tình yêu mãnh liệt với dịch giả Nghìn lẻ một đêm, theo ông đến bất cứ nơi nào mà sức tưởng tượng kỳ lạ của ông vẫy gọi. Isabel là một người đàn bà khác thường; trong ba mươi năm bà đã chứng kiến chồng mình bền bỉ viết kiệt tác Khu vườn đượm hương thơm, lột tả tất cả những gì uyên thâm và khiêu dâm ở phương Đông; ông mất ngay trước ngày xuất bản tác phẩm vĩ đại của mình, khi ấy bà ngồi một mình trong phòng và đốt bản duy nhất của bản thảo, lần lượt hết trang này đến trang khác, hơn hai nghìn trang cả thảy, tin chắc bà đang làm một việc chính đáng vì bản viết tay có những đoạn mà bà cho rằng “không tế nhị”.

Những người đàn bà kỳ quặc của nước Anh ấy là một đám người dũng cảm, và nếu Monica sống đủ lâu, có lẽ cô sẽ chiếm được một vị trí trong đội ngũ của họ. Thậm chí tôi còn có thể bỏ qua những hoạt động tình dục phóng túng của cô khi so sánh chúng với những thành tích đáng chú ý mà Jane Digby đã lập.

Jane là một phụ nữ trẻ đẹp sinh năm 1807, cháu nội một Bá tước. Mười sáu tuổi, bà bị gả cho một nhà quý tộc Anh. Hai mươi tuổi, bà chính thức bắt nhân tình lần đầu với một viên chức Viện Bảo tàng Anh quốc. Hai mươi mốt tuổi, bà bắt đầu mối quan hệ say đắm với ông anh họ, người nhanh chóng phải nhường chỗ cho một hoàng thân Áo mà bà cùng trốn đi tới Paris và còn mang thai với ông ta. Hai mươi tư tuổi, bị hoàng thân Áo kia bỏ rơi, bà thành người tình của Honoré de Balzac trong một thời gian ngắn, rồi lại bỏ ông để làm gái bao của vua xứ Bavaria, rồi không lâu sau cả của con trai ông này nữa. Để giữ người đàn bà trẻ lúc nào cũng sẵn sàng trong triều, đức vua gả bà cho một Nam tước xứ Bavaria, nhưng không may ông này lại đưa bà đi Sicily, ở đó bà gặp một Bá tước Hy Lạp ưa phiêu lưu mạo hiểm đã biến bà thành tình nhân của mình ngay từ khi mới gặp. Lúc này bà đã sinh năm đứa con cho mấy người đàn ông khác nhau, nhưng đến năm ba mươi tư tuổi, bà quyết định ổn định cuộc sống. Vì vậy, bà ly hôn với ông chồng xứ Bavaria và kết hôn với người tình Hy Lạp rồi cùng ông ta bắt đầu cuộc sống gia đình êm ấm.

Rồi vào một ngày chẳng lành, bà tình cờ gặp một ông trùm lục lâm người Albania hơn sáu mươi tuổi lãng mạn một cách điên rồ, và sau một thời gian dài dan díu chấn động giới thượng lưu Athens, bà phá cũi sổ lồng chạy đến Damascus và tại đây, bà ngay tức khắc chuyển sang cuộc sống sa mạc mà bà cho là thích hợp. Mặc dù lúc này đã hơn bốn mươi tuổi, bà vẫn lao vào mối quan hệ bất chính với một tộc trưởng trẻ, đưa ra một đề nghị khác thường là ông ta phải ly dị vợ, giải tán hậu phòng gồm cả tá người đẹp và trông vào bà để thay thế cả hai đối tượng đó. Không có gì khó hiểu khi ông ta từ chối, thế là ở tuổi bốn mươi bảy bà lại dấn thân vào cuộc tình sôi nổi với một tộc trưởng già hơn và cùng ông ta vượt qua sa mạc với tư cách một thành viên trong đoàn bộ hành.

Tinh thần tự do của bà đã quyến rũ vị tộc trưởng trẻ đến nỗi trong lúc bà đi xa ông ta đã ly dị người vợ theo đạo Hồi và tống khứ hậu phòng của mình. Trong hoàn cảnh đó Jane kết hôn với ông ta và từ đó hai người sống vui vẻ hạnh phúc. Tuổi đời đã hơn sáu mươi, bà vẫn cưỡi ngựa sát cánh bên chồng trong nhiều cuộc xung đột giữa các bộ tộc, và ở tuổi bảy mươi hai, bà còn theo đoàn lạc đà rong ruổi trên sa mạc, thừa nhận là ham muốn tình dục của mình vẫn mãnh liệt như xưa và sức hấp dẫn của mình đối với đàn ông không hề giảm sút. Tuy nhiên, sang đến tuổi bảy mươi tư, bà bắt đầu kém hăng hái hơn một chút, than phiền là bà chỉ có thể ngồi trên yên không quá một buổi sáng. Cuối năm ấy, sau khi thoát khỏi dịch tả vốn hoành hành khắp Syria, bà lại bị quật ngã bởi chứng kiết lị đáng hổ thẹn rồi chết vì bệnh này.

Ông chồng tận tụy vốn bị giới báo chí hẹp hòi của Anh thời Victoria gọi là “tên tộc trưởng Bedouin nhỏ bé đen sì bẩn thỉu” đi theo quan tài ra tận mộ, cưỡi trên lưng con ngựa đen mà bà yêu quý nhất.

Nếu có một lúc nào đó muốn đánh giá Monica một cách khắt khe, tôi lại kiềm chế khi nghĩ đến Jane Digby, cháu gái Bá tước, Phu nhân Ellenborough, Nam tước phu nhân Venningen, Bá tước phu nhân Theotokoy, người tình của hai vị vua - cả cha lẫn con - nguồn cảm hứng của Balzac, bạn đường của một tướng cướp Albania và vợ yêu của tộc trưởng Abdul Medjudel ở Damascus.

Tôi đưa Monica về với đám bạn và như thường lệ không ai hỏi cô vừa ở đâu.

“Tôi nghĩ các cháu nên đi khỏi đây ngay bây giờ,” tôi khuyên. “Tên Đức có thể quay lại đấy.”

“Tôi không muốn gặp lại hắn đâu,” Yigal phát biểu.

“Chúng ta có thể đi đâu được?” Britta hỏi.

“Đâu chẳng được, ngoài kia kìa,” Joe nói, giơ cả hai tay về phía Tây.

“Em biết rồi!” Gretchen nói. “Chúng ta sẽ quay lại Silves. Em vẫn muốn xem pháo đài cổ một lần nữa.”

Thế là mọi người nhất trí sẽ lên đường đi Silves ngay, rồi sau đó, nghĩ tới nơi nào thì đến nơi ấy, nhưng Gretchen xen vào, “Em sẽ không rời khỏi đây mà không chào từ biệt những người quen ở Alte.”

“Nhưng đó chính là nơi tên Đức sẽ đến nếu hắn quay lại.”

“Em không quan tâm. Người dân ở đó đã giúp chúng ta rất nhiều. Lẳng lặng rời đi sẽ là tội ác.”

Vì vậy chúng tôi quay lại Alte, và tôi nghĩ tất cả đều thấp thỏm lo sẽ chạm trán chiếc Mercedes xám đáng ngại ấy, nhưng nó không xuất hiện. Đám trẻ từ biệt người dân vùng núi, một vài bạn còn ứa nước mắt, Gretchen tin tưởng trao mười đô la Mỹ cho một người đàn bà nhờ chuyển đến Maria Concepcião khi nào cô bé xuống núi tham gia hội nhảy.

Sau đó các bạn trẻ tiễn tôi ra xe vì tôi phải quay lại Faro. “Nếu chúng cháu không được gặp lại chú nữa,” Joe nói, “chúng cháu sẽ luôn nhớ chú là một tay đánh gậy rất cừ.”

“Chú sẽ đi đâu?” Britta hỏi.

“Tôi phải quay về Geneva. Bởi vì hai tuần đầu tháng Bảy, tôi thường đi Pamplona.”

Gretchen bật ngón tay, “Có phải đó là nơi Hemingway đã tới không? Cuốn Mặt trời vẫn mọc?” Thấy tôi gật đầu, cô háo hức hỏi, “Chú nói là tháng Bảy phải không?”

“Bảy ngày nữa.”

“Chúa ôi! Chúng ta có thể qua Silves đêm nay... rồi ngược lên Lisboa... sau đó...”

Britta hỏi, “Chú thường nghỉ ở đâu mỗi khi đến Pamplona?”

“Quán Vasca,” tôi đáp, và lúc lái xe xuống đồi, qua kính chiếu hậu tôi có thể thấy họ đang trải bản đồ ra xem.

• Chú thích •

[80] Nhân vật trong phim hoạt hình của Walt Disney, bị mọi người chê cười vì tưởng một quả dâu rụng là một mảng trời rơi xuống đất và cho rằng trời đang chuẩn bị đổ sụp xuống. Đến khi có một mảng trời rơi xuống thật thì chẳng còn ai tin chú nữa.

[81] Không khí, môi trường (tiếng Tây Ban Nha).

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang