Sáu Người Đi Khắp Thế Gian

Lượt đọc: 1509 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
torremolinos

Ngày tháng ở Torremolinos rất tươi đẹp - nhưng đã bao giờ chúng không tươi đẹp?

Trụy lạc ư? Phải. Thoái hóa biến chất ư? Không. Tôi nghĩ anh không thể gọi một người đàn ông thích cả con trai lẫn con gái là thoái hóa biến chất được.

Sau cả một đời nay đây mai đó, ông đã đến sinh cơ lập nghiệp ở vùng Costa del Sol này và dạy chúng tôi năm quy tắc du lịch thành công. Không bao giờ dùng bữa ở bất cứ hiệu ăn nào có tên là Quán của Mẹ. Không bao giờ chơi bài poker với bất cứ ai có tên là Đốc tờ. Mang quần áo đi giặt bất cứ lúc nào có dịp. Không bao giờ từ chối tình dục. Và hãy gọi bất cứ món gì nấu với gạo dại.

Chúa rất vĩ đại nhưng cần sa thì dễ chơi hơn nhiều.

Hắn mở quán bar tuyệt vời này ngay gần bãi biển, nhưng hắn đã phạm một sai lầm đáng tiếc. Hắn đã bán sáu mươi phần trăm cổ phần của quán lần lượt cho bảy người khác nhau rồi ôm bọc tiền chuồn ngay đi Tangier. Sai lầm của hắn là đã quay về.

Anh ấy sống năm năm ở Torremolinos, vừa quản lý một quán bar vừa viết cuốn tiểu thuyết đặc sắc về Tây Ban Nha. Anh ấy đưa cho tôi đọc thử hai chương, và tôi nhận thấy đầu óc anh ấy hơi lộn xộn khi phát hiện ra anh ấy gọi nhân vật đấu bò tót người Andalusia là Leopold Kuferberg.

“Anh đến thăm mười sáu nước trong mười bảy ngày nhưng anh bay thật thấp trên tám nước khác.”

Margaret giám sát Justin thật nghiêm ngặt, làm đủ mọi cách để giữ anh tránh xa chai rượu đến nỗi thời gian duy nhất anh có cơ hội thực sự được uống căng bụng là những đêm chị để cho anh ra khỏi nhà đi dự Hội Người nghiện rượu Ẩn danh ở Torremolinos.

Nếu trong tâm hồn người già không có một người trẻ thì đó chỉ là một trong những thiên thần của quỷ.

• Thoreau

Lang thang khắp Torremolinos về đêm giống như đi dạo chơi ống cống trong một con tàu có đáy bằng thủy tinh.

Chính tai tôi nghe thấy. Bà ta bảo đám người Thụy Điển, “Tôi cóc cần biết các anh làm gì miễn là các anh không làm cho đàn ngựa sợ hãi.”

Bảy mươi tuổi trẻ đôi khi còn vui hơn và đầy hứa hẹn hơn bốn mươi tuổi già.

• Oliver Wendell Holmes

Người có một cô vợ đẹp hay một tòa lâu đài ở biên giới thì phải chuẩn bị cho chiến tranh.

Người hướng dẫn thông báo với mẹ tôi rằng thăm viện bảo tàng Prado phải mất ít nhất một giờ, nhưng bà nói mọi người còn phải đến Escorial và bà sẽ cho anh ta thêm hai đô la nữa nếu anh ta gói gọn thời gian thăm Prado trong nửa giờ.

Torremolinos... nơi mà chỉ những người không đi du ngoạn mới là khách du lịch.

Hàng năm, ngay trước lễ Phục sinh, cảnh sát Tây Ban Nha lại làm một đợt càn quét tất cả các quán bar, các ổ ăn chơi và tống khứ tất cả những kẻ lang bạt trông giống Đức Chúa Jesus. Ông sẽ kinh ngạc khi biết họ tìm ra bao nhiêu người trông giống Chúa.

Thụy Sĩ rất nên thơ, nhưng tôi vẫn buồn nhớ quê hương California. Tôi muốn được nhìn thấy bầu không khí mà tôi hít thở.

—★—

Ngay các ông trùm tư bản hàng hải Hy Lạp cũng có lúc cạn tiền.

Một vài lần tôi đã nhắc đến cụm nhà chọc trời mọc san sát tại khu vực phía Đông cuối thành phố Torremolinos như một ngôi làng da đỏ khổng lồ nào đó đã được dời sang Địa Trung Hải. Tổ hợp kiến trúc được một côngxoocxiom các chủ tàu Hy Lạp thai nghén và khởi công xây dựng theo đúng phong cách rầm rộ khoa trương của họ. Nếu hoàn tất, tổ hợp này sẽ gồm ba mươi mốt tòa nhà độc lập, mỗi tòa mười bảy tầng, tổng cộng lên tới 527 tầng hay 3.162 căn hộ. Và vì mỗi căn hộ sẽ có bốn giường cá nhân cho nên người Hy Lạp đang từ con số không mà xây dựng nên một thành phố với dân số 12.648 người.

Không may là mùa hè năm 1968, sau khi đã hoàn thành mười tám tòa nhà và mười ba tòa đang ở các giai đoạn xây dựng khác nhau, từ những tòa nhà mới chỉ đào xong móng đến những tòa chỉ còn thiếu mái, họ lại cạn tiền và chỉ còn cách hoặc bỏ cả dự án hoặc tìm kiếm đó đây quanh châu Âu để gọi thêm vốn. Cuộc tìm kiếm đã ném họ vào quỹ đạo của World Mutual, vì vậy tôi phải ở Torremolinos suốt tháng Năm, Sáu, Bảy năm 1968 để xem xét khả năng cứu họ thoát khỏi khó khăn tài chính, nhưng làm ăn với họ rất khó, và cho dù tôi xem xét cẩn thận đến mức nào về tình thế hiểm nghèo của họ và giải thích rõ ràng đến đâu về mức độ kiểm soát mà World Mutual sẽ kiên quyết yêu cầu nếu chúng tôi cung cấp số tiền còn thiếu - tôi tính toán vào khoảng hai mươi sáu triệu đô la, nếu gộp cả trang bị đồ đạc và làm đẹp phong cảnh - họ vẫn chấm dứt thảo luận khi nhìn thấy khả năng phải từ bỏ dù chỉ một chút quyền hành, tất cả những gì họ muốn là tiền với lãi suất thấp, và do khó khăn đó mà cuộc thương lượng của chúng tôi không đi đến kết quả.

Họ vật lộn suốt những tháng cuối năm 1968, lúc nào cũng trong tình trạng thiếu vốn và bất lực, nhưng đến đầu năm 1969, họ đã thấy rõ là hoặc phải xoay được tiền ngay hoặc mất cả dự án. Lần này họ đến Geneva xin chúng tôi cứu giúp với bất kỳ điều kiện nào chúng tôi đưa ra được. Thật không may, họ đến đúng thời điểm chúng tôi dấn quá sâu vào Úc, Philadelphia, Vwarda và đang phải đương đầu với nhiều nhu cầu đột xuất cho các dự án dài hạn ở Bồ Đào Nha đến nỗi chưa thể trả lời họ ngay được. Tất nhiên, việc chậm trễ này có lợi cho chúng tôi vì tình hình Torremolinos xấu đi rất nhanh và người Hy Lạp đã nghi ngờ chúng tôi trì hoãn chỉ nhằm làm khó dễ họ.

Dù thế nào đi nữa, năm 1968 chúng tôi đã cung cấp cho họ tiền mặt với những điều kiện rất thuận lợi; bây giờ chúng tôi phải trì hoãn, nhưng đến giữa tháng Tư, khi vị trí của công ty đã được củng cố, ban giám đốc bảo tôi, “Hãy xuống Torremolinos mua hết cổ phần của người Hy Lạp đi. Tống khứ họ đi. Hãy đưa ra điều kiện của chính ông.”

Vậy là ngày mồng năm tháng Năm, tôi bay tới Málaga rồi nhảy lên một chiếc Rolls-Royce nơi những người Hy Lạp không gợn chút nghi ngờ đã chờ sẵn, và khi đến gần Torremolinos, chúng tôi có thể nhìn thấy mười tám tòa tháp đã hoàn thành cùng những công trình giai đoạn đầu lởm chởm đất đá đã dừng thi công gần hai năm nay.

“Một dự án vĩ đại,” một người Hy Lạp nói với tôi, giọng say sưa hơi căng thẳng. Tôi không nói gì, họ đưa tôi tới dãy phòng sang trọng trên cảng chót của một trong những tòa nhà mười bảy tầng đó, và khi chiêm ngưỡng bức tranh toàn cảnh lộng lẫy này, phía Đông vươn xa quá thành phố Málaga còn phía Tây thì trải rộng gần đến Gibraltar, với những bãi biển đẹp lung linh trong nắng, tôi không thể ngăn mình há hốc miệng choáng váng, vì đây chắc chắn là một trong những cảnh tượng hấp dẫn nhất châu Âu, một giấc mộng về ngành du lịch mới khi những thành phố hơn mười hai nghìn dân được xây lên từ con số không để chiều lòng du khách từ Nam Mỹ, châu Phi, Úc và New Zealand.

Bảy người Hy Lạp căng thẳng chờ tôi lên tiếng, vì vậy tôi mỉm cười thầm điểm lại bản nghiên cứu mang theo trong cặp; bản này do các chuyên viên ở Geneva lập ra để hướng dẫn tôi:

Chúng tôi do đó đi đến kết luận là côngxoocxiom Hy Lạp đã tự sa lầy trong một khu liên hợp gồm 31 tòa nhà với tổng kinh phí phải vào khoảng $57.000.000, hoặc khoảng $18.000 một căn hộ. Họ đã chi hết khoảng $30.000.000, tức là còn cần thêm $27.000.000 nữa để hoàn thành dự án. Mối quan tâm duy nhất của chúng ta là mua hết cổ phần của họ. Chúng ta nên đưa ra giá khởi đầu là khoảng $17.000.000 để mua đứt toàn bộ quyền lợi của họ, nhưng cũng nên chuẩn bị tư tưởng nâng con số lên $25.000.000. Từ những mẫu hiện thời của chúng ta ở Congo và Rhodesia, chúng tôi tính toán ta có thể bán hạ giá 3.162 căn hộ với giá khoảng $30.000 một căn, tổng số tiền thu về khoảng $90.000.000. Nếu chúng ta có thể mua toàn bộ cổ phần của người Hy Lạp với giá khoảng $20.000.000 và đầu tư thêm không quá $26.000.000, vụ này sẽ mang lại lợi nhuận lớn.

“Các ông đã dựng nên một kiệt tác,” tôi thừa nhận, rồi nói tiếp luôn. “Và World Mutual đề nghị mua lại toàn bộ dự án - đất đai, nhà cửa, trang thiết bị - với giá mười bảy triệu đô la.” Có tiếng thở hổn hển, rồi một người hắng giọng, nhưng tôi nói tiếp luôn, “Còn về việc vay tiền, không có khả năng ấy đâu... hoàn toàn không.”

“Thế thì chúng tôi sẽ đến chỗ Gianni Agnelli,” một người hùng hổ.

“Phía Ý cũng không có khả năng đâu.”

Chúng tôi tranh luận khá gay gắt mà rốt cuộc người Hy Lạp phải chấp nhận thực tế là giờ không còn khả năng vay tiền nữa. Nếu không bán cho chúng tôi thì họ chỉ có thể đẩy dự án đến chỗ phá sản và thu hồi được một phần nhỏ của số tiền chúng tôi đề nghị. Đành từ bỏ hy vọng vay tiền, họ thì thầm bàn bạc rồi một người đại diện ngập ngừng hỏi, “Đề nghị mười bảy triệu đô la của ông...”

“Có thể thương lượng,” tôi nói rất thẳng thắn.

Họ đồng loạt thở dài. Qua bản nghiên cứu, tôi biết là với giá mười bảy triệu đô la họ sẽ lỗ đáng kể; bên chúng tôi không hề muốn dồn ép họ và đã sẵn sàng nâng lên đến con số nào đó thể hiện một sự công bằng hợp lý. Nhưng con số nào? Quyết định này đòi hỏi phải có thời gian và bước đi khôn khéo.

Thế là đám người của tập đoàn hàng hải để tôi lại một mình trong căn hộ sang trọng trên tầng chót, và trong lúc họ lui ra thang máy, tôi nhận ra cuộc điều đình sẽ kéo dài. Tôi đoán mình sẽ phải ở lại Tây Ban Nha ít nhất một tháng, và viễn cảnh này không làm tôi buồn phiền vì sau nhịp độ khẩn trương suốt một thời gian dài - Philadelphia, Vwarda và Afghanistan - có thể sẽ có ích cho tôi nếu được tắm nắng lâu lâu một chút.

Khi soạn đồ từ trong mấy cái túi du lịch ra, tôi thấy bốn hộp muesli Bircher khá lớn mà tôi đã mang theo. Chúng sẽ đủ dùng trong bốn tuần nếu tôi tự hạn định khẩu phần cẩn thận, và khi chế độ dinh dưỡng này kết thúc, tôi sẽ lấy lại sức vì trên thế giới không có đồ ăn sáng nào tốt hơn muesli. Dùng một đĩa muesli với sữa lạnh và vài lát cam Valencia mọng nước là cách khả dĩ nhất để bắt đầu một ngày; sau một đợt dài phải ăn những món Afghanistan béo ngậy hay món Mỹ lâu tiêu, tôi dùng muesli không những trong bữa sáng mà còn cả bữa trưa nữa. Còn bữa tối, tôi ăn khá ít, và không lâu sau tôi đã lấy lại được vóc dáng. Từ khi tôi chuyển đến Thụy Sĩ, trọng lượng tôi lúc nào cũng khoảng 170 pao, và phần lớn là nhờ có muesli.

Vậy nó là gì? Một thức ăn hỗn hợp gồm lúa mì nướng nguyên hạt và kê trộn với táo, mơ, nho, quả phỉ và hạnh nhân khô cắt nhỏ, thành phần chủ yếu là cốm yến mạch không xay. Cứ nhớ đến món này là tôi lại thấy đói và cảm ơn ông bác sĩ người Thụy Sĩ đã nghĩ ra nó. Trong căn hộ trên tầng chót ở Tây Ban Nha, tôi đổ một đĩa để ăn trưa rồi nằm xuống chợp mắt một lát.

Đúng như tôi dự đoán, cuộc thương lượng với người Hy Lạp cứ kéo dài mãi. Họ hiểu họ đang lâm vào tình thế không lối thoát nhưng vẫn không chịu nhượng bộ. Theo một cách hiểu nào đó thì đối với họ việc thu gom hai mươi bảy triệu còn thiếu không phải là khó; họ chỉ việc bán đi vài ba con tàu đã giúp họ khởi nghiệp, nhưng làm như vậy thì thật điên rồ. Mất tàu tức là mất đi sức sống, mà họ thì không phải lũ ngu dốt.

Nhưng điều mà họ vẫn không thể buộc mình đối mặt chính là sự sụp đổ của cái thành phố trong mơ bên bờ Địa Trung Hải đó, vì vậy, biết chắc là khi đọc bản báo cáo thiệt hại hàng tuần, họ sẽ phải chuẩn bị tâm lý để chấp nhận điều kiện của World Mutual, tôi cứ ung dung dạo chơi quanh thành phố và để họ có thời gian cân nhắc. Họ cần tiền để duy trì hoạt động của các công ty hàng hải, và cách kiếm tiền duy nhất là sang nhượng khu nhà cho World Mutual. Chúng tôi có thể chờ; còn họ thì không.

Với chế độ ăn kiêng muesli Bircher tự mình đề ra, tôi đã giảm cân, lấy lại sức, và cứ đến bốn giờ chiều là đã thấy đói cồn cào. Trong khi người Hy Lạp khổ sở tính toán xem nên chấp nhận con số nào cho các tòa nhà chọc trời thì tôi lại khổ sở không biết tối đó nên đến làm khách tại hiệu ăn nào ở Torremolinos. Do khách hàng thuộc đủ mọi nước trên thế giới nên thành phố có vô vàn quán ăn ngon: một quầy tự phục vụ khá phong phú, một nhà hàng Đức sang trọng trong khách sạn Brandenburger, một địa điểm có món ca ri Ấn Độ ngon hơn bất kỳ nơi nào ở New York, sáu bảy nhà hàng Trung Quốc hạng nhất, một hiệu ăn Pháp khá ngon đủ để ít nhất cũng phải được xếp hạng một sao trong quyển hướng dẫn Michelin, và một quán rượu Tây Ban Nha lâu đời cực kỳ hấp dẫn dĩ nhiên tên là El Caballo Blanco. Thật thú vị khi được ngắm các quán ăn này trong lúc đói bụng, và ở Torremolinos tôi được ăn ngon hơn bất kỳ nơi nào khác tôi từng đến công tác. Nhiều hôm, khi rời căn hộ trên tầng chót để đi ăn tối, tôi lại lẩm bẩm cầu nguyện: “Tạ ơn Chúa, con không phải ở Afghanistan hay Marrakech.”

Tuy nhiên, cảnh rỗi rãi bắt buộc đã bắt đầu khiến tôi phát chán, vì cuộc đàm phán với người Hy Lạp chỉ chiếm của tôi vài phút mỗi ngày: “Vâng, chúng tôi sẽ xem xét việc tăng lên thêm ba triệu nữa... thậm chí bốn triệu cũng có thể cân nhắc... sáu thì dứt khoát không.” Khi thời gian lưu lại dự kiến sẽ kéo dài hơn, tôi bắt đầu tìm quanh xem có thú vui gì không; một người chỉ có thể đọc truyện của Simenon nhiều lắm vài giờ mỗi ngày và cả trăm hộp đêm quán bar có lẻ thì cũng dần trở nên mệt mỏi khi đã ngoại sáu mươi. Trong tâm trạng như vậy, một đêm, khoảng mười giờ, tôi vô tình rẽ vào một con hẻm và nhìn thấy một tấm biển hiệu ngớ ngẩn treo cao quá đầu tôi: một khẩu súng lục khổng lồ bằng gỗ, chạm thô kệch, dọc theo nòng là dòng chữ THE ALAMO. Tiếng ồn từ trong quán vọng ra, thỉnh thoảng lại được nhấn mạnh bởi vài câu tục tĩu khàn khàn giọng Brooklyn, tôi nghĩ vào đó xem người Mỹ đang làm gì chắc sẽ rất vui. Cánh cửa đã mở sẵn, tôi bước vào một căn phòng rất nhỏ có ba chiếc bàn và một cái ghế sofa tồi tàn kê sát một bên. Tường quán trang trí những bức tranh thế kỷ mười chín với cảnh miền Tây cũ, nay đã lốm đốm vết cứt ruồi và góc rách tả tơi. Quầy phục vụ đã ngắn, đầu bên tay trái lại có một cái máy quay đĩa cùng chồng đĩa hát cao ngất; còn đâu bên phải là những thùng nước cam sánh vàng.

Và còn gì đây nữa! Một thiếu nữ Scandinavia độ mười bảy mười tám đứng sau quầy, nét mặt xinh đẹp và ngay thẳng đến nỗi tôi phải ngừng quan sát xung quanh để mà ngẩn ngơ ngắm mái tóc vàng óng và nước da mịn màng tuyệt mỹ của cô. Cô bắt gặp ánh mắt tôi bèn mỉm cười, duyên dáng nghiêng đầu để lộ hàm răng trắng đều đặn. Cô ra hiệu hỏi tôi có uống bia không, thấy tôi gật đầu, cô bèn rót một cốc rồi rời quầy mang đến cho tôi. Lúc đó, tôi mới có cơ hội thấy được chiếc váy ngắn cùng đôi chân thon dài cân đối, tôi bất giác lên tiếng hỏi, “Thụy Điển?”

“Na Uy,” cô đáp một cách giản dị, và vì một lý do mà tôi không thể tự lý giải được gì ngoài việc cô là người có vẻ quyến rũ lồ lộ đến thế, tôi dẫn ra đoạn trích từ một khúc ballad cổ nổi tiếng thường được hát trong quán rượu:

“Mười nghìn chàng Thụy Điển

Chạy trốn qua rừng sâu

Một cô nàng Na Uy quyết chí đuổi theo sau.”

“Suỵtttttt!” cô kêu lên, đặt một ngón tay lên môi ra vẻ khiếp sợ. “Cứ thế thì làm gì mà chẳng xảy ra đánh lộn. Ông học được bài đó ở đâu?

“‘Cuộc vây hãm Copenhagen.’ Ai mà chẳng biết:

“Chúng ta thèm thuốc hít

Mà đâu đủ say tít

Trong cuộc vây hãm Copenhagen.”

“Ông mà đọc câu này cho một người Thụy Điển yêu nước nghe thì anh ta sẽ nện cho ông một trận đấy,” cô đùa.

“Tôi có đọc cho người Thụy Điển nghe đâu.”

Cô ngồi xuống nói chuyện với tôi vài phút rồi dợm đứng lên định quay về quầy rượu, nhưng lại đổi ý ngồi nán thêm chút nữa khi một thanh niên Mỹ cao lớn râu rậm đến làm thay. Chúng tôi nói đủ chuyện trên đời vì cô quả là một thiếu nữ hứng thú tìm hiểu thế giới bậc nhất. Đặc biệt cô hỏi tôi đã đến thăm Ceylon chưa. Tôi nói chưa, và cô liền ngân nga một khúc nhạc mà tôi thuộc từ thời thơ ấu. Trong lúc cô đệm nhạc, tôi hát phần lời tiếng Anh:

“Ta lắng nghe như trong mơ

Bồng bềnh giữa muôn vàn hoa lá

Giọng hát nàng dịu dàng êm ái

Như tiếng hót ríu rít chim muông.”

“Ông cũng biết bài này!” cô vui sướng kêu lên. “Cháu cuộc là hồi còn nhỏ, thể nào ông cũng có một đĩa hát của Caruso...” Cô đột ngột ngừng lời, chăm chú quan sát tôi rồi nói, “Ông rất giống cha cháu. Khổ thân ông. Cháu thấy thương ông quá.” Cô nắm lấy bàn tay phải tôi nâng lên môi hôn rồi chạy biến, nhưng tôi còn kịp thấy cô như sắp bật khóc.

Khuya hôm đó, cô quay lại và chúng tôi bắt đầu cuộc nói chuyện đầu tiên trong số những cuộc chuyện trò tìm hiểu giữa hai bên. Ngày hôm ấy, và ngay cả bây giờ mỗi khi nhớ đến cô, tôi luôn có ấn tượng sâu sắc cô là một trong những người giàu sức sống nhất mà tôi từng gặp. Dường như tất cả các giác quan của cô đều hoạt động quá thời gian, dồn vào não cô những thông tin thu thập được để cô cân nhắc, đánh giá và xếp lại. Khi đánh giá về bản thân, cô rất khắt khe: “Ông Fairbanks, nếu cháu có một bộ óc hàng đầu, ông có nghĩ cháu sẽ bỏ học ở tuổi mười bảy không? Đáng lẽ cháu phải học tiếp để trở thành bác sĩ... hoặc...” cô ngập ngừng cố tìm từ chính xác rồi kết thúc câu với một ý tưởng mà tôi không ngờ nhất, “hoặc một triết gia.”

“Cô có thể quay về,” tôi nói. “Ở tuổi mười tám việc học hành của cô chỉ mới bắt đầu thôi.”

“Vâng, nhưng cái cháu còn thiếu là trí tưởng tượng hạng nhất. Cháu không có sự độc đáo... Cháu không phải nghệ sĩ.”

“Tại sao cô không thể chỉ là một người có học?”

“Cháu cũng muốn đóng góp... một việc gì đó có tính xây dựng.”

Lẽ ra không nên nói câu này nhưng tôi đã hỏi, “Cô định đóng góp tại một quán bar ở Torremolinos?”

Cô không nao núng. “Cháu cũng giống như tất cả những người đứng đắn ở đây thôi. Cháu đang thực sự cố gắng tìm được bản thân.”

“Và cho đến nay thì sao?”

“Cháu hài lòng vì đã rút ra được một kết luận. Cháu không muốn sống thiếu ánh mặt trời. Cháu làm việc ở đây cho đến bốn giờ sáng... hết đêm này sang đêm khác. Khách hàng không làm phiền cháu. Mấy anh lính Mỹ thích nắm chân nắm tay cháu nhưng không sao, công việc là phải thế. Nhưng đến trưa hôm sau, khi mặt trời lên cao, cháu lại được ra bãi biển. Một giờ tắm nắng, thế là cháu đã được tân trang. Cháu đã hiểu ra điều này.”

“Và sau đó thì sao?”

“Cháu sẽ giữ nhan sắc cho đến ba mươi tuổi.”

“Sau ba mươi nhiều chứ,” tôi quả quyết.

“Ông chưa biết cháu đâu,” cô nói chữa. “Trời ơi, cháu háu ăn lắm. Vì vậy nếu cháu giữ được sắc đẹp và tuổi trẻ đến ba mươi tuổi... ôi, như thế có nghĩa là cháu có những mười hai năm tươi đẹp để tìm kiếm. Tức là một trăm bốn mươi tư tháng. Cháu không phải kẻ ngốc. Trong một trăm bốn mươi tư tháng, cháu sẽ tìm thấy một cái gì đó.” Cô ngừng lời, quay ra đáp lại vài câu bông đùa của tốp lính, rồi nói tiếp, “Nhưng trong những năm tháng sắp tới, không điều gì cháu tìm ra lại lớn lao hơn điều cháu đã khám phá được. Tức là cháu phải sống dưới ánh mặt trời. Nếu người ta cử một phái đoàn từ Oslo đến bảo cháu, ‘Cô Britta Bjørndahl, cô được bầu làm thủ tướng Na Uy,’ cháu sẽ nói với họ, ‘Hãy chuyển thủ đô tới Málaga rồi tôi sẽ nhận lời.’ Vì họ sẽ không bao giờ làm điều đó cho nên cháu từ bỏ hy vọng làm thủ tướng rồi.”

“Thế còn hôn nhân?”

“Một câu hỏi ngắn gọn rõ ràng,” cô suy nghĩ một lúc rồi nói, “Cháu thích đàn ông. Cháu không như mấy cô gái cứ không có đàn ông bên cạnh là khổ sở. Nhưng cháu thích họ. Tuy nhiên, nếu không có duyên phận tìm được... cháu vẫn có thể sống không có đàn ông... tức là không có xét trên cơ sở lâu dài ấy.”

“Cô đã tìm được ai ở đây chưa?”

Cô hất mái đầu vàng óng về phía anh thanh niên cao lớn đứng phía sau quầy rượu. Cử chỉ của cô không có vẻ đánh giá thấp, nhưng mặt khác cũng không biểu lộ niềm say mê. Tôi đã hỏi cô có người đàn ông nào của riêng mình không, và thực ra mà nói cô đã trả lời, “Ồ, có thể nói là có. Anh ấy kia.”

Chính trong hoàn cảnh đó mà lần đầu tiên tôi chủ tâm quan sát người đàn ông trông quầy rượu. Anh có dáng người cao, thon chắc và tư thế đàng hoàng. Anh để kiểu tóc mà thế hệ trẻ hơn gọi là “phảng phất Chúa Jesus” hay “kiểu Kahlil Gibran” - tức là tóc dài gần đến vai và bộ râu lõa xõa che kín khuôn mặt. Anh mặc quần Levis xanh lơ bạc màu bó khít và đi giày ống Texas. Nói chung, anh là một nhân vật đáng nể, nói năng cư xử nhã nhặn, và anh điều hành một quán rượu làm ăn khấm khá. Britta nói với tôi anh là một người Mỹ trốn quân dịch, cũng như rất nhiều người khác mà tôi sẽ gặp ở Torremolinos.

Bằng trực giác, tôi thấy mến anh thanh niên trông quầy rượu, và đang định phát biểu nhận xét của mình thì Britta đột ngột nói tiếp, “Xin ông tha thứ cho tính đa cảm của cháu khi ông hát bài ấy. Ông nghĩ gì về Les Pêcheurs deperlesh[63]... như là một vở opera?”

“Tôi chỉ xem vở này có một lần. Nó cũng đại khái như LakméNorma... Một nữ tư tế thổ dân vướng vào lưới tình, trong Lakmé là với một người châu Âu, trong Norma là với một người La Mã còn trong Pêcheurs thì đại loại là với một người da đỏ nào đó. Tất nhiên, có một đại tư tế hát giọng nam trầm và cuối cùng thì cô gái chết. Không hay mà cũng chẳng dở hơn các vở khác.”

“Cháu định hỏi về phần nhạc.”

“À... đó lại là vấn đề khác. Chắc chắn là Pêcheurs kém nhất trong ba vở đó. Nhưng cô phải nhớ là Bizet sáng tác vở đó khi mới hai mươi tư tuổi. Đó là một vở opera thú vị, trẻ trung, và ở tuổi cô thì chắc phải thích vở này.”

“Nhưng cháu đâu có thích,” cô nói. “Cháu thấy chán lắm. Cháu chỉ muốn biết ông nghĩ thế nào thôi.”

“Nhưng cô lại hát,” tôi nói, và thế là cô kể với tôi về những tháng năm lạnh giá mà cha cô đã phí hoài để mơ mộng về Ceylon và nỗi ám ảnh của ông đã ảnh hưởng đến cô như thế nào. “Cháu cũng thực sự muốn thấy nơi ấy,” cô nói. “Nếu có một anh chàng nào đó - và anh ta cũng chẳng cần phải trẻ lắm - nếu anh ta bước vào quán này nói là sắp đi Ceylon, cháu sẽ theo ngay ngày mai, không cần hỏi han gì cả.”

“Cô đã thực sự thoát ly rồi phải không?”

“Cháu sẽ không bao giờ quay về Na Uy nữa. Cháu đã để dành được mười bảy đô la, đó là tất cả tài sản của cháu trên thế giới này. Nhưng cháu sẽ đi Ceylon mà không cần đắn đo suy nghĩ... miễn là ở đó có nắng.” Chính qua những cuộc trao đổi như vậy, trong lúc ngồi nhâm nhi bia ở quán Alamo, tôi đã dần hiểu về thế hệ phụ nữ trẻ mới đang trôi dạt khắp châu Âu mà những đại diện hấp dẫn nhất lại tập trung cả ở Torremolinos. Họ thông minh; họ xinh đẹp; họ kiên quyết không bị cuốn trở lại nếp sống quen thuộc; và họ là thách thức đối với tất cả những ai gặp gỡ họ trên đường đời. Vì họ là một lực lượng mới trong lịch sử và một kinh nghiệm mới đối với tôi cho nên tôi thường suy nghĩ xem nên tả họ như thế nào thì chính xác nhất; không cách minh họa nào có thể hiệu quả hơn một mẫu rao vặt được ghim trên tấm bảng thông báo trong quán Alamo, và trong hàng trăm địa điểm khác khắp Torremolinos:

Con gái Thụy Điển mười chín tuổi muốn thăm miền Nam Ý. Lái xe được. Sẽ chia đều mọi chi phí. Đi theo nhóm hoặc đi riêng. Chi tiết xin hỏi anh trông quầy rượu.

Con gái Anh mười bảy tuổi, lái xe giỏi, nhất thiết phải đi Amsterdam. Có mười một đô la. Sẽ chấp nhận bất cứ đề nghị nào.

Con gái California mười tám tuổi có xe Peugeot mới. Đi Vienna. Sẽ nhận bạn đồng hành biết lái xe và trả phần chi phí cá nhân. Liên lạc qua anh trông quầy rượu.

Tôi chọn ba tờ rao vặt trên vì tôi đã tình cờ gặp từng cô được nhắc đến ở trên, và bất kỳ một thanh niên tỉnh táo nào cũng sẽ chu du lên tận cung trăng với bất kỳ cô nào trong số đó. Tình hình ở Torremolinos thú vị như vậy đấy.

—★—

Trong những ngày đầu đó, khi Britta Bjørndahl kể cho tôi nghe về Tromsø, tất nhiên tôi vẫn chưa có cơ hội nói chuyện với Joe; tôi chỉ nhìn thấy anh sau quầy rượu, và tôi cũng không biết là bốn bạn trẻ khác mà trước kia tôi có quen cũng đang có mặt trong thành phố. Tôi cứ tưởng Gretchen Cole đang du lịch đâu đó tại miền Nam nước Pháp còn Cato Jackson vẫn đang lẩn trốn ở Newark hoặc Detroit. Tôi cũng không ngờ Yigal Zmora đã bỏ trường đại học của cha anh ở Haifa và đến thăm ông bà nội quốc tịch Anh ở Canterbury. Còn về Monica Braham, tin cuối cùng tôi được nghe là cô đã rời khỏi Vwarda trong buồng lái một chiếc máy bay hãng Lufthansa. Cô có thể ở bất cứ đâu; Buenos Aires hoặc Hồng Kông cũng có thể là khả năng hợp lý.

Trong hai lần đầu đến quán Alamo, tôi chưa tình cờ gặp bất cứ ai trong bốn người đó. Sau này tôi mới biết Cato, Monica và Yigal đã mượn xe lên núi để tham quan ba thành phố lịch sử Ronda, Antequera và Granada. Còn Gretchen thì tất nhiên vẫn ru rú một mình trong chiếc pop-top.

Nhưng lần thứ ba đến quán, tôi được gặp Joe. Thực ra là tôi đưa Britta và Joe đến một quán ăn Tàu và chúng tôi đã chuyện trò trong hai giờ liền. Lúc đầu tôi rất khó chịu về kiểu tóc của anh và việc anh tự nhận là kẻ trốn quân dịch; tôi từng phục vụ trong hải quân hồi Chiến tranh Thế giới II và chưa bao giờ giao lưu với một kẻ trốn lính, vì vậy tôi cảm thấy ngồi cùng một người như vậy không được thoải mái lắm.

“Không thể so sánh hai trường hợp được,” Joe nói khi tôi nêu vấn đề. “Cuộc chiến của ông... ông có một kẻ thù rõ ràng... ai cũng nhận ra được...”

Tôi ngạc nhiên thấy anh nói năng lưu loát và kiệm lời đến thế, và đêm càng về khuya, tôi càng chú ý nghe anh đưa ra hết lý lẽ sắc bén này đến lý lẽ sắc bén khác. “Cậu đã thành kẻ nổi loạn như thế nào?” cuối cùng tôi hỏi anh.

Anh đưa mấy ngón tay thon dài lên đánh rối bộ râu và đáp, “Chuyện này đâu có biến tôi thành kẻ nổi loạn. Việc tôi không thể thỏa hiệp với một chế độ quân dịch lố lăng không làm cho tôi thành nhà cách mạng. Điều tôi mong muốn nhất là... quay về trường... có được tấm bằng trong tay.”

“Để làm gì?”

Câu hỏi khiến anh bối rối. Anh nhay nhay môi dưới một lúc, rồi ngồi thẳng lên và từ tốn nói, “Tôi không biết. Tôi thực sự không biết.”

“Điều gì đang giày vò cậu vậy?”

“À, khi ông chưa làm được gì - thậm chí kiếm tấm bằng đại học cũng không - mà cứ bô bô các ý tưởng lớn lao về những gì mình định thực hiện thì có tự phụ lắm không?’

“Nhưng cậu đã có sẵn ý tưởng... trong đầu rồi chứ?”

“Tôi có rồi.”

“Như thế nào?”

Anh nhận thấy tôi đang mè nheo bắt anh phải phát biểu những điều chưa suy nghĩ chín chắn, nhưng anh không bực vì cũng nhận thấy tôi vui lòng nói chuyện về những vấn đề quan trọng, vì vậy anh ngước mắt lên trần nói, “Đêm ngày mồng bốn tháng Giêng có một trận bão tuyết dữ dội ở Wyoming. Tôi bị mắc bão giữa đường.” Anh ngừng lời, nhìn tôi hỏi, “Ông đã bao giờ gặp bão tuyết chưa?”

“Ở Wyoming thì chưa.”

“Tôi đứng giữa đường... tất cả xe cộ đều bị mắc kẹt... và thế giới xung quanh hình như có hai bộ mặt. Thu hẹp và nhỏ bé hơn ông có thể tưởng tượng. Cả thế giới là một vòng tròn được bông tuyết vẽ lên xung quanh ông. Nhưng nó cũng rộng lớn hơn tôi tưởng nhiều, vươn ra khắp mọi phía xa đến nỗi lại vòng về chỗ cũ. Tôi cũng trải qua cảm giác như vậy khi lái xe từ Madrid xuống đây... qua những vùng đồng bằng hoang vu. Sự bao la của khoảng cách và sự chật chội ở nơi tình cờ ông đang đứng.”

“Những ý nghĩ đó dẫn đến đâu?” tôi hỏi.

“Suy đoán,” anh trả lời, nhưng rõ ràng anh định thôi không bàn về vấn đề đó nữa. Britta nói gì đó về việc cô đã gặp khá nhiều trận bão tuyết, những trận liên miên bất tận, nhưng Joe cứ nhìn chăm chăm vào mắt tôi. “Suy đoán,” anh đã nói như vậy, và dù không hiểu những suy đoán ấy sẽ đưa anh tới đâu nhưng tôi nghĩ rằng đây là một thanh niên đã tưởng tượng được hình ảnh của thế giới, và một khi người ta đạt tới khả năng đó thì tức là đã bắt đầu suy nghĩ có tính chất xây dựng. Sự kính trọng giữa chúng tôi đã bắt đầu từ lúc đó.

Những ngày tiếp theo, trong khi đám người Hy Lạp đứng ngồi không yên ấy nghiên cứu tổng quát về cái đế chế đang sụp đổ của họ và trì hoãn quyết định cuối cùng, tôi thường ngồi bên quầy rượu trong lúc Joe phục vụ đồ uống và trông cho máy quay đĩa chạy liên tục, và bằng những câu ngắt quãng mỗi lúc tạm rảnh tay, anh thuật lại chuyện trốn chạy của mình. Anh không tính đến chuyện quay về Hoa Kỳ vì không có ý làm người hùng và cũng chẳng muốn nếm trải cảnh tù đày. Anh còn phân vân không biết nên giải quyết chuyện học hành ra sao, vì anh đang để dành tiền ở Torremolinos và không biết ngoại ngữ để theo học ở các trường đại học châu Âu.

Càng nói chuyện nhiều hơn với anh về những vấn đề quan trọng, tôi càng cảm mến anh hơn; lần đầu tiên tôi mời anh ăn tối là vì anh gắn bó với Britta, nhưng bây giờ tôi lại mời Britta vì cô kết đôi với anh. Trong lúc chuyện trò, tôi có thử tìm hiểu về cha mẹ anh, nhưng anh đều chặn lại. Về mẹ, anh chỉ nói vắn tắt, “Kỳ cục,” về cha thì là “Đáng thương,” và không nói thêm gì nữa.

Anh là điển hình của lớp thanh niên có triển vọng nhưng lại là người cô độc bẩm sinh. Anh là người rộng rãi về mặt tiền bạc, mỗi khi để dành được một ít lại mời bằng được Britta và tôi đi ăn tối; anh luôn sẵn sàng giúp đỡ những kẻ lang bạt tuyệt vọng luẩn quẩn trong quán làm phiền anh để xin bố thí hoặc nhờ giới thiệu việc làm; và anh rất dịu dàng với phụ nữ, nhất là Britta; dứt khoát anh không phải hạng người hoang dại chả khác gì thú vật như người ta thường nghĩ về bọn để tóc dài mặc áo khoác da. Anh là người có sức lôi cuốn, bối rối vì xã hội mà anh đang sống và mối quan hệ của anh với nó, hoang mang ngơ ngác chưa biết phải làm gì tiếp theo. Nhưng trong tình trạng rối trí ấy anh đang bộc lộ tính cách, và tôi tin chắc bao giờ tìm được hướng đi ra khỏi thế tiến thoái lưỡng nan hiện tại, anh có thể thành một người có danh vọng.

Một sự kiện bất ngờ đang chờ tôi phía trước, vì một đêm, sau khi chúng tôi dùng bữa ở quầy tự phục vụ và tôi còn đang ngồi ngẩn ngơ như bị thôi miên bởi lượng thức ăn mà anh cùng Britta có thể tiêu thụ và chồng đĩa xếp cao gấp bốn lần, Joe bỗng đề nghị, “Tôi đang lo giấy tờ xác nhận cho một cô gái Mỹ đang tìm cách đổi séc cá nhân lấy tiền mặt. Tôi để quên ở căn hộ rồi. Ông có muốn xem chỗ chúng tôi ở không?” Chúng tôi rời trung tâm Torremolinos và thong thả cuốc bộ từ sườn đồi xuống ngôi làng đánh cá lâu đời, đi qua một dãy nhà thấp rồi dừng lại ở một ngôi nhà nhìn xuống biển. “Vị trí tuyệt đấy,” tôi nhận xét trong khi Joe đẩy cửa và bật đèn.

Anh giải thích anh và Britta sử dụng nơi này trong khi chủ nhà đang ở Marốc thành lập một đường dây cung cấp cần sa thường xuyên, vì vậy tôi đã ít nhiều chuẩn bị tư tưởng cho những gì sẽ nhìn thấy: hai chiếc giường và đồ đạc lèo tèo, nhưng khi nhìn thấy cách trang trí tường, tôi bất giác phải bật cười. Trên đầu giường bên trái là một tấm áp phích rất lớn, in khá đẹp với hình Đức Giáo hoàng Paul nhân từ nhưng trông như sắp lên tiếng răn dạy, đôi mắt hiền hậu tươi cười và ngón tay trỏ lắc qua lắc lại. Ở dưới là dòng chữ in đậm nét: THUỐC NGỪA THAI LÀ ĐỒ CẤM.

Trên tường phía đầu chiếc giường nơi Joe và Britta quẳng đồ của họ lên có treo tấm áp phích nổi tiếng in hình diễn viên hài W.C. Fields đội mũ cao vành đen, mặc lễ phục và đi găng thợ nề màu trắng, cầm bộ bài poker, nhìn một tên du thủ du thực nào đó ở bên phải với ánh mắt ác hiểm. Lớp trẻ thế hệ ngày nay tồn tại giữa hai nhân vật đó, Đức Giáo hoàng và anh hề.

Tiếng cười của tôi làm hai người đang ngủ trên cái giường dưới bức ảnh Đức Giáo hoàng thức giấc, vẻ ngái ngủ, họ kéo chiếc chăn phủ kín người xuống, và thế là tôi nhìn thấy mặt họ - một rất trắng, một tương đối đen. “Chúa ơi!” tôi reo mừng. “Tôi quen họ!”

Họ ngồi dậy, hiển nhiên là không mặc gì nhưng giữ chặt mép chăn quấn quanh cổ. Nói ra thì kể cũng buồn cười, nhưng trông họ giống như hai thiên sứ trong một tấm thiệp Giáng sinh cực kỳ dễ thương. Ngay cả Britta và Joe cũng phải bật cười khi thấy tôi kinh ngạc đứng ngây ra đó.

Lúc đó Monica mới reo lên, vẻ mặt vẫn còn ngái ngủ, “Chú Georges,” và định chạy tới đón tôi, nhưng sực nhớ mình không mặc gì cả bèn gọi, “Ném cho tớ cái áo choàng với!” Britta làm theo và sau khi mặc vội áo vào, Monica chạy ngang qua phòng hôn tôi thắm thiết, “Làm thế nào chú đến đây được thế?” cô phấn khởi hỏi.

“Cháu biết cậu này bao lâu rồi?” tôi chỉ Cato lúc đó đang xỏ chân vào quần.

“Lâu lắm rồi... rất lâu rồi,” Monica nói. Cato bắt tay tôi, “Philadelphia có vẻ xa xôi quá.”

“Hai người quen nhau như thế nào?” tôi hỏi, vui mừng khi tình cờ gặp lại hai người mình thật lòng quan tâm.

“Ở quán,” Cato đáp. “Vũ trường Arc de Triomphe. Đây là một thành phố dành cho những người năng nổ mà.”

“Chúng ta ăn mừng nào!” Monica reo lên và mở một ngăn tủ, trong đó người chủ ngôi nhà này để lại một ít mặt hàng mà anh ta kinh doanh, và chỉ vài phút sau cô đã cuộn xong một điếu cần sa to tướng để Cato châm lửa giúp. Chúng tôi ngồi lên hai chiếc giường, điếu thuốc được chuyền dần từ tay người này sang tay người kia trong khi tất cả cùng ôn chuyện quá khứ. Tôi ngồi cạnh Britta, và lấy làm lạ khi thấy cô cũng hít một hơi rồi đưa cho tôi. Tôi chuyển ngay cho Cato.

“Thôi nào, chú George!” Monica phản đối. “Cứ thử một lần xem nào. Nó sẽ làm chú thấy mình trẻ lại hai mươi tuổi đấy.”

“Chú đã trẻ lại rồi,” tôi nói.

Chúng tôi ngồi như vậy mấy tiếng đồng hồ liền nói chuyện về Vwarda và Philadelphia. Tôi bảo Cato, “Cậu biết đấy, Monica không phải một cô gái bình thường đâu.”

“Thưa ngài, ngài đang nhắc đi nhắc lại một chuyện hai năm rõ mười đấy ạ,” anh đáp nghiêm chỉnh và véo chân Monica.

“Và cô ấy không xuất thân từ gia đình tầm thường. Nữ hoàng Anh đã phong Hiệp sĩ cho cha cô ấy với lời khen ngợi ‘Sir Charles Braham, kiến trúc sư thiết kế nền tự do của Vwarda.’ Ông ấy đúng là thế đấy.”

Tôi để ý thấy trong số bốn người hút cần sa, Monica giữ điếu thuốc lâu nhất và rít vào sâu nhất. Cô ít tham gia cuộc chuyện trò, và một lúc sau rõ ràng là cô đã phát chán. Cuối cùng cô cuộn một điếu rất dài cho riêng mình và rít thật sâu trong vài phút, sau đó nói một câu làm tất cả mọi người sửng sốt, “Khi anh thực sự say thuốc và quan hệ tình dục thì cuộc vui có thể kéo dài mãi mãi. Anh cảm thấy như thể Chúa đang cày xới một thửa ruộng. Đi nào, Cato, lên cực điểm thôi. Ở Granada anh chẳng đáng cái quái gì cả.”

Cato không tự ái, nhưng khi Monica ép anh nhận điếu thuốc, anh bèn đưa cho Joe. Monica chăm chú nhìn anh với vẻ khinh bỉ, và tôi e rằng sẽ xảy ra cãi lộn bèn tìm cửa ra vào, nhưng rồi cô lại đổi ý, ôm lấy cổ anh dỗ dành, “Nào, cậu bé, hút vài hơi đi. Em lên giường ngay đây, cả Britta nữa. Chú George, chú có thể đi được rồi. Chúng cháu có việc phải làm đây.”

Cô quẳng áo choàng, nhảy lên giường kêu lên, “Làm ơn tắt hộ cái đèn chết tiệt kia đi!” Tôi chưa kịp ra khỏi phòng, cô đã chìm vào giấc ngủ, và khi tiễn tôi ra cửa, Britta thì thầm, “Monica nói thì ghê gớm lắm nhưng chẳng làm được thế đâu.”

Vừa định bước ra, tôi chợt nhìn thấy dưới chân một cái túi ngủ kẻ ô vuông bèn hỏi, “Thế ai ngủ dưới này” thì Cato đáp, “Một anh chàng rất giỏi. Cậu ấy ở lại Granada thêm một ngày nữa. Ông sẽ gặp cậu ấy ở quán.”

—★—

Với sự kiên trì khiến tôi ngưỡng mộ, đám người Hy Lạp vẫn tiếp tục xoay xở được những nguồn tiền không ngờ, hy vọng gom đủ kinh phí để có thể tiếp tục theo đuổi những tòa nhà chọc trời mà không cần chuyển quyền sở hữu cho World Mutual. Tôi vẫn thường xuyên được biết về cố gắng của họ qua báo cáo từ những trung tâm tiền tệ đã từ chối đề nghị của họ; một đêm, họ quay lại chỗ tôi và hỏi liệu tôi có thể cho họ vay mười một triệu với lãi suất cao không. Họ cố thuyết phục tôi rằng bằng cách này hay cách khác họ đã gom góp được mười sáu trong số hai mươi bảy triệu còn thiếu, nhưng tôi lãnh đạm trả lời rằng công ty tôi không quan tâm đến chuyện cho vay. Điều chúng tôi kiên quyết yêu cầu là quyền sở hữu dự án. Họ không tỏ ra bất bình. Họ can đảm tiếp nhận câu trả lời của tôi và rút lui để tìm cách vay mượn thêm. “Tuần sau chúng tôi sẽ gặp lại ông,” họ hẹn, thế là một lần nữa tôi lại bị để mặc tự xoay xở lấy mà không có việc gì làm. Tôi hay đi tản bộ khá xa, tắm nắng trong căn hộ trên tầng chót, đọc Thomas Mann và ghé vào quán chuyện trò với các bạn trẻ.

Tôi vui mừng khi được gặp lại Cato và Monica vì họ chắc chắn là hai trong số những thành viên đáng chú ý nhất thuộc thế hệ trẻ. Trong chừng mực nào đấy, họ như những con thú non vì đã phản ứng một cách máy móc và hăng hái đến buồn cười trước bất cứ nhân tố kích thích nào ảnh hưởng tới mình. Khi nói chuyện với họ, tôi thấy sự tự định hướng của Monica mạnh hơn nhiều so với hồi ở Vwarda; cô thực sự không thèm quan tâm đến ý kiến của bất cứ ai ngoài bản thân. Cô là người phóng khoáng, thẳng thắn và sẵn sàng chấp nhận hậu quả của bất cứ việc gì mình làm. Mấy anh lính Mỹ quê ở miền Nam bị lôi cuốn mạnh mẽ bởi nhan sắc tinh khiết ngời ngời mà họ coi là nét độc quyền của những người đẹp phương Nam, tìm cách can ngăn cô không nên sống chung với Cato Jackson. Không những họ tỏ ý sẵn sàng thay thế mà còn cho cô biết rằng cả nhóm đồng hương Mỹ sẽ tán thành nếu cô bỏ Cato và chọn một người da trắng.

Cô đáp theo một cách mà cô biết sẽ làm họ tức điên: “Từ trước đến nay tôi đã có tổng cộng bốn người tình, hai da đen, hai da trắng, và nếu bất cứ ai trong số các quý ông đây cho rằng mình có thể mang lại những gì mà quý ông da đen đó đã làm được trên giường thì xin mời nộp đơn nói rõ khả năng của mình cho anh trông quầy rượu.”

Khi tôi hỏi thăm về Sir Charles, cô đáp, “Ông già yêu dấu ấy! Ông cho cảnh sát lần theo dấu vết cháu, nên cháu đã có một thời gian đến là khốn khổ. Cháu nghĩ ông ấy đang trồng hoa hồng ở Sussex.”

Một số thành viên thuộc khu kiều dân Anh ở Torremolinos từng quen biết Sir Charles Braham ở châu Phi đã tìm cách thiết lập quan hệ với con gái ông hòng giám sát. Nghe nói cô hay lui tới quán Mỹ, một buổi chiều hai trong số các bà đó đến Alamo mời Monica, nhưng khi thấy họ tới gần, cô bèn nhờ tôi đẩy họ đi, rồi lỉnh lên phòng rửa mặt trên gác. Nhưng tôi chưa nói được câu nào, Britta đã thật thà bảo họ, “Cô ấy đang ở trong phòng vệ sinh nhưng sẽ xuống ngay thôi,” vì vậy tôi bị bỏ lại để tiếp chuyện họ.

“Chúng tôi có một câu lạc bộ rất thú vị trên đồi,” hai bà trấn an tôi. “Monica sẽ thấy vui cho mà xem... vườn tược... các món ăn Anh ngon lành... gặp gỡ bạn bè cũ từ châu Phi và Ấn Độ... đó là những phần tử được chọn lọc khá kỹ càng, và thứ Sáu hàng tuần chúng tôi tổ chức một buổi họp mặt trang trọng, trong đó mọi người sẽ tranh luận rất sôi nổi.” Tôi nói tôi tin chắc Monica rất muốn biết việc này, và sau một lúc chờ đợi khá lâu tôi bảo Britta, “Cô nên lên tìm Monica thì hơn,” vậy là Monica miễn cưỡng đi xuống, bước chân nặng trình trịch, mắt nhìn tôi trừng trừng trong khi ngón tay cái làm bộ điệu cứa ngang cổ.

“Chúng tôi tới mời cô tham gia Câu lạc bộ Anh của chúng tôi,” một bà đon đả nói.

Trông vẻ mặt đe dọa của Monica, tôi đã tưởng cô sẽ cực kỳ khiếm nhã; thay vì như vậy, cô lại tỏ ra rất duyên dáng. “Các bà tử tế quá,” cô lễ phép nói như một nữ sinh. “Tất nhiên cháu rất nhớ thời gian các bà ở Rhodesia. Tất nhiên cháu không mong gì hơn là được gia nhập câu lạc bộ. Nhưng có một vấn đề khó xử.”

“Tôi tin chắc không có bất cứ vấn đề nào đâu,” một bà nhanh nhảu đỡ lời.

“Các bà chưa biết chồng cháu đấy thôi,” Monica vội đáp. “Anh ấy đúng là vấn đề lớn đấy ạ. Thực ra, anh ấy đang ngồi trên cái ghế cao cuối cùng cạnh quầy rượu đó.” Trong khi hai người đàn bà kinh ngạc nhìn về phía Cato đang ngồi ngất nghểu, một tay đỡ đầu còn khuỷu tay tì vào một thùng nước cam, Monica gọi, “Anh yêu, lại đây nào,” và Cato thong thả tiến lại gần.

Với cái kiểu láu cá vui nhộn mà tôi đã để ý hồi ở Philadelphia, Cato hiểu ngay tình hình và lại sa vào bắt chước điệu bộ đáng ghét nhất của Stepin Fetchit, “Tôi thật sự zui mừng được gặp các quý bà.” Nói đến đây anh khịt mũi hai hay ba lần như người dùng heroin, đầu giật mạnh thình lình hai cái, và nói tiếp, “Tui vẫn nói, bất cứ bạn nào của tiểu thư Monica cũng là bạn của tui.” Anh ngừng lại, làm ra vẻ một thằng ngốc trăm phần trăm và cười ngớ ngẩn với từng bà một. Anh khịt mũi vài lần nữa và bất ngờ phát mạnh vào mông Monica. “Tôi không muốn cô la cà suốt đêm ở quán này đâu đấy. Về nhà. Về mà làm việc đi.” Và đến đó thì anh lại lê chân quay về chiếc ghế đẩu cao.

“Chồng cháu là con một tộc trưởng,” Monica nói vẻ xấu hổ. “Cha anh ấy muốn anh ấy đến Oxford nhưng... ờ, các bà thấy rồi đấy.” Cô ngừng lại, ra vẻ bi thảm, rồi hạ giọng, “Việc này không được đâu. Nếu biết các bà là người Anh, anh ấy sẽ thao thao bất tuyệt về chủ nghĩa đế quốc cho mà xem.”

Hai bà vội vàng rút lui, và khi họ đã đi xa không nghe được nữa, tôi mới nói, “Lẽ ra ta phải quật cho cháu một trận,” và cô nói lại, “Cuộc đời ngắn ngủi lắm, chú ơi.”

Thời gian ở châu Âu đã mang lại cho Cato lợi ích về nhiều mặt. Anh đã đổi mới tủ quần áo nên ngoài màu da ra, rất khó phân biệt anh với những người Pháp hoặc Đức ăn diện. Anh để ý nghe ngóng nhận xét của người khác và đã tiếp thu được hiểu biết sâu sắc về các vấn đề của châu Âu và châu Phi; đáng kể nhất là anh đã lấy lòng được các nhân vật thuộc nhiều hạng người cách biệt nhau rất xa.

Trừ anh lính miền Nam thỉnh thoảng đến quán muốn giành lấy Monica, Cato khá thân thiện với những người Mỹ đến từ các tiểu bang miền Nam, lúc thì anh làm họ phẫn nộ với những lời tuyên bố thẳng thắn về tín ngưỡng, lúc lại làm họ vui thích với lời quả quyết là thế hệ sau sẽ có nhiều người da đen như anh, sẵn lòng đối thoại nghiêm túc, sẵn lòng nhượng bộ khi cần thiết để giữ cho tình thế được thuận lợi. Anh thích nói chuyện với những người châu Âu ham tìm hiểu nước Mỹ; với họ, anh thẳng thắn một cách tàn nhẫn, vừa khi trước làm tăng mối thù địch của họ lúc sau đã lại làm họ hoảng sợ với những lời thách thức. Tôi có cảm giác anh đang thử năng lực của mình để biết được anh có thể đi xa tới đâu và điều gì dẫn tới thành công trong cuộc tranh luận. Tôi không hiểu anh muốn gì, nhưng tôi dám chắc anh đang từ từ xây dựng hình ảnh của bản thân và quyết định xem mình có thể làm gì với hình ảnh ấy.

Lắm lúc anh cũng làm tôi bực tức. Thời gian này anh vớ đâu được khoảng sáu kiểu phát âm: giọng hạ lưu Philadelphia, tiếng lóng của người da đen ở mấy tiểu bang miền Nam nước Mỹ, cách nói của xã hội thượng lưu ở đại học Pennsylvania, tiếng Pháp tao nhã, tiếng Tây Ban Nha quý tộc, và giọng điệu mà người ta chỉ có thể gọi là kịch cọt - cách nói khôi hài hoa mỹ và làm người ta khó chịu mà anh dùng để trêu chọc bất cứ ai hay hỏi những câu thăm dò quá sâu vào ý thức về người da đen của anh. Anh thực sự có thể khiến người ta giận điên lên.

Nhưng cho dù tôi có thấy khó chịu với Cato đến thế nào và anh có thể khiến người ta tức giận đến đâu chăng nữa thì trong cách cư xử của anh vẫn có một khía cạnh đáng được tôi nể trọng: trong quan hệ với Monica, bao giờ anh cũng hết sức tử tế. Nhiều thanh niên khi quan hệ yêu đương với con gái có địa vị cao hơn thường cảm thấy buộc phải bù đắp bằng cách hành hạ người tình cho hả giận; Cato thì không. Hoặc một người đàn ông khi đi lại với cô gái giàu có hơn mình thường thấy cần phải khẳng định nam tính của mình bằng cách đối xử keo kiệt với cô ta; Cato thì không. Chuyện Monica là con gái một quý tộc Anh không khiến anh làm nhục cô, việc cô là người da trắng cũng không làm anh thấy cần thiết phải công khai xúc phạm cô. Anh vẫn là một thanh niên bình thường, hòa nhã, ham mê tình dục, và tôi thấy rất vui khi ở bên anh và người yêu của anh.

Chẳng hạn như tối nọ, một nhà báo Mỹ nghe tin anh chàng đã nổ súng tại nhà thờ Llanfair đang có mặt trong thành phố bèn lùng tìm đến quán Alamo phỏng vấn Cato, và trong khi các khách quen thán phục ngồi thành vòng tròn xung quanh, anh đã tai quái đóng vai một người da đen ẻo lả say mê tiếng Pháp. Các câu trả lời của anh rất thú vị và chúng tôi phải tự kiềm chế để không làm anh bị lộ tẩy.

Anh phóng viên trang nghiêm hỏi, “Anh có cho rằng cuộc cách mạng của người da đen đang lan nhanh khắp mọi miền nước Mỹ không?”

Vô cùng rõ ràng, Cato đáp, “Cho đến nay, tôi mới chỉ được phép thăm Philadelphia, New York và một dịp ghé thăm anh em ở Newark, nhưng tin tức từ các tỉnh đến tai tôi liên tục, và ráp lại những gì mà chúng cho tôi biết...” Anh nhún vai ra vẻ hy vọng đã tiêu tan và nói tiếp, “California bị mất hẳn rồi... mất rồi... mất thật rồi. Bọn Mexico bẩn thỉu với thứ nho chết tiệt của chúng đã cướp mất cuộc chơi của chúng tôi rồi. Anh có thể cho bảy tấn TNT nổ ngay giữa thành phố Watts mà việc này cũng chẳng thành vấn đề lớn lắm.” Anh bật ngón tay. “Cái bọn Mexico khốn kiếp ấy đang xía vào việc của chúng tôi.”

Khi anh phóng viên thử tập trung hỏa lực vào vấn đề cách mạng đang cố gắng thực hiện điều gì, Cato ngắt lời: “Những gì tôi vừa nói về California cũng vận sang cả New York nữa, tôi e là còn nghiêm trọng hơn nhiều.” Khi nghe nói đến từ “tôi e,” một anh lính suýt bật cười, nhưng bị các bạn bắt phải im miệng. “Ở New York thì có bọn Puerto Rico khốn kiếp. Bọn chúng đã giành hết cuộc chơi của chúng tôi rồi. Nếu anh là người Puerto Rico, anh sẽ được giật tít. Còn nếu anh là da đen, ai thèm quan tâm? Nhưng ở những nơi như Birmingham và Tupelo, chúng tôi cầm trịch. Vì vậy theo bạn bè tôi kể lại thì người da đen chúng tôi đã bỏ California và New York. Cứ để cho bọn Mỹ Latinh chiếm đi. Nhưng ông có thể cho độc giả da trắng của ông biết điều này. Một khi đã ra tay thì chúng tôi sẽ làm ra trò đấy.”

Lúc này chúng tôi có thể nhận thấy anh phóng viên đã hiểu ra mình đang vướng phải một trò lừa đảo, nhưng anh ta cứ bám Cato, rõ ràng hy vọng moi được vài trích dẫn hữu ích liên quan đến suy nghĩ của người da đen về những người nói tiếng Tây Ban Nha. Cato lại ngắt lời, “Từ mọi đen mà người da trắng thường dùng nghĩa là gì? Ai là mọi đen? Tôi không phải mọi đen. Đó chỉ là một từ bẩn thỉu của bọn đế quốc do đám da trắng sính Kinh Thánh bịa ra và được báo giới bị chi phối phổ biến rộng rãi. Đáng lẽ ông phải thấy xấu hổ khi dùng một từ như vậy trong cuộc phỏng vấn mà tôi tưởng là thiện chí!” Anh quát tháo om sòm bằng giọng Pháp và làm anh phóng viên rối trí đến nỗi cuộc phỏng vấn thất bại hẳn.

Cuối cùng, anh phóng viên kéo riêng Monica ra một chỗ hỏi, “Lúc nào anh ta cũng đùa giỡn thế sao?” và cô thổ lộ, “Không. Bình thường anh ấy vẫn nói năng mạch lạc nhưng vợ anh ấy sắp sinh con.”

“Tôi không biết anh ấy đã có vợ,” anh nhà báo nói. “Có chứ, anh ấy lấy một cô gái Tây Ban Nha rất xinh. Gia đình cô ta tưởng anh ấy là người Marốc... da rất đen. Bây giờ họ đã biết sự thật. Họ đang gây sức ép kinh khủng với cô gái khốn khổ ấy, và ông Jackson đang lo cô ta sẽ bị sảy thai.” Anh phóng viên do dự, xem sổ tay và nói, “Chờ một chút! Ba tháng trước đây anh ta ở Philadelphia. Còn chưa đến Tây Ban Nha cơ mà.” “Tôi biết,” Monica khẽ rít lên. “Đó chính là tấn bi kịch thực sự trong vụ này. Cha của đứa bé là một thương gia Phần Lan. Ông Jackson cưới cô ta là để giữ tiếng tăm cho cô ta.” Anh phóng viên làm ra vẻ tin, trước khi bỏ đi còn nói với Cato, “Tôi hy vọng vợ anh được mẹ tròn con vuông,” và Cato, nghi ngay là Monica vừa dựng lên một chuyện bậy bạ gì đó, trả lời gần như ngay lập tức, “Ơn Chúa, hồi này đã có truyền máu rồi.” Đó là cách kết thúc độc nhất vô nhị cuộc phỏng vấn một nhà cách mạng.

Nhân dịp này Cato cũng có một bất ngờ dành cho tôi, vì khi tay phóng viên đi khỏi, anh và Monica đến ngồi cùng bàn với tôi, anh nói, “Ông thử đoán xem nửa đêm hôm nay ai sẽ đi qua cánh cửa kia.”

Khi tôi bảo họ phải cho tôi manh mối nào đó, Monica lấp lửng, “Anh bạn đang sử dụng cái túi ngủ ấy. Người mà chúng cháu bảo là đang ở Granada.”

“Khi cậu ấy nói với chúng tôi là có biết ông,” Cato nói, “ai cũng thấy thật là tình huống thú vị thực sự.”

Ngay trước nửa đêm, cánh cửa bật mở và Yigal Zmora đứng ngay trên ngưỡng cửa trong bộ soóc yếm, áo sợi xanh và mũ Israel ngộ nghĩnh. “Shalom!” anh reo lên trong lúc lại gần chào tôi. Dang rộng hai cánh tay chỉ khắp cả quán lẫn khách, anh nói, “Đây chính là cách học nghề kỹ sư!” Hiển nhiên là đám lính Mỹ kính trọng anh với tư cách “cậu bé ở Qarash”.

Khi tôi hỏi anh gặp các bạn khác như thế nào thì Cato trả lời thay, “Cũng như tôi thôi. Tình cờ lạc vào cái quán này để uống một cốc nước, thoáng nhìn thấy Britta và mê cô ấy luôn.”

Đúng lúc Cato nói đùa câu ấy thì tôi vô tình nhìn Yigal, và khi thấy vẻ mặt tự dưng đỏ ửng khiến anh bối rối – đỏ lên đến tận mang tai - tôi hiểu ngay là Cato đã nói đùa một câu mà đối với Yigal không có gì là buồn cười cả, và sẽ mãi mãi không bao giờ buồn cười. Trong lúc Britta phục vụ bia tại một bàn khác, anh cứ nhìn chằm chằm vào cốc của tôi, và suốt đêm hôm đó, anh có vẻ không dám nhìn cô.

—★—

Kể về Torremolinos, tôi hay dùng những câu như “Chúng tôi nói chuyện trong quán” hoặc “Có người nói với tôi ở quán Alamo,” nhưng những lời ấy thực ra phải được hiểu theo một cách đặc biệt, bởi vì giống như ở tất cả các quán khác ở Torremolinos, mỗi phút giây hoạt động của quán đều đầy ắp âm thanh hỗn tạp đinh tai nhức óc.

Mười một giờ sáng quán mở cửa, Joe lấy một chồng đĩa, và cho đến khi anh đóng cửa vào bốn giờ sáng hôm sau chúng cần mẫn quay, cái sau luôn tạo ấn tượng ầm ĩ hơn cái trước. Nếu tình cờ lọt vào máy một cái đĩa được ghi âm với cường độ âm thanh vừa phải thì thể nào cũng có người hét, “Vặn cái nút âm lượng chết tiệt ấy to lên.”

Do đó chúng tôi phải nói chuyện át cả thác tiếng ồn Niagara này. Nó bất tận và bất biến, như thể lớp trẻ khắp thế giới đều sợ sẽ phải cô độc một mình với những suy nghĩ của bản thân. Dòng thác ấy bao gồm những gì? Lúc đầu tôi không sao tả nổi. Tôi đã được học nhạc cổ điển, đặc biệt yêu thích Beethoven và Stravinsky. Hai trong số những buổi hòa nhạc hay nhất mà tôi may mắn được dự là buổi biểu diễn của Toscanini ở Boston, tại đó ông chỉ huy dàn nhạc chơi bản Leonore Overture số 3, bản Số NămSố Chín, và cái đại nhạc hội thường được diễn đi diễn lại tại đoàn ba lê Moscow, trong đó họ múa Chim lửa, Thánh lễ mùa xuânPetrouchka. Tôi thuộc phần lớn tác phẩm của Verdi và thường xuyên nghe các bản ghi âm Carmen và Faust đến nỗi hẳn có thể chỉ huy được dàn nhạc.

Tôi vốn yêu âm nhạc. Từ hồi trẻ, tôi đã thích những ca khúc nổi tiếng thời bấy giờ, dù không say mê khao khát như bạn như bè nhưng cũng đủ để nhớ được thành tựu chính của những người như Duke Ellington, Louis Armstrong và Jimmy Lunceford. Tôi không say mê các ca sĩ, nhưng lại thích Sarah Vaughn và Ella Fitzgerald. Trong số các nhà soạn nhạc thì Harold Arlen là người tôi mến chuộng nhất, nhưng tôi cũng thích một số sáng tác đặc sắc nhất của Rodgers và Hart. Vốn kiến thức của tôi đến vở Pal Joey là hết.

Tôi không có khả năng nghiên cứu hoặc hiểu sự bùng nổ của âm nhạc hậu chiến. Nó không làm tôi khó chịu - không thứ âm nhạc nào làm được điều đó - nhưng nó bắn tứ tung về những hướng mới mà tôi không buồn chạy theo. Một vài bài hát ít ỏi mà tôi còn nhớ từ thời kỳ ảm đạm và ồn ào ấy là “Nel Blu Dipinto del Blu” và “Rock around the Clock”. Bài thứ nhất cuốn hút tôi, đồng thời cuốn hút cả thế giới, vì tôi hiểu tác giả muốn nói gì; đó là tiếng kêu than chân thật và mới mẻ của một người bị trói buộc vào công việc mà ông ta không thích và phải sống cạnh những người làm ông ta chán ghét: đó thực sự là một cri de coeur[64]. Bài “Rock around the Clock”, tôi được nghe lần đầu tiên ở sân trượt băng dưới cửa sổ khách sạn tại Áo nơi tôi trọ; ông chủ sân băng có một chồng đĩa hát cao cả mét, nhưng hình như cứ hai lần thay đĩa thì lại đến lượt bản nhạc ồn ĩ và rộn ràng mà tôi không sao đoán nổi tên đó. Cuối cùng tôi đi xuống chỗ ông ta, nơi các nam nữ thanh niên Áo má đỏ hây hây đang quay vòng trên băng, và hỏi ông ta, ‘Khúc nhạc này tên gì vậy?”

Rrrruck around ze Clllllock,” ông ta nói.

Câu trả lời chẳng giúp tôi bớt bối rối, vì vậy tôi hỏi liệu tôi có thể ngó qua đĩa hát ấy khi nào nó quay hết được không, ông ta liền đưa cho tôi xem với chút tự hào. “Mua tận London đấy,” ông nói. “Rất được ưa thích.” Không ngừng nện thình thình vào đầu tôi, giai điệu đó chính là khúc dạo đầu đến với rock-and-roll, và tôi đã tiên đoán, “Loại nhạc này không tồn tại lâu được đâu.”

Vì thế, tôi chưa chuẩn bị tinh thần cho thứ âm nhạc nhấn chìm tôi trong quán Alamo này. Tôi chỉ nghe thấy tiếng ồn cưỡng bức người ta. Thỉnh thoảng, khi không bạn trẻ quen biết nào có mặt, tôi lại ngồi ngẩn ra cố giải mã nhạc điệu và những tiếng lầm bầm rền rĩ đó có nghĩa gì, nhưng lần nào tôi cũng chịu thua không sao hiểu nổi. Vào những lúc như thế, thật dễ chịu được thoát khỏi tiếng ồn ào và tản bộ xuống bãi biển làm một cốc bia ở khách sạn Brandenburger, nơi thường chơi những khúc dân ca Đức giàu cảm xúc. Thật dễ chịu được nghe nhạc có giai điệu và ca từ có ý nghĩa.

Thế rồi một hôm, khi tôi đang ngồi trong quán Alamo chờ Monica và Cato, rảnh rang và thanh thản, một điều thần diệu bỗng xuất hiện. Để giải thích được việc này, tôi phải kể tôi học tiếng Pháp như thế nào đã.

Khi thôi việc ở Minneapolis Mutual và chuyển sang World Mutual, tôi hiểu rõ là nếu muốn đảm trách ở Geneva thì phải học tiếng Pháp. May sao cho tôi, thời gian đó chính phủ Pháp đã tỉnh ngộ ra rằng tiếng Pháp không còn là ngôn ngữ trí tuệ hàng đầu của thế giới nữa mà đang bị thay thế bởi tiếng Anh, Đức, Nga, xếp theo đúng thứ tự đó. Vì thế, một chương trình cấp tốc được đề xướng tại đại học Besançon, nơi mà, như tôi từng nhận xét, người ta nói tiếng Pháp thuần túy, và tôi tới đúng vào dịp các nhà chuyên môn ấy quyết định chọn một phương pháp mới táo bạo và đang tìm người có tuổi để thử nghiệm.

Tôi được giới thiệu với bà Trenet, một người sôi nổi khoảng năm mươi lăm tuổi, tóc muối tiêu, vóc dáng nhỏ bé. Người trung gian nói tiếng Anh của tôi dặn, “Bà Trenet bảo đảm trong vòng hai tuần sẽ giúp ông nói được tiếng Pháp. Bà sẽ không nói một từ tiếng Anh nào với ông, nhưng bà nhờ tôi nói với ông điều này. Đây là vấn đề phá bỏ hàng rào âm thanh. Ông phải có lòng tin là một ngày kia các âm thanh sẽ đi vào trật tự - chúng sẽ không trở thành một mớ lộn xộn mà là tiếng Pháp. Tất cả những gì bà ấy làm đều nhắm tới giây phút huyền bí kia khi hàng rào âm thanh biến mất và bằng cách này hay cách khác, ông sẽ hiểu điều bà ấy nói.”

Phương pháp này nghe có vẻ rất khó hiểu đối với tôi, nên tôi chỉ còn biết hy vọng ông ta và bà Trenet hiểu rõ họ đang làm gì. Chỉ trong mười phút đầu, tôi đã thấy ngay là bà hiểu rõ.

Bà bảo tôi ngồi xuống một chiếc ghế bành trong phòng khách sạn của tôi và đặt một cái đồng hồ trên bàn, giữa hai người. Sau đó, xin Chúa cứu giúp con, bà bắt đầu giảng bằng tiếng Pháp về sông ngòi ở Pháp. Bà không cho tôi một chút xíu manh mối nào bằng tiếng Anh ngõ hầu giải thích bà đang làm gì, nhưng với kịch tính hấp dẫn bậc nhất - joie de vivre[65], vẻ gay cấn hồi hộp và ngữ điệu, nét mặt và đôi tay liên tục kết hợp - người phụ nữ ấy đã cho tôi nghe cảm xúc của bà về những con sông lớn nổi tiếng ở Pháp và phong cảnh trên đường chảy của chúng.

Làm thế nào tôi hiểu được bà đang nói gì? Tôi nghe thấy các từ, Loire, Rhin, Rhône, Garonne và Seine. Tôi hoàn toàn không nắm bắt được bất cứ điều gì bà nói về bốn dòng sông sau, nhưng khi nói về sông Loire, bà dùng từ château[66] và trong lúc nhắc đến một số tòa nhà tráng lệ mà bà biết hồi còn là cô bé, vẻ mặt bà chợt trở nên mơ màng vì kỷ niệm, và sự rộng lớn của những gì bà từng nhìn thấy được truyền sang tôi, rồi chỉ trong tích tắc những từ tiếng Pháp mà tôi vốn không thể hiểu chuyển cho tôi một thông điệp cũng dễ hiểu và rõ ràng như một tít báo. Trong buổi học đầu tiên kéo dài sáu mươi phút ấy, tôi nghe được khoảng ba giây tiếng Pháp, nhưng là nghe với một xúc cảm mãnh liệt mà tôi còn nhớ cho đến tận hôm nay.

Ngày thứ hai, bà Trenet thuyết trình cho tôi nghe về điện ảnh Pháp: Fernandel, Raimu, Brigitte Bardot, René Clair. Đến giữa bài, khi tôi còn chưa hiểu gì thì bà tình cờ nhắc đến một cái tên mà tôi biết, Arletty, thế là tôi bất giác reo, “Oui, Les Enfants du Paradis.” Một nụ cười thích thú nở trên môi bà, rồi bà hỏi, “Vous connaissez?”[67] và tôi đáp, “Oui.

Vì theo ý tôi, Les Enfants du Paradis là bộ phim hay nhất từng được sản xuất, một tác phẩm dài sinh động tường thuật những gì diễn ra trong và xung quanh Les Funambules, một nhà hát tạp kỹ ở Paris thời cách mạng 1848. Nó đã đưa tên tuổi Jean-Louis Barrault đến với thế giới, và nhiều nhà phê bình yêu thích cảnh ông tháo gỡ được một vấn đề của cảnh sát thông qua điệu bộ. Tôi quen một nhà triết học ở New York, người đã phân chia thế giới ra làm hai phần, một phần đã xem phim Les Enfants còn một phần chưa; ông ta xếp loại nhóm trước theo nhân vật họ yêu thích nhất trong phim. Tôi đã để lộ điểm yếu của mình khi thú nhận là trong số các vai nổi bật, tôi cảm thấy gần gũi nhất với anh chàng ngớ ngẩn mà trái tim rực cháy ngọn lửa tình yêu dành cho Arletty, anh chàng đứng ngoài sân dưới cửa sổ phòng nàng bày tỏ mối tình si lãng mạn nên thơ trong khi một tay chơi đầu óc thực tế hơn - một kẻ đê tiện không còn nghi ngờ gì nữa - đã lẻn vào phòng ngủ của nàng và, không bị ai ở dưới sân nhìn thấy, sắp lôi nàng lên giường. Một trong các sếp của tôi, một người khắc khổ, sống trong sạch, nói với tôi rằng ông ta thấy mình giống như nhân vật Nam tước bị giết trong nhà tắm hơi Thổ Nhĩ Kỳ.

Dù thế nào chăng nữa thì trong ngày học tiếng Pháp thứ hai, bà Trenet và tôi cũng đã bàn luận được về Les Enfants du Paradis, và bà hưởng ứng bộ phim đáng chú ý này một cách hùng hồn và với vẻ hài lòng khiến tôi cũng phải chia sẻ những đánh giá cao mà bà dành cho nó, đến nỗi chúng tôi trao đổi mười lăm phút về đề tài đó. Bà không cho phép tôi phát biểu cảm tưởng bằng tiếng Anh, vì vậy tôi phải cố gắng xoay xở với “le premier film du monde en mon opinion” và “cette grande scene dans la nuit entre les trois amoureux.”[68] Những từ tiếng Pháp ấy ở đâu ra? Lời nhạc kịch, tôi nghĩ vậy.

Buổi dạy thứ ba của bà liên quan đến hội họa Pháp; buổi thứ tư, sự huy hoàng vĩ đại của sân khấu Pháp; thứ năm, chính sách đối ngoại của Pháp; và đến giữa buổi cuối cùng, khi bà đang nói về Bismarck và Thiers, điều thần diệu mà bà tìm kiếm xảy ra: bỗng nhiên những âm thanh ngẫu nhiên mà bà sử dụng trong suốt năm ngày qua bắt đầu ổn định vào trật tự và tôi tiếp nhận mỗi âm như một từ hay một phần của từ. Chắc hẳn một tia sáng nhận thức đã lóe lên trên mặt tôi, vì bà Trenet tạm dừng bài giảng về tính xảo trá của Bismarck và nói bằng tiếng Pháp, “Tốt, bây giờ chúng ta có thể bắt đầu học tiếng Pháp được rồi.”

Bà đưa cho tôi một danh sách hai trăm từ ngắn - en, avec, de, sur,sous, mais - để tôi ghi nhớ, cùng một danh sách khác có khoảng tám mươi nhóm từ và câu gồm rất nhiều mẫu hội thoại thông thường; những mẫu ấy, tôi phải bắt đầu sử dụng ngay tức khắc và phải vận dụng vào mọi tình thế có thể cho dù có phải trình bày sai lệch những điều muốn nói. Cuối cùng, bà dạy tôi xoay xở chỉ với ba thời - hiện tại, tương lai và một thời quá khứ mà trong đó động từ vẫn giữ nguyên, chỉ có phân từ thay đổi - đến mức cho đến nay khi dùng tiếng Pháp, tôi không bao giờ nói I sau mà chỉ là I have seen: J'ai vu. J'ai acheté. J'aipensé.[69]

Mười sáu ngày sau cuộc gặp đầu tiên với bà Trenet, tôi đã phát biểu một bài ngắn bằng tiếng Pháp về mùa đông ở Minnesota cho một câu lạc bộ tại Geneva. Tôi nói không lưu loát lắm nhưng vẫn làm cho mọi người hiểu được, vậy là từ hôm đó tôi sử dụng tiếng Pháp không chính xác thì cũng tự tin.

Phương pháp giảng dạy của bà còn có một điểm đặc biệt nữa; cuối tuần thứ nhất, bà bảo tôi, bằng tiếng Pháp, “Đây là cuốn từ điển. Đừng dùng. Mà hãy ngồi viết ra một danh sách những từ quan trọng trong nghề nghiệp của ông... bằng tiếng Anh. Những điều ông thực sự muốn nói. Tìm từ tiếng Pháp tương đương và học thuộc lòng. Rồi bỏ từ điển đi. Vì chúng tôi nhận thấy, nếu ông đọc tiếng Pháp và đoán nghĩa từ thì sau cùng ông sẽ tiến bộ hơn một chút so với việc cứ gặp từ nào tra luôn từ đó. Và quan trọng hơn cả là ông sẽ thích thú hơn nếu nhớ được.

Vậy là, như đã kể, một hôm tôi ngồi giết thời gian ở quán Alamo, và trong lúc đang nửa nghe nửa điếc trước tiếng ồn kinh khủng phát ra từ máy quay đĩa thì thật khó hiểu, lần đầu tiên tôi chợt nghe ra được nhạc điệu và ca từ thực sự. Hàng rào âm thanh đã bị phá vỡ. Những gì lúc trước chỉ thuần túy là tiếng ồn, nay lại trở thành một chuỗi âm thanh riêng lẻ, mạnh mẽ và có ý nghĩa sâu sắc. Đó là một bài hát giống như “Nel Blu Dipinto del Blu”, một tiếng kêu từ trái tim, và ca từ cứ như do chính tôi nói ra, vì giọng khàn khàn của một người đàn ông sầu não đang rên rỉ: “Ai người bỏ quên chiếc bánh ngoài mưa gió...” Tôi yêu cầu Joe cho nghe lại đĩa đó, vì quán không đông khách lắm nên anh chiều lòng tôi ngay, thế là tôi bắt đầu tìm hiểu cuộc cách mạng vốn được âm nhạc bảo trợ trong lúc tôi còn để ý tới những việc khác.

Giờ đây đến quán không còn là cách tránh đám người Hy Lạp ưa trì hoãn - vẫn không sao gom đủ tiền để cứu những tòa nhà chọc trời của họ - mà là một cuộc phiêu lưu vào thế giới âm thanh. Tôi nghe đĩa, quan sát phản ứng của đám thanh niên, và bước vào một thế giới mạnh mẽ hơn thế giới của cần sa, có sức thuyết phục hơn thế giới của LSD[70].

Khi cuối cùng đã nghe được nhạc điệu, sự đa dạng của nó khiến tôi sững sờ: những gì trước kia tôi gọi chung là tiếng ồn lúc này phân tách thành âm thanh muôn màu muôn vẻ phong phú hơn hẳn những gì tôi biết hồi trẻ, và tôi bắt đầu lựa chọn ra từ mỗi loại những bài tôi cảm thấy có giá trị âm nhạc; với mỗi khám phá mới, tôi lại tiến gần hơn đến thế giới mà lớp trẻ xung quanh tôi đang sống. Âm nhạc vì vậy biến thành tấm giấy thông hành vào một miền đất lạ, và bây giờ mỗi khi nhìn lại những tháng ngày nhàn rỗi ở Torremolinos hồi ấy, tôi lại thấy hình như chúng là phần hữu ích nhất trong đời.

Tôi thấy thích nhất thứ nhạc khàn khàn bản năng của các nhóm tên kỳ cục như Thẩm Quyền Trung Chuyển Chicago, Hơi Nóng Đóng Hộp, Những Con Thú, và đặc biệt một nhóm tên là Kem. Tôi hiểu tiếng guitar bập bùng muốn nói điều gì, và mặc dù ca từ dường như không thành vấn đề, tôi đã học được cách thưởng thức trọn vẹn âm thanh và nhịp điệu rộn ràng.

Loại tiếp theo quá hay, xét theo bất cứ tiêu chuẩn nào, đến mức tôi lấy làm lạ là mình đã không phát hiện ra sớm hơn. Những ca khúc đó là lớp hậu sinh trực tiếp của những bài tôi thích từ hồi sinh viên, và nếu những người hoài nghi có hỏi, “Ngày nay lời bài hát đâu cả rồi?” thì hiển nhiên là họ chưa bao giờ được nghe tác phẩm hiện đại. Đặc biệt có một bài, nói về một nhóm nhạc sĩ trẻ ở California cố không mang công mắc nợ:

Phá sản, phẫn nộ/Quản lý thì không thể tin được...

Tôi không thấy người ta có cách nào đúc kết cô đọng hơn về lớp trẻ trong vỏn vẹn mấy từ ngữ. Tôi càng ngày càng tâm đắc với bài ấy - vì quán Alamo mở cửa mười bảy tiếng một ngày cho nên không thể tránh được là bài nào cũng sẽ được bật ít nhất sáu hay bảy lần, các bài ưa thích có khi lên đến hai mươi - và mỗi lần các hợp âm guitar sâu lắng, cuốn hút đó vang khắp quán, tôi lại ngong ngóng mong đợi những giọng trẻ trung hòa quyện vào nhau hát lên lời than thở của mình. Khi tôi hỏi Joe tên bài hát, anh đáp với vẻ chiếu cố, “Creeque Alley,” như thể ai cũng biết chuyện đó. Tôi nghĩ chắc anh lầm nên nhìn kỹ bao đĩa, thì kìa, bài Creeque Alley thật. Một số tên khác còn tệ hơn.

Trong nhóm ca khúc dễ hát này, tôi phát hiện những tác phẩm thú vị như “Up-Up and Away”, “Go Where You Wanna Go”, “Little Green Apples” và “Dedicated to the One I Love” nhưng nghe một thời gian, tôi nhận thấy mình thèm tiếng nện dồn dập chắc nịch trong các ca khúc hầu như không lời mà ban nhạc Kem và Những Con Thú trình bày. Tôi còn nhớ mình đã vui sướng như thế nào khi tìm được một bài kết hợp những gì hay nhất của cả hai phong cách, một đoạn guitar-organ vang như sấm với lời ca tuyệt vời, “The House of the Rising Sun,” song khi tôi bình luận về bài ấy, Joe lại bảo, “Đây là một bài cổ lỗ sĩ của New Orleans. Cổ lỗ sĩ hơn cả ông cơ.” Thây kệ, dù sao thì nó cũng có điệp khúc sinh động.

Tôi lấy làm lạ nhận ra mình tự nhiên lại mong đợi đĩa của hai giọng nữ gào thét; hồi sinh viên tôi không mấy hứng thú với kiểu hát hò như vậy, nhưng bây giờ hình như nó lại hợp thời. Aretha Franklin được khách quen của quán khá ưa thích, và càng ngày tôi càng đánh giá cao kiểu lầm bầm đau đớn, đầy nhục cảm của cô, nhưng chính Janis Joplin mới là người giành được trái tim tôi. Tiếng thét phản đối “Phụ nữ là kẻ thất bại” dường như vừa hợp thời vừa phổ quát. Thỉnh thoảng, khi cô thét lên câu đó, tôi lại thấy mấy ông lớn tuổi trong quán gật gù; đó cũng là kinh nghiệm của họ. Tôi thích hầu hết các bài Joplin trình bày, thích theo kiểu phần nào bị mê hoặc. Giọng khàn khàn của cô là phản đề âm nhạc nhưng nó đương đại và hấp dẫn.

Thỉnh thoảng cũng có bài có thể gọi là vàng ròng, chui rúc trong những album mà giá không thì chẳng ai buồn nghe, nhưng lại chứa đựng một sức mạnh ấn tượng được thừa nhận ngay tức khắc: “By the Time I Get to Phoenix”, “Spanish Eyes” và “Gentle on My Mind”. Tất nhiên, bất cứ ai chăm chú lắng nghe cũng có thể thích những đoạn vô nghĩa như trong một bài hát rất được hâm mộ mùa xuân năm ấy, “Harper Valley P.T.A”, nhưng sau hai tuần tập trung nghe, tôi nhận thấy có hai loại mình thực sự thích, sự yêu thích cũng lớn như những cảm xúc tôi từng có đối với bất cứ bản nhạc nào trong thời niên thiếu: những ca khúc như “MacArthur Park”, nói về chiếc bánh tan chảy dưới mưa, và tiếng đập sâu lắng đầy khí phách của những nhóm guitar-và-trống.

Nhưng trong lúc lắng nghe thác lũ âm nhạc ấy, tôi bắt đầu nhận ra những điều tôi chưa nắm bắt được trong thời gian đầu phấn khích trước sự tuyệt vời của nó. Tôi bối rối nhận ra hầu hết mọi nơi - thậm chí cả ở những bản thu âm tại Anh - các ca sĩ đều cảm thấy cần phải bắt chước dân da trắng nghèo thất học miền Nam nước Mỹ. Tôi bèn bỏ công bỏ sức tìm hiểu xem một vài ca sĩ được nuôi dạy ở đâu và thấy họ xuất thân từ nhiều khu miền Bắc khác nhau, đấy là chưa kể nước Anh, nhưng khi đứng trước micro, họ đều sa vào giọng cằn nhằn cấm cẳn của người chặt bông miền Nam bất mãn với đời. Người đàn ông có học thức hay người đàn bà có giáo dục không còn chỗ đứng trong nền âm nhạc hiện đại.

Tôi cũng bị ấn tượng vì có rất nhiều bài ca ngợi bọn gangster, lưu manh côn đồ, những người bế tắc và những kẻ thoái hóa biến chất. Bonnie và Clyde, Pretty Boy Floyd[71], kẻ đào tẩu trên đường tới Phoenix, chàng trai trong nhà xác tìm cách trối trăng với người yêu, cô gái nghiện ma túy và những thanh niên sống ngoài lề xã hội dám thách thức cảnh sát chính là người hùng của thế hệ này, và tôi thường tự hỏi sự kích động cách mạng liên tục như vậy sẽ có tác động như thế nào.

Sau một thời gian để ý nghe, tôi mới nhận ra có rất nhiều bài ca ngợi kết quả của việc dùng ma túy: cần sa, LSD và heroin dường như đã thành tín ngưỡng mới, và tôi băn khoăn không hiểu làm sao một đứa trẻ mười ba tuổi nghe mãi những bài hát đó lại có thể tránh xa mà không quyết thử ma túy bằng được ngay khi có cơ hội đầu tiên.

Về mặt tình dục, thật thú vị khi tìm cách giải đoán xem các bài hát gần đây nhất đang ủng hộ những phương thức mới nào; âm nhạc bảo trợ cho một trào lưu mới chuyên lan truyền các lời lẽ như trong những bài hát mới nhất. Đây là một ý nghĩ điên rồ của giới trẻ khiến tôi nhớ đến mấy thiếu niên tôi quen tại Boston trong thời gian làm việc ở đó. Chúng say mê bộ phim truyền hình dài tập mới tên là Người Dơi kể về một thanh niên bề ngoài làm ra vẻ người bình thường, xuất thân từ gia đình khá giả, sống trong một dinh thự lớn ở ven thành phố, nhưng trên thực tế lại là, nói theo cách thông thường trong những hoàn cảnh như vậy - Người Dơi, kẻ báo thù cái ác. Bất cứ cô cậu nào mà tôi cùng chuyện trò đều tin rằng chỉ có chúng mới biết chàng trai tài giỏi ấy là Người Dơi, và khi đám trẻ con ấy thì thầm với tôi, “Ông biết không, anh ấy là Người Dơi đấy,” bọn chúng đã cho tôi vinh dự được chia sẻ một trong những bí mật quý giá nhất của mình. Bọn chúng biết còn tôi thì không; các bạn trẻ ở quán Alamo cũng đối xử với tôi đúng như vậy, chỉ khác là vốn hiểu biết của họ sâu sắc hơn.

Một hôm, tôi đang ngồi trong quán, tâm trạng có phần buồn bã chán nản vì những suy nghĩ đó, thì Joe lục dưới đáy chồng đĩa rồi cho chạy bài “Michael from Mountains”, một ca khúc mộc mạc trong trẻo như pha lê, được trình bày bởi một cô gái xinh đẹp có chất giọng tự nhiên đến nỗi cảm giác lâng lâng dễ chịu mà nó mang lại làm tôi thấy phấn chấn hẳn lên. Nội dung là gì? Chỉ là ca khúc giản dị về một cô gái quan sát một chàng trai miền núi xa lạ và những thứ chàng có thể xoay sở với tự nhiên. Cô linh cảm sau này sẽ có ngày cô trở nên rất thân quen với anh. Đó là một trong những bài chân chất nhất mà tôi từng nghe, một nhạc phẩm mà có lẽ chính Schubert đã viết nên. Tôi đề nghị Joe cho nghe lại lần nữa, nhưng ca sĩ chỉ mới hát được có mấy nhịp thì một anh lính đã lên tiếng phản đối, “Quỷ tha ma bắt, bài đấy cổ lắm rồi,” vì vậy Joe phải thay đĩa khác mới hơn. Ca khúc này vừa được sáng tác năm ngoái.

—★—

Trong những lần cuốc bộ dọc bãi biển để vào trung tâm thành phố, tôi thường đi qua khách sạn Brandenburger và thỉnh thoảng rẽ vào uống một cốc bia Đức. Những lúc như thế, tôi đều nhìn thấy một chiếc xe cắm trại Volkswagen màu vàng đỗ bên bờ biển nhưng không chú ý lắm, rồi một buổi chiều, khi ra khỏi quán bia, tôi vô tình phát hiện chiếc Volkswagen trông có vẻ khang khác và nhận thấy một phần mui xe đã được chống lên để cho ánh nắng và không khí tràn vào, vậy là một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu tôi: Chắc hẳn chính vì thế mà người ta gọi kiểu xe này là pop-top. Tôi bước lại gần chiếc xe để xem bên trong có ai không. Không có ai cả, và khi tôi nhìn qua ô cửa treo rèm để quan sát cách bố trí đồ nội thất thì một khách du lịch Đức ở khách sạn Brandenburger rời khỏi chiếc bàn trên thảm cỏ và băng qua bãi cát.

“Ông tìm gì?” ông ta hỏi cộc lốc. Ông ta có mái tóc cắt theo kiểu Phổ và nói tiếng Anh.

“Tôi chỉ muốn xem...”

“Chiếc xe này không phải của ông,” ông ta nói, giọng chê trách.

“Tôi biết là không phải của tôi,” tôi vụng về thanh minh. “Nhưng tôi chỉ muốn biết...”

“Tốt hơn hết ông nên để mặc nó đấy,” ông ta ngắt lời. “Người chủ xe sẽ không bằng lòng nếu ông...”

“Tôi chỉ xem thôi. Này, đây có phải của ông không?”

“Không. Nhưng tôi trông hộ khi chủ xe vắng mặt. Vậy nên mời ông đi đi cho.”

Khi đi công tác vòng quanh thế giới, lúc nào tôi cũng lấy làm ngạc nhiên không hiểu sao dân Đức lại có tài khiến người khác cảm thấy đạo đức của mình kém cỏi hơn. Tiu nghỉu như kẻ đang âm mưu trộm cắp, tôi đành rời xa chiếc Volkswagen và đi tiếp đến quán Alamo, tại đó tôi thấy Britta đang tranh luận với mấy anh lính Mỹ về vấn đề gì đó mà họ vừa phát biểu.

“Đồ điên khùng các anh làm sao thế?” cô đứng ngay bên bàn họ hỏi.

“Chính Tổng thống Eisenhower nói thế,” một anh lính khẳng định.

“Thế thì ông ta không hiểu mình đang nói gì,” cô gắt.

“Có phải ở Thụy Điển tỷ lệ tự tử rất cao không? Có phải Thụy Điển là nước thoái hóa về mặt đạo đức không?”

“Tôi không phải người Thụy Điển!” cô chống đỡ.

“Chẳng phải Na Uy cũng tồi tệ không kém sao?” anh lính hỏi.

“Anh lấy những ý nghĩ đó ở đâu ra đấy hả?” Britta sững sờ hỏi lại.

“Tổng thống Eisenhower nói như vậy, trong một bài diễn văn.”

Cô quay lại phía tôi hỏi, “Không biết ai nói với họ những điều vớ vẩn ấy chứ? Chuyện Thụy Điển thoái hóa về mặt đạo đức ấy?”

“Chẳng phải dân nước cô đã xuất bản sách tình dục sao?” anh lính hỏi dồn. “Có ảnh màu minh họa nữa?”

“Đó là Đan Mạch,” cô phát bẳn và tiến về phía quầy rượu.

Nhưng một người Mỹ khác đã nhắc lại, “Đúng là ở nước cô có nhiều vụ tự sát chứ?”

Britta quẳng cái giẻ lau xuống đất và quay phắt về phía mấy người làm phiền cô. Gần đây cô luôn bị quấy rầy ít nhất mỗi ngày một lần về tỷ lệ tự sát khá cao ở Thụy Điển. Giờ cô bước lại gần tôi rồi nài nỉ, “Ông làm ơn giải thích cho những kẻ mọi rợ này hiểu Thụy Điển là nước văn minh đi.”

“Chúng tôi biết nó là nước văn minh,” anh lính đầu têu nói. “Điều chúng tôi muốn biết là tại sao nó lại thoái hóa như thế.”

Tôi biết nhiều người Mỹ cũng tin vào cách đánh giá ấy, vì vậy tôi đề nghị họ lấy mấy mảnh giấy ra ghi nhanh một vài con số mà nhiều năm trước đã gây ấn tượng mạnh đối với tôi và, hơn hẳn bất kỳ bằng chứng nào khác tôi từng nghe, đã khiến tôi không dám phát biểu ngớ ngẩn về các đất nước và nền văn hóa khác.

“Tôi nhớ rất rõ bản báo cáo ấy,” tôi nói. “Nó được công bố khoảng năm 1950 và cho thấy Sicily có nhiều vụ ám sát tính theo đầu người hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Mọi người bèn nhảy ngay vào cuộc và viết tiểu luận về vấn đề dân Sicily là những kẻ giết người bẩm sinh ra sao. Một số giả thuyết kỳ cục được nêu ra và lan truyền rộng rãi. Dân Sicily được mô tả như những kẻ tồi tệ nhất thế giới, và chúng tôi đã có các con số chứng minh điều này.

“Hai năm sau, một nhóm nghiên cứu khác tiến hành công trình tương tự về các vụ tự sát ở Thụy Điển. Rất nhiều. Bằng chứng hiển nhiên cho thấy Thụy Điển có số vụ tự sát nhiều hơn bất kỳ nước nào khác, và một lần nữa chúng tôi lại có hàng loạt giả thuyết hay ho về vấn đề tại sao Thụy Điển thoái hóa đến thế. Nó phải liên quan tới chủ nghĩa xã hội và sự thiếu thách thức cá nhân, và chính lúc đó Tổng thống Eisenhower đã nhảy vào cuộc. Trong một bài phát biểu, ông chứng minh rằng Thụy Điển đã thoái hóa khá trầm trọng.

“Vào lúc đó, chúng tôi đã có trong tay những con số cho thấy dân Sicily hay giết người khác còn dân Thụy Điển hay tự giết mình. Vì vậy một thanh niên thông minh nào đó đã so sánh những con số ấy và nhận thấy tỷ lệ gần như bằng nhau. Dựa trên đầu mối đó, anh ta đã tập hợp tất cả những con số thống kê có thể kiếm được, và tôi nghĩ các bạn sẽ quan tâm đến những gì anh ta tìm ra. Hãy kẻ ba cột. Cột thứ nhất là Quốc gia, cột thứ hai là Vụ ám sát, còn cột thứ ba là Vụ tự sát.

Khi các anh lính làm xong việc này, tôi bèn đọc một vài chỉ số mà tôi còn nhớ mang máng; tôi không thể nói chắc chắn các con số cụ thể có chính xác hay không, nhưng tôi sẽ bảo đảm mối tương quan. Khi hoàn thành, bảng so sánh đó như thế này:

Quốc gia Vụ ám sát Vụ tự sát

Sicily 22 0

Hoa Kỳ 16 6

Anh 11 11

Đức 6 16

Thụy Điển 0 22

“Từ bản thống kê này,” tôi kết luận, “có thể thấy trong mọi xã hội chúng ta đều tìm được một chỉ số bạo lực không đổi, nhưng bạo lực đó biểu hiện như thế nào lại được quyết định bởi phong tục tập quán địa phương. Một người đàn ông Sicily không thể tiếp tục sống trong xã hội của mình nếu ông ta từ chối giết kẻ đã phản bội em gái mình. Cô dì chú bác anh ta, quán cà phê góc phố, câu lạc bộ bi-a kiên quyết yêu cầu anh ta phải giết kẻ bạc tình và nhờ đó phục hồi danh tiếng cho dòng họ. Ở Thụy Điển thì cách giải quyết như vậy là điều không thể tưởng tượng được. Anh ngồi ru rú trong nhà nghiền ngẫm về chuyện đó, rồi khi mùa đông đến cùng những đêm dài vô tận thì anh không giết kẻ kia mà giết chính mình.”

Monica vừa lang thang ở đâu về bèn nhòm qua vai tôi trong lúc tôi chỉ vào các con số, “Ôi, nước Anh thân yêu!” cô reo lên. “Lúc nào cũng cân bằng!”

“Cháu nói đúng đấy,” tôi đồng ý với cô. “Khi số vụ ám sát và tự sát bằng nhau, ta có một cộng đồng dân cư lành mạnh.”

“Có một chỗ nhầm,” Joe từ sau quầy rượu nói vọng ra. “Tôi nghĩ các bạn sẽ nhận thấy ngày nay tại nhiều vùng ở Mỹ tỷ lệ ám sát sắp bằng ở Sicily rồi, và tại những vùng khác tỷ lệ tự sát của chúng tôi lại gần bằng ở Thụy Điển. Đất nước chúng tôi đầy rẫy bạo lực chứ không phải Sicily.”

“Đó chỉ là vì chúng ta đa dạng quá,” tôi nói. Tôi đã xem ở đâu đó những con số mới đầy chứng minh rằng các vụ ám sát bằng súng ở Texas nhiều hơn ở Sicily, trong khi ở Vermont lại có nhiều vụ tự sát hơn. “Chắc hẳn có yếu tố địa lý nào đó tác động đến những con số này,” tôi nói. “Ở phương Bắc thì các anh tự sát. Ở phương Nam thì là ám sát.”

“Tuyệt!” Britta kêu lên với mấy anh lính phê phán đất nước cô. “Trong khi tôi lui về tự cắt cổ mình thì dân miền Nam nước Mỹ các anh lại bắn giết nhau. Nhưng đừng có bắt tôi phải chịu thêm những chuyện vớ vẩn về Thụy Điển đó nữa nhé.”

Anh lính đối thủ của cô không xuống nước dễ dàng như vậy. “Đó là về các vụ tự sát, nhưng còn vấn đề thoái hóa thì sao? Có phải ở trường người ta dạy tình dục không?”

Trông Britta có vẻ như đang ngẫm nghĩ dăm ba lý lẽ để phản bác, nhưng rõ ràng cô đã quyết định từ bỏ vì tin chắc sẽ chẳng đi đến đâu. Thay vào đó, cô mỉm cười với anh lính rồi nói, “Phải, người ta có dạy chúng tôi về tình dục. Và kể ra học tình dục ở lớp tám cũng thực sự thú vị đấy chứ.” Nhưng ngay cách đối đáp này cũng chưa làm Britta thỏa mãn, vì vậy cô lại nói với mấy anh lính, “Đồ thô lỗ các anh làm tôi nhớ đến một việc xảy ra ở Tromsø. Chúng tôi ở mãi trên phía Bắc gần Vòng Bắc Cực đến nỗi khách du lịch nào rời tàu cũng trông chờ được nhìn thấy gấu Bắc cực lang thang trên đường phố. Chúng tôi đã cố giải thích cho họ hiểu Tromsø là một nơi văn minh, nhưng họ vẫn muốn thấy gấu Bắc cực. Thế là chúng tôi làm gì? Một cửa hàng bèn mua một chú gấu Bắc cực nhồi bông rồi đặt trên hè phố và nói với khách du lịch, “Chúng tôi bắn được nó ở tòa thị chính mùa đông năm ngoái đấy,” vậy là họ hài lòng rời khỏi đó. Các anh có biết tôi giấu cái gì sau quầy rượu không? Một con gấu Bắc cực.”

Quay về phía tôi, cô đề nghị, “Ông kể cho họ về khu nhà của dân du thủ du thực đi.”

Các anh lính nhìn tôi, vì vậy tôi phải nhắc lại một chuyện tôi đã kể cho Britta: “Bạn tôi đã chỉ đạo điều tra các khu nhà của dân du thủ du thực ở Boston, New York, Philadelphia và Chicago. Họ nhận thấy chúng khá giống nhau, nhưng có một thực tế nổi bật. Trong số những người sống vật vờ ở khu nhà của dân du thủ du thực - những kẻ thất cơ lỡ vận đích thực - có tới chín mươi hai phần trăm là dân Ailen và tín đồ Công giáo. Không tìm thấy người da đen ở đó. Họ ở lẫn với dân thường và xoay xở để sống. Tín đồ phái Giáo hữu và người Do Thái cũng không đến sống ở khu nhà của dân du thủ du thực. Đó là một hiện tượng nảy sinh từ thói nghiện rượu và tình trạng kết hôn muộn trong các cộng đồng người Ailen. Ông bạn tôi nhận thấy gần chín mươi phần trăm dân ở khu nhà của những kẻ du thủ du thực chưa bao giờ duy trì được mối quan hệ bền lâu với đàn bà. Đây không phải sự chỉ trích đối với người Ailen hoặc tín đồ Công giáo. Nó chỉ cho thấy đây là căn bệnh xã hội mà họ dễ mắc phải.”

“Ở Thụy Điển thì là nạn tự sát,” Britta nói với ra từ sau quầy rượu. “Còn ở các bang miền Nam thì sao?”

Đến tận tối tôi mới rời khỏi quán trở về căn hộ trên tầng thượng của mình, và khi đến gần khách sạn Brandenburger, tôi lại chú ý đến chiếc Volkswagen màu vàng mà ban ngày người Đức kia đã xua tôi tránh xa. Lúc này bên trong đã có ánh đèn, và qua khe cửa vọng ra tiếng ai đó đang chơi nhạc, vậy là tiện dịp tôi rẽ đến gần chiếc xe và gõ cửa. Một giọng con gái hỏi bằng tiếng Đức, “Ai đó?”

Tôi vừa lầm bầm mấy lời giải thích thì cửa mở và tôi nhìn thấy bóng một thiếu nữ thanh tú mặc quần soóc, tay cầm cây đàn guitar hiện ra trong ánh sáng mờ mờ. Đó là Gretchen Cole, và ngay khi tôi nhận ra cô, cô cũng thấy rõ tôi là ai, thế là cô vội ném cây đàn xuống giường và lao vào vòng tay tôi.

“Ôi chao,” cô reo lên, giấu mặt vào áo tôi, “gặp được chú, cháu mừng quá!”

Vẫn giữ vai Gretchen, tôi đẩy cô ra, ngắm khuôn mặt thân quen, nghiêm nghị của cô và hỏi, “Làm sao mà cô lại xuống đây?”

“Cháu có nói chú cũng không tin đâu.”

“Tôi đã tới Besançon. Phải, cùng với cha cô.”

“Sao cha cháu biết cháu ở Besançon?”

“Qua ngân hàng. Báo chí thì chẳng bao giờ biết gì. Thám tử tư cũng vậy. Ngân hàng thì lúc nào cũng biết vì chúng ta đều phải liên lạc để trao đổi về chuyện tiền nong.”

“Không biết lần sau cháu sẽ viết thư từ đâu đây?” Cô bật cười vì nhận thấy câu hỏi của mình trịnh trọng giả tạo quá.

“Điều gì đã xảy ra với cô sau khi tôi rời Boston?” tôi hỏi.

“Cha cháu không nói cho chú hay ư?”

“Ông nói rằng...”

“Sao ạ?” cô hỏi giọng lạnh lùng. “Ông ấy nói gì?” Cô ngồi xuống giường và ra dấu cho tôi lấy chiếc ghế gập, nhưng tôi chưa kịp làm theo thì có tiếng gõ cửa mạnh và một giọng đàn ông hỏi bằng tiếng Đức, “Cô không sao chứ, Fräulein?”

Gretchen đẩy cửa ra và trả lời người đàn ông Đức tóc húi cua đã xua tôi đi lúc trước, “Mọi chuyện ổn cả, Herr Kleinschmidt. Đây là chú tôi.”

Herr Kleinschmidt chằm chằm nhìn tôi với ánh mắt đe dọa rồi nói, “Chúng tôi nghĩ rất tốt về cô gái này.”

“Chúng tôi cũng vậy.”

Khi ông ta lui vào trong bóng tối, Gretchen quay lại phía tôi mỉm cười yếu ớt. “Mọi người ở khách sạn Đức đều rất tốt với cháu.” Đột nhiên cô đứng bật dậy, chạy ra cửa gọi, “Herr Kleinschmidt! Xin ông chờ một chút!”

Cô nghiêng người, nắm tay kéo tôi ra ngoài. Chúng tôi chạy mấy bước tới chỗ người Đức đang chờ. “Chúng ta vào quán rượu uống một chầu nào.” Một bên khoác tay ông ta, bên kia khoác tay tôi, cô dẫn cả hai vào khách sạn Brandenburger, tại đây chúng tôi tìm được một bàn trống và ngồi xuống uống bia Đức, suốt thời gian đó thỉnh thoảng một vài khách hàng quen biết mặt Gretchen ghé lại nói chuyện với cô. Chỉ đến lúc đó tôi mới hiểu Gretchen đưa tôi đến đó để cô trì hoãn kể chuyện về bản thân; thái độ giao tiếp ung dung thoải mái mà cô đang phô ra với những người quen Đức không liên quan gì tới sự không chắc chắn mà hình như cô cảm thấy về chính mình.

Sau nửa tiếng tỏ ra thân thiết gượng gạo, một cuộc thể hiện tôi dám chắc là cốt cho tôi xem, chúng tôi đi bộ về chiếc pop-top, và khi đã vào bên trong tôi mới nói, “Bây giờ cô kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra nào,” thế là, bất ngờ được dịp bộc lộ nỗi lòng, cô kể cho tôi nghe câu chuyện ở Chicago. Tôi nhận thấy cho dù đã khá lâu như vậy, chín tháng sau sự kiện ở đồn cảnh sát Patrick Henry, cô vẫn chưa chế ngự được những rắc rối đáng sợ ấy; chúng vẫn còn ám ảnh cô, vì vậy khi cô kể chuyện xong, tôi nắm cả hai tay cô nói, “Gretchen, tôi đã gặp một nhóm bạn trẻ rất thú vị tại một quán bar trong thành phố... trong đó có ba người tôi quen từ trước. Dù thế nào đi nữa cô và tôi cũng sẽ đến đó. Phải, ngay bây giờ.” Khi cô phản đối vì lúc này đêm đã khuya, tôi nói, “Cô gặp bọn họ đi, chuyện quan trọng đấy... để cô thoát khỏi nỗi khốn khổ...”

“Ai bảo là cháu khốn khổ?” Cô giật tay ra và nói với vẻ thách thức, “Cháu có bao nhiêu bạn ở khách sạn.”

“Tôi bảo là cô khốn khổ đấy. Đi nào.”

Tôi kéo cô ra khỏi chiếc pop-top, nhưng cô lại giằng ra lần nữa. “Cháu còn phải khóa cửa đã chứ,” cô nói, và khi chúng tôi lên đường quay về thành phố, cô gọi với lên phía một người đang ở trên thảm cỏ trước khách sạn Đức, “Trông hộ chiếc Volkswagen trong lúc tôi đi vắng nhé,” và một giọng trầm đáp bằng tiếng Đức, “Chúng tôi sẽ để mắt đến nó.”

Khi chúng tôi đi đã được khoảng nửa đường, cô mới hỏi, “Chúng ta đi đâu đây?” tôi liền đáp, “Chỉ là một quán nhỏ... một quán Mỹ,” vậy là cô nói ngay, “Ô, chú định nói quán Alamo. Cháu đã đến đó rồi.” Giọng cô không có vẻ xem thường mà đã nhuốm chút trầm bổng háo hức, vì vậy tôi nói, “Có thể cô đã gặp các bạn của tôi rồi,” và cô nói, “Cháu đã gặp khá nhiều binh sĩ Mỹ ở căn cứ Sevilla, nhưng người duy nhất cháu còn nhớ là một anh thanh niên da đen.”

“Tên là Cato Jackson phải không?” tôi vội hỏi.

“Người nổ súng khủng bố trong nhà thờ... vâng.”

Tôi định cải chính là anh không thực sự nổ súng khủng bố trong nhà thờ nhưng Gretchen đã cắt ngang, “Cháu rất mong gặp lại anh ấy. Anh ấy có điểm đặc biệt riêng,” tôi liền nói, “Những người khác cũng đáng chú ý như vậy,” vậy là cô nắm lấy cánh tay tôi rồi bước nhanh chân hơn, đúng như một cô gái vừa nghe nói mình sắp được gặp những người thú vị cùng trang lứa.

Khi chúng tôi tới quán bar, Cato và Monica không có mặt, nhưng ba người kia thì đều đang quanh quẩn trong quán; gần một giờ sáng nên công việc đã thư thư, chỉ còn mấy anh lính ngồi quanh một bàn. Tôi giới thiệu Gretchen với Britta, hai cô có cảm tình với nhau ngay lập tức. Rồi Britta đưa Gretchen đến gặp Yigal, một người Anh đích thực, nhưng khi hai cô gái tới chỗ Joe, anh chỉ gật đầu xã giao và nói, “Chúng ta đã cùng ăn tối ở Boston.” Gretchen chăm chú nhìn anh, hiển nhiên không phân biệt được anh với những thanh niên tóc dài trốn quân dịch mà cô đã giúp trốn sang Canada, nhưng khi anh nói thêm, “Đêm đó tôi đã kể với cô tôi đang đi tới Torremolinos,” cô reo lên, “Thôi đúng rồi! Đó là nơi em nghe thấy cái tên này!”

Khoảng hai giờ sáng, cánh cửa mở đánh rầm và Cato dìu Monica lao vào. Cả hai đã uống khá say và chắc hẳn còn hút cần sa nữa vì mắt họ giãn to sáng rực.

“Tin mới đây!” Cato thông báo. “Paxton Fell mời tất cả chúng ta đêm mai lên đồi đập phá một bữa. Tất cả chúng ta đều được mời, và ông ấy sẽ cho một chiếc xe xuống đón.”

Rồi anh nhìn thấy Gretchen và lại gần cô, “Anh biết em! Em là cô gái ở Boston. Em được đấy.” Anh đưa Monica đến giới thiệu, và khi câu chuyện chảy tràn thoải mái về mọi đề tài, tôi đánh giá rất cao việc Cato hòa nhập được vào bất cứ nhóm nào. Anh là một chất xúc tác.

Tuy nhiên, chỉ có Britta hiểu tại sao tôi lại đưa Gretchen tới quán. Cô nói, “Nếu cậu có chiếc pop-top, và nó lại đậu ngoài bãi biển... ờ, sao cậu không đậu bên ngoài nhà chúng tôi?... Cậu có thế dùng phòng tắm của chúng tôi.”

Sáng kiến của Britta có vẻ hợp lý đến mức cả nhóm đều nhất trí coi đó là cách giải quyết chính thức và nhất định đòi thực hiện ngay. “Cậu đóng cửa quán giúp được không?” Joe nhờ một anh lính và anh này đồng ý.

“Mục tiêu đêm nay,” Cato hô. “Một chiếc pop-top.” Nghe thấy mấy từ mục tiêu đêm nay mà cảnh sát ở Patrick Henry đã dùng một cách tùy tiện đáng ghét, Gretchen bất giác rùng mình, và trên đường cuốc bộ vui vẻ ồn ào về xe của mình, cô luôn đi sát tôi.

Khi nhìn thấy chiếc pop-top màu vàng, nhóm bạn trẻ phấn khởi reo hò, khiến đèn ở một số phòng rải rác trong khách sạn Brandenburger lần lượt bật sáng. “Không sao đâu,” Cato nói to. “Chỉ là một vụ hiếp dâm tập thể thân mật thôi mà.”

“Cô không sao chứ, Fräulein?” một giọng Đức khàn khàn vang lên.

“Mọi việc ổn cả,” Gretchen đáp trong khi Yigal nổ máy xe. “Tôi chuyển địa điểm thôi.”

“Ôi, Fräulein!” một vài tiếng phản đối vọng xuống.

“Tôi sẽ quay lại mà,” cô hứa, nhưng chỉ vài phút sau Herr Kleinschmidt trong bộ đồ ngủ đã chen vào giữa nhóm chúng tôi, tay lăm lăm đèn pin.

“Có chắc là cô không sao không?” ông sốt sắng hỏi, và khi chúng tôi đã ào hết lên chiếc Volkswagen, ông vẫn còn nán lại ngoài bãi biển, đèn pin sáng rực.

Khi chúng tôi tới gần căn hộ của Jean-Victor, tôi mới phát hiện ra một điều mà lần đến thăm trước tôi chưa để ý: ngay cạnh căn hộ có một bãi trống nhỏ vừa vặn cho chiếc pop-top lùi vào, và khi việc này được thực hiện xong Gretchen đã có một chỗ cắm trại tốt hơn ngoài bãi biển vì cô sẽ được che chắn kín đáo ở mọi hướng và được sử dụng phòng tắm cách đó có vài bước chân.

Chiếc pop-top được cất cẩn thận xong xuôi, Cato nghiên cứu vấn đề thu xếp chỗ ngủ và hỏi, “Ai trong số con trai bọn anh được chung giường với em?” Gretchen đáp lại, không hề có vẻ đùa cợt, “Đó là đặc quyền của em,” và Cato nói, “Nếu hiểu được ý nghĩa từ đó thì anh sẽ biết liệu vừa rồi có xúc phạm em không,” và cô nói, “Có đấy.”

Khi chúng tôi vào trong nhà và Gretchen nhìn thấy ảnh Giáo hoàng và W.C. Fields, cô cười phá lên, tôi tự nhủ đây chính là lần đầu tiên cô cảm thấy mình sẽ được vui vẻ thoải mái cùng nhóm bạn mới này. Cô cầm tay Britta nói, “Cậu đã có sáng kiến hay tuyệt.” Rồi, với tính thẳng thắn của người Boston, cô chỉ vào chiếc giường được Giáo hoàng canh gác rồi hỏi, “Con gái các cậu ngủ ở đây à?” và Monica nói xen vào, “Cậu tưởng lầm rồi,” và bằng cử chỉ nào đó mà tôi không kịp nhận ra, cô ra hiệu cho Gretchen hiểu cô và Cato ngủ chung trên chiếc giường có ảnh Giáo hoàng, còn Joe và Britta thì sử dụng chiếc được Fields canh gác.

Lúc đó Gretchen mới nhìn thấy cái túi ngủ đặt cạnh cửa ra vào. “Có phải anh ngủ ở đây không?” cô hỏi Yigal, và anh gật đầu, vậy là Monica lên tiếng, “Cậu thấy đấy, Gretchen, nếu Yigal ngủ cùng cậu thì sẽ tiện hơn nhiều,” và Gretchen đáp, “Tiện cho Yigal nhưng không cần thiết đối với tớ.” Monica lại hiểu câu nói đó là một lời thách thức, và khi nhớ lại thời học sinh, cô bèn đề xuất một cuộc đánh cá tương tự, “Tớ sẽ cá với cậu năm bảng Anh là trong vòng ba mươi ngày một trong ba người đàn ông ở đây sẽ ngủ chung với cậu trên chiếc pop-top đó.”

“Tớ mà có năm bảng,” Gretchen đáp, “thì chắc chắn cậu sẽ thua.”

—★—

Những ngày tiếp theo, cuộc sống ở Torremolinos dần đi vào ổn định. Trong căn hộ, Joe và Britta, Cato và Monica vẫn ngủ chung trên hai cái giường. Yigal thì không quan tâm lắm đến việc phải ngủ ở dưới đất, và mặc dù vẫn yêu Britta say đắm, anh biết không thể làm gì được. Một hai lần gì đó, tại vũ trường Arc de Triomphe, anh cũng tìm được một cô gái, thường là từ Pháp đến, háo hức chia sẻ chiếc túi ngủ cùng anh, vậy là sáng hôm sau cô bạn mới sẽ gặp Britta, Monica và Gretchen, cùng trao đổi về mọi vấn đề, sử dụng nhiều thứ ngôn ngữ lẫn lộn, nhưng chẳng cô nào gắn bó lâu dài với anh cả, chuyện này khiến anh hay bị Monica trêu chọc, “Có gì không ổn ư? Anh là người kỳ quặc chỉ đấu có một lần thôi sao? Con gái không bao giờ quay về chơi lại nữa sao?”

“Anh đang tìm kiếm,” Yigal đáp.

Monica biết rõ anh đang tìm kiếm điều gì nhưng cô không bao giờ đùa cợt về đề tài tế nhị đó. Cũng như tất cả chúng tôi, cô kính trọng Yigal và tán thành cách theo đuổi đúng mực của anh; mặc dù yêu Britta say đắm, anh vẫn làm chủ được tình cảm của mình.

Vấn đề của Gretchen lại khác hẳn. Thái độ của cô là một cách cảnh cáo đám đàn ông con trai rằng cô không quan tâm tới những lời gạ gẫm của họ, và nếu có người tìm cách làm quen với cô trong hiệu ăn hay quán bar, cô cũng không cho phép anh ta đưa về nhà, vì vậy sẽ không có chuyện phải đuổi các chàng trai si tình thấp thỏm hy vọng ra khỏi chiếc pop-top. Đối với ba người đàn ông trong căn hộ, cô cư xử rất đúng mức, thường thích nghe hơn là nói. Cô ngồi hàng giờ trên một chiếc giường, khuyến khích Cato hoặc Yigal kể cho cô nghe về những gì họ đã trải qua. Còn Joe vốn ít nói, và cô cũng không tìm mọi cách làm cho anh bớt dè dặt kín đáo hơn.

Hồi đó tôi đã tự hỏi, cũng như tôi vẫn thường tự hỏi từ đó đến nay, vì sao đã từng này tuổi tôi cứ bận tâm lo lắng cho nhóm bạn trẻ khác thường ấy. Khi đó tôi viện lý rằng ấy là bởi đám người Hy Lạp dở dở ương ương đã giữ chân tôi ở Torremolinos: nếu không vì đám người Hy Lạp ấy, tôi đã rời khỏi đây ngay tức khắc. Nhưng khi xem xét lại vấn đề, tôi không tin mình sẽ làm vậy. Việc sau này, cũng trong mùa hè ấy, tôi tìm mọi lý do để đến thăm họ ở nhiều nơi đã để lộ mong muốn của tôi là được gần gũi họ - được chứng kiến chuyện gì sẽ xảy đến với họ.

Nhưng sâu xa hơn chính là cảm giác thầm lặng rằng ở độ tuổi sáu mươi mốt, có lẽ đây là nhóm thanh niên cuối cùng tôi còn dịp kết giao; con trai tôi đã bỏ tôi mà đi do những hiểu lầm đau xót và tôi cảm thấy cần phải hiểu lớp trẻ thế hệ này đang làm gì. Tôi thấy họ là niềm hy vọng duy nhất của tương lai, là sức sống của xã hội chúng ta, và tôi tán thành việc họ đang mạnh dạn thử sức mình. Khi nghĩ về nỗi cô đơn ghê gớm mình từng trải qua khi còn là một thanh niên lang thang khắp châu Âu - một nơi như Antwerp có thể đáng sợ như thế nào đối với một sinh viên Đại học Virginia tự nhận là nhút nhát và thiếu kinh nghiệm - tôi thích cách sống thời nay hơn nhiều vì một thanh niên như Yigal có thể đến vũ trường Arc de Triomphe và tìm cho mình bao nhiêu phụ nữ căng tràn sức sống sẵn sàng làm tình bằng tiếng Bỉ, Hà Lan, Ý hay Đan Mạch, và đôi khi còn chẳng cần nói lời nào bằng bất cứ thứ tiếng gì. Như thế thì hay hơn nhiều.

Về phần các bạn trẻ, một buổi chiều tại quán bar tôi tình cờ khám phá ra họ nghĩ thế nào về sự có mặt của tôi. Tôi đang ở phòng phía sau giúp kiểm tra việc nhập một lô hàng soda cam thì chợt nghe thấy một anh lính hỏi Monica, “Sao các bạn cứ phải bận tâm về ông già lẩm cẩm ấy làm gì?” và cô đáp, “Fairbanks ư? Đấy là một ông già vô hại mà.” Từ sau quầy rượu, Britta cũng góp chuyện, “Ông ấy cổ hủ kinh khủng nhưng không làm hại ai cả.” Cato chủ động đưa ra ý kiến, “Về ông ấy thì các bạn phải nói thế này. Ông ấy chưa một lần nhắc đến tuổi già sức yếu,” và Monica liền nói tiếp, “Chúng tôi kiên nhẫn chịu đựng ông ấy bởi vì... ờ, anh có cảm tưởng là nếu có người tác động tới ông ấy sớm hơn một chút, ông ấy có thể được cứu vớt.”

Thì ra là như vậy. Thế hệ mới quá tự tin vào giá trị của mình đến mức nhận xét người có tuổi chúng tôi không theo tiêu chuẩn của chúng tôi mà lại theo chuẩn của họ. Tôi là kẻ thất bại, nhưng nếu họ đến với tôi từ bốn mươi năm trước, có lẽ tôi đã được cứu chuộc. Quan điểm này khiến tôi rất giận, vì mặc dù biết những điểm yếu rõ rành rành của họ, tôi vẫn không bao giờ cảm thấy là nếu được giáo dục như tôi thì có lẽ họ sẽ được cứu vớt. Họ rất cần một phần những gì tôi đã đạt được; chắc chắn mọi vấn đề của Joe sẽ đơn giản hơn nhiều nếu anh nhìn nhận lịch sử như tôi, còn Cato sẽ không bao giờ xâm phạm nhà thờ nếu anh tiếp thu quan điểm của tôi về những thay đổi xã hội, nhưng dù tự phụ đến đâu tôi cũng không bao giờ tin rằng mình có thể cứu giúp được các bạn trẻ ấy - kể cả Monica hay Gretchen - bằng cách uốn nắn họ theo cách của tôi. Chính tính kiêu căng này của tuổi trẻ, tính ngạo mạn đáng quý này đã làm họ trở nên đáng chú ý. Đến giờ thì tôi nghĩ rằng cho dù các chủ tàu Hy Lạp có giải quyết nhanh chóng vấn đề tài chính của họ, tôi sẽ vẫn ở lại Torremolinos mùa xuân năm ấy, vì trên đời chẳng có gì hứa hẹn hơn sự bộc lộ của thế hệ trẻ, và tôi đã nhận được đặc ân chứng kiến việc đó, mặc dù thế hệ trẻ mà tôi đang quan sát coi tôi là một lão già vô hại.

Họ có một vài lý do để coi tôi là người cổ hủ. Tôi hay hỏi về thể loại nhạc họ ưa thích và làm họ phát bực khi chỉ ra rằng các nhạc sĩ của họ dường như thiếu kỹ năng. “Họ hoàn toàn không biết cách kết thúc tác phẩm của mình. Cứ nghe mà xem, không biết bao nhiêu đĩa hát của các bạn kết thúc theo cách thô thiển là cứ nhắc đi nhắc lại mãi nhóm từ cuối trong khi các kỹ sư vặn nhỏ âm lượng đi. Cứ nghe cách dịch giọng vụng về từ âm điệu này sang âm điệu tiếp mà xem. Sự chuyển giọng làm cho ca khúc dễ nghe đâu mất rồi?”

“Chúng cháu muốn nó phải thô sơ,” Monica đáp trong khi Yigal vỗ tay tán thành. “Cái trò cũ rích cứ là lá la, là lá la rồi chuyển sang một âm điệu khác thì chỉ dành cho chim chóc thôi. Chú muốn chuyển giọng? Thì cứ việc chuyển.”

Theo tôi thấy, họ còn bực mình vì tôi không chấp nhận cách ăn nói của họ và không chịu gọi họ là lũ trẻ. Ngay cả Gretchen cũng dùng cách gọi hồn nhiên này: “Chào chú George. Chú có biết lũ trẻ đi đâu ăn tối không?” Hay là, “Lũ trẻ sắp đi picnic trên đồi. Chú có muốn đi cùng không?”

Tôi lưu ý họ là thanh niên ở tuổi họ không còn là lũ trẻ nữa, nhưng tôi nhận thấy cả nhóm còn dùng từ này ngay cả với những người trên ba mươi nữa, miễn là đàn ông để tóc dài còn đàn bà đi dép. Họ nhất định muốn là lũ trẻ - đám trẻ, tụi nhóc, bọn con trai, bọn con gái - như thể lớn lên là một việc đáng sợ và trách nhiệm là cái gì đó trì hoãn được càng lâu càng tốt.

Nhưng họ nghĩ tôi cổ hủ chủ yếu là vì tôi không tham gia hút cần sa với họ. Sáng đó Cato cùng hai người bạn da đen ở Philadelphia đã ép tôi hút, và tôi cũng thường ngồi cùng cả nhóm khi họ chuyền tay nhau hút một chầu, nhưng nếu được mời, tôi không bao giờ cố kiềm chế mà luôn nói thẳng cho họ biết là tôi không tán thành. “Ông cũng nằm trong số những người cho rằng cần sa thì sẽ dẫn đến heroin phải không?” một đêm, Cato hỏi tôi. “Phải.”

Câu trả lời của tôi gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi, trong đó Monica và Britta ra sức dẫn ra những công trình nghiên cứu đã chứng minh là cần sa không tạo thành thói quen và không leo thang.

“Chú không công nhận những công trình nghiên cứu đó sao?” Monica hỏi.

“Phải, vì chúng chỉ đề cập đến những cơ sở lý luận về mặt hóa học và sinh lý. Chú nghĩ đến mặt tâm lý cơ.”

“Nghĩa là thế nào?” Cato hỏi với vẻ khinh thường.

Sự khinh thường này không dành cho tôi vì trong những khu ổ chuột ở Philadelphia anh đã tiếp xúc với tôi đủ lâu để hiểu tôi không phải một nhà cải cách máy móc. “Nghĩa là tự bản thân cần sa có thể không leo thang, nhưng môi trường nơi người ta hút thì có đấy. Không khí tập thể của phòng này chẳng hạn.”

“Dẫn đến việc sử dụng heroin sao?” Gretchen hỏi.

“Chắc chắn vậy.”

“Ý ông muốn nói,” Joe từ tốn hỏi, “là ông tin chắc một trong số chúng tôi sẽ chuyển sang dùng LSD?”

“Phải.”

“Nhưng tại sao lại thế?” Joe hỏi tiếp. “Chúng tôi đã chứng minh nó không tạo thành thói quen cơ mà.”

“Nhưng Torremolinos thì có. Các bạn ở trong phòng này, hay ở trong thành phố này lâu thì sẽ...”

Monica đứng lên tiến lại gần chỗ tôi ngồi. Cô đem một điếu khá bự đã châm lửa đưa cho Britta rồi hỏi tôi, “Chú cho rằng một người trong phòng này sẽ dùng thử heroin phải không?”

“Không còn nghi ngờ gì nữa.”

“Chú nói sai rồi,” cô nói vẻ khinh thường. “Vì tất cả chúng ta sẽ dùng thử.”

Không ai lên tiếng trong một lúc khá lâu, rồi Gretchen phát biểu, “Tất cả, trừ một người,” và Britta nói thêm, “Thế là thành hai người.”

Monica quay nhìn khắp phòng và vui vẻ nói, “Chú George, có vẻ như cháu sẽ phải đánh cuộc một lần nữa thôi. Chưa đến cuối năm là tất cả mọi người trong phòng này đều sẽ sử dụng thử heroin. Và cháu tính cả chú nữa đấy, lão già xấu xa ạ.”

—★—

Paxton Fell cho chiếc Mercedes-Benz và một chiếc limousine Anh xuống đón khách. Tất nhiên, hai chiếc xe không thể vào con hẻm dẫn đến quán Alamo, nhưng một tài xế mặc chế phục đi bộ vào tận nơi báo là xe đang chờ ngoài quảng trường. Joe quăng bộ chìa khóa cho một anh lính rồi chúng tôi lên đường.

Cuộc vui được tổ chức vào buổi tối. Chỉ mình Cato biết dinh cơ của Fell, vì vậy khi nhìn thấy những vòm bát úp đẹp đẽ khiến người ta liên tưởng tới cõi thiên đường vô tận, chúng tôi đều trầm trồ khen ngợi. Monica thốt lên, “Thế mới gọi là biết cách tiêu xài chứ... với điều kiện là phải có tiền,” và các vị khách khác của Fell đều vỗ tay tán thưởng.

Laura, bà chủ tòa lâu đài sát mép nước, cũng ở trong số khách đó nhưng không vận bộ đồ bằng vải tuýt nữa. Bà ta mặc chiếc váy dạ hội may rất công phu, như nàng công chúa đến từ một hoàng tộc không còn tồn tại nữa. Một vị tướng cũ của Đức Quốc xã cũng đến dự; mọi người đều gọi ông ta là “Tướng quân” và cúi chào. Ngoài ra còn có hai Nam tước tự cúi chào nhau, và một ngài Nam tước chưa bao giờ nghe nói tới cả Sir Charles Braham lẫn Vwarda.

Năm bạn trẻ lần đầu tiên được nhìn thấy tòa lâu đài ăn chơi nghiêm cẩn này đã có những phản ứng rất khác nhau. Monica liếc mắt quan sát một lượt các pho tượng và xác định ngay nơi này rất hợp với cô. Ngồi phịch xuống một cái ghế sâu, cô nhận một ly Scotch pha soda và nói với một trong hai ngài Nam tước, “Nơi này thoải mái như ở nhà ấy... chỉ với một chút...” Cô nhún vai và mỉm cười.

Britta bị ấn tượng mạnh bởi sự xa xỉ của mọi thứ ở đây, nhưng cô nhất quyết không để lộ ra. Cô đưa mắt đánh giá toàn bộ đồ đạc và khách khứa; cô chùn lại trước vị tướng Đức Quốc xã nhưng chấp nhận những người khác với thái độ gần như cao ngạo của người Viking. Cô không ngồi mà tha thẩn từ chỗ này sang chỗ khác, hiển nhiên không hề hay biết cô đang tạo nên một bức tranh tuyệt mỹ với sắc đẹp phương Bắc nổi bật trên nền đá phương Nam.

Joe sửng sốt đến lặng người. Từ lần gặp gỡ đầu tiên với Fell chiều hôm mới tới Torremolinos, anh vẫn thường suy đoán xem cuộc sống của người đàn ông đang về già ham hưởng lạc ấy như thế nào, nhưng trí tưởng tượng của anh không tạo ra được bất cứ cảnh tượng nào như ở đây. Tính chất sang trọng, vẻ hoàn hảo đầy cảm hứng của nơi này làm anh khó chịu nhưng vẫn quyến rũ được anh. “Sống ở đây chắc dễ chịu lắm,” anh thì thầm với tôi trong lúc chúng tôi nhìn sang phía bên kia khu vườn nơi những con tàu chở hàng đang giong buồm tiến về phía bờ biển châu Phi.

Yigal không hề xúc động. Anh đã thấy những ngôi nhà sang trọng hơn ở Grosse Pointe, những quang cảnh lộng lẫy hơn khi nhìn từ những ngọn đồi ở Haifa. Đối với anh, vị tướng Đức Quốc xã chỉ là một quân nhân thất trận, còn mấy Nam tước thì có vẻ không oai vệ bằng các chủ tịch tập đoàn xe hơi ở Detroit. Thậm chí anh cũng chẳng thấy vinh hạnh gì khi vị tướng chủ động tìm anh và nói bằng tiếng Anh rất chuẩn, “Thế ra cậu là anh thanh niên Do Thái dũng cảm đã chiến đấu với xe tăng ở Qarash!” Hai người chuyện trò xã giao một vài phút, và khi Yigal nói rằng người Ai Cập mà tìm được lãnh đạo giỏi thì họ sẽ rất đáng gờm, ông tướng liền đáp, “Trong quá khứ, chỉ người Anh và người Đức mới có những nhà lãnh đạo đáng tin cậy. Quý tộc địa chủ mà, cậu biết đấy. Nhưng trong cuộc chiến tranh gần đây nhất, người Nga đã cho ta thấy rằng một nhúm nông dân - những kẻ tầng lớp dưới - cũng có thể là bậc thầy mưu mẹo... chỉ bằng sức mạnh của lòng dũng cảm. Người Do Thái các cậu cũng làm được như vậy ở Sinai. Nhưng Ai Cập thì làm được cái quái gì, tôi hỏi cậu đây? Dựa vào truyền thống nào cơ chứ? Tôi đã ở đó, ông Nasser mời tôi xuống đó. Và tôi đã tìm được ván như thế nào để đóng thuyền? Chẳng có ván nào hết. Đất nước gì mà chẳng có cả tầng lớp quý tộc lẫn tầng lớp dưới có giáo dục. Người Do Thái các cậu sẽ được an toàn trong bốn chục năm nữa.” Ông ta nghiêng người chào và bỏ đi chỗ khác.

Chỉ có Gretchen cảm nhận được chính xác nhất tính chất của gian phòng khác thường này. “Bao giờ thì cuộc truy hoan mới bắt đầu đây?” cô thì thầm ngay từ lúc mới đến. Với vẻ khó chịu càng lúc càng tăng, cô quan sát kỹ đồ đạc và điệu bộ của khách khứa. Một trong những mặt có lợi của việc trưởng thành ở Boston là người ta thu được một cách vô thức khả năng nhận biết đâu là riêng biệt và đặc biệt, và khi so với chuẩn mực khắt khe này, rất nhiều chuyện vô nghĩa mà người ta tình cờ gặp ở nơi khác bắt đầu trở nên có nghĩa. Bằng trực giác, cô biết một vài người đàn bà vây quanh Laura vì họ phụ thuộc vào tài sản của bà ta. Cô còn đoán là hai thanh niên Đức đẹp trai, vai rộng sẽ không quan tâm đến cả cô lẫn Britta... không phải trong lúc Fell đang theo dõi họ. Và không ai nói mà Gretchen cũng biết Cato đã từng sống ở ngôi nhà này như hai thanh niên Đức bây giờ, và anh được đưa về như một món đồ triển lãm, không khác gì cách trường Radcliffe mời các sinh viên tốt nghiệp đã từng viết sách hoặc thành công ở New York. “Chẳng lẽ các bạn trẻ quanh đây chỉ khát khao có thế?” cô hỏi nhỏ tôi.

“Cô thì không. Britta cũng không. Và chắc chắn cả Joe nữa. Còn Yigal? Cô nhìn anh ấy né tránh mấy Nam tước kìa.”

“Chú có bao giờ coi như thế này là lý tưởng không, chú George?”

“Về sự sang trọng thì có. Về khả năng hưởng thụ thì có. Tôi cũng từng ước muốn nhưng chưa bao giờ thiết tha đến mức muốn hành động.”

“Chú nói dối! Chú cũng cảm thấy y như cháu rằng nơi này đúng là lố bịch.”

Paxton Fell đã đưa một nhóm ca sĩ từ một trong những ngôi làng trên núi xuống, lúc này họ xuất hiện trong những bộ quần áo nông thôn bằng vải thô, ngoài ra còn có một người chơi guitar, rồi ánh đèn trên mái vòm tắt hết và khách khứa hạ giọng khi các ca sĩ bắt đầu biểu diễn. Họ rất hoạt bát sôi nổi và biểu diễn khá tốt, nhưng trong lúc họ tạm nghỉ, tôi nảy ra một sáng kiến hóa ra lại hay. Tôi nói, “Ông có biết không, ông Fell, một trong số mấy cô bạn trẻ của tôi đây chơi guitar rất tuyệt.”

Ý kiến của tôi làm dấy lên những lời bàn tán xôn xao, tôi bèn đẩy Gretchen lên chỗ các ca sĩ tụ tập, và đám khách khuyến khích mãi cô mới cầm đàn lên, hỏi xin một cái ghế cao và thành thạo gảy vài nốt nhạc. Anh nhạc công guitar vỗ tay khiến cô cao hứng chơi tặng anh một đoạn nhạc phức tạp; có vẻ như anh thật tình bị ấn tượng trước tài nghệ của cô. Sau đó anh lấy lại đàn để chứng tỏ khả năng cho cô thấy. Trình diễn xong vài đoạn trổ tài, anh trao lại đàn và cô bập bùng gảy nhẹ, “Child 209”.

Hiển nhiên tôi là người duy nhất trong đám khán giả biết Child 209 là gì vì phần lớn khách của Fell nếu không phải người châu Âu thì cũng đã quá già để hiểu được những gì đang diễn ra với nền âm nhạc Mỹ. Cato thì không hiểu gì về ballad, còn Joe đã được nghe Gretchen hát một lần ở Boston, song anh biết rất ít về dòng nhạc cô thích. Ngay cả tôi cũng không rõ cô sắp hát gì vì tôi chỉ biết hai ca khúc của Child, số 173 và 113.

Gretchen đã chọn bài rất sáng suốt, vì “Geordie” đề cập đến một người vợ trẻ có chồng bị bắt quả tang săn trộm mười sáu con hươu quý của nhà vua, và anh ta sẽ bị treo cổ vì tội đó. Thiếu phụ đến gặp quan tòa để xin tha chết cho chồng, và lời kể lể của nàng có sức truyền cảm mạnh mẽ:

Phương Bắc, ra đời bảy đứa con chàng,

Đẹp như thiên thần, sáng như gương,

Nguyện mang nặng đẻ đau thêm bảy đứa,

Geordie cha chúng, xin ngài rủ lòng thương.

Ông quan tòa quay mặt đi, không tìm được lý do gì để khoan dung, thế là Geordie bị treo cổ.

Gretchen hát với xúc cảm mãnh liệt và thái độ uy nghiêm tới mức tiếng chuyện trò râm ran dần lắng xuống; mọi khách khứa đều phải lắng nghe bởi vì tiếng guitar chơi hào hùng khiến họ chú ý và giọng hát lôi cuốn của Gretchen khiến họ rất thích thú, nhưng không ai để hết tâm trí vào lời ca với tán thưởng rõ rệt hơn các ca sĩ Tây Ban Nha, tuy không thể hiểu được từ nào nhưng, bằng một cách lạ lùng của người nông thôn, họ vẫn hiểu được tất cả. Khi cô hát xong, các nhạc sĩ xúm lại hỏi han và Britta phải đứng ra làm nhiệm vụ phiên dịch.

Khách khứa vỗ tay khen ngợi và yêu cầu thêm một vài ca khúc nữa, vậy là trong lúc mọi người đang ồn ào bàn tán, tôi đến gần gợi ý cho cô hát hoặc “Mary Hamilton” hoặc khúc ballad thanh cao về chàng hải cẩu, nhưng cô đặt tay lên cánh tay tôi, nói, “Người ta sẽ không lãng phí những bài hay nhất cho một cử tọa như vậy,” và thay vào đó cô cất tiếng hát một khúc ballad xứ Scotland rộn ràng vui tươi mà tôi chưa bao giờ được nghe. Cô giới thiệu với chúng tôi đó là một bài của Child, nhưng tôi quên mất ấy là bài gì.

Bài này được chọn rất đúng. Nó có một đoạn điệp khúc đồng ca vui nhộn mà Gretchen cố gắng dạy đám khách hát theo, nhưng họ không nắm bắt được tính phức tạp của nó, cứ đến cuối đoạn lại hát sai. Mặt khác, dân làng lại có vẻ như ngay tức khắc nắm được nhịp điệu đứt quãng của bài hát và những ca từ vô nghĩa, vì vậy liền hưởng ứng với lòng nhiệt tình đáng ngưỡng mộ mỗi khi Gretchen xoay bàn phím cây guitar về phía họ và hát vang những lời đầu tiên:

With his tooran mooran non ton nee,

Right ton mooran fol the doo-a-dee,

Right ton nooran nooran nee,

With his tooran nooran-eye-do.

Chúng tôi hình dung khá rõ tooran nooran là gì qua một vài đoạn đầy sức sống mà Gretchen hát với vẻ hồn nhiên của học sinh trung học; chúng đề cập đến một người bị coi là kẻ ăn xin ghé vào một nông trại gần Aberdeen, quyến rũ cô con gái cả giữa đêm khuya và cùng cô biến mất vào lúc rạng đông. Bảy năm sau chàng trở lại dưới hình dạng người ăn xin một lần nữa, bà mẹ trách mắng chàng về tội bắt cóc con gái bà, vậy là chàng bèn trút bỏ bộ quần áo rách rưới tả tơi trên người và để lộ mình là một hoàng tử. Mấy đoạn vui nhộn nói về những gì xảy ra trước cuộc bỏ trốn:

Rồi cô gái đứng lên ra cài then cửa bếp,

Chợt, trần như nhộng, tươi như hoa, một kẻ ăn xin đứng ngay trước mắt.

Ôm siết eo thon, chàng dồn nàng vào tường bếp,

“Ôi, thưa ông,” nàng thỏ thẻ, “xin hãy lịch sự, kẻo cha em thức giấc thì gay.”

Không nghe lời nàng, chàng mải miết, mải miết,

Cho đến khi xong việc, chàng mới buông lời tán tỉnh ráo riết, ráo riết.

Khúc ballad này là một thành công đáng kể, và đám khách khứa lại yêu cầu thêm nữa, nhưng Gretchen hát thế đã đủ. Trả lại cây guitar cho chủ của nó xong, cô cảm ơn các nhạc công đã ủng hộ rồi đi thơ thẩn sang phía bên kia căn phòng lát đá cẩm thạch. Vài quý ông đứng tuổi tìm cách bắt chuyện nhưng cô đều lảng tránh.

Paxton Fell cho dọn bữa tối lúc một giờ hai mươi ba phút sáng, không muộn bất thường đối với một bữa ăn Tây Ban Nha, và khi đêm về khuya, đám khách quen của ông ta, lần lượt từng người, để lộ dấu hiệu say rượu. Vì không ai đi làm và có thể ngủ muộn tùy ý, đến ba bốn giờ chiều chưa dậy cũng được, họ sẵn sàng uống thỏa thích; lượng rượu đủ dúi người bình thường xuống gầm bàn dường như chỉ tác động một chút đến họ, nhưng khoảng ba giờ sáng thì họ uống đã quá nhiều và liên tục đến mức bắt đầu cho thấy cũng sắp gục đến nơi. Khi không còn đủ khả năng uống được nữa, họ lặng lẽ rời khỏi bàn và thiếp đi trên ghế hoặc nằm dài trên mép thảm. Không ồn ào, chỉ có tiếng các nhạc công đang chơi nhạc đệm và giọng chuyện trò uể oải quanh cái bàn lớn.

Suốt quãng thời gian này, tôi không nhìn thấy sáu bạn trẻ đâu cả; họ đang ở đâu đó trong khu nhà rộng rãi này cùng hai thanh niên Đức, vì vậy tôi bị bỏ lại với đám người lớn tuổi, và trong lúc quan sát họ trượt vào quên lãng một cách phong nhã, vẫn tiếp tục uống mặc dù họ không còn cần hay thích rượu nữa, tôi hiểu ra rằng mỗi thời đại đều sinh ra những kẻ bỏ cuộc, dân tộc nào cũng vậy. Tỷ lệ phần trăm luôn bất biến; chỉ có biểu hiện là thay đổi.

Những người xung quanh Paxton Fell đã rút lui khỏi cuộc cạnh tranh thông thường chắc chắn không kém gì anh thanh niên râu rậm nhất người Oklahoma coi thường thành phố Tulsa và tin rằng mình đã tìm ra một lựa chọn tốt hơn ở Piaight-Ashbury. Những người đứng tuổi kia không thích Berlin và Brussels; họ đã bỏ London hoặc Paris mà đi tha hương; họ tiêu thụ cocktail theo đúng cách những người trẻ hơn sử dụng cần sa, và với ảnh hưởng tương tự. Vị tướng Đức Quốc xã bị buộc phải lưu vong; ông ta mà ở lại Đức thì sẽ bị tòa án binh của Nga hành hình. Những người khác đã tự nguyện tách khỏi xã hội của mình, rủ bỏ những trách nhiệm thông thường. Chỉ nhờ may mắn có chú bác lắm tiền nhiều của và cha mẹ dễ dãi, họ mới được phép sống như vậy. Lúc này, ngay cả Laura, bằng giọng nói chói tai, cũng đang kể lại một chuyện vui nào đó xảy ra ở vùng đồng bằng Tây Texas... sao mọi chuyện có vẻ xa xôi đến thế, sao những mùa đông rét buốt ở Dalhart lại khó chịu đựng đến thế.

Nhưng tôi không chỉ so sánh những thanh niên bỏ cuộc thuộc thế hệ trẻ hơn với nhóm tha hương nổi đình đám ấy; còn có cả những mẫu người mạnh mẽ, thận trọng mà tôi từng quen hồi bé ở Indiana. Trung bình cứ một trăm thanh niên trưởng thành cùng tôi lại có hơn bốn mươi người bỏ cuộc không chịu phấn đấu gì nữa khi mới hai mươi lăm tuổi. Tất nhiên, một số trở thành lang thang nát rượu hoặc đồ vô tích sự rõ rành rành; một vài người còn ăn trộm tiền và phải đi tù; một vài thiếu nữ trở thành gái bán dâm ít nhiều cũng thuộc loại cao cấp, thường lẻn vào phòng khách sạn hay sống cùng các thương gia trong khi vợ họ đi nghỉ hè. Trong bốn mươi phần trăm ước lượng đó, tôi không tính đến những kẻ bỏ cuộc không thể tránh được này; đúng hơn là tôi muốn nói đến số lượng bất biến những người Mỹ lẩn tránh nhiệm vụ khó khăn và chớp lấy việc làm đầu tiên được người ta đề nghị, bám víu vào đó suốt phần đời vô ích còn lại như những con đỉa hoảng sợ. Tôi muốn nói đến những cô gái lấy người đàn ông đầu tiên hỏi cưới họ, xây dựng nên những gia đình không ý nghĩa không cảm hứng, sinh ra một chu trình tiếp theo toàn đồ bỏ cuộc; những kẻ đầu hàng từ khi còn trẻ và coi sự vô dụng của mình như một điều hay, những thầy giáo tội nghiệp cả đời chỉ biết đến mỗi một quyển sách và nhai đi nhai lại suốt bốn mươi năm trời, những mục sư đáng khinh dựng nên một cuộc đời vô nghĩa dựa trên phút cảm hứng nhất thời ở tuổi mười chín. Chính họ mới là những kẻ bỏ cuộc làm tôi băn khoăn nhất.

Đám bạn của Paxton Fell, giờ yếu xìu, hòa nhã và đang chờ bình minh lên, không gây tổn hại lớn lao gì cho bản thân hay xã hội, cũng như bao thanh niên phóng túng hơn mà chúng tôi thấy qua lại khắp Torremolinos chẳng gây nên mấy việc đáng trách; chính thiểu số hết sức âm thầm không khao khát điều gì và không làm được việc gì ra hồn này mới khiến tôi lo ngại. Đêm nay, khi khách của Paxton Fell đang thiếp đi bên bàn, chắc chắn phải có ít nhất một trăm nghìn sinh viên trên khắp nước Mỹ đang từng bước chối bỏ bất cứ vai trò hữu ích nào trong xã hội - họ không giống Cato Jackson, đứng lên đấu tranh tại nhà thờ ở Llanfair, bất kể có lầm đường lạc lối; họ không phải những thiếu nữ tài giỏi như Gretchen Cole, từng được nếm hạt nhân của một hệ thống và nhận thấy mùi vị của nó thật khó chịu; họ không giống những thanh niên như Joe, nhận thấy đất nước mình cư xử một cách vô đạo đức và không thể tiếp tục ủng hộ được nữa; họ cũng không phải kiểu đàn ông như Yigal Zmora, nhìn ra những điều trái ngược giữa hai xã hội một cách rõ ràng đến mức anh không thể đưa chúng về trạng thái cân bằng - chưa được, ở tuổi mười tám thì chưa được, nhưng có thể là sau này, nếu anh vẫn duy trì việc nghiên cứu của mình.

Tôi yêu mến mấy thanh niên trẻ bỏ cuộc mà tôi tiếp xúc ở Torremolinos, và khi người cuối cùng trong nhóm khách lớn tuổi của Fell đã lặng lẽ ngủ thiếp đi hoặc lui về nghỉ ngơi cùng những người bạn không thân thiết trên những chiếc giường không thân thiết, tôi bèn đi kiếm các bạn của mình. Tôi thấy họ túm tụm ở một góc xa trong nhà để xe. Họ quây quần bên các nhạc sĩ nông thôn, và Gretchen đang hát khúc ballad về chàng hải cẩu, bài hát ngập tràn cảm xúc về một người đàn ông bị kẹt trong những mâu thuẫn không thể tránh được. Britta đứng giữa dân làng để phỏng dịch lời Gretchen hát, và tôi thầm nghĩ thật là thích hợp vì chắc hẳn bài này có nguồn gốc từ quân xâm lăng Na Uy cổ đã từng đột chiếm vùng bờ biển Scotland.

Tôi lấy làm lạ không hiểu sao họ dễ dàng hiểu được ca khúc khá khó nay đến thế, bởi vì khi Britta giải thích cho họ rằng chàng hải cẩu đã giành lại đứa con trai của mình và tiên đoán mẹ cậu bé sẽ lấy một gã thợ săn, người này sẽ bắn chết cả chàng hải cẩu lẫn đứa con trai nàng, đám dân làng liền gật gù. Đối với họ, kết cục như vậy dường như là hợp lý.

Chính Britta là người gợi ý Gretchen mang đàn đến quán Alamo và đóng góp tiết mục đều đặn để máy quay đĩa đỡ phải làm việc liên miên. “Tớ biết khách khứa sẽ thích nhạc của cậu. Cậu thấy những người Tây Ban Nha đêm hôm nọ rồi đấy. Ngay cả lời ca họ cũng không hiểu được mà còn thế cơ mà.” Jean-Victor vẫn ở Marốc mua bán cần sa, người duy nhất cần phải hỏi ý kiến là Joe, và khi nghe đề xuất, anh nói, “Sao lại không chứ?”

Tôi có mặt ở quán khi Gretchen biểu diễn lần đầu. Một vài anh lính càu nhàu về kiểu cắt ngang những bản thu âm quen thuộc này, nhưng sau vài hợp âm mạnh mẽ đầu tiên phát ra từ cây đàn guitar Tây Ban Nha của cô, họ chăm chú lắng nghe, và chẳng bao ngày sau họ đã yêu cầu cô hát bằng cách la rầm lên số thứ tự ca khúc Child.

Việc này trở nên đơn giản hơn khi một anh lính lấy trộm được các bản tái bản bìa mềm các tác phẩm của Giáo sư Child và đem đến tặng cho quán. Phía sau mỗi bìa sách đều được đóng dấu: Quyển sách này là tài sản của Căn cứ Không quân Morón, nhưng theo tôi ở Torremolinos chúng sẽ có ích hơn là ở căn cứ; dù sao đi nữa cho dù tôi biết gì về các bản ballad của Child thì cũng đều là nhờ tôi lật từng trang sách đó trong khi Gretchen hát ở quán Alamo.

Các anh lính thích khúc ballad nào nhất? Họ không bao giờ chán “Barbara Allen” và la ầm lên “Child 84” bốn năm lần một ngày. “Cô ấy vừa hát bài này rồi mà,” một khách quen sẽ nói với người mới đến, và anh này sẽ quát, “Thôi nào, cứ để cô ấy hát lại lần nữa.” Tôi nghĩ thanh niên thích câu chuyện về một cô gái phụ tình chết vì cõi lòng tan nát, vì mỗi lần Gretchen hát ca khúc được ưa chuộng và được trình bày đi trình bày lại mãi ấy, tôi đều thấy họ gật gù vừa ý.

“Mary Hamilton” không có sức hấp dẫn đối với họ; hiển nhiên bi kịch của nàng được những người lớn tuổi hơn thông cảm. Nhưng họ lại thích “The Twa Sisters” với đoạn điệp khúc ám ảnh “Binnorie, o bin- norie!” Khúc ballad này kể về những tình tiết phát sinh khi một chàng trai tán tỉnh cô chị nhưng rồi lại bỏ trốn cùng cô em; một lần nữa các anh lính lại có thể đồng cảm với tình thế bế tắc như vậy, vì chắc hẳn tất cả bọn họ đã từng có lúc tán cô này trong khi vẫn để mắt đến cô khác.

Họ cũng rất thích “Child 12”, câu chuyện về một hiệp sĩ hào hiệp bị chính cô gái mà chàng cầu hôn đầu độc. Cứ nhìn những cái đầu gật gù tán thành khi Gretchen hát khúc ballad đó, người ta sẽ kết luận là những vụ đầu độc như vậy chẳng có gì đặc biệt và các anh lính đã may mắn tránh được. Nhưng có vẻ như bài hát dò đúng được những hợp âm cảm động nhất lại là “The Prickly Bush”, vì tình cảm sướt mướt của nó phản ánh ý thức đạo đức của chính bản thân họ.

“Ôi, bụi cây gai góc, bụi cây gai góc,

Đã đâm vào trái tim đau đớn của ta;

Nếu mai này thoát khỏi bụi cây gai góc đó,

Ta sẽ mãi mãi tránh cho thật xa.”

Việc hát những bản ballad đó có một hậu quả đáng lẽ phải đoán trước được nhưng tôi lại bỏ qua. Khi Gretchen ngồi lên chiếc ghế cao, quặp chân trái vào thanh ngang và gác chân phải lên trên, cô đã phác nên một hình ảnh quyến rũ bậc nhất, và với mái tóc đuôi sam dài đến ngang vai cùng đôi mắt sáng long lanh, không có gì là lạ khi cô chinh phục được rất nhiều vị khách tình cờ ghé vào quán. Thật vậy, hiếm có ngày nào không có người mời cô ăn tối, mời cô lên xe xuống Marbella chơi một chuyến, hoặc đi bơi; nhưng cô từ chối mọi lời mời với một thái độ lạnh lùng khiến họ sợ hãi hoặc bối rối. Những khách quen, sau nhiều lần kiên trì tìm cách dụ dỗ cô đến căn hộ của họ, lại phao tin đồn cô bị lãnh cảm, đồng tính luyến ái hoặc lập dị. Nhiều suy đoán thú vị lan truyền, thỉnh thoảng cánh đàn ông còn lôi cả Joe và Cato vào các cuộc bàn luận.

“Cô nàng Boston có vấn đề gì không?” họ thắc mắc.

“Cô ấy không sao cả,” Cato tuyên bố.

“Có chuyện gì trong chiếc pop-top màu vàng thế?”

“Cô ấy ngủ trong đó,” Joe đáp.

“Tôi biết rồi. Nhưng với ai mới được chứ?”

“Một mình thôi. Và anh làm ơn tránh xa ra. Khi nào cô ấy báo tin cần bầu bạn, cậu sẽ là người cuối cùng nhận được lời mời đấy.”

“Điều làm tớ khó chịu,” một anh lính Mỹ nói, “là ở một nơi mà bọn con gái phát cuồng lên tìm bạn trai như tại Torremolinos, cô nàng này lại là một cấm địa.”

“Có lẽ cô ấy chẳng có cảm xúc gì hết,” Cato gợi ý.

“Về điểm này thì cậu sai rồi. Vì tôi đã quan sát khi cô ấy hát, những ca khúc ấy đều xuất phát từ trái tim. Cô ấy đắm mình vào lời ca.”

“Cậu có nhìn gì ngoài chân cô ấy đâu,” Cato nói.

“Thì còn cách nào khác để biết một cô gái nghĩ gì chứ?” anh lính hỏi.

—★—

Rồi sau đó Clive bay từ London đến, vậy là âm nhạc thay đổi, và suốt hai tuần liền quán Alamo bị bỏ bùa mê vì Clive mang theo mình một nhận thức vô cùng hấp dẫn về thời đại này, thế hệ này, đến nỗi ai ai cũng phải lắng nghe.

Một buổi trưa tôi đang ngồi trong quán chờ chỉ thị từ Geneva xem tiếp theo sẽ phải làm gì với đám Hy Lạp ngoan cố thì một anh lính đang lơ đãng nhìn ra con phố nhỏ bỗng đứng phắt dậy reo, “Clive kìa!”

Tôi ngó ra ngõ thấy một thanh niên trông hết sức khác thường đứng đó, khuôn mặt chan hòa ánh nắng. Anh ta khoảng hơn hai mươi tuổi, người cao dong dỏng và có phần ẻo lả. Anh ta để tóc dài, có bộ râu rất giống của Chúa Jesus và phía trên là một cặp mắt to nhất, trong sáng nhất mà tôi từng thấy ở một người đàn ông. Anh ta ăn mặc theo phong cách London, khoác một chiếc áo vest nhung rõ ràng là loại đắt tiền; và trên cổ anh ta đeo một sợi dây chuyền Phục Hưng nặng trịch lủng lẳng một mặt đĩa dẹt khá to bằng kim loại, trên có khắc hình cái đầu của họa sĩ Verrocchio. Anh ta khiến người ta nghĩ đến một vị thần đồng áng trẻ trung, chỉ thiếu mỗi cặp sừng và vành lá ô liu.

Các anh lính Mỹ đổ xô ra của reo mừng, “Anh bạn của chúng ta đây rồi!” Họ chìa tay, nắm lấy vai anh kéo vào quán. Anh đáp lại bằng cách hôn vào má từng anh lính và nói với những người còn nhớ được từ các lần gặp trước, “Bạn thân mến, thật tuyệt là bạn đã trở về.”

“Cậu mới là người đi xa đấy chứ,” một anh lính nói.

“Bạn thân mến,” Clive phản đối, “Tôi có bao giờ xa đây đâu. Ổ trụy lạc của Torremolinos, thánh địa Mecca của thế giới, tôi xin cúi chào ba lần,” rồi cẩn thận trao cho tôi thứ đồ đang cầm, anh ngã người nằm sấp xuống đất dập đầu ba lần xuống ván lát sàn nhà. “Tôi vui mừng khôn xiết được ở đây,” anh tuyên bố khi vẫn đang nằm sấp và hôn gió tất cả mọi người, “và tôi có bao nhiêu thứ tuyệt vời mang đến cho các bạn đây! Chà chà!”

Lúc này tôi mới có thời gian nhận thấy anh vừa trao cho tôi một cái túi du lịch dẹt khá lớn màu đỏ tía, có hai quai da. Nó dài khoảng hai mươi sáu inch, cao mười ba inch và dày không quá sáu inch, nhưng khá nặng. Trước khi lấy lại túi, anh đi một vòng quanh quán, ôm hôn tất cả các bạn cũ và dừng lại quan sát ba cô gái. “Em là người mới bừng sáng,” anh bảo Britta. Hôn má Monica xong, anh nói, “A, nước da Anh quốc! Hãy chăm sóc bằng kem Pond, nếu không là nó đi đời đấy.” Anh còn định hôn cả Gretchen, nhưng cô lùi phắt lại tỏ rõ là mình không có ý định tham gia trò hôn hít vớ vẩn như vậy. Trước sự ngạc nhiên của cô, anh chộp lấy tay trái cô, tha thiết áp vào môi mình và reo lên, “Người ta nhận ra ngay người đàn bà đoan trang. Cô ấy khép chặt hai đầu gối.” Gretchen chưa kịp phản đối, anh đã đến trước mặt tôi và nói, “Còn bây giờ thì, thưa quý ông, cho xin lại món đồ quý giá này, s’il vous plait.

Trong khi các anh lính Mỹ vây quanh, Clive dọn một chỗ trên quầy rượu để đặt túi và thận trọng mở khóa kéo. Lật nắp túi ra, anh để lộ hai chồng đĩa hát đựng trong những chiếc vỏ thiết kế đúng mốt hiện thời: những cách dựng cảnh kỳ cục, bức hình đơn giản tột độ chụp một quả cà mà nhan đề Aubergine được khắc bằng đồng, bức ảnh bằng giấy sần chụp vụ hành hình công khai ở Belgrade năm 1887, một xêri hình minh họa miền Tây nước Mỹ, trong đó có cả cảnh cạo trọc đầu một người đàn bà da trắng mặc váy lót rộng lùng thùng. Đĩa của hai ban nhạc rock-and- roll Anh chiếm đa số: Octopus, Homing Pigeons. Trông những đĩa hát ấy có vẻ như chưa bao giờ được đặt vào máy quay.

“Tôi sẽ bắt đầu bằng đĩa nào nhỉ?” Clive hỏi ý kiến mọi người.

“Hôm qua những của quý này còn ở London, chưa bị bàn tay trần tục nào động đến. Hôm nay chúng ta đem chúng ra phục vụ kẻ phàm tục.”

Anh gật đầu với đám lính. “Tôi nghĩ tin tức đáng chú ý nhất... thứ thực sự đang làm chấn động nền âm nhạc... là cái này.”

Anh lục trong cả chồng và lấy ra chiếc đĩa trên vỏ có hình một tên cangster cùng ba kẻ lập dị đứng dưới cái cây trụi lá trong một khoảng rừng thưa ở miền Tây. Nhìn tấm ảnh gớm ghiếc ấy, tôi không thể đoán được nhạc trong đó như thế nào, nhưng Clive đã giải thích: “Đây là một sự chuyển hướng đầy ngạc nhiên đối với Bob Dylan. Một cuộc tấn công quyết liệt vào nhà thờ... sự bác bỏ gay gắt đạo Thiên Chúa.”

“Gì cơ!” một anh lính thốt lên, “Chắc hẳn là tuyệt vời lắm,” và qua phản ứng của anh lính, cộng thêm của các bạn anh ta nữa, tôi mới nhận thấy nhóm bạn trẻ này quan tâm sâu sắc biết bao đến những gì đang diễn ra trong mảnh đất âm nhạc của họ. Đối với họ những gì Bob Dylan thực hiện trong đĩa hát mới nhất của anh ta còn quan trọng hơn những điều lệ quân đội mới hoặc bài xã luận trên New York Times. Âm nhạc rất có giá trị; các lĩnh vực văn hóa khác đều nằm trong tay nhà nước hoặc bị những ông già như tôi kiểm soát, nhưng thứ âm nhạc này thuộc về họ, và việc nó sỉ nhục những cơ chế ổn định hơn trong xã hội càng làm cho nó quý giá gấp đôi.

“Trời, tôi muốn nghe xem Dylan nói gì với chúng ta đây,” một người phát biểu trong khi quan sát Clive lấy chiếc đĩa ra khỏi vỏ; anh thanh niên người Anh hành động như một giáo sĩ đang điều khiển nghi lễ tôn giáo. Chỉ mấy đầu ngón tay anh chạm vào mép đĩa để không gây hư hại. Nhẹ nhàng Clive đặt đĩa vào đế xoay, điều chỉnh âm lượng lên mức lớn và ngả người ra sau để thưởng thức đĩa nhạc mang tính cách mạng mà anh và bạn bè cho là đáng nghe.

Quả là một đĩa hát rất lạ thường, mỗi đoạn nhạc đều mang một ý nghĩa khó hiểu. Khi Dylan, bằng giọng mũi của mình, nói chuyện với ông chủ nhà, người rõ ràng đang tính đuổi anh đi, Clive giải thích, “Tất nhiên, anh ấy muốn nói đến Chúa,” và khi Dylan yêu cầu Chúa không đánh giá thấp anh, đổi lại anh cũng sẽ không đánh giá thấp Chúa, đám lính đều hiểu được ngay. Kẻ lang thang lẻ loi cô đơn trong bài tiếp theo là con người bị chính tín ngưỡng mà mình chấp nhận lừa dối. Vị sứ giả xấu xa, Clive giải thích, là tất cả giáo sĩ thuộc mọi tôn giáo đã chỉ dẫn lầm lạc và ăn cắp của những người ngoan đạo; tôi thấy ca khúc này đặc biệt hoang dại, chất chứa thái độ khinh bạc của tuổi trẻ. Tom Paine, thất vọng cay đắng với tôn giáo có tổ chức, là nhân vật chính của một ca khúc; ông thánh Augustine vỡ mộng là nhân vật chính của một ca khúc khác.

Tôi thấy phần lớn các ca khúc đều nghèo nàn, kiểu suy nghĩ mà lẽ ra người ta nên hoàn thiện trong những cuộc tọa đàm nhóm ở trường đại học – năm thứ nhất, không phải năm cuối - nhưng có một bài hình như khá hơn những ca khúc còn lại; bài này kể về một “kẻ nhập cư khốn khổ ăn nhưng không no”, thể hiện một linh hồn ngoan đạo sâu sắc và không thay đổi theo thời gian. Khi đĩa hát kết thúc và nhóm người Mỹ đã có có hội tiếp thu thông điệp cơ bản của nó, tôi mới đánh giá dựa trên những nhận xét của họ rằng những gì Dylan giải thích về tôn giáo hiện đại có ý nghĩa với họ hơn bất cứ thông tri nào của Giáo hoàng. Trong những ngày tiếp theo, họ yêu cầu Clive cho nghe đi nghe lại đĩa hát ấy, vì nó dường như đang trực tiếp nói với họ.

Thực ra nhạc trong đĩa hát của Dylan không gây ấn tượng mạnh lắm - chủ yếu là trống và guitar - nhưng hai đĩa Clive tìm được sau đó lại chú trọng vào kiểu hard core theo lối trình diễn hiện đại. Một ban nhạc London tên là Octopus trình bày một tiết mục kích động có tên là “I Get All Hung Up”[72], trong đó ca sĩ rống lên mấy từ đó bốn mươi bảy lần, chỉ xen kẽ một vài mệnh đề, vừa mù mờ vừa điên khùng, không hề cho biết tại sao anh ta phải hoãn tất cả lại. Bài hát gây ấn tượng mạnh mẽ cho những người ủng hộ, họ nói với tôi, “Đây là bản khá nhất mà Octopus từng ghi âm.” Khi tôi thắc mắc tại sao việc nhắc đi nhắc lại mãi chỉ một ý lại đáng ca ngợi, họ bảo tôi, “Ông không hiểu gì cả. Cái chính là cách phối hợp nhạc nền.” Khi đĩa đó được phát lại, ít nhất cứ mười lăm phút một lần, tôi lắng nghe phần nhạc đệm và nhận ra tiếng organ điện tử tạo thành một tràng rền rĩ thê lương thích hợp với lời bài hát và tiếng hai chiếc guitar điện nghe như súng máy chơi nhạc. Nhạc cụ thứ ba thì tôi không nhận ra, vì vậy một anh lính phải nói cho tôi hiểu: “Đó là kèn harmonica... thổi rất gần mic.” Tôi lắng tai nghe chăm chú hơn nhưng không thể xác nhận được chỉ dẫn đó.

Tuy vậy sự phối hợp giữa ba nhạc cụ đó, cộng thêm giọng mũi rền rĩ với cách phát âm của người da đen ở Nam Carolina - mặc dù ca sĩ chưa bao giờ ra khỏi London - thật khác thường và đầy uy lực đến nỗi tôi bắt đầu hiểu tại sao thanh niên lại đánh giá nó cao như vậy. Có phải tôi đã hiểu không? Đĩa này được thu với âm lượng lớn đến nỗi tất cả những gì tôi nghe được, nghe được thực sự, là một mớ âm thanh hỗn độn choán hết không gian. Tôi nói điều này với Monica, cô bụm tay lên miệng rồi thốt lên, “Chú ngốc quá! Chú không nắm bắt được kiểu xoắn xuýt tuyệt diệu của âm thanh rồi - giống như vòi bạch tuộc ấy? Chú nghĩ ban nhạc ấy lấy tên ở đâu ra chứ?” Vậy là tôi nghe lại một lần nữa, còn cô thì giảng giải tiếng hai cây guitar và organ liên tục xoắn xuýt như thế nào trong khi tiếng harmonica lanh lảnh dẫn dắt giai điệu. Đó là một sự đóng góp về âm nhạc không đáng kể lắm, mà rốt cuộc tôi cũng đã hiểu được.

“Chú sẽ thích Homing Pigeons cho mà xem,” cô khắng định với tôi. “Nhạc của họ là dành cho những người cổ hủ.” Và khi Clive đặt đĩa mới vào máy, tôi hoàn toàn đồng ý vì tôi có thể nghe được lời và ca từ đều có nghĩa.

Clive là ai? Tôi chưa nghe nói đến họ của anh, nhưng anh từ London tới và hiển nhiên thuộc một gia đình danh giá vì trước kia Monica có quen biết anh. “Cha anh ấy và Sir Charles đã hợp tác với nhau,” cô nói với tôi, “nhưng đó là hồi trung học hay đại học thì cháu không rõ lắm.”

Năm mười sáu tuổi, Clive tạo được ấn tượng ngắn ngủi trong một nhóm nhạc cống hiến loạt âm điệu mới mẻ; là gì thì tôi chịu, nhưng tôi có xem bức ảnh anh chụp thời kỳ đó, phục sức quần áo thời vua Edward và ngồi bên cây đàn clavico hai bàn phím, chắc hẳn là cách tân cho rock-and-roll. Năm anh mười tám, ban nhạc đó không còn được ưa chuộng nữa và ở tuổi hai mươi anh thành ra một ngôi sao hết thời. Giờ đây, ở tuổi hai mươi ba, anh đang sáng tác ca khúc cho người ta - những ca khúc mà tôi khám phá ra là rất hay - và để giữ cho khả năng sáng tạo của mình luôn mới mẻ, anh du lịch tới các trung tâm khơi nguồn cảm hứng: Mallorca, Torremolinos, quần đảo Antibes, Marrakech. Trong những chuyến đi ấy, anh chỉ mang theo chiếc túi xách tay nhỏ và cái túi du lịch bằng vải dày màu đỏ tía đựng những đĩa hát mới nhất từ London và New York.

Đến mỗi chặng dừng chân, anh đều tìm ra quán bar hay quán cà phê nào đó có máy hát, ở đó anh sẽ nép mình, thông báo miễn phí về những gì đang diễn ra trong thế giới âm nhạc, cho chạy đĩa hát của mình với âm lượng tối đa và làm tràn ngập khắp không gian âm thanh vang dội của tất cả các ca khúc phong cách mới vừa trình làng sáu tháng qua. Bất cứ cuộc viếng thăm nào, tiết mục đinh cũng bắt đầu khi anh đặt lên đế xoay một trong những sáng tác của mình, và lúc này tại quán Alamo, đã đến lúc anh tiết lộ những gì anh làm được kể từ lần đến chơi trước.

“Tôi đã viết được hai bài,” anh giới thiệu. “Một cho Procol Harum.” Hóa ra đó là một ban nhạc London khá danh tiếng. “Và một bài khác cho Homing Pigeons.” Anh cho nghe bài thứ hai trước, và tôi chưa chuẩn bị tư tưởng để thưởng thức cả nội dung lẫn phong cách vì về mặt âm nhạc nó bắt nguồn trực tiếp từ Mozart còn về mặt thơ ca thì từ Homer và Sappho.

Ngày xa xưa, ngày xa xưa lắm!

Giữa các đảo Hy Lạp, ta dong buồm lên

Nô lệ trẻ khỏe, tìm lái rượu rao bán

Rao bán nô lệ và kiếm tìm bến bình yên.

Ngày xa xưa, ngày xa xưa lắm!

Phố xá trên đất liền, ta đi khắp bốn phương

Gái trinh, tìm nơi lắm của nhiều tiền rao bán

Rao bán gái trinh và kiếm tìm bến tình thương.

Ngày xa xưa, ngày xa xưa lắm!

Mặt trời lặn, ta hãi hùng kinh sợ

Ta nằm chỉ một mình khi huyên náo đã qua

Rao bán nô lệ

Trao tay gái nhỏ

Đổi chác ngọc trai

Cướp bóc hầm mộ

Và đêm chong mắt, đối diện những hành động của chính mình.

Ban nhạc Homing Pigeons đã tạo cho tác phẩm của Clive phong cách thích hợp; về cơ bản họ chơi với cảm hứng trữ tình thế kỷ mười tám, nhưng ở những dòng không nhịp điệu như “Gái trinh, tìm nơi lắm của nhiều tiền rao bán,” họ lại mang đến nét dồn dập kỳ quái khiến nó trở nên khá hiện đại. Tôi vô cùng ngạc nhiên thấy các anh lính trẻ chăm chú lắng nghe ca khúc của Clive đến thế; không cần nói thành lời, anh đã mở một cuộc tấn công vào lực lượng quyền uy, và việc này thì họ tán thành.

Khoảng hai giờ sáng, Clive nói, “Ngày hôm nay dài quá. Tôi mệt rồi. Cái túi ngủ có còn ở đó không nhỉ?”

“Yigal đang dùng.”

“Thôi vậy. Còn gì có thể dùng được không?”

Britta đáp, “Anh có thể ngủ trong chiếc pop-top.”

“Chờ đã!” Gretchen phản đối. “Tôi phải lên tiếng mời mới được chứ.”

“Y tớ là,” Britta giải thích, đôi má đỏ bừng, “Yigal và Clive có thể ngủ trong chiếc pop-top còn cậu có thể nhận cái túi ngủ.”

“Sáng kiến hay đấy,” Gretchen nói, và không bàn cãi gì thêm nữa, họ về đi ngủ.

—★—

Tôi đã nhầm về Clive ở một điểm. Cách ứng xử như đàn bà của anh đã khiến tôi nghĩ anh là người đồng tính luyến ái; chắc chắn những người lính gặp anh lần đầu cũng tưởng thế vì tôi nghe được nhiều lời bình luận khá tục tĩu, nhưng một trong những người Mỹ đóng quân ở căn cứ quân sự được ba năm đã lên tiếng cải chính. “Mọi người nhầm to về cậu Clive này rồi. Cậu ấy ở chung căn hộ với tớ trong một chuyến đi, cậu ấy có nhiều bạn gái ra vào đến nỗi Guardia Civil[73] phải đến kiểm tra xem chúng tớ có mở nhà thổ không. Rồi họ gặp Clive, chàng trai thanh mảnh nặng có một trăm bốn mươi pao, một anh Guardia hỏi tớ, ‘Bí quyết của hắn là gì nhỉ?’”

Anh lính đó nói đúng. Vì Gretchen vào ngủ trong nhà, Yigal và Clive được sử dụng chiếc pop-top, họ liền thu xếp giường đệm sao cho bốn người có thể ngủ một cách thoải mái và quan sát được mặt biển. Vì vậy chiếc xe thành điểm lý tưởng để tiếp đãi các quý cô, những người sau đó còn ghé vào nhà uống cà phê và sử dụng buồng tắm. Lần nào tôi đến chơi, căn hộ cũng có khách nữ, và dường như cứ cô sau lại xinh đẹp hơn cô trước. Danh tiếng của Clive lan truyền khắp bờ biển, vài người quen của anh lái xe cả quãng đường dài tới bàn luận với anh về âm nhạc và chia sẻ chiếc giường mà họ đã chăn gối trong các lần đến thăm trước. Anh là người thổi kèn[74], dụ lớp trẻ ưu tú nhất ở Hamelin, nhưng không lâu sau tôi nhận thấy trong khi có thể ngủ với nhiều cô gái chủ động đến với mình, Clive trước hết vẫn chỉ quan tâm đến Gretchen.

Tôi có mặt lúc mối tình si ấy bắt đầu (Các bạn đừng hỏi tôi làm sao một chàng trai có thể một tuần quan hệ với bốn cô gái khác nhau trong chiếc pop-top đồng thời lại say mê chủ nhân cái giường mà anh ta đang sử dụng; thanh niên không coi việc này là khó hiểu). Đó là ngày thứ ba Clive dừng chân ở Torremolinos và tất cả chúng tôi đều có mặt ở quán Alamo, nơi anh đang cho nghe đĩa hát của mình. “Tôi có một đĩa hay tuyệt vừa mang từ Mỹ sang,” anh reo. “Các bạn sẽ thích cho mà xem, và các bạn sẽ rất bất ngờ nếu tôi nói cho các bạn biết đĩa này là của ai. Johnny Cash. Phải, anh chàng miền núi đó. Nghe này!” Đó là một bài vui nhộn kể về một con bạc người miền Nam đặt tên cho con trai mình là Sue rồi bỏ rơi nó. Cha con gặp lại nhau tại một quán rượu ở Gatlinburg, thế là tình hình đột nhiên trở nên rối loạn khủng khiếp. Đúng như Clive nói, đó là bài ai cũng thích, và trong lúc anh cho chạy lại đĩa đó, tôi cứ nghĩ ngợi lan man rằng ở Mỹ nền âm nhạc mới đang phát hiện ra điều mà các nhà sản xuất xe hơi và công ty thuốc lá vốn đã biết rồi; trong thế giới hiện đại với những thành phố cơ khí bụi bặm đông đúc, sự lãng mạn chỉ có thể tồn tại được trong không gian thoáng đãng ở miền Nam và miền Tây. Chàng Sue gặp lại người cha độc ác của mình ở Gatlinburg; anh lính mơ về người yêu ở Galveston; người thợ đường dây từ Wichita và anh nhạc công guitar bỏ trốn đang trên đường đến Phoenix. Cứ thử xem một tá quảng cáo xe hơi trên truyền hình, bạn sẽ thấy chiếc xe Mỹ nào cũng chạy trên những con đường Viễn Tây bụi bặm. Người hút thuốc lá cũng vậy. Bạn sẽ không bao giờ thấy họ ở thành phố mà luôn luôn bên bờ một con suối mát lạnh hoặc đang chăn những con bò Hereford đầu trắng ở bên kia quả núi mặt bàn. Những khoảng không thoáng đãng, cuộc sống lành mạnh ở thôn quê đại diện cho những gì đáng mơ ước trong văn hóa Mỹ; thành phố là nơi ghê sợ cần phải quên đi.

Tôi đang ngẫm nghĩ về những vấn đề đó thì một nhóm thanh niên Mỹ và Thụy Điển bước vào quán, nghe đĩa của Clive một lúc, rồi hỏi Joe, “Chúng tôi tưởng cô gái vẫn hát ballad vào lúc năm giờ chiều.” Thấy họ nhìn Clive với vẻ quy trách nhiệm, Joe vội nói, “Cô ấy hát ngay bây giờ đây,” và anh giải thích cho Clive biết là mấy tuần gần đây Gretchen vẫn thường chơi guitar và hát ballad.

“Tuyệt vời!” Clive nói thật to để át tiếng nhạc. “Cực kỳ tuyệt vời đấy.” Anh nhấc kim lên nâng niu cất đĩa vào bao rồi quay về phía Gretchen nói, “Thế mà anh không hề biết đấy, cô bạn thân mến, không hề biết.”

“Em thích nhạc của anh hơn,” cô đáp, nhưng sau khi ghế được mang ra và cô lên dây đàn gảy những nốt đầu tiên như một nhạc sĩ chuyên nghiệp, tôi có thể nhận thấy Clive tròn xoe mắt ngạc nhiên. Anh nhìn tôi đầu gật lấy gật để như muốn nói, “Cô này biết chơi đấy.”

“Child 81,” Gretchen giới thiệu, và ngay sau đó cô cất tiếng hát kể lại câu chuyện xúc động về Phu nhân Barnard cao quý đã gặp chàng Little Musgrave tại nhà thờ vào một sáng Chủ nhật và buông lời gạ gẫm tán tỉnh khiến cho ngay cả một thanh niên đang chăm chú theo dõi buổi lễ trong nhà thờ cũng không thể cầm lòng.

“Điền trang ở Mulberry ta có,

Rất kiên cố, kín cổng cao tường;

Nếu chàng đi cùng ta đến đó,

Thì suốt đêm ta nằm ở bên chàng.”

Little Musgrave đi theo phu nhân về nhà rồi bị chồng bà, Ngài Barnard, bắt gặp trên giường và bị ông ta chặt ra thành từng khúc.

Gretchen trình bày khúc ballad với phong cách quyến rũ mê hồn, và Clive, người chỉ cần nghe là nhận ra ngay ai là ca sĩ có tài, lên tiếng khi tiếng vỗ tay lắng xuống, “Thật tao nhã. Em hát như một cô gái Scotland vậy... đượm màu bùn lầy thực sự.”

Tôi đề nghị cô hát “Mary Hamilton”, thế là đám khách Thụy Điển vỗ tay nhiệt liệt vì ở nước họ bài này được khá nhiều người biết. Lạ một điều là Clive lại không biết khúc ballad nổi tiếng này, nhưng dù mới nghe lần đầu, anh đánh giá ngay được vẻ đẹp lạ thường của khổ thơ mở đầu và kết thúc. “Tuyệt vời!” anh tấm tắc khen, rồi trong suốt thời gian còn lại ở Torremolinos, chính anh là người thu xếp cho Gretchen chốc chốc lại được yêu cầu lên chiếc ghế cao để hát, và cũng chính anh là người dẫn đầu việc vỗ tay tán thưởng mỗi khi cô biểu diễn.

Anh mượn các tập tác phẩm của Child để nghiên cứu và hỏi ý kiến Gretchen xem những bài nào hay. Cũng như cô, anh thấy lời than khóc dành cho Bá tước de Murray Cao quý là một trong các ca khúc hay nhất, nhưng chính “The Great Silkie of Sule Skerrie” mới cho anh thấy cô là người thể hiện tinh tế đến thế nào.

“Em phải đi sang Anh!” anh kêu lên. “Các công ty đĩa hát sẽ mừng rơn trước những gì em thể hiện... nhất định là thế.”

Gretchen không có tham vọng thu đĩa, tính chuyên nghiệp kiểu ấy chưa bao giờ hấp dẫn cô và cô sẽ bối rối nếu thấy ảnh mình trên bìa đĩa, nhưng cô lại thích trao đổi với Clive về âm nhạc và hai người đã có rất nhiều thời gian bên nhau trong những ngày giữa mùa xuân tràn ngập ánh nắng đó, nhưng ngoài chuyện trò ra cô không mong muốn gì khác nữa.

Một hôm Clive hỏi tôi, “Gret có chuyện gì phải không?” và tôi đáp, “Có lẽ cô ấy ghét vì cậu tiếp nhiều đàn bà con gái trong chiếc pop-top quá... tức là chiếc pop-top của cô ấy.”

“Ồ!” Với vẻ hấp dẫn tự nhiên của mình, anh phá lên cười chế nhạo tôi và nói, “Thực ra con gái thời nay không bực bội vì chuyện đó. Nói thật tình, các cô nhóc trong xe ấy... ai quan tâm đến họ cơ chứ?”

“Ý tôi là...” tôi định nói một câu gì đó thích hợp về chuyện tình yêu vốn là thứ bền vững không quá thay đổi thất thường theo kiểu bây giờ, rằng bất cứ thiếu nữ tự trọng nào cũng không thích bị theo đuổi bởi một người đàn ông đang sống với người con gái khác - nói cho chính xác là với một lô con gái - nhưng lời của tôi nghe có vẻ cổ hủ quá cho nên khi Clive huých tôi một cái và nói, “Ông lão này thật là...” tôi bèn ngậm miệng lại.

“Thực ra,” anh nói, “hoàn toàn không phải tôi làm cô ấy ghét đâu. Một việc đáng sợ nào đó đã xáo động tâm trí cô ấy. Khi hát, Gretchen là một cô gái khác hẳn - đầy chất thơ và cháy bỏng niềm say mê dành cho đàn ngựa băng băng trên trảng cỏ. Cô ấy cũng vĩ đại như một trong các chị em nhà Bronte. Nhưng khi cô ấy đặt đàn guitar xuống là giấc mơ liền tiêu tan. Người ta có thể thấy nó biến mất cùng với ba hợp âm cuối.”

—★—

Sự có mặt của Clive ở Torremolinos có một tầm quan trọng mà bản thân anh không nhận thấy. Anh và Monica đang ngồi gần như suốt cả buổi chiều trò chuyện về những người quen cũ ở Anh thì Yigal đến bàn tôi nói, “Cháu rời Canterbury với ấn tượng sâu đậm về nước Anh. Cháu thích các cô gái ở khách sạn Anh và bắt đầu nghĩ cháu có thể trở thành người Anh. Bây giờ thì cháu lại thấy nghi ngờ.”

“Vì sao?”

“Cháu đã quan sát Clive và Monica. Ý cháu là cháu đang nghe họ. Họ sử dụng từ ngữ thật cường điệu... thật khoa trương. Mọi thứ đều kinh khủng hay nhức nhối hay khoái chí hay đơn giản là cực kỳ dễ sợ.”

“Đừng có bực bội vì phong cách làm gì,” tôi khuyên. “Tiếng Mỹ cũng dở không kém theo cách riêng của nó.”

“Cháu không nói đến mấy chuyện bình thường,” Yigal nói. “Về cơ bản, cháu là một người Do Thái Nga. Khi nhìn mặt trời, cháu muốn thấy nó to đúng như nó vốn thế chứ không lớn hơn. Cháu muốn sống ở một thế giới không mộng ảo với những nguyên nhân và kết quả được biết rõ. Anh Quốc thật tốt đẹp nếu anh là Clive hay Monica, nếu anh có thể xây dựng cho mình một thế giới thần tiên, nhưng nó sẽ là địa ngục đối với người Do Thái Nga bình thường vốn không thấy mọi việc là kinh khủng, là gây choáng hay kỳ diệu cực độ.”

“Phản ứng của cậu làm tôi ngạc nhiên quá,” tôi phản đối. “Cậu đang đưa ra một đánh giá quan trọng dựa trên những cơ sở không thích hợp.”

“Những cơ sở ấy có thể là cơ bản,” anh đáp. “Israel và Mỹ rất thực dụng... chúng ta đánh giá đúng bản chất vấn đề... dùng hết khả năng vật lộn với chúng. Cháu là kiểu người như vậy đấy.”

“Cậu nghĩ thế nào về Churchill?”

“Rất khoa trương, theo như những gì cháu được đọc. Vẻ diễn kịch không cần thiết, không thực sự cần thiết. Ông ta xử sự như vậy vì ông ta đang nói với những người như Clive và Monica. Đó là thế giới của họ chứ không phải của cháu,” và trong những ngày tiếp theo, tôi có thể thấy anh suy nghĩ rất nhiều về ba quyển hộ chiếu.

Clive còn gây những ảnh hưởng khác lên tất cả những người tiếp xúc với anh. Chẳng hạn anh rất thích đi picnic, nhưng chỉ theo kiểu Pháp. “Ngày mai chúng ta sẽ lên núi chơi,” anh tuyên bố, và thế là Joe sẽ thu xếp nhờ một anh lính trông quán cho đến tối

Những chuyến picnic với Clive bao giờ cũng là sự kết hợp đầy nghệ thuật giữa đồ ăn dân dã đơn giản với bất cứ haute cuisine[75] nào mà anh xoay xở được nhờ tài tán tỉnh chứ không phải bỏ ra một món tiền lớn, và khi anh mở các giỏ thức ăn ra giữa một thung lũng hẹp nào đó, trên cao là cảnh núi non Tây Ban Nha uy nghi nhìn xuống chỗ chúng tôi với những bộ mặt chằng chịt đường mòn mà dân buôn lậu vẫn sử dụng trong suốt năm trăm năm qua, chúng tôi không bao giờ biết trước mình sẽ thấy những gì trong đó, nhưng chúng tôi tin chắc một điều: mỗi người sẽ nhận được một khay thức ăn đựng mấy món rất ngon. “Tôi căm ghét những cuộc picnic mang theo bánh sandwich làm đồ ăn,” anh nói, và anh sẽ không cho phép một ai làm bánh sandwich một khi anh đã nhận phụ trách đồ ăn thức uống.

Một buổi chiều, khi chúng tôi đang ngồi trên ngọn đồi nhìn ra eo biển Gibraltar, xa xa là đường bờ biển châu Phi và trước mắt là đám người chăn gia súc đang lùa đàn cừu, anh chợt kêu lên, “Ngày mai cứ để mặc cho bom rơi xuống Gibraltar. Còn hôm nay, có Chúa biết, chúng ta cứ vui chơi cái đã.”

Lần picnic nào Clive cũng mời Gretchen hát, còn anh sẽ ngồi gần cô, lẩm nhẩm hát theo, và đó sẽ là mùa xuân, biển có màu xanh lam pha xám, diều hâu sẽ bay lượn trên trời và chúng ta có thể nghe tiếng be be của cừu mới sinh át mất lời ca êm ái Gretchen hát.

Nàng bật dậy, vội vàng,

Tìm đến chỗ chàng nằm,

Và màn trướng nàng kéo gạt sang bên,

“Chàng trai, ta tưởng chàng hấp hối.”

—★—

Một hôm, do cuộc họp đặc biệt dài với đám người Hy Lạp, đến tận giữa buổi chiều tôi mới đến quán Alamo và thấy một phụ nữ trông rất khác thường đang chờ tôi. Tại sao tôi lại nhận xét cô ta là khác thường? Đó là vì đến được Torremolinos rồi mà cô ta không có vẻ phấn chấn gì cả, và đối với một phụ nữ xinh đẹp khoảng hai mươi sáu tuổi thì điều này đúng là không bình thường. Cô ta có thân hình mảnh mai, dáng vẻ bồn chồn, mắt sắc lẻm và nói năng sốt sắng như thể cô ta chỉ có vài ngày để thực hiện một nhiệm vụ quan trọng nào đó. Nhưng điều làm tôi cảnh giác nhất là một việc không đáng kể - cách cố ý giới thiệu đầy đủ cả họ lẫn tên, một hiện tượng khá hiếm gặp ở Torremolinos, nơi tôi không bao giờ biết họ của Joe, hay của Clive, hay tên họ của bất cứ cô gái xinh đẹp nào hàng ngày vẫn ra vào chiếc pop-top.

“Tôi là Susan Eltregon,” cô ta nói và bắt tay tôi một cách xã giao. “Tôi được biết có thể gặp Cato Jackson ở đây.” Thấy tôi gật đầu, cô ta nói tiếp, “Và cả Gretchen Cole nữa.”

“Cô ấy sẽ hát ở đây lúc năm giờ.”

“Có cách nào để tôi gặp họ ngay bây giờ không?”

“Họ đến rồi lại đi. Tôi chắc họ đang ở trong thành phố, nhưng cả ngày hôm nay tôi chưa gặp họ.”

“Thế ông là ai?”

“George Fairbanks. World Mutual.”

Nghe tôi nhắc đến hãng ở Geneva, cô ta căng thẳng hẳn lên. Tôi tin chắc cô ta đã nghe về chúng tôi, và những gì nghe được làm cô ta không hài lòng, nhưng cô ta tuyệt nhiên không để lộ ra, ngoại trừ thái độ khinh ghét qua trực giác. “Tôi chờ được không?” cô ta hỏi gọn lỏn.

“Đây là quán bar mà,” tôi đáp. Tôi không thích cô ta, và tôi đoán cô ta cũng biết vậy, nhưng cô ta vẫn ngồi xuống bên tôi. Khi tôi hỏi, “Cô đến Torremolinos có việc gì?” cô ta ngẫm nghĩ một lúc, rồi kết luận là chắc hẳn tôi sẽ hỏi dò quanh đây cho đến khi tìm ra mới thôi. “Haymakers,” cô ta đáp.

Tôi mới chỉ nghe nói về nhóm này qua những bài báo đăng trên tờ Paris Herald Tribune, nhưng đôi mày tôi vô tình cau lại, để lộ ra tôi đã đọc được ít nhiều tư liệu như vậy, vì tôi chưa kịp phản ứng, cô ta đã nói, “Tất cả những gì báo chí nói về chúng tôi đều đúng cả.” Cô ta nói nhanh như nuốt chữ, dằn giọng, và vì một lý do nào đó không thể giải thích được, tôi nhận xét, “Cô đang mặc bộ váy áo khá đắt tiền đấy nhỉ,” thế là cô ta rít lên, “Người làm cách mạng không nhất thiết phải là kẻ bần cùng,” và tôi cũng lầm bầm, “Hiếm khi lắm.”

Cô ta lạnh lùng nhìn tôi một lúc rồi nói, “Tôi chẳng việc gì phải tranh cãi với ông cả, ông Fairbanks... chỉ có điều khi nào lẽ phải thắng thế, các hãng kinh doanh như của ông sẽ bị thanh toán trước tiên. Các ông là một tập đoàn bóc lột quốc tế và các ông phải cuốn xéo.”

“Đúng thời gian này tôi lại đang tiến hành một vụ giao dịch mà hãng chúng tôi đang cố gắng hút một ít máu đây, và tôi không cuốn xéo đi đâu cả. Cô có muốn giúp tôi không?”

“Tôi đến đây để gặp Cato Jackson và Gretchen Cole.”

“Sao cô lại có thể quan tâm đến họ nhỉ?”

“Ý ông là sao Haymakers có thể quan tâm phải không? Jackson và Cole là người của Haymakers. Họ còn chưa nhận ra điều này nhưng chắc chắn họ sẽ là thành viên Haymakers.”

“Họ sẽ ngạc nhiên lắm nếu cô nói thế với họ đấy.”

“Những gì họ từng trải qua đã khiến nó trở thành chuyện không thể tránh. Chỉ cần thức tỉnh họ thôi.”

“Họ là những kẻ mộng tưởng hão huyền bẩm sinh chăng? Và cô đến đây để thức tỉnh họ?”

“Các sự kiện sẽ thức tỉnh họ. Tôi đến đây để chỉ cho họ thấy các sự kiện.”

“Cô là cấp chỉ huy trong Haymakers chăng?” tôi hỏi.

“Chúng tôi không bận tâm tới những điều vớ vẩn như vậy,” cô ta cáu kỉnh.

Tổ chức Haymakers[76] lấy cái tên khác thường đó vì ba lý do. Nó mang hình ảnh một cú đấm rất mạnh sẽ làm nốc ao lực lượng quyền uy. Nó còn có nghĩa rộng là người khôn ngoan biết lợi dụng tình thế hiện tại - cắt và phơi cổ lúc trời nắng. Và cuối cùng nó còn cho thấy cuộc sống nông thôn và tránh bị mang cái tiếng phong trào thành thị, mà thực ra đúng là như vậy.

Thành viên Haymakers, phần lớn dưới ba mươi tuổi, góp phần vào sự phá hủy triệt để xã hội Mỹ, phá không chừa lại gì. Kế hoạch của họ rất đơn giản: can thiệp vào bất cứ tình thế rối ren nào, làm căng thẳng gia tăng, không để thời gian cho mọi việc ổn định, duy trì tình trạng vô chính phủ, và dựa vào sự hỗn loạn do tình trạng đó gây nên để biến thanh niên thành những kẻ quá khích. Khi nào có đủ lực lượng nòng cốt trẻ có năng lực đã thay đổi chính kiến thành nhà cách mạng tận tụy, các phong trào quần chúng quy mô lớn sẽ được phát động để phá bỏ cơ cấu xã hội: ngân hàng sẽ bị mất tín nhiệm, lực lượng Cảnh vệ Quốc gia sẽ bị trói chân trói tay, trường đại học sẽ bị phá bỏ, các cơ quan xã hội như tòa báo và đài truyền hình sẽ bị vô hiệu hóa.

Khi việc phá hủy triệt để đã hoàn thành, Haymakers lên kế hoạch nhảy vào giữa cảnh hỗn loạn và – với lực lượng nòng cốt được chỉ đạo chặt chẽ - làm cho cảnh sát, quân đội, hệ thống trường học và chính quyền thành phố không hoạt động được. Nếu vào cuối thời kỳ hỗn độn ấy mà vấp phải sự chống đối, họ sẽ chiến đấu ngoài phố, nhưng cho dù không tiến hành được một cuộc chiến đấu như vậy thì những kẻ nắm quyền cổ hủ vẫn phải bị thanh toán. Một trong những cách nói quen thuộc của các thành viên Haymakers là, “Hắn là một tên Kerensky[77] và hắn phải biến đi.

Nếu kế hoạch đó thành công, những nhân tài bất mãn ngấm ngầm - như Gretchen Cole, người từng dây dưa với cảnh sát, và Cato Jackson, người đã xách súng vào một nhà thờ của người da trắng - phải được gọi gia nhập; Cato được coi như mục tiêu đáng giá gấp đôi vì anh là người da đen, mà một trong những nguyên lý cơ bản của tổ chức Haymakers là phải biến sự bất đồng quan điểm của người da đen thành cuộc cách mạng.

Để lôi kéo Gretchen và Cato tham gia cuộc cách mạng đó, Susan Eltregon được phái đến từ St. Louis, nơi đặt trụ sở hiện thời của tổ chức Haymakers. Cô ta là con gái một dược sĩ ở Denver; cô ta thường nói, “Tôi từng là con của một cặp vợ chồng phản động ở Colorado,” như thể, bằng một hành động ý chí, cô ta đã tách mình ra khỏi cha mẹ ngay sau khi chào đời. Cha mẹ cô ta dành dụm tiền bạc cho con gái đi học cao đẳng ở Montana nhưng họ đã tốn công vô ích; cô ta thấy trường cao đẳng buồn chán không tin nổi còn giáo viên thì thật đáng thương. Cùng với một nhóm sinh viên từ các bang như California và Massachusetts, cô ta thành lập một ủy ban để xem xét lại chương trình giảng dạy, phương pháp chọn giảng viên và toàn bộ hệ thống chấm điểm và kỷ luật. Việc này đặt cô ta vào thế chống lại mục đích của nhà trường, nơi người ta mong sự yên ổn và có cơ hội cấp bằng tốt nghiệp cho sinh viên, những người sẽ trở thành giáo viên hoặc thủ thư, vì vậy đến cuối năm thứ nhất, Susan bị đề nghị thôi học.

Susan làm ngơ đề nghị đó, dọn ra một nhà trọ nằm sát khuôn viên trường, lôi kéo một nhóm sinh viên có chiều hướng bỏ học giữa chừng như mình và bắt đầu một chương trình quấy rối mà kết thúc là một cuộc nổi loạn toàn trường chống lại giáo viên điền kinh và một vụ đốt phòng thí nghiệm khoa học. Cảnh sát Montana ập vào nhà trọ, nhưng Susan và đám bạn đã cao chạy xa bay, bỏ lại toàn bộ hành lý cá nhân. “Bọn cớm đã tống cổ chúng tôi,” họ báo cáo với tổ chức ở New York.

Trước khi Susan đến New York, Haymakers đã thiết lập một cơ sở tạm thời ở thành phố này. Lãnh đạo cơ sở vốn là giáo sư trợ giảng tại một trong những trường cao đẳng địa phương; do khiến nhiều người bất bình khi cố gắng cải tiến cơ sở của mình, ép nhà trường nhận học sinh da đen và Puerto Rico vào học, bất kể điểm số của họ ở cấp trung học, nên ông ta không được nhận làm cán bộ giảng dạy dài hạn của khoa. Vậy là ông ta phát động hàng loạt cuộc đối đầu quyết liệt để bảo vệ việc làm của mình, và mặc dù thất bại, ông ta cũng đã quá khích hóa được bảy sinh viên chưa tốt nghiệp, dụ dỗ họ bỏ học để làm việc với ông ta, và nhóm này đã tạo nên những hạt nhân của phong trào. Nhưng sức mạnh thực sự của phong trào - khả năng ghê gớm trong việc lợi dụng nhiễu loạn và tranh thủ sự ủng hộ của đám thanh niên bất mãn với tình hình đó - chỉ được phát huy khi một nhóm cựu sinh viên từ miền Trung Tây đến. Họ là những nhà cách mạng cứng rắn, quyết liệt, trưởng thành từ các thành phố như Chicago, Detroit, Terre Haute và Gary. Họ nhận thấy không còn hy vọng gì đối với nước Mỹ hiện thời và quyết tâm lật đổ nó. Susan Eltregon tìm được chỗ đứng trong nhóm nòng cốt này vì cô ta hiểu lối suy nghĩ và tán thành lời cam kết của họ. Một trong những lãnh đạo từ Trung Tây đã đề ra khẩu hiệu của phong trào, “Mọi kẻ đương quyền phải biến đi,” và giờ đây chính quan niệm này thành động lực thúc đẩy cả nhóm.

Haymakers thu nạp nhiều thanh niên ưu tú, và tại cơ sở St. Louis những chuyên gia lập kế hoạch và bày mưu tính kế đó theo dõi bất cứ sự cố nào xảy ra trên toàn nước Mỹ có khả năng sản sinh ra những sinh viên hay người lao động bất mãn có thể tiếp cận được. Chính trong quá trình lật giở báo chí tìm thông tin cho Haymakers, một nữ sinh viên bỏ học trường Smith đã phát hiện ra tên của Gretchen Cole và Cato Jackson. Các thành viên nằm vùng ở Philadelphia và Boston được lệnh lần theo dấu vết của Gretchen và Cato, nhưng những báo cáo đầu tiên thật đáng thất vọng: “Gretchen Cole biến mất khỏi trường đại học Besançon, không ai biết hành tung. Jackson đào tẩu, có tin đang ở Detroit.”

Nhưng sau khi điều tra thêm, cơ sở ở Boston phát hiện ra Gretchen từng gửi bưu ảnh cho một cô gái ở trường Radcliffe nói rằng, “Cậu nên đến đây.” Và một ngài Wister ở Philadelphia vốn là người chu cấp cho Cato Jackson đã để lộ ra là anh thanh niên đó đề nghị ông gửi séc tới Torremolinos.

“Cô phải đi Torremolinos,” ban lãnh đạo cấp cao ở St. Louis ra lệnh cho Susan. “Có một căn cứ quân sự ở gần đó. Cho dù không tìm được Jackson và cô Cole này thì cô vẫn có thể làm được gì đó thực sự hữu ích.”

Vì vậy Susan đành nhún mình viết thư về Denver xin tiền cha mẹ: “Con nghĩ nếu đi châu Âu một chuyến và đến thăm Hà Lan, nếu con nhìn thấy quê hương ông nội và tìm hiểu cuộc sống ở đất nước ấy, có lẽ con sẽ tìm được chính mình. Dù thế nào thì thử chút cũng không có hại mà biết đâu còn có ích.” Cô ta nhận được bảy trăm đô la, số tiền nhiều hơn cần thiết vì một chuyến đi khứ hồi hai mươi mốt ngày từ St. Louis tới Málaga cũng chỉ mất 340 đô la, và còn được sử dụng miễn phí một chiếc xe trong thời gian ở Tây Ban Nha nữa. Khi Susan kể với tôi việc này, tôi hỏi cô ta đậu xe ở đâu, cô ta đang định trả lời thì một nhóm lính từ Sevilla xuống đã ầm ĩ vào quán. Họ mặc thường phục, tất nhiên, và Susan hỏi tôi, “Họ có phải lính không?” Khi thấy tôi gật đầu, cô ta bỏ tôi lại đấy mà chuyển sang ngồi cùng bàn với họ. Trong số đó có hai người da đen và cô ta chú ý đến họ nhiều hơn, gọi đồ uống cho họ rồi hỏi họ có thích quân đội không. Tôi chỉ nghe loáng thoáng câu được câu chăng, nhưng hình như cô ta tìm hiểu về thái độ của người da đen trong quân đội và họ định làm gì khi xuất ngũ trở về nhà. Có lúc tôi nghe thấy cô ta bình luận về những vấn đề chủng tộc ở Detroit và Los Angeles, nhưng hai người lính chỉ nhìn cô ta chằm chằm. Bằng một cơ chế lạ kỳ nào đó, cô ta đã truyền đạt cho đám đàn ông hiểu là mình không quan tâm đến tình dục.

Khi Gretchen bắt đầu thực hiện nhiệm vụ ca hát của mình, Susan Eltregon rời đám lính quay về bàn tôi. “Cô ấy là một thiếu nữ quyến rũ,” Susan nói với vẻ tán dương. “Những gì cô ấy trải qua với cảnh sát...” Cô ta cố tìm từ thích hợp nhưng không được, bèn ngồi im lắng nghe. Cô ta nhận thấy các khúc ballad rất thú vị, bèn thì thầm, “Thời buổi này, chúng mang tính cách mạng thực sự đấy. Cứ nghe ca từ mà xem!”

Cuối buổi biểu diễn, Susan lên chỗ Gretchen, nói, “Tôi từ St. Louis tới đây để nói chuyện với cô.”

“Sao lại là tôi?”

Sau câu mở đầu đường đột đó, Susan tuôn ra một tràng mô tả hùng hồn những gì tổ chức Haymakers đang nỗ lực thực hiện: lật đổ chính quyền Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Tôi ngạc nhiên thấy cô ta dám công khai tiết lộ kế hoạch của mình cho Gretchen; ngay cả việc cô ta không cảm thấy hối tiếc vì đã thảo luận vấn đề này ngay trước mặt tôi cũng thật khó hiểu. Cô ta giải thích: “Dù sao thì ông Fairbanks cũng chống lại chúng tôi. Kể ra ông ấy biết trước số ngày còn lại của mình chỉ đếm được trên đầu ngón tay thì cũng tốt. Ngay khi chúng tôi lên nắm quyền, ông ấy và bè lũ sẽ bị biện tội.” Vừa nói cô ta vừa nhìn thẳng vào mắt tôi.

Lý lẽ cô ta đưa ra với Gretchen cũng khá thuyết phục: “Cô đã thấy mặt tồi tệ nhất của hệ thống cảnh sát Mỹ. Không phải,” cô ta sửa lại câu nói vừa rồi, “tôi đã thấy mặt tồi tệ nhất - sự đè nén tự do của nhân dân. Những gì cô chứng kiến là sự gây hấn cá nhân. Nhưng với vốn hiểu biết của mình, cô sẽ rất có ích cho phong trào - tức là cho cách mạng. Một cô gái như cô, với cây guitar đó, giọng hát đó... Tất nhiên, cô biết đấy, cô là người rất đặc biệt. Xuất thân của cô cũng vậy. Cô có thể đi khắp nước Mỹ và làm nhiều việc có ích. Thanh niên sẽ nghe theo cô. Điều chúng tôi cần là người lãnh đạo có sức thu hút để đưa quần chúng đến với chúng tôi. Lực lượng nòng cốt trung kiên thì chúng tôi đã có, súng đạn chúng tôi cũng đã có.”

Tôi rất muốn biết Gretchen sẽ phản ứng như thế nào; cô chăm chú lắng nghe, theo dõi mọi lý lẽ, ngón tay vạch hình vẽ minh họa những điều Susan nói và tỏ thái độ nghiêm túc như thể đây là một hội thảo ở trường Radcliffe. Nhiều ý tưởng được trình bày cho cô nghe, và xem ra một số điều cũng có giá trị; cô dành cho chúng sự quan tâm nghiêm túc. Qua thái độ đồng tình mà Gretchen thể hiện để bày tỏ sự tán thành đối với nhiều điểm Susan nêu ra, lúc đầu tôi đã lo là cô sẽ bị thuyết phục, nhưng khi phái viên của cuộc cách mạng ngừng lời, cô lên tiếng, “Ta cứ cho rằng tôi chấp nhận dữ liệu của cô nhưng không đồng tình với các kết luận.”

“Sao lại thế?”

“Đơn giản thôi. Tôi đồng ý là cảnh sát có thể cư xử tồi tệ. Tôi không đồng ý cô giải quyết vấn đề bằng cách tiêu diệt họ.”

“Làm gì còn cách nào khác? Nếu toàn bộ hệ thông xã hội đã thối nát thì cô có thể làm gì ngoài việc phá nó tan tành?”

“Cô cải thiện nó. Hệ thống xã hội luôn luôn phải được cải thiện.”

“Ý cô là dùng phương pháp tiệm tiến?” cô Eltregon hỏi, vẻ khinh khỉnh.

“Chính thế.” Lúc này Gretchen đã nghiêng hẳn người về phía trước, và với một loạt lý lẽ đanh thép mà tôi không biết là cô lại có nhiều đến thế, cô bắt đầu tranh luận theo kiểu Socrates và hết sức kiềm chế biện hộ cho sự thất thường lên xuống trong chính trị, đặc tính của các dân tộc nói tiếng Anh trong bảy trăm năm qua. Các anh lính đều ngừng chuyện trò để theo dõi.

Susan Eltregon không phải người dễ thuyết phục. Trong những đêm dài dằng dặc ở Montana và những buổi chiều nóng như thiêu như đốt ở St. Louis, cô ta đã tiếp thu được một nền tảng triết lý xã hội giúp ta giữ vững những lý thuyết cách mạng của mình, và cô ta đã tạo được danh tiếng cho bản thân: “Như chúng ta đã biết, chính quyền như chúng ta vẫn biết phải bị phá hủy trước sức ép liên tục của tình trạng hỗn loạn, và giờ đây trách nhiệm của mỗi chúng ta là gia tăng tình trạng hỗn loạn đó để ngày mai chúng ta có thể chứng kiến sự tiến hóa của một xã hội mới.” Tôi để ý thấy khi chuyện trò cô ta không bao giờ dùng cách nói rút gọn: cô ta luôn nói it is hẳn hoi chứ không phải it’s. Đối với cô ta, cuộc sống rất mãnh liệt và độc đáo, và khi chạng vạng buông xuống con ngõ hẹp tối sầm, tôi có thể thấy cô ta đã phát cáu với Gretchen, người vẫn lắng nghe chăm chú, đánh giá và phản biện. Mắt Gretchen không một lần vụt sáng lên niềm vui khám phá những khi Eltregon nêu ý kiến đáng chú ý nào đó, vì cô đã nghe những lý lẽ này từ nhiều năm trước tại các buổi tọa đàm thân mật ở ký túc xá; lúc này cô nghe với thái độ tôn trọng và thầm đánh giá trong đầu, rồi mỗi khi Susan trình bày xong một lập luận, Gretchen lại mỉm cười, công nhận những dữ liệu ấy là không thể bác được, và bắt đầu phản biện. Rõ ràng Susan sẽ không tuyển được Gretchen vào hàng ngũ cách mạng.

Cuộc thảo luận kết thúc một cách bất ngờ. Sau khi nói hết những gì đã chuẩn bị sẵn, cô Eltregon hỏi, “Nhưng chẳng phải chính cha cô - một người đại diện cho tất cả những gì tồi tệ nhất mà chúng ta vừa nói đến - đã bắt cô bỏ vụ kiện cảnh sát sao?”

“Phải.”

“Thế thì sao...?”

“Cha tôi bối rối thôi. Điều đó không có nghĩa là ông đáng bị thanh toán.”

“Cô tin rằng những điều thối nát mà ông ta ủng hộ...”

Gretchen mỉm cười, “Tôi không nghĩ là cha tôi ủng hộ nhiều thứ lắm... ngoại trừ tính ngay thẳng trong quan hệ buôn bán... và đảng Cộng hòa.”

“Vậy cô không thấy là chính những người như ông ta đang phá hoại đất nước sao?”

Gretchen lại mỉm cười, “Có lẽ cô say mất rồi, cô Eltregon. Cô nhìn gì cũng thấy nghiêm trọng hơn thực tế.”

“Chỉ vì...”

“Không,” Gretchen ngắt lời. “Vướng mắc không phải ở tôi. Mà là ở cô. Vấn đề của cô là cô không được học ở một trường đại học có kỷ luật chặt chẽ... Một ngôi trường giúp cô ít nhiều ý thức được... bắt cô phải suy nghĩ.”

Mắt Susan sáng lóe lên. Cô ta định đáp lại bằng một vài câu mang tính cá nhân, nhưng quá trình rèn luyện trong tổ chức Haymakers đã chứng tỏ làm vậy chẳng ích lợi gì. Cố gắng tự kiềm chế, cô ta nói, “Cô Cole, đối với thế hệ này đường phố là trường đại học.”

“Cô nói đúng,” Gretchen khoan dung công nhận. “Đấy là nơi tôi đã được dạy dỗ.” Cô cố ý nhấn mạnh từ tôi. “Nhưng khi đã được dạy dỗ, tôi có thể đánh giá toàn bộ phạm vi lịch sử. Và kết quả rất khác với những gì cô vừa nói.”

“Cô hết thuốc chữa rồi.”

“Không. Tôi là người được dạy dỗ đàng hoàng.”

Bế tắc được phá vỡ nhờ sự xuất hiện của Cato Jackson và Monica, vì vừa nhìn thấy Cato, Susan đã bỏ Gretchen đấy mà hỏi anh hết câu này đến câu khác, và được Monica khích lệ, câu nào anh cũng trả lời hết sức nhiệt tình. “Cách mạng ư?” Cato nhắc lại. “Nhất định bùng nổ chứ.”

“Đúng vậy,” Monica kêu lên. “Cứ xem đám dân Hà Lan chết tiệt ở Amsterdam đấy, nữ hoàng của họ sở hữu những một nửa lượng dầu lửa toàn thế giới.”

“Việc người da đen cần làm,” cô Eltregon cố lái câu chuyện trở lại hướng cũ, “là liên hiệp với các tầng lớp lao động...”

“Cô nói hoàn toàn đúng!” Cato thốt lên cao giọng hơn cần thiết và chuyển sang giọng của người da đen miền Nam. “Chúng ta sẽ tập hợp toàn bộ công đoàn da đen lại... cô nghĩ chúng ta sẽ tập hợp được bao nhiêu?”

“Việc đầu tiên chúng ta phải làm,” Monica nói, “là tập hợp được công nhân mỏ thiếc ở Bolivia... Cato, anh biết công nhân mỏ thiếc ở Bogotá rồi đấy.”

Câu này làm nổ ra một cuộc tranh cãi dài dòng xem Bogotá ở đâu, và cuối cùng một anh lính giúp giải quyết ổn thỏa: “Nghe này, tôi đã đóng quân ở Venezuela và biết chắc nơi đó là ở Ecuador.” Khi mọi người thống nhất xong về vị trí, Cato nói tiếp, “Chà, chúng ta sẽ nện cho bọn áp bức da trắng một trận, đùng đùng, đoàng đoàng!”

Cố gắng lái cuộc đàm luận đi đúng đường, cô Eltregon hỏi, “Anh có nghe nói đến Haymakers không?”

“Có, đó là cú đấm quen thuộc của Cassius Clay,” Cato đáp.

“Nghe như cocktail nước dứa pha với một vốc phân chuồng ấy,” Monica gợi ý.

Cô Eltregon cũng đủ tinh khôn để hiểu được có lẽ đôi bạn đang lừa mình, nhưng cô ta vẫn tiếp tục nói như không có chuyện gì, “Haymakers là mũi nhọn của cách mạng,” cô ta giải thích.

“Chà!” Cato hăng hái reo. “Đó chính là thứ chúng ta cần! Anh bạn Akbar Muhammad của tôi, anh ấy định tàn sát cả thành phố đấy.”

“Bạn nào của anh?”

“Akbar Muhammad. Anh ấy lãnh đạo tổ chức Tín đồ Hồi giáo Mới ở Philly.”

Tôi nhận thấy cô Eltregon đang ghi nhớ cái tên đó và lục tìm trong trí nhớ. “Anh ấy có tham gia vụ khủng bố ở nhà thờ cùng anh không?”

“Anh ấy sẽ tham gia cùng tôi khi chúng tôi khủng bố thế giới.”

“Việc mang lại kết quả thực sự,” Monica nói xen vào, “sẽ là cuộc tấn công vào Hạ viện Anh.”

Cô Eltregon lờ câu này đi và cố hướng cho cuộc trao đổi trở lại nghiêm túc, nhưng Cato nói, “Tấn công cả Hạ viện Anh và Thượng viện Mỹ cùng một buổi chiều, chà, sẽ thu hút sự chú ý của mọi người lắm đây.”

“Giờ giấc chênh lệch cơ mà,” Monica nói, và cô Eltregon quay ngoắt đầu lại.

“Em nói thế là có ý quái quỷ gì?” Cato vặn lại. “Phải chăng em cho là anh không biết chuyện chênh lệch giờ giấc? Như trong phim ấy. Sidney Poitier bảo Paul Newman, ‘Chỉnh đồng hồ cho khớp giờ nào.’ Nếu chúng ta đủ khôn ngoan để lật đổ toàn bộ chính phủ, em có nghĩ chúng ta cũng đủ khôn ngoan để chỉnh đồng hồ khớp giờ không?” Anh giận dữ nói thêm, “London chậm hơn bảy giờ so với Washington đấy.”

Câu này gây ra một cơn thác lũ chuyên môn, nhất là mấy anh lính đã được đào tạo về vấn đề đó. Họ tranh cãi xem về những chênh lệch giờ giấc sai khác từ London nhanh hơn tám giờ đến London chậm hơn bảy giờ. Eltregon không mất bình tĩnh; thực ra, như sau này tôi được biết, cô ta đã vượt xa tất cả chúng tôi, vì khi Monica tiếp tục gợi ý việc đánh bom cả Nghị viện Pháp, với điều kiện họ so được đồng hồ theo giờ giấc Paris, tôi nhận thấy cô Eltregon chăm chú nhìn vào mắt Monica. Có lẽ đến lúc đó cô ta đã hiểu ra Monica nghiện ma túy.

Cato nói, “Chà, chúng ta cho toàn bộ pháo nổ cùng một lúc, thế là chúng ta sắp có cách mạng thật rồi.” Nhưng nói xong câu này, anh đột nhiên tỏ vẻ ủ rũ, nói thẳng với cô Eltregon, “Tôi cảm thấy tận xương tủy là khi khói tan... vậy đấy, người da đen chúng tôi vẫn ở dưới đáy như trước. Quý cô trả lời sao về việc đó đây?”

Cô Eltregon không hiểu câu hỏi và yêu cầu nhắc lại. Anh nói, “Các ông, các bà lại cho anh em chúng tôi nắm đúng cái đầu gậy cũ hở, quý cô?”

Thay vì nghĩ cách trả lời câu hỏi, cô Eltregon lại chăm chú nhìn vào mắt Cato và rõ ràng đã đi đến kết luận là cả anh cũng bị một thứ gì đó tác động, vì vậy cô ta không còn cố gắng trao đổi nghiêm túc với anh nữa mà ráng hết sức nói vui vẻ, “Tất cả chúng ta đi ăn tối thôi nào.” Cô ta ra hiệu là cả Monica và tôi cũng được mời.

Bằng tài phán đoán sắc sảo, cô ta chọn trong đám lính một anh da đen có chiều hướng hưởng ứng thông điệp của Haymaker, vậy là sáu người chúng tôi rời khỏi quán đi tìm nhà hàng, nhưng cô ta đã có sẵn một ý đồ đặc biệt hơn. Đưa chúng tôi ra chiếc xe được hãng hàng không cấp trong ba tuần, cô ta chở chúng tôi rời khỏi Torremolinos đến một đường nhánh dẫn ra biển. Một lúc sau chúng tôi đến cổng một lâu đài nhỏ thì Cato kêu lên, “Chết tiệt thật, tôi biết nơi này, Laura sống ở đây.”

“Đúng vậy,” cô Eltregon thừa nhận. “Bạn bè ở St. Louis bảo tôi đến.” Laura đã chờ sẵn ở cửa trong bộ áo captan kiểu Marốc trang trí dây bạc gò. Bà ta dẫn chúng tôi vào phòng ăn bày biện theo kiểu Trung cổ, nơi Paxton Fell đã chỉnh tề đứng đợi trong bộ vest dạ tiệc thêu ngân tuyến. Laura còn có thêm sáu khách nữa, ba trong số đó là người Mỹ, họ vỗ tay hoan nghênh khi Laura giới thiệu: “Đây là Susan Eltregon từ St. Louis đến. Cô là một trong những thành viên Haymakers khôn ngoan sẽ lãnh đạo cách mạng.”

“Tổ chức của các cô có nhiệm vụ gì?” một người Mỹ hỏi.

Cô Eltregon trả lời một cách mạnh mẽ, “Chúng tôi đã đi đến kết luận rằng cuộc sống ở Mỹ là không thể chịu nổi.”

“Tất nhiên là như vậy,” người Mỹ kia tán thành.

“Không thể chịu nổi đến mức chúng tôi phải loại bỏ toàn bộ mớ bòng bong thối nát ấy. Chúng tôi sẽ duy trì tình trạng hỗn loạn ở bất cứ nơi nào phát sinh... tạo ra tình trạng ấy ở những nơi không phát sinh.”

“Chiến thuật tuyệt đấy,” Laura nhất trí.

“Ở Mỹ bà sống tại bang nào?” tôi hỏi bà ta.

‘‘Texas’’.

“Tôi không nghĩ là dân Texas lại tán thành một kế hoạch như vậy.”

“Texas thì vô phương cứu chữa rồi,” bà ta trả lời một cách cộc cằn, không thèm để ý đến tôi nữa mà quay về phía Susan. “Còn bây giờ, cưng à, kể cho chúng tôi nghe xem các cô đã tiến triển đến đâu nào.”

“Chúng tôi có lực lượng nòng cốt ở mọi thành phố lớn. Hạt nhân ưu tú tại phần lớn các trường đại học. Chúng tôi được người da đen ủng hộ nhiệt tình.” Nói đến đây, cô ta nắm tay anh lính da đen vừa tuyển mộ được.

“Tuyệt,” Laura reo lên. “Đây là tin đáng phấn khởi nhất mà tôi được nghe sau một thời gian dài đấy.” Quay sang Gretchen và Monica, bà ta nói, “Tôi tin chắc các cô cũng đã gia nhập. Phong trào đúng đắn đến thế kia mà.”

“Phong trào này ở Mỹ, còn tôi lại là người Anh,” Monica nói. “nhưng tôi rất hứng thú. Tôi dự định chăm lo cho Trung Phi... Bà biết đấy, Congo, Vwarda, Bolivia.”

“Bolivia ở Nam Mỹ,” một ông khách người Âu nhắc cô.

“Tôi biết chứ,” Monica nóng nảy nói. “Tôi sắp đến đó để tập hợp công nhân mỏ thiếc... ở Bogotá.”

Tuyên bố này lại gây ra một cuộc tranh luận lạc đề tương tự cuộc tranh luận đã phá ngang lời trình bày của cô Eltregon lúc trước, mà cô ta không có ý định cho phép điều đó tái diễn. Bằng giọng đanh thép và trong trẻo, cô ta nói cho đến khi thu hút được sự chú ý của tất cả mọi người. Tất nhiên thông điệp của cô ta khiến tôi phải lắng nghe, và tôi ngồi kinh ngạc trước sự sốt sắng chia sẻ của cô ta: “Tổ chức Haymakers đang chuẩn bị nhiều biện pháp nhìn xa trông rộng cho ngày cách mạng bùng nổ, nhưng phần lớn công việc của chúng tôi đang được cái xã hội tất yếu phải đi đến chỗ diệt vong này thực hiện thay cho chúng tôi, trong lúc nó giãy giụa cố tự cứu mình. Mỗi lần xã hội ứng biến tìm lối thoát, vị thế của chúng tôi lại càng thêm vững chắc và không thể thiếu được. Tôi tin chắc các bạn sẽ thấy thị trường chứng khoán đột ngột giảm điểm khi hệ thống kinh tế thối nát của chúng ta ngã khụy. Các công ty như công ty ông, ông Fairbanks, sẽ dễ dàng bị dồn vào chân tường. Chúng sẽ biến mất. Toàn bộ sức mạnh lịch sử sẽ buộc Tổng thống Nixon phải mở rộng chiến tranh ở Việt Nam, và khi chuyện đó diễn ra, các bạn sẽ chứng kiến sinh viên khắp đất nước nổi dậy phản đối. Tầng lớp trung lưu Mỹ sẽ đòi khép sinh viên vào kỷ luật, vì thế chúng tôi có thể yên trí là sẽ tắm máu, và rồi càng khiến giới trẻ thêm quá khích. Nếu đến lúc đó, và tôi dám đảm bảo là không thể tránh khỏi, một lực lượng nòng cốt gồm những người nhiệt tình hiểu được tác động của sức mạnh lịch sử mà ở đúng vị trí của mình để thể hiện khả năng lãnh đạo... chà, các bạn sẽ được tận mắt chứng kiến những gì có thể được thực hiện.”

“Nghe có vẻ hết sức ly kỳ đấy!” Laura reo. “Giá mà tôi trẻ hơn chút nữa.”

“Thành công của chúng tôi phụ thuộc vào lòng can đảm của các thanh niên chúng tôi tuyển mộ,” cô Eltregon vừa nói vừa nhìn thẳng vào anh lính da đen. “Nếu chúng tôi có thể tin tưởng vào họ để giao nhiệm vụ, đến giờ phút quyết định, sẽ làm nổ tung mười hay mười hai chiếc máy bay xuyên quốc gia, một vài trạm rơ le điện, một số cột thu phát sóng truyền thanh truyền hình chủ chốt... các bạn có nhận ra những gì có thể được hoàn thành không? Giả sử đồng thời rất đông sinh viên sẵn sàng đối đầu với cảnh sát? Và đặc biệt giả sử nếu lúc đó các bạn da đen dũng cảm xuống đường?” Cô ta dừng lại một chút rồi kết luận: “Tôi nghĩ các bạn có thể thấy nước Mỹ nằm im chịu chết. Nước Mỹ có thể bị khuất phục nếu chúng ta sốt sắng hết mình.”

Laura vỗ tay và quay về phía Gretchen. “Họ giao cho cô vai trò gì trong cuộc triển khai tuyệt vời này?”

“Tôi ư?” Gretchen hỏi lại. “Đối với tôi, đó chỉ là một mớ vô nghĩa.”

“Cô nói thế là sao?” Laura kêu lên. “Chúng ta chỉ dựa vào một nhóm người theo chủ nghĩa nhân đạo hết lòng vì sự nghiệp mà đã khuất phục được nước Nga. Chắc chắn chúng ta cũng có thể làm như vậy với nước Mỹ.”

Gretchen ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi, “Nhưng nếu bà sống ở đất Tây Ban Nha này bằng nguồn tài chính nhận được từ Texas, thì tại sao bà lại ủng hộ một cuộc cách mạng sẽ lấy mất nguồn tài chính ấy?”

“Cô bạn thân mến,” Laura vừa ra hiệu mang thêm đồ uống vừa giải thích, “không người khôn ngoan nào lại để tiền bạc của mình ở Texas. Chúng tôi gửi tiền ở Thụy Sĩ.”

—★—

Mặc dù khi nói về Torremolinos tôi đề cập chủ yếu đến những bạn trẻ nhiệt thành ở vũ trường Arc de Triomphe, những kẻ xa hoa thanh nhã trong đám khách của Paxton Fell, những anh lính Mỹ ở quán Alamo và những cô gái Thụy Điển dễ thương ở khách sạn Northern Lights, không phải tôi không biết gì về thế giới ngầm hoạt động quanh năm ở đó.

Vì lý do nào đó không ai hiểu nổi, cảnh sát Tây Ban Nha - một trong những lực lượng cảnh sát cứng rắn nhất và hoạt động hiệu quả nhất châu Âu - lại cho mảnh đất du lịch này được hưởng một đặc quyền chưa từng thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên đất Tây Ban Nha. Đảng viên đảng Quốc xã tổ chức những cuộc họp long trọng, mặc dù không phải ở nơi công cộng. Pháp gian, Bỉ gian và Na Uy gian sống ở nơi nương náu an toàn. Ma túy được tuồn vào tuồn ra theo những đường dây vận chuyển chuyên nghiệp, và trong các con ngõ lúc nào cũng có thanh niên qua lại, người nào người nấy hoặc dơ dáy vô vọng hoặc thoái hóa tới vô phương cứu vớt. Họ sống trong những căn nhà tồi tàn hay ngủ vạ vật dọc bờ biển, lúc nào cũng sẵn sàng cho bất cứ hành động khác thường nào. Người Mỹ chiếm một phần đáng kể trong số dân trôi dạt đó - những cô gái thuộc các trường đại học danh tiếng và những cậu thanh niên vốn được cha mẹ tin tưởng là đang có mặt tại một trường đại học nào đó ở châu Âu - nhưng đông nhất vẫn là người Đức, Pháp và Scandinavia.

Thỉnh thoảng bọn côn đồ lại đến tác oai tác quái. Mỗi năm ở Torremolinos có khoảng bốn năm vụ giết người không tìm ra thủ phạm: thường thì nạn nhân là người thuộc thế giới ngầm. Xác một cô gái bán bar người Bỉ được phát hiện ngoài bãi biển, cổ họng bị cứa đứt, và cha mẹ cô ta ở Liège sẽ gửi điện: “Nhờ các ông chôn cất cháu và gửi hóa đơn thanh toán cho chúng tôi.” Dù sao thì từ nhiều năm rồi họ cũng coi như con gái đã chết. Nhưng thỉnh thoảng bọn du thủ du thực lại tràn vào khu định cư hoặc giết một người tử tế nào đó trọ trong khách sạn, và rồi cảnh sát sẽ cố gắng nhận diện thủ phạm, nhưng với số lượng nghi phạm khá lớn, công việc của họ thật vô vọng. Phần lớn các vụ án giết người đều thành ra không phá được.

Một buổi sáng cuối tháng Năm, nhóm bạn sống ở căn hộ của Jean-Victor đã có dịp chứng kiến thứ bạo lực này. Sau khi đóng cửa quán Alamo và ăn qua loa bữa sáng, Joe và Britta về nhà vào lúc năm giờ phát hiện ra xác một thanh niên chưa đến hai mươi tuổi nằm trên ngưỡng cửa, đầu bị một thứ vũ khí nào đó đại loại như dao rựa bổ làm đôi, đúng giữa hai mắt. Khi hai người quỳ xuống xem, tay chân anh ta vẫn còn ấm, nên họ định gọi người đến giúp, tưởng rằng nếu đưa anh ta đến bệnh viện thì may ra sẽ cứu được, nhưng rồi họ nhận ra cái đầu đã vỡ toác, Britta liền bảo, “Thôi, thế là xong,” và đi vào nhà để hỏi xem Gretchen và những người khác có nghe thấy gì không, còn Joe thì tới chỗ chiếc pop-top, nơi Yigal và Clive đang nằm cùng hai cô gái Thụy Điển, hai cô này chạy biến khi biết chuyện gì vừa xảy ra.

“Phải báo cảnh sát ngay lập tức,” Gretchen khuyên ngay khi nhìn thấy cái xác, vậy là Yigal liền chạy đi gọi. Khi cảnh sát tới, họ nhún vai và ghi vụ giết người vào cuối một danh sách dài. Họ sẵn sàng tin ngay nhóm bạn trẻ khi Monica khẳng định ba người họ đều ngủ trong nhà còn hai người trong xe cũng không nghe thấy gì. Cảnh sát hỏi liệu có khả năng cái xác bị mang từ nơi khác đến không, vậy là Britta trả lời, “Joe và tôi về đến nhà thì thấy hai người đàn ông chạy về hướng kia,” và cảnh sát nhìn về phía con phố vắng tanh vắng ngắt.

Cứ đến mùa xuân, khi cơn thác lũ thủy triều khách du lịch bắt đầu tràn tới khiến Torremolinos chật ních người đi nghỉ từ khắp mọi miền trên thế giới, cảnh sát lại bước vào giai đoạn tổng truy quét. Họ tuần tiễu khắp thành phố, bắt bất cứ người đàn ông nào để tóc kiểu Chúa Jesus, bất cứ cô gái nào trông như đã ba tháng không tắm gội.

“Biến ngay,” họ quát.

“Nhưng đi đâu...”

“Biến.”

“Chúng tôi đi đâu bây giờ?”

“Biến ngay trước khi trời tối... nếu không thì bóc lịch cả hè.”

Thế là cuộc di cư thê lương bắt đầu. Những người may mắn sẽ vượt Địa Trung Hải sang Marốc. Những người khác sẽ biến mất giữa núi rừng Tây Ban Nha và trốn kỹ cho đến tháng Chín, khi cơn thác lũ du khách rút bớt. Những người có vé máy bay sẽ đi nhờ xe ra phi trường Málaga, trông thật lôi thôi lếch thếch khi đứng cạnh đám du khách Scandinavia sạch sẽ gọn gàng đang chuẩn bị về Copenhagen. Vài người không tìm được cách nào khác, thì vào tù.

Clive là người đầu tiên trong nhóm bị cảnh sát chộp được. “Biến khỏi Tây Ban Nha trước khi trời tối,” cảnh sát hạ lệnh. Yên trí là Clive sẽ phản đối, họ gầm gừ, “Tóc tai như thế này thì anh không được đón chào đâu.”

“Được thôi! Tôi đã có vé đi Tangier.”

“Sử dụng luôn đi.” Họ xem hồ sơ thấy anh có mặt trong chiếc pop-top buổi sáng hôm xảy ra án mạng bèn nói, “Anh biết là anh vẫn bị tình nghi trong vụ án mạng đấy.” Clive giữ thái độ nghiêm trang nói anh hy vọng họ sẽ sớm bắt được thủ phạm thực sự. Họ trịnh trọng gật đầu và nhượng bộ một chút: “Anh có thể ở lại cho đến đêm mai.”

“Tôi sẽ đi,” anh hứa. Nhưng sau đó anh không kìm được phải mỉm cười nói tiếp, “Và tháng Mười tới, tôi sẽ trở lại.” Viên cảnh sát gật đầu, “Tháng Mười tới thì được.”

Tôi đi cùng các bạn trẻ khi họ ra sân bay tiễn Clive. Anh nhập bọn với những người thuộc tầng lớp hạ lưu châu Âu tóc tai bờm xờm, quần áo tả tơi. Một số kẻ bất hảo nhất bị giám sát bởi những cảnh sát có nhiệm vụ kiểm tra xem vị khách du lịch này hoặc vị khách du lịch kia có lên máy bay và ngồi lại trên đó không. Một số khác được hộ tống bởi những cô bạn gái đã sống chung với họ trong suốt mùa đông và có lẽ sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa; những cuộc ra đi như vậy thường đẫm nước mắt như mọi cuộc tiễn đưa tại bất cứ sân bay nào. Trong những tháng tới, Torremolinos sẽ yên ắng trật tự hơn hồi mùa đông, và tôi không tin là mùa đông lại dễ chịu hơn. Thế giới đã xóa sổ quá nhiều nơi vì lợi ích của khách du lịch, xây lên quá nhiều ngôi làng Potemkinp[78].

Clive tạm biệt chúng tôi mà không hề oán thán, “Tôi đã ở đây lâu hơn dự định rồi,” anh nói, mắt hướng vào Gretchen. “Chúng ta sẽ gặp nhau ở đâu đó... rồi cùng nhau nghe một vài đĩa hát mới.” Anh hôn ba thanh niên, ôm Britta và Monica rồi bắt tay Gretchen. Đến lượt tôi, anh nói, “Nếu có thể theo tôi độ một năm thì ông sẽ hiểu rõ nhạc của chúng tôi.” Anh bắt tay tôi rồi biến mất vào đám đông, một chàng thanh niên mảnh khảnh mà hành lý chỉ có độc chiếc túi du lịch màu đỏ tía và bộ đồ cạo râu.

Cả nhóm chưa chen ra được đến chỗ chiếc pop-top thì một cảnh sát viên đã chặn chúng tôi lại rồi túm tay Joe nói, “Ngày mai... biến ngay!”

“Tôi có tội gì?” Joe phản đối.

“Biến.” Chẳng thể nào chống lại, mệnh lệnh cộc lốc được đột ngột đưa ra đó chỉ vì kiểu tóc của Joe. Viên cảnh sát ghi vào sổ tay: Bar El Alamo. Fuera.

Các bạn trẻ chán nản. Không chỉ có vấn đề ai sẽ là người trông nom quán của Jean-Victor nếu Joe phải ra đi bất ngờ như vậy mà còn vấn đề anh sẽ sống ra sao, bởi anh chỉ để dành được rất ít tiền. Yigal và Cato không muốn anh đi, và Britta là người buồn nhất vì cuộc sống dễ chịu mà cô mưu cầu cho mình giờ sắp tan tành.

Cato đang im lặng lái chiếc pop-top, và mọi người chưa nghĩ ra được ý kiến hay ho nào thì Gretchen chợt bật ngón tay nghe tách một cái. Rõ ràng cô vừa nhẩm tính tiền nong, và bây giờ đã thấy hài lòng về triển vọng tài chính của mình, vì cô lên tiếng, “Tại sao tất cả chúng ta không cùng rời Torremolinos? Em nói nghiêm túc đấy. Chúng ta có thể lắp thêm hai cái giường nữa vào trong xe... Anh làm được việc này phải không, Yigal? Rồi chúng ta sẽ đi Ý.”

“Lấy tiền đâu ra?” Joe hồi.

“Em thuê anh, ngay từ bây giờ, để lái chiếc pop-top và trông nom hành lý.” Cô đặt tay lên vai anh nói, “Xin anh nhận lời. Chúng em cần anh.”

Joe giật giật bộ râu, không tìm ra cách nào hay hơn nên đành đồng ý. Vậy là Gretchen phấn khích hẳn lên. “Em biết anh Yigal và Cato nhận được tiền từ Mỹ gửi sang. Các anh nói với em thế mà. Cậu cũng có một ít, phải không Monica?” Cả ba người đều gật đầu, Gretchen liền nói tiếp, “Thế thì cả ba không còn vấn đề gì nữa.” Theo bản năng, cả bọn chúng tôi, trừ Cato, đều quay lại nhìn Britta, lúc này đang mặt đỏ bừng bừng. “Cậu thì thế nào, Britt?” Gretchen hỏi.

“Cháy túi,” Britta nói.

Mọi người im lặng một lúc cho đến khi Gretchen dịu dàng lên tiếng, “Cậu là người bạn thân nhất mà tớ có. Cậu không cháy túi đâu.”

Sau khởi đầu bốc đồng đó, sáu bạn trẻ xây dựng một chương trình cùng nhau du lịch châu Âu khá phức tạp, rồi khi chúng tôi về tới vùng ngoại ô Torremolinos, Yigal và Joe đã quyết định xong mọi thứ cần để lắp thêm hai cái giường cho chiếc pop-top, vì vậy vào đến thành phố là chúng tôi liền lái xe thẳng đến một cửa hàng cơ khí lớn gần bưu điện và mua một lô ốc vít, lò xo và dây đai bằng vải bạt.

Tôi định tạm biệt họ ở đó vì còn có hẹn với các ông chủ công ty tàu biển Hy Lạp tại một hiệu ăn Tàu, nhưng tôi vừa định đi, Joe đã ngăn lại mà nói, “Nếu Britta và tôi rời khỏi đây thì phải có người trông coi quán cho đến khi Jean-Victor về. Ông tìm hộ người thay được không, ông Fairbanks?” Nói rồi, anh tung bộ chìa khóa cho tôi.

Mặc dù không có cơ may tuyển mộ được Gretchen hay Cato nhưng Susan Eltregon lại thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp với anh binh nhì da đen; anh phải tìm gặp cô ta ở St. Louis ngay sau khi giải ngũ còn trong khi chờ đợi sẽ phân phát tài liệu về tổ chức Haymakers tại căn cứ quân sự.

Tuy vậy, thành công to lớn của cô ta là với Monica Braham. Sau khi quan sát cẩn thận, Susan đã hiểu rõ tính cách và những tiềm năng của Monica, vì vậy đêm cuối cùng trước cuộc ra đi bắt buộc, khi nhóm thanh niên bạn tôi ngồi quây quần trong quán than thở với những người bạn cũ mà họ sẽ không gặp nữa, Susan đề nghị mọi người tạt vào nhà Laura uống ly rượu chia tay. Tôi nói tôi không thể tham gia vì còn phải đi tìm người trông coi quán, và cái cớ đó không khiến Susan thất vọng.

Joe khẳng định với tôi, “Tôi đã điện sang Marốc. Jean-Victor sẽ về trong một hai ngày tới.”

“Buôn bán cần sa ư?”

“Đàn ông thì phải kiếm tiền chứ.”

“Thế còn việc của Britta? Ai thay cô ấy?”

Joe nhìn quanh, “Ai thay ư?” anh nhắc lại và vẫy cánh tay phải về phía trung tâm Torremolinos. “Ở đó chắc chắn phải có năm nghìn cô gái đang tìm việc. Chọn đại một cô.”

“Chọn thế nào?”

“Cô nào chân đẹp ấy. Đây là quán bar mà.”

Joe vừa đi khỏi, tôi liền phạm phải sai lầm tai hại là để lộ cho đám lính biết tôi có trách nhiệm tìm một cô gái bán bar đáng tin cậy, vậy là chỉ mười lăm phút sau, một hàng dài đàn bà con gái gớm ghiếc chưa từng thấy diễu qua trước mặt tôi. Gái Úc mất răng cửa, điếm Paris, thiếu nữ tóc vàng Stockholm dày dạn phong sương, các Práulein[79] một từ tiếng Anh bẻ đôi không biết. Đã có lúc tôi toan nhắc họ là tôi đang tìm người phục vụ trong quán bar chứ không phải trong lò mổ; nhưng thay vì thế tôi lại lảng tránh và nói, “Ngày mai tôi sẽ cho các cô biết kết quả.” Nhưng ngày hôm sau tôi sẽ đối phó cách nào, chính tôi cũng chưa nghĩ ra.

Tôi coi quán cho đến khoảng ba giờ sáng thì buồn ngủ không sao chịu nổi, khác hẳn với đám trẻ, nhưng số tôi là không được lên giường vì đang định khóa cửa thì Joe vừa chạy về vừa hét, “Ông Fairbanks! Chúng tôi cần ông giúp.”

“Chuyện gì thế?”

“Monica!”

“Monica làm sao?”

“Ông nhìn kìa!”

Monica đã về đến đầu ngõ, trần như nhộng, bu quanh là đám người đi chơi đêm reo hò ầm ĩ. Lẽo đẽo theo sát phía sau là Cato, chỉ mặc độc chiếc quần lót, tay cầm một cái chổi giơ cao trên đầu Monica như thể anh là một nô lệ Ai Cập đang che nắng cho cô. Cô mê muội trong cơn phê thuốc và hết quay trái lại quay phải để hôn gió như thể mình là một bậc đế vương, và ngay khi nhìn thấy cảnh tượng đám rước kinh hoàng ấy, tôi chỉ có thể nghĩ đến những phụ trương giật gân của báo Chủ nhật hồi niên thiếu ở Indiana; chính những phụ trương đó đã dạy tôi mọi kiến thức tôi có về sex. Tôi rất thích bức ảnh có hình nữ hoàng Sheba gần như lõa lồ đang tiến lại gần vua Solomon, theo hầu phía sau là các nô lệ da đen phe phẩy cành cọ - và trông Monica giống một nữ hoàng như vậy.

“Cô ấy chẳng chịu nghe gì cả,” Joe hoảng loạn nói. “Cảnh sát tóm cô ấy mất.”

Tôi chạy tới góc đường quặt vào trung tâm thành phố nơi cô ấy sắp rẽ và cũng là nơi thường có cảnh sát đứng trong các góc khuất. “Monica!” tôi hét lên.

Cô quay về phía tiếng gọi quen thuộc của tôi, nhìn tôi với đôi mắt ngơ ngơ, oai vệ gạt tôi sang bên và đi tiếp về phía cảnh sát. Tôi túm lấy Cato mà la, “Chuyện gì thế?” nhưng anh cũng không nhận ra tôi, dùng khuỷu tay huých tôi sang một bên và đi theo nữ hoàng da trắng, chỉ biết chăm chăm giữ cho cây chổi che trên đầu cô.

“Chuyện gì thế?” tôi hét gọi Joe.

“Con mụ Eltregon chết dẫm ấy,” anh quát.

Chẳng hơi đâu mà cố đoán xem ý Joe là gì, tôi lột phăng áo sơ mi chạy lên choàng vào người Monica. Đồng thời tôi lôi cô tránh xa đường cái, nhưng chưa làm được thì một viên cảnh sát đứng cách đó hai dãy nhà đã phát hiện ra cảnh lộn xộn, tuy chưa hiểu nguyên nhân. Anh ta bèn chạy về phía chúng tôi, nên tôi đành giao Monica cho Joe để anh nhấc bổng cô lên rút vào trong ngõ. Vậy là chỉ còn lại mình tôi cởi trần trùng trục đứng giữa trung tâm Torremolinos vào lúc ba giờ sáng, vì vậy tôi phải lao vào một khe hẹp gần quán bar và chờ cho đến khi viên cảnh sát chạy qua. Rồi tôi đi ra, đụng trúng một người đàn bà Mỹ với ông chồng. “Ông không xấu hổ à?” bà ta hỏi trong khi tôi nhìn quanh xem có tìm được thứ gì che tạm thay cho áo sơ mi không. “Từng này tuổi rồi cơ mà.”

Cato lò dò đi ra từ một chỗ trốn khác, và khi đuổi kịp anh, hy vọng tìm hiểu cho rõ việc gì đã xảy ra, tôi thấy anh vẫn mụ mị, đến trả lời cũng chẳng nổi chứ chưa nói đến chuyện giải thích một cách logic; song ngay lúc ấy Gretchen và Yigal đã vừa chạy tới vừa hét, “Monica đâu rồi?”

Tôi chộp lấy tay Gretchen hỏi, “Chuyện gì thế?”

“Mụ Susan Eltregon quỷ tha ma bắt ấy. Cô ta thấy cơ hội đưa Monica vào bẫy. Cung cấp cho cậu ấy ít LSD. Laura và đám khách cũng xài.”

“Joe kéo Monica đi rồi,” tôi nói.

Yigal đưa chúng tôi băng qua những ngõ hẹp tới quảng trường lớn trước bưu điện, và Joe đã đứng đó, tay giữ chặt cô nàng Monica gần như trần truồng.

Vừa gặp họ Gretchen đã nói ngay, “các anh làm gì với chiếc xe rồi?” Rõ ràng mấy người không thể trả lời một cách mạch lạc được, vì vậy cô kể với tôi, “Họ cởi quần áo tại phòng khách nhà Laura và chạy xuống bờ biển. Đám khách của Laura cho là hay ho lắm, nhưng ngay sau đó họ leo lên chiếc pop-top và phóng về phía thành phố. Cháu kêu họ dừng lại nhưng Laura nói, ‘Có chuyện gì đâu chứ?’, cháu nói, ‘Nhỡ các cậu ấy chết thì sao!’ thì bà ta nói, ‘Xe được bảo hiểm, phải không?’ Cháu cho là nó đâm vào một cột điện thoại nào đó rồi.”

Chúng tôi tìm thấy chiếc xe ở một nơi không ai nghĩ đến. Cato đã lái vào đại sảnh khách sạn Northern Lights, và ông quản lý người Thụy Điển đang giữ chìa khóa. Chúng tôi dần dần tập hợp được đầy đủ cả nhóm, nhưng sau khi mọi người đã ngồi vào xe và Gretchen thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho khách sạn xong xuôi, Cato và Monica vẫn chưa nhận thức được cả chuyện gì đã xảy ra lẫn tình trạng mà họ lâm vào.

“Thật lộng lẫy!” Monica cam đoan với tôi. “Bác nhìn thấy màu sắc... rực rỡ biết bao nhiêu... chúng phủ lên toàn thế giới.” Nói xong cô gục xuống bất tỉnh nhân sự, khiến tôi lo lắng hỏi mọi người, “Chúng ta nên làm gì bây giờ?” và Joe, vốn đã quen giải quyết nhiều vụ phê LSD ở quán, khuyên, “Đặt cô ấy lên giường đi.”

Chúng tôi làm theo, tôi hỏi Gretchen, “Sao Eltregon lại cho họ sử dụng LSD?”

“Cô ta đã biết Monica sử dụng ma túy. Cô ta cho rằng nếu tác động đến Monica thì có thể gây được ảnh hưởng lên Cato để anh gia nhập Haymakers.”

Sau khi đặt Monica và Cato lên giường, chúng tôi ngồi quây quần trong căn hộ bàn luận hai người họ suýt bị bắt như thế nào, và Gretchen nêu ý kiến, “Trước khi đi Ý, cháu nghĩ chúng cháu nên tìm một chỗ nào đó vắng vẻ, tránh xa hẳn ma túy, LSD rồi thư giãn phần nào.” Cô nhìn tôi dò hỏi như thể tôi biết một chỗ như vậy, và tôi chợt nghĩ chắc họ sẽ thích nơi vẫn được tôi coi là thanh bình và dễ chịu nhất châu Âu, một vùng đất xa xôi hẻo lánh ít người biết đến nằm ở tận cùng phía Nam Bồ Đào Nha tên gọi Algarve.

Khi tôi tả cho họ nghe về những bãi biển lộng gió, những quả đồi cây hạnh phủ kín mít và những thị trấn nhỏ bị lãng quên với các tòa lâu đài của quân Thập tự chinh - và nhất là khi tôi đề cập đến giá sinh hoạt rẻ nhất châu Âu - mắt họ mở to thích thú, thảy đều nhất trí đó chính là những gì họ đang tìm kiếm. “Algarve,” tôi nói với họ khi trời hửng sáng, “là một Torremolinos đẹp hơn, hai trăm năm về trước.” Và thế là họ quyết định đi Algarve.

Tám giờ sáng, khi Monica và Cato đã thoát khỏi ảnh hưởng của LSD, sáu bạn trẻ leo lên chiếc pop-top màu vàng. Joe ngồi trước tay lái vì lúc này anh đã là tài xế chính thức, còn những người khác thì ngồi thu lu trong những tư thế sáng tạo khác nhau. Hai cái giường gắn sẵn trong xe được xếp lại cho gọn, trong khi hai cái bổ sung thì được cột chặt lên trần bằng dây thừng và ròng rọc. Ngắm kỹ mọi đồ lề - sách vở, đồ hộp Tây Ban Nha, chai rượu - tôi ngờ rằng đến cả một chú mèo con cũng chưa chắc đã len nổi vào xe. Joe bấm còi. Gretchen nghiêng mình ra ngoài cửa sổ hét tạm biệt những người láng giềng đã đối xử tử tế với cô, cả các bà đứng tuổi đứng trên ngưỡng của vẫy chào từ biệt.

Trên đỉnh đồi, một viên cảnh sát ngăn chiếc pop-top lại kiểm tra xem có phải Joe và bộ râu theo kiểu Chúa Jesus của anh đang rời thành phố không, rồi phẩy tay cho phép đi.

• Chú thích •

[63] Les Pêcheurs de perles: Những người thợ mò ngọc trai (tiếng Pháp).

[64] Tiếng kêu từ đáy lòng (tiếng Pháp).

[65] Niềm vui sống (tiếng Pháp).

[66] Lâu đài (tiếng Pháp).

[67] Ông biết ư? (tiếng Pháp).

[68] Phim hay nhất thế giới, theo ý tôi... Cảnh tuyệt hay trong đêm tối giữa ba người tình (tiếng Pháp).

[69] Tôi đã thấy. Tôi đã mua. Tôi đã nghĩ.

[70] Lysergic acid diethylamie, một loại ma túy rất mạnh, gây ảo giác.

[71] Những tên cướp nhà băng nổi tiếng ở Mỹ đầu thế kỷ 20.

[72] I Get All Hung Up: Tôi hoãn (gác) tất cả lại.

[73] Guardia Clvil: Cảnh sát Tây Ban Nha. (tiếng BĐN)

[74] Người thổi sáo thành Hamelin: Một nhạc sĩ thổi kèn túi dụ lũ chuột ra sông để giúp người dân thành phố Hamelin (ở tây-bắc nước Đức) trừ diệt nạn chuột hoành hành nhưng vì không được trả công nên anh ta đã dụ trẻ con lên núi cho chúng biến mất (truyền thuyết).

[75] Món ăn cao cấp (tiếng Pháp).

[76] Haymaker: Người (hay máy) cắt và phơi cỏ, cú đấm choáng váng.

[77] Aleksandr F. Kerensky: (1881-1970) Lãnh tụ cách mạng Nga, thủ tướng Nga từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1917, bị Cách mạng tháng Mười lật đổ, sống ở Mỹ từ 1940.

[78] G.A. Potemkin (1739-1991): Đại nguyên soái người Nga được Catherine II sủng ái, đã cho dựng lên một ngôi làng giả để lập công với Nữ hoàng.

[79] Tiếng Đức, chỉ các thiếu nữ.

« Lùi
Tiến »