Sự Suy Tàn Của Quyền Lực

Lượt đọc: 594 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG BẢY
thế giới sẽ là của ai?

Sự Phủ Quyết, Sự Chống Đối Và Rò Rỉ Thông Tin

- Hay Tại Sao Địa Chính Trị Đang Bị Đảo Lộn

Ngày 28 tháng 3 năm 2012, một sự kiện quan trọng không được chú ý xảy ra. Theo tính toán của Bộ Tài chính Úc, ngày hôm đó tổng quy mô của các nền kinh tế kém phát triển hơn đã vượt qua tổng quy mô của thế giới giàu có. Ngày hôm đó là một bước tiến gần tới điều mà nhà báo xã luận Peter Hartcher mô tả là “một chệch hướng đã kéo dài một thế kỷ rưỡi qua... [khi] Trung Quốc còn là nền kinh tế lớn nhất thế giới cho tới năm 1840”. Ông tiếp tục bằng cách trích dẫn Ken Courtis, một nhà quan sát các nền kinh tế châu Á nổi tiếng: “Người Trung Quốc nhìn vào điều đó và họ nói, “Chúng ta vừa có vài thế kỷ tồi tệ.. Trong nháy mắt của một thế hệ, quyền lực toàn cầu đã chuyển đổi. Theo thời gian, điều này sẽ không chỉ là sự chuyển đổi về kinh tế và tài chính, mà còn cả sự chuyển đổi về chính trị, văn hóa và ý thức hệ nữa”. [1]

Liệu có đúng thế không? Những bình luận của độc giả với bài xã luận của Hartcher mang tới sự tổng hợp đầy gợi mở về một cuộc tranh luận đã làm bận lòng các học giả và những nhà hoạch định chính sách khắp mọi nơi: Những quốc gia nào sẽ nắm quyền kiểm soát trong những năm sắp tới? Derek từ Canberra viết: “Tôi không nghĩ chúng ta phải lo lắng nhiều về vài thập kỷ tới. Trên lý thuyết Trung Quốc và Ấn Độ là những cường quốc, nhưng hầu hết công dân của họ thậm chí không được tiếp cận với nước sạch hay điện”. “Barfiller” bổ sung: “Đừng quên những mối lo khác của ‘nền kinh tế mới nổi’: xung đột biên giới; quyền về nước và tài nguyên; bảo hộ sáng chế phát minh và bản quyền trí tuệ; những khác biệt sắc tộc, tôn giáo và ý thức hệ; sự đa dạng văn hóa; những tranh luận và các cuộc chiến tranh mang tính lịch sử; vân vân và vân vân. Sẽ không chỉ có sự ngọt ngào và ánh sáng cho các quốc gia mới phát triển”. David từ Vermont lưu ý rằng cần phải tính tới sự phân chia của cải trong dân số các nước này. Sự khác biệt giữa “sự giàu có” của một người Trung Quốc trung bình và người đồng chí đặc quyền đặc lợi của họ trong đảng, theo ý tôi, là một khoảng cách không thể lấp đầy (giống như ở Ấn Độ)". “Caledonia”, viết từ Sydney, còn lo lắng hơn: “À, nếu nền kinh tế Trung Quốc đổ vỡ bạn sẽ thấy mình đứng trong hàng dài những người thất nghiệp và sẽ cảm thấy may mắn nếu có việc làm lau dọn nhà vệ sinh. Nếu Trung Quốc hắt hơi, Úc sẽ bị cảm cúm. Nếu Trung Quốc cảm cúm, Úc sẽ bị viêm phổi”. [2] Ẩn chứa trong những bình luận này là các giả định nền tảng về điều khiến một quốc gia hùng mạnh, đủ hùng mạnh để khiến nó là một siêu cường - một quốc gia với năng lực áp đặt ý chí của nó lên những nước khác. Và như chương này sẽ cho thấy, không chỉ các nhân tố định nghĩa một siêu cường đã thay đổi, mà việc đạt được và sử dụng quyền lực trong hệ thống quốc tế cũng đang trải qua những chuyển biến sâu sắc.

Trong hàng thế kỷ, việc xử lý mối thù địch giữa các quốc gia và giành giật lãnh thổ, tài nguyên và ảnh hưởng đã là sứ mệnh cao quý của các viên tướng và những ngài đại sứ. Suốt thế kỷ XIX và XX, những người đại diện của cái gọi là Các cường quốc đã sử dụng sức mạnh quân sự và ảnh hưởng kinh tế của riêng nước họ để chiến thắng các cuộc chiến tranh, kiểm soát các liên minh, đảm bảo an ninh cho các tuyến đường thương mại và lãnh thổ, thiết lập luật lệ cho phần còn lại của thế giới. Sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, những thực thể còn ấn tượng hơn, các siêu cường, leo lên trên đỉnh nhóm này. Và bình minh của thế kỷ XXI, với việc Liên Xô bị đưa vào sách giáo khoa lịch sử, chứng kiến một tay chơi áp đảo: một siêu cường duy nhất, nước Mỹ. Lần đầu tiên trong lịch sử, nhiều người cho rằng, cuộc đấu tranh quyền lực giữa các quốc gia đã đưa tới một kẻ chiến thắng duy nhất, rõ ràng và thậm chí có thể là cuối cùng.

Xem xét bằng chứng từ WikiLeaks, vốn tiết lộ số lượng khổng lồ hơn 250.000 công hàm ngoại giao của Mỹ, như Julian Assange, nhà lãnh đạo tổ chức này đã nói một cách rất thú vị, “cho thấy quy mô của việc Mỹ tiến hành hoạt động gián điệp với các đồng minh và Liên Hiệp Quốc; nhắm mắt làm ngơ với tham nhũng và sự vi phạm nhân quyền ở ‘các quốc gia chư hầu’; những thỏa thuận ngầm với các quốc gia lẽ ra được coi là trung lập; vận động hành lang cho các tập đoàn Mỹ; và các biện pháp những nhà ngoại giao Mỹ thực hiện để thúc đẩy lợi ích của những người tiếp cận được họ” [3] .

Phản ứng của các nhà phân tích giàu kinh nghiệm như Jessica Mathews, Chủ tịch Quỹ Camegie ở Washington, là điều đó không có gì đáng ngạc nhiên: “Đây chính xác là điều mà một siêu cường luôn là. Đây là cách những quốc gia thống trị hành xử trên thực tế”, bà nhận xét ráo hoảnh [4] .

Điều mà nhiều công hàm cũng cho thấy là một siêu cường vật lộn để khiến thu xếp mọi việc, bị ngăn trở bởi những hệ thống quan liêu, các chính trị gia, các tổ chức phi chính phủ và các công dân bình thường của các quốc gia khác. Đào sâu vào những công hàm trong một tháng cụ thể bất kỳ và bạn có thể thấy:

✔ Mỹ đang siết chặt tay lo lắng khi Nghị viện Châu Âu chuẩn bị bỏ phiếu bác bỏ các biện pháp riêng nhằm theo dõi tài chính của những kẻ khủng bố và cung cấp hồ sơ tên tuổi của khách đi máy bay

✔ Duma* Nga đang siết chặt các công ty thẻ tín dụng Mỹ nhằm loại họ ra khỏi quy trình thanh toán ở nước này, trừ khi họ chịu gia nhập một hệ thông thẻ thanh toán quốc gia của Nga sẽ làm giảm mạnh doanh thu của họ

Duma: Hạ viện của Quốc hội Liên bang.

✔ Một cuộc chiến kéo dài để lôi kéo chính quyền Turkmenistan khôi phục lại quyền hạ cánh cho các máy bay quân sự Mỹ

✔ Sự thất vọng với việc chính quyền Kazakhstan từ chối miễn giảm thuế địa phương cho các thiết bị và nhân sự để bảo vệ nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng - một nỗ lực chiến lược cực kỳ quan trọng

Ngay cả các quốc gia trên lý thuyết bị Mỹ áp chế cũng rất khó tuân lời. Ai Cập, nước nhận hàng tỉ đô-la viện trợ quân sự và kinh tế, bỏ tù những nhân viên cấp cao của một tổ chức phi chính phủ Mỹ. Pakistan dành chỗ trú ẩn cho những kẻ khủng bố Taliban và AI Qaeda, bao gồm Osama bin Laden. Israel bác bỏ các yêu cầu của Mỹ về việc không xây những khu định cư ở vùng lãnh thổ tranh chấp. Afghanistan, một chính quyền dựa vào viện trợ từ Mỹ và các đồng minh ở một mức độ cực kỳ lớn cho ngân sách quốc gia, bất đồng với Mỹ trong việc hành xử ở cuộc chiến trên lãnh thổ nước này. Và Washington hoang mang trước khả năng rằng bất chấp những cảnh báo mạnh mẽ của họ, Israel vẫn có thể đơn phương ném bom các cơ sở hạt nhân của Iran. Như Zbigniew Brzezinski, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ từng nói với tôi, thế giới đã buớc vào một “thời đại hậu siêu cường” khi “không quốc gia nào có năng lực áp đặt ý chí lên các nước khác một cách đáng kể hay lâu dài”. [5]

Điều đã xảy ra với sự thống trị của Mỹ là chủ đề tranh luận không hồi kết. Trí tuệ thông thường đã lung lay dữ dội truớc hết sự kiện không ngờ tới này tới sự kiện không ngờ tới khác. Đầu tiên, sự kết thúc đột ngột của Chiến tranh Lạnh và chiến thắng ý thức hệ mà nó đánh dấu, kết hợp với sự tăng trưởng kinh tế của Mỹ cùng sự bùng nổ thông tin liên lạc và công nghệ trong những năm 1990, có vẻ như báo truớc một thế giới đơn cực mới, thế giới mà trong đó một siêu cường duy nhất có thể ngăn chặn mọi tham vọng trở thành siêu cường của tất cả đối thủ cạnh tranh đáng kể. Nhưng rồi những vụ tấn công 11 tháng 9, chủ nghĩa đơn phương của chính quyền Bush, thâm hụt ngân sách lớn trở lại và sự tăng trưởng liên tục của Trung Quốc đã làm thay đổi bức tranh. Kết quả là, quan điểm về sự suy giảm quyền lực của Mỹ được tiếp thêm động lực. Những lời nhắc nhở rằng các đế chế trong suốt lịch sử luôn đi tới kết thúc được ghi lại trong những tựa sách như Are We Rome ? (tạm dịch: Liệu Chúng Ta Có Giống Đế Chế La Mã?) của Cullen Murphy, xuất bản năm 2007 [6] .

Chiến thắng bất ngờ của Barack Obama cũng khiến cuộc tranh luận đó phải tạm dừng. Bỗng nhiên, sự khả tín về mặt đạo đức của nuớc Mỹ trên thế giới được làm mới lại, cùng với nó là sự hấp dẫn của “quyền lực mềm” chỉ vài năm truớc tưởng như đang suy giảm nhanh chóng. Nhưng lợi ích còn sót lại từ sức hấp dân toàn cầu của ông Obama, tới lượt nó, bị hủy hoại bởi cuộc khủng hoảng tài chính đang diễn ra, cán cân ngân sách thâm hụt sâu và kéo dài cùng sự sa lầy hút cạn năng lượng nuớc Mỹ ở Iraq và Afghanistan. Trong bài phát biểu Thông điệp Liên bang năm 2012, ông Obama biện minh rằng “bất kỳ ai nói với bạn rằng nuớc Mỹ đang suy sụp... không biết họ nói gì”. Cuộc tranh luận về vị thế toàn cầu của nước Mỹ tiếp tục, được thúc đây bởi những dòng tít và thống kê kinh tế cũng nhiều như bởi những học thuyết thông thái về quan hệ quốc tế hay sự so sánh lịch sử với trật tự thế giới trong các thế kỷ trước.

Nhưng đúng lúc quyền lực của Mỹ có vẻ như lung lay, thì điều tương tự cũng đúng với những kẻ cạnh tranh của nó. Bên kia Đại Tây Dương, Liên minh Châu Âu - một dự án tham vọng mà nhiều người tin rằng sẽ hình thành một đối trọng với Mỹ - bị sa lầy trong cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ, tan nát vì khả năng quản trị nhà nước nặng nề, chững lại bởi dân số già cỗi và làn sóng lớn những người nhập cư mà châu lục này không biết nên hấp thu như thế nào. Nga, đối thủ cũ và quốc gia thừa kế những nguồn lực và năng lực quân sự của Liên Xô, là một xã hội đang lão hóa khác, một nhà nước toàn trị làm giàu dựa trên dầu mỏ đang chật vật kiểm soát sự bất đồng âm ỉ trong dân chúng. Hai thập kỷ của chủ nghĩa tư bản thân hữu hậu cộng sản, sự can thiệp mạnh tay của nhà nước, tình trạng tội phạm công khai đã thay đổi quốc gia vĩ đại này thành một con quái vật quá phức tạp và bước đi khập khiễng, dù nó vẫn sở hữu kho đạn hạt nhân, nhưng chỉ còn là cái bóng mờ nhạt của siêu cường tiền nhiệm.

Như đã ghi nhận, cuộc tìm kiếm bằng chứng cho một siêu cường đang lên đưa ra một câu trả lời dễ dàng: sức sống nằm ở phương đông. Thật vậy, theo Global Language Monitor, tổ chức theo dõi các nguồn tin truyền thông hàng đầu trên thế giới, “sự nổi lên của Trung Quốc” là câu chuyện tin tức được đọc nhiều nhất trong thế kỷ XXI [7] . Nền kinh tế Trung Quốc vượt lên trên cuộc suy thoái toàn cầu. Năng lực quân sự và sức mạnh ngoại giao của họ tiếp tục mở rộng. Kể từ giữa những năm 1990, các nền kinh tế châu Á đã tăng trưởng với tốc độ gấp đôi những nền kinh tế Mỹ và châu Âu. Nhìn về phía trước, các chuyên gia chỉ nhận định khác nhau về việc khi nào thì nền kinh tế phương Tây sẽ bị vượt mặt hoàn toàn. Một tiên đoán ước tính là rất sớm, ngay từ năm 2020, nền kinh tế châu Á sẽ lớn hơn của Mỹ và châu Âu cộng lại. Một tiên đoán khác cho rằng riêng Trung Quốc sẽ vượt xa Mỹ vào năm 2050, đánh giá theo sức mua, kinh tế Trung Quốc tới giữa thế kỷ này sẽ đạt gần gấp đôi kinh tế Mỹ, Ấn Độ theo ngay sau đó và châu Âu sẽ đứng thứ ba [8] . Ở Washington, những tiên đoán như thế được nêu ra với sự lo lắng và báo động. Ở Bắc Kinh, chúng tràn ngập chủ nghĩa chiến thắng. Và như chúng ta đã thấy ở trên, những người Úc cũng tham gia vào cuộc tranh luận tích cực như bất kỳ ai - và cũng bị chia rẽ như thế.

Trong sự bừng tỉnh của Trung Quốc, còn có một đối thủ đáng kể khác. Ở Ấn Độ, tốc độ tăng trưởng nhanh, việc được chấp nhận vào câu lạc bộ vũ khí hạt nhân mà không gặp phải sự chống đối nào, sự bùng nổ công nghệ và thuê ngoài đã nuôi dưỡng những kỳ vọng về vị thế siêu cường. Brazil, một nước lớn với chính sách ngoại giao tích cực và giờ, sau khi thay thế Anh, là nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới [9] , cũng đã vươn lên tầm mức toàn cầu, tạo thành nhóm BRICS (Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi) gồm các cường quốc mới nổi. Mỗi nước có tầm ảnh hưởng khu vực riêng và vai trò như một mỏ neo, quốc gia trung gian, người động viên và đôi khi, kẻ bắt nạt các nước nhỏ hơn xung quanh. Hơn thế, mỗi nước đều phản kháng lại và lấn chiếm những đặc quyền tối hậu của siêu cường, dù là trong các thỏa thuận song phương với Mỹ hay ở Liên Hiệp Quốc và trong nhiều diễn đàn đa phương đa dạng khác.

Liệu hành vi của các nước này có cho thấy mối đe dọa với sự ổn định của trật tự thế giới mà nước Mỹ phải ngăn chặn và răn đe? Liệu họ chỉ tìm cách tối đa hóa lợi ích tới từ trật tự quốc tế do Mỹ làm chủ và không có ý định đảo lộn nó? Liệu sự nổi lên của họ có báo hiệu việc chia cắt sâu sắc hơn một hệ thống đơn cực xung quanh Mỹ, sự trỗi dậy từ sớm của một đối thủ lớn đầy thù địch như Trung Quốc, hay sự chuyển đổi sang một trật tự đa cực trong đó Mỹ chỉ là một trong một nhóm ngày càng lớn mạnh - bao gồm những đối tác, địch thủ và quốc gia ngang hàng? Và điều gì xảy ra nếu tất cả hay một số nước BRICS chỉ được tận hưởng uy tín tạm thời và sẽ sớm chìm trong những vấn đề tới từ các nước nghèo vẫn còn đầy sự bất cân xứng về chính trị, kinh tế, xã hội và sinh thái? Thật vậy, sau sự tăng trưởng nhanh chóng của họ, các nền kinh tế BRICS và những siêu sao khác của các thị trường mới nổi đang bắt đầu chậm lại, một thực tế có thể nuôi dưỡng sự bất đồng chính trị âm ỉ luôn tồn tại ở các xã hội thay đổi nhanh chóng. Từng quan điểm trong số này đều có những người ủng hộ đưa ra các diễn giải về việc quốc gia của mình phải làm gì để thúc đẩy lợi ích của chính nó và nếu có thể, giúp bảo vệ hòa bình thế giới.

Trong những trang tiếp theo, chúng ta sẽ nhìn vào lý do câu hỏi về siêu cường lại khiến các nhà tư duy quân sự và chính sách đối ngoại ưu tư nhiều như vậy, và tại sao sự chuyển đổi quyền lực trong những quốc gia lớn trên thế giới lại có tác động đến tất cả mọi người, vượt xa ngoài sự tập trung nông cạn vào việc ai có GDP, quân đội hay bộ huy chương vàng ở các kỳ Thế vận hội nhiều nhất. Nhưng chương này là về một câu chuyện ẩn - một câu chuyện bị bỏ qua quá thường xuyên bởi những người đang tranh luận và theo dõi vận mệnh của các quốc gia. Không quốc gia nào, dù đang ở trên đỉnh hay đang nỗ lực vươn lên đó, hoặc một quốc gia có vẻ đang mắc kẹt dưới đáy, miễn nhiễm với những ảnh hưởng của cuộc cách mạng Nhiều Hơn, Di Động và Tinh Thần lẫn sự suy tàn của quyền lực đi cùng với chúng. Sự tăng trưởng cực nhanh của sản lượng và dân số, sự cơ động chưa từng có tiền lệ của hàng hóa, ý tưởng và con người cùng sự nổi lên kèm theo của những kỳ vọng trong dân chúng đang làm xói mòn những rào cản với sự vươn lên của quyền lực - một thực tế chuẩn xác với tất cả các nước bất kể quy mô, mức độ thu nhập, hệ thống chính trị hay lực lượng quân sự.

Khi những rào cản đó rơi xuống, chúng xóa bỏ sự khác biệt giữa các quốc gia tinh hoa có thể chơi trò chính trị quyền lực và các nước cựu thuộc địa, các quốc gia chư hầu và những thực thể xa xôi bên lề mà các siêu cường từng cai trị hoặc phớt lờ. Trong khi những hệ thống tình báo tinh vi và đắt đỏ một thời từng giúp cho số ít quốc gia có lợi thế về thông tin, giờ dữ liệu có sẵn cùng nguồn lực trên mạng đang giúp những kẻ nhỏ bé cạnh tranh. Trong khi hàng tỉ đô-la ngân sách viện trợ một thời từng thiết lập được các chế độ thiện chí và trung thành trong phạm vi ảnh hưởng của một cường quốc, giờ các nguồn viện trợ từ nước ngoài đã tăng lên nhiều lần, từ những nước nhỏ làm tốt hơn khả năng của mình cho tới những quỹ mà số tiền tài trợ vượt qua GDP của các nước khác. Trong khi Hollywood và Quốc tế Cộng sản một thời từng cho thấy sức lôi cuốn văn hóa mạnh mẽ, giờ các xã hội Nho giáo, điện ảnh Bollywood và phim truyền hình dài tập Colombia giành được trái tim và tâm trí của mọi người.

Năng lực ngày càng tăng của các nước nhỏ sẽ chống lại sự định đoạt từ các nước lớn là một phần của sự chuyển đổi tổng thể đã trao quyền cho nhiều các nhân tố hơn trong các vấn đề quốc tế. Những tổ chức như AI Qaeda, Quỹ Gates và AI Jazeera có nghị trình riêng nhìn chung không gắn kết với bất cứ quốc gia cụ thể nào. Những kẻ khủng bố, quân nổi dậy, những tổ chức phi chính phủ, những hiệp hội người nhập cư, những người làm từ thiện, các công ty tư nhân, những nhà đầu tư và tài chính, những công ty truyền thông, các giáo hội toàn cầu mới không chỉ khiến quân đội và những ngài đại sứ trở nên lỗi thời. Chúng còn giới hạn điều quân đội và những ngài đại sứ có thể làm và gây ảnh hưởng tới nghị trình quốc tế thông qua những kênh và phương tiện mới. Hãy nhìn vào Kony 2012, một đoạn video do một nhà hoạt động Thiên Chúa giáo và đạo diễn phim tên Jason Russell tạo ra nhằm hối thúc việc bắt giữ tên tội phạm chiến tranh đã bị truy tố Joseph Kony. Trong vài tuần sau khi nó ra mắt trên YouTube (không phải thông qua một công ty truyền hình có vị thế lớn), nó đã thu hút hàng chục triệu người xem, cũng như những khoản tài trợ, sự ủng hộ từ những người nổi tiếng và những lời kêu gọi hành động - chưa kể tới các tiếng kêu giận dữ từ một số người Uganda phẫn nộ vì cách bộ phim mô tả đất nước họ. Tất nhiên việc buôn bán vũ khí, các chương trình viện trợ quốc gia, mối đe dọa xâm lược hay lệnh cấm vận thương mại vẫn tác động hơn trong việc định hình quan hệ quốc tế. Không phải mọi nước nhỏ đều xoay xở khai thác được những cách mới để vươn tới quyền lực, nhưng nhiều nước đã làm được.

Khi Mỹ, Trung Quốc, Nga và các cường quốc địch thủ khác định vị họ trong cuộc cạnh tranh quân sự và thương mại, họ cũng phải tính tới ảnh hưởng của chủ nghĩa tích cực mới này trong nền chính trị, kinh tế và văn hóa nội địa của họ. Và như được ghi nhận ở chương trước, sự suy tàn của quyền lực đã làm thay đổi đáng kể tính chất của xung đột toàn cầu. Ảnh hưởng mang tính chuyển đổi của chúng tới việc các quốc gia quan hệ với nhau trong ứng xử ngoại giao hàng ngày - mạng lưới những mối quan hệ đang định hình cuộc sống của chúng ta và kết nối trật tự thế giới với nhau - không hề kém phần sâu sắc. Để tiên liệu ảnh hưởng của nó, chúng ta nên nhìn vào lý do tại sao vị thế siêu cường và Trò Chơi Lớn có vai trò quan trọng như thế ngay từ đầu.

PHẦN THƯỞNG CỦA QUYỀN LỰC SIÊU CƯỜNG

Bất cứ khi nào nền chính trị toàn cầu trải qua sự thay đổi lớn, bóng ma của xung đột và sự hỗn loạn lại ngóc cái đầu đáng sợ của nó lên. Thật vậy, khi thứ bậc của các cường quốc lớn thay đổi, rủi ro không chỉ là với uy tín, mà với cả sự ổn định và thậm chí, sự sống còn của chính hệ thống quốc tế.

Khi các nhà nước tìm cách thúc đẩy lợi ích quốc gia của mình, họ sẽ không tránh khỏi sự va chạm với lợi ích của các nước khác. Sự va chạm có thể là về lãnh thổ, tài nguyên thiên nhiên, sự tiếp cận nguồn nước hay không khí sạch, đường hàng hải, luật lệ quản lý sự di chuyển của con người, việc che chở cho những nhóm thù địch hay nhiều chủ đề đáng quan tâm khác. Và sự xung đột lợi ích đó có khuynh hướng dẫn tới những cuộc chiến tranh biên giới, chiến tranh ủy nhiệm*, tranh chấp lãnh thổ, các cuộc nổi loạn, những chiến dịch mật vụ hiểm độc, sự can thiệp nhân đạo, hành động vi phạm nhân quyền của các nhà nước bạo tàn và việc giành giật quyền lực đủ kiểu. Lịch sử nêu ra những bài học mạnh mẽ về điều sẽ xảy ra khi các cường quốc khu vực không thể ngăn chặn hay khoanh vùng những cuộc xung đột như thế. Trong hàng thế kỷ, từ Chiến tranh Ba mươi năm tới những cuộc chiến tranh Napoleon, rồi tới Chiến tranh Thế giới Thứ nhất và Thứ hai, phạm vi và quy mô của chiến tranh đã ngày càng trở nên đẫm máu và rộng lớn.

Chiến tranh ủy nhiệm (Proxy war): Cuộc xung đột giữa hai quốc gia không tham chiến trực tiếp với nhau. Thay vào đó, mồi nước sử dụng bên thứ ba, có thể là quốc gia đồng minh hay lực lượng đối địch của nước kia, để tấn công lợi ích và lãnh thổ của đối phương.

Từ năm 1945, nhiều cuộc xung đột có sức tàn phá lớn đã gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng mà không cần mở rộng thành chiến tranh thế giới tổng lực. Tại sao lại có giai đoạn hòa bình chưa từng có tiền lệ trên toàn cầu này? Yếu tố chủ chốt cho câu trả lời là quyền lực áp đảo của siêu cường. Trong sáu thập kỷ, các nước không phải nghi ngờ mình ở đâu trong hệ thống thứ bậc các quốc gia và những lằn ranh nào mà mình không được phép vượt qua. Trong hệ thống hai cực của Chiến tranh Lạnh, hầu hết phần còn lại của thế giới ít nhiều rơi vào vòng ảnh hưởng của Mỹ hoặc Liên Xô, và những nước còn lại biết tốt hơn là không nên thách thức trật tự chung này. Một khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, một nước là Mỹ đã phủ bóng lên tất cả những nước khác về sức mạnh quân sự và kinh tế cũng như ảnh hưởng văn hóa.

Học thuyết ổn định nhờ siêu cường, được phát triển vào những năm 1970 bởi giáo sư MIT Charles Kindleberger, là nền tảng của, ít nhiều rõ ràng, phần lớn cuộc tranh luận ngày nay. Quan điểm trung tâm của nó là một siêu cường áp đảo - có cả năng lực và lợi ích độc nhất vô nhị để đảm bảo trật tự thế giới - là liều thuốc tốt nhất cho sự hỗn loạn đắt giá và nguy hiểm ở tầm quốc tế. Nếu không có quyền lực độc đoán đó, lý thuyết này nói, cách duy nhất để mang lại hòa bình và ổn định là qua một hệ thống luật lệ - những quy tắc, luật pháp và định chế mà mọi nước đều đồng ý chịu sự ràng buộc để đổi lấy lợi ích của hòa bình và ổn định. Không cần phải nói, đây là một sự thay thế phức tạp, dù nó có cao quý ra sao, và hệ thống siêu cường áp đảo có khuynh hướng mang lại điều tốt đẹp đó một cách hiệu quả hơn [10] .

Viết về thế giới giữa các cuộc chiến, Kindleberger lập luận rằng hỗn loạn kinh tế và chính trị của thời đại bấy giờ - sự sụp đổ của bản vị vàng, cuộc Đại Suy thoái, bất ổn ở châu Âu và mối đe dọa phát xít nổi lên - cho thấy thất bại của hệ thống siêu cường áp đảo. Sự sẵn sàng và khả năng của Vương quốc Anh trong việc triển khai các lực lượng và chi tiền để duy trì sự thống trị của họ đang suy yếu, ứng viên đáng kể duy nhất để bước vào vai trò đó, Mỹ, bị khóa chặt trong một vị thế bị cô lập. Sự thiếu vắng siêu cường giúp ổn định cục diện - một quốc gia với cả khả năng và ý chí chính trị sử dụng quyền lực của nó để duy trì trật tự - góp phần vào sự lan ra của suy thoái và rốt cuộc là dẫn tới Chiến tranh Thế giới Thứ hai.

Những sử gia sử dụng vô số các phương pháp đo đạc để ước tính quyền lực quốc gia, từ dân số và sản lượng kinh tế tới chi tiêu quân sự và năng lực công nghiệp, đã xác định được những thời điểm khi sự áp đảo thuần túy của một nước – tức về cơ bản, khoảng cách giữa nước đó và tất cả những nước khác - là rõ ràng nhất. Anh trong những năm 1860 và Mỹ ngay sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, từ 1945 tới 1955, là hai trường hợp “phản ánh sự tập trung lớn nhất của quyền lực trong quốc gia lãnh đạo hệ thống”, theo học giả William Wohlforth, người đi sâu phân tích những dữ liệu này. Nhưng cả hai đều không là gì so với nước Mỹ sau Chiến tranh Lạnh. “Mỹ là quốc gia lãnh đạo đầu tiên trong lịch sử quốc tế hiện đại với ưu thế vượt trội trong tất cả các yếu tố nền tảng của quyền lực: kinh tế, quân sự, công nghệ và địa chính trị”, Wohlforth viết năm 1999. Ông lập luận - một quan điểm được nhiều nhà phân tích khác đồng tình - rằng sự nổi lên của nước Mỹ như một cường quốc áp đảo hoàn toàn, mà không có kẻ cạnh tranh đáng kể nào ở khắp các lĩnh vực khác nhau trong quan hệ quốc tế, đã thiết lập một thế giới đơn cực. Điều này hoàn toàn là một hình mẫu mới trong lịch sử thế giới, có những yếu tố không chỉ mang lại hòa bình và ổn định toàn cầu mà còn duy trì điều đó qua thời gian [11] .

NHỮNG YẾU TỐ MỚI

Chính thành công của Mỹ trong việc mang tới cho thế giới sự ổn định của một siêu cường đã giúp đem đến hai chiều kích mới của quyền lực trong hệ thống thế giói. Một là “quyền lực mềm” - ý tưởng rằng quyền lực nhà nước có thể bộc lộ và áp đặt thông qua sức hấp dẫn của văn hóa và tư tưởng của nó. Chiều kích kia là sự phát tán phi thường những tổ chức, hiệp ước, luật pháp quốc tế và công ước mà ngày càng nhiều nước ký trong nửa sau của thế kỷ XX. Khung thể chế ngày càng lớn này tạo ra một hệ thống hợp tác toàn cầu với nhiều bên tham gia hơn, bao phủ nhiều chủ đề hơn hẳn so với dự đoán.

Quyền lực mềm có những tiền lệ hợp lý thô sơ hơn ở thời đại chủ nghĩa đế quốc, dù là đế quốc La Mã, Anh hay Pháp - dưới dạng sứ mệnh khai hóa nhắm tới việc giáo huấn những quốc gia thuộc địa đến với hào quang của văn minh phương Tây, thông qua sự lôi kéo nhờ lợi lộc hay vẻ ngoài lộng lẫy, hay việc tạo ra những bộ khung giáo dục, xã hội và văn hóa. Phiên bản hiện đại tử tế hơn, mềm mỏng hơn và bình đẳng hơn được nêu ra bởi nhà khoa học chính trị Joseph Nye - sau này là quan chức cấp cao trong chính quyền Clinton - trong một cuốn sách năm 1990 tựa đề Bound to Lead: The Changing Nature of American Power (tạm dịch: Sinh Ra Để Lãnh Đạo: Bản Chất Đang Thay Đổi Của Quyền Lực Mỹ). Khái niệm này ăn sâu bén rễ và Nye mở rộng nó trong một cuốn sách năm 2004 với tên gọi Soft Power (tạm dịch: Quyền Lực Mềm). Nhưng phần phụ chú tựa sách đã nêu rõ ý đồ thực sự: The Means to Success in World Politics (tạm dịch: Phương Thức Thành Công Trong Giới Chính Trị) [12] .

Quyền lực mềm theo tầm nhìn của Nye là một kiểu quyền lực khó đo đếm nhưng dễ phát hiện: quyền lực của danh tiếng và sự tôn trọng, của thiện chí tỏa ra bởi những định chế được tôn kính, một nền kinh tế đáng thèm muốn để hợp tác và trao đổi thương mại cùng, một nền văn hóa hấp dẫn. Hình thức quyền lực này có thể khó định lượng hơn số máy bay chiến đấu, số sư đoàn bộ binh hay số tỉ thùng dự trữ dầu, nhưng giá trị của nó không vì thế mà kém rõ ràng hơn. Trong những năm 1990, chắc chắn Thung lũng Silicon và Hollywood đã tăng cường quyền lực mềm cho nước Mỹ bằng cách thúc đẩy sự sáng tạo công nghệ toàn cầu và phát tán những sản phẩm giải trí gắn với văn hóa Mỹ. Quyền lực mềm không chỉ là độc nhất vô nhị với nước Mỹ, nhưng vào giữa những năm 1990, Mỹ áp đảo trong lĩnh vực quyền lực mới cực kỳ quan trọng này cũng toàn diện như trong các lĩnh vực truyền thống.

Thế giới cũng tận hưởng mức độ hợp tác quốc tế cao nhất trong lịch sử. Bắt đầu từ việc thành lập Liên Hiệp Quốc năm 1945, các chính phủ đã đầu tư ngày càng đều đặn vào các công cụ hợp tác mới. Riêng từ 1970 tới 1997, số các hiệp ước quốc tế đã tăng hơn gấp ba lần [13] . Bộ Ngoại giao Mỹ đăng một danh sách các hiệp ước hiện có hiệu lực ở Mỹ dài gần năm trăm trang, liệt kê hàng nghìn hiệp ước bao phủ mọi thứ từ gấu Bắc Cực và giao thông đường bộ tới năng lượng hạt nhân [14] . Những tiêu chuẩn về hành vi của các quốc gia và cả một bộ máy các hiệp ước và tổ chức quốc tế được chấp thuận rộng rãi ngày nay là điều khó mà tưởng tượng được một thế kỷ trước. Chúng cai quản mọi thứ từ việc đối xử với tù nhân chiến tranh cho tới quản lý nguồn cá và bạn phải trả bao nhiêu cho một cuộc gọi điện thoại quốc tế. Thương mại, tài chính, thông tin liên lạc, di cư, không gian vũ trụ, phổ biến vũ khí hạt nhân, các loài bị đe dọa, bệnh dịch, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm - tất cả dựa trên cơ sở những hiệp ước hay các tổ chức quốc tế để giới hạn lựa chọn của các quốc gia và tạo ra một không gian để nhượng bộ và giải quyết những khác biệt.

Các học giả gọi điều này là một chế độ - một bộ các luật lệ và diễn đàn nhắm tới một vấn đề cụ thể cùng được quan tâm. Và khi một thách thức toàn cầu mới được định hình - ví dụ gần đây là tình trạng biến đổi khí hậu hay cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng - có một bản năng lành mạnh là cùng nhau tập hợp lại và cố gắng xây dựng một chế độ để xử lý vấn đề, thay vì để mỗi nước tự lo lấy. Điều này khác biệt hoàn toàn với nền chính trị cướp bóc và vị kỷ của các quốc gia từng được Machiavelli và Hobbes coi là nghiễm nhiên. Ngày nay, trong một thế giới của gần 200 nhà nước chủ quyền riêng rẽ mà trước kia khó tưởng tượng nổi, xuất hiện sự thống nhất đạo đức lớn hơn bao giờ hết trong lịch sử loài người về hành vi đúng đắn của một quốc gia.

Sự kết hợp của quyền lực siêu cường độc nhất và những luật lệ có lợi cho sự ổn định toàn cầu. Hai cách tiếp cận đã hoạt động hiệu quả cùng nhau thay vì cạnh tranh với nhau. Bản thân hệ thống Liên Hiệp Quốc, với những ghế thường trực và quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo an, được thành lập để củng cố quyền lực của những nước thắng trận trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, đặc biệt là Mỹ. Nước Mỹ đảm đương nhiều gánh nặng kinh điển của một siêu cường độc nhất: đóng quân ở châu Âu lẫn châu Á và hành xử như một cảnh sát toàn cầu, chi tiền cho Kế hoạch Marshall*, đóng góp vào phần lớn ngân sách của Liên Hiệp Quốc và của các tổ chức quốc tế khác. Đối thủ của nó, Liên Xô, sử dụng ý thức hệ, dầu mỏ và vũ khí để dựng lên một khối các nhà nước vệ tinh ở Đông Âu và trên khắp thế giới đang phát triển. Dựa vào mối đe dọa hủy diệt lẫn nhau chắc chắn bằng vũ khí hạt nhân, thế bế tắc giữa hai siêu cường khiến các cuộc xung đột địa phương không có nhiều đất để lan ra. Một khi Liên Xô sụp đổ, Mỹ còn lại với tất cả những tính chất và gánh nặng của siêu cường duy nhất. Nó sở hữu sức mạnh quân sự áp đảo, nền kinh tế lớn nhất thế giới và các mối quan hệ đầu tư và thương mại trên toàn thế giới, hệ thống chính trị mạnh và ổn định, lãnh thổ quốc gia an toàn và được phòng thủ vững chắc, hệ thống tích cực các nhà ngoại giao, quân đội và điệp viên ở gần như mọi ngóc ngách quan trọng trên thế giới. Trong khi đó, một mạng lưới ấn tượng các thỏa thuận và diễn đàn toàn cầu đã ngăn cản những bất đồng trở thành bạo lực và chuyển hướng sự kình địch sang thương lượng và thỏa thuận. Những nhà lý thuyết về sự ổn định do một siêu cường mang lại có vẻ đã có lý: quyền lực cứng của súng và tiền bạc, quyền lực mềm của văn hóa và tư tưởng, cùng quan hệ ràng buộc của các định chế cho thấy một thời kỳ đúng đắn và kéo dài ở phía trước mà nước Mỹ là chủ chốt.

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan): Kế hoạch trọng yếu của Mỹ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lui chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai.

NẾU KHÔNG PHẢI LÀ MỘT SIÊU CƯỜNG, THÌ LÀ GÌ?

Một thập kỷ sau, bức tranh trở nên phức tạp hơn. Vụ tấn công 11 tháng 9 làm lung lay ảo giác về sự miễn nhiễm của nước Mỹ với các cuộc tấn công lớn trên lãnh thổ nước này. Những cuộc xung đột lối thoát ở Iraq và Afghanistan cho thấy những giới hạn trong sức mạnh quân sự áp đảo của Mỹ. Cuộc khủng hoảng tài chính và đại suy thoái bộc lộ nhiều điểm yếu trong nền kinh tế của nó. Chính phủ của cả hai đảng lớn gặp nhiều khó khăn với nền chính trị nội bộ bị phân cực. Nhưng cùng lúc, chưa có đối thủ đáng kể nào nổi lên. Trung Quốc và Ấn Độ đã cho thấy sự tăng trưởng thần kỳ, nhưng vẫn còn kém xa phía sau và có nhiều điểm yếu nội tại nghiêm trọng. Không liên minh hay hiệp ước lớn nào được ký bởi các cường quốc để khai thác vào những điểm dễ tổn thương của Mỹ. Những yếu tố kinh điển của sự cân bằng quyền lực - trong đó các nước toan tính để phá vỡ các liên minh và hạn chế vùng ảnh hưởng của nhau - vẫn im hơi lặng tiếng. Một vài nước rõ ràng đang ganh đua cho vị trí lãnh đạo những cuộc đối thoại toàn cầu về mọi thứ, từ luật lệ cho thương mại tới biến đổi khí hậu, nhưng điều này còn cách rất xa việc tập hợp vũ khí ở biên giới. Kể từ Khối Hiệp ước Warsaw* giải tán, không liên minh quân sự nào nổi lên chống đối khối NATO do Mỹ lãnh đạo. Nhưng sự thực thi độc quyền áp đảo của Mỹ, vốn bị chia rẽ về chính trị ngay trong nước, hầu như là không chắc chắn. Vậy điều gì đang xảy ra? Trong vài năm qua, cảm giác bất an này đã tạo điều kiện cho rất nhiều tin đồn thổi và nỗi lo lắng [15] .

Khối Hiệp ước Warsaw (Warsaw Pact): Liên minh quân sự gồm 8 nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa là Liên Xô, Albania, Ba Lan, Bulgaria, Đông Đức, Hungary, Romania và Tiệp Khắc. Khối này do Liên Xô thành lập và chỉ huy nhằm chông lại khối quân sự NATO, do Mỹ đứng đầu, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh.

Một lời đáp hướng vào những dấu hiệu sự suy thoái của Mỹ khi năng lực kinh tế và ý chí chính trị của nước này - trong việc trả giá cho quyền lực đơn cực của mình - giảm xuống. Đây là chủ đề đã được nhắc đi nhắc lại. Cuốn sách nổi tiếng năm 1987 của sử gia Đại học Yale, Paul Kennedy, The Rise and Fall of the Great Powers (tạm dịch: Sự Trỗi Dậy Và Sụp Đổ Của Những Quyền Lực Lớn), mô tả năm trăm năm chuyển đổi của hệ thống quyền lực thế giới, kết thúc với lời cảnh báo về tính mong manh trong sự thống trị của Mỹ dựa trên kinh nghiệm về những đế chế trong quá khứ, đã tan rã khi chúng không còn nắm giữ được những nguồn lực ủng hộ các chiến dịch quân sự bị trải rộng quá mức của chúng. Sự sụp đổ của Liên Xô có vẻ như đã bác bỏ tiên đoán của Kennedy, nhưng trong thế giới hậu 11 tháng 9, quan điểm đó lại một lần nữa tỏ ra phù hợp. Và ngay cả những người ủng hộ trật tự đơn cực của Mỹ cũng lo ngại rằng rủi ro lớn nhất với trật tự thế giới không phải là sự trỗi dậy của một kẻ cạnh tranh độc ác, mà là thất bại của Mỹ trong việc duy trì vai trò đơn cực. Trong cuốn sách Colossus (tạm dịch: Kẻ Khổng Lồ) năm 2004, sử gia danh tiếng người Anh Niall Ferguson lập luận rằng Mỹ cần làm nhiều hơn nữa để duy trì trách nhiệm lãnh đạo như một “đế chế tự do”. Tất cả những luật lệ và chế độ hậu chiến là không đủ để xử lý các mối đe dọa từ những nhà nước bạo tàn, chủ nghĩa khủng bố hay dịch bệnh - những thứ được trao cho sức mạnh mới nhờ công nghệ, Ferguson lập luận. “Điều cần thiết là một thực thể đủ sức can thiệp... để kiềm chế dịch bệnh, lật đổ những kẻ độc tài, kết thúc các cuộc chiến tranh địa phương và nhổ tận gốc những tổ chức khủng bố”. Nói cách khác, một siêu cường đơn cực đủ mạnh và đủ tích cực [16] .

Quan điểm về tương lai của sự kình địch quốc tế vô cùng đa dạng. Học giả bảo thủ Robert Kagan dự đoán rằng “thế kỷ XXI sẽ nhìn giống như thế kỷ XIX”, ông viết, với những cường quốc như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và một châu Âu thống nhất cạnh tranh nhau cho độc quyền áp đảo [17] . Một quan điểm khác cho rằng ngay cả những cường quốc kình địch cũng không thách thức công khai độc quyền của Mỹ, họ sử dụng những kỹ thuật như “cân bằng mềm” - chẳng hạn các thỏa thuận không chính thức, những nhóm bỏ phiếu cùng nhau ở các diễn đàn quốc tế, hay từ chối các yêu cầu ngoại giao và quân sự của Mỹ - để giới hạn và làm xói mòn nước Mỹ [18] . Các nhà tư tưởng khác tranh luận rằng những nỗi sợ như của Ferguson là bị thổi phồng, vì độc quyền của Mỹ chưa bị tổn hại đến thế. Ngay cả trong một thế giới với những kình địch mới và đa cực về ảnh hưởng - một “thế giới hậu Mỹ”, như Fareed Zakaria gọi - nước Mỹ vẫn tận hưởng các lợi thế độc nhất vô nhị chỉ củng cố thêm, chứ không làm giảm đi, quyền lực của nước này [19] .

Vẫn có người lo sợ rằng những thay đổi của nền kinh tế toàn cầu và lối sống của chúng ta đã trở nên cực đoan tới mức ngay cả sự độc quyền đơn cực lẫn các quy định toàn cầu cũng không còn khả thi nữa. Họ sợ rằng một hình thức của sự hỗn loạn - trạng thái nguyên thủy của hệ thống thế giới - một lần nữa đang bén rễ. Ngay từ năm 1994, Robert Kaplan đã nhìn thấy sự hỗn loạn nổi lên ở các quốc gia thất bại và những cuộc xung đột sắc tộc, sự trỗi dậy không thể kiềm chế của những kẻ khủng bố và các mạng lưới tội phạm, sự dễ tổn thương của một thế giới kết nối chặt chẽ trong việc lan tràn bệnh dịch và những thảm họa khác. Một quan điểm còn u ám hơn nữa thuộc về nhà khoa học chính trị Randall Schweller, người so sánh những thay đổi đang diễn ra trong hệ thống thế giới với trạng thái entropy trong vật lý học, khi một hệ thống trở nên mất tổ chức tới mức nó thay đổi bản chất theo một hướng không thể đảo ngược. Quá tải thông tin và sự phân tán của những thực thể và lợi ích sẽ khiến chính trị thế giới trở nên hoàn toàn hỗn độn, Schweller lập luận. “Entropy sẽ làm suy giảm và phân tán quyền lực có thể sử dụng được trong hệ thống”, ông viết. “Không ai biết quyền lực nằm ở đâu vì nó sẽ không nằm ở đâu hết; và thiếu quyền lực, sẽ không thể có bất cứ sự quản trị nhà nước nào” [20] .

Rõ ràng, hệ thống thế giới đang trong một trạng thái tuôn trào. Những cuộc tranh luận trên quan trọng, nhưng chúng vẫn có vẻ không chính xác khi các quan điểm chính, về việc thế giới hướng tới đâu, khác nhau quá lớn và phụ thuộc vào những nhận định thông thường đang thay đổi. Sự suy tàn của quyền lực sẽ giúp làm sáng tỏ bức tranh.

AI CÒN SỢ CON SÓI LỚN XẤU XA?

QUYỀN LỰC TRUYỀN THỐNG BỊ ĐE DỌA

Một cách nền tảng, công cụ mà các cường quốc sử dụng để đạt mục đích trong hệ thống quốc tế không thay đổi nhiều. Vũ khí, tiền bạc và sự khéo léo về ngoại giao thường hiệu quả. Một quân đội mạnh mẽ được trang bị thiết bị hiện đại và tuyển mộ một lực lượng chiến đấu lớn và có năng lực tốt; một nền kinh tế lớn, công nghệ tiên tiến và cơ sở tài nguyên thiên nhiên mạnh; một đội ngũ các nhà ngoại giao, luật sư cùng điệp viên trung thành và được đào tạo bài bản; một ý thức hệ hay hệ thống các giá trị hấp dẫn luôn là những tài sản giá trị để tạo ảnh hưởng quốc tế. Trong mỗi thời đại lịch sử, những phẩm chất như vậy mang lại lợi thế cho các quốc gia đông dân nhất, phát triển về kinh tế nhất, ổn định chính trị và giàu tài nguyên nhất. Không phải nhũng tài sản thô này đang suy giảm. Điều đang suy giảm là sự hiệu quả, tính khả dụng và ảnh hưởng của những hình mẫu quyền lực truyền thống mà chúng gắn liền: dù là quân sự, kinh tế hay quyền lực mềm.

Từ Sức Mạnh Áp Đảo Tới Thời Đại Của Những Đồng Minh Tình Thế

Như chúng ta đã thấy trong chương trước, một quốc gia - nước Mỹ - chi tiêu nhiều vào kho đạn dược, quân đội và hậu cần hơn tất cả các nước khác cộng lại. Đó không phải là những chi phí vô ích. Hệ thống nước Mỹ độc tôn - trong đó ưu thế áp đảo của quân đội Mỹ trở thành sự bảo đảm tối thượng cho tính ổn định - là có thật. Thật vậy, nước Mỹ giờ chính thức đảm bảo an ninh cho hơn 50 nước [21] . Sự bất cân xứng trong chi tiêu quân sự giữa Mỹ và các nước khác kéo dài, cũng như quy mô khác thường của sự hiện diện quân sự của Mỹ tại 130 quốc gia, từ những binh đoàn lớn trong các căn cứ đóng quân thường trực cho tới những đơn vị nhỏ tham gia chiến dịch đặc biệt, huấn luyện gìn giữ hòa bình và hoạt động chống quân nổi dậy.

Mỹ cũng lãnh đạo NATO, liên minh quân sự quan trọng nhất thế giới và, cùng với sự sụp đổ của đối thủ là Khối Hiệp ước Warsaw, liên minh duy nhất có quy mô lớn như thế. Đây là một dấu hiệu không thể mạnh mẽ hơn về sự thống trị độc tôn. Các liên minh luôn là công cụ cốt lõi cho chính trị giữa các cường quốc, hỗ trợ ngoại giao bằng mối đe dọa quân sự khả tín, vạch rõ những khu vực ảnh hưởng và những vùng không được xâm phạm, răn đe các cuộc tấn công bằng sự đảm bảo phòng thủ tập thể. Nói cách khác, chúng là những khối nền xây nên trật tự thế giới. Và trong nhiều thập kỷ, hình mẫu của các liên minh trên thế giới được duy trì ổn định. NATO và Khối Hiệp ước Warsaw áp đặt một trật tự cứng nhắc lên cả hai phía của Bức màn sắt*. Ở thế giới đang phát triển, các nước mới độc lập nhanh chóng bị lôi kéo, tình nguyện hay bị ép buộc tham gia vào liên minh của phương Tây hoặc khối Cộng sản.

Bức màn sắt (Iron Curtain): Biên giới vật lý lẫn tư tưởng mang tính biểu tượng chia cắt châu Âu thành hai khu vực riêng rẽ từ cuối Chiến tranh Thê giới Thứ hai đến cuối cuộc Chiến tranh Lạnh. Các quốc gia ở cả hai phía của Bức màn sắt đều thành lập các liên minh kinh tế và quân sự quốc tế riêng của mình.

Ngày nay, hơn một thập kỷ sau khi Khối Hiệp ước Warsaw bị giải tán bởi các nước thành viên vào tháng 7 năm 1991, NATO là kẻ chiến thắng. Thật vậy, 3 nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và 7 nước vốn là thành viên của khối Liên Xô đã gia nhập liên minh này. NATO và Nga vẫn là đối thủ: Nga cự tuyệt việc có thêm những nước láng giềng của mình gia nhập liên minh và phản đối việc triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa NATO ở châu Âu. Nhưng họ cũng tự tuyên bố mình là đối tác, không phải kẻ thù, và từ năm 2002 đã tổ chức cả một hội đồng để dàn hòa quan hệ và giải quyết bất cứ bất đồng nào. Ngoài Nga, NATO không có kẻ thù tiềm tàng rõ rệt nào khác - một tình huống khó tin với một liên minh lớn, cũng là tình huống buộc nó phải tìm ra cách mới để tỏ ra vẫn còn phù hợp. Lý do chủ chốt hiện giờ là sứ mệnh của nó ở Afghanistan, trong đó tất cả 28 quốc gia thành viên cộng thêm 21 nước khác đã cung cấp quân đội tham gia.

Nhưng sự thống trị áp đảo bề ngoài của nó che giấu những điểm yếu đang gia tăng - phản ánh cả sự vắng mặt của mối đe dọa mang tính sinh tồn lẫn sự pha loãng quyền lực giữa những nước tham gia. Sứ mệnh Afghanistan do Mỹ nắm quyền điều hành áp đảo, nhiều nước chỉ đóng góp khiêm tốn hay mang tính tượng trưng. Một số nước đã rút lui. Làn sóng phản đối trong nước về việc quân đội Hà Lan tiếp tục hiện diện trong sứ mệnh này đã góp phần vào sự sụp đổ của chính phủ Hà Lan tháng 2 năm 2010, báo trước việc rút lui hoàn toàn của quân đội nước này. Những nước tham gia như Pháp và Đức đã tỏ ra ngần ngại trước những yêu cầu tăng quân của Mỹ. Hơn nữa, mỗi đạo quân ở Afghanistan hoạt động theo những quy định khác nhau, do các cơ quan chỉ huy quân sự quốc gia của từng nước ấn định hay thậm chí là theo pháp luật của nước đó. Một đạo luật được đưa ra ở nghị viện tại thành phố Prague hay The Hague có thể giới hạn những hành động một binh sĩ NATO có thể làm trên chiến trường khi chiến đấu chống lại Taliban, huấn luyện các binh sĩ Afghanistan hay đối phó với việc buôn ma túy. Có thể những sự hạn chế tương tự đã khiến các binh sĩ Mỹ chế tên Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (International Security Assistance Force, ISAF) là “I Saw Americans Fight” (Tôi Đứng Nhìn Lính Mỹ Chiến Đấu) [22] .

Trong khi NATO bị kéo căng bởi những sự xung đột này, việc hợp tác giữa các thành viên gặp phải sự cạnh tranh của các cấu trúc tương ứng. Một tổ chức quốc phòng lâu đời, Liên minh Tây Âu, có nhiều thành viên trùng với NATO. Liên minh Châu Âu (EU) có bộ máy chính sách quốc phòng riêng, bao gồm Cơ quan Quốc phòng châu Âu và những cơ quan khác. Nó thực hiện các sứ mệnh riêng ở hải ngoại bao gồm gìn giữ hòa bình, hỗ trợ quân sự và đóng góp vào các lực lượng đa quốc gia. Tất nhiên, mỗi nước thành viên EU vẫn duy trì quân đội riêng. Giữa NATO, các chính phủ quốc gia, và nhiều tầng quan liêu của EU, liên minh Đại Tây Dương đang ngày càng trở thành một sự kết hợp hỗn loạn về quyền tài phán và những diễn đàn với các thành viên trùng lặp, nhưng không có hệ thống thứ bậc ra quyết định hay những lằn ranh chỉ huy rõ ràng.

Sự nổi lên của “Liên minh tự nguyện” như một hình thức hợp tác quân sự đa quốc gia mới xác nhận sự suy giảm quyền lực của các liên minh. Sự kiện tai tiếng nhất về sự suy giảm này là nhóm liên minh tình thế các quốc gia đồng ý tham gia hoặc ủng hộ theo cách khác việc Mỹ đưa quân vào Iraq năm 2003. Nhưng nó mô tả một cách khéo léo chiến dịch ở Afghanistan cũng như những nỗ lực an ninh, gìn giữ hòa bình và nỗ lực nhân đạo, từ giảm nhẹ hậu quả động đất tới tuần tra tuyến đường biển ngoài khơi Somalia - nơi các quốc gia đã đưa lực lượng quân sự tới dù không có liên minh chính thức nào được kích hoạt và không có quyền lực áp đặt nào buộc họ phải tham gia. Vì “tự nguyện” tham gia trên một cơ sở tình huống nhất thời, sự ủng hộ của các quốc gia gắn với những diễn biến chính trị trong lòng quốc gia họ, sự sẵn lòng của họ trong việc tiếp tục chi trả chi phí tài chính, và những thỏa thuận bên lề họ có thể thương lượng để đổi lấy việc tham gia - trong trường hợp của một số nước tham gia vào chiến dịch ở Iraq chẳng hạn, bao gồm việc giảm bớt thủ tục thị thực cho công dân của họ vào Mỹ.

Trong số những liên minh mới nở rộ trên thế giới trong hệ thống nước Mỹ độc tôn, một số đơn giản chỉ là những diễn đàn hợp tác quân sự giữa các thành viên của một tổ chức khu vực, giống như EU. Liên minh châu Phi chẳng hạn, có lực lượng gìn giữ hòa bình riêng để can thiệp vào các cuộc xung đột khu vực. Một Hội đồng Quốc phòng Nam Mỹ đang xây dựng các mối quan hệ quân sự ở Mỹ Latin. Nhưng những tổ chức này chưa phải các liên minh truyền thống được xây dựng trên cơ sở hợp tác chặt chẽ, chia sẻ kế hoạch và công nghệ, cam kết phòng thủ chung. Một số người có thể trông chờ sự nổi lên của những liên minh mới xung quanh một cường quốc địch thủ của Mỹ, như Trung Quốc hay Nga, trong nỗ lực tái tạo lại mối kình địch thay cho Khối Hiệp ước Warsaw. Nhưng thay vì vậy, những nỗ lực tích cực nhất - dù nói chung là bất thành - là của Tổng thống Venezuela Hugo Chavez hòng thành lập một liên minh quân sự với Cuba, Bolivia và các nước khác có thiện cảm với họ, như một đối trọng khu vực của Mỹ. Những “Liên minh” có tính đại diện cao hơn ngày nay thực ra là giữa các nhà nước và những nhân tố phi nhà nước mà họ ủng hộ - lấy ví dụ, sự ủng hộ của Iran với các tổ chức khủng bố Hezbollah và Hamas, và vai trò trung gian được cho là thuộc về Venezuela giữa FARC của Colombia và những tổ chức như nhóm vũ trang ly khai xứ Basque ETA [23] .

Lĩnh vực quân sự mà trong đó một số cấu trúc thứ bậc truyền thống vẫn không thay đổi là buôn bán vũ khí - ít ra là với loại vũ khí thông thường. Những nhà cung cấp chủ yếu - Mỹ, Nga, Trung Quốc, Pháp, Đức, Ý - vẫn chiếm đa số áp đảo các hợp đồng vũ khí, ở một tốp trên đã được duy trì ổn định trong nhiều thập kỷ. Nhưng doanh số bán chính thức được chính phủ ủng hộ tài chính chỉ là một phần của ngành kinh doanh vũ khí toàn cầu thực thụ. Như báo cáo tháng 4 năm 2011 của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc cho biết, “Trong những thập kỷ gần đây, buôn bán vũ khí đã chứng kiến sự chuyển đổi từ việc chủ yếu liên hệ trực tiếp giữa các quan chức chính phủ hay người đại diện tới việc sử dụng rộng khắp những người trung gian cá nhân - hoạt động trong một môi trường toàn cầu hóa đặc biệt - thường là từ vô số địa điểm” [24] . Phần này của hoạt động buôn bán vũ khí, không được quản lý và thường phi nhà nước, nằm ngoài sự kiểm soát và chỉ ra sự suy giảm khả năng kiểm soát của các bộ quốc phòng trong môi trường xung đột vũ trang - lại một dấu hiệu nữa của sự suy tàn quyền lực.

Sự Suy Giảm Của Ngoại Giao Kinh Tế

Cùng vói những liên minh quân sự, các cường quốc còn lôi kéo về mặt kinh tế như một cách truyền thống để khiến các nước khác ủng hộ lợi ích của mình. Phương pháp trực tiếp nhất là viện trợ song phương - tức là chuyển trực tiếp từ chính phủ này sang chính phủ khác - dưới hình thức các khoản vay, tài trợ hay các thỏa thuận thương mại và nguồn lực ưu đãi. Ngoại giao kinh tế cũng có thể dùng để trừng phạt, dưới hình thức các rào cản thương mại chống lại quốc gia mục tiêu, những vụ tẩy chay, cấm vận hay trừng phạt nhắm vào các định chế kinh tế.

Một lần nữa, các phương pháp đó vẫn được duy trì, nhưng tính hiệu quả như một phương tiện định hướng quyền lực của chúng đã suy giảm. Trước hết, nhờ vào sự hội nhập của nền kinh tế thế giới, sự phụ thuộc của bất kỳ một quốc gia nào vào những nguồn cung cấp, khách hàng, hay nguồn tài chính từ bất kỳ quốc gia nào khác đã được nới lỏng rất nhiều. Những rào cản thương mại bị dỡ bỏ và có nhiều hơn các thị trường vốn mở rộng từ lâu đã là mục tiêu của Mỹ và các nước giàu khác trong các cuộc đàm phán thương mại quốc tế. Chiến thắng của họ - cùng với sự khuếch trương rộng khắp của “đồng thuận Washington”* như một điều kiện để được vay tiền từ Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và các định chế khác - đã gây ra hiệu ứng nghịch, làm yếu đi khả năng kiểm soát mà Mỹ và các cựu cường quốc thuộc địa khác như Anh và Pháp từng có với các nước trong phạm vi ảnh hưởng của họ.

Đồng thuận Washington (Washington Consensus): Chương trình cải cách kinh tế bao gồm 10 chính sách khác nhau được các tổ chức đóng trụ sở tại Washington (Mỹ) như IMF, Ngân hàng Thế giới, Bộ Tài chính Mỹ đề nghị áp dụng ở những nước trải qua khủng hoảng kinh tế.

Sự áp đặt lệnh cấm vận chống lại Iran trong nỗ lực buộc chương trình hạt nhân của nước này tuân thủ các chế độ quốc tế là một ngoại lệ chứng tỏ quy luật này. Liên Hiệp Quốc, Mỹ, Liên minh Châu Âu và một số nước khác đã áp đặt hàng loạt sự giới hạn thương mại với Iran, bao gồm cấm vận dầu mỏ, cấm giao dịch với ngân hàng trung ương nước này, hạn chế việc đi lại và du lịch. Nhưng Mỹ lại chấp nhận ngoại lệ cho một số đồng minh vốn phải phụ thuộc vào nguồn cung dầu từ Iran và đối mặt với tình thế lưỡng nan khó khăn khi áp đặt hình phạt với các nước bằng hữu như Hàn Quốc và Ấn Độ, hay với các đối thủ có khả năng trả đũa tương đối mạnh như Trung Quốc, vì họ không sẵn lòng ngưng mua dầu từ Iran.

Việc sử dụng có mục tiêu quyền lực nhà nước, thông qua việc phân bổ viện trợ cho những nước được ưu ái, cũng trở nên cực kỳ phân tán. Vào cuối Chiến tranh Thế giới Thứ hai, chỉ 5 hoặc 6 cơ quan viện trợ quốc gia tồn tại. Ngày nay đang có hơn 60 cơ quan. Trong những năm 1950, một tỉ lệ áp đảo 88% viện trợ được phân phát tới từ chỉ ba nước: Mỹ (58%), Pháp (22%) và Anh (8%). Lĩnh vực viện trợ song phương chứng kiến sự mở rộng lớn đầu tiên vào những năm 1960, khi Nhật Bản, Canada và một số nước châu Âu thiết lập những cơ quan viện trợ cho nước ngoài. Hà Lan và các nước Bắc Âu nhanh chóng trở thành những tay chơi lớn, đóng góp một phần lớn hơn tương ứng với thu nhập quốc gia của họ so với Mỹ, Anh hay Pháp. Trong những năm 1970, vận may bất ngờ từ tiền dầu mỏ đã cho phép các nước A-rập thành lập những quỹ hỗ trợ phát triển mà họ sử dụng để hỗ trợ các dự án ở các quốc gia Hồi giáo và khắp châu Phi. Bối cảnh lại mở rộng lần nữa trong những năm 1990, với các nước Đông Âu trở thành những nhà tài trợ, những quốc gia mới nổi lớn như Ấn Độ và Brazil cũng trở thành những nước viện trợ lớn theo cách của riêng họ [25] . Tới năm 2009, Mỹ, Pháp và Anh chiếm chỉ 40% tổng viện trợ phát triển chính thức [26] .

Và đó mới là phần song phương trong bức tranh chung, vốn chiếm 70% dòng tiền viện trợ. Có ít nhất 263 tổ chức viện trợ đa phương [27] , từ Tổ Chức Y Tế Thế Giới tới các nhóm khu vực như Quỹ Phát Triển Bắc Âu hay các cơ quan chuyên biệt như Trung Tâm Nghề Cá Thế Giới hay Hội Đồng Quốc Tế Kiểm Soát Các Chứng Rối Loạn Do Thiếu I-Ốt. Trên tất cả là sự mở rộng mạnh mẽ của viện trợ tư nhân thông qua các tổ chức phi chính phủ đi theo nghị trình của riêng họ. Năm 2007, tổng viện trợ phát triển chính thức (song phương và đa phương) là vào khoảng 101 tỉ đô-la Mỹ và viện trợ tư nhân là 60 tỉ đô-la Mỹ [28] . Ngành công nghiệp viện trợ tư ở quy mô toàn cầu ước tính đã sử dụng nhiều lao động hơn so với các tổ chức chính phủ và tổ chức đa phương mà nó cạnh tranh một cách ngày càng hiệu quả hơn.

Sự phân tán của các nguồn lực đồng nghĩa với việc nước nhận viện trợ điển hình giờ làm việc với nhiều đối tác hơn hẳn, thay vì chỉ một vài đối tác độc quyền hóa cuộc chơi và có thể thực thi ảnh hưởng bất tương xứng lên chính phủ của nước nhận viện trợ. Trong những năm 1960, trung bình có 12 cơ quan viện trợ điều hướng các quỹ chính phủ vào mỗi nước nhận viện trợ. Trong giai đoạn 2001-2005, con số đó đã tăng gần gấp ba lần lên 33. [29] Sự phân tán của quyền lực kinh tế càng được nhấn mạnh khi nói tới đầu tư nước ngoài. Những ngày mà United Fruit Company* hành động như một cơ quan chuyển tiếp cho các lợi ích của Mỹ ở những “nước cộng hòa chuối”* đã qua lâu rồi. Các công ty đa quốc gia không còn là những người bảo vệ cho quốc gia quê hương của họ nữa, không còn là sự mở rộng của lợi ích quốc gia và đôi khi phục vụ như một đại diện đồng lõa với quốc gia đó trong chính sách đối ngoại. Trong sự mở rộng của các thị trường toàn cầu, giữa những cơ sở thuê ngoài và chế tạo, làn sóng sáp nhập và thâu tóm, cùng sự đầu tư bởi các nhà tài phiệt cá nhân, những công ty đa quốc gia chưa bao giờ ràng buộc lỏng lẻo với chính sách đối ngoại của quốc gia “quê nhà” như hiện giờ. Lấy ví dụ, bạn sẽ gắn lợi ích quốc gia cụ thể nào vào công ty thép lớn nhất thế giới, Arcelor Mittal, dựa trên cơ sở nó đóng trụ sở ở châu Âu, cổ phiếu của nó được niêm yết trên sàn chứng khoán ở 6 quốc gia và nó chủ yếu thuộc sở hữu của một tỉ phú Ấn Độ?

United Fruit Company: Tập đoàn Mỹ chuyên thu mua trái cây nhiệt đới (chủ yếu là chuối) ở các đồn điền Trung và Nam Mỹ rồi bán tại Mỹ và châu Âu. Tập đoàn từng tác động sâu sắc và lâu dài đến sự phát triển kinh tế và chính trị của một số nước Mỹ Latin, bị cáo buộc theo chủ nghĩa thực dân mới bóc lột, và được mô tả như là ví dụ điển hình về sự ảnh hưởng của một tập đoàn đa quốc gia lên nội bộ chính trị các “nước cộng hòa chuối”.

Cộng hòa chuối (Banana republic): Thuật ngữ khoa học chính trị để chỉ một quốc gia có nền chính trị bất ổn, kinh tế lệ thuộc nặng vào xuất khẩu một sản phẩm không dồi dào, ví dụ như chuối.

Thật ra, nếu có bất cứ nước nào thấy lợi ích của họ được mở rộng thông qua đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây, thì đó là các nền kinh tế mới nổi mà những công ty đã trở thành những nhà đầu tư quốc tế tích cực, đặc biệt là trong nông nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, xây dựng và thông tin liên lạc. Petrobas của Brazil hay CNOOC của Trung Quốc trong dầu khí, Sime Darby của Malaysia trong cao su, CEMEX của Mexico trong xi-măng và Bimbo trong thực phẩm, MTN của Nam Phi hay Bharti Airtel của Ấn Độ trong dịch vụ viễn thông chỉ là một vài trong nhiều công ty tham gia vào điều được gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Nam-Nam, được ủng hộ bởi các cơ quan xúc tiến đầu tư hùng mạnh, những ngân hàng xuất-nhập khẩu hay bảo hiểm rủi ro chính trị. Ước tính có 20.000 công ty đa quốc gia đặt trụ sở ở các thị trường mới nổi. Đầu tư bắt nguồn từ những nước đang phát triển vẫn là thiểu số trong đầu tư nước ngoài toàn cầu, nhưng đã tăng vượt trội từ chỉ 12 tỉ đô-la Mỹ năm 1991 lên 384 tỉ đô-la Mỹ năm 2011. Trong số này, một tỉ lệ ngày càng tăng đi vào các khoản đầu tư ở những nước đang phát triển. Năm 2011, các nhà đầu tư vào những thị trường mới nổi chiếm hơn 40% tổng hoạt động thâu tóm và sáp nhập trên toàn cầu. Sự phân phối kéo theo đó của các giám đốc điều hành, nhân sự và sự dễ nhận diện của thương hiệu đã phản bác lại quan niệm cũ kỹ coi đầu tư nước ngoài như một công cụ chính trị của các nước giàu [30] .

Ngoại giao kinh tế vẫn có những cơ hội tốt nhất để chuyển thành ảnh hưởng chính trị ở những nơi nhu cầu là lớn nhất và sự cạnh tranh, từ các đối tác khác và từ lĩnh vực tư nhân, là thấp nhất. Trong những năm gần đây, điều này đồng nghĩa châu Phi, nơi Trung Quốc và phương Tây đang đối mặt thứ gần nhất với những tranh chấp ảnh hưởng kiểu cũ, trong bối cảnh nguồn tài nguyên dầu mỏ hứa hẹn cùng sự bất ổn chính trị của châu lục này. Ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Phi đã gia tăng trong thập kỷ qua, khi nước này xây dựng đường xá, bệnh viện và các cơ sở hạ tầng khác, thắng thầu dễ dàng trước các công ty phương Tây cho các gói dầu mỏ và tiến hành các dự án nhanh chóng - với ít hay không có những điều kiện chính sách và quản lý rườm rà như với các cơ quan đầu tư phương Tây. Một trong những món quà gây chú ý gần đây nhất của Trung Quốc là tổng hành dinh trị giá 200 triệu đô-la Mỹ cho Liên minh Châu Phi ở Addis Ababa. Sự rộng rãi kết hợp với những tuyên bố ủng hộ chủ quyền của các nước nhận viện trợ và làm ngơ với quân nổi dậy hay bất ổn chính trị đã giúp Trung Quốc được tin tưởng trong giới chính trị tinh hoa châu Phi, tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ với các công ty và tổ chức của Pháp và Mỹ. Nhưng cũng nhanh như sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Phi, chính nước này cũng dễ tổn thương bởi sự xói mòn quyền lực khi các nước khác - đáng kể là Ấn Độ, Nam Phi và các nước A-rập - mở rộng đầu tư của họ ở châu lục này.

QUYỀN LỰC MỀM CHO TẤT CẢ

Nếu ảnh hưởng quân sự và kinh tế của các cường quốc lớn bị phân tán, sự thống trị về quyền lực mềm cũng chịu ảnh hưởng tương tự, dù điều này khó đo đếm. Dự án Thái độ Toàn cầu của Pew, thăm dò ngày càng nhiều nước hơn là năm 2002, xác nhận rằng hình ảnh toàn cầu của Mỹ đã suy giảm ở hầu như mọi châu lục trên thế giới trong thời kỳ chính quyền George W. Bush, đặc biệt là sau cuộc xâm lược Iraq, và có vẻ đã cải thiện - đôi khi trở lại hoặc vượt qua mức năm 2002, đôi khi không - sau khi Barack Obama thắng cử. Ở Đức chẳng hạn, 60% những người được thăm dò trong năm 2002 có quan điểm ưa thích nước Mỹ, so với chỉ 30% vào năm 2007 và 64% năm 2009. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, quan điểm ưa thích nước Mỹ giảm từ 30% vào năm 2002 xuống còn 9% năm 2007 và tăng trở lại 14% trong năm 2009. Đo đạc theo cách này, quyền lực mềm của Mỹ không hề thống nhất: năm 2009, sự ưa thích nước Mỹ là 78% ở Nigeria, 69% ở Anh, 47% ở Trung Quốc, 38% ở Argentina và 25% ở Jordan. Hơn thế, tới năm 2012, “lợi tức Obama” suy giảm ở nhiều nước.

Câu hỏi tương tự được đặt ra về Trung Quốc đưa tới những kết quả mơ hồ tương tự, với sự cải thiện lớn nhất với hình ảnh Trung Quốc là ở Nigeria (từ 59% ưa thích năm 2006 lên 85% năm 2009) so với sự suy giảm ở Thổ Nhĩ Kỳ (từ 40% năm 2005 xuống 16% năm 2009) và kết quả tầm tầm, trong khoảng 40-50% ở nhiều nước được thăm dò. Đáng nói là, trong năm 2011, Pew cho biết một đa số tuyệt đối hoặc tương đối những người trả lời ở 15 trong 22 nước nói Trung Quốc sẽ, hoặc đã, thay thế Mỹ với tư cách siêu cường lãnh đạo thế giới. Những ý kiến về liên minh châu Âu là lẫn lộn - hình ảnh chung của nó giảm ở 13 trong 20 nước từ 2010 tới 2011 - trong khi quan điểm về Nga có khuynh hướng tiêu cực và những ý kiến về Iran còn tệ hơn, với một vài ngoại lệ nổi bật (lấy ví dụ, trong năm 2009, 57% người Lebanon có quan điểm ưa thích với Nga và 74% người Pakistan đánh giá cao Iran) [31] .

Tất cả những điều này cho thấy quyền lực mềm, chí ít, là một khái niệm biến động, cực kỳ dễ tổn thương bởi những đột biến ngắn hạn của tình hình thế giới, trong một môi trường mà tin tức lan đi nhanh hơn bao giờ hết. Điều đó không ngăn cản nhiều nước tiếp nhận khái niệm và tìm cách gia tăng quyền lực mềm. Học giả Joshua Kurlantzick theo dõi sự chuyến biến của Trung Quốc sang chiến lược quyền lực mềm tới năm 1997, khi nước này diễn tả việc họ từ chối phá giá đồng tiền của mình là động thái “đứng lên vì châu Á”. Từ đó tới nay, Trung Quốc đã trở thành nhà cung cấp viện trợ lớn cho nhiều nước Đông Nam Á, mở rộng viện trợ và các dự án ở châu Phi, đẩy mạnh sự phổ biến các chương trình truyền hình quốc gia của họ và mỏ những Học viện Khổng Tử để dạy ngôn ngữ cùng các chương trình văn hóa trên toàn thế giới. Vào tháng 2 năm 2012, Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc khởi động một nỗ lực sản xuất chương trình cho khán giả Mỹ, mở một phòng quay ở Washington, DC, với hơn 60 nhân viên quốc tế [32] . Trung Quốc cũng trở thành điểm đến cho các nghệ sĩ và kiến trúc sư toàn cầu. Một cảm giác về sự gia tăng tầm quan trọng của nước này đang thúc đẩy những bậc cha mẹ trên toàn thế giới xem xét cho con cái học các lớp tiếng Hoa phổ thông. Với Trung Quốc, quyền lực mềm là một chiến lược rõ ràng [33] .

Ngược lại ở Ấn Độ, quyền lực mềm ít là một ưu tiên chính sách hơn và phần nhiều là một mối bận tâm của nhiều nhà phân tích - những người hy vọng rằng đất nước đã tích tụ được một lợi thế quyền lực mềm thông qua phẩm chất của việc là một nền dân chủ, nhờ thế mà thu hút được nhiều thế hệ du khách, người khám phá, rồi giờ là các nhà đầu tư phương Tây. “Ấn Độ có khả năng phi thường trong việc kể những câu chuyện thuyết phục và hấp dẫn hơn so với đối thủ của nước này” là lập luận của Shashi Tharoor, tác giả và một cựu quan chức cấp cao của Liên Hiệp Quốc, sau đó trở thành Bộ trưởng và chính trị gia trong chính quyền Ấn Độ [34] . Người đứng đầu các chương trình văn hóa ở nước ngoài của Ấn Độ dẫn ra sự phổ biến của yoga như một yếu tố của quyền lực mềm [35] . Nghe thì có vẻ mơ hồ, nhưng một lĩnh vực mà quyền lực mềm của Ấn Độ nhìn chung được thừa nhận là Bollywood, ngành công nghiệp xuất khẩu phim ảnh lớn nhất thế giới. Nó đã giành được người hâm mộ khắp châu Á, châu Phi, Trung Đông, Đông Âu trong nhiều thập kỷ và giờ đang đột phá vào thị trường thương mại chủ lưu phương Tây.

Nếu sự xâm nhập và nổi tiếng về truyền thông nằm trong số những chỉ số đáng tin cậy của quyền lực mềm, như bằng chứng về cả Hollywood và Bollywood, chúng cũng bộc lộ một bối cảnh mà các phim truyền hình dài tập từ Mexico và Colombia, phim kinh phí thấp từ Nigeria và chương trình thực tế từ Nam Phi đang mở rộng tầm ảnh hưởng. Ở Nga và Đông Âu, ngay khi sự kết thúc Chiến tranh Lạnh ném những kho đạn dư thừa vũ khí ra thị trường thế giới, thì sự kết thúc của độc quyền truyền hình tạo ra một khoảng trống lớn để những phim truyền hình dài tập rẻ tiền từ Nam Mỹ lấp vào, cho ra đời một chứng nghiện mới - và cả những thị trường mới. Ở Đông Nam Á, cả một thế hệ những người hâm mộ biết tới Hàn Quốc không phải bởi sự đối đầu của nước này với Triều Tiên hay bởi khoảng thời gian dưới chế độ độc tài vào những năm 1970, mà bởi các trò chơi điện tử, những ngôi sao nhạc pop và bộ phim truyền hình Bản tình ca mùa đông. Chính phủ Hàn Quốc tận dụng điều này bằng việc tài trợ cho các buổi hòa nhạc và mở những lớp ngôn ngữ lẫn dạy nấu ăn tại những trung tâm văn hóa của họ ở trong vùng. Một khi cơ hội mở rộng quyền lực mềm xuất hiện, tận dụng nó là dễ dàng - và thường rất rẻ [36] . Cuộc đổ bộ mới nhất của văn hóa Hàn Quốc là vào nước Mỹ, nơi ca sĩ nhạc rap Psy tạo ra một hiện tượng với những điệu nhảy và bài hát “Gangnam Style” của anh (Gangnam là một khu hoa lệ ở Seoul). “K-Pop”, một siêu sao khác của đất nước Hàn Quốc, cũng thu hút được hàng binh đoàn người hâm mộ: Báo New York Times đưa tin những bài hát và album của ca sĩ nhạc R&B Jay Park đã vươn lên số một bảng xếp hạng R&B/Soul trên iTunes ở Mỹ, Canada và Đan Mạch từ năm 2010. Cùng với sự lan ra toàn cầu của những thương hiệu tiêu dùng như Samsung, Hyundai, KIA và LG, sự xâm nhập văn hóa này đang giúp củng cố thương hiệu toàn cầu của Hàn Quốc: trong bảng xếp hạng Chỉ số Thương hiệu Quốc gia Anholt GfK Roper, tiến hành thăm dò 20.000 người ở 20 nước để tổng hợp một bảng xếp hạng 50 thương hiệu quốc gia hàng đầu, Hàn Quốc đã vươn từ hạng 33 năm 2008 lên 27 vào năm 2011 [37] .

NHỮNG LUẬT LỆ MỚI CỦA ĐỊA CHÍNH TRỊ

Một trong những ví dụ rõ nhất của việc các nước nhỏ sử dụng những liên minh tự nguyện, ngoại giao kinh tế (tức là rất nhiều tiền) và quyền lực mềm để thúc đẩy lợi ích của họ chắc chắn phải là Qatar. Nước này đã dẫn đầu trong việc lật đổ chính quyền Moammar Qaddah của Libya bằng cách cung cấp cho lực lượng nổi dậy tiền bạc, sự huấn luyện cùng hơn 20.000 tấn vũ khí, và kêu gọi từ sớm việc vũ trang cho quân nổi dậy ở Syria [38] . Nước này đã nỗ lực làm trung gian ở Yemen, Ethiopia, Indonesia, Palestine và - quan trọng nhất - ở Lebanon. Thông qua một quỹ đầu tư 85 tỉ đô-la Mỹ, Qatar mua lại các cơ sở kinh doanh từ Volkswagen tới Câu lạc bộ Bóng đá Paris St. Germain. Và nó không chỉ đứng đằng sau hãng tin mới có lẽ là ảnh hưởng nhất, mạng lưới AI Jazeera, mà còn xây dựng được danh tiếng là một trung tâm văn hóa với những bảo tàng Hồi giáo và nghệ thuật Trung Đông hàng đầu cũng như những vụ mua lại đình đám các tác phẩm nghệ thuật của Warhol, Rothko, Cezanne, Koons và Lichtenstein [39] .

Nhưng bạn không cần phải ngồi trên một đống của cải được tạo ra nhờ nguồn tài nguyên dầu khí để chơi với những tay chơi lớn. Một nhóm nhỏ các nước, không nhất thiết phải là láng giềng hay bị ràng buộc bởi lịch sử chung, có thể nhanh chóng đạt được kết quả hơn chỉ bằng cách lựa chọn hợp tác với nhau thay vì đi qua những hệ thống quốc tế cồng kềnh. Và một chính sách đối ngoại tham vọng hơn về mặt địa lý, một chính sách tập trung chi vào các nước láng giềng gần gũi nhất, nằm trong tầm với của nhiều nước hơn hiện tại. Những nước chậm chạp trong việc chụp lấy cơ hội này đứng trước nguy cơ đánh mất lợi thế cạnh tranh của họ.

Không điều nào trong các nguyên tắc trên phủ nhận giá trị của một quân đội lớn hay một cơ sở tài nguyên dồi dào. Nhưng tất cả chúng chảy ra một cách logic từ sự suy tàn của quyền lực và hình thành nên cơ sở cho một kiểu chính trị quốc tế mới.

ĐƠN GIẢN NÓI KHÔNG

Khi thiết lập hệ thống Liên Hiệp Quốc, những nước chiến thắng trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai đã đảm bảo là thiết kế nó theo những cách sẽ bảo vệ lợi ích của họ. Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Pháp và Anh, chẳng hạn, tự cho mình những ghế thường trực ở Hội đồng Bảo an, cơ quan xử lý hầu hết những cuộc khủng hoảng quốc tế nghiêm trọng. Họ cũng đảm bảo rằng mình sẽ giữ được quyền phủ quyết bất cứ nghị quyết nào. Cách sắp xếp này là một sự sáng tạo trong các vấn đề quốc tế, và trong trường hợp này, nó đã hoạt động đúng như những người thiết kế nó hy vọng. Khả năng của năm thành viên thường trực (tất cả đều là những cường quốc hạt nhân) - trong việc ngăn cản bất cứ hành động nào đe dọa lợi ích của mình - cho họ công cụ hữu ích khác để sử dụng trong mối quan hệ địch thủ phức tạp phát sinh từ sự chia rẽ thế giới giữa hai khu vực ảnh hưởng của phương Tây và Liên Xô. Trong 269 lần sử dụng quyền phủ quyết từ năm 1946 tới 2012, hơn 225 lần là trước năm 1990 [40] . Liên Xô là nước dùng quyền phủ quyết tích cực nhất trong những năm 1950 và 1960, rồi Mỹ sau đó, chủ yếu để ngăn những nghị quyết lên án chính sách của Israel liên quan tới Lebanon hay Palestine. Trong thập kỷ qua, quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo an hiếm khi được sử dụng, cả Pháp và Anh đều không hề sử dụng quyền này trong hơn mười lăm năm. Tuy nhiên, từ năm 2006, Trung Quốc và Nga đã sử dụng quyền phủ quyết để bảo vệ các nhà nước độc đoán như Zimbabwe, Myanmar và Syria khỏi sự lên án và trừng phạt.

Nhưng nếu quyền phủ quyết ở Liên Hiệp Quốc của các cường quốc truyền thống chủ yếu mang tính ngấm ngầm răn đe, thì các quyền lực phủ quyết khác lại đang nở rộ. Một sân chơi mà trong đó quyền phủ quyết tỏ ra cực kỳ hiệu quả với các quốc gia đơn lẻ là Liên minh Châu Âu (EU). Năm 1963, khi cộng đồng này mới có sáu thành viên và bị áp đảo bởi liên minh Pháp-Đức, Charles de Gaulle đã phủ quyết đơn xin gia nhập của Anh. Ông lại phản đối lần nữa vào năm 1967 - dù cả năm đối tác của Pháp đều ủng hộ đơn gia nhập của Anh. Chỉ sau khi de Gaulle qua đời năm 1969, lập trường của Pháp mới trở nên mềm mỏng hơn, dân tới việc chấp thuận cho Anh, Đan Mạch và Ireland năm 1973. Quyền phủ quyết của Pháp là một ví dụ về một cường quốc - một trong hai tay chơi áp đảo trong Cộng đồng Kinh tế Châu Âu (EEC) thời đó - sử dụng sự phủ quyết để ngăn cản những nước khác gây ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia của họ, không khác công cụ ở Hội đồng Bảo an.

Như một hệ quả của việc mở rộng dần EU và nguyên tắc đồng thuận trong những quyết định chủ chốt, quyền lực đáng kể đã được trao vào tay hết thành viên mới này tới thành viên mới khác, đến mức độ mà một số nhà phân tích tự hỏi tại sao những thành viên hiện thời lại háo hức trong việc kết nạp thành viên mới đến thế. Mỗi làn sóng thành viên mới đã nhận được lợi ích, thường là về mặt tài chính, bằng cách đe dọa ngăn cản những sáng kiến mới. Nỗi lo sợ một cuộc trưng cầu dân ý ở Anh về việc tham gia EEC vào năm 1975 khiến Pháp và Đức đồng ý những điều khoản tài chính mới ưu ái hơn nhiều cho Anh. Sau này Hy Lạp, gia nhập năm 1981, và Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, năm 1986, đều có thể nhận lợi ích tài chính từ các thành viên khác đổi lấy việc không ngăn cản những hiệp ước mới nhắm tới việc thúc đẩy sự hội nhập, chẳng hạn như Hiệp ước Maastricht và việc phát triển đồng tiền chung.

EU giờ sử dụng hệ thống “bỏ phiếu theo đa số đủ tiêu chuẩn” với một công thức phức tạp chia tỉ lệ số phiếu cho mỗi nước dựa trên dân số và cần 255 trong 345 phiếu để một biện pháp được thông qua ở Hội đồng Châu Âu. Điều này vẫn tạo ra lá chắn cho các quốc gia nhỏ hơn, ngăn cản một nhóm nhỏ các nước lớn không thể thông qua bất cứ sáng kiến nào mà họ muốn. Nhưng những vấn đề chủ chốt, như chính sách chung và sự mở rộng hơn nữa của liên minh, vẫn đòi hỏi sự đồng thuận tuyệt đối và mỗi năm đều chứng kiến các nước nhỏ sử dụng quyền phủ quyết này để cản trở rất nhiều chính sách. Lấy ví dụ, Ba Lan đã phủ quyết một hiệp định đối tác thương mại chủ chốt EU-Nga vào năm 2007, cho tới khi Nga dỡ bỏ một lệnh cấm nhập khẩu thịt từ Ba Lan. Lithuania phủ quyết một thỏa thuận tương tự cho tới khi các đối tác EU của họ đồng ý ủng hộ lập trường của nước này trong hàng loạt các tranh chấp với Nga, bao gồm vấn đề bồi thường cho người Lithuania từng bị đưa đi các trại lao động tập trung ở Siberia. Hà Lan đã ngăn cản những cuộc thương lượng kết nạp Serbia vào EU do nước này không giao những người bị cáo buộc là tội phạm chiến tranh cho Tòa án Hình sự Quốc tế ở The Hague. Bằng cách này, các nước nhỏ đã sử dụng quyền phủ quyết để giành lấy sự nhượng bộ - đôi khi là những vấn đề lớn, nhưng đôi khi là những vấn đề có vẻ lặt vặt - từ các nước lớn hơn ở EU cho tới những nước đang tìm kiếm thỏa thuận với EU nói chung.

Bằng cách kiên quyết chống đối, những nước nhỏ có thể cản trở bất cứ sáng kiến quốc tế nào - và họ không ngần ngại làm thế. Thất bại của hội nghị thượng đỉnh biến đổi khí hậu Copenhagen vào tháng 12 năm 2009 được đổ cho nhiều nhân tố - sự miễn cưỡng của Mỹ và Trung Quốc trong việc đi tới một thỏa thuận, sự không khoan nhượng của các nước công nghiệp lớn hay các nước đang phát triển - nhưng rốt cuộc, điều đã cản trở ngay cả một sự đồng thuận yếu ớt là sự phản đối từ một liên minh trước kia khó mà tưởng tượng được: Venezuela, Bolivia, Sudan và đảo quốc nhỏ xíu ở Thái Bình Dương Tuvalu. Đại biểu Sudan so sánh những đề xuất của các nước giàu với Cuộc thảm sát người Do Thái trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, trong khi đại diện Venezuela cố ý cắt vào tay mình để hỏi liệu có cần phải đổ máu mới được lắng nghe hay không [41] . Những hành động của họ bị chê trách là lố bịch, nhưng những phản đối của các quốc gia đó đã làm gia tăng tâm trạng bối rối và bất đồng của điều vốn đã là một cuộc gặp đầy chia rẽ. Cuối cùng, hội nghị thượng đỉnh được thỏa thuận không thông qua, mà thay vào đó nó được “ghi nhận” - trở thành một sự mỉa mai với những nỗ lực của Mỹ, EU, Trung Quốc, Brazil, Ấn Độ và những nhà đàm phán nước lớn khác, gửi đi một thông điệp gây ngã lòng về cam kết toàn cầu tới một cách tiếp cận chung giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu.

EU đã thành công trong việc xây dựng một thỏa thuận ở cuộc đàm phán về khí hậu Durban của Liên Hiệp Quốc tháng 12 năm 2011 - chỉ để rồi thấy chính chính sách biến đổi khí hậu của họ bị ném qua cửa sổ ba tháng sau đó bởi một phiếu biểu quyết từ Ba Lan, vốn là một nước phụ thuộc lớn vào than đá [42] .

Tại sao những quyền phủ quyết lại hữu ích như thế với các nước nhỏ ngày nay? Một lý do lớn và đầy nghịch lý là sự phát tán của những tổ chức với ý định hợp tác quốc tế trên nhiều vấn đề. Càng nhiều các tổ chức như thế, càng nhiều những cơ hội để một nước có thể thể hiện lập trường về các vấn đề nhỏ hẹp, ý thức hệ, hay thậm chí là kỳ quặc, thường là vì những lý do chính trị nội địa ngắn hạn hơn là vì việc bảo vệ bất cứ nguyên tắc nào. Nhưng quyền phủ quyết của các nước nhỏ cũng hiệu quả vì các nước lớn không còn tầm mức của những củ cà rốt và cây gậy như trước để ép buộc sự tuân theo nữa. Sự suy tàn của quyền lực quân sự và kinh tế khiến các nước nhỏ ít bị tổn thương hơn bởi những lệnh trừng phạt mạnh mẽ từ các nước lớn truyền thống và các đối tác thương mại. Và sự phát tán của những kênh thông tin và liên lạc cho phép các nước nhỏ có thêm cách thức mới để trực tiếp đưa quan điểm của họ ra dư luận toàn cầu, nuôi dưỡng sự cảm thông và ủng hộ, thay vì chứng kiến nó bị giới hạn trong những cuộc thương lượng đằng sau cánh cửa đóng kín.

TỪ CÁC ĐẠI SỨ TỚI CÁC GONGO:

NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO MỚI

“Các đại sứ Mỹ - một giống loài đã lỗi thời?” Câu hỏi được đặt ra ngay từ năm 1984 bởi Elmer Plischke, nhà ứng dụng xuất sắc của lĩnh vực giờ đã mai một, lịch sử ngoại giao. Plischke chỉ ra rằng những thay đổi đang làm xói mòn tầm quan trọng của những ngài đại sứ với tư cách đại diện của quốc gia họ, bao gồm việc đi lại và công nghệ thông tin liên lạc dễ dàng hơn, sự nổi lên của những phương tiện để các chính phủ có thể liên lạc trực tiếp với công chúng ở nước khác, hiệu ứng pha loãng trước sự xuất hiện ngày càng nhiều các quốc gia-nhà nước, bao gồm rất nhiều nước nhỏ, mỗi nước với một phái bộ ngoại giao riêng được triển khai [43] . Tất cả những sự thay đổi này, tất nhiên, chỉ mới tăng tốc trong ba thập kỷ vừa qua.

Ý tưởng về việc ngoại giao là một lĩnh vực đang suy giảm không mới. Vào năm 1962, học giả Josef Korbel, một người di cư Czech và là cha của Madeleine Albright*, đã viết về “sự tuột dốc của ngoại giao” như những giá trị và quy trình cũ được phát triển qua hàng thế kỷ trong nghề ngoại giao bắt đầu suy tàn. Trong số những điều bị ảnh hưởng có sự toàn quyền hành động, thái độ, sự kiên nhẫn, kiến thức chung về những vấn đề liên quan và sự xa lánh của dư luận vốn xốc nổi. “Thế giới ngoại giao hiện đại đã xâm phạm quá thường xuyên tới những luật lệ ngoại giao cơ bản”, Korbel viết, “và là một thế giới bị ép buộc làm những việc tội lỗi mà các phe đều làm”. Ngoài sự suy yếu của những giá trị truyền thống, Korbel chỉ ra việc các chính trị gia bỏ qua những nhà ngoại giao ở các cuộc họp thượng đỉnh và các chuyến thăm cấp nhà nước, khi nhiều năm ròng các nguyên thủ hay thậm chí là Bộ trưởng ngoại giao hiếm khi nào ra nước ngoài. Và ông chỉ ra rằng những chế độ dân chủ tạo ra không gian cho các nước khác trình bày vấn đề của họ một cách trực tiếp, ngay cả khi họ không được đáp ứng, như thế, ông cho rằng, các nhà lãnh đạo Liên Xô được tiếp cận quần chúng Mỹ trong khi người Mỹ không được hưởng sự tiếp cận trực tiếp như thế với người dân Liên Xô [44] .

Madeleine Albright: Nữ Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đầu tiên. Bà đã được Tồng thống Bill Clinton bổ nhiệm chức này vào năm 1996.

Ngày nay, những kênh tiếp cận trực tiếp bùng nổ trong sự dồi dào các nhóm vận động chính trị, sắc tộc và tôn giáo - những thỉnh nguyện của các cộng đồng nhập cư giàu có đại diện cho đất nước quê hương của họ hay những người di cư đại diện cho nước chủ nhà, những bản tin và hoạt động quan hệ công chúng thân thiện được đưa lên báo chí, những sự kiện được tài trợ bởi các tổ chức văn hóa và du lịch, những hoạt động của các luật sư và những nhà vận động hành lang được trả tiền, và một nguồn dồi dào những blog, diễn đàn, quảng cáo, và tuyên truyền trong không gian mạng. Với một số quốc gia, yếu tố lãnh đạo của việc thúc đẩy lợi ích ở nước ngoài không chỉ là nhân viên tòa đại sứ, với những nghi thức ngoại giao và giới hạn an ninh của nó, mà là Gongo. Gongo là gì? Đó là một một tổ chức phi chính phủ do chính phủ tổ chức: một tổ chức mạo nhận là một phần của xã hội dân sự nhưng thực ra được thành lập, chi tiền, hay chỉ đạo bởi một chính phủ hay những người hành động đại diện cho chính phủ đó [45] .

Lấy ví dụ, một Gongo chiếm nguyên tòa cao ốc dễ chịu, tẻ nhạt ở Chiyoda-ku, Tokyo, gần với Hoàng cung. Chongryon, Tổng hội Người Triều Tiên ở Nhật Bản, có khoảng 150.000 thành viên và phục vụ một cộng đồng thiểu số lớn hơn thế vài lần. Nó điều hành khoảng 60 trường học, bao gồm một trường đại học. Nó cũng sở hữu các doanh nghiệp, bao gồm những phần góp vốn trong các ngân hàng và ngành cờ bạc tại các khu đặt máy đánh bạc pachinko phổ biến ở Nhật Bản. Nhưng nó còn cấp cả hộ chiếu. Sở dĩ như thế vì Chongryon thực hiện vai trò thực tế là đại sứ quán ở Tokyo cho Bắc Triều Tiên, nước không có quan hệ ngoại giao với Nhật Bản. Trong các trường học của nó, chủ thuyết của chế độ Kim Jong-Un được giảng dạy nhiệt tình. Qua nhiều năm, Bắc Triều Tiên trở nên cô lập và nghèo đói, nhưng Chongryon vẫn tiếp tục. Nó đã không còn nguồn tài trợ trực tiếp từ chính phủ Bắc Triều Tiên và Nhật Bản đã ngừng một số ưu đãi về thuế cho nó. Khi nó rơi vào nợ nần, một cựu quan chức tình báo Nhật Bản đã tìm cách đuổi nó ra khỏi tổng hành dinh hiện giờ. Chongryon khuyến khích người Triều Tiên ở Nhật Bản duy trì bản sắc dân tộc của họ và từ chối các định chế của Nhật Bản, nhưng nó vẫn hài lòng khi thấy tòa án Nhật Bản ra phán quyết khôi phục quyền sở hữu tòa nhà cho nó [46] .

Không phải mọi Gongo đều nguy hiểm: Quỹ Tiền gửi Quốc gia vì Dân chủ Mỹ, một tổ chức phi lợi nhuận tư nhân được tạo ra năm 1983 để ủng hộ những định chế dân chủ trên toàn thế giới, do chính phủ Mỹ bỏ tiền. Điều đó khiến nó là một Gongo. Và công việc của nó đã thu hút sự bực dọc từ những kẻ chống đối bao gồm Ai Cập (đã bỏ tù và tìm cách xét xử một số nhân viên của quỹ), chính phủ Nga, và một tờ báo Trung Quốc đã gọi hoạt động thúc đẩy dân chủ do Mỹ hỗ trợ là “vì mục đích ích kỷ, áp bức và vô đạo đức” [47] . Những Gongo khác hoạt động trong không gian văn hóa; trong số đó có Hội đồng Anh, Viện Alliance Francaise, Viện Goethe và Viện Cervantes, vốn thúc đẩy nghệ thuật và giảng dạy ngôn ngữ của quốc gia họ ở nước ngoài. Nhiều nhóm tôn giáo hoạt động ở nước ngoài nhận sự hỗ trợ từ A-rập Saudi, Iran và các nước khác tìm cách thúc đẩy không chỉ đức tin Hồi giáo, mà cả một nghị trình địa chính trị cụ thể. Các cơ sở Gongo có thể cực kỳ sáng tạo: lấy ví dụ là chương trình thường niên của chính phủ Chavez ở Venezuela trợ giá năng lượng sưởi ấm giá rẻ cho hàng nghìn gia đình ở đông bắc Mỹ, thông qua những món quà từ công ty dầu khí nhà nước Venezuela tới một công ty năng lượng ở Boston được điều hành bởi cựu nghị sĩ và biểu tượng chính trị Joe Kennedy.

Như những ví dụ này cho thấy, Gongo là một nhóm trộn lẫn - và chúng sẽ còn hoạt động lâu dài. Tại sao? Vì những rào cản chính trị, kinh tế và thông tin thấp hơn khiến chúng được ưa thích hơn nhiều so với công việc rườm rà bị mắc kẹt trong quy định của một ngài phó đại sứ, một quan chức chính trị hay một tùy viên khoa học. Triển khai Gongo trên một chủ đề đang được quan tâm tức thời có thể rẻ hơn nhiều so với chất đống nhân sự và nguồn lực trong một phái bộ ngoại giao - hay cũng tương tự, trả tiền cho một công ty vận động hành lang hay quan hệ công chúng đắt đỏ. Và không gian mạng tạo ra những Gongo của chính nó, trong hình thức những người viết blog, làm video và những tiếng nói trực tuyến khác thúc đẩy quan điểm của một nước và có thể tuân theo sự khuyến khích và bảo hiểm rủi ro.

NHỮNG LIÊN MINH CỦA SỐ ÍT

Sự tăng theo cấp số nhân của các mối quan hệ đối tác, một số chính thức hơn những số khác, giữa các quốc gia liên quan tới một vấn đề phản ánh sự dịch chuyển những lằn ranh của quyền lực trong địa chính trị ngày nay. Nhóm Cairns, được thành lập năm 1986 để cải cách thương mại trong nông nghiệp, tập hợp được 19 nước xuất khẩu lương thực thực phẩm, bao gồm Canada, Paraguay, Nam Phi, Argentina và Philippines, nhằm thúc đẩy cả việc cắt giảm thuế lẫn trợ cấp. Và nhóm BRICS, như đã nói, một từ viết tắt cho 5 thị trường mới nổi lớn - Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và giờ thêm Nam Phi - đã tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên ở Nga năm 2009, dù từ viết tắt này được nghĩ ra bởi một quan chức ngân hàng của Goldman tám năm trước đó và đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng tài chính của nó trước khi các chính trị gia nhảy vào. Nga cũng thuộc nhóm G-8 các quốc gia công nghiệp. Mexico và Nam Phi gia nhập cùng Brazil, Ấn Độ và Trung Quốc như các nước “cộng 5” trong tổ chức mở rộng G8+5. Có hai nhóm G-20 khác nhau, một bao gồm Bộ trưởng tài chính và Thống đốc ngân hàng trung ương của 19 nước lớn, cộng thêm EU; còn lại là một nhóm các nước đang phát triển giờ đã tăng lên hơn 20 nước. Tư cách thành viên của hai nhóm này chồng lấn lên nhau. Những khối thương mại và các cơ quan hợp tác khu vực mới đang nở rộ ở khắp nơi trên thế giới. Và Liên minh Bolivar của các quốc gia châu Mỹ (ALBA), một liên minh khởi động bởi Venezuela và Cuba năm 2005, có 7 thành viên bao gồm Ecuador, Nicaragua, các quốc gia Caribe như St. Vincent và Grenadines, Dominica, Antigua và Barbuda. Nó giống một hiệp ước thương mại nhưng có nhiều tham vọng chính trị hơn, trong số nhũng lợi ích nhóm chia sẻ cùng nhau có cả việc chăm sóc mắt (do Cuba cung cấp và được tài trợ bằng dầu mỏ của Venezuela) [48] .

Đặc điểm chung chủ chốt là không nhóm nào trong các nhóm này cố gắng là một liên minh toàn cầu. Bằng cách chỉ chấp nhận những thành viên với một viễn kiến hay các mối quan tâm chung, chúng giống với những “liên minh tình nguyện” trong cuộc chiến của Mỹ ở Iraq và Afghanistan hơn là Liên Hiệp Quốc và các cuộc thương lượng quốc tế về biến đổi khí hậu. Tháng 3 năm 2012 chẳng hạn, các thành viên của BRICS đã thảo luận việc thành lập một ngân hàng phát triển chung để huy động các khoản tiết kiệm trong những nước này và thúc đẩy việc mở cửa các mối liên hệ thương mại lớn hơn, đặc biệt là giữa các thành viên khác với Nga và Trung Quốc [49] .

Những nhóm tập hợp như thế cũng có cơ hội cao hơn để đạt được bất cứ mục tiêu nào mà họ đặt ra. Những thỏa thuận toàn cầu đã trở nên vô cùng hiếm hoi - nhất là những thỏa thuận thật sự hiệu quả. Thỏa thuận thương mại toàn cầu cuối cùng là vào năm 1994, sự đồng thuận tạo ra Tổ chức Thương mại Thế giới, Mỹ vẫn chưa phê chuẩn Nghị định thư Kyoto và nhiều văn kiện khác đã lỡ mục tiêu: Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc, được ký bởi 192 nước vào năm 2000, đặt ra nhiều mục tiêu xã hội trên toàn cầu phải đạt được vào một thời điểm hạn chót là năm 2015. Thất bại hoàn toàn ở Copenhagen, với chi phí lớn cho các nỗ lực ngoại giao chỉ để dân tới một kết quả mang tính biểu tượng, tiêu biểu nhiều về các sáng kiến đa phương nhắm vào sự tham gia của cả thế giới.

Những sự thay thế là điều mà tôi gọi là chủ nghĩa đa phương thu nhỏ. Ở nghĩa chuẩn xác nhất của nó, chủ nghĩa đa phương thu nhỏ bao gồm sự tập hợp số lượng tối thiểu cần thiết các nước để thực hiện một thay đổi lớn đến cách mà thế giới xử lý một vấn đề cụ thể - lấy ví dụ, 10 nước gây ô nhiễm lớn nhất, 20 nước tiêu thụ các loài cá đang bị đe dọa nhiều nhất, 12 nước liên quan chủ yếu tới viện trợ cho châu Phi cả với tư cách người cho và người nhận, và vân vân. Chủ nghĩa đa phương thu nhỏ có thể phục vụ cả các nước nhỏ, khi nó định hình thành những liên minh của thiểu số không chỉ có cơ hội thành công lớn hơn, mà đồng thời cũng không bị ép phải im lặng bởi những cường quốc áp đảo nhưng sức mạnh đã suy giảm. Tới lượt nó, chủ nghĩa đa phương thu nhỏ dễ tổn thương bởi sự suy tàn quyền lực. Vì nhiều trong những hiệp hội đó là chuyên biệt và thiếu áp lực đạo đức của tư cách thành viên toàn cầu, chúng dễ bị tổn thương hơn bởi sự tan rã và rời bỏ hàng ngũ khi một chính phủ thành viên sụp đổ, khi có sự bất mãn trong dân chúng hay khi những ưu tiên chính sách của quốc gia thay đổi [50] .

CÓ AI CHỊU TRÁCH NHIỆM Ở ĐÂY KHÔNG?

Sự san phẳng các thứ bậc có nghĩa là một nhóm nhỏ những quốc gia áp đảo (chứ đừng nói một siêu cường duy nhất) không còn nắm giữ quyền kiểm soát hướng đi của hợp tác quốc tế và cách thế giới xử lý các cuộc khủng hoảng hiện tại và tương lai. Nó cũng đồng nghĩa với việc bỏ qua các thể thức ngoại giao lâu đời - các bộ ngoại giao, tòa đại sứ và nhân viên của nó, các cơ quan viện trợ quốc gia và các cơ chế song phương khác - vốn kiểm soát những mặt khác nhau của các mối quan hệ xuyên biên giới. Các nhà ngoại giao một thời là người giữ cửa và bảo vệ của những nguyên tắc tương tác nhất định giữa các nước. Giờ họ mất đi vai trò trung gian và những lợi thế của kỹ năng quản trị nhà nước trở nên cùn nhụt, trong bối cảnh các nước nhỏ bắt đầu tiến tới, sự nổi lên của các nhân tố phi nhà nước và những kênh tiếp cận trực tiếp với quan điểm của dư luận ở nước ngoài.

Cấu trúc lớn của sự hợp tác và răn đe được xây dựng trong bảy thập kỷ qua đã đủ mạnh để chứng kiến quá trình phi thực dân hóa, ngăn cản những cuộc chinh phục và xâm lược, hạn chế những cuộc ly khai. Sự tan rã của những liên minh cồng kềnh được gắn kết với nhau bởi ý thức hệ và sức mạnh - Liên Xô và Nam Tư - là những ngoại lệ xác nhận quy luật đó. Như thế, các nhà nước có chủ quyền vẫn tiếp tục tồn tại và sở hữu những công cụ của chủ quyền, vốn không hề kém quan trọng: quân đội, các điểm kiểm soát biên giới, đồng tiền, chính sách kinh tế, thuế khóa. Mối kình địch giữa các nhà nước - cùng với biểu hiện của nó thông qua Trò Chơi Lớn của những cuộc thương lượng, liên minh, thỏa thuận, tuyên truyền và đối đầu – vẫn ở đó.

Và không phải lúc nào ếch cũng cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng. Quyền lực của Mỹ hay Trung Quốc vẫn vượt trội so với một nước nhỏ ở châu Âu, Mỹ Latin hay châu Âu cả trên lý thuyết và gần như luôn luôn, trên thực tế. Vấn đề là sự hiệu quả của quyền lực đó đang suy giảm, chứ không phải vị thế của nó. Tổng thống Mỹ sẽ luôn được nghe máy trong một cuộc gọi điện thoại ở bất cứ thời điểm nào và bất kỳ đâu trên thế giới. Ông có thể lao vào một cuộc gặp với các nhà lãnh đạo đồng cấp và hướng dẫn cuộc thương lượng. Tầm ảnh hưởng của Thủ tướng Trung Quốc đo đạc theo cách này đang gia tăng. Đó là những động thái được thấy rõ ở các hội thảo hay cuộc gặp thượng đỉnh quốc tế và chúng có ảnh hưởng lên kết quả. Việc theo dõi sát chúng còn hơn là một vấn đề về chủ nghĩa sô-vanh nước lớn hay sự gắn chặt với những cách thức cũ kỹ: nó thực sự tạo ra sự khác biệt.

Nhưng sự suy tàn của quyền lực có nghĩa là sự ám ảnh về việc cường quốc nào đang nổi lên và cường quốc nào đang suy thoái, như thể địa chính trị rốt cuộc chỉ là một trò chơi có tổng bằng không giữa những quốc gia địa vị cao trên toàn cầu, là sai lầm. Không sai, tự mỗi vấn đề mà họ phải đối mặt đều rất quan trọng. Sự điều chỉnh sức mạnh quân sự giữa Mỹ, Nga và Trung Quốc chắc chắn là một vấn đề đáng quan tâm. Tương tự là bản chất các phản ứng của Trung Quốc với đề nghị của Mỹ về việc quản lý đồng nội tệ khác đi. Giống như thế là những khác biệt giữa Mỹ và Liên minh Châu Âu về chính sách thương mại, trợ giá cho nông nghiệp và việc truy tố các tội phạm chiến tranh. Hay lập trường của Ấn Độ và Trung Quốc về khí thải carbon. Nhưng không điều nào trong số đó báo hiệu cho sự suy tàn của một siêu cường và sự nổi lên của một siêu cường khác thay thế. Các siêu cường trong tương lai sẽ không giống và không hành động như trong quá khứ. Không gian để họ hoạt động đã bị siết chặt lại và khả năng ngăn cản, điều chỉnh, hay đơn giản là phớt lờ họ của các quốc gia nhỏ sẽ tiếp tục gia tăng.

Vậy, liệu điều đó có nghĩa là quan điểm thay thế đúng? Liệu thế giới có đang đi vào vòng xoáy tới một phiên bản cập nhật thế kỷ XXI của cuộc chiến tất cả chống lại tất cả như lời Hobbes, được phức tạp hóa hơn bởi những lằn ranh mờ và chồng lấn lên nhau giữa các quốc gia-nhà nước, các nhân tố phi nhà nước, các dòng chảy tài chính không bị kiểm soát, những tổ chức từ thiện, NGO và Gongo, cùng những nhân tố tự do đủ loại? Câu trả lời mặc định là đúng - trừ khi, và cho tới khi, chúng ta tự điều chỉnh theo sự suy thoái của quyền lực và chấp nhận rằng cách chúng ta hợp tác xuyên biên giới, cả bên trong lẫn bên ngoài bộ khung của các chính phủ, phải thay đổi.

Không có lý do gì chúng ta không thể làm như thế. Sự sụp đổ của hệ thống thế giới đã được dự báo lặp đi lặp lại vào thời đại công nghệ thay đổi và văn hóa lẫn nhân khẩu học đảo lộn. Thomas Malthus dự đoán rằng thế giới không chịu nổi sức ép gia tăng dân số. Nhưng nó đã chịu được. Chứng kiến cuộc cách mạng công nghiệp và sự mở rộng của thị trường và thương mại toàn cầu trong thế kỷ XIX, nhiều người tiên đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản dưới sức nặng của những mâu thuẩn nội tại của nó. Nó đã không sụp đổ. Chiến tranh Thế giới Thứ hai và Cuộc thảm sát người Do Thái (Holocaust) đã làm rung chuyển sâu sắc lòng tin vào khía cạnh đạo đức trong nhân tính, nhưng những quy chuẩn và định chế thế giới được thiết lập nên để phản ứng lại đã tồn tại tới tận ngày nay. Sự hủy diệt bởi vũ khí hạt nhân, nỗi sợ chủ yếu của những năm 1950 và 1960, đã không xảy ra.

Một bộ tổng hòa những đe dọa và khủng hoảng quốc tế ngày nay - từ sự nóng lên toàn cầu và cạn kiệt tài nguyên tới sự phổ biến vũ khí hạt nhân, nạn buôn người, chủ nghĩa cực đoan, và hơn nữa - xảy đến khi thứ bậc của các quốc gia đảo lộn và chính việc thực thi quyền lực nhà nước không còn như nó đã từng nữa. Có những kết hợp rất chướng tai gai mắt. Mỗi cuộc thảm sát, đánh bom hay thảm họa môi trường mới lại khiến chúng ta chấn động như mới, còn những kết quả cực nhọc, mơ hồ từ các hội thảo và cuộc gặp thượng đỉnh có vẻ mang tới rất ít sự an ủi và hy vọng. Có vẻ như chẳng ai đang chịu trách nhiệm cả. Cảm giác đó, và những khuynh hướng khiêu khích nó, sẽ tiếp tục. Nhưng tìm kiếm một siêu cường hiện tại hay một siêu cường mới hay một ủy ban các quốc gia ở thứ bậc cao để áp đặt lại sự kiểm soát là sai lầm ngu ngốc. Giải pháp cho các thách thức với quan hệ quốc tế mới - mà mức độ cao nhất là sự chia sẻ hành tinh này - sẽ xuất hiện trong một bối cảnh mà quyền lực dễ đạt được hơn và khó sử dụng, hay thậm chí là giữ được.

⚝ ✽ ⚝

[1] Peter Hartcher, “Tipping Point from West to Rest Just Passed (tạm dịch: Vừa Đạt Tới Điểm Bùng Phát Từ Phương Tây Sang Phần Còn Lại)”, Sidney Morning Herald, ngày 17 tháng 4 năm 2012.

[2] Những bình luận cho bài viết của Hartcher đề ngày 17 tháng 4 năm 2012.

[3] “Secret us Embassy Cables Revealed (tạm dịch: Những Công Hàm Bí Mật Của Đại Sứ Quán Mỹ Bị Tiết Lộ)”, AI Jazeera, ngày 29 tháng 11 năm 2010.

[4] Phỏng vấn với Jessica Mathews, Washington, tháng 9 năm 2012.

[5] Phỏng vấn với Zbigniew Brzezinski, Washington, tháng 5 năm 2012.

[6] Murphy, Are We Rome? The Fall of an Empire and the Fate of America.

[7] “Bin-Laden’s Death One of Top News Stories of 21th Century (tạm dịch: Cái Chết Của Bin Laden Là Một Trong Những Câu Chuyện Tin Tức Hàng Đầu Của Thế Kỷ XXI)”, Global Language Monitor, ngày 6 tháng 5 năm 2011, http://www.languagemonitor. com/top-news/bin-ladens-death-one-of-top-news-stories-of-21th-century/.

[8] Robert Fogel, “123,000,000,000,000”, Foreign Policy, tháng 1-2 năm 2010; xem thêm Dadush, Juggernaut.

[9] Joe Leahy và Stefan Wagstyl, “Brazil Becomes Sixth Biggest Economy (tạm dịch: Brazil Trở Thành Nền Kinh Tế Lớn Thứ Sáu)”, Financial Times, ngày 7 tháng 3 năm 2012, trang 4.

[10] Kindleberger, The World in Depression, 1929-1939; xem thêm Milner, “International Political Economy: Beyond Hegemonic Stability (tạm dịch: Kinh Tế Chính Trị Quốc Tế: Bên Ngoài Sự Ổn Định Của Một Siêu Cường Duy Nhất)”, Foreign Policy, mùa xuân 1998.

[11] William C. Wohlforth, “The Stability of a Unipolar World (tạm dịch: Sự Ổn Định Của Một Thế Giới Đơn Cực)”, International Security 24, số 1 (1999): 5-41.

[12] See Nye, Bound to Lead: The Changing Nature of American Power, và Nye, Soft Power: The Means to Success in World Politics. Năm 2011, Nye xuất bản một cuốn sách khác về chủ đề này với tựa đề The Future of Power.

[13] Patrick, “Multilateralism and Its Discontents: The Causes and Consequences of U.S. Ambivalence (tạm dịch: Chủ Nghĩa Đa Phương Và Những Sự Bất Bình Của Nó: Những Nguyên Nhân Và Hậu Quả Của Sự Yêu Ghét Mâu Thuẫn Với Nước Mỹ)”.

[14] Bộ Ngoại giao Mỹ, Treaties in Force: A List of Treaties and Other International Agreements of the United States in Force on January 1, 2012.

[15] Peter Liberman, “What to Read on American Primacy (tạm dịch: Đọc Được Gì Từ Địa Vị Siêu Cường Của Mỹ)”, Foreign Affairs, ngày 12 tháng 3 năm 2009; xem thêm Stephen Brooks và WilliamWohlforth, “Hard Times for Soft Balancing (tạm dịch: Thời Đại Khó Khăn Cho Sự Cân Bằng Mềm)”, International Security 30, số 1 (mùa hè 2005): 72-108.

[16] Ferguson, Colossus.

[17] Robert Kagan, “The End of the End of History (tạm dịch: Kết Thúc Của Kết Thúc Của Lịch Sử)”, New Republic, ngày 23 tháng 4 năm 2008.

[18] Robert A. Pape, “Soft Balancing Against the United States (tạm dịch: Cân Bằng Mềm Chống Lại Nước Mỹ)”, International Security 30, số 1 (mùa hè 2005): 7-45; về cân bằng mềm, xem thêm Stephen Brooks và William Wohlforth, “Hard Times for Soft Balancing (tạm dịch: Thời Đại Khó Khăn Cho Sự Cân Bằng Mềm)”, International Security 30, no. 1 (mùa hè 2005): 72-108.

[19] Zakaria, The Post-American World.

[20] Randall L. Schweller, “Ennui Becomes Us (tạm dịch: Sự Chán Nản Trở Thành Chúng Ta)”, The National Interest , tháng 1-2 năm 2010.

[21] Douglas M. Gibler, International Military Alliances from 1648 to 2008.

[22] Về ISAF, xem Anna Mulrine, “In Afghanistan, the NATO-led Force Is ‘Underresourced’ for the Fight Against the Taliban: When It Comes to Combat, It Is a Coalition of the Willing and Not-So-Willing (tạm dịch: Ở Afghanistan, Lực Lượng Do NATO Dẫn Đầu Đang ‘Quá Tải Về Nguồn Lực’ Trong Cuộc Chiến Chống Taliban: Khi Đụng Tới Chiến Trận, Đó Là Một Liên Minh Của Ý Chí Và Không Hẳn Là Ý Chí)”, U.S. News, ngày 5 tháng 6 năm 2008.

[23] “Spanish Court says Venezuela Helped ETA, FARC (tạm dịch: Tòa Án Tây Ban Nha Nói Venezuela Đã Giúp Đỡ ETA, FARC)”, Reuters, ngày 1 tháng 3 năm 2010.

[24] “Small Arms Report by the UN Secretary General, 2011 (tạm dịch: Báo Cáo Vũ Khí Nhỏ Của Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, 2011)”, http://www.iansa.org/resource/2011/04/small-arms-report-by-the-un-secretary-general-2011.

[25] Cho dữ liệu về Ấn Độ và Brazil, xem “Aid Architecture: An Overview of the Main Trends in Official Development Assistance Flows (tạm dịch: Kiến Trúc Viện Trợ: Một Tầm Nhìn Chung Về Những Khuynh Hướng Chính Trong Những Dòng Viện Trợ Phát Triển Chính Thức)”, Ngân hàng Thế giới, tháng 5 năm 2008.

[26] Homi Kharas, “Development Assistance in the 21st Century (tạm dịch: Viện Trợ Phát Triển Trong Thế Kỷ XXI)”; xem thêm Waltz và Ramachandran, “Brave New World: A Literature Review of Emerging Donors and the Changing Nature of Foreign Assistance (tạm dịch: Thế Giới Can Đảm Mới: Một Đánh Giá Học Thuật Về Các Nhà Tài Trợ Đang Nổi Lên Và Bản Chất Đang Thay Đổi Của Viện Trợ Nước Ngoài)”.

[27] Kharas, “Development Assistance in the 21st Century (tạm dịch: Viện Trợ Phát Triển Trong Thế Kỷ XXI)”.

[28] Đã dẫn.

[29] “Aid Architecture: An Overview of the Main Trends in Official Development Assistance FIows (tạm dịch: Kiến Trúc Viện Trợ: Một Tầm Nhìn Chung Về Những Khuynh Hướng Chính Trong Những Dòng Viện Trợ Phát Triển Chính Thức)”; xem thêm Homi Kharas, “Trends and Issues in Development Aid (tạm dịch: Những Khuynh Hướng Và Vấn Đề Trong Viện Trợ Phát Triển)”.

[30] Những nguồn cho dữ liệu đầu tư Nam-Nam có thể được tìm thấy trong Chương 8.

[31] Để có thêm thông tin về Dự án Pew Global Attitudes, xem http://www.pewglobal.org/.

[32] Kathrin Hille, “Beijing Makes Voice Heard in US (tạm dịch: Bắc Kinh Khiến Tiếng Nói Được Nghe Thấy Ở Mỹ)”, Financial Times, ngày 14 tháng 2 năm 2012.

[33] Joshua Kurlantzick, “China’s Charm: Implications of Chinese Soft Power (tạm dịch: Sự Hấp Dẫn Của Trung Quốc: Những Ngụ Ý Về Quyền Lực Mềm Của Trung Quốc)”, CEIP Policy Briet số 47, tháng 6 năm 2006; Kurlantzick, “Chinese Soft Power in Southeast Asia (tạm dịch: Quyền lực mềm của Trung Quốc ở Đông Nam Á)”, The Globalist, ngày 7 tháng 7 năm 2007; Loro Horta, “China in Africa: Soft Power, Hard Results (tạm dịch: Trung Quốc Ở Châu Phi: Quyền Lực Mềm, Kết Quả Cứng)”, Yale Global Online, ngày 13 tháng 11 năm 2009; Joshua Eisenman và Joshua Kurlantzick, “China’s Africa Strategy (tạm dịch: Chiến Lược Châu Phi Của Trung Quốc)”, Current History, tháng 5 năm 2006.

[34] Tharoor, “India’s Bollywood Power (tạm dịch: Quyền Lực Bollywood Của Ấn Độ)”; xem thêm Tharoor, “Indian Strategic Power: ‘Soft’ (tạm dịch: Quyền Lực Chiến Lược Của Ấn Độ: ‘Mềm’)”.

[35] “India Projecting Its Soft Power Globally: ICCR Chiet (tạm dịch: Ấn Độ Thúc Đẩy Quyền Lực Mềm Trên Phạm Vi Toàn Cầu)”, Deccan Herald (New Delhi), ngày 7 tháng 10 năm 2011.

[36] Ibsen Martinez, “Romancing the Globe (tạm dịch: Lãng Mạn Hóa Địa Cầu)”, Foreign Policy, ngày 10 tháng 11 năm 2005; về ví dụ Hàn Quốc, xem Akshita Nanda, “Korean Wave Now a Tsunami (tạm dịch: Làn Sóng Hàn Giờ Là Một Cơn Sóng Thần)”, Straits Times, ngày 13 tháng 12 năm 2009.

[37] Chỉ số Thương hiệu Quốc gia The Anholt-GfK Roper (2012), http://www.gfkamerica.com/newsroom/press_releases/single_sites/008787/index.en.html.

[38] Sam Dagher, Charles Levinson, và Margaret Coker, “Tiny Kingdom’s Huge Role in Libya Draws Concern (tạm dịch: Vai Trò Lớn Của Vương Quốc Nhỏ Ở Libya Gây Ra Quan Ngại)”, Wall Street Journal, ngày 17 tháng 10 năm 2011.

[39] Georgina Adam, “Energy - and Ambition to Match (tạm dịch: Năng Lượng - Và Tham Vọng Tương Xứng)”, Financial Times, ngày 10 tháng 3 năm 2012.

[40] Global Security Forum, “Changing Patterns in the Use of the Veto in The Security Council (tạm dịch: Những Hình Mẫu Thay Đổi Trong Việc Sử Dụng Quyền Phủ Quyết Ở Hội Đồng Bảo An)”, tháng 6 năm 2012,_http://www.globalpolicy.org/images/pdfs/Tables_and_Charts/Changing_Patterns_in_the_Use_of_the_Veto_as_of_March_16_2012.pdf.

[41] “Copenhagen Summit Ends in Blood, Sweat and Recrimination (tạm dịch: Hội Nghị Thượng Đỉnh Copenhagen Kết Thúc Trong Máu, Mồ Hôi Và Sự Tố Cáo Lẫn Nhau)”, The Telegraph, ngày 20 tháng 12 năm 2009.

[42] Joshua Chaffin và Pilita Clark, “Poland Vetoes EU’s Emissions Plan (tạm dịch: Ba Lan Phủ Quyết Kế Hoạch Khí Thải Của EU)”, Financial Times, ngày 10-11 tháng 3 năm 2012.

[43] Elmer Plischke, “American Ambassadors - An Obsolete Species? Some Alternatives to Traditional Diplomatic Representation (tạm dịch: Những Đại Sứ Mỹ - Một Giống Loài Lỗi Thời? Một Số Sự Thay Thế Cho Sự Đại Diện Ngoại Giao Truyền Thống)”, World Affairs 147, số 1 (mùa hè 1984): 2-23.

[44] Josef Korbel, “The Decline of Diplomacy: Have Traditional Methods Proved Unworkable in the Modern Era? (tạm dịch: Sự Sa Sút Của Ngoại Giao: Phải Chăng Những Phương Pháp Truyền Thống Tỏ Ra Không Hiệu Quả Trong Thời Hiện Đại?)”, Worldview, tháng 4 năm 1962.

[45] Moisés Naím, “Democracy’s Dangerous Impostors (tạm dịch: Những Kẻ Mạo Danh Nguy Hiểm Của Dân Chủ)” ,Washington Post, ngày 21 tháng 4 năm 2007; Naím, “What Is a GONGO? (tạm dịch: Một GONGO Là Gì?)”, Foreign Policy, ngày 18 tháng 4 năm 2007.

[46] Một ví dụ khác liên quan tới Transdniestria; xem “Disinformation (tạm dịch: Thông Tin Sai Lạc)”, Economist, ngày 3 tháng 8 năm 2006.

[47] Được trích dẫn bởi Naím, “Democracy’s Dangerous Impostors (tạm dịch: Những Kẻ Mạo Danh Nguy Hiểm Của Dân Chủ)”.

[48] Về ALBA, xem Joel Hirst, “The Bolivarian Alliance of the Americas (tạm dịch: Liên Minh Bolivar Của Châu Mỹ)”, Council on Foreign Relations, tháng 12 năm 2010.

[49] Joe Leahy and James Lamont, “BRICS to Debate Creation of Common Bank (tạm dịch: BRICS Sẽ Tranh Luận Về Việc Tạo Ra Một Ngân Hàng Chung)”, Financial Times, tháng 3 năm 2012.

[50] Về chủ nghĩa đa phương thu nhỏ, xem Moisés Naím, “Minilateralism: The Magic Number to Get Real International Action (tạm dịch: Chủ Nghĩa Đa Phương Thu Nhỏ: Con Số Ma Thuật Để Có Hành Động Quốc Tế Thực Sự)”, Foreign Policy, tháng 7-8 năm 2009. Để xem phản hồi của Stephen Walt, xem “On Minilateralism (tạm dịch: Về Chủ Nghĩa Đa Phương Thu Nhỏ)”, Foreignpolicy.com, thứ Ba, ngày 23 tháng 6 năm 2009, http://walt. foreignpolicy.com/posts/2009/06/23/on_mmilateralism.

« Lùi
Tiến »