Sự Suy Tàn Của Quyền Lực

Lượt đọc: 595 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG TÁM
làm ăn khác thường

Sự Thống Trị Của Các Tập Đoàn Bị Đe Dọa

Trong nhiều thập kỷ, nhóm “Bảy Chị em” - những công ty khổng lồ, tích hợp theo chiều dọc như Exxon và Shell - đã thống trị ngành dầu mỏ, “Bộ Ngũ” cai trị ngành kế toán, “Bộ Ba” kiểm soát ngành sản xuất xe, cũng giống như ba mạng truyền hình và sau này, hai công ty máy tính trong công nghệ thông tin. Hình mẫu tương tự nổi lên ở nhiều ngành khác: một số ít công ty thống trị các thị trường tương ứng, họ lớn, giàu có, mang tính toàn cầu, hùng mạnh và được bảo vệ tới mức hạ bệ họ là điều không tưởng.

Không còn như thế nữa. Khắp các lĩnh vực của nền kinh tế toàn cầu, cấu trúc tĩnh tại này đã biến mất và sự cạnh tranh lên tốp đầu khốc liệt hơn bao giờ hết. Shell hay IBM hay Sony có thể vẫn ở gần đỉnh, nhưng họ cảm thấy quyền lực thị trường của mình giảm bớt và sự thống trị của họ suy yếu cùng lúc những đối thủ cạnh tranh mới thâu tóm các phần lớn trong thị trường truyền thống của họ. Hơn nữa, các tập đoàn từng là những tên tuổi lớn đã biến mất - không còn “những khoảnh khắc Kodak”, một thương hiệu lớn đã kết thúc năm 2012 trong đống tro tàn của lịch sử.

Danh sách các công ty giờ thường xuyên trên đỉnh bao gồm những cái tên mới, bao gồm nhiều công ty xuất thân từ những nơi vốn không nổi tiếng với việc sản sinh ra các doanh nghiệp đẳng cấp thế giới - Estonia (Skype), Ấn Độ (Mittal Steel), Brazil (Embraer) và Galicia ở Tây Ban Nha (Zara) nằm trong số đó. Và dù có phải là kẻ mới gia nhập hay không, những công ty trên đỉnh không còn được đảm bảo tại vị lại đó dài lâu như những kẻ dẫn đầu trong quá khứ.

Chúng ta không nói về việc một gã khổng lồ này thay thế một gã khác. Thường xuyên hơn, không gian từng bị kiểm soát bởi những công ty lãnh đạo cũ được lấp đầy bởi một loạt các tay chơi khác dựa vào những luật lệ mới, những nguồn quyền lực mới và những chiến thuật cạnh tranh mới. Chính bản chất của quyền lực mà các công ty cũ và ông chủ của chúng từng tận hưởng đã thay đổi.

Như thế nào? Ngành dầu mỏ là một ví dụ cực đoan, do đó có tính minh họa cao. “Bảy Chị em”, những công ty thống trị lĩnh vực này từ những năm 1940 tới 1970, không đơn giản bị thay thế bởi những công ty khác giống họ. Thật vậy, ngành dầu mỏ giờ phân mảng và ít tích hợp theo chiều dọc hơn. Việc tạo ra những thị trường tương lai mới và việc giao dịch nhiều dầu hơn ngay tại điểm khai thác đã thay đổi sâu sắc cách dầu mỏ được mua và bán. Ngành này đầy những “tay chơi độc lập” mới: những công ty nhỏ hơn cạnh tranh với, và trong một số trường hợp thậm chí vượt qua, những gã khổng lồ như ExxonMobil, Chevron và BP. Những tay chơi mới trong ngành dầu mỏ cũng bao gồm các công ty sở hữu nhà nước đã trở nên cạnh tranh hơn và quyết đoán hơn nhiều trong việc kiểm soát nguồn tài nguyên nhiên liệu của quốc gia. Các quỹ đầu tư mạo hiểm khổng lồ đang thể hiện ảnh hưởng chưa từng có tiền lệ lên quyền sở hữu, trách nhiệm giải trình và nguồn tài chính, giờ là một phần của bối cảnh ngành công nghiệp dầu mỏ và có thể hành xử như cổ đông tích cực của những công ty lớn hay như người cung cấp vốn cho những công ty nhỏ hơn. Trong quá khứ, chỉ “Bảy Chị em” được tiếp cận những nguồn tài chính khổng lồ cần thiết để tham gia vào thị trường dầu mỏ. Ngày nay, nhờ vào sự kết hợp của những tay chơi mới (các quỹ đầu tư mạo hiểm, các công ty tư nhân chưa niêm yết), các công cụ tài chính mới (tài chính phái sinh) và những sự sắp xếp mang tính thể chế mới (các thị trường chứng khoán mới), các công ty nhỏ có thể giành được nguồn vốn cần thiết để cạnh tranh trong những dự án một thời chỉ dành riêng cho những công ty dầu mỏ khổng lồ. Cuối cùng, tất cả các hãng tham gia vào ngành này phải chấp nhận sự giám sát và can thiệp chưa từng có tiền lệ từ các chính phủ, những hoạt động quyền cổ đông, các nhóm môi trường, các nhà đầu tư định chế, các công đoàn lao động và truyền thông - trong nhiều nhân tố khác.

Như Paolo Scaroni, Tổng giám đốc của hãng dầu khí Ý khổng lồ ENI, từng nói với tôi: “Khi tôi nhìn lại cách mà những nhà lãnh đạo các công ty dầu mỏ chính vào những năm 1960,1970 hay 1980 ra quyết định và điều hành doanh nghiệp của họ, tôi ngạc nhiên với sự tự do và tự trị mà họ được tận hưởng. Từ vị thế của tôi hiện giờ, rõ ràng là ngày nay tổng giám đốc bất cứ công ty dầu khí nào cũng có ít quyền lực hơn hẳn so với những người đi trước chúng tôi” [1] .

Điều tương tự đang xảy ra trong lĩnh vực ngân hàng. Một số ngân hàng lớn lâu đời đã biến mất hay bị thâu tóm như kết quả của cuộc hỗn loạn tài chính toàn cầu bùng nổ năm 2008, điều này tới lượt nó dẫn tới sự tập trung khác. Tới năm 2012, năm ngân hàng QPMorgan Chase & Co., Bank of America Corp., Citigroup Inc., Wells Fargo & Co., và Goldman Sachs Group Inc). nắm giữ tài sản bằng với một nửa nền kinh tế Mỹ. Điều gần như tương tự cũng xảy ra ở Anh, nơi trong hai thập kỷ qua, “Bộ Ngũ” - Barclays Plc, HSBC Holdings Plc, Lloyds Banking Group Plc, Royal Bank of Scotland Group Plc và Santander U.K. Plc (vốn là Abbey National Plc cho tới khi Banco Santander của Tây Ban Nha mua lại nó vào năm 2004) - thống trị lĩnh vực này [2] . Nhưng trong vài năm qua, những mối quan ngại của công chúng được tiếp nhiên liệu từ cuộc khủng hoảng tài chính và các vụ bê bối như việc thao túng tỉ lệ lãi suất của Barclays và sự đồng lõa trong những giao dịch chuyển tiền mờ ám (HSBC và Standard Chartered) đã gây ra một phản ứng ngược, mà tới lượt nó làm dấy lên làn sóng những luật lệ mới giới hạn quyền tự trị mà các ngân hàng này được tận hưởng theo truyền thống. Hơn nữa, những tay chơi mới như doanh nhân người Anh Richard Branson, người sở hữu công ty Virgin Money đã mua lại Northern Rock Plc và nhắm tới việc trở thành đại gia trong lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng, là dấu hiệu của những áp lực cạnh tranh mới mà các tay chơi siêu hạng truyền thống trong ngành ngân hàng đang phải đối mặt. Như một nhà phân tích đã nói với tạp chí tài chính Bloomberg Markets năm 2012, “Đang có nhiều thay đổi mang tính cấu trúc diễn ra ở thị trường Anh hơn bất cứ thời điểm nào trong lịch sử gần đây” [3] .

Nhưng những kẻ thách thức lớn của các ngân hàng lớn đang thống trị là những quỹ đầu tư mạo hiểm và các tay chơi tài chính mới khác tiếp cận được các nguồn lực cũng sâu không kém các ngân hàng lớn, nhưng lại có thể chuyển dịch nhanh hơn với sự cơ động lớn hơn nhiều. Vào đầu năm 2011, khi nền kinh tế toàn cầu vẫn đang bấp bênh, đây là điều mà Financial Times viết về sức khỏe của các quỹ đầu tư mạo hiểm:

10 quỹ đầu tư mạo hiểm kiếm được 28 tỉ đô-la Mỹ cho các khách hàng trong nửa sau năm ngoái, 2 tỉ đô-la Mỹ nhiều hơn so với lợi nhuận thuần của Goldman Sachs, J. P. Morgan, Citigroup, Morgan Stanley, Barclays và HSBC cộng lại, theo thông tin mới. Ngay cả những quỹ đầu tư mạo hiểm lớn nhất cũng chỉ có vài trăm nhân viên, trong khi 6 ngân hàng sử dụng 1 triệu lao động tất cả. Theo dữ liệu này, 10 quỹ hàng đầu đã kiếm được tổng cộng 182 tỉ đô-la Mỹ cho các nhà đầu tư kể từ khi chúng được thành lập, với George Soros kiếm được 35 tỉ đô-la Mỹ cho các khách hàng - sau khi đã trừ đi tất cả các loại phí - kể từ khi ông thành lập Quỹ Quantum vào năm 1973. Nhưng John Paulson’s Paulson & Co đang tiến gần tới vị trí quỹ đầu tư mạo hiểm kiếm được nhiều tiền nhất cho khách hàng của Soros, sau khi có lợi nhuận thuần 5,8 tỉ đô-la Mỹ trong nửa sau của năm 2010 [4] .

Giống như những công ty cùng cảnh ngộ trong ngành dầu khí, những ngân hàng hàng đầu cũng ta thán về sự suy giảm tự do hành động của họ. Jamie Dimon, Tổng giám đốc JPMorgan Chase, đứng đầu một ngân hàng lớn hơn so với người tiền nhiệm của ông, William Harrison, nhưng như những lời than phiền liên tục của ông về quy định của chính phủ và những áp lực từ các nhà hoạt động cho thấy, ông cũng bị hạn chế hơn trong những việc ông có thể làm. Lập luận của ông rằng dư luận và nhà chức trách tốt hơn là hãy tin tưởng sự tự quản và cạnh tranh của các ngân hàng càng trở nên khó thuyết phục khi năm 2012, ông tiết lộ rằng ngân hàng của ông hứng chịu khoản thua lỗ ước tính 6 tỉ đô-la Mỹ đã bị một số đồng nghiệp của ông che giấu và không được các thành viên tín thác trong nhóm quản lý cấp cao để mắt tới [5] .

Ngành báo chí đưa ra một ví dụ đáng nói khác. Câu chuyện về vận rủi thông thường của ngành này là Craigslist và Google đã giành mất một nguồn thu trọng yếu (các mẩu rao vặt) từ những tờ báo truyền thống hàng đầu trong ngành. Nhưng những gì xảy ra với các tờ báo sâu sắc và mang tính tàn phá lớn hơn nhiều so với việc chuyển đổi đơn thuần trong thị phần quảng cáo rao vặt từ một nhóm công ty này sang một nhóm khác. Quyền lực mà những ông chủ và giám đốc của Craigslist có giờ đây rất khác với quyền lực một thời từng trong tay gia đình Graham, chủ nhân của Washington Post, hay gia đình Ochs-Sulzberger vốn kiểm soát tờ New York Times. Những cổ đông nắm quyền kiểm soát - như nhà Murdoch, Berlusconi hay nhiều gia đình nắm giữ truyền thông khác khắp thế giới – vẫn đầy ảnh hưởng, nhưng họ phải sử dụng ảnh hưởng đó, và chiến đấu để giữ được nó, khác hẳn những người tiền nhiệm.

Liệu điều đó có nghĩa là ExxonMobil sẽ bị thay thế bởi một công ty dầu khí độc lập, JPMorgan Chase bởi một quỹ đầu tư mạo hiểm, hay New York Times bởi The Huffington Post? Tất nhiên là không. Đó là những công ty lớn với nguồn lực ghê gớm và những lợi thế cạnh tranh khó mà bắt chước được đảm bảo sự thống trị của họ trong ngành. Mặt khác, điều tương tự cũng có thể nói trong những năm 1990 về hãng Kodak từng một thời thống trị nhưng nay đã phá sản, năm 2007 về công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới AIG, mà mới một năm trước phải được cứu khỏi phá sản bởi một khoản cứu trợ 85 tỉ đô-la Mỹ chưa từng có tiền lệ của chính phủ? [6] Ai dám nói vào đầu năm 2012 rằng một trong những lãnh đạo ngân hàng hùng mạnh nhất thế giới, Bob Diamond của Barclay, sẽ mất việc chỉ trong vài ngày sau khi ngân hàng ông bị phát hiện liên quan tới việc thao túng tỉ lệ lãi suất? Những công ty lớn bị loại ra khỏi ngành và những nhà lãnh đạo doanh nghiệp lừng lẫy một thời bị đá ra đường, hay thậm chí là vào tù, không phải điều gì mới cả. Điều mới là, như được trình bày ở những trang trước, khả năng mà một công ty sụp đổ từ vị thế đẳng cấp dẫn đầu hiện tại của nó đã tăng lên, cũng như khả năng một công ty hay lãnh đạo doanh nghiệp sẽ hứng chịu một “sự cố danh tiếng” có sức hủy hoại lớn.

Hơn thế, hiệu ứng mở rộng hơn và gây nhiều hậu quả hơn của sự suy tàn quyền lực trong thế giới kinh doanh không chỉ ở chỗ các công ty lớn giờ dễ biến mất hơn, mà còn ở chỗ họ đối mặt với một mạng lưới những sự ràng buộc dày đặc và giới hạn khả năng hành động của họ hơn.

Những ngành kinh doanh đã trải qua cuộc cách mạng cấu trúc giờ gia tăng về số lượng lẫn độ đa dạng: từ du lịch tới sản xuất thép và từ bán sách tới chế tạo máy bay phản lực chở khách. Thật ra, thách thức là tìm ra một ngành mà ở đó điều này không xảy ra và ở đó quyền lực của những tay chơi hàng đầu không bị kiềm chế nhiều hơn và tất nhiên, suy tàn nhiều hơn.

TRONG VÙNG ĐẤT CỦA NHỮNG ÔNG CHỦ, QUYỀN HÀNH VÀ CHẾ ĐỘ THỨ BẬC

Ai chịu trách nhiệm ở đây? Trong thế giới kinh doanh, câu hỏi này kêu gọi một câu trả lời rõ ràng. Trong quân đội, hệ thống thứ bậc tới một cách tự nhiên. Và điều tương tự đúng trong các tập đoàn, chúng không phải là những thể chế dân chủ. Trong một môi trường nơi những quyết định về nguồn lực, giá cả, kết quả kinh doanh và nhân sự được đưa ra mỗi phút và được thể hiện trong bảng kết quả kinh doanh cuối cùng, đó cần là nơi mà trách nhiệm giải trình, việc tranh công đổ lỗi bị đẩy xuống thứ chót. Chức danh tổng giám đốc điều hành là hiện thân của mệnh lệnh, kỷ luật và sự lãnh đạo. Nó tới cùng với những biểu tượng và đặc quyền nhờ vị thế truyền thống của quyền hành tập đoàn: văn phòng ở góc đường, máy bay của tập đoàn, tư cách thành viên trong những câu lạc bộ hào nhoáng. Và tất nhiên, lương bổng. Từ cuối Chiến tranh Thế giới Thứ hai tới giữa những năm 1970, giá trị trung bình của tiền lương cho vị trí giám đốc gần như không thay đổi [7] . Nhưng từ 1980 tới 1996, giá trị thật của lương bổng cho các tổng giám đốc các công ty S&P 500 đã tăng hơn 5% mỗi năm. Nhìn chung, mức lương của tổng giám đốc sau năm 1998 gần gấp đôi so với những gì họ nhận được vào đầu thập kỷ. Ở nhiều mức độ khác nhau, lương của các giám đốc ở phần còn lại của thế giới cũng theo khuynh hướng đó.

Thật hay nếu bạn có thể nhận mức lương như thế. Nhưng dưới bề mặt của đặc quyền rất lớn này ẩn giấu một thực tế khác. Quyền lực trong lĩnh vực doanh nghiệp đang suy thoái - và khó nắm giữ hơn khi bạn có.

Đó không hề là chuyện giai thoại: bằng chứng thống kê rõ ràng cho thấy rằng nhiệm kỳ của các tổng giám đốc đã trở nên mỏng manh. Ở Mỹ, vẫn là nước có nhiều các công ty lớn nhất thế giới, việc thay thế tổng giám đốc diễn ra nhanh hơn vào những năm 1990 so với trong hai thập kỷ trước. Và từ đó tới nay khuynh hướng này ngày càng sâu sắc. Tổng giám đốc một công ty Fortune 500 năm 1992 có 36% cơ hội giữ được cương vị từ năm năm trở lên. Nhưng một tổng giám đốc tại vị vào năm 1998 chỉ có 25% cơ hội giữ được ghế sau năm năm. Theo nhà tư vấn quản lý John Challenger, nhiệm kỳ trung bình của tổng giám đốc đã giảm một nửa từ khoảng mười năm vào những năm 1990 xuống còn khoảng 5,5 năm những năm gần đây - một khuynh hướng được xác nhận bởi một số nghiên cứu. Một nghiên cứu khác thấy rằng gần 80% các tổng giám đốc những công ty S&P 500 đã bị cho thôi việc trước thời điểm về hưu [8] . Tỉ lệ cả những vụ thay thế trong nội bộ (do các hội đồng quản trị ép buộc) và từ bên ngoài (do sáp nhập và phá sản) tăng từ những năm 1990 tới đầu những năm 2000. Năm 2009, một nghiên cứu khác thấy rằng 15% các vị trí tổng giám đốc ở Mỹ bị thay thế mỗi năm [9] . Dữ liệu thay đổi tùy thuộc vào mẫu các công ty, nhưng khuynh hướng cốt lõi là rõ ràng: mọi thứ đã trở nên dễ tuột khỏi tay hơn nhiều khi ở “vị trí tối thượng” của các doanh nghiệp.

Và khuynh hướng này là toàn cầu, không chỉ ở Mỹ, công ty tư vấn Booz & Company theo dõi sự thay đổi tổng giám đốc ở 2.500 công ty lớn nhất được niêm yết trên các thị trường chứng khoán toàn cầu. Chỉ trong năm 2011, 14,4% các tổng giám đốc hàng đầu thế giới rời cương vị của họ và tỉ lệ thay thế cao hơn ở 250 công ty lớn nhất, như nó đã từng vào năm 2005. Khuynh hướng này cũng diễn ra trong 12 năm qua. Trung bình, hơn 14% các tổng giám đốc của 250 công ty hàng đầu xét theo giá trị vốn hóa thị trường đã bị thay thế, so với 12% các công ty xếp từ hạng 251 tới 2.500. Con số này bao gồm cả những vụ nghỉ việc vì về hưu theo kế hoạch, bệnh tật và tương tự, nhưng nghiên cứu thấy rằng những vụ thay thế bắt buộc - các tổng giám đốc bị đá ra khỏi cửa - đã tăng lên cả ở Mỹ và châu Âu. Phần còn lại của thế giới, nơi kinh doanh đang tăng trưởng nhanh nhất, cũng đang bắt kịp phương Tây trong lĩnh vực này. Ở Nhật Bản, văn hóa doanh nghiệp truyền thống khiến cho việc đuổi một lãnh đạo cấp cao gần như là điều cấm kỵ, nhưng những vụ thay thế bắt buộc đã tăng gấp bốn lần ở đó trong năm 2008 và tiếp tục cao hơn so với khuynh hướng truyền thống. Booz & Company cũng thấy rằng các tổng giám đốc trên toàn thế giới ít có khả năng hơn nhiều để trở thành Chủ tịch hội đồng quản trị so với trước kia - một phép đo khác về những hạn chế gia tăng với quyền lực điều hành doanh nghiệp [10] .

Điều đúng với các ông chủ cũng đúng với các doanh nghiệp. Thời kỳ ngự trị trên đỉnh cao trong ngành của mình của các công ty đã bị rút ngắn một cách đáng kể. Cả điều này cũng không hề là một khuynh hướng nhất thời trong vài năm qua, dù khủng hoảng kinh tế chắc chắn khiến nó được nhắc tới nhiều hơn. Thay vì thế, điều chúng ta đang thấy là một hiện tượng mang tính chuyển đổi sâu sắc.

Một lần nữa, bằng chứng thống kê mang tính kết luận cao: trong khi năm 1980, một công ty ở tốp năm trong ngành của nó chỉ có 10% rủi ro rơi ra khỏi đó sau năm năm, thì năm 1998, rủi ro đó đã tăng lên thành 25% [11] . Trong số 100 công ty hàng đầu thuộc danh sách Fortune 500 năm 2010, 66 công ty là những kẻ sống sót từ danh sách năm 2000, 36 công ty còn lại chưa hề tồn tại vào năm 2000. Trên cơ sở phân tích thống kê chi tiết, Diego Comin của Đại học Harvard và Thomas Philippon ở Đại học New York thấy rằng trong 30 năm qua “khoảng thời gian dẫn đầu kỳ vọng của một công ty cụ thể đã giảm mạnh mẽ”. Cả điều này cũng là một khuynh hướng toàn cầu. Và nó trùng hợp với sự gia tăng về quy mô địa lý của sự cạnh tranh. Danh sách Forbes 2012 xếp hạng 2.500 công ty lớn nhất thế giới thấy rằng 524 có trụ sở ở Mỹ - ít hơn 200 so với năm năm trước và ít hơn 14 so với một năm trước. Ngày càng nhiều các công ty lớn nhất thế giới có tổng hành dinh ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Mexico, Brazil, Thái Lan, Philippines và các nước vùng Vịnh. Trung Quốc đại lục đang thu hẹp khoảng cách giữa họ với Mỹ và Nhật Bản, hai nước với số công ty toàn cầu nhiều nhất thế giới, và hiện là nước lớn thứ ba về số đại diện, với nhiều hơn 15 công ty so với năm 2011. Những đại diện mới như Ecopetrol của Colombia và China Pacitic Insurance của Trung Quốc đang tiến tới, trong khi những công ty như Lehman Brothers và Kodak (đều đã phá sản), Wachovia (bị Wells Fargo thâu tóm), Merrill Lynch (giờ thuộc sở hữu của Bank of America), và Anheuser-Busch (bị thâu tóm bởi một tập đoàn đặt trụ sở ở Bỉ với gốc rễ là một công ty bia cấp tỉnh từng là vô danh ở Brazil) đều đã bị loại khỏi danh sách [12] .

TOÀN CẦU HÓA ĐÃ LÀM GÌ VỚI SỰ TẬP TRUNG TRONG KINH DOANH?

Sự biến mất của những công ty nổi tiếng và những thương hiệu một thời lừng lẫy không có nghĩa là trong nhiều lĩnh vực kinh doanh, sự tập trung không còn cao nữa và trong một số trường hợp, sự tập trung thậm chí còn cao hơn bao giờ hết so với trước kia. Chẳng hạn ngành thức ăn cho vật nuôi năm 2007 ở Mỹ cho thấy chỉ một nhà sản xuất duy nhất thực sự làm ra hơn 150 sản phẩm với nhiều nhãn hàng khác nhau. Có hai công ty kiểm soát 80% thị trường bia Mỹ, hai công ty chiếm 70% thị trường thuốc đánh răng Mỹ, và vân vân. Trong một ví dụ được dẫn ra bởi học giả Barry Lynn, một công ty Ý, Luxottica, kiểm soát không chỉ một số chuỗi bán lẻ mắt kính lớn ở Mỹ mà còn vô số dòng mắt kính hàng hiệu mà những chuỗi này bán [13] . Leonardo del Vecchio, cổ đông đa số của Luxottica, là một trong những người giàu nhất thế giới, xếp hạng 74 trong danh sách các tỉ phú thế giới của Forbes.

Trên toàn cầu, mức độ tập trung của các ngành kinh doanh biến thiên lớn tùy theo lĩnh vực. Ngành công nghiệp kim cương vẫn bị giữ chặt bởi một tay chơi áp đảo, De Beers, có khả năng ấn định giá và kiểm soát dòng chảy kim cương thô tới các doanh nghiệp cắt và hoàn thiện chúng. Thị phần 60% kim cương thô trên toàn thế giới của De Beers giúp hãng có khả năng tác động lớn lên giá cả. Trong ngành chip máy tính, một nhà sản xuất, Intel, kiểm soát 80% thị trường bộ xử lý CPU. Các ngành khác, trong đó sự tập trung đủ cao để gây ra sự chú ý của các cơ quan chống độc quyền Mỹ hay châu Âu, là ngành hạt giống nông nghiệp (nơi Monsanto và DuPont thống trị), mạng thanh toán (Visa và MasterCard) và tất nhiên là tìm kiếm trên Internet (nơi Google chiếm 63% hoạt động tìm kiếm ở Mỹ - và 90% tăng trưởng trong tìm kiếm).

Nhưng các ngành khác đã trở nên ít tập trung hơn bất chấp nhiều năm hoạt động thâu tóm có vẻ rất quyết liệt. Thật vậy, như giáo sư và học giả về kinh doanh Pankaj Ghemawat lập luận trong World 3.0 (tạm dịch: Thế Giới 3.0), “Trong phần lớn các trường hợp, sự toàn cầu hóa có vẻ thúc đẩy cạnh tranh hơn, chứ không phải tập trung hơn” [14] . Một ví dụ rõ ràng là ngành sản xuất xe hơi. Dữ liệu ngành này cho thấy 5 hãng sản xuất xe hơi hàng đầu thế giới chiếm 54% sản lượng vào năm 1998, và chỉ 48% - một sự suy giảm nhỏ nhưng quan trọng - trong năm 2008. Mở rộng nghiên cứu này với 10 nhà sản xuất hàng đầu vẫn cho thấy sự giảm tập trung. Khuynh hướng này là dài hạn. Trong những năm 1960, 10 nhà sản xuất hàng đầu chiếm 85% sản lượng xe hơi trên thế giới, phần chia đó giờ giảm xuống khoảng 70%. Một phần, sự phân mảng gia tăng của thị trường này phản ánh sự nổi lên hay lan rộng ra toàn cầu của những tay chơi mới từ các nước như Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc và những nơi khác [15] . Năm 2011 chẳng hạn, Hyundai không chỉ là nhà sản xuất xe hơi lớn thứ năm thế giới, mà còn là hãng có lợi nhuận tốt nhất [16] . Nhìn vào sự tập trung trong tốp năm công ty ở 11 ngành kinh doanh từ những năm 1980 tới những năm 2000, Ghemawat thấy rằng trung bình tỉ lệ tập trung trung bình của 5 công ty đã giảm từ 38% xuống còn 35%; sự sụt giảm đó thậm chí còn đáng kể hơn nếu chúng ta đưa con số về lại những năm 1950 [17] .

QUYỀN LỰC VÀ MỐI NGUY VỚI CÁC THƯƠNG HIỆU

Nhiều tên tuổi tập đoàn lừng lẫy lâu nay đã đột ngột biến mất. Những tên tuổi một thời uy tín trong lĩnh vực bán lẻ, ngân hàng, hàng không, thậm chí là công nghệ - còn nhớ Compaq? - đang mờ dần trong trí nhớ. Mặt khác, một số những thương hiệu lan khắp toàn cầu chưa hề tồn tại vào vài năm trước, như Twitter, được thành lập năm 2006. Là người tiêu dùng, chúng ta ngày càng quen với những xu hướng như thế. Thật vậy, người tiêu dùng đang đóng vai trò các tác nhân vô thức của một số trong những sự thay đổi này, vốn được thúc đẩy một phần bởi sự gia tăng về tỉ lệ và ảnh hưởng của thảm họa thương hiệu - những sự cố làm rung chuyển danh tiếng của một công ty và những sản phẩm của nó tới gốc rễ, khiến giá cổ phiếu rớt sâu và khách hàng bỏ đi hàng loạt. Một nghiên cứu tiến hành năm 2010 thấy rằng trong khi hai thập kỷ trước, các công ty đối mặt với trung bình là 20% khả năng gặp phải một “thảm họa doanh nghiệp” với danh tiếng của họ trong giai đoạn năm năm, thì khả năng đó giờ tăng lên thành 82% [18] . Phải chăng là vì những vụ tràn dầu, hỏng phanh (thắng) xe và những tuyên bố vụng về ngày nay phổ biến gấp bốn lần so với hai mươi năm trước? Không phải thế, mà chỉ là sự lan truyền và tầm với của chúng nhanh hơn và rộng hơn nhiều, và tiếng vọng lớn hơn của chúng thường báo trước những hậu quả tồi tệ.

Trong bối cảnh này, không có gì ngạc nhiên khi dấu hiệu mang tính nội tại rõ ràng nhất của quyền lực kinh tế - tài sản cá nhân - cũng bị ảnh hưởng bởi những thay đổi nhanh chóng (Từ năm 2012, Bloomberg News đã cung cấp một bảng xếp hạng thường nhật 20 tỉ phú đứng đầu thế giới, được cập nhật mỗi ngày vào lúc 5 rưỡi chiều. Theo giờ New York). Số lượng tỉ phú trên thế giói đã tăng trong những năm gần đây, đạt tới kỷ lục 1.226 người vào năm 2012 [19] . Một tỉ lệ người Nga, châu Á, Trung Đông và Mỹ Latin ngày càng gia tăng. Thật thú vị, tỉ phú gia tăng của cải nhiều nhất giai đoạn 2007 tới 2008, nhà tài phiệt Ấn Độ Anil Ambani, cũng là một trong những người mất nhiều của cải nhất vào năm sau đó (dù vậy ông vẫn xếp hạng 118 vào năm 2012) [20] . Theo một nghiên cứu năm 2012 của công ty thông tin về tài sản Wealth-X, từ giữa năm 2011 tới giữa năm 2012, các tỉ phú Trung Quốc mất gần 1/3 tài sản tổng cộng của họ [21] .

Không ai nhỏ giọt nước mắt nào cho sự nghèo đi của những người siêu giàu. Nhưng sự đảo lộn trong bảng xếp hạng giàu có của thế giới vẽ ra một bức tranh bất an ở trên đỉnh của thế giới kinh doanh - dù là những ông chủ, tập đoàn hay thương hiệu - ngày càng lớn hơn trong tương quan với bất cứ thời điểm nào gần đây trong lịch sử, trong một sân khấu kinh doanh ngày càng toàn cầu và đa dạng hơn so với bất cứ khi nào trong quá khứ.

Sự hỗn loạn trên đỉnh phản bác lại ý tưởng phổ biến lâu nay rằng chúng ta hiện sống trong một thời đại với quyền lực chưa từng có cho các doanh nghiệp. Sự bùng nổ của những năm 1990 chắc chắn đã mang tới hào quang và uy tín mới cho nhiều sự nghiệp doanh nhân, sự nổi lên của nền kinh tế công nghệ cao tạo ra một thế hệ mới những người hùng kinh doanh như các nhà lãnh đạo Apple, Oracle, Cisco, Google và các công ty tương tự, cũng như những tay chơi ngôi sao trong ngành chứng khoán và ngân hàng thế giới. Ở châu Âu, những cải cách luật lệ, sự tư nhân hóa và việc tạo ra một thị trường duy nhất đã cho ra đời những biểu tượng kinh doanh mới. Những tỉ phú mới nổi ở Nga, những nước Thế giới Thứ ba cũ, một thời từng lạc lối vì sự kiểm soát của nhà nước và nghèo đói, giờ đã sản sinh ra những đế chế kinh doanh, thương hiệu và nhà tài phiệt phát triển mạnh. Những chỉ trích từ cánh tả nâng cao cảnh báo về sự thống trị mới của chủ nghĩa tư bản. Những người ủng hộ thì ca ngợi nó. Nhưng không ai cho rằng nó không tồn tại.

Suy thoái kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu chỉ làm rõ được chút ít bức tranh về quyền lực doanh nghiệp của chúng ta. Mặt khác, sự cần thiết của chính phủ trong việc can thiệp vào hành vi thiếu kiểm soát của doanh nghiệp một lần nữa trở nên rõ ràng. Nhưng tương tự như thế là ý tưởng rằng một số doanh nghiệp - ngân hàng, bảo hiểm, xe hơi - “quá lớn để cho phá sản”, chúng không thể được phép rời khỏi ngành mà không gây ra những hậu quả tai hại tồi tệ ở quy mô khu vực, quốc gia hay thậm chí là toàn cầu. Một số doanh nghiệp, như General Motors và Chrysler, được cứu nhờ sự can thiệp của chính phủ. Những doanh nghiệp khác, như Lehman Brothers, được phép phá sản. Các ngân hàng bị coi là quá rủi ro bị bán cho những ngân hàng lớn hơn, tạo ra những con quái vật còn kềnh càng hơn nữa, làm dấy lên những chỉ trích từ những người thấy quyền lực đang tập trung trong tay một nhóm quá nhỏ giới tinh hoa tài chính chặt chẽ và không thể đụng tới. Chắc chắn, những doanh nghiệp khổng lồ tồn tại ngày nay trên quy mô khó thể tưởng tượng so với một vài thập kỷ trước. Một số ngành đã tập trung rất nhiều. Và chắc chắn, những quy định về chống độc quyền cùng các quy định khác, dù là ở Bắc Mỹ, châu Âu hay những nơi khác, đã tụt hậu so với một số công cụ và kỹ thuật mà các doanh nghiệp - đặc biệt là trong ngành tài chính - sử dụng hàng ngày.

Vậy thì thực tế của chúng ta là thế nào? Quyền lực không kiểm soát của doanh nghiệp đang áp đặt chi phí và trách nhiệm lên các chính phủ và người đóng thuế, trong khi bảo đảm mức lương cao và lợi nhuận cho các giám đốc - hay những lãnh đạo kinh doanh luôn ở trạng thái bất an, liên tục đứng truớc rủi ro bị bóp nghẹt bởi những tay chơi và công nghệ mới, gục ngã bởi những thảm họa về uy tín, bị soi mói bỏi các nhà phân tích thị trường, rốt cuộc thì bị loại ra bởi những cổ đông nổi loạn và những hội đồng quản trị không còn kiên nhẫn? Nói cách khác, điều gì đang xảy ra với quyền lực do các doanh nghiệp lớn và những giám đốc hàng đầu của chúng nắm giữ?

QUYỀN LỰC THỊ TRƯỜNG:

THUỐC GIẢI ĐỘC CHO SỰ BẤT AN TRONG KINH DOANH

Để hiểu được những lực lượng cơ bản làm chuyển đổi quyền lực tập đoàn trong thế kỷ XXI, chúng ta cần khám phá một khái niệm đã được giới thiệu trong Chương 2: quyền lực thị trường.

Lý thuyết kinh tế thuần túy giả định rằng sự cạnh tranh khốc liệt, đồng nghĩa với sự đảo lộn liên tục, là tình trạng thông thường của chủ nghĩa tư bản cũng như việc sự cạnh tranh tiêu diệt một số công ty và tưởng thưởng cho những công ty khác. Tình trạng lý tưởng được biết tới là “sự cạnh tranh hoàn hảo” không có chỗ cho những doanh nghiệp độc quyền, các các-ten hay một số nhỏ những công ty chiếm ưu thế, chứ đừng nói đến thống trị áp đảo trong nhiều năm.

Thực tế rõ ràng là khác: một số công ty được duy trì bền vững trong khi những công ty khác phá sản; các nhà đầu tư và giám đốc huyền thoại ngự trị hàng thập kỷ trong khi những người khác biến mất cũng nhanh như họ xuất hiện; một số thương hiệu có vẻ chỉ là những cổ vật chóng phai tàn theo xu hướng thời trang, trong khi những thương hiệu khác tồn tại qua nhiều biến đổi về công nghệ, sự mở rộng và suy giảm của thị trường và những thay đổi trong quản lý. Một số công ty lớn khiến những công ty khác không thể cạnh tranh trong thị trường của họ, những nhóm nhỏ các công ty trong cùng ngành thông đồng với nhau để thu được lợi nhuận nhiều nhất trong khoảng thời gian dài nhất có thể. Đồng thời, chính bản chất của một số lĩnh vực, nơi các rào cản tham gia thấp, là tiêu chuẩn tạo điều kiện cho sự tham gia của những đối thủ cạnh tranh mới (nhà hàng, dệt may). Trong những lĩnh vực khác, rào cản lại quá cao, tới mức rất khó cho những công ty mới thách thức những kẻ đang nắm quyền (nhà máy thép, viễn thông).

Nói cách khác, kinh doanh tư bản chủ nghĩa bao gồm một sự đa dạng rộng khắp các hình mẫu và kỳ vọng tự đưa ra tuyên ngôn của chúng trong thứ ngôn ngữ biểu tượng của xã hội đầu tư và tiêu dùng thuộc về chúng ta. Chúng tạo ra những đối thủ cạnh tranh nhau lâu dài (Boeing đối đầu với Airbus, Coke với Pepsi, Hertz vói Avis), chúng biến các thương hiệu thành những danh từ chung trong tiếng bản xứ (Xerox, Hoover, Kleenex), chúng đầu tư vào một số thương hiệu (Rolex, IBM) bằng uy tín và vào những thương hiệu khác (Timex, Dell) bằng sự tiện dụng. Khi chúng hủy diệt, chúng làm điều đó một cách tàn nhẫn. Dù đó là Pan Am, Woolworths, Kodak hay Wang - kết thúc của một doanh nghiệp, dù là bị giải tán hay bị nuốt chửng bởi một doanh nghiệp khác, luôn là sự hành vi tiêu diệt.

Điều tạo năng lượng cho sự thay đổi liên tục các biểu tượng, sản phẩm, con người và tên tuổi nói chung là một phần trong hành động hàng ngày của người bán và người mua trên thị trường - cũng như việc chấp nhận rủi ro, tai nạn, sai lầm, sự tình cờ. Nhưng đó cũng là quyền lực. Và đây chính là nơi quyền lực thị trường xuất hiện: đó là quyền lực trú ngụ trong việc có thể định giá cho các sản phẩm và dịch vụ trên mức chi phí cận biên, do đó tạo ra và duy trì phần lợi nhuận tăng thêm, mà không phải hy sinh thị phần. Công ty sở hữu càng nhiều quyền lực thị trường, nó càng có nhiều quyền tự trị trong việc định giá cả của mình mà không phải lo lắng về các đối thủ. Quyền lực thị trường càng lớn trong một lĩnh vực hay thị trường cụ thể, những cấu trúc của ngành càng được bảo vệ và những bảng xếp hạng của nó càng tĩnh tại.

Trong đời sống thực, các sản phẩm không phải là không thể thay thế cho nhau, và ngay cả khi chúng có thể thay thế, chúng vẫn được phân biệt bởi các thương hiệu và được quảng bá bởi quảng cáo. Trong đời sống thực, những công ty không được tiếp cận với cùng một thông tin. Họ không tận hưởng cùng một luật lệ và quy định với việc điều hành hoạt động của họ hay giải quyết tranh chấp, cùng một sự ủng hộ ngấm ngầm hay công khai từ các chính phủ, hay cùng một sự tiếp cận giống nhau với những nguồn tài nguyên quý hiếm. Những hạn chế để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ ở Thụy Sĩ có sức nặng khá khác so với ở Trung Quốc. Một công ty Mỹ với bộ phận “quan hệ chính phủ” lớn tập trung vào việc vận động hành lang các chính trị gia ở Washington, một doanh nghiệp Nga được thành lập bởi một nhà giàu mới* với những mối quan hệ bằng hữu cá nhân ở Kremlin, một công ty Ấn Độ tìm đường qua mớ bòng bong những đòi hỏi giấy phép và quan liêu đã kéo dài hàng thập kỷ phải đối mặt với những môi trường luật lệ khác nhau sâu sắc, chứ đừng nói một công ty khởi nghiệp đang tìm cách bước vào ngành lần đầu. Những công ty cũng khác nhau khi nói về những nguồn nội lực mà họ phải huấn luyện nhân sự và phát triển các sản phẩm mới. Tất cả những sự khác biệt trong quy mô kinh doanh, nguồn lực và môi trường hoạt động này ảnh hưởng tới chi phí kinh dọanh, những quyết định mở rộng và việc lựa chọn liệu có thực hiện một hoạt động bên trong công ty hay giao nó ra ngoài cho một nhà cung cấp hay nhà thầu. Nói ngắn gọn, chúng tạo ra cấu trúc của các ngành kinh doanh.

Nhà giàu mới: Cụm từ chỉ những doanh nhân giàu có thuộc các nước cộng hòa Liên Xô cũ, những người đã nhanh chóng tích lũy thêm của cải trong thời kì tư nhân hóa của Nga sau sự tan rã của Liên Xô những năm 1990.

Cả một lĩnh vực kinh tế học mới - tổ chức kinh doanh - đã nổi lên gần một thế kỷ trước để tìm hiểu cấu trúc các ngành kinh doanh và giải thích điều gì khiến nó thay đổi, hay không thay đổi. Như đã thảo luận trong Chương 3, lĩnh vực này thu hút trí tuệ sáng láng của Ronald Coase, kinh tế gia người Anh cũng là người đầu tiên đưa ra khái niệm về chi phí giao dịch vào năm 1937, giúp giải thích tại sao các công ty và các ngành kinh doanh lại có những cấu trúc cụ thể [22] .

Đơn lẻ hoặc cùng nhau, các công ty thông trị một ngành hay thị trường cụ thể giành rất nhiều năng lượng của họ để giữ mọi thứ y nguyên như thế. Với một công ty, mục tiêu là đưa ra một đề nghị bán hàng độc nhất vô nhị và hấp dẫn - một đề nghị khiến cho bất cứ công ty nào khác cũng khó mà bắt chước hay lặp lại. Nó có thể bảo vệ vị thế đó bằng những phương tiện loại trừ và bằng những phương tiện thông đồng. Sự loại trừ có thể liên quan tới việc loại các đối thủ ra khỏi ngành bằng cách bán phá giá, vượt lên trước họ bằng chất lượng hay sự sáng tạo sản phẩm, hoặc quảng cáo tràn ngập thị trường. Sự thông đồng có thể dưới hình thức lập nên những rào cản khiến cho một đối thủ cạnh tranh mới khó hoặc không thể gia nhập ngành - cụ thể, khi các công ty thống trị một không gian phối hợp với nhau một cách ngấm ngầm (hay công khai) để định giá và chiến lược bán hàng hay các tiêu chuẩn công nghệ, hoặc sử dụng các chiến dịch quan hệ công chúng và những hiệp hội ngành nghề để lập luận tạo nên các luật lệ bảo vệ cho họ. Bất cứ điều gì những kẻ đang nắm quyền lực làm để loại trừ và thông đồng cũng hạn chế khung trời của những kẻ cạnh tranh mới, do đó tạo ra những rào cản gia nhập ngành có thể không thể vượt qua được.

Điều này giải thích tại sao các nhà kinh tế muốn xác định quyền lực thị trường thường bỏ qua các con số để nghiên cứu câu hỏi định tính hơn về việc những rào cản gia nhập vào một lĩnh vực cụ thể khó khăn ra sao. Cũng có những phương pháp định lượng quyền lực thị trường nhưng chúng khó sử dụng.

Hữu ích hơn là những phương pháp đo đạc mà các nhà kinh tế sử dụng để xác định quyền lực thị trường trong một ngành cụ thể thay vì ở mức độ một công ty đơn lẻ. Sẵn có hàng loạt các phương pháp đo đạc như thế. Một cách đơn giản là chỉ số tập trung của các công ty hàng đầu, cộng gộp tổng thị phần của những công ty dẫn đầu (lấy ví dụ, tốp bốn, năm hay mười về doanh số hay tài sản) trong một ngành hay nền kinh tế nhất định [23] .

Nhưng quyền lực thị trường không chỉ là sự tập trung. Ở một số nền kinh tế hay các ngành bị quản lý nhiều bởi luật lệ, các công ty tương đối nhỏ có thể hưởng lợi từ quyền lực thị trường đơn giản bằng cách ở bên trong hàng rào bảo vệ từ chính phủ hay sự ưu ái chính trị. Lấy ví dụ, hãy nghĩ tới một công ty taxi độc quyền đưa đón khách ở một sân bay cụ thể. Giống như thế, sự hiện diện đơn giản của tập trung trong ngành không nhất thiết có nghĩa là các công ty đang hoạt động như một độc quyền tập đoàn*, sử dụng sự thông đồng công khai hay ngấm ngầm của họ để giữ cho giá cao trong khi sự cạnh tranh giữa họ có thể vẫn căng thẳng và tàn khốc. Những yếu tố khác đóng góp vào quyền lực thị trường, như khả năng vận động hành lang cho sự đối xử hay luật lệ ưu ái, không có nguồn gốc trực tiếp từ sự tập trung của ngành. Một hiệp hội ngành nghề đại diện cho một ngành phân tán (chẳng hạn hiệp hội các kế toán hay nha sĩ) có thể đạt được kết quả vận động hành lang thành công cũng như những hiệp hội hành động đại diện cho các ngành có độ tập trung cao (chẳng hạn như xi-măng hay điện thoại).

Độc quyền tập đoàn (Oligopoly): cấu trúc thị trường mà một số doanh nghiệp chi phối cả thị trường về hàng hóa và dịch vụ, đặt ra những rào cản thâm nhập đáng kể đối với các công ty khác. Các doanh nghiệp này phụ thuộc lẫn nhau và mỗi doanh nghiệp đều phải cân nhắc phản ứng có thể xảy ra của các đối thủ về những quyết định giá cả, xúc tiến bán hàng và phát triển sản phẩm của mình.

Để hiểu được cách hoạt động của quyền lực thị trường, một phương pháp đo đạc định lượng duy nhất là không đủ. Thay vì thế, mức độ của quyền lực thị trường, và cùng với nó, sự ổn định của cấu trúc một ngành và lợi thế của sự che chở mà những công ty thống trị trong ngành tận hưởng được đo đạc tốt nhất thông qua sự hiện diện và tính hiệu quả của những rào cản gia nhập. Và khi chúng ta làm điều đó, một khuynh hướng rộng khắp nhanh chóng trở nên rõ ràng: khắp các hội đồng quản trị, những rào cản truyền thống để gia nhập vốn định hình cấu trúc của ngành trong phần lớn thế kỷ XX đã trở nên mong manh hay sụp đổ hoàn toàn.

Những nguyên lý của tổ chức doanh nghiệp đã bị đảo lộn. Kết quả là quyền lực thị trường không còn là điều nó đã từng. Liều thuốc giải độc cho sự bất an và bất ổn trong kinh doanh đang mất đi tính hiệu quả của nó. Và lợi thế từ lâu được coi là xây dựng dựa trên quy mô, tầm mức và hệ thống thứ bậc của doanh nghiệp đã xói mòn, thậm chí biến thành một sự bất lợi.

RÀO CẢN HẠ XUỐNG, CẠNH TRANH TĂNG LÊN

Những rào cản kinh điển để gia nhập các ngành kinh doanh được biết tới rộng rãi. Lấy ví dụ, kích cỡ ngăn cản những công ty nhỏ hơn vượt qua những công ty lớn hơn. Và tính kinh tế theo quy mô * giúp việc sản xuất hàng loạt rẻ hơn, chứng minh cho những sáng tạo như nhà máy hiện đại quy mô lớn và dây chuyền sản xuất hàng loạt. Khi một số ít những nhà sản xuất lớn có thể thâu tóm một tỉ lệ lớn thị trường, họ có thể trải rộng tổng chí phí cố định của họ (chẳng hạn như chi phí hành chính) ra nhiều các đơn vị, qua đó làm giảm chi phí trung bình của một đơn vị riêng lẻ.

Tính kinh tế theo quy mô (Economies of scale): Học thuyết kinh tế có nội dung rằng số lượng sản phẩm tăng lên sẽ hạ thấp chi phí bình quân trên mỗi sản phẩm đầu ra, dẫn đến chi phí bình quân dài hạn giảm theo.

Một nhóm rào cản liên quan khác bắt nguồn từ tính kinh tế theo phạm vi *. Kinh nghiệm trong những ngành khác nhau nhưng liên quan có thể cho một công ty lợi thế mà các đối thủ thiếu. Lấy ví dụ, một công ty có những hợp đồng lớn cung ứng máy bay cho không quân sẽ có lợi thế cực lớn khi cạnh tranh trong thị trường máy bay chở khách. Trong khi tính kinh tế theo quy mô là một đặc điểm mang tính số lượng, tính kinh tế theo phạm vi xuất hiện khi một công ty có thể sử dụng kiến thức riêng và năng lực cốt lõi* của nó ở những thị trường khác nhau. Sự tiếp cận với các nguồn tài nguyên hiếm, chẳng hạn như những mỏ quặng, đất đai màu mỡ hay ngư trường dồi dào, trở thành một rào cản khi các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng không thể tiếp cận những nguồn lực tương tự. Vốn tất nhiên là một trở ngại khác. Khởi động một hãng hàng không hay một công ty điện thoại hay thép đòi hỏi chi phí vốn lớn mà ít tay chơi mới có thể chi trả nổi. Công nghệ là một rào cản quen thuộc khác cho sự cạnh tranh: một công thức, quy trình chế tạo, hay bất cứ hình thức nào của vốn trí tuệ độc quyền không sẵn có cho những kẻ muốn trở thành đối thủ cạnh tranh cũng ngăn trở sự cạnh tranh. Điều tương tự cũng đúng với một thương hiệu: cạnh tranh với Coke và Pepsi khó khăn không chỉ vì quy mô của chúng, mà còn vì các sản phẩm của chúng tận hưởng sức hấp dẫn thương hiệu khổng lồ.

Tính kinh tế theo phạm vi (Economies of scope): Học thuyết kinh tế có nội dung rằng chi phí sản xuất trung bình sẽ giảm khi doanh nghiệp mở rộng chủng loại hàng hóa và dịch vụ mà công ty sản xuất ra.

Năng lực cốt lõi (Core competencies): Tập hợp những kỹ năng và chuyên môn mà nhờ đó công ty vượt trội hơn đối thủ cạnh tranh.

Và còn có luật lệ: các đạo luật, quy định, quy chuẩn với quyền sở hữu, chính sách thuế và tất cả những yêu cầu khác để hoạt động trong một địa phương hay ngành cụ thể. Tất cả những điều này (và nhiều biến thể khác - không có một danh sách tiêu chuẩn duy nhất nào cho mỗi rào cản gia nhập các ngành kinh doanh) về cơ bản bảo vệ vị trí của những công ty đang thống trị trong bất cứ ngành cụ thể nào và ngăn những kẻ mới định gia nhập.

Điều đó đưa chúng ta tới câu hỏi cốt lõi về sự chuyển đổi của quyền lực trong thế giới kinh doanh: Điều gì có thể khiến những rào cản gia nhập bỗng nhiên rơi xuống và khiến những công ty lâu nay được bảo vệ dễ tổn thương hơn trước việc mất đi quyền lực? Một câu trả lời rõ ràng là Internet. Những ví dụ về việc nó giúp truất ngôi những doanh nghiệp độc quyền lâu đời như thế nào cũng nhiều như những khả năng của chính phương tiện này. Thật vậy, ít ngành nào không bị cuộc cách mạng công nghệ thông tin đụng đến.

Tuy nhiên, giống như trong các lĩnh vực khác được thảo luận ở đây (chính trị, chiến tranh, vân vân), ngoài cuộc cách mạng thông tin, còn những lực lượng hoạt động khác làm thay đổi cách quyền lực được giành lấy, sử dụng và mất đi trong thế giới kinh doanh.

Lấy ví dụ, trong ba thập kỷ qua, những hành động của chính phủ đã làm thay đổi sâu sắc những cấu trúc kinh doanh được định hình lâu đời. Margaret Thatcher và Ronald Reagan đã phát động một làn sóng những thay đổi chính sách, làm bùng lên sự cạnh tranh và thay đổi cách thức kinh doanh ở hàng loạt lĩnh vực từ điện thoại và hàng không tới khai thác than và ngân hàng. Bắt đầu từ cuối những năm 1980, các nước đang phát triển từ Thái Lan tới Ba Lan rồi tới Chile triển khai những cải cách kinh tế mang tính cách mạng của riêng họ: tư nhân hóa, giảm bớt luật lệ, mở cửa thương mại, loại bỏ các rào cản cho đầu tư nước ngoài, giao dịch tiền tệ tự do hơn, tự do hóa tài chính và hàng loạt những thay đổi thúc đẩy cạnh tranh khác. Sự phát triển của Liên minh Châu Âu với việc mở cửa các đường biên giới nội khối, những bộ máy cai quản mới và sự ra mắt đồng euro đã có ảnh hưởng lớn lên bối cảnh cạnh tranh, cũng như sự mở rộng của các thỏa thuận thương mại toàn cầu và khu vực.

Những sáng kiến chính sách này ít nhất đã có ảnh hưởng lớn tới việc thay đổi môi trường kinh doanh toàn cầu như sự phát triển của Internet. Thật vậy, một số nhà phân tích cho rằng tới 1/4 tăng trưởng thương mại hậu chiến ở các nền kinh tế phát triển là do cải cách chính sách, chủ yếu là dưới dạng giảm thuế [24] . Sự hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu của Trung Quốc, Ấn Độ và những thị trường lớn khác - trước đó vốn đóng cửa tương đối bởi những chính sách kinh tế thiên về bảo hộ và độc đoán - đã mang hàng tỉ người tiêu dùng và nhà sản xuất mới vào thị trường thế giới. Những chuyển đổi chính sách mang tính lịch sử này được khuếch đại bởi những cuộc cách mạng khác trong công nghệ, cùng nhau chúng dẫn tới một thế giới trong đó những rào cản để gia nhập cũ không còn có thể bảo vệ những kẻ nắm quyền trước các đợt tấn công từ những kẻ thách thức mới.

Những công nghệ phá vỡ trật tự đã bắt đầu xuất hiện trong gần như mọi ngành. Những nhà máy năng lượng mặt trời, gió và sinh học quy mô nhỏ mang điện tới những tập thể dân số khổng lồ chưa từng có nó, nâng cao mức sống, thúc đẩy sự phát triển của kinh doanh quy mô nhỏ và thách thức sự thống trị của các công ty cung cấp điện truyền thống. Sự thu nhỏ và tính khả chuyển thay đổi công nghiệp chế tạo theo những cách phi thường - và trong quá trình đó, đã hạ thấp các rào cản gia nhập có vẻ là không thể vượt qua một thời. Trong một số ngành, không còn cần thiết phải xây dựng những cơ sở rất lớn để đạt được một thị phần đáng kể. Trong khi những nhà máy bia mini sẽ không thay thế những hãng như Heineken và những nhà máy thép nhỏ sẽ không vượt qua một gã khổng lồ như ArcelorMittal, những công ty nhỏ hơn như trên giờ có thể thâu tóm hiệu quả thị phần trong khu vực địa lý của họ, mang tới sự cạnh tranh nhiều hơn trong những thị trường mà các lựa chọn trước kia là giới hạn. Và như đã nói ở trên, việc cung cấp tài chính cho những ý tưởng kinh doanh tốt đã trở nên sẵn sàng hơn nhờ vào những thay đổi cơ bản trong ngành tài chính. Ở hầu hết các nước, việc tiếp cận vốn không còn là rào cản không thể vượt qua để tạo ra hay mở rộng một công ty mới như nó vẫn từng.

Những hậu quả kéo theo không thể đếm xuể, từ những đòi hỏi về nhân lực tới chi phí bảo hiểm rồi tới khả năng chuyển hoạt động từ nơi này sang nơi khác nhanh chóng. Sự đóng thùng hóa đã định hình ngành tàu biển, cho phép vận tải đa phương tiện tất cả các loại hàng hóa một cách hiệu quả và đáng tin cậy. Năm 2010, lượng Container vận tải cao gấp mười lần so với năm 1980 [25] .

Gần như tất cả các công nghệ chúng ta hoặc thấy trong các nhà bảo tàng (đầu máy hơi nước) hay coi là đương nhiên (radio) đại diện cho một sự đột phá ở thời của chúng. Nhưng cách mạng công nghệ ngày nay chưa có tiền lệ về phạm vi, chạm tới gần như mọi hoạt động của con người trên thế giới ở tốc độ chóng mặt.

Nhìn xa hơn, chúng ta thấy rằng gần như mọi thay đổi lớn trong cách chúng ta sống ngày nay, thậm chí so với với chỉ một thế hệ trước, chỉ ra sự xói mòn những rào cản gia nhập. Thật vậy, những cuộc cách mạng Nhiều Hơn, Di Động Tinh Thần cùng các hiệu ứng xói mòn của chúng với quyền lực của những kẻ đang nắm quyền có thể thấy được rõ ràng trong thế giới kinh doanh. Có rất nhiều ví dụ: Sự hội nhập của các thị trường vốn thế giới bằng chuyển khoản và ngân hàng điện tử đã thay đổi cách tư bản được phân phối và di chuyển khắp thế giới. Những nền văn hóa đầu tư hoàn toàn mới - từ quỹ đầu tư mạo hiểm và những nhà đầu tư thiên thần* tới tín dụng vi mô - đã đứng vững và kết nối tiền bạc với những người dùng ở khoảng cách gần và xa. Sự di cư đã vận chuyển kiến thức kinh doanh và kinh nghiệm thực tế theo những cách mà sự thay đổi luật lệ và sự ưu đãi đầu tư không thể sánh được. Nó cũng đã tạo ra những mạng lưới tài chính rộng khắp thế giới cùng với những cuộc di cư lớn cũng như các thị trường ngách cho các doanh nhân nhận thức được nhu cầu của cộng đồng.

Nhà đầu tư thiên thần (Angel investor): Một cá nhân giàu có, sẵn sàng dùng chính tiền bản thân để cấp vốn cho một doanh nghiệp thành lập và phát triển ban đầu, và thông thường để đổi lại, họ sẽ có quyền sở hữu một phần công ty.

Sự kết hợp của những lực này là điều tách biệt những rung chuyển của chủ nghĩa tư bản ngày nay so với những gì diễn ra trước đó. Mọi thứ có nhiều hơn, di chuyển rộng khắp và nhanh hơn, kỳ vọng của mọi người cũng đã thay đổi sâu sắc. Một thị trường toàn cầu; sự di chuyển được giải phóng ở mức độ cao những lượng khổng lồ tiền bạc, hàng hóa, các thương hiệu, công nghệ và tài năng qua các biên giới và sự sử dụng; giá trị của kiến thức và thương hiệu nổi lên so với tài nguyên thiên nhiên và trang thiết bị vật chất; sự xuất hiện của tín dụng ở những nơi mà nó từng hiếm hoi hoặc không tồn tại - tất cả điều này nằm trong số những lực lượng giờ đã quen thuộc định hình lại các nền kinh tế. Như thế, chúng không chỉ thay đổi sân chơi cạnh tranh của các doanh nghiệp. Chúng cũng mở rộng cuộc cạnh tranh ra cho các tay chơi mới, đưa tới những đối thủ đáng nể và khéo léo mà những rào cản của luật lệ, nguồn lực, kiến thức, vốn hay danh tiếng đã từ lâu ngăn trở. Khi những rào cản này trở nên mong manh, xuất hiện những điều kiện cho sự phân mảng và thay thế những tay chơi truyền thống trong dài hạn, dù những khuynh hướng ngắn hạn ở một số ngành và quốc gia có vẻ vẫn chỉ về phía sự tập trung hóa.

Tất nhiên, khuynh hướng chung này thừa nhận các ngoại lệ, nhưng nhìn nhanh, một số hành động ngăn cản đáng kể nhất với việc gia nhập cạnh tranh trong quá khứ đã tiết lộ toàn diện cuộc chuyển đổi mang tính nền tảng.

Những Tài Sản Vật Chất

Năm 2007, tập đoàn truyền thông News Corporation, do Rupert Murdoch kiểm soát, đạt được một mục tiêu dài hạn khi hãng mua lại một tài sản thần thánh, nhật báo Wall Street Journal, với giá 5,6 tỉ đô-la Mỹ. Vài tuần trước đó, Google đã mua lại công ty quảng cáo Internet Doubleclick (được thành lập năm 1996) với giá 3,1 tỉ đô-la Mỹ và Microsoft mua lại công ty quảng cáo thậm chí còn kém nổi tiếng hơn aQuantive (được thành lập năm 1997) với giá 6,3 tỉ đô-la Mỹ. Trong khi tờ Journal đáng kính với những nhà báo dày dạn kinh nghiệm, đội ngũ biên tập, các tờ báo, danh mục các tòa nhà và hàng đoàn xe tải (tất cả các tài sản thuộc sở hữu công ty Dow Jones) được bán với một khoản tiền lớn, 2 công ty quảng cáo trên mạng với lịch sử ngắn ngủi và hầu như không có tài sản vật chất đáng kể nào đã được bán với giá tổng cộng cao gần gấp đôi.

Phải chăng đó là di sản của một thị trường bong bóng quá nóng các tài sản Internet? Thật vậy, Microsoft tuyên bố giảm ước tính giá trị của vụ mua aQuantive xuống 6,2 tỉ đô-la Mỹ vào năm 2012 [26] - nhưng đó chỉ là một phần của câu chuyện đang tiếp diễn với một diễn biến khác, gần đây hơn, trong vụ mua lại Instagram, một công ty với một tá nhân viên và không hề có doanh thu, của Facebook (bản thân cũng là một sản phẩm của thời đại Internet mới thành lập gần đây và được định giá cao ngất ngưởng) với với giá 1 tỉ đô-la Mỹ năm 2012. Bằng khoản tiền đó, Facebook đã có thể mua lại New York Times , Peet’s Coffee, Office Depot hay Cooper Tire & Rubber, tên vài công ty với mức định giá tương tự.

Phần đóng góp của tài sản vật chất trong giá trị của các công ty đã sụt giảm ở khắp các ngành. Mối quan hệ giữa những tài nguyên vật chất mà các công ty kiểm soát - các nhà máy, văn phòng và tất cả tài sản vật chất khác - với mức giá mà các công ty đó thu lại khi họ bán cổ phiếu ngoài thị trường hay bị thâu tóm ngày càng suy giảm. Ngày nay, các học giả ước tính, từ 40% tới 90% giá trị thị trường của một công ty tới từ “những tài sản vô hình” của nó, một hạng mục bao gồm tất cả mọi thứ từ các bằng sáng chế và quyền sở hữu trí tuệ tới cách công ty vận hành cùng sức mạnh về thương hiệu lẫn “thiện chí” mà nó tạo ra trong lòng khách hàng. Không phải mọi tài sản vô hình này đều có thể dễ dàng đo đếm - nhưng điều đó không ngăn các nhà kinh tế học cố gắng làm thế [27] .

Tất nhiên, một số ngành vẫn có chỗ dựa vững chắc trên những hoạt động rất đắt đỏ, như khoan dầu hay sản xuất máy bay. Và một số công ty vẫn có lợi thế cực lớn nhờ vào việc họ được tiếp cận với những tài sản đáng ham muốn: chẳng hạn, hãng khai mỏ khổng lồ của Nga Norilsk kiểm soát 30% trữ lượng nickel được biết tới của thế giới và 45% trữ lượng platinum thế giới ở Siberia. Nhưng ngay cả trong những ngành này, tầm quan trọng gia tăng của những tài sản vô hình vẫn đúng. Lorenzo Zambrano, Tổng giám đốc của CEMEX, một công ty xi-măng Mexico đã đột phá vươn lên thứ hạng hàng đầu của ngành này và trở thành một tay chơi toàn cầu, nói với tôi rằng “quản trị kiến thức” là nhân tố then chốt đằng sau khả năng cạnh tranh ở quy mô quốc tế với những đối thủ lớn hơn, lâu đời hơn của công ty. Quản trị kiến thức, “những hệ thống thông tin, những mô hình kinh doanh và ‘những tài sản vô hình khác’ bao gồm các kiến thức không chỉ liên quan tới xi-măng”, giải thích cho thành công của công ty, theo lời Zambrano [28] . CEMEX là một ví dụ khác về một tay chơi mới, khởi đầu từ một đất nước (Mexico) không nổi tiếng là nơi sản sinh ra những công ty có khả năng cạnh tranh toàn cầu, đã làm đảo lộn cấu trúc quyền lực truyền thống của một ngành lâu đời, tập trung cao độ.

Quy Mô Và Phạm Vi

Logic trong tính kinh tế theo quy mô từ lâu đã là tiền đề cho doanh nghiệp hiện đại: năng lực sản xuất càng lớn, mỗi đơn vị sản phẩm làm ra có chi phí càng thấp, những kẻ cạnh tranh nhỏ hơn càng khó sánh được với cấu trúc về chi phí và giá cả của những tay chơi có quyền lực lớn hơn.

Logic này đã mở rộng tới việc dựa vào tính kinh tế theo quy mô đạt được trong một ngành kinh doanh cụ thể để đa dạng hóa vào một ngành khác - nơi các kỹ năng và năng lực cốt lõi được sử dụng như một lợi thế cạnh tranh với những đối thủ đang tồn tại hoặc tiềm tàng trong ngành kinh doanh mới đó. Một ví dụ là PepsiCo, hãng sở hữu thương hiệu Gatorade, và bằng cách áp dụng những kỹ năng phân phối và tiếp thị với loại đồ uống thể thao này, đã biến Gatorade thành một trong những nguồn doanh thu chính của hãng.

Về mặt quản trị, logic của quy mô và phạm vi được mở rộng để giữ lại bất cứ chức năng hỗ trợ và hành chính nào bên trong công ty, tin tưởng giao phó những công tác đó cho kẻ khác sẽ đe dọa tính hiệu quả, chính xác hay bí mật thương mại.

Ngày nay vẫn có những ngành quy mô lớn nơi chi phí chìm* và các nhân tố khác dẫn tới sự nổi lên của những công ty lớn với khuynh hướng kiểm soát tập trung và chặt chẽ (Xem xét lĩnh vực điện hạt nhân chẳng hạn, với công nghệ hiện đại, các vấn đề an toàn và an ninh của nó, cùng những chi phí liên quan để thực hiện đúng tất cả mọi việc ngay lần đầu). Nhưng cũng có những ngoại lệ. Nhiều câu chuyện thành công trong kinh doanh ngày nay không chỉ tới từ các ngành nơi tính kinh tế theo quy mô kém phổ biến hơn mà còn từ những công ty đã bác bỏ hoàn toàn nguyên lý đó.

Chi phí chìm (Sunk costs): Chi phí đã xảy ra và không thể thay đổi được bởi bất kỳ quyết định nào trong hiện tại và tương lai.

Kết quả là, những nguyên tắc của tính kinh tế theo quy mô, phạm vi và tổ chức doanh nghiệp đang bị vi phạm theo rất nhiều cách, làm lợi cho những kẻ dị giáo trong kinh doanh. Một ví dụ là việc sản xuất ở quy mô nhỏ các hàng hóa cho thị trường đại chúng. Công ty quần áo của Tây Ban Nha Zara, khởi đầu là một doanh nghiệp nhỏ bé chuyên làm áo choàng tắm và chỉ bước ra khỏi Tây Ban Nha vào năm 1988, đã vượt qua doanh số của gã khổng lồ Mỹ The Gap năm 2007 - và tới năm 2012, giữa cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, doanh số của hãng đạt gần 18 tỉ đô-la Mỹ, cao hơn gần 25% so với The Gap, sau khi đã bỏ xa hãng đối thủ ở châu Âu là H&M [29] . Hoạt động trong một lĩnh vực tiêu dùng có cơ sở rộng của ngành kinh doanh thời trang, Zara (thương hiệu chủ lực của Inditex, công ty quản lý quỹ do nhà sáng lập Zara tạo ra) nổi tiếng nhờ sản xuất những gói hàng nhỏ đồ may mặc thay vì đặt thuê ngoài những đơn hàng sản xuất quy mô lớn như các đối thủ cạnh tranh. Hãng cũng thiết kế chiến lược bán lẻ gắn chặt với nhiều thị trường nước ngoài của mình (hơn 5.500 cửa hàng ở gần 80 nước) [30] . Zara cần chỉ hai tuần để thiết kế và sản xuất một sản phẩm mới và đưa nó ra cửa hàng trong khi ngành này cần trung bình sáu tháng. Hơn nữa, Zara ra mắt khoảng 10.000 thiết kế mới mỗi năm [31] . Ít ra là trong việc kinh doanh của Zara, hóa ra lợi thế của tốc độ - tức sự nhạy cảm với những thay đổi trong sở thích của khách hàng và đáp ứng họ ngay lập tức - quan trọng hơn nhiều những lợi ích gắn với các đơn hàng được sản xuất ở quy mô lớn [32] . Zara chỉ là một ví dụ nữa về ngày càng nhiều các công ty mà thành công dựa trên tốc độ hơn là quy mô - thường trong những ngành nơi quy mô lớn từng là yếu tố thành công then chốt.

Một sự vi phạm các nguyên lý của quy mô và phạm vi khác nằm ở khả năng thiết lập một bộ phận ở xa để thực hiện các dịch vụ mà một thời không hề được thuê ngoài, chứ đừng nói là đặt ở những nơi xa xôi. Hãy xem xét các hoạt động xung quanh chủ đề quen thuộc “thuê ngoài”. Đầu tiên, điều này đơn giản có nghĩa là ký hợp đồng với những nhà cung cấp bên ngoài để mua nguyên vật liệu hay gửi hàng hóa đi xa để lắp ráp hay tham gia giai đoạn nào đó khác trong chuỗi sản xuất. Rồi thuê ngoài lan sang thành các dịch vụ - mới đầu, những dịch vụ đòi hỏi kỹ năng thấp như công tác kế toán cơ bản hay các trung tâm hỗ trợ qua điện thoại để giải quyết các vấn đề cơ bản của khách hàng. Nhưng giờ, quy mô của thuê ngoài mở rộng ra cả khám bệnh từ xa - những bác sĩ đưa ra chẩn đoán hay các chuyên gia phòng thí nghiệm tiến hành các xét nghiệm hoặc các kế toán viên ở Ấn Độ làm quyết toán thuế cho các công ty Mỹ.

Một dải ngân hà các công ty nhỏ, mà vị trí địa lý ngày càng không phải là yếu tố quan trọng, hóa ra có thể thực hiện nhiều chuyên môn và dịch vụ trí tuệ cao với mức chi phí thấp hơn nhưng chất lượng ngang bằng với những đơn vị nội bộ được xây dựng tỉ mỉ của những gã khổng lồ cũ của ngành. Và không nước nào có thể nắm giữ hoàn toàn việc cung ứng những dịch vụ như thế. Sau khi mở một trung tâm nghiên cứu ở Ấn Độ năm 1998, IBM vào năm 2010 đã mở một trung tâm nữa ở São Paulo, Brazil trung tâm có nhiều chuyên viên lập trình Java nhất thế giới và nhiều chuyên viên lập trình máy tính trung tâm thứ hai. Năm 2010, các công ty ở Mỹ Latin và Đông Âu đã mở 54 cơ sở làm thuê ngoài mới, so với 49 ở Ấn Độ [33] .

Dù những lý do thuê ngoài là quen thuộc, chúng cũng không trở nên kém quyền lực hơn. Hãy xem xét sự sẵn có rộng khắp của thông tin liên lạc hiệu lực ngay lập tức. Thư điện tử, tin nhắn và gọi điện qua Internet (VoIP) không chỉ khiến cuộc sống của chúng ta thuận tiện hơn, chúng cũng pha loãng lợi thế kinh doanh truyền thống vốn từng nằm trong những tòa nhà văn phòng nơi các đồng nghiệp tiếp xúc trực tiếp, hay trong những cuộc họp được sắp xếp thông qua các đại lý du lịch nội bộ, thư tín nội bộ, mạng điện thoại nội bộ, mạng máy tính nội bộ và mạng lưới địa phương, và vân vân. Mỗi một thứ trong đó từng đòi hỏi sự đầu tư lớn, dẫn tới rất nhiều cản trở cho những công ty khởi nghiệp hay những doanh nghiệp mới gia nhập ngành và làm nản lòng việc đem thuê ngoài những chức năng thiết yếu. Lợi thế kinh doanh của những doanh nghiệp đang thống trị, với mọi ý định và mục đích, đã biến mất.

Một cụm từ đã biến mất khỏi các từ điển kinh tế học là độc quyền tự nhiên. Cụm từ này từng dùng để chỉ các ngành kinh doanh với tính kinh tế theo quy mô quá lớn khiến không có lý do gì để có nhiều hơn một nhà cung cấp. Điện lực, điện thoại cố định và cung cấp nước là những ví dụ chính yếu. Câu hỏi duy nhât là liệu những doanh nghiệp độc quyền này nên thuộc sở hữu nhà nước hay thay vì thế, thuộc sở hữu tư nhân và được quản lý. Nhưng giờ những ngành này ngày càng bị cạnh tranh, như những nhà kinh tế học chỉ ra: công nghệ cho phép tổ chức chúng theo những phương cách cho phép nhiều nhà cung cấp cạnh tranh tìm khách hàng. Kết quả là một sự mở rộng ngoạn mục các lựa chọn. Ở châu Phi, Bharti Airtel, dịch vụ điện thoại di động hàng đầu trong khu vực, đã hợp tác với một công ty năng lượng mặt trời vi mô dùng bao nhiêu trả bấy nhiêu tên gọi SharedSolar để bán đường truyền và điện cho 50 triệu người dùng có đăng ký của Bharti ở châu lục này [34] . Một khách hàng ở Melbourne, Úc, có thể lựa chọn trong số 15 nhà cung cấp điện. Thứ từng là dị giáo một thế hệ trước giờ là kiểu hoạt động tiêu chuẩn.

Khi quy mô và phạm vi đã mất đi lợi thế cạnh tranh của chúng, những lợi thế khác xuất hiện. Tốc độ từng là một lợi thế của quy mô. Giờ tốc độ chiến thắng quy mô. Sự tiếp cận bình đẳng từ những đối thủ cạnh tranh mới và nhỏ hơn với những công cụ cho phép xác định khách hàng, sản phẩm và phát triển dịch vụ nhanh chóng, việc đáp ứng và giao hàng giúp biến quy mô từ một lợi thế thành, rất có thể, một gánh nặng.

Thương Hiệu

Cách kinh điển để giành được một vị trí dễ chịu trên thị trường là triển khai và bảo vệ cho một thương hiệu. Công tác thương hiệu - với một cái tên, một logo, và tất cả quảng cáo và chiến dịch đi kèm mà một cái tên nổi tiếng và hấp dẫn cho phép - giúp bảo vệ một sản phẩm khỏi việc trở thành một thứ hàng hóa không có gì khác biệt, theo đó việc ai sản xuất hay giao sản phẩm đó ít hoặc không đáng quan tâm nữa, và trao cho nó khả năng trở thành một cảm xúc hay một trải nghiệm. Được biết đến nhiều là cuộc cách mạng sớm trong ngành thương hiệu diễn ra năm 1947 khi United Fruit Company nghĩ ra cái tên Chiquita để đặt cho những quả chuối của hãng [35] . Trước đó, một quả chuối không gì khác ngoài việc là một quả chuối, dù ai trồng nó và trồng ở đâu. Tất cả điều phân biệt hai quả chuối với nhau là kích cỡ, độ chín và mùi vị - những yếu tố có vẻ độc lập với nhà sản xuất.

Nhưng phát minh ra một tên gọi và logo thân thiện cho phép tạo ra một câu chuyện quảng cáo xung quanh chúng. Thành công của thương hiệu này lớn tới mức năm 1990, nó đã trở thành tên mới của cả công ty.

Như ví dụ này minh họa, toàn bộ vấn đề về công tác thương hiệu là để cản trở sự cạnh tranh. Thương hiệu càng hiệu quả, nó càng đóng góp vào sức mạnh thị trường của công ty. Và ngày nay, có nhiều cách để phân biệt một sản phẩm hơn bao giờ hết. Chúng trải từ những công cụ truyền thống như logo, bao bì, quảng cáo qua truyền hình và tài trợ cho tới những công cụ mới như mua quyền đặt tên theo tên doanh nghiệp, đảm bảo việc quảng cáo sản phẩm dễ nhận diện, quảng cáo trên nhiều nền tảng truyền thông và gieo những chiến dịch tiếp thị có tính lan truyền cao. Cách để kể một câu chuyện về sản phẩm đã sinh sôi nảy nở cực nhanh, chúng không còn đòi hỏi những ngân sách quảng cáo khổng lồ cần đặt cả lòng tin vào những hãng quảng cáo hàng đầu ở New York hay London nữa. Như một minh họa khác về việc những kẻ thách thức mới và không ngờ đến thành công trong việc làm xói mòn sự thống trị của những tay chơi lâu đời ra sao, hãy xem xét ví dụ của một ngành kinh doanh còn không tồn tại mới vài năm trước - quảng cáo qua mạng xã hội như Facebook, Twitter và YouTube - và đang hướng tới việc thâu tóm một thị phần lớn và ngày càng tăng trong khoản tiền bỏ ra cho quảng cáo vốn nhiều năm đi vào các kênh truyền thống như truyền hình, phát thanh, báo và tạp chí. Việc tiếp thị vào thị trường ngách một cách hiệu quả - tức là tiếp thị với các cố động viên bóng đá, người nói tiếng Nga, người thích trò chơi điện tử, nông dân trồng lúa mì, người ăn chay, vân vân - giờ sẵn có với những cái giá không nhất thiết phải làm những kẻ mới gia nhập ngành hoảng sợ. Và một trang web thông minh có thể lôi kéo những người lướt mạng biết tới tên và các sản phẩm của một công ty cách xa họ nửa vòng trái đất mà trước đó họ chưa bao giờ nghe thấy.

Một lĩnh vực nổi lên trong kinh tế học về đo đạc cấu thành giá trị thị trường của một công ty nằm trong thương hiệu của nó. Một nghiên cứu năm 2011 bởi Interbrand, một công ty tư vấn hàng đầu trong lĩnh vực này, cho thấy thương hiệu McDonald’s - cái tên, tên sản phẩm, thiết kế nhà hàng và cánh cung màu vàng - chiếm tới hơn 70% giá trị của công ty. Thương hiệu Coca-Cola trị giá 51% giá trị công ty, Disney, IBM và Intel lần lượt là 68%, 39% và 22% [36] .

Bảng xếp hạng những công ty theo định giá bằng tiền giá trị thương hiệu của họ năm 2011 cho ra một nhóm lẫn lộn những đại gia của nền kinh tế cũ và những tay chơi mới do công nghệ dẫn dắt: Coca-Cola dẫn đầu, tiếp theo là IBM, Microsoft, Google, GE, McDonald’s, Intel, Nokia, Disney và Hewlett Packard hoàn tất tốp mười [37] .

Theo đó, các công ty đầu tư những khoản tiền lớn vào việc xây dựng thương hiệu là hợp lý. Và những công ty thông minh liên tục tiến hóa. Lấy ví dụ, IBM đã cải tác chính hãng từ một nhà sản xuất máy tính cá nhân, ổ đĩa và các thiết bị máy tính khác thành một doanh nghiệp công nghệ với tầm nhìn xa sử dụng phần mềm tư vấn và phân tích thông minh để giải quyết các vấn đề toàn cầu nhức nhối - một nỗ lực được ghi nhận trong chiến dịch quảng cáo “Hành tinh thông minh hơn” năm 2012 của hãng. Nhưng ngay cả lợi thế thương hiệu cũng đang trở nên khó nắm bắt. Một số những thương hiệu năng động nhất mà sự đóng góp vào tổng giá trị công ty tăng nhanh nhất trong những năm gần đây là các doanh nghiệp khởi nghiệp như Skype (giờ thuộc sở hữu Microsoít). Cũng như các thương hiệu đã vượt qua các tài sản hữu hình trong cấu thành giá trị một công ty, bản thân lợi thế thương hiệu đã trở nên khó nắm giữ hơn khi những tay chơi mới thiết lập tên tuổi của họ.

Tiếp Cận Nguồn vốn

Ít có trở ngại kinh doanh nào khó chịu như việc thiếu sự tiếp cận nguồn vốn. Hiếm khi nào những doanh nhân có ngay các khoản tiền họ cần để trang trải cho một ý tưởng hay thử nghiệm một sản phẩm. Thông thường, những doanh nghiệp có được sự xa xỉ đó là các công ty lớn với nguồn tiền đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm hay đủ tiên mặt nhàn rỗi để chi vào một “sản phẩm bán lỗ để kéo khách”. Những kênh huy động vốn càng bị giới hạn và bó buộc, thị trường càng đóng với những kẻ cạnh tranh mới. Và khắp thế giới, sự tiếp cận nguồn vốn đã bị giới hạn thật sự, đòi hỏi nhiêu thủ tục xin cho rườm rà với các ngân hàng keo kiệt cho nguồn tín dụng kèm theo lãi suất cao. Mỹ về truyền thống là ngoại lệ lớn nhất cho cách làm này, đóng góp vào vị trí lãnh đạo của nó vai trò trung tâm sáng tạo của thế giới.

Ngày nay, nước Mỹ vẫn là một trong những nơi có được tín dụng dễ dàng nhất trên thế giới - nhưng chỉ là dễ thứ mười. Theo Ngân hàng Thế giới, năm nước dễ tiếp cận tín dụng nhất là Malaysia, Nam Phi, Vương quốc Anh, Úc và Bulgaria. Hình mâu đáng kinh ngạc các quốc gia này là bằng chứng về những thay đổi lớn không chỉ trong địa điểm của các nguồn vốn, mà cả trong bản chất của nó, khi những nguồn tín dụng hoàn toàn mới mở ra và những nguồn theo truyền thống bị hạn chế giờ trở nên sẵn có ở khắp hơn.

Một khuynh hướng lớn trong hai thập kỷ qua là sự lan nhanh của những “quỹ đầu tư mạo hiểm” và những “nhà đầu tư thiên thần” - kiểu nhà đầu tư một thời chủ yếu chỉ đóng trụ sở ở Mỹ - tới những thị trường lớn mới ở châu Âu, Nga, châu Á và Mỹ Latin. Như đã nói ở trước trong bối cảnh của cách mạng Di Động, một trong những lực lượng đằng sau sự phân tán quốc tế của các mô hình vốn đầu tư mạo hiểm và đầu tư tư nhân là sự di chuyển của các ngân hàng, nhà đầu tư và các kỹ sư - những người đã tìm kiếm kinh nghiệm ở Mỹ rồi trở về quê nhà để lặp lại các mô hình đầu tư này. Ở Đài Loan, những quỹ đầu tư đầu tiên được thành lập dựa trên mô hình Mỹ ra đời trong những năm 1986-1987, dẫn đầu bởi các giám đốc trở về từ những khóa học và ngành nghề kỹ sư ở Mỹ. Gần đây hơn, các công ty đầu tư mạo hiểm đã nở rộ ở Ấn Độ và thậm chí là Trung Quốc, nơi chúng còn đối mặt với sự hạn chế tương đối lớn. Những người hồi hương và những nhà tài chính với chỗ đứng ở cả hai thế giới - chẳng hạn, ở Bangalore và Thung lũng Silicon - là trung tâm của sự tăng trưởng này. Học giả ở Berkeley, AnnaLee Saxenian, một chuyên gia về đề tài này, coi “những khu vực công nghệ mới nổi” như Thượng Hải và Bangalore không còn là những bản sao chép, mà đúng hơn, là sự mở rộng của Thung lũng Silicon. Bà cho rằng sự so sánh thích hợp với sự di chuyển tài năng và những ý tưởng kinh doanh cùng nguồn ngân quỹ này không còn là “chảy máu chất xám”, mà là, như đã được đề cập trong Chương 4, “luân chuyển chất xám” [38] .

Sự Sáng Tạo

“Tôi không biết làm sao anh có thể có một môi trường sáng tạo cao ở một công ty dược lớn. Thật khó để tưởng tượng làm sao anh có thể nuôi dưỡng một môi trường sáng tạo, chấp nhận rủi ro và sản sinh ra những nhà vô địch”. Tuyên bố đó là của John Maraganore, tổng giám đốc của một công ty dược nhỏ ở Cambridge, Massachusetts, vào năm 2007 [39] . Theo quan điểm của ông, đó chỉ là cách diễn đạt một điều đã rõ ràng. Tuy nhiên, so sánh với hàng thập kỷ cách làm tiêu chuẩn của các doanh nghiệp, điều đó đúng là cấp tiến.

Cấp tiến, nhưng đúng. Những công ty dược hàng tỉ đô-la như Pfizer và Merck có thể tiếp thị một số loại thuốc mới giàu sáng tạo và cải tiến nhất mà nhiều khả năng không phải do họ phát triển. Thay vì thế, nhiều công ty nhỏ chuyên biệt - một số được thành lập từ các khoa nghiên cứu sinh học ở các trường đại học, một số ở những khu vực tập hợp sáng tạo như Hyderabad, Ấn Độ, còn được biết tới là “Thưng lũng Gien” - tổng hợp những loại thuốc mới này. Họ sau đó bán thuốc - hay trong một số trường hợp, bán cả công ty - cho những gã khổng lồ trong ngành [40] . Thực sự, việc sản xuất thuốc có thể là nhiệm vụ của một công ty thuê ngoài khác. Một ví dụ là FerroKin Biosciences, vốn có 7 nhân viên làm việc ở nhà, cùng một tập hợp khoảng 60 nhà cung ứng và nhà thầu cung cấp tất cả những phần khác nhau của quy trình phát triển thuốc. Bắt đầu từ năm 2007, hãng đã thu hút 27 triệu đô-la Mỹ vốn đầu tư mạo hiểm, chuyển các loại thuốc của hãng từ giai đoạn phát triển sang Giai đoạn II thử nghiệm y khoa [41] và được mua lại vào năm 2012 bởi Shire Plc, một công ty chuyên ngành dược phẩm sinh học có trụ sở tại Anh.

Những công ty như Shire, và những đại gia trong ngành dược phẩm như Merck, duy trì một lợi thế khác biệt so với những nỗ lực cây nhà lá vườn trong việc quảng cáo và phân phối. Sẽ là không thực tế khi một nhà sản xuất dược phẩm ở Hyderabad hay Thâm Quyến tự trang bị những đội quân trình dược viên để đưa hàng mẫu (kèm bút cùng túi và bữa trưa) cho các bác sĩ và nhân viên bệnh viện ở Florida, Perth hay Dorset.

Sự thay đổi trong vị trí sáng tạo sản phẩm chủ đạo thực sự mang tính cách mạng. Trong nhiều năm, các công ty lớn trong mọi lĩnh vực từ dược phẩm tới xe hơi, hóa chất và máy tính đã tiến hành công tác nghiên cứu và phát triển của riêng họ trong những bộ phận được bảo vệ nghiêm ngặt và được đầu tư tốt, vốn là lòng tự hào và uy tín cốt yếu của công ty. Tuy nhiên, từ những năm 1980 trở đi, những công ty như Cisco và Genzyme vươn lên hàng đầu bất chấp việc không sở hữu năng lực nghiên cứu và phát triển nội tại này. Điều mà học giả kinh doanh Henry Chesbrough gọi là một “thời kỳ của sự sáng tạo mở” bắt đầu tạo ra ảnh hưởng [42] . Trong một số ngành, Chesbrough chỉ ra, sáng tạo mở từ lâu đã là tiêu chuẩn: Hollywood chẳng hạn. Giờ thì, những nhà sản xuất hóa chất, điện thoại và máy bay đã tiến gần hơn tới mô hình Hollywood, làm đảo lộn sự thông thái của những gã khổng lồ cũ trong lĩnh vực này. Và những tay chơi quyền lực mới trong ngành của họ như Acer và HTC đã đi từ những cửa hàng cải tiến ở nước ngoài mà tên tuổi không bao giờ xuất hiện trên các sản phẩm của họ tới những đối thủ cạnh tranh hùng mạnh với tên tuổi riêng của mình [43] .

Điều đó là hợp lý: “Chúng ta biết kiểu phân loại sản phẩm này rõ hơn nhiều so với các khách hàng của chúng ta”, Tổng giám đốc của công ty sản xuất điện thoại HTC có trụ sở tại Đài Loan nói với tạp chí kinh doanh Businessweek [44] . Hàng loạt những công ty vẫn chưa có tên tuổi khác đang sẵn sàng nối bước. Trong ngành dược, thuê ngoài việc sản xuất là một quá trình đã có từ lâu, nhưng phát triển thuốc mới vẫn là lĩnh vực được giữ kỹ trong nội bộ công ty. Mặt khác, thị trường thuê ngoài việc phát triển thuốc mới đã tăng trưởng nhanh hơn việc đầu tư nghiên cứu và phát triển nói chung cho thuốc mới kể từ năm 2001. Thị trường này mở rộng từ 2 tỉ đô-la Mỹ vào năm 2003 lên 5,4 tỉ đô-la Mỹ vào năm 2007 và ước tính hiện đang tăng trưởng ở mức 16% mỗi năm [45] .

Không điều nào trong số đó là điềm lành cho các công ty lớn. Như học giả kinh doanh Clayton Christensen lập luận trong một cuốn sách nổi tiếng, The Innovator’s Dilemma (tạm dịch: Thế Lưỡng Nan Của Nhà Sáng Tạo), ngay cả những công ty tốt nhất hoạt động theo một bộ những quy trình khiến chúng giỏi trong việc khai thác những “công nghệ lâu dài” (những công nghệ mới giúp các sản phẩm hiện có tốt hơn) nhưng tồi tệ trong việc xác định và tận dụng những công nghệ mang tính đột phá (những công nghệ mới thường xuất hiện ở vùng cận biên của thị trường hiện giờ nhưng dần nổi lên tái tạo lại thị trường đó). Trong số những công nghệ đột phá kinh điển, Christensen liệt kê ra những thứ như điện thoại di động, tuabin siêu nhỏ, kỹ thuật tạo hình mạch máu, máy chơi điện tử Playstation, hình thức học từ xa, giao thức Internet, bán lẻ qua mạng và chăm sóc bệnh nhân tận nhà. Các phát triển mới như thế, ban đầu tương đối thiếu tính kinh tế so với các quy trình tiêu chuẩn, rốt cuộc gây lúng túng cho chính những gã khổng lồ trong ngành, vốn luôn được coi là những kẻ dẫn dắt không thể sai lầm trong lĩnh vực của họ, dẫn tới sự tiêu tan hay suy thoái dần dần của những công ty một thời là mẫu mực như DEC hay Sears Roebuck [46] .

Quy mô và các quy trình vận hành đi cùng với nó đóng góp mạnh mẽ vào những câu chuyện này, Christensen giải thích. Lấy ví dụ, nhu cầu phân tích cơ hội thị trường của các công ty lớn theo những phép đo đạc đã được xác định ngăn cản không cho họ nắm bắt những diễn biến của các thị trường non trẻ nổi lên xung quanh những công nghệ mới. Giảm bớt lợi nhuận ngắn hạn từ những thị trường mới này đi ngược lại với văn hóa tối đa hóa giá cổ phiếu hàng quý. Và tình trạng tiến thoái lưỡng nan lặp lại với mỗi làn sóng sáng tạo: khi những công ty đầu tiên khai thác các lợi ích của công nghệ đột phá và tăng trưởng, “dần dà họ sẽ lại gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiến vào những thị trường thậm chí còn mới và nhỏ hơn mà chắc chắn sẽ trở thành những thị trường lớn trong tương lai” [47] .

Christensen đề xuất những nguyên tắc để các lãnh đạo doanh nghiệp đối đầu với tình thế lưỡng nan về sáng tạo này. Nhưng với nguồn vốn cho nghiên cứu và phát triển đang chảy tự do hơn tới nhiều địa điểm hơn và ít sự đầu tư trả trước cần thiết hơn vào những nhà máy hữu hình, những nguồn lực đầu vào khan hiếm, thông tin liên lạc và tiếp thị, thế lưỡng nan sẽ ngày càng tăng lên không ngừng, chứ không giảm đi, về cường độ.

Những Quy Định Hạn Chế Của Chính Phủ

Về mặt lịch sử, hạn chế do chính quyền áp đặt để hạn chế bối cảnh cạnh tranh là nhằm phục vụ cho một mục tiêu cao hơn: bảo vệ những công ty địa phương còn non nớt khỏi hàng hóa nhập khẩu rẻ tiền, hay thúc đẩy một nghị trình xã hội cụ thể bằng cách kiểm soát bản chất và địa điểm các vụ đầu tư.

Nhưng khuynh hướng này đã đạt tới đỉnh điểm khoảng 30 năm trước, dần bị loại bỏ bởi hiệu quả kém và một sự thay đổi hoàn toàn trong tư duy chính sách toàn cầu. Ngày nay chính phủ trên toàn thế giới đã dẹp bỏ những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, chia tách các công ty độc quyền, tự do hóa các thể chế thương mại và đầu tư của họ, cải thiện môi trường kinh doanh cho các doanh nhân trong một quá trình đã trở nên phổ biến. Một dấu hiệu nói lên nhiều điều: Năm 1990, mức thuế thương mại trung bình là 23,9% trên toàn thế giới (dao động từ 38,6% ở các nền kinh tế thu nhập thấp tới 9,3% ở các nước OECD). Tới năm 2007, con số đã giảm xuống còn 8,8% trên toàn thế giới, từ mức thấp 12% ở các nước có thu nhập thấp tới mức không đáng kể 2,9% ở các nước thành viên OECD. Ngay cả cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 cũng không thể đảo ngược khuynh hướng này [48] . Khi những nền kinh tế tiên tiến gặp khủng hoảng, xuất hiện một mốt thời thượng trong việc dự báo phản ứng tự nhiên của các chính phủ đó là bảo vệ công ăn việc làm và các công ty đằng sau những hàng rào nhập khẩu cao hơn. Điều đó đã không xảy ra. Cũng tương tự như khả năng các quốc gia sẽ áp đặt những hạn chế với các nhà đầu tư nước ngoài. Cả điều đó nữa cũng không xảy ra.

Chuyển động thật sự trên toàn cầu - hướng tới những nền kinh tế tự do, mở với các thị trường vốn rộng lớn và hạn chế sở hữu nhà nước - là một trong những câu chuyện được kể nhiều nhất trong thế hệ vừa qua. Cùng với nó là sự thận trọng cho rằng ở một thời điểm nào đó con lắc sẽ quay ngược lại - nếu không phải là hết mức, thì cũng ở một mức độ đáng kể. Và thật ra, điều này thoạt trông đã có thể xuất hiện, rằng cùng với cuộc suy thoái toàn cầu 2008-2009 là một khuynh hướng quay trở lại của nhiều quy định và sự kiểm soát của chính phủ hơn trong những ngành then chốt.

Nhưng những biện pháp như cứu trợ ngân hàng ở Mỹ, tạm thời quốc hữu hóa ở Anh, những nỗ lực cập nhật quy định trong lĩnh vực tài chính để xứ lý việc mua bán các tài sản phái sinh* chọn lai không nên bị nhầm lẫn là một sự đảo ngược của xu hướng lớn hơn nhiều trên toàn cầu. Thật vậy, theo Ngân hàng Thế giới, tốc độ cải cách thân thiện với kinh doanh trên toàn thế giới đã đạt mức cao kỷ lục trong giai đoạn 2008-2009, ngay giữa cuộc suy thoái toàn cầu. Trong năm đó, Ngân hàng Thế giới tính được 287 cuộc cải cách, diễn ra ở 131 quốc gia, khiến cho việc kinh doanh dễ dàng hơn. Tính tổng cộng từ năm 2004, 3/4 các nền kinh tế trên thế giới đã khiến việc khởi sự một doanh nghiệp dễ dàng hơn, gần 2/3 đã khiến tín dụng dễ tiếp cận hơn, hơn một nửa đã khiến việc đăng ký bất động sản, trả thuế và buôn bán xuyên biên giới dễ dàng hơn. Thêm vào đó một số đáng kể các nước đã khiến việc phá sản, chế tài các hợp đồng, xin giấy phép xây dựng và những thứ tương tự dễ dàng hơn. Bức tranh tổng thể là một trong những trở ngại với hoạt động kinh doanh đã được các chính phủ giảm nhẹ đi đáng kể - qua đó phơi bày những công ty từng một thời được bảo vệ ra trước sự cạnh tranh. Tất cả các loại rào cản gia nhập của những kẻ cạnh tranh mới đang hạ xuống và ngược với suy nghĩ thông thường, những rào cản do các chính phủ áp đặt đang suy giảm nhiều nhất. Và tiếp tục được giữ ở mức thấp [49] .

Phái sinh (Derivative): Công cụ tài chính thừa hưởng giá trị của nó từ giá trị của các thực thể cơ sở chẳng hạn như tài sản, chỉ số, hay lãi suất - bản thân nó không có giá trị nội tại. Các nghiệp vụ phái sinh bao gồm một loạt hợp đồng tài chính, bao gồm các nghĩa vụ nợ và tiền gửi được cơ cấu, các hoán đổi, các tương lai, các quyền chọn, các trần lãi suất, các sàn lãi suất, các tròng tài chính, các kỳ hạn và sự kết hợp phong phú của chúng.

NHỮNG KẺ MỚI GIA NHẬP VÀ NHỮNG CƠ HỘI MỚI

Đây không phải là nơi để tuyên bố về cái chết của những ngành kinh doanh, những công ty và những tên tuổi cũ. Nhiều bằng chứng đang chỉ ra điều ngược lại. Nhiều công ty tồn tại hơn 100 năm qua vẫn làm tốt. Một số tập đoàn lớn và lâu đời như Coca-Cola, Nestlé, ExxonMobil và Toyota sẽ còn trụ vững trong một thời gian dài nữa, những cái tên khác có lẽ ít hơn. Nhưng trong khi tiên đoán những triển vọng của một tập đoàn lớn cụ thể là hoạt động hữu ích cho những cổ đông, thì đó lại là sự phân tâm khỏi câu chuyện lớn đang diễn ra xung quanh chúng ta - câu chuyện của sự tiến lên của cả một đoàn những kẻ cạnh tranh mới. Dưới đây là một vài kẻ như thế.

Những Công Ty Đa Quốc Gia Mới Từ Phương Nam

Hãy gặp Alejandro Ramirez, một doanh nhân trẻ từ Morelia, Mexico, một trong những tay chơi dẫn đầu trong ngành kinh doanh khu phức hợp rạp chiếu phim ở Ấn Độ.

Ấn Độ nổi tiếng là một quốc gia với nền công nghiệp phim ảnh lớn nhất thế giới, ít nhất là đo theo số lượng phim thương mại được sản xuất mỗi năm. Tuy nhiên, điều mà Ấn Độ tụt hậu nghiêm trọng là các khu phức hợp chiếu phim hiện đại - mang tới cho giai cấp trung lưu đang bùng nổ của nước này những bộ phim trong nước và nước ngoài trên các màn hình chất lượng cao. Chỉ có khoảng 1000 màn hình chiếu phim hiện đại ở quốc gia với hơn 1,2 tỉ dân này. Công ty của Ramirez, Cinepolis, sẽ lấp vào chỗ trống đó với việc bổ sung 500 màn hình mới trong vài năm tới. Cinepolis, khởi đầu là một hãng chiếu phim chỉ có một màn hình vào những năm 1940 ở quy mô địa phương tại bang Michoacán, đã tăng trưởng để trở thành công ty khu phức hợp rạp phim lớn nhất ở Mexico và khắp Trung Mỹ [50] .

Cinepolis không chỉ là tay chơi mới quyết liệt nhất trong ngành chiếu phim Ấn Độ, họ còn là nhà đầu tư nước ngoài đầu tiên bước vào lĩnh vực này ở Ấn Độ. “Điều gì dẫn anh tới việc đa dạng hóa kinh doanh ở thị trường Ấn Độ?” Tôi hỏi Ramirez. “Đó không phải là ý tưởng của tôi”, anh trở lời. “Hai sinh viên ở Trường Kinh doanh Stanford phải chuẩn bị một kế hoạch kinh doanh cho một trong các khóa học của họ đã nghĩ ra cơ hội này và trình bày nó với tôi. Chúng tôi đã làm việc cùng nhau, tinh chỉnh lại nó, huy động vốn và lên đường. Gần như ngay lập tức chúng tôi phát hiện ra rằng triển vọng thậm chí còn lớn hơn chúng tôi tiên đoán” [51] .

Cinepolis chỉ là một trong số ngày càng tăng các tay chơi từ những nước như Mexico, Ấn Độ, Brazil, Nam Phi và Thổ Nhĩ Kỳ hoạt động trong các nền kinh tế đang phát triển - trong những lĩnh vực trước đó chưa được phát triển, bị giới hạn chỉ dành cho đầu tư trong nước hay bị kiểm soát bởi những công ty đa quốc gia lớn hơn, đóng trụ sở ở phương Tây. Hợp tác Nam-Nam là một giấc mơ của phong trào các nước thế giới thứ ba từ những năm 1970, trong đó các nền kinh tế của thế giới đang phát triển sẽ bỏ qua “phương Bắc” để giúp đỡ lẫn nhau thông qua thương mại trực tiếp, đầu tư và viện trợ. Đó là một giấc mơ kiểu xã hội chủ nghĩa do nhà nước dẫn dắt và kiểu đầu tư giờ đang nở rộ khá khác biệt so với điều phong trào đó từng tưởng tượng ra. Dẫu vậy, đầu tư Nam-Nam ngày nay là một trong những xu hướng mang tính định hình của kinh doanh toàn cầu [52] . Dữ liệu của Liên Hiệp Quốc cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua thâu tóm lẫn mở rộng cơ sở hiện có (OFDI) từ các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi đã bắt đầu diễn ra nhanh hơn OFDI từ các nước giàu vào năm 2003.

Có 20 trong 54 hiệp định đầu tư song phương được ký trong năm 2010 là giữa các nước đang phát triển, các nước này ngày càng gia tăng về tầm quan trọng, cả với tư cách nước nhận FDI và với tư cách những nhà đầu tư. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước đang phát triển đạt tới tỉ lệ chưa từng có tiền lệ: 29% tổng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào năm 2010. Sự tăng trưởng mạnh mẽ này tiếp tục trong các năm 2011 và 2012 bất chấp những khó khăn kinh tế toàn cầu [53] .

Số các công ty ở những nước đang phát triển trên những bảng xếp hạng các công ty lớn nhất thế giới tiếp tục tăng. Và những nhà nghiên cứu từ Ngân hàng Thế giới và OECD đã lập luận rằng thống kê chính thức đánh giá thấp quy mô OFDI từ các nước đang phát triển, một phần vì nó là một hạng mục mới và thường không được đánh giá đúng mức, một phần vì lượng tháo chạy vốn không được ghi nhận [54] .

Trong số những kẻ hưởng lợi của xu hướng này là hàng loạt các công ty, trong những lĩnh vực trải rộng từ xây dựng và viễn thông tới dệt may và dầu khí, vốn ít được biết tới ở châu Âu hay Bắc Mỹ nhưng đang ngày càng là những thương hiệu được thừa nhận rộng rãi ở phần còn lại của thế giới. Trong lĩnh vực điện thoại di động chẳng hạn, Bharti Airtel và Reliance của Ấn Độ, MTN của Nam Phi, Orascom của Ai Cập và Etisalat của Các Tiểu Vương Quốc A-rập Thống Nhất đều nằm trong tốp mười lăm của thế giới. Những công ty khác ít được biết tới hơn nhưng có vai trò lớn trong ngành của họ: lấy ví dụ, những hãng sản xuất dệt may của Sri Lanka đã mở rộng hoạt động ra những nơi khác ở Nam Á và Ấn Độ Dương, còn những tập đoàn đa ngành của Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành những tay chơi lớn ở Nga, vùng Balkan và Trung Đông (Thật vậy, các công ty Thổ Nhĩ Kỳ là những kẻ hưởng lợi lớn từ nỗ lực quốc tế tái thiết và phát triển hạ tầng ở Afghanistan, bao gồm việc xây dựng đại sứ quán Mỹ ở Kabul). Ngày càng nhiều những công ty như thế này nhảy ra khỏi vùng an toàn khu vực của họ, nơi họ có sự quen thuộc về ngôn ngữ hay văn hóa, để đầu tư (như Cinepolis) khi họ phát hiện ra cơ hội cách xa căn cứ quê nhà. Antoine van Agtmael, người đã nghĩ ra cụm từ các thị trường mới nổi, nói với tôi rằng ông cảm thấy tự tin rằng tới năm 2030, những công ty đóng trụ sở ở các thị trường mới nổi sẽ đông đúc hơn những công ty ở các nền kinh tế tiên tiến ngày nay [55] .

Phương Nam Bắc Tiến

Một hiện tượng liên quan là sự nổi lên những vụ thâu tóm các công ty lớn của Bắc Mỹ và châu Âu bởi những công ty đặt trụ sở tại những nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi, tạo ra một giống loài mới các công ty đa quốc gia toàn cầu - hoặc đặt trụ sở hoặc có gốc rễ kinh doanh trong một hệ thống kinh tế mà tới tận gần đây vẫn còn đóng cửa, thiên về nhà nước. Ấn Độ, Mexico, Brazil, Nam Phi và Trung Quốc nằm trong số những nơi bắt nguồn lớn của các công ty này. Một ví dụ rõ ràng là công ty xi-măng Mexico khổng lồ đã được đề cập ở trên, CEMEX, vốn hoạt động ở gần 40 nước. Sự quốc tế hóa của CEMEX đã đẩy nó lên gần như hạng đầu trong thị trường vật liệu xây dựng thế giới (trong một cuộc chiến quyết liệt với công ty có trụ sở ở Pháp Lafarge) và huy động cổ phần ở Mỹ cho việc kinh doanh của hãng chiếm 41%, so với chỉ 24% ở Mexico. Dù CEMEX phải thực hành tiết kiệm khi nền kinh tế toàn cầu gặp trục trặc, hãng vẫn là một tay chơi toàn cầu lớn ở nhiều nước phát triển, trong lĩnh vực một thời từng là địa hạt riêng của các công ty những nước giàu [56] . Các ví dụ cũng bao gồm những công ty mẹ của hai tay chơi lớn nhất trong ngành bia ở Mỹ. Anheuser-Busch được kiểm soát bởi công ty có trụ sở tại Bỉ InBev (bản thân nó được thành lập khi hãng Ambev của Brazil tìm kiếm sự mở rộng ra nước ngoài) và chủ yếu được lãnh đạo bởi ban quản trị Brazil. Trong khi đó, người coi giữ thương hiệu bia đối thủ Budweiser là SABMiller, được thành lập khi hãng South African Breweries của Nam Phi mua lại Công ty Bia Miller vào năm 2002, ngay sau những vụ thâu tóm thành công ở các thị trường như Cộng hòa Czech, Romania, E1 Salvador, Honduras và Zambia. Vale của Brazil (trước đó được biết tới với cái tên rổn rảng Companhia Vale do Rio Doce) đã trở thành hãng khai mỏ lớn thứ hai thế giới năm 2007 sau khi thâu tóm một đối thủ Canada, Inco. Và công ty thép lớn nhất thế giới, ArcelorMittal, khởi nguồn từ một loạt vụ mua lại từ tỉ phú Ấn Độ Lakshmi Mittal. Mittal Steel của ông mới lọt vào Fortune Global 500 vào năm 2005 [57] .

Những cái tên kết hợp cồng kềnh của ArcelorMittal và Anheuser-Busch InBev cho thấy những câu chuyện này là về các cuộc sáp nhập và thâu tóm cũng nhiều như là về sự cơ động của những kẻ mới gia nhập từ những nơi không ngờ tới. Trong khi những kẻ thâu tóm này chắc chắn sẽ mang lại sự tập trung và những doanh nghiệp độc quyền nhóm mới với quyền lực thị trường đáng kể, chúng ta cần nhớ rằng các doanh nghiệp độc quyền nhóm này thường bao gồm những công ty mà mới một thập kỷ trước chỉ là một góc nhỏ so về quy mô vói những công ty mà họ đã có thể vượt qua. Điều tương tự có thể xảy ra với họ: một công ty đóng trụ sở ở một địa điểm không ngờ tới và đang hoạt động mà hoàn toàn không được chú ý có thể là công ty sẽ vượt qua những gã khổng lồ mới này. Đó đã là câu chuyện của thập kỷ trước, và nhũng lực lượng thúc đẩy xu hướng này đang ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn.

Những công ty một thời chỉ là địa phương nhỏ lẻ ở các thị trường nhỏ, được bảo vệ, hẳn đã không thể nhờ vào đòn bẩy tài chính lớn để kiểm soát những công ty hàng đầu trong các ngành lớn ở quy mô toàn cầu nếu không có sự sụp đổ ấn tượng của những rào cản gia nhập, được thúc giục bởi việc mở cửa các thị trường tài chính, sự lan nhanh của giáo dục và văn hóa kinh doanh, tiếp cận với nguồn vốn, dữ liệu doanh nghiệp minh bạch và dễ có hơn, sự giải điều tiết, những mở cửa thương mại và đầu tư, sự tăng trưởng, di động, sự toàn cầu hóa, những công nghệ mới và nhiều lực lượng khác đã được thảo luận ở đây. Sự quốc tế hóa của các công ty đóng trụ sở ở các nước nghèo là một ví dụ mạnh mẽ về hoạt động của các cuộc cách mạng Nhiều Hơn, Di Động và Tinh Thần.

Sự Phân Tán Của Các Thị Trường Chứng Khoán

Trong số những nạn nhân của tình trạng siêu cạnh tranh trong bối cảnh kinh doanh toàn cầu có chính các thị trường - bao gồm những thị trường chứng khoán, nơi hầu hết các cổ phiếu được giao dịch và nơi giới truyền thông, các chính trị gia và công chúng theo dõi những đầu mối về sức khỏe nền kinh tế nói chung. Những thị trường thần thánh như Sàn Chứng khoán New York và Sàn Chứng khoán London đã nhanh chóng thất thế trước những thị trường thay thế. Ở thị trường Mỹ, các sàn chứng khoán truyền thống hùng mạnh NYSE (thành lập năm 1792) và NASDAQ (thành lập năm 1971) giờ chỉ chiếm một nửa tổng lượng giao dịch trên các sàn chứng khoán đại chúng, tới năm 2012, các sàn điện tử Direct Edge (thành lập năm 1998) và BATS Exchange (thành lập năm 2005) chiếm khoảng 9% và 10%, tương ứng, trong khi hàng chục sàn chứng khoán khác chia sẻ phần còn lại. Những sàn chứng khoán mọc lên như nấm và giao dịch tức thời bằng các thuật toán máy tính tự động đóng góp vào sự xáo trộn thị trường, dẫn tới những lần rớt giá sâu và hồi phục ngay lập tức trong giá cổ phiếu những công ty cụ thể.

NYSE không phải là sàn chứng khoán lớn duy nhất thất thế trước những đối thủ mới, điều tương tự cũng đúng với Sàn Chứng khoán London, Sàn Chứng khoán Đức và những sàn chứng khoán truyền thống khác. Hiện giờ, sàn chứng khoán khởi nghiệp đóng trụ sở tại Kansas BATS (viết tắt của Hệ thống Giao dịch Thay thế Tốt hơn) vận hành lượng giao dịch lớn chỉ kém NYSE hay NASDAQ, vượt qua các sàn ở Tokyo, London, Thượng Hải, Paris và tất cả phần còn lại. Một dấu hiệu cho cuộc vật lộn mà những sàn chứng khoán kiểu cũ đang phải đối mặt là mất mát trong giá trị cổ phiếu của chính sàn đó. Những cổ phiếu của NYSE Euronext (NYX) đã giảm từ mức đỉnh 108 đô-la Mỹ vào năm 2006 xuống còn khoảng 22 đô-la Mỹ vào năm 2012. Doanh số cũng giảm: năm 2009, doanh số từ hoạt động giao dịch từ đơn vị vận hành sàn London, London Stock Exchange Group Plc, giảm hơn 1/3 [58] .

Những sàn chứng khoán đối địch chỉ là một khía cạnh của các thị trường tài chính mới bị phân tán. Một khía cạnh khác là sự xuất hiện của những sàn giao dịch “khối lượng lớn trong bóng tối”, vốn bắt đầu một cách không chính thức giữa các định chế tài chính muốn giao dịch ẩn danh (không cần đặt lệnh, giá hay số lượng công khai cho công chúng) để tránh tiết lộ các chiến lược của họ. Những giao dịch này đi ngược lại nguyên tắc rằng các thị trường phải minh bạch để đạt được hiệu quả, chúng cũng bị chi trích là nguyên nhân lớn gây ra sự xáo trộn và bóp méo với giá cổ phiếu, cũng như lợi thế tiềm năng và bất công với những người tham gia. Làm sao đối phó với những giao dịch bóng tối là một vấn đề gây tranh cãi giữa những nhà điều hành khắp thế giới, những quan điểm bị chia rẽ về việc chúng nguy hiểm ra sao với hệ thống tài chính toàn cầu. Điều rõ ràng là chúng đang sinh sôi nảy nở [59] . Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Mỹ (SEC) ước tính số sàn giao dịch bóng tối đang hoạt động ở thị trường Mỹ đã tăng mạnh từ 10 vào năm 2002 lên hơn 30 vào năm 2012. Vào tháng 1 năm 2012, theo thông tấn xã Bloomberg News, những sàn giao dịch bóng tối xử lý gần 14% giao dịch chứng khoán ở Mỹ [60] . Một ước tính sớm hơn của SEC cho biết các sàn giao dịch bóng tối chiếm hơn 7% tổng số lượng giao dịch trên các sàn chứng khoán Mỹ - có lẽ là một con số còn tương đối nhỏ, nhưng đủ để gây ra những hiệu ứng sóng lan [61] .

Chiến Thắng Của Các Quỹ đầu Tư Tư Nhân Và Mạo Hiểm

Cuộc khủng hoảng tài chính và những bước thụt lùi của thị trường toàn cầu giai đoạn 2008-2009 được nhiều người cho là đã dẫn tới kết thúc sự thống trị của các quỹ đầu tư tư nhân và quỹ đầu tư mạo hiểm ở các thị trường. Trong thập kỷ trước đó, những tổ chức thường là nhỏ và ít được biết tới này đã giành quyền kiểm soát những công ty khổng lồ bằng nhiều phương tiện như thâu tóm nhờ đòn bẩy tài chính, giao dịch tích cực và các hoạt động quyền cổ đông. Sau khi hồi phục từ sự đổ vỡ của bong bóng Internet vào đầu thập kỷ này, các công ty quỹ đầu tư tư nhân đã dân dắt những vụ mua lại kỷ lục liên tiếp trong phần còn lại của thập kỷ, đạt cực điểm trong vụ mua lại trị giá 45 ti đô-la Mỹ công ty năng lượng TXU vào năm 2007 bởi Kohlberg Kravis Roberts (KKR) và Texas Pacific Group (TPG).

Trong khi đó, các quỹ đầu tư mạo hiểm sinh sôi nảy nở, tăng từ 3.000 quỹ lên 10.000 quỹ từ năm 1998 tới 2008. Đến năm 2011, 100 công ty lớn nhất quản lý khối tài sản giá trị 1,2 nghìn tỉ đô-la Mỹ [62] . Năm 2012, các quỹ đầu tư mạo hiểm tham gia vào một nửa các giao dịch trái phiếu Mỹ, 40% giao dịch cổ phiếu và 80% giao dịch nợ xấu. Năm 2011, 20 quỹ đầu tư mạo hiểm lớn nhất theo Bloomberg Markets, dẫn đầu là Bridgewater Associates với 77,6 tỉ đô-la Mỹ, sở hữu gần 600 tỉ đô-la Mỹ tài sản [63] . Sự mở rộng của các quỹ đầu tư mạo hiểm là tương tự, dù ở một quy mô nhỏ hơn, ở châu Âu và châu Á.

Những lằn ranh trở nên mờ nhạt khi các quỹ đầu tư mạo hiểm nắm quyền kiểm soát cổ phần ở ngày càng nhiều các công ty, hành động như một công ty đầu tư tư nhân trong khi thay thế những ngân hàng truyền thống. Tới năm 2007, tỉ lệ của thị trường đòn bẩy tài chính cơ bản (tức buôn bán các khoản vay) được xử lý bởi các ngân hàng truyền thống lần đầu tiên giảm xuống dưới 50% dù con số đó tới tận năm 2000 còn là 90%. Phản ứng lại, các ngân hàng mua cổ phiếu ở chính những quỹ đầu tư mạo hiểm, qua đó chỉ càng làm tăng nhanh sự khó phân biệt các vai trò.

Những quỹ đầu tư mạo hiểm đã trở thành kẻ gây xáo trộn xét theo nghĩa hoạt động thị trường và gây áp lực lên các ban giám đốc và ban quản trị. Ở Mỹ, vào thời điểm khi họ quản lý 5% tổng tài sản, họ cũng tham gia vào 30% hoạt động giao dịch. Họ tạo ra áp lực quyết liệt lên các tập đoàn bất kể thương hiệu và lịch sử, như khi một quỹ với tên gọi (khá phi lý) Quỹ Đầu tư của Trẻ em đã thúc đẩy quyết liệt để ngân hàng Hà Lan ABN AMRO bị bán đi hay chẻ nhỏ ra tới mức ngân hàng này phải chấp nhận bị bán cho ngân hàng Anh Barclays. Những khoản tiền lớn đã đến và đi dưới dạng những khoản đánh cược khổng lồ, theo tinh thần của khoản cá cược nổi tiếng nhất - khi George Soros đánh cược 10 tỉ đô-la Mỹ chống lại đồng bảng Anh năm 1992, thu về một tỉ đô-la lợi nhuận. Năm 2006, một tay buôn tài chính ba mươi tuổi của một quỹ với tên gọi Amaranth đã mất khoản tiền 6 tỉ đô-la Mỹ khi một khoản đánh cược vào khí đốt tự nhiên hóa ra sai lầm. Những kẻ chiến thắng trong ngành này bước ra với những khoản bổng lộc choáng ngợp: năm 2006, các giám đốc của 25 quỹ đầu tư mạo hiểm hàng đầu được cho là kiếm được tổng cộng bằng với GDP của Jordan. Nhưng khả năng cao là không mấy ai biết đến phần lớn những người đó, ngay cả hàng xóm của họ, trong những khu ngoại ô trang nhã Greenwich và Westport ở Connecticut, được cho là nơi những giám đốc quỹ đầu tư mạo hiểm đang sống.

Năm 2008, các quỹ đầu tư đã mất ước tính 18% giá trị của chúng. Nhưng vẫn có rất nhiều ngoại lệ, bao gồm George Soros, cùng với quỹ được vận hành bởi nhân vật khi đó còn chưa khét tiếng John Paulson, người đã kiếm được hàng tỉ đô-la nhờ đánh cược chống lại những công cụ vay thế chấp dưới chuẩn, và một đội quân những người không tên tuổi nhưng kiếm được hàng trăm triệu đô-la trong một cơn bấn loạn của thị trường [64] . Có lẽ không có gì ngạc nhiên, sự hồi phục của thị trường giữa những đợt cứu trợ năm 2009 tỏ ra có lợi cho các quỹ đầu tư mạo hiểm, dù những nhà quan sát ngành này lưu ý rằng có một đợt xáo trộn nữa sắp diễn ra. Thật vậy, một lập luận bảo vệ ngành còn ít được quản lý này là nó sản sinh ra những người chiến thắng và những kẻ thua cuộc một cách quá chắc chắn và hiệu quả, nó hành động như một kiểu điều chỉnh liên tục giúp mang tới sự ổn định cho các thị trường. Theo Sebastian Mallaby, tác giả cuốn More Money Than God (tạm dịch: Nhiều Tiền Hơn Cả Chúa), một cuốn sách bán chạy nhất về các quỹ đầu tư mạo hiểm, chúng “tạo ra cũng như hấp thu rủi ro nhiều như nhau” [65] .

Nhưng các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng gục ngã trước khẩu súng luật lệ và giờ phải đối mặt với nhiều hạn chế hơn. Năm 2011, các tin tức nói vì những quy định tài chính mới, George Soros đã quyết định đóng các quỹ của ông với những nhà đầu tư và do đó sẽ tập trung chuyên biệt vào việc quản lý các quỹ của riêng ông. Những thị trường xáo trộn cũng giáng những tổn thất ghê gớm vào các công cụ đầy rủi ro này. Quỹ của John Paulson hứng chịu bước lùi đáng kể khi những khoản cược vào thị trường của nó không được như dự kiến (Quỹ mất 9,6 tỉ đô-la Mỹ trong năm 2011, khoản thua lỗ lớn nhất từ trước tới giờ của một quỹ đầu tư mạo hiểm) [66] . Tuy nhiên cùng lúc, những quỹ đầu tư mạo hiểm khác với tên tuổi, cách tiếp cận, địa điểm và công nghệ cũng đáng ngạc nhiên như sự sáng tạo của chúng đã chiếm giữ vị trí là những cỗ máy tạo ra lợi nhuận lớn nhất thế giới. Lấy ví dụ, quỹ đầu tư mạo hiểm khổng lồ Bridgewater kiếm được 13,8 tỉ đô-la Mỹ cho các nhà đầu tư của nó trong năm đó [67] .

Một bài học có vẻ rõ ràng là những quỹ cụ thể có thể tới và đi, bổng lộc cho giám đốc của chúng có thể thay đổi từ chỉ lớn thành khổng lồ và ngược lại, nhưng sự sinh sôi của những quỹ nhỏ, vô danh với năng lực lớn ảnh hưởng tới các thị trường và giá cả nhiều khả năng sẽ tiếp tục. Trong thế giới tài chính mới này, những cá nhân đầu óc xuất chúng được trang bị các thuật toán máy tính thường xuyên khôn ngoan hơn và qua mặt những ngân hàng lớn bị níu chân vì những luật lệ cồng kềnh, những quy tắc hoạt động nội bộ phức tạp và những cơ cấu thứ bậc chậm chạp.

Những quỹ đầu tư mạo hiểm với quyền lực truyền thống trong thị trường tài chính là cướp biển Smalia với quyền lực do các hải quân hiện đại nhất thế giới nắm giữ.

Tóm lại, những kẻ mới gia nhập - các quỹ đầu tư mạo hiểm, những sàn chứng khoán mới, những sàn giao dịch bóng tối và những công ty khởi nghiệp vô danh trước đó - bỗng nhiên làm đảo lộn cả một ngành là điềm báo cho những thứ sắp tới: nhiều biến động hơn, nhiều sự phân mảng hơn, nhiều sự cạnh tranh hơn và nhiều quyền lực vi mô hơn có thể khống chế khả năng của những tay chơi siêu cường.

Thật vậy, cả sự phản đối ầm ĩ của công chúng về những xáo trộn do toàn cầu hóa kinh tế gây ra lẫn những cú sốc lớn, sản sinh ra từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và cuộc Đại Suy thoái theo sau đó, đều không thể làm chệch hướng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Nó tiếp tục một cách không giảm sút, những tiên đoán về sự nổi lên của chủ nghĩa bảo hộ - được thúc đẩy bởi nỗ lực của các quốc gia nhằm bảo vệ nền kinh tế của họ và giữ lại công ăn việc làm - đã được chứng minh là sai. Dòng chảy thương mại và đầu tư quốc tế tiếp tục tăng và nuôi dưỡng những lực lượng hạn chế quyền lực của các tay chơi truyền thống trong lĩnh vực kinh doanh.

TẤT CẢ NHỮNG ĐIỀU NÀY CÓ NGHĨA LÀ GÌ?

Một trong những nghịch lý của thời đại chúng ta là, cùng lúc khi các tập đoàn trở nên lớn hơn, bao phủ rộng khắp hơn và nhiều sức ảnh hưởng chính trị hơn, chúng cũng dễ bị phơi bày trước những rủi ro không chỉ có thể gây tổn thương đến doanh số, lợi nhuận và danh tiếng của chúng, mà trong một số trường hợp, thậm chí có thể loại chúng ra khỏi ngành. Danh sách các công ty tưởng như không thể đụng tới bởi các đối thủ cạnh tranh hay chính phủ, những sự trường tồn từng được coi là nghiễm nhiên, nhưng giờ không còn tồn tại nữa, rất dài và tiếp tục tăng lên. Điều tương tự cũng xảy ra với những gã khổng lồ ngành ngân hàng và các ngành khác mà quyền lực và sự miễn nhiễm với thương tổn tỏ ra phù du hơn bất cứ ai - bao gồm chính họ - tiên đoán được.

Ngay cả những tập đoàn lớn vẫn tiếp tục thịnh vượng và khó có khả năng bị loại ra khỏi ngành bởi các lực thị trưòng cũng đối mặt với những lựa chọn bị giới hạn hơn. Lấy ví dụ, ExxonMobil, Sony, Carrefour và JPMorgan-Chase vẫn có quyền lực và sự tự quyết lớn, nhưng những người đứng đầu của các hãng này ngày nay bị hạn chế hơn so với họ đã từng trong những thời kỳ trước đó. Họ không thể thực thi quyền lực to lớn của họ với cùng sự tự do mà những người tiền nhiệm của họ được tận hưởng - và những hậu quả của việc sử dụng sai quyền lực tới nhanh chóng và tàn khốc hơn nhiều so với trong quá khứ.

Như chúng ta đã thấy trong chương này, quyền lực của tập đoàn không còn như nó đã từng nữa.

⚝ ✽ ⚝

[1] Phỏng vấn với Paolo Scaroni, Barcelona, tháng 6 năm 2010.

[2] Dữ liệu về sự tập trung của ngân hàng được trích dẫn từ Dữ liệu Tài chính của Bloomberg (đăng nhập tháng 8 năm 2012).

[3] Jeremy Kahn, “Virgin Banker (tạm dịch: Tân Chủ Ngân Hàng)”, Bloomberg Markets, tháng 5 năm 2012.

[4] James Mackintosh, “Top 10 Hedge Funds Eclipse Banks with Profits of 28bn for Clients (tạm dịch: Mười Quỹ Đầu Tư Mạo Hiểm Hàng Đầu Vượt Qua Các Ngân Hàng Với Lợi Nhuận 28 Tỉ Cho Các Khách Hàng)”, Financial Times, ngày 2 tháng 3 năm 2011.

[5] Mark Gongloff, “Jamie Dimon Complains More, As JPMorgan Chase Losses Eclipse $30 Billion (tạm dịch: Jamie Dimon Than Phiền Nhiều Hơn, Khi Thua Lỗ Của Jpmorgan Chase Vượt Mức 30 Tỉ Đô-La Mỹ)”, The Huffington Post, ngày 21 tháng 5 năm 2012.

[6] Bob Moon, “Kodak Files for Bankruptcy (tạm dịch: Kodak Đệ Đơn Xin Phá Sản)”, Marketplace (NPR), ngày 19 tháng 1 năm 2012, http://www.marketplace.org/topics/business/kodak-files-bankruptcy; Lilla Zuil, “AIG’s Title as World’s Largest Insurer Gone Forever (tạm dịch: Danh Hiệu Công Ty Bảo Hiểm Lớn Nhất Thế Giới Của AIG Mất Vĩnh Viễn)”, Insurance Journal, ngày 29 tháng 4 năm 2009.

[7] Carola Frydman và Raven E. Sacks, “Executive Compensation: A New View from a Long-Term Perspective, 1936-2005 (tạm dịch: Tiền Bồi Thường Cho Các Giám Đốc: Một Quan Điểm Mới Từ Góc Nhìn Dài Hạn, 1936-2005)”, FEDS Working Paper số 2007-35, ngày 6 tháng 7 năm 2007.

[8] Những bình luận của John Challenger được đưa tin lại bởi Gary Strauss và Laura Petrecca trong “CEOs Stumble over Ethics Violations, Mismanagement (tạm dịch: Các Tổng Giám Đốc Lầm Lỡ Vì Vi Phạm Quy Định Đạo Đức, Quản Trị Sai)”, USA TODAY, ngày 15 tháng 5 năm 2012, và tỉ lệ phần trăm các tổng giám đốc bị mất ghế trước khi nghỉ hưu là từ một cuộc thăm dò của Conterence Board được trích dẫn bởi David Weidner trong “Why Your CEO Could Be in Trouble (tạm dịch: Tại Sao Tổng Giám Đốc Của Bạn Có Thể Đang Gặp Rắc Rối)”, Wall Street Journal, ngày 15 tháng 9 năm 2011.

[9] Nat Stoddard, “Expect Heavy CEO Turnover Very Soon (tạm dịch: Chờ Đợi Việc Thay Mạnh Các Tổng Giám Đốc Sớm Diễn Ra)”, Torbes, ngày 16 tháng 12 năm 2009.

[10] Per-Ola Karlsson và Gary L. Neilson, “CEO Succession 2011: The New CEO’s First Year (tạm dịch: Sự Thừa Kế Tổng Giám Đốc Năm 2011: Năm Đầu Tiên Của Tổng Giám Đốc Mới)”, báo cáo đặc biệt của Booz and Company trong Strategy+Business, số 67 (mùa hè 2012); xem thêm Booz, Allen và Hamilton, “CEO Succession 2005: The Crest of the Wave (tạm dịch: Thừa Kế Tổng Giám Đốc Năm 2005: Đỉnh Của Làn Sóng)”, Strategy+Business, số 43 (mùa hè 2005).

[11] Robert Samuelson, “The Fears Under Our Prosperity (tạm dịch: Những Nỗi Sợ Hãi Dưới Sự Phồn Thịnh Của Chúng Ta)”, Washington Post, ngày 16 tháng 2 năm 2006, trích dẫn tác phẩm của Diego Comin và Thomas Philippon, “The Rise in Firm-Level Volatility: Causes and Consequences (tạm dịch: Sự Nổi Lên Của Biến Động Tầm Mức Công Ty: Những Nguyên Nhân Và Hậu Quả)”, NBER Macroeconomics Annual 20 (2005): 167-201 (xuất bản bởi University of Chicago Press), http://www.jstor.org/ stable/3585419.

[12] “The World’s Biggest Companies (tạm dịch: Những Công Ty Lớn Nhất Thế Giới)”, Torbes, ngày 18 tháng 4 năm 2012, http://www.forbes.com/sites/scottdecarlo/2012/04/18/the-worlds-biggest-companies/, và http://www.forbes.com/global2000/.

[13] Lynn, Cornered: The New Monopoly Capitalism and the Economics of Destruction; Lynn và Longman, “Who Broke America’s Jobs Machine? (tạm dịch: Ai Đã Phá Hỏng Cỗ Máy Việc Làm Của Nước Mỹ?)”.

[14] Ghemawat, World 3.0: Global Prosperity and How to Achieve It, trang 91.

[15] Peter Wells, “Whatever Happened to Industrial Concentration? (tạm dịch: Điều Gì Đã Xảy Ra Với Sự Tập Trung Trong Công Nghiệp?)”, AutomotiveWorld.com, ngày 19 tháng 4 năm 2010; John Kay, “Survival of the Fittest, Not the Fattest (tạm dịch: Sự Sống Sót Của Những Loài Khỏe Nhất, Không Phải Béo Nhất)”, Financial Times, ngày 27 tháng 3 năm 2003; John Kay, “Where Size Is Not Everything (tạm dịch: Ở Nơi Mà Quy Mô Không Phải Là Tất Cả)”, Financial Times, ngày 3 tháng 3 năm 1999.

[16] John Lippert, Alan Ohnsman và Rose Kim, “How Hyundai Scares the Competition (tạm dịch: Hyundai Đe Dọa Sự Cạnh Tranh Như Thế Nào)”, Bloomberg Markets, tháng 4 năm 2012, trang 28.

[17] Ghemawat, World 3.0: Global Prosperity and How to Achieve It, trang 95.

[18] “Brand Rehab (tạm dịch: Phục Hồi Chức Năng Cho Thương Hiệu)”, Economist, ngày 8 tháng 4 năm 2010; Oxford Metrica, Reputation Revievo, 2010, www.oxfordmetrica.com/.

[19] Luisa Kroll, “Forbes World’s Billionaires 2012 (tạm dịch: Các Tỉ Phú Thế Giới 2012 Của Forbes)”, Forbes, ngày 7 tháng 3 năm 2012, http://www.forbes.com/sites/luisakroll/2012/03/07/forbes-worlds-billionaires-2012/.

[20] Đã dẫn.

[21] Rajeshni Naidu-Ghelani, “Chinese Billionaires Lost a Third of Wealth in Past Year, Study Shows (tạm dịch: Các Tỉ Phú Trung Quốc Đã Mất Một Phần Ba Tài Sản Trong Năm Qua, Nghiên Cứu Cho Thấy)”, CNBC.com, ngày 17 tháng 9 năm 2012, http://www.cnbc.com/id/49057268/Chinese_Billionaires_Lost_a_Third_of_Wealth_in_Past_Year_Study_Shows.

[22] Coase, “The Nature of the Firm (tạm dịch: Bản Chất Của Công Ty)”.

[23] Đây là một chỉ số dễ hiểu, nhưng nó không nắm bắt được, lấy ví dụ, liệu có những khác biệt lớn trong thị phần bên trong tập hợp con này hay không - tức là, liệu có một hoặc hai công ty đặc biệt thống trị hay không. Chỉ số Herhndahl-Hirschman, được đặt tên theo các kinh tế gia Orris C. Herhndahl và Albert O. Hirschman, giảm nhẹ một phần lỗi đo đếm này bằng cách gán thêm sức nặng cho các tay chơi lớn nhất. Bộ Tư pháp Mỹ chẳng hạn, sử dụng chỉ số này để xác định liệu một hành động chống độc quyền có được thực thi ở một lĩnh vực cụ thể hay không. Để tìm hiểu thêm thảo luận về vấn đề này, xem Hirschman, “The Paternity of an Index (tạm dịch: Nguồn Gốc Của Một Chỉ Số)”.

[24] Scott L. Baier và Jeffrey H. Bergstrand, “The Growth of World Trade: Tariffs, Transport Costs, and Income Similarity (tạm dịch: Sự Tăng Trưởng Thương Mại Thế Giới: Thuế Quan, Chi Phí Vận Tải Và Sự Tương Đồng Thu Nhập)”, Journal of International Economics 53, số 1 (tháng 2 năm 2001): 1-27.

[25] Economic and Social Commission for Asia and the Pacitic Monograph Series on Managing Globalization: Regional Shipping and Port Development Strategies (Container Traffic Forecast), 2011.

[26] David Goldman, “Microsoft’s $6 Billion Whoopsie (tạm dịch: Sai Lầm 6 Tỉ Đô-La Mỹ Của Microsoft)”, CNNMoney, ngày 12 tháng 7 năm 2012, http://money.cnn.com/2012/07/02/technology/microsoft-aquantive/index.htm.

[27] Thom và Greif, “Intangible Assets in the Valuation Process: A Small Business Acquisition Study (tạm dịch: Những Tài Sản Vô Hình Trong Quá Trình Định Giá: Một Nghiên Cứu Việc Thâu Tóm Doanh Nghiệp Nhỏ)”; Galbreath, “Twenty-First Century Management Rules: The Management of Relationships as Intangible Assets (tạm dịch: Những Quy Luật Quản Trị Thế Kỷ XXI: Sự Quản Trị Các Mối Quan Hệ Như Những Tài Sản Vô Hình)”.

[28] Phỏng vấn với Lorenzo Zambrano, Monterrey, Mexico, 2011.

[29] Xem các báo cáo của The Gap Inc. và Inditex từ 2007 tới 2011.

[30] Dữ liệu từ trang web hoạt động của Zara: http://www. inditex.com/en/who_we_are/timelme.

[31] “Zara: Taking the Lead in Fast-Fashion (tạm dịch: Zara: Dẫn Đầu Trong Thời Trang Tốc Độ)”, Businessweek, ngày 4 tháng 4 năm 2006.

[32] “Retail: Zara Bridges Gap to Become World’s Biggest Fashion Retailer (tạm dịch: Bán Lẻ: Zara Vượt Qua Gap Để Trở Thành Nhà Bán Lẻ Thời Trang Lớn Nhất Thế Giới)”, Guardian, ngày 11 tháng 8 năm 2008.

[33] John Helyar và Mehul Srivastava, “Outsourcing: A Passage Out of India (tạm dịch: Thuê ngoài: Một Con Đường Bên Ngoài Ấn Độ)”, Bloomberg Businessweek, ngày 19-25 tháng 3 năm 2012, trang 36-37.

[34] Ben Sills, Natalie Obiko Pearson và Stefan Nicola, “Power to the People (tạm dịch: Quyền Lực Của Nhân Dân)”, Bloomberg Markets, tháng 5 năm 2012, trang 51.

[35] Koeppel, Banana: The Fate of the Fruit That Changed the World ; xem thêm trang web của công ty (http://chiquita.com/Our-Company/The-Chiquita-Story.aspx) cũng như đề mục Chiquita Brands ở trang web Funding Universe (http://www.fundinguniverse.com/company-histories/Chiquita-Brands-International-Inc-Company-History.html).

[36] Interbrand, “Brand Valuation: The Financial Value of Brands (tạm dịch: Định Giá Thương Hiệu: Giá Trị Tài Chính Của Các Thương Hiệu)”, Brand Papers, http://www.brandchannel. com/papers_review.asp?sp_id=357; xem thêm John Gapper, “Companies Feel Beneht of Intangibles (tạm dịch: Các Công Ty Cảm Nhận Lợi Ích Của Các Tài Sản Vô Hình)”, Financial Times, ngày 23 tháng 4 năm 2007.

[37] Interbrand, “Best Global Brands 2011 (tạm dịch: Những Thương Hiệu Toàn Cầu Tốt Nhất 2011)”, Brand Papers, http://www. interbrand.com/en/best-global-brands/best-global-brands-2008/ best-global-brands-2011.aspx.

[38] Saxenian, “Venture Capital in the ‘Periphery’: The New Argonauts, Global Search and Local Institution Building (tạm dịch: Đầu Tư Mạo Hiểm Ở ‘Ngoại Vi’: Những Người Đi Tìm Vàng, Cuộc Tìm Kiếm Toàn Cầu Và Xây Dựng Thể Chế Địa Phương Mới)”; Saxenian, “The Age of the Agile (tạm dịch: Thời Đại Của Sự Nhanh Nhẹn)”; Saxenian, “The International Mobility of Entrepreneurs and Regional Upgrading in India and China (tạm dịch: Sự Cơ Động Quốc Tế Của Các Doanh Nhân Và Sự Nâng Cấp Khu Vực Ở Ấn Độ Và Trung Quốc)”.

[39] John Maraganore, được trích dẫn trong Glen Harris, “Bio-Europe 2007: As Big Pharma Model Falters, Biotech Rides to the Rescue (tạm dịch: Châu Âu Sinh Học 2007: Khi Mô Hình Doanh Nghiệp Dược Lớn Nao Núng, Công Nghệ Sinh Học Xuất Hiện Để Cứu Vãn)”, Bioworld Today, ngày 13 tháng 11 năm 2007.

[40] Kerry A. Dolan, “The Drug Research War (tạm dịch: Cuộc Chiến Nghiên Cứu Thuốc)”, Porbes, ngày 28 tháng 5 năm 2004; “Big Pharma Isn’t Dead, But Long Live Small Pharma (tạm dịch: Doanh Nghiệp Dược Lớn Chưa Chết, Nhưng Doanh Nghiệp Dược Nhỏ Muôn Năm)”, Pharmaceutical Executive Europe, ngày 8 tháng 7 năm 2009; Patricia M. Danzon, “Economics of the Pharmaceutical Industry (tạm dịch: Kinh Tế Học Của Công Nghiệp Dược)”, NBER Reporter, mùa thu 2006.

[41] Quinn Norton, “The Rise of Backyard Biotech (tạm dịch: Sự Nổi Lên Của Công Nghệ Sinh Học Từ Sân Sau)”, The Atlantic, tháng 6 năm 2011, trang 32.

[42] Henry W. Chesbrough, “The Era of Open Innovation (tạm dịch: Thời Đại Của Sáng Tạo Mở)”, MIT Sloan Management Review, ngày 15 tháng 4 năm 2003.

[43] Michael Stanko et al., “Outsourcing Innovation (tạm dịch: Thuê Ngoài Sự Sáng Tạo)”, MIT Sloan Management Review), ngày 30 tháng 11 năm 2009; James Brian Quinn, “Outsourcing Innovation: The New Engine of Growth (tạm dịch: Thuê Ngoài Sự Sáng Tạo: Động Cơ Mới Của Tăng Trưởng)”, MIT Sloan Management Reviem, ngày 15 tháng 7 năm 2000.

[44] “Outsourcing Innovation (tạm dịch: Thuê Ngoài Sự Sáng Tạo)”, Businessweek, ngày 21 tháng 3 năm 2005.

[45] “Outsourcing Drug Discovery Market Experiencing Continued Growth, Says New Report (tạm dịch: Thị Trường Thuê Ngoài Phát Minh Thuốc Tiếp Tục Tăng Trưởng, Báo Cáo Mới Cho Biết)”, M2 Presswire, ngày 4 tháng 7 năm 2008.

[46] Christensen, The Innovator’s Dilemma: When New Technologies Cause Great Firms to Fail, trang xi.

[47] Đã dẫn, trang 233.

[48] Dữ liệu được trích dẫn từ “Data on Trade and Import Barriers (tạm dịch: Dữ Liệu Cho Các Rào Cản Thương Mại Và Nhập Khẩu)” ở địa chỉ www.worldbank.org.

[49] Ngân hàng Thế giới, “Doing Business 2011 (tạm dịch: Kinh Doanh 2011)”; xem thêm www.doingbusiness.org.

[50] Priyanka Akhouri, “Mexico’s Cinepolis Targets 40 Screens in India This Year (tạm dịch: Cinepolis Của Mexico Đặt Mục Tiêu 40 Màn Ảnh Ở Ấn Độ Năm Nay)”, Financial Express (Ấn Độ), ngày 1 tháng 1 năm 2010.

[51] Phỏng vấn với Alejandro Ramirez, Cartagena, Colombia, tháng 1 năm 2012.

[52] Nhóm Ngân hàng Thế giới, “‘South-South’ FDI and Political Risk Insurance: Challenges and Opportunities (tạm dịch: FDI ‘Nam-Nam’ Và Bảo Hiểm Rủi Ro Chính Trị: Những Thách Thức Và Những Cơ Hội)”, MIGA Perspectives , tháng 1 năm 2008.

[53] Theo UNCTAD: World Investment Report 2012: “Dòng vốn tới các nước phát triển đã tăng 21 %, lên 748 tỉ đô-la Mỹ. Ở các nước đang phát triển FDI đã tăng ở mức 11 %, đạt mức kỷ lục 684 tỉ đô-la Mỹ. FDI ở các nền kinh tế đang chuyển đổi đã tăng ở mức 25 % lên 92 tỉ đô-la Mỹ. Các nền kinh tế đang phát triển và đang chuyển đổi tương ứng chiếm 45 % và 6 % FDI toàn cầu. Những ước đoán của UNCTAD cho thấy các nước này sẽ duy trì mức đầu tư cao trong ba năm tới”.

[54] Aykut và Goldstein, “Developing Country Multinationals: South-South Investment Comes of Age (tạm dịch: Những Công Ty Đa Quốc Gia Các Nước Đang Phát Triển: Đầu Tư Nam-Nam Tới Giai Đoạn Chín Muồi)”; “South-South Investment (tạm dịch: Đầu Tư Nam-Nam)”, www.unctad.org; Peter Gammeltoft, “Emerging Multinationals: Outward FDI from the BRICS Countries (tạm dịch: Các Công Ty Đa Quốc Gia Mới Nổi: FDI Mở Rộng Từ Các Nước BRICS)”, International Journal of Technology and Globalization 4, số 1 (2008): 5-22.

[55] Phỏng vấn với Antoine van Agtmael, Washington, DC, tháng 5 năm 2012.

[56] “Mexico’s CEMEX to Take Over Rinker (tạm dịch: CEMEX Của Mexico Mua Lại Rinker)”, Associated Press, ngày 8 tháng 6 năm 2007.

[57] Clifford Kraus, “Latin American Companies Make Big US Gains (tạm dịch: Các Công Ty Mỹ Latin Tiến Mạnh Ở Mỹ)”, New York Times, ngày 2 tháng 5 năm 2007; Frank Ahrens và Simone Baribeau, “Bud’s Belgian Buyout (tạm dịch: Vụ Mua Đứt Của Bud Ở Bỉ)”, Washington Post, ngày 15 tháng 7 năm 2008; Peter Marsh, “Mittal Fatigue (tạm dịch: Sự Mệt Mỏi Của Mittal)”, Financial Times, ngày 30 tháng 10 năm 2008.

[58] Graham Bowley, “Rivals Pose Threat to New York Stock Exchange (tạm dịch: Những Đối Thủ Đe Dọa Thị Trường Chứng Khoán New York)”, New York Times, ngày 14 tháng 10 năm 2009; Jacob Bunge, “BATS Exchange Overtakes Direct Edge in February US Stock Trade (tạm dịch: Thị Trường Chứng Khoán BATS Vượt Qua Direct Edge Về Giao Dịch Cổ Phiếu Ở Mỹ Trong Tháng 2)”, Dow Jones Newswires, ngày 2 tháng 3 năm 2010.

[59] “Shining a Light on Dark Pools (tạm dịch: Soi Sáng Đầu Tư Trong Bóng Tối)”, The Independent, ngày 22 tháng 5 năm 2010.

[60] Nina Mehta, “Dark Pools Win Record Stock Volume as NYSE Trading Slows to 1990 Levels (tạm dịch: Đầu Tư Trong Bóng Tối Giành Được Số Lượng Cổ Phiếu Kỷ Lục Khi Giao Dịch Ở NYSE Giảm Xuống Mức Năm 1990)”, Bloomberg News, ngày 29 tháng 2 năm 2012.

[61] Venkatachalam Shunmugam, “Financial Markets Regulation: The Tipping Point (tạm dịch: Quy Định Cho Các Thị Trường Tài Chính: Điểm Bùng Phát)”, ngày 18 tháng 5 năm 2010, www.voxeu.org.

[62] Institutional Investor, Hedge Fund 100 (2012).

[63] Bloomberg Markets, tháng 2 nám 2012, trang 36.

[64] Gary Weiss, “The Man Who Made Too Much (tạm dịch: Người Làm Được Quá Nhiều)”, Portfolio.com, ngày 7 tháng 1 năm 2009.

[65] Mallaby, More Money Than God, trang 377-378.

[66] James Mackintosh, “Dalio Takes Hedge Crown from Soros (tạm dịch: Dalio Lấy Lại Vương Miện Quỹ Đầu Tư Mạo Hiểm Từ Soros)”, Financial Times, ngày 28 tháng 2 năm 2012.

[67] Đã dẫn.

« Lùi
Tiến »