Sau một hồi vừa đi vừa nghỉ, cuối cùng chúng tôi cũng về được tới rìa thị trấn Wittamer vào đúng giữa trưa. Vì gã Browny giữ chìa khóa xe của Royce nên không dùng được. Chỉ có chiếc xe tải hạng nhẹ là vẫn còn chìa khóa cắm nguyên trong ổ. Royce ngồi sau tay lái với dáng vẻ mệt phờ. Mẹ tôi ngồi bên cạnh, còn tôi thì trèo lên thùng chở hàng phía sau cùng thằng Debailleul vẫn đang bất tỉnh nhân sự.
“Thằng bé bị đuối nước dưới sông.”
Khi gửi Debailleul ở bệnh viện, mẹ tôi đã giải thích như thế cho cô y tá. Mẹ còn đưa số điện thoại của khách sạn Jean-Paul Motel và nhờ họ liên lạc khi nó tỉnh lại. Tôi vì được nhúng dưới dòng nước nên còn đỡ, chứ mẹ tôi và Royce thì quần áo lấm lem, dính đầy bồ hóng, bùn đất, mặt mũi, chân tay thì đen sì, không khác gì bộ dạng của mấy người đi làm vệ sinh ống khói. Cô y tá thấy thế đã vặn vẹo hỏi han rất nhiều nhưng Royce đã xử lý ổn thỏa.
Còn lại ba người, chúng tôi tìm thấy một quán cà phê ở ven đường, bước vào, gọi bánh sandwich cùng cốc sô-cô-la nóng rồi ăn uống ngấu nghiến. Ở đây, mọi người cũng ngạc nhiên trước bộ dạng của chúng tôi nhưng hơi đâu mà đi để ý làm gì. Sau khi bụng dạ đã no nê, chúng tôi ngồi thẫn thờ trên ghế. Chẳng ai nói năng gì, chỉ ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi hắt xì hơi vài lần. Quần áo ướt như chuột lội.
“Chú mày cũng sống dai ra phết đấy chứ hả!”
Đến Royce cũng không thể tin nổi là tôi vẫn còn có mặt ở đây lúc này.
“Con ngốc lắm đấy có biết không?”
Trên đường trở về, mẹ tôi đã liên tục làu bàu, phê bình tôi. Đây là lần đầu tiên tôi thấy mẹ giận đến mức này.
“Thế nhưng trên người Debailleul lại không thấy có vết thương lớn nào nhỉ.” Tôi lảng sang chuyện khác.
“Vũng máu hình như là của Browny.” Royce nói.
Về đến khách sạn Jean-Paul Motel, chúng tôi hướng ngay đến căn phòng số 3. Cửa sổ bị chắn bởi mấy thanh gỗ nên không thể nhòm vào bên trong được. Căn phòng chỉ cách chỗ tôi đã cầm súng bước vào hôm trước có một bức tường.
Royce lấy chiếc chìa khóa tìm được trong chiếc cối xay gió tra vào ổ khóa căn phòng số 3. Cửa mở, bên trong trống rỗng. Tôi thất vọng vô cùng. Tôi đã mong rằng sẽ có kho báu thực sự ở đây. Đến cả giường, tủ hay những đồ đạc bình thường giống như vẫn thấy ở các căn phòng khác cũng chẳng có. Trong góc phòng chỉ có một bộ bàn ghế bằng gỗ tồi tàn. Trên bàn có để một tấm thẻ màu đỏ cùng một cái phong bì. Trên tấm thẻ có hình vẽ cối xay gió, cái tên và con số thứ tự. Số “20”. Royce tỏ ra kinh ngạc rồi thận trọng kiểm tra bên trong phong bì. Trong đó có một lá thư.
Xin cảm ơn! Hẳn bạn đã vất vả lắm mới tìm được căn phòng này. Đây là nơi chúng tôi dùng để cất giấu những thứ đã lấy cắp. Những bảo vật của quốc gia này đã từng được cất giữ ở đây, nhưng giờ thì không còn nữa. Chúng đã được chuyển tới một nơi khác để chia sẻ cho những người nghèo khổ. Đó là tâm nguyện mà chúng tôi đã ấp ủ suốt từ hồi còn trẻ.
Vì một số nguyên nhân mà chúng tôi buộc phải rời xa nơi đây và lá thư này chính là việc cần làm cuối cùng. Rốt cuộc, dưới danh nghĩa siêu trộm, chúng tôi đã thực hiện tổng cộng hai mươi mốt vụ trộm. Đọc đến đây, có thể bạn sẽ thấy kỳ lạ lắm.
Đúng vậy, theo những thông tin được cảnh sát công bố thì chúng tôi chỉ thực hiện hai mươi vụ trộm mà thôi. Chúng tôi sẽ giải thích vì sao lại có sự bất đồng này. Cảnh sát đã bỏ qua một vụ. Cũng dễ hiểu thôi. Bởi vì vào vụ trộm thứ hai mươi, chúng tôi đã không thể để lại tấm thẻ. Do vậy mà tất cả mọi người đều không hay biết gì.
Thứ chúng tôi đã lấy cắp trong vụ trộm thứ hai mươi mang ý nghĩa vô cùng quan trọng, không gì có thể thay thế. Chúng tôi lấy nó vì riêng mình chứ không phải vì lý tưởng chia của cải cho người nghèo. Thứ đó hiện đang nằm trong ngăn kéo chiếc bàn này. Chúng tôi để lại nó cùng với tấm thẻ số hai mươi. Hãy cầm lấy nó như một bằng chứng của việc đã tìm được đến căn phòng này.
GODDIVA.
Chúng tôi nhìn chiếc bàn. Một chiếc bàn cũ kỹ, tưởng chừng có thể gãy đổ bất cứ lúc nào. Theo bức thư thì trong cái ngăn kéo kia có món đồ ăn cắp mà đến cảnh sát cũng chưa được biết.
“Mở ra thôi!”
Royce đặt tay vào ngăn kéo, từ từ rút ra. Tôi nín thở, tập trung theo dõi. Kéo được một nửa, vẫn trống rỗng. Đúng vào lúc tôi đang lo sợ bên trong sẽ không có gì thì từ trong góc, một thứ gì đó lăn ra. Đó là một lọ thủy tinh nhỏ chỉ chừng một nắm tay chứa một thứ bột màu xám. Tôi nhớ mang máng đã từng thấy cái lọ này trước đây nhưng không biết là ở đâu. Royce cầm cái lọ lên, xoay đi xoay lại kiểm tra. Từ khe hở trên nắp lọ, thứ bột đó phảng phất rơi ra.
“Đó là...” Mẹ tôi nhìn cái lọ rồi thì thào.
“Chị biết nó sao?”
“Đó là cái lọ đựng hạt tiêu của nhà tôi. Rõ ràng nó đã bị mất. Cách đây rất lâu rồi, đột nhiên một ngày, nó biến mất khỏi cái giá để bát đĩa.”
Tôi không hiểu gì hết. Royce ngồi xuống ghế, bắt đầu rung vai cười to. “Thì ra là thế!” Royce nhìn sang tôi. “Em từng kể cho anh nghe về chuyện làm thế nào có được tấm bản đồ. Chuyện mua cuốn kinh thánh ngoài chợ ấy. Vốn dĩ mục đích ban đầu là đi mua hạt tiêu chẳng phải sao? Nói cách khác, vì lọ hạt tiêu biến mất nên em mới phải đi ra chợ để mua. Tại vì tên siêu trộm đã lấy cắp lọ hạt tiêu nên em mới có được trong tay cuốn kinh thánh mà bên trong có tấm bản đồ. Việc em có được tấm bản đồ không phải là ngẫu nhiên. Tất cả đều nằm trong tính toán của tên siêu trộm. Vậy hắn là ai? Nhiều khả năng chính là nhân vật đã cùng em đi mua hạt tiêu.”
Tôi quay lại nhìn mẹ, rồi lại quay qua nhìn Royce.
“Tôi tưởng anh phải là người thông minh hơn thế cơ. Làm gì có chuyện đó được chứ.”
Tôi vẫn nhớ như in cái ngày cùng bố đi ra chợ. Nhưng bố tôi rõ ràng chỉ là một nhân viên vệ sinh ở nhà ga thôi mà. Bố chỉ là một con người bình thường, bị bệnh về phổi, phải nhập viện rồi ra đi. Biết đâu vụ trộm thứ hai mươi kia được thực hiện sau khi bố tôi chết thì sao.
“Chắc chị cũng đã loáng thoáng hiểu ra mọi chuyện rồi nhỉ!?” Royce nói với mẹ tôi.
“Chính cậu...”
“Thôi, hiểu hay chưa hiểu, thế nào cũng được. Không quan trọng. Cái tôi muốn là một người giải thích giúp tôi về thứ này.”
Royce lắc lắc lọ hạt tiêu. Thứ bột màu xám tiếp tục rơi ra.
“Chúng tôi sẽ giải thích.”
Tiếng ai đó nói từ phía sau. Chúng tôi giật mình ngoảnh lại. Có hai người đàn ông đang đứng ở chỗ cửa ra vào. Tôi nhận ra một người. Người đó chỉ cao chừng như tôi, tay chân ngắn củn, chân đang băng bó và một tay chống nạng.
“Chú Mozoroff!”
Cả tôi và mẹ đều đồng thanh kêu lên. Đó là ông chú sống ngay cạnh nhà tôi.
“Merry, Lindt, chào hai mẹ con. Lâu lắm không gặp.” Chú ấy giơ một tay lên chào. Theo bức thư được gửi tới nhà tôi thì chú ấy đã gặp tai nạn giao thông khi đi du lịch và vì vậy mới phải vắng nhà lâu đến thế. Có vẻ vết thương vẫn chưa lành.
“Xin chào! Tôi chờ mọi người lâu lắm rồi!” Người còn lại cất tiếng nói. Đó là một ông chú có dáng người gầy gò, ốm yếu hệt như một con gà vậy. Mặt mũi trông không quen lắm nhưng giọng nói thì hình như tôi đã từng nghe thấy ở đâu đó rồi.
“Đây là anh Jean-Paul, chủ của khách sạn. Cũng là một người bạn lâu năm của ta và bố cháu.” Chú Mozoroff giới thiệu.
“Ôi chà, ôi chà. Vì tôi nhờ bà xã nhà tôi trông nom nên đã không biết là đội anh Royce đang nghỉ ở đây. Nếu biết sớm hơn thì mọi người đã không gặp phải nhiều chuyện đến thế.” Chú Jean-Paul nói với vẻ mặt cau có.
Cả tôi, mẹ và Royce đều đứng đờ ra đó, chỉ biết nhìn chằm chằm vào hai người bọn họ mà không hiểu chuyện gì. Chú Jean-Paul nói với tôi:
“Đây không phải là lần đầu tiên chúng ta gặp nhau đâu. Trước đây ta đã gặp nhau vài lần rồi đấy. Ví như ngay gần đây thôi, chúng ta đã nói chuyện với nhau ở cửa trước đấy. Vì không thể liên lạc được với Mozoroff, chú đã tìm đến tận khu căn hộ đó.” Tôi lật giở ký ức, cố gắng nhớ lại. Chú Jean-Paul tủm tỉm cười rồi nói tiếp. “Với lại, cháu cũng đã mua hạt tiêu và cuốn kinh thánh tại quầy của chú.”
“A, ông chủ quầy!” Tôi hét lên.
Tòa nhà có quầy lễ tân là nơi ở của chú Jean-Paul. Chúng tôi được dẫn vào phòng khách và gặp gỡ, chào hỏi cô vợ xinh đẹp tên Evan của chú ấy. Sau khi mang bánh kẹo và trà ra để trên bàn, cô ấy lui vào phía trong. “Bố cháu cũng thường ngồi trên chính chiếc ghế đó uống trà đấy.”, chú Jean-Paul vừa nói vừa chỉ vào chiếc ghế tôi đang ngồi. Tôi đã được chú Mozoroff và Jean-Paul kể cho rất nhiều chuyện. Hai người họ quen biết bố tôi từ thời còn thanh niên, biết tên và nhớ mặt nhau trong một buổi họp của Đảng mà tất cả cùng ủng hộ. Và kể từ đó, ba người thường xuyên liên lạc, trao đổi thư từ để hiểu nhau hơn. Thảo nào hồi ở nhà ông nội, tôi thấy trong ngăn kéo bàn của bố có rất nhiều thư từ.
“Sau khi bố cháu bỏ nhà đi, chúng ta đã lập ra một tổ chức để thực hiện tâm nguyện cướp của kẻ giàu, chia cho người nghèo. Đó chính là Goddiva. Tất cả những đồ lấy cắp đều được cất giữ tại đây và cách đây không lâu, chúng ta đã gửi ra nước ngoài. Người quen, bạn bè của chúng ta sẽ giúp tìm cách chuyển thành tiền và số tiền đó chắc chắn sẽ được gửi đi quyên góp cho rất nhiều tổ chức từ thiện khác nhau. Như vậy thế giới có thể sẽ tốt đẹp hơn một chút.”
“Thật phí phạm quá!” Royce nói.
Nhưng rồi hoạt động của bọn họ cũng đến hồi kết. Bố tôi đổ bệnh và biết rằng sẽ không qua khỏi. Ba người họp lại, bàn bạc với nhau và đi đến quyết định giải tán Goddiva. Họ không thể duy trì hoạt động nếu không có bố tôi. Vì chính bố tôi mới là trái tim của tổ chức. Chú Mozoroff và Jean-Paul phụ trách điều tra ban đầu về hiện trường gây án hay thu thập những thông tin cần biết. Còn việc tính toán, đưa ra phương án thực hiện, đào tạo cải trang hay huấn luyện cách di chuyển rồi trực tiếp ra tay... đều là của bố tôi cả.
“Mặc dù vậy, việc cậu ta giấu bản đồ vào cuốn kinh thánh rồi giả vờ mua tặng con trai thì thật là... Cậu ta luôn trăn trở về sự phù phiếm trong hoạt động của chúng ta. Và có lẽ trước khi ra đi, cậu ấy đã ngộ ra được điều gì đó.” Chú Jean-Paul nói.
“Thế nhưng, còn vụ trộm thứ hai mươi mốt thì sao? Ai đã ra tay lấy ‘Đôi giày bạc trắng’ vậy ạ?”
“Demel để lại bản kế hoạch, trong đó ghi rõ cần chuẩn bị thế nào, thực hiện ra sao. Phần còn lại là do hai chúng ta hợp sức ra tay. Không còn Demel nữa, bọn ta thấy lẻ loi lắm.” Chú Mozoroff nói.
Tôi lắng nghe câu chuyện của hai người mà trong lòng thấy thật khó tin. Bố tôi thế mà lại là trái tim của một tổ chức chuyên ăn trộm. Nếu là trước đây thì có lẽ tôi sẽ nổi giận ngay. Tôi đã luôn nghĩ siêu trộm Godiva là một tên ác nhân xấu xa, tồi tệ. Giờ thì mặc dù không còn suy nghĩ đó nữa nhưng tôi vẫn không thể nào gắn gương mặt người bố mà tôi biết với hình ảnh tên trộm được. Theo câu chuyện họ kể thì thỉnh thoảng bố tôi nói dối hai mẹ con để đi ra ngoài. Bố đã khiến cho mẹ con tôi nghĩ rằng đang ngồi nhậu nhẹt thâu đêm bên nhà chú Mozoroff nhưng thực chất là lén rời khỏi thị trấn để thực hiện phi vụ.
“Đúng là một đám trời đánh!” Mẹ tôi phồng má trợn mắt, nổi giận lôi đình.
“Nhưng tại sao bố cháu lại phải làm thế? Giấu bản đồ vào cuốn sách rồi đưa cho cháu?”
“Ông ấy muốn nói cho cháu thân thế mình. Ông ấy luôn mong rồi sẽ có một ngày cháu tìm được đến căn phòng đó.”
“Sao phải vòng vèo thế ạ? Nói thẳng một lời có phải đỡ không.”
“Vậy thì không có ý nghĩa gì cả. Cháu phải phiêu lưu mạo hiểm chứ.”
“Mạo hiểm ư? Cháu suýt nữa đã bị giết đấy ạ!”
“Đã xảy ra quá nhiều chuyện ngoài dự tính. Đúng ra, chúng ta đã có thể dẫn cháu đi một cách an toàn hơn. Chú là người dẫn đường, cũng là người giúp đỡ cuộc sống của hai mẹ con cháu. Tuy nhiên, khi đi du lịch chú lại lỡ gặp phải tai nạn giao thông!”, chú Mozoroff dùng tay vỗ vỗ vào cái nạng đang dựng cạnh bàn. “Xe của chú đã lao trúng phải một chiếc xe tải. Chú bất tỉnh trong nguyên một tuần đầu tiên. Chỉ nằm liệt trên giường bệnh. Trong thời gian đó, cuộc sống của mẹ con cháu trở nên khó khăn hơn, cháu thì tìm thấy tấm bản đồ rồi thám tử Royce tìm đến thị trấn... Những chuyện khó tin cứ thế liên tiếp nối đuôi nhau xảy đến. Chứ đúng ra, theo kế hoạch là chú sẽ đồng hành cùng cháu trong chuyến đi. Jean-Paul thì cải trang thành cảnh sát rồi nói cho cháu biết cả về hình vẽ cối xay gió lẫn tên thật của siêu trộm. Demel muốn trao cho cháu một chuyến đi mạo hiểm, một điều gì đó khiến cháu cảm thấy hồi hộp, háo hức.” Chú Mozoroff lấy khăn tay ra lau mồ hôi. Vì mẹ tôi đang chống hai tay vào hông đứng lườm chú ấy đầy giận dữ.
“Thật sự không ai ngờ là trong lúc chúng tôi đi vắng lại xảy ra nhiều chuyện đến thế. Rồi cả những kẻ xấu dính líu vào nữa. Trong tưởng tượng cũng không dám nghĩ đến. Nếu không có cái loại xấu xa đang ngồi kia thì chắc chắn chuyến đi đến cối xay gió đã an toàn hơn, cháu không nghĩ vậy sao?” Chú Jean-Paul nói như thể đang biện minh.
Đến lượt mẹ tôi lườm Royce. Royce vỗ vai tôi.
“Chú mày ngon nha! Nhận được gợi ý nhưng không giải đố. Dám cả gan một mình lao vào đường khó.”
“Tại cậu mà thằng bé mới gặp chuyện nguy hiểm đấy, có biết không hả?” Mẹ tôi chỉ thẳng tay vào mặt Royce. “Cũng có người đã mất mạng đấy!”
“Dù gì cũng chỉ là kẻ suy đồi nhân cách thôi. Đồ cặn bã của xã hội ấy mà. Không cần phải bận tâm đâu.”
“Không thể nghĩ như vậy được! Cậu nên ra đầu thú đi!”
Mẹ tôi và Royce bắt đầu tranh cãi. Royce có vẻ lép vế hơn. Chú Mozoroff và Jean-Paul chỉ biết rụt cổ, sợ hãi nhìn mẹ tôi.
“Đống bảo vật giấu ở trong cối xay gió là giả có phải không ạ?”
“Đồ nhái đấy. Một dạng khôi hài cho vui thôi. À mà này, có quà cho cháu đây.”
Chú Mozoroff dùng hai ngón tay rút từ trong túi áo ra một đồng xu có khắc khuôn mặt nhìn nghiêng của một vị anh hùng thời xưa. Không thể nhầm được. Đó chính là “Đồng xu anh hùng” mà siêu trộm đã lấy cắp. Chắc chắn là một trong mười đồng xu bị đánh cắp. Nó có giá trị rất lớn. Chỉ riêng mình nó cũng đủ để mua một ngôi nhà to.
“Chúng ta nghĩ cũng nên giữ lại cho mình một chút gì đó. Đây là phần của Demel. Cháu hãy thay bố nhận lấy nhé!”
Chú Mozoroff nhét đồng xu vào tay tôi.
Chúng tôi ở lại khách sạn Jean-Paul Motel một thời gian. Chú Mozoroff vốn nghỉ ở căn phòng số 1 và việc chú ấy không có trong phòng khi tôi ngó vào qua cửa sổ hình như chỉ là ngẫu nhiên. Royce bị mẹ tôi ép dữ quá nên không còn cách nào khác đành phải viết một lá thư. Nội dung đại khái là về chuyện phòng vệ chính đáng của tôi và thằng Debailleul, cũng tại vì mình và lão thanh tra Ganache cùng âm mưu cướp tấm bản đồ nên sự thể mới như thế, cái chết của lão thanh tra chỉ là quả báo của việc dí súng vào tụi trẻ mà thôi...
“Thế này được chưa hả, thưa chị Merry?”
“Được rồi đấy!”
Mẹ tôi đọc thư rồi gật đầu thỏa mãn. Lúc này Royce mới có thể vuốt ngực nhẹ nhõm. Không biết từ lúc nào, mẹ tôi đã đứng ở thế cửa trên. Chứng kiến cảnh vị thám tử nổi tiếng nhất cả nước phải dòm ngó, dò xét sắc mặt của mẹ như thế, kể cũng thú vị.
“Giả thuyết về cái chết của thám tử Royce!” - Trên báo xuất hiện dòng tít rất to. Cô nhân viên quán cà phê ở thị trấn Wittamer sau khi đọc báo xong thì vô cùng băn khoăn về tung tích của vị thám tử lừng danh. Nhưng đồng thời lại phát chán với cảnh một cậu sinh viên nghệ thuật suốt ngày ngang nhiên một mình chiếm lấy vị trí chỗ ngồi cạnh cửa sổ.
“Lũ trẻ trên cả nước đang lo lắng lắm đấy. Hay anh quay về thủ đô đi.”
Tôi lên tiếng bắt chuyện với cậu sinh viên nghệ thuật đang ngồi đan len.
“Cho đến gần đây thôi anh vẫn còn muốn làm người nổi tiếng. Nhưng giờ, anh thay đổi suy nghĩ rồi.”
“Tại sao vậy?”
Royce rút lọ hạt tiêu từ trong túi áo ra rồi ngắm nghía một lúc lâu. Anh ấy đã xin phép được giữ thứ mà bố tôi đã mang ra khỏi nhà.
“Anh chán làm việc cho chính phủ rồi. Đó không phải là nơi để anh trở về. Nó phải là một nơi nào đó nhỏ bé hơn, gần gũi hơn.”
Cậu sinh viên bổ sung thêm ý kiến.
“Với lại, thực ra anh ghét trẻ con lắm. Chúng nó cứ hay ăn sô-cô-la rồi quệt nhoe nhoét ra mép. Nhìn chỉ muốn đá cho phát.”
Tôi nghĩ nên từ bỏ ý định biến anh ấy trở lại làm người hùng của đám trẻ như trước đây.
Một buổi trưa ngày thứ năm tại quán trọ, trong lúc đang giúp đỡ công việc lễ tân, mẹ tôi nhận được một cuộc điện thoại từ phía bệnh viện. Tôi, mẹ và Royce lên xe đến bệnh viện ngay trong ngày.
Debailleul đang nằm trong phòng bệnh. Sau khi tắm rửa và mặc quần áo chỉnh tề thì cuối cùng nó cũng lấy lại được phong thái cao quý của mình. Khi lần đầu tiên thấy một bệnh nhân như thế, cô y tá mới vào làm việc hẳn sẽ tưởng tượng ngay đến hình ảnh một thiên sứ vừa giáng trần. Chắc chắn sự hiểu lầm đó sẽ còn kéo dài mãi nếu như Debailleul không mở miệng và bắt đầu phun ra toàn những lời phỉ báng, chửi rủa thâm độc.
“Tưởng bọn mày đã biến thành than trong cối xay gió rồi chứ.”
Debailleul nhổ nước bọt xuống sàn rồi nói, mặt không có vẻ gì là vui mừng cả.
Chúng tôi hỏi nó xem chuyện gì đã xảy ra ở cầu treo.
“Đến ngay trước cây cầu thì tao đuổi kịp thằng béo đó.”
Hai bên vồ lấy nhau rồi hình như Browny đã giơ súng về phía nó.
“Tao vùng chân đá trúng tay khiến gã đánh rơi khẩu súng xuống dưới vách núi.”
Nhưng Browny vẫn còn một khẩu súng khác. Là khẩu súng của lão thanh tra Ganache mà tôi đã từng mang tới quán trọ. Hắn rút khẩu súng từ trong áo khoác ra rồi dí vào người Debailleul kèm theo một lời cảnh cáo đanh thép. Debailleul hết đường trốn chạy, cũng không kịp đá bay khẩu súng như lúc trước. Browny bóp cò. Viên đạn lẽ ra đã phải xuyên qua ngực Debailleul nhưng kẻ đổ máu lúc đó không phải Debailleul mà lại là Browny.
Súng ngắn loại tự động chế tác rất phức tạp. Do vậy mà đôi khi sẽ bị lỗi. Viên đạn không được bắn đi mà đã phát nổ ngay trong tay của Browny. Bàn tay phải của hắn vỡ toác làm đôi. Khẩu súng vừa nổ cũng rơi luôn xuống vách núi. Browny ôm lấy bàn tay đau đớn nhưng vẫn không chịu buông cái túi đựng bảo vật ra. Hắn tái xanh mặt mày, loạng choạng băng qua cầu định bỏ trốn.
“Khi tao đuổi kịp và tóm lấy hắn ở trên cầu thì ‘rắc’, miếng ván cầu bị gãy. Cả hai thằng ngã lộn cổ.” Debailleul tỏ ra tiếc nuối.
Tôi nghe nó kể mà thấy rợn người. Khẩu súng đó đã theo tôi suốt. Nếu như tôi bóp cò ở quán trọ hay chẳng may nổ súng ở đâu đó thôi thì bàn tay bị vỡ toác kia chắc chắn phải là của tôi.
“Thế chú mày có nhớ chuyện gì đã xảy ra sau đó không?” Royce hỏi Debailleul.
“Ngay từ đầu tao đã ghét có mày đi cùng rồi! Cái thằng thám tử vô dụng này!”
“Khi chú mày nằm dưới sông, Lindt đã nhảy xuống cứu lên đấy. Đó thực sự là một hành động hy sinh quên mình.”
“Hừm, thằng này nó cứu tao là đương nhiên rồi.”
Thật không thể hiểu nổi tại sao nó lại có cái suy nghĩ như vậy nhưng tôi ngậm miệng, không nói năng gì. Royce nở nụ cười cay đắng rồi đặt tay lên vai Debailleul.
“Trong vụ việc lần này, người khiến anh ngạc nhiên nhất là chú mày. Anh chưa từng thấy cậu bé nào có đầu óc thông minh, sắc bén như chú mày đâu. Này, hay là thử làm việc cho anh đi? Nếu anh có thể tiếp tục công việc thám tử thì sẽ cần tới trợ thủ. Chú mày không phải loại người cả đời làm lưu manh, côn đồ trên phố đâu. Anh không đành lòng để những cậu bé như chú mày cứ thế dần biến mất đi, không chút hy vọng trên những con phố bẩn thỉu. Nếu thế thì nhất định anh không thể tha thứ cho chính bản thân mình. Anh sẽ ân hận mãi. Rằng tại sao, lúc đó mình lại không ngỏ lời với cậu bé đó chứ. Chú mày hiểu chứ, anh muốn cứu lấy cuộc sống của những cậu bé như chú mày. Càng nhiều càng tốt. Thật sự không có lý do nào để cho những cậu bé như chú mày biến mất trên cõi đời này mà không để lại chút tên tuổi nào cả...”
Royce nói và nhìn Debailleul với ánh mắt hết sức chân thành. Tôi và mẹ cùng lặng thinh. Trở thành trợ thủ của thám tử Royce là ước mơ của bất kì đứa trẻ nào. Thế nhưng Debailleul đã hất tay Royce ra rồi giơ ngón tay trỏ lên ngang mặt và lắc lắc.
“Tao mà là trợ thủ của mày á? Não mày làm bằng bọt à? Bảo mày làm trợ lý giúp việc cho tao còn nghe được...”
Cuộc cãi vã về lòng kiêu hãnh giữa Royce và Debailleul đã bắt đầu như thế. Nó thậm chí còn kéo dài cho đến tận khi y tá tới, giận giữ yêu cầu giữ trật tự. Nếu hai người này có bắt tay nhau mở dịch vụ thám tử thì tôi tuyệt đối không tìm đến. Theo đề nghị của bệnh viện, Debailleul bị yêu cầu xuất viện ngay trong ngày hôm đó.
Chúng tôi cũng dò la tung tích của Browny nhưng không có tin tức gì về việc tìm thấy thi thể của hắn, cũng chẳng có thông tin hắn nhập viện ở đâu đó. Rốt cuộc, sinh tử của hắn vẫn mãi là một ẩn số. “Hắn nằm dưới đáy sông rồi. Giờ đã thành mồi cho bầy cá.”, Debailleul nói.
“Rồi sau đây mọi người sẽ ra sao mẹ nhỉ?”
Tôi hỏi khi hai mẹ con đang đi dạo trên con phố ở Wittamer. Hôm đó bầu trời trong xanh, thời tiết ấm áp, dễ chịu. Mẹ tôi khoác trên người một chiếc áo nhạt màu, vừa bước đi vừa ngắm nhìn cuộc sống của người dân nơi đây.
“Mọi người, ý con là Royce và Debailleul phải không?”
“Cả chúng ta nữa.”
Tất cả đều gặp khó trong việc quyết định đi đâu về đâu. Tôi và mẹ, sau khi bàn bạc, đã quyết định không quay trở lại cái thị trấn nơi mình vẫn sống nữa. Có thể là nhờ lá thư của Royce mà lệnh bắt tôi và Debailleul sẽ được hủy bỏ nhưng cuộc sống của tôi khó mà quay trở lại bình thường như trước được nữa.
Sau một hồi dạo bước trên con đường thoai thoải, chúng tôi đến một ngọn đồi. Từ đây có thể phóng tầm mắt nhìn xuống toàn cảnh thị trấn. Vừa bước đi, mẹ vừa kể cho tôi nghe chuyện mẹ và bố lần đầu gặp nhau. Mọi chuyện bắt đầu từ khi mẹ gặp khó khăn và bố đã ra tay giúp đỡ. Đó là một câu chuyện phiêu lưu mạo hiểm, hồi hộp muốn thót tim và tôi thật không ngờ là bố mẹ mình lại gặp nhau trong hoàn cảnh như vậy.
“Mẹ này, vậy là thật ra, mẹ đã biết bí mật của bố từ lâu rồi phải không?”
Mẹ nhìn xuống thị trấn phía dưới rồi dừng lại. Những tòa nhà rải rác giữa các dãy núi trông như những hạt đậu nhỏ.
“Mẹ đã định nói với con khi cận kề cái chết trong cối xay gió... Ngay từ lần đầu gặp gỡ, mẹ đã có cảm giác bố con không phải là người bình thường. Nhưng mẹ giả vờ như không biết. Bố con cũng giả vờ, coi như không biết là mẹ biết. Khi mẹ đi đến nhà ông nội con, mẹ ngủ trong phòng của bố con và đã lén đọc những bức thư nằm trong ngăn kéo bàn. Toàn là thư về chuyện chính trị. Vì mẹ giữ bí mật với bố con về chuyện đến nhà ông nội nên đã không có thời gian để giấu đống thư.”
“Vì vậy mà ngay từ đầu mẹ đã nhận ra là Royce cải trang...”
“Kiểu cải trang đó thì ăn thua gì. Gặp bất cứ ai là mẹ cũng đều quan sát xem liệu đó có phải là dấu ấn của Royce hay không.”
Hôm cậu sinh viên nghệ thuật đến nhà dùng bữa tối, tôi đã không thấy bức ảnh vốn luôn được để trên giá đựng bát đĩa đâu cả. Có lẽ mẹ đã lén giấu đi. Trên đó có lời nhắn do chính tay bố viết và mẹ không muốn cậu sinh viên đó nhìn thấy rồi nhận ra nó giống với chữ viết trên tấm thẻ.
“Nếu như một lúc nào đó Royce thực sự tìm đến thì...”, mẹ nhắm mắt lại. “Mẹ biết làm thế là sai trái. Dù sao thì bố con cũng đã ra đi rồi mà... Thế nhưng, lòng mẹ đã quyết từ lâu rồi, rằng nếu như Royce đánh hơi thấy điều gì và tìm đến thì mẹ sẽ làm thế...” Tôi biết mẹ đang định thú nhận điều gì. “Nếu kẻ đó công bố bí mật ra ngoài thì mẹ và con sẽ không thể có cuộc sống bình thường được. Cho dù đã không còn siêu trộm gì nữa. Vả lại, không hiểu sao, mẹ cứ nghĩ rằng bệnh của bố con cũng một phần nguyên nhân là do Royce. Mặc dù trong đầu mẹ biết rõ rằng sự thật không phải thế nhưng con tim lại không hiểu như vậy.”
Tôi nắm chặt tay mẹ. Ngón tay mẹ lạnh toát. Tôi nói với mẹ.
“Không sao đâu mẹ. Anh ấy vẫn sống mà.”
Thật may Royce là một kẻ đáng ghét. Royce đã ném cái bánh mỳ đó xuống sông. Trên dòng sông phía sau khách sạn đó, rất nhiều xác cá chết nổi lềnh phềnh. Có lẽ là do bị ngấm loại thuốc được phết trên bánh mỳ. Mẹ tôi làm việc ở nhà máy dược phẩm, có rất nhiều cơ hội để kiếm được loại thuốc mạnh nhất. Nhờ việc Royce vứt cái bánh mỳ đi mà mẹ tôi mới không mang tội giết người.
Ngày hôm sau, tôi và mẹ lên đường đến nhà ông nội. Hai người bạn của bố tôi ra tiễn và thế là chúng tôi bỏ lại Wittamer ở phía sau, cùng với Royce và Debailleul. Nhưng tôi không nghĩ rằng đây là dấu chấm hết. Tôi có cảm giác sẽ có ngày gặp lại bọn họ.
Mẹ tôi biết lái xe tải hạng nhẹ. Vượt qua một vài dãy núi thì đường sá đã trở nên bằng phẳng hơn. Cả một bình nguyên rộng lớn, bao la ngoài kia gợi cho tôi nhớ đến khu vực xung quanh nhà ông nội.
“Bố giấu chiếc chìa khóa vào cái cối đá như vậy liệu có phải vì nghĩ đến ông nội không mẹ nhỉ!?” Tôi vừa ngắm cảnh vừa cất tiếng hỏi. “Con đã thấy ông quay cối đá ở trong lán. Chắc hồi nhỏ bố cũng được nhìn ông làm vậy.”
Mẹ thoáng quay sang nhìn tôi nhưng ngay lập tức tập trung lái xe.
“Lúc mẹ đến nhà ông thì con vẫn còn nằm trong bụng mẹ.”
“Mẹ cầm ô đi bộ từ nhà ga đúng không ạ?”
“Ông kể với con thế à?”
“Bố ra đi mà không nói ra được bí mật như vậy, mẹ có buồn không ạ?”
“Không nói thì hơn. Vì nhất định sẽ phát sinh những chuyện khó lường hơn nhiều.”
Gió lùa vào qua chiếc cửa sổ mở sẵn. Dưới bầu trời xanh, gió đưa thoang thoảng. Xe chúng tôi chạy qua đến đâu, cát bụi lại bùng lên đến đấy. Mẹ tôi bắt đầu ngân nga. Tôi vừa lắng nghe vừa hồi tưởng lại về chuyện dòng máu của bố, chuyện khi tôi say sưa với những bài báo về thám tử, cả lúc chĩa súng vào người khác... Về đến nhà ông thì mình sẽ làm gì đầu tiên đây? Tôi cho tay vào túi áo, rút đồng xu ra. Với đồng xu này, mình có thể mua được bao nhiêu thanh sô-cô-la nhỉ? Tôi thử cắn đồng xu. Giá như đây là sô-cô-la thì hay biết mấy. Nhưng đồng xu quá cứng. Tôi chợt nảy ra một ý tưởng. Sao mình không thử cắt sô-cô-la thành hình đồng xu, gói chúng bằng giấy màu vàng để làm ra một sản phẩm kẹo sô-cô-la giống hệt đồng xu nhỉ!? Chưa từng có sản phẩm nào như thế cả. Nhưng liệu có bán được không đây?
Trong lúc tôi mải suy nghĩ, mơ mộng vẩn vơ, viền đồng xu phản xạ ánh mặt trời và bừng lên sáng loáng. Tôi lóa mắt, mọi thứ xung quanh chợt trở nên trắng xóa.
Trong thoáng chốc, giữa ánh sáng, tôi trông thấy...
Người bố, người mẹ và người con đang bước đi trên mảnh đất hoang tàn. Ba người đang nép sát vào nhau, rời bỏ quê hương, chạy trốn đạn bom, khói lửa. Dòng máu đang chảy trong huyết quản này đã trải qua một chuyến đi lạ thường. Bà tôi khi chạy trốn khỏi chiến tranh đã mất giọng, không thể ca hát được nữa. Mỗi lần nghe những bài hát ru của bà, bố tôi luôn chìm vào giấc ngủ.
“GODDIVA – Nữ danh ca thần thánh!”
Chúc may mắn nhé cả gia đình!
Khi tỉnh lại thì trước mắt tôi, vẫn là con đường đó đang trải dài bất tận.