Khai thác tài nguyên - Hai mỏ dầu - Động cơ của những công ty dầu lửa - Hoạt động khai thác khoáng sản rắn - Động cơ của các công ty khai thác mỏ - Những khác biệt của các công ty khai thác mỏ - Ngành khai thác gỗ - Hội đồng Quản trị Rừng thế giới - Ngành hải sản - Kinh doanh và công chúng.
Tất cả các xã hội hiện đại đều phụ thuộc vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cả tài nguyên không tái sinh (như dầu lửa và kim loại) và tài nguyên tái sinh (như gỗ và cá). Hầu hết năng lượng của chúng ta là từ dầu lửa, khí và than. Hiển nhiên tất cả công cụ, các hộp đựng, máy móc, xe cộ và nhà cửa của chúng ta đều làm từ kim loại, gỗ, nhựa tổng hợp và các chất tổng hợp khác. Chúng ta viết và in trên giấy làm từ gỗ. Các nguồn thực phẩm tự nhiên chủ yếu của chúng ta là cá và các nguồn hải sản khác. Hàng chục quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào các ngành khai thác tài nguyên: ví dụ, trong ba nước mà tôi tiến hành phần lớn công tác thực địa, những ngành kinh tế chính của Indonesia là khai thác gỗ, sau đó tới khai thác mỏ, tại quần đảo Solomon là khai thác gỗ và đánh bắt cá, tại Papua New Guinea là khai thác dầu lửa, khí tự nhiên, khai mỏ và khai thác gỗ (đang ngày càng tăng). Bởi xã hội của chúng ta gắn bó chặt chẽ với việc khai thác các nguồn tài nguyên này, nên câu hỏi duy nhất là chúng ta khai thác tài nguyên thiên nhiên ở đâu? Với số lượng bao nhiêu? Và bằng phương tiện nào?
Một dự án khai thác tài nguyên thường đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, do đó đa phần hoạt động khai thác tài nguyên là do các doanh nghiệp lớn tiến hành. Thường có sự mâu thuẫn giữa các nhà môi trường và các doanh nghiệp kinh tế lớn, mà bên này luôn coi bên kia như kẻ thù. Các nhà môi trường buộc tội các doanh nghiệp gây thiệt hại cho cuộc sống con người do tàn phá môi trường, và thường xuyên đặt lợi ích tài chính của doanh nghiệp lên trên lợi ích của công chúng. Vâng, thường là đúng như vậy. Ngược lại, các doanh nghiệp cũng lên án các nhà môi trường thường xuyên bỏ qua và không quan tâm tới các thực tiễn kinh doanh, không quan tâm tới mong muốn của cư dân địa phương và chính phủ các nước về vấn đề việc làm và phát triển, đặt vấn đề bảo vệ chim chóc lên trên bảo vệ con người, và không khen ngợi các doanh nghiệp khi họ thực hiện tốt các chính sách môi trường. Vâng, những ý kiến này cũng thường rất đúng.
Trong chương này, tôi sẽ chỉ rõ rằng lợi ích của các doanh nghiệp lớn, các nhà môi trường cũng như toàn xã hội luôn luôn có quan hệ chặt chẽ với nhau, không như những gì mà các bạn có thể suy đoán từ những lời trách cứ lẫn nhau của các bên. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thực sự có những xung đột lợi ích: những gì mang lại lợi nhuận cho một doanh nghiệp, ít nhất trong thời gian trước mắt, có thể gây tổn hại cho toàn xã hội. Trong những tình huống này, hành vi của các doanh nghiệp trở thành một ví dụ trên quy mô lớn về hành vi lý trí của một tập thể (trong trường hợp này là một doanh nghiệp) trở thành một quyết định tai hại của xã hội, như đã thảo luận ở chương trước. Chương này sẽ lấy bốn ngành khai thác tài nguyên mà tôi có kinh nghiệm làm việc trực tiếp để làm ví dụ, nhằm tìm hiểu một số lý do vì sao các công ty khác nhau có những nhận thức về lợi ích khác nhau để áp dụng những chính sách khác nhau, hoặc gây tổn hại hoặc bảo vệ môi trường. Động cơ thực tế của tôi là xác định những thay đổi nào có tác động lớn nhất đến các công ty hiện đang gây tổn hại môi trường để họ chuyển sang tích cực bảo vệ môi trường hơn. Các ngành khai thác mà tôi sẽ thảo luận là dầu lửa, khai thác khoáng sản rắn và than, khai thác gỗ và đánh bắt hải sản.
Trong lĩnh vực dầu lửa, tôi từng làm việc tại hai mỏ dầu ở khu vực New Guinea có những tác động môi trường trái ngược nhau, một mỏ thì gây tổn hại môi trường còn mỏ kia nỗ lực bảo vệ môi trường. Tôi thấy những kinh nghiệm này rất hữu ích, bởi trước đó tôi từng nghĩ rằng ngành dầu lửa chủ yếu gây tổn hại môi trường. Cũng như phần lớn công chúng, tôi cũng không ưa ngành dầu lửa, và tôi cực kỳ nghi ngờ bất kỳ ai dám nói tốt về hoạt động của ngành này hay đóng góp của nó với xã hội. Nhưng những quan sát của tôi buộc tôi thay đổi định kiến của mình và nghĩ về những yếu tố có thể khuyến khích nhiều công ty khác trở thành những tấm gương tích cực.
Mỏ dầu đầu tiên mà tôi tiếp xúc nằm trên đảo Salawati, ngoài khơi New Guinea thuộc Indonesia. Mục tiêu tôi tới đây chẳng liên quan gì tới dầu mà nó là một phần của chương trình khảo sát các loài chim trên các đảo New Guinea; hóa ra phần lớn đảo Salawati đã được công ty dầu khí quốc gia Indonesia là Pertamina thuê để thăm dò dầu lửa. Tôi tới Salawati năm 1986 với vai trò là khách của Pertamina, và được phó Chủ tịch và nhân viên quan hệ công chúng chu đáo cho mượn một chiếc xe để lái dọc những con đường của công ty.
Do họ chu đáo, nên tôi cũng cảm thấy buồn khi phải thuật lại những gì tôi đã chứng kiến. Từ xa đã có thể nhận ra mỏ dầu bởi ngọn lửa lớn phụt ra từ một tháp cao, do khí tự nhiên, sản phẩm phụ trong quá trình khai thác dầu, bị đốt cháy bởi chẳng biết dùng làm gì. (Ở đây không có những cơ sở hóa lỏng và vận chuyển khí tự nhiên cho mục đích thương mại). Để xây dựng những con đường xuyên qua những khu rừng của Salawati, những vạt rừng rộng chừng 80 mét đã bị phát trụi, một khoảng trống quá rộng để nhiều sinh vật của rừng nhiệt đới New Guinea như các loài bò sát, ếch nhái, chim chóc và động vật có vú có thể vượt qua. Tôi chỉ bắt gặp ba loài chim ăn quả lớn, trong số 14 loài được ghi nhận ở Salawati và là những mục tiêu ưa thích của những người thợ săn trong vùng New Guinea bởi chúng có trọng lượng lớn, nhiều thịt và ngon. Một nhân viên Pertamina chỉ cho tôi vị trí sinh sản của hai đàn chim, nơi anh ta cho biết thường tới đó bắn chim bằng súng ngắn. Tôi nghĩ chắc hẳn số chim trong khu khai thác dầu lửa này suy thoái do bị săn bắn quá nhiều.
Mỏ dầu thứ hai mà tôi có dịp làm quen là Kutubu, chi nhánh của tập đoàn dầu lửa quốc tế lớn Chevron khai thác tại lưu vực sông Kikori của Papua New Guinea. (Tôi sẽ gọi tắt công ty điều hành là “Chevron” tại thời điểm tôi tới thăm, nhưng đúng ra phải là Chevron Nuigini Pty.Ltd., một chi nhánh thuộc sở hữu của tập đoàn Chevron; còn mỏ dầu là một liên doanh của sáu công ty dầu lửa, trong đó có Chevron Nuigini Pty.Ltd.; năm 2001, công ty mẹ là tập đoàn Chevron đã sáp nhập với Texaco thành Chevron Texaco; và năm 2003 Chevron Texaco đã bán phần vốn của mình trong liên doanh và chuyển giao vai trò điều hành mỏ dầu cho một bên khác trong liên doanh là công ty Oil Search Limited). Môi trường tại lưu vực sông Kikori rất nhạy cảm và gây nhiều khó khăn cho khai thác dầu bởi thường xuyên xảy ra lở đất, địa hình chủ yếu là đá vôi, và là một trong những nơi có lượng mưa cao nhất thế giới (trung bình 10.922 milimét mỗi năm, tới 355,5 xăngtimét mỗi ngày). Năm 1993, Chevron cam kết với Quỹ Thiên nhiên Hoang dã Thế giới (WWF) chuẩn bị một dự án phát triển và bảo tồn hợp nhất trên quy mô lớn trong toàn lưu vực. Chevron hy vọng sẽ giúp đỡ WWF giảm thiểu những tổn hại môi trường, vận động chính quyền Papua New Guinea bảo vệ môi trường, trở thành một đối tác tin cậy trong mắt các nhóm hoạt động môi trường, mang lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng cư dân địa phương, và thuyết phục Ngân hàng Thế giới tài trợ cho các dự án của địa phương. Từ năm 1998-2003, tôi đã bốn lần tới làm việc ở mỏ dầu và lưu vực sông này với tư cách là cố vấn của WWF, mỗi lần kéo dài một tháng. Tôi được tự do đi lại trong khắp khu vực khai thác trên chiếc xe của WWF và được phỏng vấn riêng những công nhân của Chevron.
Khi bay từ thủ đô Port Moresby của Papua New Guinea tới sân bay của mỏ dầu Kutubu tại Moro, lúc sắp hạ cánh, nhìn qua cửa sổ máy bay tôi tưởng sẽ thấy những dấu hiệu các cơ sở hạ tầng của mỏ dầu hiện dần ra. Nhưng tôi bối rối khi chỉ thấy những cánh rừng nhiệt đới ngút tầm mắt, trải dài tới tận chân trời. Cuối cùng tôi cũng phát hiện ra một con đường, nhưng đó chỉ là một vệt nhỏ rộng khoảng 8 mét chạy xuyên qua khu rừng nhiệt đới, nhiều đoạn cây cối còn lấn cả sang hai bên đường, thật như mơ với một người quan sát chim như tôi. Một trong những khó khăn lớn trong nghiên cứu các loài chim rừng nhiệt đới là khó nhìn thấy những con chim trong chính khu rừng đó, và cơ hội tốt nhất để quan sát chúng là men theo những con đường nhỏ để có thể theo dõi chúng từ phía bên kia. Ở đây có một con đường nhỏ dài chừng 160 kilômét, từ giếng dầu cao nhất ở độ cao gần 1.800m so với mực nước biển trên núi Moran chạy xuống bờ biển. Ngày hôm sau, khi tôi bắt đầu đi bộ dọc theo con đường thẳng tắp đó để tiến hành khảo sát, tôi đã thấy những con chim thường xuyên bay ngang qua, và những loài vật có vú, thằn lằn, rắn, ếch nhái chạy hoặc bò qua con đường. Hóa ra con đường này được thiết kế chỉ vừa đủ rộng cho hai chiếc xe tải đi ngược chiều. Ban đầu, những trạm thăm dò địa chấn và các giếng thăm dò dầu lửa được xây dựng tại khu vực này, nhưng không hề xây dựng bất cứ con đường nào dẫn vào những khu vực này, mà chỉ dùng trực thăng hoặc đi bộ.
Từ khi hạ cánh xuống sân bay Moro của Chevron, tôi đi hết từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Mặc dù hành lý của tôi đã được nhân viên hải quan Papua New Guinea kiểm tra khi nhập cảnh, nhưng cả lúc đến và đi tại sân bay của Chevron tôi đều phải mở hết các túi xách để kiểm tra một lần nữa, còn kỹ hơn cả lần tôi tới sân bay Tel Aviv của Israel. Vậy những nhân viên này kiểm tra cái gì? Lúc đến, những đồ vật bị cấm hoàn toàn là các loại súng hay dụng cụ săn bắn, ma túy và rượu; lúc đi nghiêm cấm đưa ra ngoài bất kỳ loài động thực vật nào, kể cả lông hay các bộ phận cơ thể của động vật có thể bị buôn lậu. Nếu vi phạm những nguyên tắc này, ngay lập tức người vi phạm sẽ bị tự động trục xuất khỏi các khu vực thuộc quyền quản lý của công ty, như một thư ký WWF vô tình và dại dột mang hộ một gói đồ cho một người khác (nhưng đáng tiếc trong đó lại có ma túy) nên đã bị trục xuất.
Sáng hôm sau tôi lại ngạc nhiên, sau khi ra đường từ lúc rạng đông để quan sát các loài chim trong vài giờ. Khi trở về, nhân viên an toàn của trại gọi tôi tới văn phòng thông báo tôi đã vi phạm hai quy định của Chevron và cảnh cáo không được phép tái phạm. Thứ nhất, tôi đã bước sâu vào làn đường vài mét để quan sát một con chim. Điều đó có thể khiến tôi bị xe tải đâm phải, hoặc để tránh không đâm phải tôi, chiếc xe có thể đổi hướng đâm vào một đường ống dẫn dầu bên lề đường và gây ra tràn dầu. Từ đó trở đi, tôi phải cách xa đường khi quan sát chim. Thứ hai, tôi đã không đội mũ bảo hiểm trong khi đây là khu vực bắt buộc đội mũ bảo hiểm, và nhân viên an toàn đưa cho tôi một mũ bảo hiểm, từ đó trở đi tôi phải đội để đảm bảo an toàn cho bản thân mỗi khi quan sát chim, ví dụ như đề phòng cây đổ chẳng hạn.
Đó chỉ là bước làm quen với sự quan tâm cực kỳ của Chevron về an toàn và bảo vệ môi trường, nhưng công nhân của công ty thường xuyên thấm nhuần điều này. Trong bốn lần tới đây, tôi chưa thấy nơi nào bị tràn dầu, nhưng tôi có đọc những thông báo đăng trên bản tin hằng tháng của Chevron về những sự cố và nguy cơ xảy ra sự cố là mối quan tâm chính của các nhân viên an toàn, những người phải thường xuyên đi lại bằng máy bay hoặc xe tải để điều tra từng sự cố. Vì quan tâm, tôi đã ghi lại tất cả 14 sự cố từ tháng 3/2003. Những nguy cơ gây sự cố nghiêm trọng nhất đòi hỏi phải khảo sát kỹ lưỡng và kiểm tra lại các quy trình an toàn trong tháng đó là một chiếc xe tải trong lúc lùi đã húc đổ một biển báo dừng, một chiếc xe tải khác thì bị mất phanh, một thùng hóa chất mất giấy tờ lý lịch cần thiết, và phát hiện rò rỉ khí từ một chiếc van kim nén.
Tôi lại một lần nữa ngạc nhiên trong khi đang quan sát chim. New Guinea có nhiều loại chim và động vật có vú, mà sự xuất hiện và số lượng của chúng được coi là những chỉ số nhạy cảm với sự xáo trộn do con người gây ra, bởi chúng hoặc có trọng lượng lớn nên bị săn bắn để lấy thịt, lấy những bộ lông đặc biệt, hoặc bị hạn chế trong những khu rừng chưa bị tác động và không xuất hiện trong môi trường sống thứ cấp đã bị thay đổi. Những loài vật đó bao gồm chuột túi cây (động vật có vú bản địa lớn nhất New Guinea); đà điểu đầu mèo, chim mỏ sừng, và loài chim cu lớn (loài chim lớn nhất của New Guinea); chim thiên đường, vẹt Pesquet và những loài vẹt sặc sỡ khác (những bộ lông của chúng rất có giá trị); và hàng trăm loài vật khác ở sâu trong rừng. Khi tôi bắt đầu quan sát chim tại khu vực Kutubu, tôi đã dự kiến mục tiêu chính là xác định số lượng những loài vật này trong khu vực các giếng dầu, các cơ sở sản xuất và đường ống dẫn dầu của Chevron giảm bao nhiêu so với khu vực bên ngoài.
Nhưng tôi sửng sốt khi phát hiện số lượng những loài vật này trong khu vực hoạt động của Chevron còn đông hơn nhiều lần so với bất cứ nơi nào mà tôi từng tới trên đảo New Guinea, trừ một số vùng xa xôi không có con người sinh sống. Nơi duy nhất tôi nhìn thấy loài chuột túi cây hoang dã tại Papua New Guinea, trong suốt 40 năm tôi sinh sống ở đây, chính là trong phạm vi vài kilômét của các trại của Chevron; nếu ở những nơi khác, chúng sẽ là loài thú đầu tiên bị săn bắn và chỉ có vài con sống sót và phải học cách kiếm ăn ban đêm, nhưng trong vùng Kutubu tôi đã thấy chúng thản nhiên hoạt động ban ngày. Vẹt Pesquet, chim ưng Harpy của New Guinea, chim thiên đường, chim mỏ sừng và những con chim cu lớn có rất nhiều trong những vùng tiếp giáp khu khai thác dầu, tôi đã thấy những con vẹt Pesquet đậu trên những tháp thông tin của khu khai thác. Có được điều này là do công ty Chevron nghiêm cấm công nhân và nhà thầu săn bắn các loài thú hay đánh bắt cá bằng bất kỳ phương tiện nào trong khu vực dự án, và bởi các cánh rừng còn nguyên, không hề bị đụng chạm. Chim và thú cảm nhận thấy điều đó và trở nên dạn dĩ với con người. Do vậy, hoạt động bảo vệ môi trường của mỏ dầu Kutubu vượt xa công viên quốc gia lớn nhất và được bảo vệ nghiêm ngặt nhất Papua New Guinea.
Trong nhiều tháng, tôi đã cực kỳ bối rối trước những điều kiện này của mỏ dầu Kutubu. Xét cho cùng, Chevron không phải là một tổ chức môi trường phi lợi nhuận, cũng chẳng phải một công viên quốc gia. Mà thực chất nó là một tập đoàn dầu lửa hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận và thuộc sở hữu của các cổ đông. Nếu Chevron chi tiền cho các chính sách môi trường mà cuối cùng làm giảm lợi nhuận của các hoạt động khai thác dầu lửa của mình, thì chắc chắn các cổ đông sẽ kiện công ty. Rõ ràng công ty đã xác định rằng những chính sách môi trường này cuối cùng cũng giúp mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho hoạt động kinh doanh của công ty. Vậy chúng có tác dụng như thế nào?
Các ấn phẩm của tập đoàn Chevron đều nhấn mạnh vấn đề môi trường như một động lực thúc đẩy tập đoàn phát triển. Không thể nghi ngờ gì, sự thực đúng là như vậy. Tuy nhiên, trong những cuộc chuyện trò trong suốt sáu năm qua với hàng chục nhân viên cấp thấp cũng như cấp cao của Chevron, nhân viên của các công ty dầu lửa khác và những người ngoài ngành dầu lửa, tôi nhận ra rằng còn có nhiều yếu tố khác góp phần tạo nên những chính sách môi trường này.
Một trong những yếu tố đó là tầm quan trọng của việc tránh để xảy ra những thảm họa môi trường cực kỳ tốn kém. Khi tôi hỏi một nhân viên an toàn của Chevron, trước đây từng làm nghề quan sát chim, về động cơ thúc đẩy Chevron thực hiện những chính sách môi trường này, anh ta trả lời ngắn gọn: “Exxon Valder, Piper Alpha và Bhopal”. Anh ta muốn nói đến sự cố tràn dầu lớn do tàu chở dầu Exxon Valder của tập đoàn Exxon bị mắc cạn ngoài khơi Alaska năm 1989, thảm họa cháy dàn khoan dầu Piper Alpha của tập đoàn Occidental Petroleum trên Biển Bắc làm chết 167 người (Phụ bản 33), và thảm họa rò rỉ hóa chất tại nhà máy hóa chất Bhopal của tập đoàn Union Carbide tại Ấn Độ năm 1984 giết chết 4.000 người và làm bị thương 200.000 người khác (Phụ bản 34). Đây là ba thảm họa công nghiệp nghiêm trọng nhất, tốn kém nhất và bị công chúng chỉ trích nhiều nhất xảy ra trong thời gian gần đây. Các công ty để xảy ra sự cố thiệt hại hàng tỷ đô-la, và sự cố Bhopal khiến Union Carbide mất khả năng tồn tại độc lập. Anh nhân viên an toàn của Chevron cũng đề cập tới thảm họa tràn dầu tại dàn khoan A của công ty Union Oil tại eo biển Santa Barbara, ngoài khơi Los Angeles năm 1969, có vai trò như một hồi chuông cảnh tỉnh ngành khai thác dầu lửa. Do đó Chevron và một số tập đoàn dầu lửa quốc tế lớn khác đã nhận ra một điều rằng, thà mỗi năm chi thêm vài triệu đô-la cho dự án, hay thậm chí vài chục triệu đô la, về lâu dài, họ sẽ tiết kiệm được những khoản tiền lớn hơn bởi giảm thiểu nguy cơ thiệt hại hàng tỷ đô-la nếu xảy ra một sự cố kiểu này, hay thậm chí khiến cả một dự án phải ngừng hoạt động và mất toàn bộ những khoản đầu tư. Một giám đốc của Chevron giải thích với tôi rằng ông đã hiểu ra giá trị kinh tế của các chính sách môi trường sạch khi ông chịu trách nhiệm làm sạch những hầm dầu tại một mỏ dầu ở Texas và thấy rằng chi phí làm sạch cho một hầm dầu nhỏ trung bình tốn 100.000 đô-la. Thông thường chi phí làm sạch ô nhiễm tốn kém hơn chi phí ngăn chặn ô nhiễm nhiều lần, giống như các bác sĩ thấy rằng việc điều trị những bệnh nhân bị ốm thường tốn kém và ít hiệu quả hơn nhiều so với việc phòng bệnh ngay từ đầu bằng những biện pháp chăm sóc sức khỏe cộng đồng đơn giản và ít tốn kém.
Từ khi thăm dò rồi xây dựng một mỏ dầu, một công ty dầu lửa phải đầu tư ban đầu lớn cho một lĩnh vực có tài sản tạo ra lợi nhuận trong vòng từ 20 - 50 năm. Nếu chính sách môi trường và an toàn của bạn làm giảm nguy cơ gây tràn dầu lớn, tới mức trung bình mỗi thập kỷ “chỉ” để xảy ra một lần, như thế thì cũng khó có thể thu lợi nhuận bởi trong thời gian hoạt động từ 20 - 50 năm, bạn sẽ phải đối phó với ít nhất từ 2 - 5 vụ tràn dầu. Như vậy cần phải nghiêm ngặt hơn. Lần đầu tiên tôi tiếp xúc với triển vọng lâu dài này của các tập đoàn dầu lửa là khi giám đốc một văn phòng ở London của tập đoàn dầu lửa Royal Dutch Shell liên hệ với tôi. Công việc của văn phòng này là cố gắng dự đoán những tình huống có thể xảy ra trên thế giới trong vòng 30 năm tới. Ông giám đốc giải thích rằng Shell lập ra văn phòng này bởi họ dự kiến sẽ mở thêm một giếng dầu mới hoạt động trong vài thập kỷ, nên cần phải hiểu hình thái thế giới trong vài thập kỷ tới sẽ như thế nào để có được những quyết định đầu tư thông minh.
Một yếu tố khác liên quan tới chính sách môi trường là những yêu cầu của công chúng. Không như những dòng nước thải mỏ độc hại sẽ được thảo luận dưới đây, tràn dầu thường diễn ra đột ngột và rõ ràng (như khi một đường ống, một giàn khoan hay một tàu chở dầu bị vỡ hoặc bị nổ). Tác động của tràn dầu cũng rất rõ ràng như hình những con chim chết lông dính đầy dầu xuất hiện nhan nhản trên truyền hình và báo chí. Bởi vậy công chúng sẽ phản đối mãnh liệt trước những sự cố môi trường lớn kiểu này, dường như rất dễ xảy ra với các công ty dầu lửa.
Những tính toán về yêu cầu của công chúng và giảm thiểu thiệt hại môi trường là điều cực kỳ quan trọng ở Papua New Guinea, đất nước với chế độ dân chủ phân quyền cùng một chính quyền trung ương tương đối yếu kém, lực lượng cảnh sát và quân sự mong manh và tiếng nói của các cộng đồng dân cư bản địa có ảnh hưởng mạnh mẽ. Bởi những tá điền bản địa tại các mỏ dầu tại Kutubu chỉ sinh sống dựa vào các khu vườn, những cánh rừng và những dòng sông, vì vậy một sự cố tràn dầu sẽ ảnh hưởng tới đời sống của họ nghiêm trọng hơn nhiều so với ảnh hưởng của những con chim dính dầu tới cuộc sống của những khán giả truyền hình Mỹ. Như một nhân viên Chevron giải thích với tôi: “Chúng tôi nhận ra rằng tại Papua New Guinea, không một dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên nào có thể thành công lâu dài mà không có sự ủng hộ của những cư dân và tá điền bản địa. Họ sẽ phá vỡ và buộc dự án phải ngừng hoạt động, như họ đã từng làm tại Bougainville [xem phần giải thích bên dưới], nếu họ nhận thức được rằng hành vi gây tổn hại môi trường đang ảnh hưởng tới đất đai và nguồn lương thực của họ. Chính quyền trung ương không có khả năng ngăn chặn những hành vi cản trở của các tá điền, vì vậy chúng tôi cần đi những bước thận trọng để giảm thiểu những tổn hại và duy trì mối quan hệ hữu nghị với cư dân bản địa”. Một nhân viên khác của Chevron cũng bày tỏ ý kiến tương tự bằng những lời nói khác: “Ngay từ đầu chúng tôi đã hiểu rằng sự thành công của dự án Kutubu sẽ phụ thuộc vào khả năng hợp tác của chúng tôi với cộng đồng tá điền bản địa, tới mức họ sẽ tin rằng khi chúng tôi còn ở lại đây thì cuộc sống của họ sẽ tốt hơn so với khi chúng tôi ra đi”.
Một khía cạnh nhỏ khác trong việc người New Guinea bản địa thường xuyên giám sát chặt chẽ các hoạt động của Chevron vì họ hiểu rằng có thể kiếm được tiền bằng cách gây áp lực với những doanh nghiệp có túi tiền lớn, như các tập đoàn dầu lửa. Họ đếm số cây bị chặt trong khi xây dựng một con đường, tính toán giá trị cụ thể của từng cây mà trên đó có chim thiên đường, rồi gửi hóa đơn đòi đền bù thiệt hại. Tôi từng nghe kể về một trường hợp, khi những tá điền người New Guinea biết rằng Chevron dự kiến xây dựng một con đường dẫn tới khu vực khai thác dầu, họ đổ xô trồng cà phê trên khu vực dự kiến có đường chạy qua, để đòi bồi thường cho mỗi cây cà phê bị phá bỏ. Đó cũng là một lý do để Chevron giảm đến mức tối thiểu phá rừng bằng cách làm đường càng hẹp càng tốt, và di chuyển tới khu vực khai thác dầu bằng trực thăng bất cứ lúc nào có thể. Nhưng một rủi ro khác lớn hơn nhiều là nếu các tá điền tức giận vì đất đai của họ bị tổn hại thì họ có thể buộc toàn bộ dự án phải ngừng hoạt động. Nhân viên Chevron nhắc tới trường hợp ở Bougainville là nói đến mỏ đồng Bougainville, một dự án đầu tư và phát triển lớn nhất Papua New Guinea, bị đóng cửa bởi những tá điền tức giận do môi trường bị phá hoại vào năm 1989, và không thể mở cửa trở lại mặc dù Chính phủ đã phải huy động lực lượng cảnh sát và quân đội nhỏ bé của mình, để rồi gây ra một cuộc nội chiến. Số phận của mỏ Bougainville cảnh cáo Chevron rằng dự án mỏ dầu Kutubu cũng sẽ phải chịu chung số phận nếu nó cũng gây tổn hại môi trường.
Một tín hiệu cảnh cáo khác đối với Chevron là mỏ dầu Point Arguello, do Chevron phát hiện ở ngoài khơi California vào năm 1981, được đánh giá là mỏ dầu lớn nhất được tìm thấy tại Mỹ kể từ sau khi phát hiện mỏ dầu tại vịnh Prudhoe. Do công chúng không còn ưu ái những công ty dầu lửa, cùng với sự phản đối của cộng đồng dân cư địa phương và tầng tầng lớp lớp những quy định gây khó khăn của Chính phủ, mãi tới 10 năm sau hoạt động khai thác dầu mới được bắt đầu, và cuối cùng Chevron phải giảm bớt một phần lớn vốn đầu tư của mình. Mỏ dầu Kutubu đem lại cho Chevron cơ hội khôi phục lại lòng tin của công chúng bằng cách thể hiện rằng tập đoàn sẽ bảo vệ môi trường một cách tốt nhất mà không bị kích động bởi những quy định quá chặt chẽ của chính phủ.
Về điểm này, dự án Kutubu chứng minh được giá trị của việc dự đoán rằng các tiêu chuẩn môi trường của chính phủ sẽ ngày càng nghiêm ngặt. Xu hướng chung của toàn thế giới (tất nhiên cũng có những ngoại lệ rõ ràng) là càng về sau những quy định môi trường của các chính phủ càng chặt chẽ hơn. Thậm chí ngay cả các nước đang phát triển mới đầu chưa mấy quan tâm tới vấn đề môi trường, nay các yêu cầu môi trường cũng ngày càng khắt khe hơn. Ví dụ, một nhân viên của Chevron đang làm việc tại Bahrain kể với tôi rằng, mới gần đây khi công ty anh ta khoan một giếng dầu ngoài khơi, lần đầu tiên chính phủ Bahrain yêu cầu phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chi tiết, trong đó quy định tiến hành giám sát môi trường trong quá trình khoan, đánh giá những tác động sau khi khoan và giảm tối thiểu những ảnh hưởng tới loài lợn biển và nơi sinh sản của loài chim cốc. Giờ đây, các tập đoàn dầu lửa đã học được rằng, xây dựng một cơ sở sạch sẽ, trang bị đầy đủ thiết bị phòng ngừa sự cố và bảo vệ môi trường ngay từ đầu rẻ hơn nhiều so với việc sau này phải bổ sung trang thiết bị khi tiêu chuẩn môi trường của Chính phủ chặt chẽ hơn. Các công ty nhận thức được rằng, nếu một đất nước mà họ đang hoạt động hiện chưa quan tâm tới vấn đề môi trường, thì chắc chắn ý thức bảo vệ môi trường sẽ được nâng cao hơn trong vòng đời của dự án.
Chính sách môi trường còn mang lại một lợi thế khác cho Chevron, đó là đôi khi uy tín môi trường của tập đoàn mang lại lợi thế cạnh tranh giúp tập đoàn thắng trong những cuộc đấu thầu. Ví dụ, gần đây chính phủ Na Uy, một đất nước mà cả chính phủ và người dân đều rất quan tâm tới các vấn đề môi trường, mời đấu thầu phát triển một mỏ dầu khí tại Biển Bắc. Chevron cũng tham gia đấu thầu và đã giành được hợp đồng, có lẽ một phần bởi uy tín bảo vệ môi trường của họ. Nếu đúng như vậy, một số bạn bè tôi làm việc cho Chevron thừa nhận rằng hợp đồng với Na Uy có lẽ là khoản lợi nhuận tài chính lớn nhất của tập đoàn kể từ khi thực hiện các chính sách môi trường nghiêm ngặt tại các mỏ dầu ở Kutubu.
Những người theo dõi hoạt động của tập đoàn không chỉ là công chúng, các chính phủ và những tá điền bản địa mà ngay cả các công nhân của họ. Một mỏ dầu thường có những vấn đề về quản lý, xây dựng và công nghệ đặc biệt phức tạp, và phần lớn đội ngũ nhân viên của các tập đoàn dầu lửa đều là những người có trình độ chuyên môn và bằng cấp cao. Do vậy họ cũng có ý thức môi trường cao. Chi phí đào tạo nhân viên rất tốn kém, trong khi họ lại được hưởng mức lương cao. Mặc dù phần lớn nhân viên của dự án Kutubu là công dân Papua New Guinea, nhưng cũng có không ít nhân viên là người Mỹ hay Australia chỉ tới Papua New Guinea làm việc trong thời gian năm tuần, rồi lại bay về nghỉ ngơi với gia đình năm tuần và chi phí vé máy bay của họ cũng rất tốn kém. Tất cả các nhân viên này tận mắt nhìn thấy hiện trạng môi trường tại các mỏ dầu, và họ cũng thấy tập đoàn nỗ lực thực hiện những chính sách môi trường sạch sẽ như thế nào. Nhiều nhân viên của Chevron thừa nhận với tôi rằng cả quan điểm môi trường và tinh thần nhân viên đều do các chính sách môi trường hiện hữu của công ty tạo nên và còn là động lực đầu tiên thúc đẩy áp dụng các chính sách này.
Cụ thể, ý thức môi trường là một trong những tiêu chuẩn để lựa chọn ban lãnh đạo tập đoàn, và hai Giám đốc Điều hành gần đây nhất của Chevron, đầu tiên là Ken Derr rồi tới David O’Reilly, đều là hai người hết sức lo lắng cho các vấn đề môi trường. Nhân viên của Chevron ở một số nước cho tôi biết, hằng tháng họ và tất cả những nhân viên khác của Chevron trên khắp thế giới nhận được một thư điện tử từ Giám đốc Điều hành thông báo về tình hình hoạt động của công ty. Những thư điện tử này cũng thường xuyên đề cập tới các vấn đề an toàn và môi trường và nhấn mạnh đó là những ưu tiên hàng đầu, và mang lại những lợi ích kinh tế cho tập đoàn. Bởi vậy, các nhân viên rất coi trọng các vấn đề môi trường, chứ không phải chỉ là một hình thức lòe bịp công chúng và ngay cả tập đoàn cũng không quan tâm. Nhận xét đó đúng như một kết luận mà Thomas Peters và Robert Waterman Jr. viết trong cuốn sách về quản trị kinh doanh bán rất chạy của họ In Search of Excellence: Lessons from America’s Best-Run Companies (tạm dịch: Bài học thành công của các tập đoàn quản trị tốt nhất nước Mỹ). Hai tác giả thấy rằng nếu các nhà quản lý muốn nhân viên của mình cư xử theo một cách nào đó, thì động cơ hiệu quả nhất đối với nhân viên chính là học tập cách cư xử của bản thân các nhà quản lý.
Cuối cùng, hiện các công nghệ mới cũng giúp các tập đoàn dầu lửa hoạt động sạch hơn so với trước đây. Ví như, một số giếng ngang hoặc nghiêng giờ có thể khoan từ cùng một vị trí trên mặt đất, trong khi trước đây tất cả các giếng đều phải khoan dọc từ một vị trí riêng biệt trên mặt đất, và mỗi giếng đều gây ra những tác động môi trường. Những mảnh đá vụn bị nghiền nhỏ trong khi khoan giếng giờ có thể được bơm vào một hệ địa chất biệt lập dưới lòng đất chứa dầu không sử dụng được, thay vì phải chôn đá thải xuống một hầm mỏ hay đổ xuống biển như trước đây. Sản phẩm phụ khí tự nhiên thu được trong quá trình hút dầu giờ hoặc được phun trở lại vào một tầng chứa ngầm dưới đất (đã được sử dụng trong dự án Kutubu), hoặc (như ở một số mỏ dầu khác) được vận chuyển ra ngoài bằng đường ống hay được hóa lỏng để dự trữ và vận chuyển bằng tàu biển và mang đi bán, chứ không phải đốt lãng phí. Tại nhiều mỏ dầu, như phần lớn các mỏ dầu ở Kutubu, việc điều hành công tác khoan thăm dò giờ được thực hiện chủ yếu bằng trực thăng, thay vì phải xây dựng những con đường; tất nhiên sử dụng trực thăng cũng tốn kém, nhưng làm đường và những tác động môi trường liên quan còn tốn kém hơn nhiều.
Bởi vậy, đây là những lý do vì sao Chevron và chỉ một số ít các tập đoàn dầu lửa quốc tế lớn khác coi trọng các vấn đề môi trường. Tất cả đều thừa nhận rằng các hoạt động bảo vệ môi trường đem lại lợi nhuận cao hơn cho họ và về lâu dài, giúp họ tiếp cận những mỏ dầu, khí mới dễ dàng hơn. Nhưng tôi cũng phải khẳng định lại rằng không phải tất cả mọi hoạt động của ngành dầu lửa đều mang tính trách nhiệm, sạch sẽ và đáng khen ngợi. Trong số những vấn đề nghiêm trọng, tồn tại dai dẳng và bị dư luận chỉ trích nhiều nhất là những sự cố tràn dầu lớn diễn ra gần đây ở ngoài biển do những chiếc tàu chở dầu vỏ đơn chất lượng kém, ít được bảo dưỡng bị chìm (như vụ tàu chở dầu Prestige 26 năm tuổi bị đắm ngoài khơi Tây Ban Nha năm 2002). Số tàu già cỗi này chủ yếu thuộc về các công ty vận tải biển chứ không phải các tập đoàn dầu lửa lớn, hầu hết đã chuyển sang sử dụng tàu chở dầu vỏ kép. Những vấn đề lớn khác bao gồm sự kế thừa những cơ sở cũ kỹ, lạc hậu và ô nhiễm môi trường được xây dựng từ trước khi xuất hiện những công nghệ sạch và rất khó hay rất tốn kém để nâng cấp với những thiết bị mới (ví dụ như tại Nigeria và Ecuador); và những hoạt động dưới sự bảo hộ của các chính phủ lạm quyền và tham nhũng, như ở Nigeria và Indonesia. Trường hợp công ty Chevron Nuigini lại là một minh họa về khả năng của một công ty dầu lửa hoạt động theo cách mang lại những lợi ích môi trường cho vùng đất mà công ty đang hoạt động và cho những người dân ở đó - nhất là khi so sánh với những lợi ích dự kiến khi sử dụng chính khu vực này vào các hoạt động khác như khai thác gỗ, hay thậm chí chỉ là săn bắn và trồng trọt kiếm kế sinh nhai. Trường hợp này cũng chứng tỏ những yếu tố kết hợp mang lại kết quả tại các mỏ dầu Kutubu mà không một dự án công nghiệp lớn nào khác có thể đạt được, và vai trò tiềm năng của công chúng trong việc chi phối những kết quả này.
Đặc biệt, tôi vẫn phân vân tại sao năm 1986, khi tôi tới thăm mỏ dầu Salawati của công ty dầu lửa Pertamina Indonesia chỉ thấy sự thờ ơ trước những vấn đề môi trường, nhưng năm 1998, khi tới thăm mỏ dầu Kutubu của Chevron, tôi lại tận mắt chứng kiến các hoạt động bảo vệ môi trường nghiêm ngặt. Có một số khác biệt giữa hoàn cảnh của Pertamina với vai trò là một công ty dầu lửa quốc gia của Indonesia vào năm 1986, và hoàn cảnh của Chevron như một công ty quốc tế hoạt động tại Papua New Guinea năm 1998, đây có thể chính là nguyên nhân đem lại những kết quả khác nhau. Chính phủ, pháp luật và công chúng Indonesia năm 1986 ít quan tâm và không yêu cầu nhiều đối với hành vi của các công ty dầu lửa so với các đối tác Mỹ và châu Âu là những khách hàng chủ yếu của Chevron. Nhân viên Indonesia của Pertamina cũng ít quan tâm hơn tới các vấn đề môi trường so với các nhân viên người Australia và người Mỹ của Chevron. Papua New Guinea là một nền dân chủ mà công dân được quyền tự do ngăn cản những dự án phát triển, nhưng Indonesia năm 1986 là một chế độ độc tài quân sự mà công dân không có quyền tự do này. Ngoài ra, chính quyền Indonesia bị kiểm soát bởi những người từ hòn đảo Java đông dân nhất nước này, và họ coi phần đất New Guinea thuộc Indonesia như một nguồn thu nhập và là nơi giải tỏa số dân dư thừa của Java, và không mấy quan tâm tới ý kiến của người New Guinea như chính quyền Papua New Guinea, sở hữu nửa phía đông trên cùng một hòn đảo. Pertamina không phải đối mặt với vấn đề tiêu chuẩn môi trường của chính phủ Indonesia ngày càng cao, như các công ty dầu lửa quốc tế phải đối mặt. Pertamina là công ty dầu lửa trong nước, chủ yếu hoạt động ở Indonesia và ít cạnh tranh giành giật hợp đồng ở nước ngoài so với các tập đoàn quốc tế lớn, bởi vậy Pertamina không có động cơ phải tạo lợi thế cạnh tranh quốc tế từ việc thực hiện các chính sách môi trường sạch. Pertamina cũng không có những Giám đốc Điều hành hằng tháng gửi bản tin nhấn mạnh môi trường là vấn đề ưu tiên cao nhất. Cuối cùng, chuyến thăm của tôi tới mỏ dầu Salawati của Pertamina là vào năm 1986; tôi cũng không biết liệu từ đó tới nay các chính sách của Pertamina có thay đổi không.
Giờ chúng ta hãy chuyển từ ngành dầu, khí sang ngành khai thác khoáng sản rắn. (Thuật ngữ này chỉ các mỏ khai thác quặng để chiết xuất kim loại, khác với các mỏ khai thác than). Hiện đây là ngành gây ô nhiễm độc hại hàng đầu nước Mỹ, chịu trách nhiệm tới một nửa tình trạng ô nhiễm công nghiệp. Gần một nửa số sông phía tây nước Mỹ có những đoạn thượng nguồn bị ô nhiễm do khai thác mỏ. Phần lớn ngành khai thác khoáng sản rắn của Mỹ hiện đang trên đà suy thoái, có xu hướng chấm dứt hoạt động hoàn toàn, chủ yếu bởi chính những hành vi gây tổn hại môi trường nghiêm trọng của nó. Các nhóm môi trường đa phần không khó khăn khi tìm hiểu những thực tế cốt yếu của ngành khai thác khoáng sản rắn và đã từ chối tham gia sáng kiến quốc tế đầy triển vọng mà ngành này khởi xướng năm 1998 nhằm thay đổi hành vi của mình.
Những đặc điểm này và một số đặc điểm khác của ngành công nghiệp khai thác khoáng sản rắn ban đầu gây bối rối, bởi ngành này bề ngoài dường như rất giống với ngành khai thác dầu khí mà chúng ta vừa thảo luận, và cũng rất giống ngành than. Cả ba ngành này đều tham gia khai thác các nguồn tài nguyên không tái sinh từ lòng đất? Đúng như vậy, nhưng tuy nhiên chúng có những điểm khác biệt bởi ba lý do: kinh tế và công nghệ khác nhau, quan niệm của mỗi ngành cũng khác nhau, quan niệm của công chúng và chính phủ đối với mỗi ngành cũng khác nhau.
Khai thác khoáng sản rắn gây ra một số vấn đề môi trường nghiêm trọng. Đầu tiên là mặt đất bị phá vỡ do bị đào tung lên. Vấn đề này diễn ra đặc biệt phổ biến ở các mỏ nằm sát mặt đất, mỏ lộ thiên, do quặng nằm sát mặt đất và chỉ cần bóc lớp đất phủ bên trên. Ngược lại, hiện chẳng ai khai thác dầu lửa bằng cách bóc toàn bộ lớp đất mặt của một thành hệ chứa dầu; thay vào đó, các công ty dầu lửa thường chỉ bóc lớp đất mặt trên một diện tích nhỏ đủ để khoan một giếng xuyên vào thành hệ chứa dầu. Tương tự, có một số mỏ thân quặng không nằm gần mặt đất mà nằm sâu dưới lòng đất, và những mỏ sử dụng phương pháp hầm lò cùng những đống đất đá thải chỉ làm xáo trộn một diện tích đất mặt nhỏ để đào sâu xuống thân quặng.
Những vấn đề môi trường khác mà ngành khai thác khoáng sản rắn gây ra liên quan tới ô nhiễm nước do chính các chất kim loại, các loại hóa chất xử lý quặng, nước thải axit và cặn lắng gây ra. Kim loại và các yếu tố như kim loại có trong quặng, nhất là đồng, cadimi, chì, thủy ngân, kẽm, thạch tín, antimo và selen là những chất độc và có khả năng gây bệnh cho con người nếu thấm vào những dòng suối bên cạnh hay các mực nước ngầm do các hoạt động khai thác mỏ. Một ví dụ điển hình là hàng loạt ca mắc các bệnh về xương do một mỏ khai thác chì và kẽm thải cadimi vào sông Jinzu của Nhật Bản. Có khá nhiều loại hóa chất được sử dụng trong khai thác mỏ như xyanua, thủy ngân, axit sunfuric và nitrat do thuốc nổ sinh ra, cũng là những chất độc hại. Mới gần đây, con người ngày càng nhận thức sâu sắc rằng axit thoát ra từ các loại quặng có chứa sulfua có thể thấm vào nước và phát tán vào không khí qua các hoạt động khai thác mỏ, gây ô nhiễm nước nghiêm trọng và mang theo những chất kim loại. Cặn lắng thoát ra khỏi mỏ theo nguồn nước thải cũng có thể gây hại cho các loài thủy sinh, bồi lắng khiến lòng sông, suối nơi sinh sản của cá dâng cao. Ngoài những loại hình ô nhiễm đó, chỉ riêng vấn đề tiêu thụ nước của nhiều mỏ cũng đã là một vấn đề quan trọng.
Vấn đề môi trường còn lại liên quan tới bãi thải, nơi đổ các loại chất thải đào lên trong quá trình khai thác, bao gồm bốn thành phần: đất đá phủ (lớp đất đá bề mặt phải bóc đi để tiếp cận tới quặng); đá thải tìm thấy nhưng chứa quá ít quặng có giá trị kinh tế; quặng thải, phần bã quặng đã nghiền nhỏ sau khi tuyển khoáng; và phần bã trên nền các đống quặng hòa tách sau khi tuyển khoáng. Hai loại bã thải sau thường bị để lại ngay trong bể chứa quặng thải của xưởng tuyển khoáng hoặc trên nền của đống quặng, trong khi lớp đất đá thải được đổ ra các bãi thải. Tùy thuộc vào pháp luật của nước nơi khai thác, thì phương pháp xử lý quặng thải (nước bùn và các chất thải rắn) hoặc là đổ xuống sông, biển hoặc đổ thành bãi thải trên đất liền, hoặc (phổ biến nhất) là chất đống chúng đằng sau chiếc đập ngăn chất thải. Đáng tiếc là số đập này có tỷ lệ vỡ cao do chúng được thiết kế không đủ bền (để tiết kiệm tiền), và thường được xây bằng chính những loại chất thải từ khai thác rẻ tiền chứ không phải bằng bê tông, và chúng được xây dựng trong thời gian quá lâu, vì vậy trạng thái của chúng cần phải được giám sát thường xuyên và không được kiểm tra nghiệm thu để tuyên bố chúng đã hoàn tất và đủ độ an toàn. Trung bình mỗi năm trên toàn thế giới có một vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra liên quan tới đập chắn quặng thải. Sự cố lớn nhất là thảm họa Buffalo Creek xảy ra tại Tây Virginia, Mỹ năm 1972, làm chết 125 người.
Một số vấn đề môi trường này được thể hiện rõ ràng ở thực trạng của bốn mỏ giá trị nhất của New Guinea và những đảo lân cận, nơi tôi từng khảo sát thực địa. Mỏ đồng tại Panguna trên đảo Bougainville của Papua New Guinea trước đây từng là doanh nghiệp lớn nhất và là nguồn thu ngoại tệ lớn nhất nước, và còn là một trong những mỏ đồng lớn nhất thế giới. Mỏ này đổ tất cả quặng thải trực tiếp xuống một nhánh của sông Jaba, gây ra những tác động môi trường cực kỳ lớn. Khi chính phủ bất lực, không giải quyết được vấn đề ô nhiễm này, cùng với ảnh hưởng từ một loạt vấn đề chính trị và xã hội khác, người dân vùng Bougainville đã nổi loạn, gây ra cuộc nội chiến cướp đi mạng sống của hàng ngàn người và suýt nữa chia cắt đất nước Papua New Guinea. Mười lăm năm sau cuộc nổi dậy, hòa bình vẫn chưa hoàn toàn được khôi phục ở Bougainville. Tất nhiên mỏ Panguna phải đóng cửa và không có triển vọng phục hồi sản xuất, những chủ sở hữu và chủ nợ (có cả ngân hàng Mỹ, ngân hàng Xuất Nhập khẩu Mỹ, những nhà đầu tư và chủ nợ Nhật Bản) mất toàn bộ những khoản đầu tư. Sự kiện này là một trong những lý do vì sao Chevron hợp tác chặt chẽ với các tá điền bản địa tại các mỏ dầu Kutubu để được cư dân địa phương chấp thuận.
Mỏ vàng trên đảo Lihir đổ quặng thải xuống biển qua một đường ống dài (phương pháp mà các nhà môi trường đánh giá là gây tổn hại rất lớn), và những người chủ mỏ vàng cho rằng biện pháp này là vô hại. Cho dù tác động của mỏ vàng đó tới đời sống biển xung quanh đảo Lihir như thế nào, thì thế giới cũng sẽ gặp phải một vấn đề lớn nếu nhiều mỏ khác cũng bắt chước mỏ này đổ quặng thải của họ xuống biển. Mỏ đồng Ok Tedi trên lục địa New Guinea cũng xây dựng một đập chắn quặng thải, nhưng trước khi nó được xây dựng, các chuyên gia được xem xét thiết kế của đập đã cảnh báo rằng chiếc đập sẽ sớm bị vỡ. Quả thực, chỉ vài tháng sau chiếc đập đã vỡ, và hiện mỗi ngày có 200.000 tấn quặng thải và đất đá thải của mỏ bị thải vào sông Ok Tedi và phá hủy hoàn toàn ngành thủy sản ở đây. Dòng chảy của Ok Tedi đổ trực tiếp vào dòng sông Fly River lớn nhất và có nguồn thủy sản giá trị nhất New Guinea, mức độ cặn lơ lửng hiện đã tăng gấp năm lần, dẫn tới lũ lụt, đất đá thải của mỏ lắng đọng trên đáy sông, giết chết toàn bộ các loài thực vật sinh sống dưới đáy sông trên một diện tích tới nay rộng 321 kilômét vuông. Ngoài ra, một xà lan chở đầy những thùng xyanua cung cấp cho mỏ đã bị đắm trên sông Fly River, vỏ thùng dần dần bị ăn mòn khiến xyanua rò rỉ vào nước sông. Năm 2001, BHP, tập đoàn khai thác mỏ lớn thứ tư thế giới điều hành mỏ Ok Tedi, đã đóng cửa mỏ này và tuyên bố: “Ok Tedi không tương thích với các giá trị môi trường của chúng tôi, và lẽ ra chúng tôi không nên khai thác mỏ này”. Tuy nhiên, do Ok Tedi chiếm tới 20% tổng doanh thu xuất khẩu của Papua New Guinea nên chính phủ nước này lại thu xếp để mỏ tiếp tục hoạt động, mặc dù BHP đã rút lui. Cuối cùng là mỏ đồng và vàng Grasberg-Ertsberg của vùng đất New Guinea thuộc Indonesia, một mỏ lộ thiên lớn giá trị nhất Indonesia, cũng đổ trực tiếp quặng thải xuống sông Mimika, tràn tới tận vùng nước nông của biển Arafura nằm giữa New Guinea và Australia. Cùng với mỏ Ok Tedi và một mỏ vàng khác ở New Guinea, mỏ Grasberg-Ertsberg là một trong số ba mỏ lớn duy nhất trên thế giới hiện đang do một tập đoàn quốc tế điều hành và đổ chất thải vào các dòng sông.
Chính sách phổ biến hiện nay của các công ty khai thác mỏ đối với vấn đề tổn hại môi trường là chỉ làm sạch và phục hồi môi trường khu vực đã khai thác sau khi mỏ đã ngừng hoạt động, không như ngành than tiến hành hoàn nguyên ngay trong quá trình khai thác; ngành khai thác khoáng sản rắn phản đối chiến lược này. Các công ty cho rằng cái gọi là phục hồi sau khi “rời đi” sẽ thích hợp hơn bởi phương pháp này sẽ giảm tối thiểu chi phí làm sạch và phục hồi, và chỉ tiến hành trong thời gian từ 2-12 năm sau khi đóng cửa mỏ (và rồi thì công ty có thể chuyển đi nơi khác mà hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm gì nữa), và công việc phục hồi sẽ chỉ là tạo lại độ nghiêng của khu vực đã bị phá hủy để ngăn chặn xói mòn, áp dụng phương pháp trồng thực vật như tận dụng lớp đất mặt để tái trồng cây, xử lý nước thải chảy ra từ khu vực mỏ trong thời gian vài năm. Thực tế, chiến lược “rời đi” chi phí thấp này sẽ không bao giờ áp dụng được với bất kỳ mỏ hiện đại lớn nào và thường xuyên có nước thải vi phạm tiêu chuẩn chất lượng nước. Thay vào đó, cần làm sạch và trồng lại cây đối với toàn bộ các khu vực có thể là nguồn thoát nước thải axit, thu giữ và xử lý toàn bộ nguồn nước ngầm và nước mặt ô nhiễm chảy ra từ mỏ cho tới khi nước không còn ô nhiễm, có nghĩa là mãi mãi. Các chi phí trực tiếp và gián tiếp làm sạch và hoàn nguyên trên thực tế thường cao gấp 1,5-2 lần so với phương pháp “rời đi” đối những mỏ không có nước thải axit, và cao gấp 10 lần đối với những mỏ có nước thải axit. Điểm mù mờ nhất trong các chi phí này là xác định một mỏ có thải ra nước axit không, đây là một vấn đề mới được thừa nhận gần đây tại các mỏ đồng mặc dù trước đó đã được đánh giá tại các mỏ khác, và hầu như chưa từng đánh giá chính xác.
Các công ty khai thác khoáng sản rắn phải đối mặt với các chi phí làm sạch môi trường thường lẩn trốn trách nhiệm bằng cách tuyên bố phá sản và chuyển giao tài sản cho các công ty khác do chính những cá nhân đó lập ra. Một trong những ví dụ đó là mỏ vàng Zortman-Landusky của Montana đã đề cập trong Chương 1 và do công ty Pegasus Gold Inc. của Canada điều hành. Năm 1979, khi mới thành lập đây là mỏ vàng lộ thiên quy mô lớn đầu tiên của Mỹ khai thác bằng phương pháp hòa tách đống có sử dụng xyanua và là mỏ vàng lớn nhất Montana. Mỏ này liên tục gây ra hàng loạt những vụ rò rỉ, tràn xyanua và nước thải axit, và còn được bao che bởi thực tế cả chính quyền liên bang và chính quyền bang Montana đều không yêu cầu công ty phải thử nghiệm tìm nước thải axit. Năm 1992, thanh tra của bang xác định rằng mỏ này đang gây ô nhiễm các dòng suối với các kim loại nặng và axit. Năm 1995, Pegasus Gold chấp thuận đền bù 36 triệu đô-la để giải quyết tất cả những vụ kiện của chính quyền liên bang, chính quyền tiểu bang và các bộ lạc Da đỏ ở địa phương. Cuối cùng, năm 1998, thời điểm chưa tới 15% khu mỏ được hoàn nguyên bề mặt, ban lãnh đạo Pegasus Gold biểu quyết tự thưởng cho mình hơn 5 triệu đô-la, và chuyển giao toàn bộ phần tài sản còn lại vẫn còn khả năng sinh lời của Pegasus cho một công ty mới là Apollo Gold mà họ vừa thành lập, rồi tuyên bố Pegasus Gold phá sản. (Cũng giống như hầu hết ban lãnh đạo các mỏ khác, những lãnh đạo của Pegasus Gold không sống ở hạ lưu của nguồn nước ô nhiễm do mỏ Zortman-Landusky gây ra, vì vậy họ chính là những đối tượng không bị tác động từ những hậu quả do hành động của họ gây ra như đã thảo luận trong Chương 14). Sau đó chính quyền tiểu bang và liên bang thông qua một kế hoạch hoàn nguyên bề mặt với chi phí lên tới 52 triệu đô-la, trong đó 30 triệu đô-la nằm trong khoản 36 triệu đô-la do Pegasus thanh toán, và những người đóng thuế của nước Mỹ phải gánh chịu 22 triệu đô-la. Tuy nhiên, kế hoạch hoàn nguyên bề mặt này vẫn chưa bao gồm những chi phí xử lý nước thải vĩnh viễn, như vậy khoản chi phí mà những người chịu thuế gánh chịu sẽ cao hơn nhiều. Hoá ra 5 trong số 13 mỏ lớn khai thác khoáng sản rắn gần đây của Montana, thì có bốn mỏ khai thác bằng phương pháp hòa tách đống lộ thiên bằng xyanua (kể cả mỏ Zortman-Landusky), đều thuộc sở hữu của Pegasus Gold Inc., đã bị phá sản và 10 mỏ lớn sẽ bị yêu cầu xử lý nước mãi mãi, do vậy làm tăng chi phí đóng cửa mỏ và hoàn nguyên của các mỏ này lên tới 100 lần so với dự kiến trước đó.
Một vụ phá sản khác khiến người đóng thuế Mỹ tốn kém nhiều hơn cũng là một mỏ vàng khai thác bằng phương pháp hòa tách đống thuộc sở hữu của một công ty Canada khác, đó là mỏ Summitville của công ty Galactic Resources nằm ở vùng miền núi của Colorado, mỗi năm có tuyết rơi dày tới hơn 9 mét. Năm 1992, tám năm sau khi bang Colorado cấp giấy phép hoạt động cho Galactic Resources, công ty tuyên bố phá sản và nhanh chóng đóng cửa mỏ trong thời gian chưa đến một tuần kể từ ngày thông báo, để lại một khoản nợ thuế lớn với chính quyền địa phương, sa thải nhân viên, chấm dứt các biện pháp bảo vệ môi trường thiết yếu và bỏ hoang mỏ này. Vài tháng sau, khi mùa đông đến và tuyết bắt đầu rơi, hệ thống hòa tách đống bị tràn, xyanua thoát ra ngoài hủy diệt cả một đoạn sông Alamosa dài 29 kilômét. Sau này công chúng mới phát hiện ra rằng tiểu bang Colorado chỉ buộc Galactic Resources phải đặt cọc số tiền bảo lãnh 4,5 triệu đô-la khi cấp giấy phép hoạt động, nhưng chi phí làm sạch ô nhiễm do công ty này gây ra lên tới 180 triệu đô-la. Sau khi chính phủ đòi thêm được một khoản 28 triệu đô-la như một phần của thủ tục giải quyết phá sản, thì những người đóng thuế vẫn phải gánh chịu 147.500.000 đô-la thông qua Cơ quan Bảo vệ Môi trường.
Từ những kinh nghiệm đó, rốt cuộc chính quyền các tiểu bang và liên bang Mỹ đã bắt đầu yêu cầu các công ty khai thác khoáng sản rắn phải đặt cọc một số tiền bảo lãnh đủ để thanh toán chi phí làm sạch và khôi phục môi trường, đề phòng công ty sau này không chịu thanh toán hay mất khả năng tài chính để làm sạch môi trường. Đáng tiếc là những chi phí bảo lãnh này thường được quyết định dựa trên tính toán chi phí làm sạch do chính công ty khai thác đưa ra, bởi các cơ quan quản lý nhà nước không có thời gian, chuyên môn và kế hoạch khai thác mỏ cần thiết để tự tính toán. Trong nhiều trường hợp, các công ty khai thác không thực hiện nghĩa vụ làm sạch môi trường buộc chính quyền phải dùng tới khoản bảo lãnh này, và chi phí làm sạch thực tế có khi tốn kém gấp 100 lần so với đánh giá mà công ty khai thác đã đưa ra. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên bởi đánh giá là của công ty nên họ thường đánh giá thấp do không có biện pháp tài chính khuyến khích nào cũng như quy định pháp luật nào buộc họ phải đánh giá chính xác. Khoản bảo lãnh được nộp bằng một trong ba hình thức: tiền mặt hoặc thư tín dụng, hình thức an toàn nhất; trái phiếu mà công ty khai thác mua của một công ty bảo hiểm với một khoản phí thường niên; và một khoản “tự bảo lãnh” có nghĩa là công ty tự nguyện cam kết thực hiện nghĩa vụ làm sạch môi trường và lấy tài sản của họ để bảo lãnh. Tuy nhiên, do các cam kết thường xuyên bị vi phạm nên “tự bảo lãnh” trở thành hình thức vô nghĩa, và hiện không còn được chấp nhận cho những mỏ hoạt động trên đất của liên bang, nhưng vẫn là hình thức được áp dụng phổ biến nhất tại Arizona và Nevada, hai tiểu bang thân thiện với ngành mỏ nhất nước Mỹ.
Những người đóng thuế Mỹ hiện đang phải gánh trách nhiệm làm sạch và phục hồi các mỏ khoáng sản rắn với số chi phí lên tới 12 tỷ đô-la. Tại sao trách nhiệm của chúng ta lại lớn tới vậy khi chính phủ đã yêu cầu bảo lãnh tài chính để làm sạch môi trường? Trong các khó khăn đó có phần bởi những khoản bảo lãnh tài chính do các công ty khai thác đưa ra nên luôn bị đánh giá thấp như vừa đề cập bên trên, và hai tiểu bang mà người đóng thuế phải chịu trách nhiệm lớn nhất (Arizona và Nevada) lại chấp nhận hình thức “tự bảo lãnh” của các công ty và không bắt buộc phải phát hành trái phiếu. Thậm chí ngay cả khi có mua trái phiếu của công ty bảo hiểm nhưng chi phí không đủ, thì người chịu thuế cũng phải chịu khoản chi phí tăng thêm giống như trường hợp bất cứ ai trong chúng ta cũng muốn được bồi thường bảo hiểm nhiều hơn nếu chẳng may bị cháy nhà. Công ty bảo hiểm thường đòi giảm số tiền thanh toán từ trái phiếu theo lối nói hoa mỹ là “thương lượng”: Ví dụ, “nếu anh không chấp nhận khoản thanh toán thấp hơn, thì hãy nghĩ tới khoản chi phí thuê luật sư và chờ đợi năm năm để tòa án phân xử vụ kiện”. (Một người bạn của tôi bị cháy nhà từng phải mất hơn một năm khốn khổ vì những thương lượng kiểu này). Sau đó công ty bảo hiểm thanh toán số tiền theo trái phiếu hoặc như đã thương lượng trong suốt thời gian làm sạch và phục hồi môi trường, nhưng trái phiếu lại không có điều khoản tính toán chi phí phát sinh không thể tránh được trong suốt khoảng thời gian đó. Bởi vậy, không chỉ những công ty khai thác mà đôi khi cả những công ty bảo hiểm trước nguy cơ phải chịu những trách nhiệm lớn đã nộp đơn xin phá sản. Trong số 10 mỏ khiến người đóng thuế Mỹ phải chịu trách nhiệm lớn nhất về môi trường (chiếm tới khoảng một nửa tổng số 12 tỷ đô-la), thì có hai mỏ thuộc sở hữu của một công ty khai thác đang bên bờ của sự phá sản (công ty ASARCO với khoản chi phí làm sạch môi trường khoảng 1 tỷ đô-la), sáu mỏ khác thuộc sở hữu của các công ty cực kỳ chây ỳ khi thực hiện các nghĩa vụ của mình, chỉ có hai mỏ thuộc sở hữu của các công ty ít chây ỳ hơn, và cả 10 mỏ này đều có khả năng thải nước thải có chứa axit và có thể đòi hỏi phải xử lý nước lâu dài hoặc mãi mãi.
Không có gì đáng ngạc nhiên, do những người đóng thuế phải gánh những hóa đơn thanh toán, nên có sự phản đối dữ dội của công chúng đối với hoạt động của ngành mỏ tại Montana và một số tiểu bang khác. Tương lai của ngành khai thác khoáng sản rắn tại Mỹ rất ảm đạm, ngoại trừ những mỏ vàng ở bang Nevada với những quy định pháp luật lỏng lẻo và những mỏ bạch kim/palađi tại Montana (một trường hợp đặc biệt mà tôi sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau). Năm 1938, chỉ một phần tư số sinh viên đại học năm cuối của Mỹ (khoảng 578 sinh viên trên toàn nước Mỹ) xác định sẽ làm việc trong ngành mỏ, mặc dù đó là thời gian bùng nổ số sinh viên đại học. Từ năm 1995, sự phản đối của công chúng Mỹ ngày càng thành công trong việc cản trở một số dự án khai thác và ngành mỏ không còn có thể nhờ cậy vào những chuyên gia vận động hành lang hay những nhà lập pháp quen thuộc để đưa ra những quy định có lợi cho mình. Ngành khai thác khoáng sản rắn là ví dụ điển hình của một ngành kinh doanh chỉ quan tâm tới những lợi ích trước mắt của bản thân mà không quan tâm tới lợi ích của công chúng, nên về lâu về dài họ đã tự mình chuốc lấy thất bại và dần đi đến chỗ diệt vong.
Hậu quả đáng buồn này ban đầu gây ngạc nhiên. Cũng như ngành dầu lửa, ngành khai thác khoáng sản rắn cũng được hưởng lợi từ những chính sách môi trường tốt, thông qua chi phí lao động thấp hơn (tốc độ thay thế nhân viên thấp hơn và thời gian nhân viên nghỉ việc cũng ít hơn), nhân viên hài lòng với công việc hơn, chi phí chăm sóc sức khỏe thấp hơn, các khoản vay ngân hàng và các chính sách bảo hiểm cũng rẻ hơn, khả năng được công chúng chấp nhận cao hơn, giảm nguy cơ bị công chúng cản trở thực hiện dự án, chi phí lắp đặt công nghệ hiện đại ngay từ giai đoạn đầu của dự án khá rẻ so với việc trang bị bổ sung những thiết bị mới cho công nghệ lạc hậu khi các tiêu chuẩn môi trường ngày càng nghiêm ngặt hơn. Vậy tại sao ngành khai thác khoáng sản rắn lại lựa chọn hành vi tự chuốc lấy thất bại như vậy, nhất là khi ngành dầu lửa và ngành than cũng phải đối mặt với những vấn đề tương tự nhưng lại không bị đẩy tới chỗ diệt vong? Để có câu trả lời cần nghiên cứu ba yếu tố mà tôi đã nêu bên trên: Kinh tế, quan niệm của ngành mỏ và quan niệm của xã hội.
Các yếu tố kinh tế khiến khả năng chịu đựng chi phí làm sạch môi trường của ngành khai thác khoáng sản rắn kém hơn so với ngành dầu lửa (hay thậm chí cả ngành than) bao gồm lợi nhuận biên thấp hơn, lợi nhuận bấp bênh hơn, chi phí làm sạch lớn hơn, các vấn đề ô nhiễm kéo dài hơn và phức tạp hơn, ít có khả năng chuyển các chi phí môi trường này sang người tiêu dùng, nguồn vốn hấp thụ các chi phí này cũng ít hơn và lực lượng lao động cũng khác. Trước hết là, mặc dù một số công ty khai thác này có lợi nhuận cao hơn các công ty khai thác khác, nhưng xét về tổng thể, toàn ngành mỏ có mức lợi nhuận biên thấp với tỷ lệ hoàn vốn trong bình trong suốt 25 năm qua thậm chí còn không bù đắp nổi chi phí vốn. Có nghĩa là, nếu giám đốc điều hành một công ty khai thác có khoản tiền để dành là 1.000 đô-la đã đầu tư từ năm 1979, như vậy tới năm 2000, khoản đầu tư chắc chỉ tăng 2.200 đô-la nếu đầu tư vào cổ phiếu của ngành thép; và sẽ chỉ tăng tới 1.530 đô-la nếu đầu tư vào cổ phiếu của ngành kim loại, trừ sắt và thép; và chỉ còn 590 đô-la nếu đầu tư vào cổ phiếu của một mỏ vàng, đây là mức lỗ tịnh còn chưa tính tới lạm phát; nhưng sẽ tăng tới 9.320 đô-la nếu đầu tư vào một quỹ hỗ tương trung bình. Còn nếu bạn là một thợ mỏ, bạn sẽ chẳng được lợi một đồng nào nếu đầu tư vào ngành của mình.
Thậm chí những lợi tức xoàng xĩnh cũng bấp bênh, cả ở mỗi mỏ riêng biệt và trong toàn ngành. Trong khi riêng một giếng dầu trong một mỏ dầu đã khảo sát đôi khi cũng bất ngờ bị cạn kiệt, nhưng trữ lượng và chất lượng dầu trong cả một mỏ dầu thường cũng tương đối dễ đoán trước. Nhưng chất lượng (dựa vào hàm lượng kim loại và khả năng lợi nhuận đi cùng) của quặng kim loại thường thay đổi khó lường trước khi đào xuyên qua một vỉa quặng. Có tới một nửa số mỏ hiện đang được triển khai rõ ràng hoạt động không có lãi. Lợi nhuận trung bình của toàn bộ ngành khai thác mỏ cũng khó có thể đoán trước, bởi giá kim loại nổi tiếng là không ổn định và dao động thất thường so với giá cả hàng hóa thế giới, ở mức độ cao hơn so với giá dầu và giá than. Những lý do khiến giá kim loại thế giới không ổn định cũng rất phức tạp, bao gồm cả lý do trọng lượng nhỏ hơn và số lượng kim loại tiêu thụ luôn thấp hơn so với than và dầu (điều đó giúp cho kim loại được dự trữ dễ hơn); chúng ta luôn nhận thức được rằng mình cần dầu và than chứ những đồ như vàng và bạc là những vật dụng xa xỉ không cần thiết trong một thời kỳ kinh tế suy thoái. Thực tế là sự dao động của giá vàng là do những yếu tố chẳng liên quan gì tới việc cung cấp vàng và nhu cầu công nghiệp về vàng, đó chính là đầu cơ, các nhà đầu tư mua vàng khi họ cảm thấy lo lắng về thị trường chứng khoán, và chính phủ tung nguồn vàng dự trữ của mình ra bán.
Các mỏ khoáng sản rắn gây ra nhiều chất thải hơn nên đòi hỏi chi phí làm sạch tốn kém hơn nhiều so với các giếng dầu. Chất thải được bơm lên từ một giếng dầu và phải xử lý chủ yếu là nước, thông thường tỷ lệ dầu và nước chỉ vào khoảng 1/1 hay không cao hơn nhiều lắm. Nếu không làm đường dẫn tới giếng dầu và thi thoảng mới xảy ra sự cố tràn dầu thì hoạt động khai thác dầu và khí ít gây ảnh hưởng tới môi trường. Ngược lại, kim loại chỉ là một phần rất nhỏ của một tảng quặng có chứa kim loại, rồi quặng lại chỉ là một mảnh nhỏ trong lượng đất đá thải phải đào lên để lấy quặng. Bởi vậy tỷ lệ chất thải với kim loại thường là 400 đối với mỏ đồng, và 5 triệu đối với mỏ vàng. Đó là khối lượng chất thải rất lớn mà các công ty khai thác mỏ cần phải dọn dẹp.
Các vấn đề ô nhiễm của ngành mỏ diễn ra lâu hơn và phức tạp hơn so với ngành dầu lửa. Các vấn đề ô nhiễm dầu chủ yếu nảy sinh từ những vụ tràn dầu rõ ràng và nhanh chóng, trong đó nhiều sự cố có thể tránh được nếu làm tốt công tác kiểm tra và bảo dưỡng và với công nghệ cơ khí tiên tiến (như sử dụng tàu chở dầu vỏ kép hơn là tàu vỏ đơn), bởi vậy những vụ tràn dầu vẫn xảy ra hiện nay chủ yếu do lỗi của con người (như vụ tai nạn của tàu chở dầu Exxon Valdez), vẫn có thể giảm được tối thiểu bằng những quy trình huấn luyện khắt khe. Những vụ tràn dầu nói chung có thể làm sạch chỉ trong vài năm hoặc ngắn hơn, và dầu sẽ dần tự thoái hóa. Trong khi các vấn đề ô nhiễm mỏ cũng đôi khi xuất hiện nhanh như một xung điện và đột ngột làm chết rất nhiều cá hay chim (như độc chất xyanua tràn ra từ mỏ Summitville làm chết cá), nhưng hình thức phổ biến hơn cả là rò rỉ các chất độc kéo dài và axit và các kim loại độc hại vô hình và chúng không thể tự suy thoái dần, cứ rò rỉ trong hàng thế kỷ và dần dần gây ảnh hưởng tới sức khỏe của con người chứ không ngay lập tức gây chết người hàng loạt. Những đập chắn quặng thải và những công trình bảo vệ khác đề phòng những sự cố tràn chất thải từ mỏ vẫn tiếp tục có tỷ lệ sụp đổ cao.
Cũng như than, dầu là loại nhiên liệu trọng lượng lớn như chúng ta thấy. Đồng hồ ở các cây xăng cho chúng ta biết mình mua bao nhiêu lít xăng. Chúng ta cũng biết nó được dùng cho việc gì, chúng ta hiểu rõ vai trò quan trọng của nó và chắc hẳn ai cũng từng gặp rắc rối do thiếu xăng dầu, chúng ta lo ngại tình trạng khủng hoảng xăng dầu tái diễn, chúng ta vui mừng khi lúc nào cũng có thể mua xăng dầu cho những chiếc xe hơi của mình, và chúng ta không quá do dự khi phải mua xăng dầu với giá cao hơn. Bởi vậy, hai ngành khai thác dầu lửa và than có thể chuyển chi phí làm sạch môi trường của họ sang người tiêu dùng. Nhưng các ngành kim loại khác, trừ sắt (dưới dạng thép), phần lớn được sử dụng cho những linh kiện nhỏ bé, nằm trong những chiếc xe hơi, điện thoại và các thiết bị khác mà chúng ta không nhìn thấy trực tiếp. (Hãy cho tôi biết thật nhanh mà không tìm kiếm câu trả lời trong bộ sách bách khoa: bạn sử dụng đồng và bạch kim ở đâu, và có bao nhiêu gam vật liệu này trong những vật dụng mà bạn mới mua năm ngoái?). Nếu chi phí môi trường đối với hoạt động khai thác đồng và bạch kim tăng lên khiến giá xe hơi cũng có xu hướng tăng theo, bạn sẽ không tự nhủ rằng: “Chắc chắn tôi sẽ sẵn sàng trả thêm tiền cho mỗi gam đồng và bạch kim, nhưng nếu năm nay tôi vẫn đủ tiền mua xe”. Thay vào đó, bạn sẽ dạo khắp các cửa hàng để tìm một chiếc xe phù hợp với túi tiền của mình. Những người môi giới đồng và bạch kim và các nhà sản xuất xe hơi biết bạn nghĩ gì, và họ ép các công ty khai thác luôn phải giữ giá ở mức thấp. Điều này khiến một công ty khai thác mỏ rất khó chuyển các chi phí môi trường sang người tiêu dùng.
Chi phí dành cho môi trường của các công ty khai thác mỏ ít hơn so với các công ty dầu lửa. Cả ngành dầu lửa và khai thác khoáng sản rắn đều phải đối mặt với các vấn đề tồn đọng từ lâu nay, có nghĩa là gánh nặng chi phí từ một thế kỷ nay của các hoạt động gây tổn hại môi trường trước khi nhận thức môi trường mới được nâng cao gần đây. Để thanh toán các loại chi phí đó, như năm 2001 tổng vốn của toàn ngành khai thác mỏ chỉ 250 tỷ đô-la, và ba tập đoàn lớn nhất (Alcoa, BHP và Rio Tinto) đã chiếm 25 tỷ đô-la mỗi tập đoàn. Nhưng các tập đoàn hàng đầu trong các ngành công nghiệp khác như Wal-Mart Store, Microsoft, Cisco, Pfizer, Citigroup, Exxon-Mobil, và một số tập đoàn khác, đã có số vốn lên tới 250 tỷ đô-la mỗi tập đoàn, trong khi chỉ riêng General Electric đã có số vốn 470 tỷ đô-la (gần gấp đôi giá trị của toàn ngành mỏ). Bởi vậy, những vấn đề tồn đọng từ trước là một gánh nặng tương đối lớn cho ngành khai thác khoáng sản rắn so với ngành dầu lửa. Ví dụ, Phelps-Dodge, tập đoàn khai thác mỏ lớn nhất của Mỹ, hiện đang phải đối mặt với số chi phí đóng cửa mỏ và hoàn nguyên lên tới khoảng 2 tỷ đô-la, tương đương toàn bộ giá trị cổ phiếu trên thị trường của tập đoàn. Trong khi tổng tài sản của công ty chỉ vào khoảng 8 tỷ đô-la, đa phần nằm tại Chile và không thể sử dụng để thanh toán cho các chi phí ở Bắc Mỹ. Ngược lại, công ty dầu lửa ARCO, kế thừa trách nhiệm khoảng 1 tỷ đô-la hoặc cao hơn từ mỏ đồng Butte khi mua lại công ty khai thác đồng Anaconda, lại có tài sản ở Bắc Mỹ trị giá hơn 20 tỷ đô-la. Chỉ riêng yếu tố kinh tế lạnh lùng này đã có thể lý giải vì sao Phelps-Dodge chây ỳ hơn ARCO trong việc làm sạch môi trường.
Bởi vậy, có nhiều lý do kinh tế lý giải vì sao các chi phí môi trường đối với các công ty khai thác mỏ nặng nề hơn so với các công ty dầu lửa. Tóm lại, với các công ty khai thác mỏ, chi phí để vận động đưa ra những quy định pháp luật có lợi cho họ bao giờ cũng rẻ hơn chi phí làm sạch môi trường. Theo như quan niệm của xã hội, với hệ thống pháp luật và quy định đang tồn tại thì thấy rằng chiến lược này mang lại hiệu quả lớn, ít ra là tới tận thời gian gần đây.
Những bất lợi kinh tế đó bị các công ty phóng đại theo quan niệm và văn hóa doanh nghiệp hiện đã trở thành truyền thống trong ngành khai thác khoáng sản rắn. Trong lịch sử của Mỹ, và tương tự như ở Nam Phi và Australia, chính phủ coi ngành mỏ như một công cụ khuyến khích định cư ở miền Tây. Bởi vậy, ngành khai mỏ phát triển ở Mỹ với một cảm giác ảo tưởng, một niềm tin rằng mình được đứng trên pháp luật, và tự coi mình như người cứu rỗi miền Tây - do vậy giá trị của ngành này được đánh giá quá cao so với lợi ích thực tế của nó, như đã thảo luận ở chương trước. Phản ứng trước những lời chỉ trích về môi trường, ban lãnh đạo ngành mỏ thuyết giáo về sự cần thiết của ngành mỏ đối với nền văn minh, và rằng các quy định pháp luật càng chặt chẽ thì hoạt động của ngành mỏ càng bị thu hẹp, như vậy kìm hãm sự phát triển của nền văn minh. Như chúng ta đều biết, nền văn minh cũng không thể tồn tại mà không có dầu lửa, lương thực, gỗ hay sách vở, tuy nhiên các nhà lãnh đạo ngành dầu lửa, những nông dân, những người khai thác gỗ và các nhà xuất bản sách không bám chặt vào điều đó như một trào lưu chính thống tôn giáo của ban lãnh đạo ngành mỏ rằng: “Chúa tạo ra kim loại để phục vụ loài người, nên cần phải được khai thác”. Giám đốc Điều hành và phần lớn nhân viên của một trong những công ty khai mỏ lớn của Mỹ là tín đồ của một tôn giáo rao giảng rằng Chúa sẽ sớm xuống hạ giới, vì vậy nếu chúng ta có thể trì hoãn việc phục hồi đất đai trong khoảng thời gian thêm 5-10 năm nữa thì cũng không sao. Nhiều bạn bè tôi trong ngành khai thác mỏ đã sử dụng nhiều thuật ngữ đầy màu sắc để mô tả các quan niệm phổ biến: “quan niệm cưỡng đoạt rồi bỏ trốn”; “lối suy nghĩ như một trùm tội phạm”; “cuộc chiến phi thường của con người chống lại thiên nhiên”; “những thương gia bảo thủ nhất từ trước tới nay mà tôi từng thấy”; và “một quan niệm bao biện để một mỏ trở thành nơi ban lãnh đạo chơi trò may rủi và làm giàu cho bản thân bằng cách khai thác mạch quặng, chứ không như các công ty dầu lửa với phương châm làm tăng giá trị tài sản của các cổ đông”. Trước những chỉ trích về các vấn đề ô nhiễm môi trường độc hại tại các mỏ, ngành khai mỏ thường phản ứng bằng cách phủ nhận. Nhưng hiện nay tất cả nhân viên làm việc trong ngành dầu lửa đều thừa nhận rằng tràn dầu gây tổn hại tới môi trường và con người, trong khi các nhà điều hành mỏ lại phủ nhận tác hại của sự cố tràn kim loại và axit.
Yếu tố thứ ba ảnh hưởng lớn tới hoạt động môi trường thực tiễn của ngành khai thác mỏ, ngoài yếu tố kinh tế và quan niệm của công ty, là quan niệm của xã hội và chính phủ của chúng ta dung túng cho ngành khai thác tiếp tục những quan niệm sai lầm của họ. Các quy định pháp luật chính của liên bang Mỹ quản lý hoạt động khai thác mỏ vẫn nằm trong Bộ luật chung về khai thác mỏ được ban hành từ năm 1872. Luật này quy định hàng loạt hình thức trợ cấp cho các công ty mỏ, như miễn khoản tiền thuê mỏ lên tới 1 tỷ đô-la mỗi năm nếu khai thác trên đất công, trong một số trường hợp được phép sử dụng đất công không giới hạn để đổ thải, và những hình thức trợ cấp khác khiến người đóng thuế phải gánh tới 250 triệu đô-la mỗi năm. Các quy định cụ thể được chính quyền liên bang thông qua năm 1980, gọi là “3.809 nguyên tắc”, không buộc các công ty khai thác mỏ phải đặt cọc một khoản bảo lãnh tài chính đủ để trang trải các chi phí làm sạch môi trường, và không quy định chặt chẽ việc đóng cửa mỏ và hoàn nguyên. Năm 2000, chính quyền sắp hết nhiệm kỳ của Tổng thổng Clinton đã đệ trình dự thảo các nguyên tắc khai thác mỏ đạt được cả hai mục tiêu này, đồng thời loại bỏ hình thức tự bảo lãnh tài chính của các công ty. Nhưng tháng 10/2001, một đề xuất của chính quyền mới đắc cử của Tổng thống Bush đã xóa bỏ hầu như tất cả những kiến nghị đó, ngoại trừ quy định tiếp tục phải có bảo lãnh tài chính, một yêu cầu trong nhiều trường hợp sẽ trở nên vô nghĩa nếu không quy định rõ các loại chi phí làm sạch và hoàn nguyên mà khoản bảo lãnh tài chính sẽ phải thực hiện.
Xã hội chúng ta hiếm khi có thể buộc ngành mỏ phải chịu trách nhiệm trước những tổn hại môi trường một cách hiệu quả. Chúng ta không có quy định pháp luật, các chính sách và quyết tâm chính trị để loại trừ những hành vi coi thường pháp luật của ngành mỏ. Trong suốt một thời gian dài, chính quyền tiểu bang Montana nổi tiếng vì luôn chiều theo ý muốn của những chuyên gia vận động hành lang của ngành mỏ, và hiện chính quyền hai tiểu bang Arizona và Nevada vẫn tiếp tục nâng đỡ họ. Ví dụ, bang New Mexico đã ước tính chi phí hoàn nguyên của mỏ đồng Chino thuộc công ty Phelps-Dodge là 780 triệu đô-la, nhưng sau đó giảm xuống chỉ còn 391 triệu đô-la trước những sức ép chính trị từ Phelps-Dodge. Khi chính quyền và công chúng Mỹ yêu cầu trách nhiệm của ngành mỏ quá ít, thì chúng ta cũng không nên ngạc nhiên khi bản thân ngành mỏ có quá ít tinh thần tự nguyện.
Những gì tôi viết về ngành khai thác khoáng sản rắn có thể gây ấn tượng sai lầm rằng đây là ngành có quan niệm cứng rắn và tất cả đều giống nhau. Tất nhiên, không phải vậy, và đó là căn cứ để chúng ta tìm hiểu lý do tại sao một số mỏ khai thác khoáng sản rắn hay các ngành liên quan lại chọn lựa hay xem xét áp dụng những chính sách sạch hơn. Tôi sẽ giới thiệu ngắn gọn khoảng nửa tá ví dụ: ngành than, hiện trạng tài sản tại Montana của công ty khai thác đồng Anaconda, các mỏ bạch kim và paladi tại Montana, sáng kiến MMSD mới đây, hai tập đoàn lớn Rio Tinto và DuPont.
Bề ngoài ngành than có vẻ giống ngành khai thác khoáng sản rắn hay khai thác dầu lửa, bởi hoạt động của nó cũng gây ra những tác động môi trường lớn, hữu hình. Các mỏ than có xu hướng gây xáo trộn lớn hơn các mỏ khoáng sản rắn, bởi số lượng than khai thác hằng năm tương đối lớn: gấp hơn ba lần tổng khối lượng của tất cả các loại kim loại khai thác từ các mỏ khoáng sản rắn. Bởi vậy, diện tích gây xáo trộn của các mỏ than lớn hơn, nhiều khi nó còn bóc lớp đất mặt tới tận tầng đá và đổ đất đá thải xuống sông. Mặt khác, than tập trung thành những vỉa dày tới 3 mét và dài hàng kilômét, do vậy tỷ lệ đất đá thải với sản phẩm khai thác chỉ là 1/1 đối với khai thác than, thấp hơn rất nhiều so với con số 400 của mỏ đồng và 5 triệu đối với mỏ vàng như đã đề cập bên trên.
Thảm họa Buffalo Creek tàn khốc xảy ra tại một mỏ than của Mỹ năm 1972 như một hồi chuông cảnh tỉnh với ngành than, cũng giống như tác động của thảm họa Exxon Valdez và giàn khoan dầu Biển Bắc đối với ngành dầu lửa. Mặc dù ngành khai thác khoáng sản rắn có những thảm họa xảy ra ở Thế giới thứ ba, nhưng chúng xảy ra quá xa tầm mắt của công chúng Thế giới thứ nhất để có thể coi như một hồi chuông cảnh tỉnh. Bị tác động bởi thảm họa Buffalo Creek, chính quyền liên bang Mỹ những năm 1970 và 1980 đã ban hành những quy định chặt chẽ hơn, yêu cầu các kế hoạch hoạt động và bảo lãnh tài chính chặt chẽ hơn trong lĩnh vực khai thác than so với khai thác khoáng sản rắn.
Ban đầu ngành than coi những giải pháp của chính phủ như một thảm họa của ngành, nhưng 20 năm sau cách nghĩ này đã bị rơi vào lãng quên, và ngành than đã học được cách sống chung với những quy định mới. (Tất nhiên như vậy không có nghĩa là ngành than luôn có ý thức bảo vệ môi trường cao mà thực chất nó bị quản lý chặt chẽ hơn so với 20 năm trước). Một lý do là nhiều (nhưng chắc chắn không phải là tất cả) các mỏ than không nằm trên những dãy núi xinh đẹp của Montana mà trên những vùng đất bằng phẳng, không có giá trị cao đối với các lĩnh vực khác, do vậy việc phục hồi môi trường cũng khả thi về mặt kinh tế. Không giống như ngành khai thác khoáng sản rắn, ngành than hiện thường xuyên phục hồi ngay những khu vực đã khai thác trong vòng 1-2 năm kể từ khi chấm dứt hoạt động. Một lý do khác có thể là than (cũng như dầu lửa nhưng khác vàng) được coi là nguyên liệu thiết yếu cho xã hội chúng ta, và tất cả chúng ta đều biết mục đích sử dụng của than và dầu nhưng lại ít người biết chúng ta sử dụng đồng ra sao, vì vậy ngành than có thể chuyển các chi phí môi trường gia tăng sang người tiêu dùng.
Vẫn còn một yếu tố khác đằng sau phản ứng của ngành than đó là ngành này có các dây chuyền cung cấp ngắn và minh bạch, theo đó than được vận chuyển trực tiếp, hoặc chỉ thông qua một nhà cung cấp trung gian, tới các nhà máy điện, các nhà máy thép và các hộ tiêu thụ than lớn khác. Điều này khiến công chúng dễ dàng nhận ra hộ tiêu thụ nào mua than từ các công ty có hoạt động khai thác than sạch hay bẩn. Dầu lửa thậm chí còn có dây chuyền ngắn hơn xét về số lượng doanh nghiệp, cho dù đôi khi có xa xôi về khoảng cách địa lý, thì những tập đoàn dầu lửa lớn như Chevron Texaco, Exxon Mobil, Shell và BP vẫn bán nhiên liệu trực tiếp cho người tiêu dùng tại các trạm xăng, điều đó cho phép người tiêu dùng tức giận tẩy chay tất cả những trạm xăng bán nhiên liệu của Exxon sau thảm họa Exxon Valdez. Nhưng vàng chuyển từ mỏ khai thác tới người tiêu dùng qua một dây chuyền dài bao gồm các nhà tinh chế, nhà kho, nhà sản xuất kim hoàn tại Ấn Độ và các nhà bán sỉ châu Âu trước khi xuất hiện tại các cửa hàng bán lẻ kim hoàn. Hãy nhìn chiếc nhẫn cưới của bạn: bạn không cần biết nguồn gốc vàng, liệu nó vừa được khai thác năm ngoái hay đã nằm trong kho từ 20 năm nay, công ty nào khai thác và hoạt động bảo vệ môi trường của họ ra sao. Với đồng thì còn mù mờ hơn, có thêm một bước trung gian là lò nấu đồng, và bạn thậm chí còn không hề biết rằng khi bạn mua xe hơi hay điện thoại là bạn đang mua một chút đồng. Dây chuyền cung cấp dài khiến các công ty khai thác đồng và vàng không thể trông cậy người tiêu dùng sẵn sàng mua giá cao hơn để bù đắp cho những chi phí khai thác sạch sẽ hơn.
Trong số những mỏ của Montana kế thừa những tổn hại môi trường do lịch sử để lại, những mỏ sẵn sàng thanh toán các chi phí làm sạch là các mỏ trước đây là tài sản của công ty khai thác đồng Anaconda ở xung quanh và dưới hạ lưu của Butte. Lý do rất đơn giản: Anaconda được một công ty dầu lửa lớn hơn là ARCO mua lại, tới lượt công ty này lại bị tập đoàn dầu lửa lớn hơn của Anh là BP (British Petroleum) thâu tóm. Điều này cho thấy rõ liệu còn có giải pháp nào khác trước những vấn đề môi trường của ngành khai thác khoáng sản rắn và ngành dầu lửa. Cùng những tài sản khai thác mỏ nhưng người sở hữu khác nhau: Khi phát hiện ra những vấn đề môi trường phải kế thừa, ARCO và sau đó là BP cuối cùng đã quyết định rằng tốt hơn nên dành lợi nhuận để cố gắng giải quyết vấn đề môi trường hơn là phủ nhận tất cả mọi trách nhiệm. Đó là chưa nói đến việc ARCO và BP thể hiện nhiệt tình sẵn sàng chi hàng trăm triệu đô-la mà họ có nghĩa vụ phải thanh toán. Họ cũng đã từng thử áp dụng các chiến lược chống đối phổ biến như phủ nhận tác động thực tế của các độc chất, tài trợ cho những tổ chức ủng hộ của cư dân địa phương để biện hộ cho trường hợp của họ, đề xuất những giải pháp khác ít tốn kém hơn những yêu cầu của chính phủ... Nhưng ít nhất họ đã chi những khoản tiền lớn và sẽ còn chi những khoản lớn hơn bởi những chi phí của họ ở Montana chưa thể khiến những tập đoàn khổng lồ này phá sản, và họ muốn tìm ra giải pháp để giải quyết dứt điểm vấn đề hơn là trì hoãn vô thời hạn.
Một điểm sáng khác về môi trường trong bức tranh khai thác mỏ tại Montana là hai mỏ bạch kim và paladi thuộc sở hữu của công ty khai mỏ Stillwater. Công ty này đã ký những thỏa thuận láng giềng thân thiện với các tổ chức môi trường địa phương (thỏa thuận duy nhất mà các công ty khai mỏ của Mỹ đạt được), tài trợ cho các tổ chức này, cho phép họ được tự do tiếp cận các khu vực khai thác của công ty, đề nghị tổ chức môi trường Trout Unlimited (trước sự ngạc nhiên của tổ chức này) tiến hành giám sát những tác động trên thực tế của mỏ đối với số lượng cá hồi bản địa trên sông Boulder, và ký thỏa thuận hỗ trợ dài hạn với các cộng đồng lân cận trên các lĩnh vực lao động, điện lực, trường học và các dịch vụ đô thị. Đổi lại các nhà môi trường và cộng đồng dân cư địa phương sẽ không phản đối các hoạt động của Stillwater. Dường như hiệp ước hòa bình này giữa Stillwater với các nhà môi trường và cộng đồng dân cư địa phương mang lại lợi ích cho tất cả những người liên quan. Chúng ta có thể lý giải thực tế đáng ngạc nhiên này như thế nào, tại sao trong các công ty mỏ của Montana chỉ có Stillwater làm được điều này?
Còn một số yếu tố khác góp phần tạo nên điều này. Stillwater sở hữu mỏ tài nguyên giá trị duy nhất, mỏ bạch kim và paladi nguyên sinh duy nhất (chủ yếu được sử dụng để sản xuất xe hơi và trong các ngành hóa chất) ngoài Nam Phi. Mỏ này có trữ lượng lớn, dự kiến hoạt động khai thác sẽ kéo dài ít nhất một thế kỷ và có thể còn lâu hơn nhiều; điều này khuyến khích công ty khai thác cần có một chiến lược lâu dài chứ không thể áp dụng chính sách “cưỡng đoạt rồi bỏ trốn” như thông thường. Đây là mỏ hầm lò nên ít phát sinh những tác động bề mặt hơn mỏ lộ thiên. Quặng của nó có hàm lượng sunfua tương đối thấp, phần lớn số sunfua này đã bị khử cùng sản phẩm, bởi vậy vấn đề nước thải axit sunfua đã được giảm tối thiểu, tác động môi trường nhẹ hơn và ít tốn kém hơn so với các mỏ đồng và vàng của Montana. Năm 1999, công ty tuyển dụng một Giám đốc Điều hành mới là Bill Nettles, xuất thân từ ngành công nghiệp xe hơi (hộ tiêu thụ sản phẩm của mỏ nhiều nhất) chứ không phải là người được đào tạo về ngành mỏ, ông cũng không thừa hưởng những quan niệm thông thường trong ngành mỏ, nên ông đã nhận ra thành kiến của công chúng với ngành mỏ thật khủng khiếp và quan tâm hơn tới việc tìm ra giải pháp hoạt động lâu dài mới. Cuối cùng, năm 2000 ban lãnh đạo Stillwater ký kết một số thoả thuận nêu trên bởi khi đó họ lo ngại rằng ứng cử viên thân môi trường Al Gore sẽ thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, phe chống kinh doanh sẽ thắng trong cuộc bầu cử Thống đốc của bang Montana, và những thỏa thuận láng giềng thân thiện là cơ hội tốt nhất đảm bảo cho Stillwater một tương lai ổn định. Nói một cách khác, ban lãnh đạo Stillwater nhận ra những lợi ích tốt nhất của công ty khi đàm phán ký kết những thỏa thuận láng giềng thân thiện, trong khi hầu hết các công ty khai mỏ lớn khác của Mỹ theo đuổi những quan niệm riêng về lợi ích công ty bằng cách phủ nhận trách nhiệm môi trường, thuê những chuyên gia vận động hành lang để phản đối các quy định bất lợi của chính phủ và cuối cùng là nộp đơn xin phá sản.
Tuy nhiên, năm 1998, các giám đốc điều hành cao cấp của một số tập đoàn khai thác mỏ quốc tế lớn nhất thế giới tỏ ra lo lắng trước nguy cơ ngành mỏ trên toàn thế giới đang “đánh mất giấy phép hoạt động về mặt xã hội”. Họ lập ra một sáng kiến gọi là dự án Phát triển Bền vững và Khai thác khoáng sản (MMSD), tiến hành hàng loạt nghiên cứu về khai thác mỏ bền vững, tuyển dụng một nhà môi trường nổi tiếng (Chủ tịch Hiệp hội Hoang dã Quốc gia) làm giám đốc sáng kiến, và cố gắng thu hút sự tham gia lớn hơn của cộng đồng các nhà môi trường nhưng không thành công bởi họ có thành kiến sâu sắc với các tập đoàn khai mỏ. Năm 2002, bản nghiên cứu hoàn tất với hàng loạt kiến nghị, nhưng đáng tiếc sau đó chính phần lớn những tập đoàn khai thác mỏ tham gia sáng kiến lại từ chối thực hiện những kiến nghị này.
Nhưng tập đoàn khai thác mỏ lớn Rio Tinto của Anh là một ngoại lệ, tập đoàn này quyết định tự mình thực hiện một số kiến nghị với sự ủng hộ mạnh mẽ của chính Giám đốc Điều hành cùng các cổ đông người Anh, và được thôi thúc bởi chính những kinh nghiệm từ mỏ đồng Panguna của Bougainville với những thảm họa môi trường tốn kém. Cũng như tập đoàn dầu lửa Chevron với những lợi thế môi trường trong đàm phán với chính phủ Na Uy, Rio Tinto đã thấy trước những lợi thế kinh doanh khi trở thành tập đoàn hàng đầu trong ngành về vấn đề trách nhiệm xã hội. Mỏ khai thác borax của tập đoàn tại thung lũng Tử thần của California hiện có lẽ là mỏ khai thác sạch nhất nước Mỹ. Một phần thưởng mà Rio Tinto giành được cho những nỗ lực bảo vệ môi trường của mình là giành được hợp đồng cung cấp vàng cho công ty Tiffany&Co. Khi đó, công ty này đang nỗ lực đối phó với những nhà môi trường biểu tình ngay trước cửa chuỗi các cửa hàng kim hoàn của công ty, với những biểu ngữ phản đối việc thải xyanua và làm chết cá do khai thác vàng, nên quyết định tăng cường quan tâm hơn tới môi trường bằng cách chọn lựa một công ty khai mỏ làm nhà thầu cung cấp vàng. Tiffany đã chọn Rio Tinto bởi uy tín cao của tập đoàn trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Trong số những động cơ khác của Tiffany còn có cả những động cơ giống hệt như của Chevron Texaco mà tôi đã đề cập ở phần trên; nâng cao uy tín cho nhãn hiệu của họ, duy trì lực lượng lao động tận tâm có năng lực cao và tạo dựng triết lý sống cho ban lãnh đạo.
Một ví dụ hữu ích khác liên quan tới tập đoàn DuPont có trụ sở tại Mỹ, nhà tiêu thụ hàng đầu thế giới kim loại titan và các hợp kim titan được sử dụng trong sản xuất sơn, chế tạo động cơ phản lực, máy bay tốc độ cao, tàu vũ trụ và nhiều mục đích khác. Phần lớn titan được khai thác từ cát biển Australia giàu rutil, một khoáng sản chủ yếu là titan dioxit gần như nguyên chất. DuPont là một tập đoàn sản xuất, không phải là công ty khai mỏ, vì vậy họ mua rutil từ các công ty khai mỏ Australia. Tuy nhiên, DuPont lại ghi nhãn hiệu của mình lên tất cả các sản phẩm, kể cả sản phẩm sơn nhà được sản xuất từ titan, và họ không muốn các sản phẩm của mình mang tiếng xấu chỉ vì các nhà cung cấp titan khiến người tiêu dùng phẫn nộ vì hoạt động khai thác gây tổn hại môi trường. Bởi vậy, DuPont, hợp tác với những nhóm lợi ích công cộng khác, xây dựng những thỏa thuận với người mua và quy định những trách nhiệm của nhà cung cấp, và DuPont áp dụng với tất cả các nhà cung cấp titan Australia.
Hai ví dụ về Tiffany và DuPont thể hiện một điều quan trọng. Tập thể những người tiêu dùng có một số ảnh hưởng tới các công ty dầu lửa và (ở mức độ thấp hơn) với các công ty khai thác than, bởi công chúng mua nhiên liệu trực tiếp từ các công ty dầu lửa và mua điện từ các công ty sản xuất điện từ than. Bởi vậy người tiêu dùng biết nên cản trở ai hay tẩy chay ai trong trường hợp xảy ra sự cố tràn dầu hoặc tai nạn ở mỏ than. Tuy nhiên, cá nhân những người tiêu dùng có có thể tránh xa các công ty khai thác khoáng sản rắn để chiết xuất khoáng sản, nhưng tẩy chay trực tiếp một công ty khai thác mỏ gây ô nhiễm môi trường là điều không thể. Như với các mỏ đồng, thậm chí tẩy chay gián tiếp các sản phẩm có chứa đồng cũng là điều không thể, bởi phần lớn người tiêu dùng không biết sản phẩm nào mà họ mua là những sản phẩm có chứa lượng đồng nhỏ. Nhưng người tiêu dùng lại có ảnh hưởng đối với Tiffany, DuPont và các nhà bán lẻ khác chuyên thu mua kim loại và có khả năng kỹ thuật nhằm phân biệt những mỏ sạch với những mỏ bẩn. Chúng ta sẽ thấy rằng ảnh hưởng của người tiêu dùng với những nhà bán lẻ đã bắt đầu trở thành một phương tiện hiệu quả để người tiêu dùng gây ảnh hưởng tới ngành khai thác gỗ và hải sản. Các nhóm môi trường vừa mới bắt đầu áp dụng chiến thuật này đối với ngành khai thác khoáng sản rắn, bằng cách đương đầu với những người mua kim loại chứ không đương đầu trực tiếp với những mỏ khai thác kim loại.
Ít nhất, trong thời gian trước mắt, việc áp dụng những biện pháp bảo vệ, làm sạch và phục hồi môi trường khiến các công ty mỏ tốn kém, bất kể liệu các quy định của chính phủ hay quan niệm của công chúng có đảm bảo rằng những biện pháp đó về lâu dài sẽ tiết kiệm chi phí cho các công ty. Ai sẽ trả các chi phí đó? Với những đống chất thải hợp pháp do các công ty trước đây để lại do ngày đó hệ thống pháp luật còn yếu kém, thì công chúng không còn cách nào khác là phải tự bỏ tiền để dọn dẹp thông qua các khoản thuế, cho dù có khó chịu khi phải dọn dẹp những đống chất thải của các công ty mà ban lãnh đạo đã tự thưởng cho mình những khoản tiền lớn trước khi tuyên bố phá sản. Nhưng giờ đây câu hỏi thực tế là: Ai sẽ thanh toán các chi phí môi trường cho các hoạt động khai thác hiện đang được thực hiện hoặc sẽ được thực hiện trong tương lai?
Thực tế, ngành khai thác mỏ nói chung là ngành không mấy sinh lãi nên người tiêu dùng không thể buộc công ty phải lấy tiền lãi để trang trải cho các chi phí. Chúng ta muốn các công ty khai thác mỏ phải làm sạch môi trường là bởi chúng ta, công chúng, là người phải chịu đựng tình trạng ô nhiễm môi trường do khai thác mỏ gây ra: những lớp đất mặt ở khu vực đã khai thác không thể tái sử dụng, ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và ô nhiễm không khí. Thậm chí ngay cả những biện pháp sạch nhất áp dụng trong khai thác than và đồng cũng gây ra những xáo trộn. Nếu chúng ta muốn có than và đồng, chúng ta phải chấp nhận những chi phí môi trường khi khai thác chúng như một chi phí cần thiết và hợp lý của ngành khai thác khoáng sản rắn, giống như chi phí sử dụng xe ủi đất để khai thác hay sử dụng các lò nấu để đun chảy quặng. Các chi phí môi trường phải được coi như một yếu tố cấu thành giá kim loại và chuyển sang người tiêu dùng, như các tập đoàn dầu lửa và than đã làm. Chính dây chuyền cung cấp dài và mù mờ từ các mỏ khoáng sản tới công chúng, và những cách hành xử không đẹp của hầu hết các công ty khai thác mỏ trước đây đã che khuất kết luận đơn giản này tới tận ngày nay.
Hai ngành khai thác tài nguyên còn lại mà tôi sẽ thảo luận là ngành khai thác gỗ và ngành đánh bắt cá. Hai ngành này khác với ngành dầu lửa, khai thác khoáng sản rắn và ngành than ở hai điểm cơ bản. Thứ nhất, cây cối và các loài cá là những nguồn tài nguyên tái sinh có khả năng tự sinh sản. Bởi vậy nếu bạn thu hoạch chúng với tốc độ không cao hơn tốc độ sinh sản của chúng, thì bạn có thể duy trì thu hoạch chúng mãi mãi. Ngược lại, dầu lửa, kim loại và than là những tài nguyên không tái sinh, chúng không sinh sản, phát triển hay có giới tính để có thể sinh ra những giọt dầu hay những hòn than sơ sinh. Thậm chí nếu bạn có hút dầu hay khai thác than chậm chạp, thì điều đó cũng không khiến chúng tái sinh hay duy trì những mỏ dầu, mỏ kim loại hay trữ lượng than ở mức độ bất biến. (Nói đúng ra, dầu lửa và than hình thành trong thời kỳ địa chất kéo dài tới hàng triệu năm, quá chậm khiến chúng ta không thể cân đối tỷ lệ hút dầu hay khai thác khoáng sản). Thứ hai, trong ngành khai thác gỗ và đánh bắt cá, những thứ mà bạn đang lấy đi là cây cối và các loài cá, là những yếu tố giá trị của môi trường. Bởi vậy bất kỳ hoạt động khai thác gỗ hay đánh bắt cá nào, hầu như đã được xác định ranh giới, đều có thể gây tổn hại trực tiếp đến môi trường. Tuy nhiên, dầu lửa, kim loại và than có vai trò thấp hoặc không có vai trò trong các hệ sinh thái. Nếu bạn có thể tìm ra một số biện pháp để khai thác chúng mà không gây tổn hại tới những phần khác của hệ sinh thái, thì bạn sẽ không phá hủy bất cứ yếu tố sinh thái giá trị, mặc dù việc sử dụng hay đốt chúng sau này có thể vẫn gây ra những tổn hại. Đầu tiên tôi sẽ trình bày về ngành lâm nghiệp, và sau đó về ngành đánh bắt cá.
Với con người, rừng là giá trị sinh thái đang bị con người hủy hoại do chặt phá rừng. Điều rõ ràng nhất, chúng là nguồn cung cấp các sản phẩm gỗ chính của chúng ta, trong đó có củi đun, giấy viết, báo chí, sách vở, giấy toilet, gỗ xây dựng, gỗ dán và gỗ để sản xuất đồ dùng. Đối với người dân Thế giới thứ ba, chiếm phần lớn dân số thế giới, chúng còn là nguồn cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ chính như dây chão tự nhiên, vật liệu lợp nhà, chim và thú làm thực phẩm, hoa quả và các loại thực vật khác có thể ăn được cùng các loại thảo dược. Với người dân Thế giới thứ nhất, rừng là nơi thư giãn, giải trí phổ biến. Rừng còn có vai trò như một bộ lọc không khí lớn của thế giới, loại bỏ khí carbon monoxide và các loại khí ô nhiễm khác; rừng và đất là một bể chứa carbon lớn, và phá rừng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến khí hậu toàn cầu nóng dần lên do lượng carbon thoát ra ngoài khí quyển tăng. Nước thoát ra từ cây cối và trở lại không khí nên phá rừng có xu hướng làm giảm lượng mưa và tăng tình trạng sa mạc hóa. Cây giữ nước trong đất và giữ cho đất ẩm. Chúng bảo vệ đất mặt khỏi bị trợt lở, xói mòn và rửa trôi xuống các dòng suối. Một số khu rừng, nhất là rừng nhiệt đới, chứa đựng phần lớn các chất dinh dưỡng của hệ sinh thái, vì vậy khai thác và vận chuyển gỗ ra khỏi rừng sẽ khiến cho những mảnh đất trơ trụi bị bạc màu. Cuối cùng, rừng là môi trường sống cho phần lớn những sinh vật sống khác trên cạn: ví dụ, rừng nhiệt đới chỉ che phủ 6% mặt đất nhưng lại là nơi sinh sống của 50% và 80% những loài thực vật và động vật trên cạn của thế giới.
Do rừng có nhiều giá trị như vậy, những người khai thác gỗ đã phát triển nhiều biện pháp để giảm tối thiểu những tác động môi trường tiêu cực do khai thác gỗ gây ra. Những biện pháp đó bao gồm chặt tỉa từng loại cây quý giá một cách có lựa chọn và để những loại cây khác tiếp tục phát triển, chứ không chặt phá toàn bộ khu rừng; khai thác rừng với tốc độ bền vững, có nghĩa tỷ lệ tái sinh rừng tương đương với tỷ lệ chặt cây; chặt từng khoảnh rừng nhỏ chứ không chặt khoảnh rừng lớn, như vậy cây cối xung quanh khu vực bị chặt vẫn có thể gieo hạt để tái sinh khu vực đã khai thác gỗ; trồng lại từng loại cây; và dùng trực thăng vận chuyển những cây gỗ lớn nếu đó là những cây quý (như ở nhiều khu rừng long não hương và bách tán), chứ không vận chuyển bằng xe tải bởi việc xây dựng đường sẽ tàn phá nốt phần rừng còn lại. Tùy từng trường hợp cụ thể, những biện pháp bảo vệ môi trường này có thể hoặc khiến công ty khai thác gỗ thua lỗ hoặc mang lại lợi nhuận cho họ. Giờ tôi sẽ minh họa những kết quả trái ngược nhau này bằng hai ví dụ: Những kinh nghiệm gần đây của anh bạn Aloysius của tôi và hoạt động của Hội đồng Quản trị Rừng thế giới.
Aloysius không phải là tên thật của bạn tôi mà do tôi đặt, vì những lý do mà các bạn sẽ hiểu. Anh là công dân của một trong những nước châu Á - Thái Bình Dương nơi tôi từng tới thực địa. Sáu năm trước, khi gặp anh trong văn phòng, lập tức tôi bị ấn tượng bởi một con người thông minh, độc lập, tự tin, hài hước, hạnh phúc, ham hiểu biết và cực kỳ quan tâm tới vấn đề môi trường. Anh đã dũng cảm một mình dẹp yên một tốp công nhân nổi loạn. Ban đêm, anh liên tục phải chạy lên chạy xuống (chạy thật sự) trên một đường mòn dốc thẳng đứng trên núi để điều hành công việc của hai khu trại. Nghe nói tôi đã viết một cuốn sách về hoạt động tình dục của con người, sau 15 phút trò chuyện với tôi, anh phá lên cười và nói rằng giờ thì tôi nên nói cho anh ấy những gì tôi biết về tình dục chứ không phải về các loài chim.
Chúng tôi thân nhau khi cùng tham gia một số dự án sau này, và phải mất hai năm sau tôi mới trở lại đất nước anh. Khi gặp lại Aloysius, rõ ràng trong anh đã có điều gì đó thay đổi. Giờ anh chuyện trò dè dặt hơn, mắt luôn nhìn quanh như sợ ai đó. Điều đó khiến tôi ngạc nhiên bởi nơi chúng tôi gặp nhau để trò chuyện là một thính phòng tại thủ đô nơi tôi đang có bài nói chuyện với sự hiện diện của các bộ trưởng, và tôi chẳng thấy có dấu hiệu nguy hiểm nào cả. Sau khi cùng nhau hồi tưởng lại cuộc nổi loạn của tốp công nhân, những chiếc trại cắm trên núi và câu chuyện về tình dục, tôi mới hỏi thăm cuộc sống của anh và chuyện là thế này:
Aloysius giờ đã chuyển sang công việc mới, anh làm việc cho một tổ chức phi chính phủ chuyên bảo vệ những khu rừng nhiệt đới. Trong vùng nhiệt đới Đông Nam Á và các đảo Thái Bình Dương, hoạt động khai thác gỗ quy mô lớn chủ yếu do các công ty khai thác gỗ quốc tế, có chi nhánh ở nhiều quốc gia, thực hiện nhưng chủ yếu là các công ty Malaysia, Đài Loan và Hàn Quốc. Họ hoạt động bằng cách thuê quyền khai thác gỗ trên mảnh đất vẫn đang thuộc quyền sở hữu của người dân bản địa, khai thác và xuất khẩu gỗ thô và không hề trồng lại cây cối. Giá trị gia tăng của một khúc gỗ chủ yếu là ở giai đoạn xẻ gỗ và xử lý sau khi cây bị chặt xuống, gỗ thành phẩm được bán với giá cao hơn nhiều so với khúc gỗ mới chặt. Bởi vậy xuất khẩu gỗ thô là hành vi cướp đoạt phần lớn giá trị tiềm năng nguồn tài nguyên của cư dân địa phương và chính quyền trong nước. Bằng cách hối lộ các quan chức nhà nước, những công ty này dễ dàng có được giấy phép khai thác gỗ của chính phủ và từ đó tiếp tục xây dựng những con đường và khai thác cả những cây gỗ nằm ngoài ranh giới khu vực cho thuê. Hoặc các công ty này chỉ cần đăng ký tàu chở gỗ, nhanh chóng thỏa thuận với cư dân địa phương, chở gỗ ra ngoài và không cần xin phép chính phủ. Ví dụ, khoảng 70% số gỗ khai thác tại Indonesia là gỗ lậu khiến chính quyền nước này thiệt hại tới gần một tỷ đô-la mỗi năm do thất thu tiền thuế và tiền thuê đất. Việc xin phép địa phương cũng chẳng khó khăn gì khi các công ty này ra sức mua chuộc những người có chức sắc trong làng kể cả có hoặc không có quyền ký cho phép khai thác gỗ, bằng cách đưa họ tới thủ đô hay ra nước ngoài, chẳng hạn tới Hồng Kông, để ăn uống, chơi bời trong những khách sạn sang trọng cho tới khi họ ký. Biện pháp này nghe có vẻ tốn kém cho các công ty, nhưng mọi người sẽ thấy hiệu quả của nó nếu biết rằng chỉ một cây cổ thụ trong rừng nhiệt đới cũng trị giá tới hàng ngàn đô-la. Các công ty này cũng mua chuộc được dân làng bằng những khoản tiền mặt có vẻ lớn với họ nhưng cũng chỉ đủ chi tiêu mua lương thực, thực phẩm và các vật dụng khác trong khoảng một năm. Ngoài ra, các công ty này còn được chính quyền địa phương chấp thuận khi hứa hẹn trồng lại rừng và xây dựng bệnh viện cho địa phương. Trong một số trường hợp mà công chúng biết rõ ở đảo Borneo, quần đảo Solomon và một số nơi khác của Indonesia, khi những người khai thác gỗ xuất hiện cùng với giấy phép của chính quyền trung ương và bắt đầu khai thác gỗ, người dân địa phương nhận ra rằng sẽ bất lợi nếu cố gắng cản trở hoạt động khai thác gỗ bằng cách ngăn chặn đường sá hay đốt các nhà máy cưa, để rồi thì các công ty này sẽ viện tới cảnh sát hay quân đội để bảo vệ thực thi quyền lợi của họ. Tôi cũng nghe nói rằng các công ty khai thác gỗ còn dọa giết những người phản đối hoạt động của họ.
Aloysius là một người phản đối như vậy. Những kẻ khai thác gỗ đã từng đe dọa giết anh nhưng anh vẫn bền bỉ đấu tranh, bởi anh tin vào khả năng tự bảo vệ bản thân. Rồi bọn chúng đe dọa giết vợ và con anh, những người anh biết rằng không thể tự bảo vệ bản thân, và anh cũng không thể bảo vệ họ mỗi khi phải đi làm. Để đảm bảo an toàn cho vợ con, anh phải đưa họ ra nước ngoài, tới một nước khác và trở nên cảnh giác trước những âm mưu ám sát mình. Đó là lý do tại sao anh tỏ ra lo lắng, đánh mất vẻ tự tin và hạnh phúc trước đây của mình.
Với những công ty khai thác gỗ kiểu này, và những công ty khai thác mỏ mà chúng ta đã thảo luận, chúng ta phải tự hỏi mình tại sao họ lại có những hành động vô đạo đức như vậy. Một lần nữa, câu trả lời là hành vi đó mang lại lợi ích cho họ cũng bởi ba yếu tố thúc đẩy các công ty khai mỏ là: kinh tế, văn hóa kinh doanh của ngành và quan niệm của xã hội và chính phủ. Những khúc gỗ cứng của rừng nhiệt đới rất giá trị và được ưa chuộng nên phương pháp khai thác cưỡng đoạt rồi bỏ trốn áp dụng trên những khu rừng nhiệt đới đã thuê mang lại lợi nhuận rất lớn cho các công ty. Mua chuộc sự chấp thuận của cư dân bản địa rất dễ, bởi lúc nào họ cũng cần tiền và chưa từng chứng kiến những thảm họa do việc phá rừng nhiệt đới trơ trụi gây ra cho những tá điền địa phương. (Một trong những biện pháp có hiệu quả về chi phí cao nhất mà các tổ chức phản đối chặt phá rừng thuyết phục những tá điền bản địa từ chối cho phép chặt gỗ là đưa họ tới những khu vực rừng đã bị phá trơ trụi, để họ chuyện trò với những tá điền nơi đây đang nuối tiếc những khu rừng trước kia và để họ tận mắt chứng kiến những hậu quả phá rừng). Thông thường, các quan chức quản lý lĩnh vực lâm nghiệp của chính phủ rất dễ bị hối lộ, thiếu thông tin về tình hình quốc tế và nguồn tài chính của các công ty khai thác gỗ và có thể không nhận ra giá trị cao của gỗ thành phẩm. Trong tình hình đó, phương pháp cưỡng đoạt rồi bỏ trốn sẽ còn tiếp tục phát đạt cho tới khi các công ty bắt đầu tháo chạy khỏi những nước mà gỗ đã bị khai thác kiệt quệ, và tới khi chính phủ các nước và những tá điền bản địa sẵn sàng từ chối cho phép khai thác và tập trung lực lượng mạnh hơn để chống lại những kẻ đứng đằng sau hoạt động khai thác gỗ trái phép.
Ở những nước khác, nhất là Tây Âu và Mỹ, phương pháp khai thác gỗ cưỡng đoạt rồi bỏ trốn đã không còn mang lại lợi nhuận. Trái ngược với phần lớn các nước nhiệt đới, những cánh rừng nguyên sinh của Tây Âu và Mỹ đã bị chặt hết hay đang suy giảm mạnh mẽ. Giờ đây các công ty khai thác gỗ lớn hoạt động trên đất thuộc sở hữu của họ hay được quyền thuê lâu dài chứ không phải là thuê ngắn hạn, bởi vậy trong một số trường hợp nó là biện pháp khuyến khích kinh tế để các công ty này duy trì các cánh rừng trồng lâu dài. Nhận thức môi trường của nhiều người tiêu dùng hiện đã được nâng cao nên họ quan tâm tới sản phẩm gỗ mà họ đang mua có bị thu hoạch bằng những biện pháp phá hoại, không bền vững không. Quy định của chính phủ đôi khi rất nghiêm ngặt và không thể coi thường, các quan chức chính phủ thì cũng không dễ bị mua chuộc.
Kết quả là một số công ty khai thác gỗ hoạt động ở Tây Âu và Mỹ ngày càng lo lắng không chỉ bởi khả năng cạnh tranh với các nhà sản xuất ở Thế giới thứ ba có chi phí thấp hơn, mà còn về sự tồn tại của họ, hay (sử dụng thuật ngữ trong ngành khai thác mỏ và dầu lửa) mất “giấy phép hoạt động về mặt xã hội”. Một số công ty đã áp dụng những biện pháp thân thiện với môi trường và cố gắng thuyết phục công chúng về điều đó, nhưng họ thấy rằng những xác nhận tự họ đưa ra không được tin cậy trong mắt công chúng. Ví dụ, nhiều sản phẩm gỗ và giấy bán trên thị trường giờ đã được gắn những khẩu hiệu thân thiện với môi trường như: “Mỗi cây gỗ bị chặt, ít nhất hai cây khác được trồng lại”. Tuy nhiên, một cuộc khảo sát mức độ thực hiện trên thực tế tiến hành với 80 khẩu hiệu kiểu này cho thấy 77 khẩu hiệu hoàn toàn chỉ là khẩu hiệu suông và không được thực hiện một chút nào, chỉ có 03 khẩu hiệu được thực hiện một phần và tất cả đều bị hủy khi gặp khó khăn. Vì vậy cũng dễ hiểu khi công chúng không quan tâm tới những xác nhận do bản thân những công ty này đưa ra.
Ngoài lo lắng về sự chấp nhận và lòng tin của xã hội, các công ty khai thác gỗ còn lo lắng trước thảm họa rừng, nền tảng cho hoạt động kinh doanh của họ, đang có nguy cơ bị hủy diệt hoàn toàn. Trong vòng 8.000 năm qua, hơn một nửa các khu rừng nguyên thủy trên thế giới đã bị phá trơ trụi hoặc bị tổn hại nặng nề. Nhưng nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm rừng của chúng ta thì vẫn tiếp tục tăng, hậu quả là hơn một nửa thiệt hại đó xảy ra chỉ trong vòng 50 năm qua bởi tình trạng phá rừng làm đất làm nông nghiệp, và bởi nhu cầu tiêu thụ giấy của thế giới đã tăng gấp năm lần kể từ năm 1950. Khai thác gỗ thường chỉ là bước đầu trong một phản ứng dây chuyền: sau khi những người khai thác gỗ làm đường dẫn vào các khu vực có rừng, những kẻ săn trộm sẽ theo những con đường này lần vào săn bắn thú rừng và những người lấn chiếm sẽ vào rừng xây dựng nhà ở. Hiện chỉ 12% diện tích rừng thế giới nằm trong khu vực được bảo vệ. Trong trường hợp tồi tệ nhất, tất cả những khu rừng còn lại có thể tiếp cận, trừ những khu rừng nằm trong các khu vực được bảo vệ, sẽ bị tàn phá toàn bộ trong vài thập kỷ tới do thu hoạch không bền vững, tuy nhiên cũng có kịch bản khả quan nhất là thế giới có thể đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gỗ bền vững từ một diện tích nhỏ của số rừng còn lại (từ 20% trở xuống) nếu chúng được quản lý tốt.
Lo lắng về tương lai lâu dài của ngành đã buộc một số đại diện của ngành gỗ và những nhà quản lý rừng ngay từ đầu những năm 1990 đã có những cuộc thảo luận với các tổ chức xã hội và môi trường và các hiệp hội của cư dân địa phương. Năm 1993, những cuộc thảo luận này đã dẫn tới sự ra đời của một tổ chức quốc tế phi lợi nhuận mang tên Hội đồng Quản trị Rừng thế giới (FSC), có trụ sở đặt tại Đức và được một số tổ chức môi trường, các quỹ, các chính phủ và doanh nghiệp tài trợ. Hội đồng này được điều hành bởi một ủy ban được các thành viên của FSC chọn lựa và quyết định, bao gồm đại diện của ngành gỗ, các tổ chức xã hội và môi trường. Những nhiệm vụ ban đầu của FSC gồm ba loại: Lập danh mục các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững; sau đó thiết lập cơ chế chứng nhận những khu rừng cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn này; và cuối cùng thiết lập một cơ chế khác để theo dõi hành trình của các sản phẩm đi từ những khu rừng đã được chứng nhận, qua một dây chuyền cung cấp phức tạp tới tay người tiêu dùng, như vậy người tiêu dùng có thể biết được tờ giấy, chiếc ghế hay chiếc bảng mà họ đang mua trong cửa hàng, có mang biểu tượng của FSC, thực tế xuất phát từ một khu rừng được quản lý bền vững.
Nhiệm vụ đầu tiên là định ra 10 tiêu chuẩn cụ thể của phương pháp quản lý rừng bền vững và thân thiện với môi trường. Các tiêu chuẩn đó bao gồm: thu hoạch cây với tỷ lệ bền vững vô hạn, sự sinh trưởng của số cây mới trồng đủ khả năng thay thế số cây bị chặt; bảo vệ những khu rừng có giá trị bảo tồn đặc biệt, như những cánh rừng già không thể chuyển đổi thành những đồn điền chuyên trồng một loại cây gỗ; bảo tồn lâu dài sự đa dạng sinh học, sự tái sinh chất dinh dưỡng, sự nguyên vẹn của đất đai và các chức năng hệ sinh thái rừng khác; bảo vệ các lưu vực sông, và duy trì độ rộng cần thiết của những vùng đất bên bờ suối và bờ hồ; có kế hoạch quản lý lâu dài; xử lý các chất hóa học và rác thải ở ngoài khu vực rừng; tuân thủ các quy định pháp luật; thừa nhận các quyền của cộng đồng dân cư bản địa và những công nhân lâm nghiệp.
Nhiệm vụ thứ hai là thiết lập quy trình cấp chứng chỉ rừng, chứng nhận việc quản lý một khu rừng cụ thể đáp ứng các tiêu chuẩn trên. FSC không tự mình cấp chứng chỉ rừng, mà ủy nhiệm cho các tổ chức cấp chứng chỉ rừng và các tổ chức này phải tới kiểm tra rừng trên thực tế trong khoảng thời gian tới 2 tuần. Có khoảng hơn chục tổ chức cấp chứng chỉ rừng trên toàn thế giới, tất cả đều được ủy nhiệm hoạt động trên phạm vi toàn cầu; hai tổ chức cấp chứng chỉ rừng chủ yếu tại Mỹ là Liên minh về Rừng nhiệt đới - Chuơng trình SmartWood và Hệ thống Chứng chỉ khoa học - Chương trình bảo tồn rừng, có trụ sở tại Vermont và California tương ứng. Chủ rừng hoặc nhà quản lý rừng ký hợp đồng với tổ chức cấp chứng chỉ để tiến hành kiểm tra, và phải thanh toán chi phí kiểm toán mà không được đảm bảo trước rằng sẽ nhận được kết quả thuận lợi. Thông thường sau khi kiểm tra, tổ chức cấp chứng chỉ sẽ đưa ra một loạt điều kiện tiên quyết mà chủ rừng phải đáp ứng trước khi phê chuẩn, hay chỉ cấp chứng chỉ rừng tạm thời dựa trên danh mục những điều kiện phải thực hiện trước khi được phép sử dụng nhãn hiệu của FSC.
Cần phải nhấn mạnh rằng sáng kiến xin cấp chứng chỉ rừng đạt tiêu chuẩn môi trường luôn do chủ rừng hay nhà quản lý rừng thực hiện; những tổ chức cấp chứng chỉ rừng sẽ không tới kiểm tra khu rừng nếu không được mời. Tất nhiên, điều này làm nảy sinh câu hỏi tại sao bất kỳ chủ rừng hay nhà quản lý rừng nào cũng chọn cách trả tiền để được kiểm tra. Câu trả lời là ngày càng nhiều chủ rừng và nhà quản lý rừng cho rằng chứng chỉ rừng sẽ mang lại những lợi ích tài chính cho họ, bởi phí cấp chứng chỉ sẽ được hoàn lại khi các sản phẩm của rừng đó được tiếp cận với nhiều thị trường, nhiều khách hàng hơn qua một hình ảnh uy tín và đáng tin cậy khi được một bên độc lập thứ ba cấp chứng chỉ rừng. Bản chất chứng chỉ rừng của FSC là người tiêu dùng có thể tin tưởng nó, bởi đây không phải là sự khoe khoang vô căn cứ do chính công ty tự đặt ra mà là kết quả của một cuộc kiểm tra theo những tiêu chuẩn thực tiễn quốc tế tốt nhất đã được chấp nhận, do các kiểm toán viên đã qua đào tạo và có kinh nghiệm thực hiện, những người không ngần ngại nói không hay buộc áp dụng thêm những điều kiện khác cần thiết.
Bước còn lại là cấp chứng chỉ cho cái gọi là “chuỗi hành trình sản phẩm”, hay các giấy tờ cần thiết chứng minh rằng gỗ của một cây bị chặt ở Oregon cuối cùng sẽ trở thành một chiếc bảng được bán trong một cửa hàng ở Miami. Thậm chí nếu bản thân một khu rừng đã được cấp chứng chỉ, chủ rừng có thể bán gỗ cho một xưởng cưa mà xưởng đó còn mua cả gỗ chưa được cấp chứng chỉ, sau đó xưởng cưa có thể bán gỗ xẻ cho một nhà sản xuất cũng có thể mua cả gỗ xẻ chưa được cấp chứng chỉ và cứ như thế. Mạng lưới tương quan giữa nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà chế tạo, nhà bán sỉ và các cửa hàng bán lẻ phức tạp tới mức thậm chí bản thân các công ty cũng khó có thể biết gỗ của mình có nguồn gốc từ đâu hay sẽ đi đến đâu, ngoại trừ chỉ biết khách hàng và nhà cung cấp trung gian của mình. Người tiêu dùng cuối cùng tại Miami có thể tin tưởng rằng chiếc bảng mà họ đang mua thực sự được sản xuất từ một cây gỗ trong khu rừng đã được cấp chứng chỉ, các nhà cung cấp trung gian phải để riêng những vật liệu được cấp chứng chỉ và những vật liệu không được cấp chứng chỉ, và nhân viên kiểm toán rừng phải xác nhận rằng đúng là tất cả các nhà cung cấp trung gian đã làm như vậy. Quy trình đó tạo nên “chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm”: theo dõi hành trình của những vật liệu đã được cấp chứng chỉ rừng trên toàn bộ dây chuyền cung cấp. Kết quả cuối cùng là chỉ khoảng 17% sản phầm từ những khu rừng được cấp chứng chỉ được mang biểu tượng FSC đến được cửa hàng bán lẻ; số 83% còn lại bị lẫn với những sản phẩm không được cấp chứng chỉ trong suốt toàn bộ dây chuyền. Chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm nghe có vẻ (và sự thực đúng như vậy) rất khó khăn, nhưng rất cần thiết bởi nếu không người tiêu dùng sẽ không tin tưởng nguồn gốc của chiếc bảng mà họ mua trong cửa hàng ở Miami.
Liệu công chúng có thực sự quan tâm tới các vấn đề môi trường từ chứng chỉ rừng của FSC để giúp các sản phẩm gỗ tiêu thụ nhiều hơn không? Khi được hỏi trong một cuộc khảo sát, 80% người tiêu dùng cho rằng họ thích mua các sản phẩm có nguồn gốc từ những khu rừng bảo vệ môi trường tốt nếu được chọn lựa. Nhưng liệu đó có phải là những lời nói suông, hay công chúng thực sự để ý tới nhãn hiệu của FSC khi họ đi mua hàng? Và liệu họ có sẵn sàng mua các sản phẩm mang biểu tượng FSC với giá cao hơn không?
Đây là những vấn đề quan trọng với các công ty khi họ phân vân liệu có nộp đơn xin cấp chứng chỉ rừng hay không. Những câu hỏi trên đã được khảo sát tại hai cửa hàng của Home Depot tại Oregon. Mỗi cửa hàng được chia thành hai khu riêng biệt bán những mảnh gỗ dán cùng kích thước, cùng loại nhưng một bên có mang nhãn hiệu của FSC và bên kia thì không. Cuộc thử nghiệm được tiến hành hai lần, lần đầu gỗ của cả hai bên đều được bán với mức giá như nhau và lần sau giá gỗ dán mang nhãn hiệu FSC cao hơn 2% so với gỗ dán không mang nhãn hiệu. Kết quả là khi giá như nhau, gỗ dán FSC bán chạy gấp đôi so với gỗ không mang nhãn hiệu. (Tại một cửa hàng trong thị trấn tập trung nhiều trường đại học, ý thức bảo vệ môi trường của dân chúng cao và mang tư tưởng “tự do”, thì tỷ lệ này là 6/1, nhưng thậm chí tại cửa hàng trong thị trấn có tư tưởng “bảo thủ” hơn thì gỗ dán FSC vẫn bán chạy hơn gỗ không mang nhãn hiệu là 19%). Khi giá gỗ dán FSC được nâng lên 2% so với gỗ không mang nhãn hiệu, tất nhiên hầu hết khách hàng thích sản phẩm rẻ hơn, tuy nhiên một số không nhỏ khách hàng (37%) vẫn tiếp tục mua các sản phẩm FSC. Bởi vậy, phần lớn công chúng thực sự đánh giá cao giá trị môi trường khi quyết định mua hàng, và một phần không nhỏ người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn cho những giá trị này.
Lần đầu tiên khi chứng chỉ rừng của FSC được đưa ra, nhiều người tỏ ý lo ngại rằng các sản phẩm được cấp chứng chỉ sẽ có giá cao hơn, hoặc do các công ty phải trả thêm chi phí kiểm toán cấp chứng chỉ rừng hoặc do các rừng cần tuân thủ các tiêu chuẩn để được cấp chứng chỉ rừng. Hầu hết những kinh nghiệm sau đó đều chứng tỏ rằng việc cấp chứng chỉ rừng không làm tăng thêm chi phí cố hữu của một sản phẩm gỗ. Trong trường hợp thị trường định giá các sản phẩm được cấp chứng chỉ rừng cao hơn các sản phẩm không có chứng chỉ rừng, thì chỉ do các quy luật cung cầu chứ không phải do các chi phí cố hữu. Do nhu cầu cao mà những nhà bán lẻ không có đủ sản phẩm được cấp chứng chỉ rừng để bán nên họ đã tăng giá đối với các sản phẩm này.
Trong danh sách các tập đoàn lớn tham gia sáng lập FSC, tham gia hội đồng quản trị, hoặc gần đây cam kết thực hiện các mục tiêu của FSC có một số nhà sản xuất và buôn bán các sản phẩm gỗ lớn nhất thế giới. Trong số các công ty Mỹ có Home Depot, nhà bán lẻ gỗ lớn nhất thế giới; Lowe’s, nhà bán lẻ lớn thứ hai của Mỹ, sau Home Depot trong ngành nâng cấp nhà cửa; Columbia Forest Products, một trong những công ty lâm nghiệp lớn nhất nước Mỹ; Kinko’s (hiện đã sáp nhập với FedEx), nhà cung cấp các dịch vụ kinh doanh và sao chép tài liệu lớn nhất thế giới; Collins Pine và Kane Hardwoods, một trong những nhà sản xuất gỗ anh đào lớn nhất nước Mỹ; Gibson Guitars, một trong những nhà sản xuất đàn guitar hàng đầu thế giới; Seven Islands Land Company hiện đang quản lý hàng triệu mẫu rừng ở bang Maine; và Andersen Corporation, nhà sản xuất cửa đi và cửa sổ lớn nhất thế giới. Những thành viên lớn bên ngoài nước Mỹ có Tembec và Domtar, hai trong số các công ty lâm nghiệp lớn nhất Canada; B&Q, một trong những nhà bán lẻ nâng cấp nhà cửa lớn nhất nước Anh giống như Home Depot của Mỹ; Sainsbury, hệ thống siêu thị lớn thứ hai của Anh; IKEA của Thụy Điển, nhà bán lẻ các sản phẩm gia dụng lớn nhất thế giới; và SCA và Svea Skog (trước đây là Asi Domain), hai công ty lâm nghiệp lớn nhất Thụy Điển. Các doanh nghiệp này và một số doanh nghiệp khác, tất cả đều gia nhập FSC bởi họ thấy trước những lợi ích kinh tế sẽ đạt được, nhưng việc họ quyết định gia nhập còn bởi hàng loại yếu tố “thúc đẩy” và “lôi kéo”. “Thúc đẩy” nghĩa là một số doanh nghiệp này đang là mục tiêu của các phong trào môi trường không hài lòng với hoạt động bảo vệ môi trường của họ như liên quan tới khai thác gỗ cổ thụ. Ví dụ, Home Depot bị tổ chức môi trường Liên minh vì Rừng nhiệt đới gây sức ép. Còn yếu tố “lôi kéo” là các công ty nhận ra nhiều cơ hội để duy trì hoặc tăng doanh số bán hàng khi công chúng biết rõ về họ hơn. Để bảo vệ hoạt động kinh doanh của mình, Home Depot và các công ty khác, có động cơ bao gồm một số yếu tố “thúc đẩy”, hiểu rằng cần thận trọng khi thay đổi mạng lưới các nhà cung cấp họ đã dày công xây dựng trong nhiều năm qua. Rồi sau đó họ tiến hành tìm hiểu và áp dụng rất nhanh, tới mức hiện chính Home Depot đang gây sức ép đối với các nhà cung cấp gỗ ở Chile và Nam Phi phải áp dụng các tiêu chuẩn của FSC.
Liên hệ với ngành mỏ, tôi đã đề cập rằng áp lực hiệu quả nhất buộc các công ty mỏ phải thay đổi thực tiễn hoạt động xuất phát không phải từ cá nhân người tiêu dùng tẩy chay các mỏ, mà từ những công ty lớn mua kim loại (như DuPont và Tiffany) rồi bán lại cho từng người tiêu dùng. Hiện tượng tương tự cũng đã phát triển trong ngành gỗ. Mặc dù xây dựng nhà cửa là ngành tiêu thụ gỗ lớn nhất, nhưng đa phần những chủ nhà lại không biết, không chọn lựa hay kiểm soát sự chọn lựa công ty lâm nghiệp nào sản xuất ra gỗ sẽ sử dụng trong căn nhà của họ. Thay vào đó, khách hàng của các công ty lâm nghiệp chính là những công ty lớn chuyên buôn bán các sản phẩm gỗ như Home Depot và IKEA, và những thể chế người tiêu dùng lớn như chính quyền thành phố New York và trường Đại học Wisconsin. Những công ty và các thể chế này từng đóng vai trò rất lớn trong việc phát động chiến dịch xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid tại Nam Phi, chứng tỏ khả năng của họ lớn tới mức một chế độ giàu mạnh, quyết tâm, vũ trang đầy đủ và cứng rắn như chính quyền Nam Phi thời kỳ phân biệt chủng tộc cũng không thể không chú ý tới họ. Nhiều công ty công nghiệp và bán lẻ trong dây chuyền các sản phẩm rừng tăng cường ảnh hưởng của mình bằng cách tập trung thành “những nhóm người mua”, cùng định ra một mục tiêu thời gian cụ thể để tăng doanh số bán các sản phẩm được cấp chứng chỉ rừng, ưu tiên cho các sản phẩm mang nhãn hiệu FSC. Hiện trên toàn thế giới có hơn một tá các nhóm như vậy, trong đó nhóm lớn nhất là ở Anh với sự tham gia của một số nhà bán lẻ lớn nhất nước Anh. Các nhóm người mua cũng ngày càng phát triển mạnh mẽ ở Hà Lan và những nước Tây Âu khác, Mỹ, Brazil và Nhật Bản.
Ngoài những nhóm người mua này, còn có một lực lượng mạnh mẽ khác hỗ trợ sự phổ biến các sản phẩm mang nhãn hiệu FSC tại Mỹ là “tiêu chuẩn xây dựng xanh” được gọi là LEED (viết tắt của Thiết kế Thân thiện với Môi trường và Năng lượng). Đây là bộ tiêu chuẩn thiết kế và sử dụng những vật liệu thân thiện với môi trường trong ngành xây dựng. Ngày càng nhiều chính quyền bang và thành phố của Mỹ dành những ưu đãi thuế cho các công ty áp dụng các tiêu chuẩn LEED cao, và nhiều dự án xây dựng của chính phủ Mỹ yêu cầu các nhà thầu phải tuân thủ các tiêu chuẩn LEED. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng đối với các nhà xây dựng, các nhà thầu và các công ty thiết kế không có giao dịch trực tiếp với công chúng và không được nhiều người tiêu dùng biết đến, nhưng dù sao họ vẫn chọn mua các sản phẩm có nhãn hiệu FSC bởi họ sẽ được giảm thuế và tăng khả năng trúng thầu. Tôi nên giải thích rõ hơn, về các tiêu chuẩn LEED và các nhóm người mua, rằng cả hai đều bị thúc đẩy bởi những quan tâm tới môi trường của cá nhân người tiêu dùng, và bởi các công ty mong muốn thương hiệu của mình gắn chặt với trách nhiệm môi trường của người tiêu dùng. Cái mà các tiêu chuẩn LEED và các nhóm người mua làm là tạo ra một cơ chế để cá nhân người tiêu dùng có thể tác động tới hành vi của các công ty, nếu không họ sẽ không chịu trách nhiệm trực tiếp với cá nhân người tiêu dùng.
Phong trào cấp chứng chỉ rừng nhanh chóng lan ra toàn thế giới kể từ khi FSC thành lập năm 1993, tới mức hiện số rừng được cấp chứng chỉ và chuỗi hành trình sản phẩm đã xuất hiện ở 64 quốc gia. Tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ hiện đã lên tới 404.000 kilômét vuông, trong đó Bắc Mỹ chiếm 85.400 kilômét. Chín nước có diện tích rừng được cấp chứng chỉ ít nhất 10.300 kilômét vuông, đứng đầu là Thụy Điển với 98.000 kilômét vuông, chiếm hơn một nửa diện tích rừng của cả nước, sau đó là Ba Lan, Mỹ, Canada, Croatia, Latvia, Brazil, Anh và Nga xếp theo thứ tự giảm dần. Các nước có tỷ lệ sản phẩm rừng bán ra mang nhãn hiệu FSC lớn nhất là Anh, với gần 20% tổng số gỗ bán trên thị trường được FSC cấp chứng chỉ, và Hà Lan. Mười sáu nước có khu rừng trên 1.035 kilômét vuông được cấp chứng chỉ, trong đó khu rừng Bắc Mỹ lớn nhất là Gordon Cosens rộng 20.201 kilômét vuông tại Ontario, do tập đoàn giấy và gỗ khổng lồ của Canada là Tembec quản lý. Trong thời gian sắp tới, Tembec dự kiến sẽ đề nghị cấp chứng chỉ cho toàn bộ 130.000 kilômét vuông rừng do công ty quản lý tại Canada. Những khu rừng được cấp chứng chỉ bao gồm cả những khu rừng thuộc sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân, ví dụ: khu rừng tư nhân lớn nhất tại Mỹ được cấp chứng chỉ là ở bang Pennsylvania với diện tích 7.800 kilômét vuông.
Ban đầu, sau khi thành lập FSC, mỗi năm diện tích rừng được cấp chứng chỉ tăng gấp đôi. Gần đây, tỷ lệ này đã giảm xuống “chỉ còn” 40% mỗi năm. Bởi những công ty và các nhà quản lý rừng đầu tiên phù hợp với chứng chỉ cũng chính là những công ty đã tham gia xây dựng các điều kiện của FSC. Những công ty có rừng đã được công nhận về ý thức bảo vệ môi trường lại chính là những khu rừng gần đây đã thay đổi hoạt động để chính thức được cấp chứng chỉ FSC. Bởi mục tiêu ban đầu của FSC là công nhận những công ty có hoạt động môi trường bền vững, nhưng hiện đã trở thành công cụ làm thay đổi hoạt động của các công ty khác ban đầu chưa thực hiện tốt vấn đề bảo vệ môi trường.
Hiệu quả hoạt động của Hội đồng Quản trị Rừng thế giới cuối cùng cũng phải đối đầu với sự cạnh tranh từ các công ty khai thác gỗ phản đối nó, họ đã thành lập những tổ chức cấp chứng chỉ riêng cạnh tranh với FSC nhưng tiêu chuẩn thấp hơn. Đó là Sáng kiến Lâm nghiệp Bền vững Mỹ do Hiệp hội Giấy và Rừng Mỹ cùng Hiệp hội Tiêu chuẩn Canada và Hội đồng Rừng liên châu Âu thành lập. Kết quả (có thể chỉ là dự đoán) khiến công chúng nhầm lẫn với những xác nhận cạnh tranh, ví dụ: Sáng kiến Lâm nghiệp Bền vững ban đầu đặt ra sáu nhãn hiệu khác nhau cho sáu hình thức xác nhận khác nhau. Tất cả những “biện pháp này” đều khác với FSC bởi chúng không yêu cầu một bên thứ ba độc lập cấp chứng chỉ, mà cho phép các công ty tự cấp chứng chỉ cho mình (tôi không hề đùa đâu). Họ cũng không yêu cầu các công ty tự đánh giá theo những tiêu chuẩn thống nhất và những kết quả có thể xác định số lượng (ví dụ như “chiều rộng của những dải thực vật ven sông, suối), mà thay vào đó là những quy trình không xác định được số lượng, mà chỉ chung chung (như “chúng tôi có một chính sách”, “các nhà quản lý của chúng tôi đã tham dự các cuộc hội thảo”). Họ không có chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm, vì vậy bất cứ sản phẩm nào của một xưởng cưa, kể cả đã cấp chứng chỉ hay chưa cấp chứng chỉ, cũng đồng loạt trở thành đã được cấp chứng chỉ. Hội đồng Rừng Liên châu Âu tự động cấp chứng chỉ trong khu vực, bởi vậy toàn bộ diện tích rừng của Áo được tổ chức này cấp chứng chỉ một cách nhanh chóng. Vẫn chưa rõ trong tương lai, liệu những nỗ lực cạnh tranh tự cấp chứng chỉ này có bị hệ thống FSC lật đổ bởi người tiêu dùng mất lòng tin hay ngược lại, nó sẽ thay thế các tiêu chuẩn của FSC do chiếm được sự tin cậy từ công chúng.
Ngành cuối cùng mà tôi muốn thảo luận là ngành hải sản (đánh bắt cá biển), hiện cũng đang phải đối mặt với vấn đề cơ bản như các ngành dầu lửa, khai thác mỏ và gỗ, đó là: trong khi dân số thế giới đang tăng lên ảnh hưởng tới vấn đề nhu cầu ngày càng tăng trong khi nguồn cung cấp lại giảm. Mặc dù nhu cầu tiêu thụ hải sản của Thế giới thứ nhất đã cao và vẫn không ngừng tăng lên, thì thậm chí nhu cầu này ở những nơi khác còn cao hơn và tăng nhanh hơn, ví dụ như tại Trung Quốc, nhu cầu này đã tăng lên gấp đôi trong vòng thập kỷ qua. Cá hiện chiếm tới 40% lượng đạm (kể cả có nguồn gốc từ thực vật và động vật) tiêu thụ tại Thế giới thứ ba và là nguồn đạm động vật chủ yếu của hơn một tỷ người châu Á. Khuynh hướng chuyển dịch dân số thế giới từ trong đất liền ra ngoài bờ biển sẽ làm tăng nhu cầu hải sản, tới năm 2010, ba phần tư dân số thế giới sẽ sống trong vòng bán kính 80 kilômét tính từ bờ biển. Do chúng ta phụ thuộc vào hải sản, nên biển hiện là nguồn cung cấp việc làm và thu nhập cho 200 triệu người trên toàn thế giới, và đánh bắt cá là trụ cột kinh tế của Iceland, Chile và một số nước khác.
Trong khi bất kỳ nguồn tài nguyên sinh học tái sinh nào cũng rất khó quản lý, thì đánh bắt cá biển là ngành đặc biệt khó quản lý. Thậm chí quản lý ngành đánh bắt cá giới hạn trong những vùng nước thuộc quyền kiểm soát của một quốc gia cũng đã khó khăn, thì hoạt động đánh bắt cá trên vùng biển thuộc quyền kiểm soát của nhiều nước còn khó quản lý hơn nhiều và thậm chí dễ sụp đổ nhất, bởi không nước nào có thể áp đặt ý chí lên vùng biển quốc tế này. Đánh bắt cá tại vùng biển chung ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, không thuộc quyền kiểm soát của bất kỳ quốc gia nào. Các nghiên cứu cho thấy, nếu được quản lý đúng đắn, ngành đánh bắt hải sản của thế giới có thể được duy trì ở cấp độ cao hơn hiện nay. Đáng tiếc là, phần lớn các ngư trường thương mại quan trọng của thế giới đã hoặc sụp đổ do tuyệt diệt về mặt thương mại, suy kiệt nghiêm trọng do tình trạng đánh bắt cá quá mức hoặc tới giới hạn, hiện đang phục hồi rất chậm và rất cần được quản lý. Trong số những ngành cá quan trọng nhất đã bị sụp đổ có cá bơn halibut Đại Tây Dương, cá ngừ bluefin Đại Tây Dương, cá kiếm Đại Tây Dương, cá trích Biển Bắc, cá tuyết Grand Banks, cá meluc Argentina, cá tuyết sông Murray của Australia. Trong những khu vực bị đánh cá quá mức tại Đại Tây Dương và Thái Bình dương, năm 1989 là thời kỳ đánh bắt cao điểm và rồi bắt đầu suy giảm tới tận ngày nay. Lý do chính đằng sau những sụp đổ này là thảm họa chung, đã được thảo luận ở chương trước, những người tiêu dùng cùng khai thác một nguồn tài nguyên tái sinh chung rất khó đạt được thỏa thuận mặc dù tất cả các bên đều có lợi nếu làm được như vậy; tình trạng thiếu quản lý và quy định diễn ra phổ biến; và các khoản trợ cấp vô lý, như những khoản trợ cấp vô lý về mặt kinh tế mà nhiều chính phủ đang áp dụng vì những lý do chính trị nhằm hỗ trợ đội tàu cá quá lớn so với sản lượng cá của họ, điều này hầu như chắc chắn khó tránh khỏi tình trạng đánh bắt cá quá mức, và lợi nhuận của đội tàu này thấp tới mức khó có thể tồn tại nếu không có trợ cấp.
Thiệt hại do đánh cá quá mức gây ra ảnh hưởng tới khả năng thưởng thức hải sản của tất cả chúng ta trong tương lai, ảnh hưởng tới sự tồn tại của loài cá cụ thể hay trữ lượng hải sản mà chúng ta thu hoạch. Phần lớn hải sản bị đánh bắt bằng lưới và những phương pháp khác khiến chúng ta bắt cả những loài cá tạp không định bắt. Cá tạp chiếm một tỷ lệ dao động từ 1/4 đến 2/3 tổng số cá bắt được. Đa phần số cá tạp này bị chết và bị vất trở lại biển. Trong số các loài cá tạp có những chủng loại cá mà ngư dân không muốn bắt, hoặc định bắt nhưng lại quá nhỏ cùng với hải cẩu, cá heo, cá voi, cá mập và rùa biển. Nhưng cá tạp chết là điều không thể tránh khỏi, ví dụ: Những cải tiến gần đây về thiết bị và kỹ thuật đánh bắt cá đã làm giảm số cá heo bị chết của ngành đánh bắt cá ngừ đông Thái Bình Dương xuống con số 50. Đánh bắt cá cũng gây tổn hại nặng nề cho các môi trường sống dưới biển, nhất là đáy biển do dùng lưới rà vét và các dải san hô ngầm do đánh cá bằng thuốc nổ và xyanua. Cuối cùng, đánh bắt cá gây ảnh hưởng tới chính cuộc sống của những ngư dân do cuối cùng sẽ triệt tiêu kế sinh nhai của họ và khiến họ mất việc làm.
Tất cả những vấn đề này không chỉ khiến các nhà kinh tế và môi trường lo lắng mà còn cả một số người đứng đầu ngành hải sản. Trong số đó có ban lãnh đạo của Unilever, một trong những tập đoàn tiêu thụ cá đông lạnh lớn nhất thế giới, sản phẩm của tập đoàn quen thuộc với người tiêu dùng dưới nhãn hiệu Gordon tại Mỹ (do Unilever phân phối), Birdseye Walls và Iglo tại Anh; Findus và Frudsa tại châu Âu. Ban lãnh đạo lo rằng cá, mặt hàng mà họ buôn bán, đang suy giảm mạnh mẽ trên toàn thế giới, giống như ban lãnh đạo các công ty khai thác gỗ đã lập ra Hội đồng Quản trị Rừng thế giới do lo ngại rừng bị suy giảm nghiêm trọng. Bởi vậy, năm 1997, bốn năm sau khi FSC được thành lập, Unilever hợp tác với Quỹ Thiên nhiên Hoang dã Thế giới thành lập một tổ chức tương tự mang tên Hội đồng Quản trị Biển thế giới (MSC). Mục tiêu của nó là xây dựng một nhãn hiệu sinh thái đáng tin cậy cho người tiêu dùng, và khuyến khích ngư dân giải quyết vấn đề thảm họa chung với những động cơ thị trường tích cực hơn là những động cơ tiêu cực, để rồi phải đối mặt với nguy cơ bị tẩy chay. Các công ty và các hiệp hội khác, kể cả các tổ chức quốc tế, hiện cũng cùng với Unilever và Quỹ Thiên nhiên Hoang dã Thế giới tài trợ cho MSC.
Tại Anh, ngoài Unilever còn có một số công ty khác ủng hộ MSC hay mua các sản phẩm hải sản đã được cấp chứng chỉ sinh thái của tổ chức này, trong đó có công ty hải sản Bluecrest của Young, công ty hải sản lớn nhất nước Anh; Sainsbury, nhà cung cấp thực phẩm tươi sống lớn nhất nước Anh; các hệ thống siêu thị Marks and Spencer và Safeway; và công ty Boyd Line hiện đang điều hành một hạm đội đánh bắt cá bằng lưới vét. Những công ty ủng hộ của Mỹ có Whole Foods, nhà bán lẻ thực phẩm hữu cơ và tự nhiên lớn nhất thế giới, cùng với hệ thống siêu thị của Shaw và các chợ của Trader Joe. Trong số những công ty ở những nơi khác trên thế giới ủng hộ còn có Migros, nhà bán lẻ thực phẩm lớn nhất Thụy Sĩ, tập đoàn Kailis & France Foods, nhà điều hành các tàu đánh bắt cá, các nhà máy chế biến cá, các thị trường và các sản phẩm hải sản xuất khẩu lớn của Australia.
Tiêu chuẩn được MSC áp dụng với ngành đánh bắt cá là kết quả của sự bàn bạc giữa ngư dân, các nhà quản lý ngành cá, các nhà chế biến cá, các nhà bán lẻ, các nhà khoa học ngành cá và các nhóm môi trường. Các tiêu chuẩn chính là ngành cá phải duy trì trữ lượng cá hợp lý vì tương lai vô hạn (kể cả sự phân bố và đa dạng sinh học giữa các độ tuổi và giống cá), phải tiến hành đánh bắt cá một cách bền vững, phải giảm tối thiểu những tác động tới các môi trường sống của biển và tới những loài không định đánh bắt (cá tạp), phải có các nguyên tắc và quy trình để quản lý trữ lượng và tối thiểu hóa những tác động, phải tuân thủ những quy định pháp luật phổ biến.
Các công ty hải sản dồn dập đưa ra công chúng tiêu dùng những khẩu hiệu rất khác nhau, một số họ dối trá hay nhầm lẫn rằng hoạt động đánh bắt cá của họ thân thiện với môi trường. Bởi vậy, bản chất của MSC, cũng như FSC, là bên thứ ba cấp chứng chỉ sinh thái độc lập. Cũng giống như FSC, MSC ủy nhiệm cho vài tổ chức cấp chứng chỉ sinh thái chứ không tự mình tiến hành kiểm toán cấp chứng chỉ sinh thái. Các doanh nghiệp tự nguyện nộp đơn xin cấp chứng chỉ sinh thái: điều đó tùy thuộc vào quyết định của doanh nghiệp nếu thấy việc cấp chứng chỉ sinh thái sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp đánh bắt cá nhỏ hơn muốn được cấp chứng chỉ sinh thái, sẽ được một quỹ mang tên Quỹ David và Lucille Packard hỗ trợ một phần chi phí thông qua Quỹ Thủy sản Bền vững. Bước đầu tiên trong quy trình cấp chứng chỉ sinh thái là tổ chức cấp chứng chỉ sinh thái tiến hành đánh giá sơ bộ về hoạt động của công ty nộp đơn, sau đó (nếu công ty vẫn muốn được kiểm toán) thì sẽ tiến hành đánh giá toàn bộ hoạt động, thường phải mất từ một tới hai năm (lâu nhất là ba năm đối với các doanh nghiệp lớn và phức tạp) và xác định những rõ những vấn đề cần thiết. Nếu kết quả kiểm toán thuận lợi và các vấn đề cần thiết đã được giải quyết, công ty sẽ được cấp chứng chỉ sinh thái có giá trị trong năm năm, nhưng hằng năm vẫn phải tiến hành kiểm tra việc tuân thủ các tiêu chuẩn mà không cần báo trước. Trong trường hợp không tuân thủ, công ty có thể bị rút chứng chỉ sinh thái. Kết quả kiểm toán hằng năm sẽ được đăng trên một trang web công cộng để những người quan tâm có thể tham khảo. Kinh nghiệm cho thấy, đa phần các công ty đã được MSC cấp chứng chỉ sinh thái, đều rất lo lắng bị rút chứng chỉ nên sẵn sàng làm tất cả những gì cần thiết để qua được đợt kiểm toán hằng năm. Cũng như với FSC, MSC cũng có hình thức kiểm toán chuỗi hành trình sản phẩm để theo dõi hành trình số cá bị công ty đã được cấp chứng chỉ sinh thái đánh bắt đi từ tàu đánh cá tới cảng, nơi cá được đưa lên bờ, sau đó chuyển tới thị trường bán sỉ, các cơ sở chế biến (đông lạnh và đóng hộp), tới các nhà bán sỉ, các nhà phân phối rồi mới tới thị trường bán lẻ. Chỉ những sản phẩm của công ty thủy sản đã được cấp chứng chỉ sinh thái mới được theo dõi trong toàn bộ dây chuyền này và được phép mang nhãn hiệu của MSC khi bán cho người tiêu dùng trong một cửa hàng hay một tiệm ăn.
Đối tượng được cấp chứng chỉ sinh thái là một ngành đánh bắt cá hay một loài cá, và cả phương pháp đánh bắt, hoạt động hay công cụ sử dụng để thu hoạch loài cá đó. Những pháp nhân được cấp chứng chỉ sinh thái là tập thể những ngư dân, các Bộ Thủy sản của các chính phủ đại diện cho ngành cá của một địa phương hay quốc gia, các cơ sở chế biến và phân phối trung gian. Đơn xin cấp chứng chỉ của “ngành cá” không chỉ có cá mà còn cả động vật thân mềm và các loài giáp xác. Trong số bảy ngành cá được cấp chứng chỉ sinh thái tới hôm nay, thì lớn nhất là ngành cá hồi hoang dã của bang Alaska, Mỹ do Bộ Thủy sản và thú săn Alaska đại diện. Tiếp theo là ngành tôm hùm đá Tây Australia (loài cá đơn lẻ giá trị nhất Australia, chiếm tới 20% giá trị của toàn ngành thủy sản Australia) và cá hoki New Zealand (loài thủy sản xuất khẩu giá trị nhất New Zealand). Bốn ngành cá khác nhỏ hơn được cấp chứng chỉ sinh thái là của Anh gồm: cá trích sông Thames, cá thu Cornwall đánh bắt bằng phương pháp dây câu, sò của vịnh Burry, và tôm hùm Nephropsidae trên hồ Torridon. Những trường hợp đang trong quá trình cấp chứng chỉ sinh thái là cá pôlắc Alaska, ngành thủy sản lớn nhất nước Mỹ, chiếm tới một nửa sản lượng cá của nước Mỹ; cá bơn halibut Bờ biển phía Tây nước Mỹ; cua Dungeness và tôm sú đốm; cá vược vằn Bờ biển phía đông nước Mỹ và sò Baja California. Hiện MSC cũng đang tiền hành thực hiện các kế hoạch mở rộng đối tượng cấp chứng chỉ sinh thái từ các loài cá đánh bắt trong môi trường hoang dã cho tới các hoạt động nuôi trồng thủy sản (cũng đang phải đối mặt với những vấn đề lớn sẽ được đề cập trong chương tiếp theo), đầu tiên là tôm và tiếp theo là 10 loại thủy sản khác, trong đó có lẽ bao gồm cả cá hồi. Hiện nay, vấn đề khó khăn nhất trong việc cấp chứng chỉ sinh thái cho các ngành cá lớn của thế giới là đối với loài tôm tự nhiên (bởi nó chủ yếu được đánh bắt bằng lưới rà vét nên có lượng lớn cá tạp bị bắt theo), và những ngành thủy sản mà phạm vi đánh bắt vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia.
Nói chung, việc cấp chứng chỉ sinh thái cho ngành thủy sản khó khăn hơn và chậm hơn so với ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên, tôi thực sự ngạc nhiên trước những thành tựu trong việc cấp chứng chỉ sinh thái mà ngành thủy sản đạt được trong vòng năm năm qua: Tôi tưởng rằng nó sẽ gặp nhiều khó khăn hơn và chậm hơn so với thực tế.
Tóm lại, những hoạt động bảo vệ môi trường của các tập đoàn lớn được định hướng nhờ một thực tiễn là nhiều người trong chúng ta có ý thức pháp luật kém. Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, một doanh nghiệp thực sự có thể tối đa hóa lợi nhuận của mình, ít nhất trong thời gian trước mắt, bằng cách gây tổn hại tới môi trường và cuộc sống con người. Tình trạng này hiện vẫn đang tiếp diễn đối với những ngư dân trong những ngành thủy sản khó kiểm soát và không có hạn ngạch, và với những công ty khai thác gỗ quốc tế thuê những vùng đất có rừng nhiệt đới trong một thời gian ngắn tại những nước có tình trạng tham nhũng cao và những tá điền chất phác. Nó cũng là tình trạng của các công ty dầu lửa trước khi xảy ra thảm họa tràn dầu trên eo biển Santa Barbara năm 1969, và các công ty khai thác mỏ tại Montana trước khi có những quy định pháp luật về làm sạch môi trường mới được ban hành gần đây. Khi pháp luật của chính phủ chặt chẽ và nhận thức môi trường của công chúng được nâng cao, các doanh nghiệp lớn có ý thức môi trường cao hơn có thể đánh bại những doanh nghiệp kém ý thức môi trường, nhưng cũng có thể xảy ra tình trạng ngược lại nếu các quy định của chính phủ không có hiệu lực và công chúng không mấy quan tâm tới môi trường.
Thật dễ dàng và hời hợt khi chúng ta chỉ trích một doanh nghiệp thu lợi bằng cách gây tổn hại tới những người khác. Nhưng chỉ chỉ trích không thôi thì cũng không thể tạo ra thay đổi, bởi nó bỏ qua một thực tế rằng các doanh nghiệp không phải là những tổ chức từ thiện phi lợi nhuận mà là các pháp nhân hoạt động vì lợi nhuận, và rằng các công ty cổ phần thuộc sở hữu của các cổ đông và có nghĩa vụ tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, với điều kiện phải hợp pháp. Luật pháp của chúng ta buộc ban lãnh đạo của một doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp luật với cái gọi là “vi phạm trách nhiệm ủy thác” nếu họ cố tình điều hành công ty theo cách làm giảm lợi nhuận. Nhà sản xuất xe hơi Henry Ford đã từng thua kiện khi bị cổ đông kiện năm 1919 vì nâng mức lương tối thiểu của công nhân lên 5 đô-la mỗi ngày. Tòa tuyên rằng, mặc dù tình cảm nhân đạo của Ford đối với công nhân là rất tốt, nhưng mục đích chính của công ty ông là mang lại lợi nhuận cho cổ đông.
Những khiển trách của chúng ta đối với các doanh nghiệp cũng không để ý tới trách nhiệm lớn của công chúng khi tạo điều kiện để một doanh nghiệp thu lợi từ những hoạt động gây ảnh hưởng tới công chúng, ví dụ: công chúng không buộc các công ty khai thác mỏ phải làm sạch môi trường, hay vẫn tiếp tục tiêu thụ các sản phẩm gỗ từ những công ty có hoạt động khai thác gỗ không bền vững. Xét về lâu dài, chính công chúng, hoặc trực tiếp hoặc thông qua các chính trị gia của mình, mới là người có quyền quyết định những doanh nghiệp có chính sách phá hoại môi trường phải bị thua lỗ và đặt họ ra ngoài vòng pháp luật, và những doanh nghiệp có chính sách bảo vệ môi trường tốt phải thu được lợi nhuận cao hơn. Công chúng có thể làm được điều này bằng cách kiện những doanh nghiệp gây thiệt hại cho họ, như đã từng xảy ra sau những thảm họa Exxon Valdez, Piper Alpha và Bhopal; hoặc chọn mua những sản phẩm được thu hoạch một cách bền vững, một sở thích khiến Home Depot và Unilever chú ý; khiến nhân viên của các công ty có những hành động xấu cảm thấy xấu hổ vì công ty của mình và phản ánh trực tiếp với nhà quản lý của họ; buộc chính phủ phải giao những hợp đồng giá trị lớn cho những doanh nghiệp có ý thức trong bảo vệ môi trường, như chính phủ Na Uy đã dành các hợp đồng lớn cho Chevron; và gây sức ép buộc chính phủ phải thông qua và thực hiện nghiêm túc những quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, như các quy định của chính phủ Mỹ đối với ngành than trong những năm 1970 và 1980. Tới lượt các doanh nghiệp lớn lại gây sức ép đối với các nhà cung cấp của họ, những đối tượng có thể không quan tâm tới áp lực của chính quyền và công chúng. Ví dụ, khi công chúng Mỹ quan tâm hơn tới sự lan tràn của bệnh bò điên, và sau khi Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm của Mỹ ra lệnh buộc ngành thực phẩm phải từ bỏ những thói quen trong sản xuất có nguy cơ khiến bệnh này lan tràn, những nhà máy đóng gói thực phẩm đã phản đối suốt năm năm trời, kêu ca rằng các nguyên tắc này khiến họ thiệt hại quá lớn. Nhưng khi tập đoàn McDonald cũng đưa ra yêu cầu này bởi lượng khách tiêu thụ hamburger của họ giảm quá nhiều, thì lập tức các công ty thực phẩm thực hiện ngay: “Bởi chúng tôi có giỏ hàng lớn nhất thế giới”, như một đại diện của McDonald giải thích. Nhiệm vụ của công chúng là xác định những mắt xích nào trong dây chuyền cung cấp nhạy cảm trước áp lực của công chúng: ví dụ như McDonald, Home Depot và Tiffany chứ không phải là các nhà đóng gói thực phẩm, những công ty trực tiếp khai thác gỗ hay khai thác vàng.
Một số độc giả có thể thất vọng hay tức giận bởi tôi quy trách nhiệm cuối cùng, đối với các hoạt động kinh doanh gây tổn hại cho công chúng, vào chính công chúng. Tôi cũng buộc công chúng phải gánh chịu các chi phí phát sinh, nếu có, từ những hoạt động bảo vệ môi trường mà tôi coi như các chi phí bình thường trong hoạt động kinh doanh, giống như các chi phí khác. Quan điểm của tôi dường như bỏ qua vấn đề là các doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc đạo đức, bất kể họ có thu được lợi nhuận hay không. Thay vào đó, tôi lại công nhận rằng, trong suốt lịch sử của con người, trong tất cả các xã hội có hệ thống chính trị tiên tiến nhất mà ở đó con người đụng độ với những cá nhân khác không có quan hệ gia đình hay thị tộc, thì các quy định của chính quyền xuất hiện đúng lúc bởi nó rất cần thiết để thực thi những nguyên tắc đạo đức. Sự viện dẫn nguyên tắc đạo đức là bước cần thiết đầu tiên để suy luận đâu là những hành vi đạo đức tốt, nhưng chỉ riêng điều đó thôi thì chưa đủ.
Với tôi, kết luận rằng công chúng phải chịu trách nhiệm cuối cùng đối với hành vi của ngay cả những doanh nghiệp lớn nhất là một quan điểm đúng đắn và đầy hy vọng, chứ không đáng thất vọng. Kết luận của tôi không phải là một kết luận mang tính đạo đức rằng ai đúng, ai sai, đáng khâm phục hay ích kỷ, người tốt hay người xấu. Thay vào đó, kết luận của tôi là một điều dự báo, dựa trên những gì tôi đã thấy xảy ra trong quá khứ. Các doanh nghiệp buộc phải thay đổi khi công chúng yêu cầu và trông chờ những hành vi khác, và những doanh nghiệp có những hành vi theo đúng ý muốn của công chúng sẽ được đền đáp, còn những doanh nghiệp có những hành vi không làm công chúng hài lòng sẽ gặp nhiều khó khăn. Tôi dự đoán rằng trong tương lai, cũng như trong quá khứ, những thay đổi trong quan niệm của công chúng sẽ là yếu tố thiết yếu dẫn tới những thay đổi trong hoạt động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp.