SỤP ĐỔ

Lượt đọc: 1970 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 16
thế giới như một vùng đất lấn biển: tất cả những điều đó có ý nghĩa gì với chúng ta ngày nay?

Giới thiệu - Những vấn đề nghiêm trọng nhất - Nếu chúng ta không xử lý… - Cuộc sống ở Los Angeles - Những lý lẽ phản đối giản đơn  Quá khứ và hiện tại - Những lý do để hy vọng.

Những chương trước của cuốn sách này đã thảo luận tại sao những xã hội trước đây cũng như hiện nay thành công hay thất bại trong việc giải quyết những vấn đề môi trường. Giờ chương cuối cùng này sẽ xem xét những liên hệ tới thực tế của cuốn sách: tất cả những điều đó có ý nghĩa gì với chúng ta hiện nay?

Tôi sẽ bắt đầu bằng việc lý giải hàng loạt những vấn đề môi trường chủ yếu mà các xã hội hiện đại đang phải đối mặt, và quá trình chúng gây ra những tổn hại. Để chứng minh tác động của những vấn đề này, tôi sẽ trình bày tỷ mỷ về nơi tôi đã sinh sống trong 39 năm qua, đó là nam California. Sau đó tôi sẽ trình bày những lý lẽ thường được đưa ra để phản đối tầm quan trọng của các vấn đề môi trường hiện nay. Có tới một nửa cuốn sách được dành để viết về các xã hội trước đây do chúng có thể mang lại những bài học quý báu cho các xã hội hiện đại, nên tôi sẽ xem xét những khác biệt giữa thế giới hiện đại và thế giới cổ xưa có ảnh hưởng thế nào tới những bài học mà chúng ta có thể rút ra từ quá khứ. Cuối cùng, với bất kỳ ai đặt câu hỏi: “Với tư cách cá nhân thì tôi có thể làm được gì?”, tôi sẽ đưa ra những gợi ý trong phần Đọc thêm.

Theo tôi, dường như những vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất mà các xã hội trước đây và hiện nay đều phải đối mặt có thể chia thành 12 nhóm. 8 trong số 12 nhóm đã trở thành nghiêm trọng trong các xã hội trước đây, và bốn nhóm còn lại (các số 5, 7, 8 và 10 là năng lượng, quang hợp tối đa, các hóa chất độc hại và thay đổi không khí) gần đây mới trở nên nghiêm trọng. Bốn nhóm đầu bao gồm việc phá hoại hay gây tổn hại các nguồn tài nguyên thiên nhiên; ba nhóm tiếp theo liên quan tới việc sử dụng tối đa các nguồn tài nguyên thiên nhiên; ba nhóm tiếp theo nữa bao gồm những điều có hại do chúng ta tạo ra hay di chuyển chúng; và hai nhóm cuối cùng là các vấn đề dân số. Chúng ta hãy bắt đầu với những nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chúng ta đang tàn phá hay gây tổn hại, đó là: các môi trường sống tự nhiên, các nguồn lương thực từ thiên nhiên hoang dã, đa dạng sinh học và đất.

1. Với tốc độ ngày càng tăng, chúng ta đang tàn phá các môi trường sống tự nhiên hay biến đổi chúng thành những môi trường sống nhân tạo, như những thành phố và làng mạc, những đồn điền và đồng cỏ, những con đường và sân gôn. Những môi trường sống bị tổn hại gây tranh cãi nhiều nhất là những khu rừng, các đầm lầy, các dải san hô và đáy đại dương. Như đã trình bày ở chương trước, hơn một nửa diện tích rừng nguyên sinh của thế giới hiện đã bị chuyển sang những mục đích sử dụng khác, và với tốc độ chuyển đổi như hiện nay, trong vòng nửa thế kỷ tới 1/4 số rừng còn lại sẽ tiếp tục bị chuyển đổi. Những khu rừng bị tổn hại chính là những tổn thất của con người chúng ta, nhất là bởi những khu rừng cung cấp gỗ và các nhiên liệu thô khác cho chúng ta, và bởi chúng mang lại cho chúng ta những lợi ích sinh thái như bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất khỏi bị xói mòn, tạo ra những bước cần thiết trong chu trình hình thành nước để mang lại phần lớn lượng mưa của chúng ta, và là môi trường sống cho hầu hết những loài động, thực vật trên cạn. Phá rừng là một hoặc chính là yếu tố quan trọng trong sự sụp đổ của tất cả các xã hội trước đây mà cuốn sách này đã đề cập. Hơn nữa, như đã thảo luận trong Chương 1 về Montana, những vấn đề hiện đang khiến chúng ta lo lắng không chỉ là tàn phá và biến đổi rừng, mà còn là những thay đổi trong cấu trúc môi trường sống của số rừng còn lại. Cùng với những vấn đề khác, cấu trúc rừng thay đổi sẽ làm thay đổi cách thức cháy rừng khiến những rừng gỗ, rừng cây bụi và các thảo nguyên có nguy cơ cháy lớn hơn với mức độ nghiêm trọng hơn.

Ngoài rừng, những môi trường sống tự nhiên quý giá khác cũng đang bị tàn phá. Diện tích đầm lầy nguyên sinh trên thế giới đang bị tàn phá, gây tổn hại hay biến đổi còn lớn hơn cả diện tích rừng. Những hậu quả đối với chúng ta là đầm lầy có vai trò quan trọng trong việc duy trì chất lượng các nguồn nước của con người và là yếu tố quan trọng đảm bảo sự tồn tại của ngành thủy sản nước ngọt thương mại, trong khi thậm chí ngành thủy sản nước mặn cũng phụ thuộc vào những rừng đước đầm lầy để tạo ra môi trường sống cho giai đoạn phát triển của nhiều loài cá. Khoảng 1/3 dải san hô của thế giới, có thể coi như những khu rừng nhiệt đới dưới biển bởi chúng là môi trường sống của nhiều loài hải sản, hiện đã bị tàn phá nghiêm trọng. Nếu xu hướng này còn tiếp tục, từ nay tới năm 2030, khoảng một nửa số dải san hô còn lại sẽ bị hủy diệt. Những dải san hô bị tàn phá và gây tổn hại do hậu quả của việc sử dụng thuốc nổ để đánh cá, bị các loài tảo (rong biển) xâm lấn do những loài cá lớn chuyên ăn tảo đã bị đánh bắt, ảnh hưởng của các loại bùn đất lắng đọng và chất ô nhiễm từ những vùng đất cạnh biển bị phát quang hay hoán cải thành đất nông nghiệp tràn xuống biển, và san hô đang bị chết do nhiệt độ nước biển tăng lên. Gần đây con người đã nhận ra rằng đánh cá bằng lưới rà vét đang hủy hoại phần lớn môi trường sống ở đáy những vùng biển nông và tàn sát những loài sinh vật sinh sống ở đó.

2. Các nguồn lương thực từ thiên nhiên hoang dã, nhất là cá và ở một mức độ thấp hơn là các loài giáp xác, cung cấp lượng protein lớn cho con người. Quả thực, đây là nguồn protein không mất tiền của con người (ngoại trừ chi phí đánh bắt và vận chuyển cá), và làm giảm nhu cầu protein từ các loài động vật mà chúng ta phải chăn nuôi như các loài gia súc. Khoảng hai tỷ người, đa phần là người nghèo, sống phụ thuộc vào nguồn protein từ biển. Nếu trữ lượng cá tự nhiên được quản lý hợp lý, thì chúng ta có thể duy trì và khai thác chúng mãi mãi. Đáng tiếc là, vấn đề mang tên thảm kịch chung (Chương 14) thường vô hiệu hóa những nỗ lực quản lý các loài thủy sản bền vững, và phần lớn các loài thủy sản quý giá hoặc đã tuyệt chủng hay đang trên đà suy giảm nghiêm trọng (Chương 15). Các xã hội trước đây đã từng đánh bắt cá quá mức bao gồm đảo Phục Sinh, Mangareva và Henderson.

Tôm, cá được nuôi trồng ngày càng nhiều, về mặt nguyên tắc, hứa hẹn trong tương lai đây là cách rẻ nhất để sản xuất protein động vật. Trong một số khía cạnh, mặc dù nuôi trồng thủy sản hiện đang được áp dụng phổ biến nhưng lại khiến các loài thủy sản tự nhiên suy giảm càng trầm trọng hơn chứ không tốt hơn lên. Cá nuôi chủ yếu được nuôi bằng thức ăn chế biến từ cá tự nhiên và bởi vậy cá nuôi tiêu thụ lượng loại thức ăn này nhiều hơn (tới 20 lần) nếu so với thức ăn trong tự nhiên của chúng. Cá nuôi có hàm lượng độc tố cao hơn cá tự nhiên. Cá nuôi thường xuyên thoát ra ngoài và giao phối với cá tự nhiên, do vậy gây tổn hại tới trữ lượng gen của cá tự nhiên, bởi các loài cá nuôi được tuyển chọn để tăng trưởng nhanh hơn, đổi lại khả năng sinh sống trong tự nhiên kém hơn (khả năng sinh sống của cá hồi nuôi ngắn hơn cá hồi tự nhiên 50 lần). Những loại chất thải từ nuôi trồng thủy sản thoát ra ngoài gây ô nhiễm và tích tụ các chất dinh dưỡng. Chi phí nuôi trồng thủy sản thấp hơn đánh bắt cá khiến giá cá xuống thấp, buộc ngư dân khai thác những nguồn cá tự nhiên mạnh hơn để duy trì mức thu nhập ổn định do giá cá hạ.

3. Một phần lớn các loài thực vật hoang dã, số lượng và đa dạng di truyền đã bị suy giảm và mất, và với tốc độ như hiện nay, trong nửa thế kỷ tới một số lượng lớn các loài còn lại sẽ tiếp tục bị mất đi. Một số loài, như những loài động vật lớn có thể ăn thịt, hay những loài cây gỗ tốt hoặc có hoa quả có thể ăn được, rõ ràng rất giá trị với chúng ta. Trong nhiều xã hội trước đây tự làm hại mình khi hủy diệt những loài này có các cư dân đảo Phục Sinh và Henderson mà chúng ta đã thảo luận.

Nhưng tổn hại đa dạng sinh học đối với những sinh vật nhỏ bé, không ăn được thường gây ra phản ứng: “Ai sẽ quan tâm? Chẳng lẽ bạn lại ít coi trọng con người hơn là mấy con cá, cây cỏ dại nhỏ bé, vô dụng như mấy con chim ăn ốc sên hay cỏ sắt Furbish?” Người đặt câu hỏi đã quên mất rằng toàn bộ thế giới thiên nhiên hoang dã là do các loài sinh vật hoang dã tạo ra, mang lại cho chúng ta những lợi ích rất quan trọng mà trong nhiều trường hợp chúng ta không thể tự đáp ứng. Tiêu diệt nhiều loài nhỏ bé thường gây ra những hậu quả lớn cho con người, giống như việc tùy tiện nhổ bỏ những chiếc đinh vít nhỏ bé, vô dụng liên kết với nhau trên một chiếc máy bay. Có vô số những ví dụ như vậy: Vai trò của giun trong tái tạo đất và duy trì kết cấu của đất (một trong những lý do khiến lượng oxy trong tầng sinh quyển giảm, gây tổn hại tới cuộc sống của con người và đang tàn phá cuộc sống của một đồng nghiệp của tôi, do không có những loại giun đất thích hợp để làm biến đổi đất/trao đổi khí trong không khí); các vi khuẩn trong đất có tác dụng tập trung chất dinh dưỡng nito cần thiết cho hoa màu, nếu không chúng ta sẽ phải tốn kém nhiều chi phí để cung cấp chất dinh dưỡng cho hoa màu dưới dạng phân bón; ong và các loài côn trùng thụ phấn khác (giúp thụ phấn miễn phí cho hoa màu của chúng ta, nếu chúng ta tự thụ phấn cho hoa thì sẽ rất tốn kém); chim và các loài động vật có vú gieo rắc các loài hoa quả hoang dã (những người trồng rừng hiện vẫn chưa tìm ra cách gieo hạt những loài cây thương mại giá trị nhất trên quần đảo Solomon, bởi những loại hạt này thường được loài dơi ăn hoa quả gieo rắc tự nhiên, nhưng hiện chúng đã bị tuyệt chủng); tiêu diệt cá voi, cá mập, gấu, cáo và những loài động vật ăn thịt khác trên biển cũng như trên đất liền làm thay đổi toàn bộ hệ sinh vật liên quan tới các loài này; và nhiều loài động, thực vật hoang dã khác có tác dụng phân hủy các loại chất thải, tái tạo chất dinh dưỡng, làm sạch nước và không khí cho chúng ta.

4. Đất canh tác được sử dụng để trồng hoa màu đang bị nước và gió làm xói mòn với tốc độ nhanh gấp 10-40 lần tốc độ hình thành đất, và từ 500 - 10.000 lần so tốc độ xói mòn của đất có rừng che phủ. Bởi tốc độ xói mòn đất cao hơn tốc độ hình thành nhiều lần, có nghĩa là đất đang mất dần. Ví dụ, khoảng một nửa số đất mặt của bang Iowa, một trong những bang có sản lượng nông nghiệp cao nhất nước Mỹ, đã bị xói mòn trong vòng 150 năm qua. Trong chuyến thăm gần đây tới Iowa, những người dân ở đây đã chỉ cho tôi một chiếc sân nhà thờ là bằng chứng rõ ràng của tình trạng mất đất do xói mòn. Nhà thờ này được xây dựng ở giữa khu đất canh tác từ thế kỷ XIX, và từ đó tới nay vẫn được dùng làm nhà thờ, trong khi đất xung quanh được sử dụng làm đất canh tác. Do đất trên những cánh đồng xói mòn nhanh hơn đất trong sân nhà thờ nên hiện nhà thờ trông như một hòn đảo nhỏ, nổi bật giữa khu đất canh tác, sân nhà thờ cao hơn xung quanh tới 3 mét.

Những hình thái gây tổn hại đất khác do hoạt động nông nghiệp của con người gây ra bao gồm mặn hóa, như đã thảo luận trong các chương về Montana, Trung Quốc và Australia; đất bạc màu, do trồng trọt làm đất mất các chất dinh dưỡng nhanh hơn khả năng phục hồi bởi hiện tượng phong hóa các tầng đá bên dưới; và tình trạng đất bị axit hóa tại một số vùng, hay bị biến đổi, kiềm hóa tại một số vùng khác. Tất cả những loại tác động tiêu cực này đều khiến lượng lớn đất canh tác trên thế giới, dao động từ khoảng 20%-80%, bị tổn hại nghiêm trọng, trong khi dân số ngày càng tăng khiến chúng ta cần nhiều đất canh tác hơn. Cũng như phá rừng, những vấn đề đất đai góp phần khiến tất cả những xã hội trước đây được đề cập trong cuốn sách này bị sụp đổ.

Ba vấn đề tiếp theo liên quan tới mức độ tiêu thụ tối đa năng lượng, nước ngọt và năng suất quang hợp. Trong mỗi trường hợp, mức độ tối đa này không phải là cứng nhắc và cố định mà rất mềm dẻo: chúng ta có thể khai thác tài nguyên cần thiết nhiều hơn, nhưng với chi phí ngày càng tăng.

5. Các nguồn năng lượng chính của thế giới, đặc biệt trong các xã hội công nghiệp, là các nhiên liệu hóa thạch như dầu lửa, khí tự nhiên và than. Mặc dù có nhiều tranh cãi về trữ lượng dầu và khí còn lại có thể khai thác, và trong khi trữ lượng than được cho rằng vẫn còn lớn, nhưng các quan điểm phổ biến hiện nay là dường như trữ lượng dầu lửa và khí tự nhiên hiện chỉ có thể khai thác trong vài thập kỷ nữa mà thôi. Không nên hiểu nhầm quan điểm này rằng tất cả dầu lửa và khí tự nhiên trên Trái đất tới thời điểm đó sẽ bị cạn kiệt. Thay vào đó, những trữ lượng mới được phát hiện sẽ ở mức sâu hơn, ô nhiễm hơn, chi phí khai thác và chế biến tốn kém hơn, hay các chi phí môi trường liên quan sẽ cao hơn. Tất nhiên, các loại nhiên liệu hóa thạch không phải là những nguồn năng lượng duy nhất của chúng ta, và tôi sẽ đề cập tới những vấn đề phát sinh từ những nguồn năng lượng thay thế ở phần sau.

6. Phần lớn trữ lượng nước ngọt của thế giới trong các sông hồ hiện đang được dùng cho tưới tiêu, phục vụ các mục đích sinh hoạt và công nghiệp, dùng làm các hành lang vận tải đường thủy, nuôi trồng thủy sản và giải trí. Số sông, hồ chưa bị tận dụng chủ yếu nằm cách xa những khu dân cư, như ở tây bắc Australia, Siberia và Iceland. Trên toàn thế giới, những tầng ngậm nước ngọt dưới lòng đất đang bị suy kiệt với tốc độ nhanh hơn tốc độ tái sinh tự nhiên của chúng, do vậy hiển nhiên chúng sẽ bị cạn kiệt. Tất nhiên, nước ngọt có thể được tạo ra bằng cách khử mặn từ nước biển, nhưng như vậy sẽ rất tốn kém chi phí và năng lượng, như việc bơm nước đã được khử mặn vào đất liền để sử dụng. Bởi vậy, khử mặn, mặc dù rất hữu ích đối với từng quốc gia, nhưng lại quá tốn kém nếu sử dụng như một giải pháp cho vấn đề thiếu nước trên toàn cầu. Người Anasazi và Maya thuộc số những xã hội trước đây bị sụp đổ do các vấn đề về nước, trong khi hiện nay hơn một tỷ người dân trên toàn cầu không được tiếp cận với những nguồn nước sinh hoạt ổn định và an toàn.

7. Mới đầu dường như ánh nắng được cung cấp vô tận, như vậy thì khả năng tăng trưởng của hoa màu và thực vật hoang dã trên Trái đất dường như cũng vô tận. 20 năm trở lại đây, thế giới đã nhận ra rằng không phải vậy, không chỉ bởi thực vật tại các vùng Bắc Cực và hoang mạc trên thế giới phát triển chậm trừ khi chúng được tiếp xúc với ánh nắng và nước. Nói chung, lượng năng lượng Mặt trời trên mỗi mẫu đất được ấn định bởi hiện tượng quang hợp của thực vật, bởi vậy sự tăng trưởng của thực vật trên mỗi mẫu phụ thuộc vào nhiệt độ và lượng mưa. Với một nhiệt độ và lượng mưa nhất định, sự tăng trưởng của thực vật có thể được hỗ trợ bởi lượng ánh nắng trên mỗi mẫu bị giới hạn bởi hình dáng và đặc điểm sinh hóa của thực vật, thậm chí thực vật có thể hấp thụ ánh nắng hiệu quả tới mức không còn một lượng tử ánh sáng nào có thể chiếu qua các cây cối và rơi xuống đất. Tính toán đầu tiên của quang hợp tối đa này, được thực hiện vào năm 1986, đánh giá rằng con người hồi đó đã sử dụng (ví dụ cho hoa màu, các đồn điền trồng cây và sân gôn) hay biến đổi hoặc lãng phí (ví dụ như để ánh nắng rơi xuống các con đường bê tông và các tòa nhà) tới một nửa năng suất quang hợp của Trái đất. Với dân số Trái đất ngày càng tăng, và nhất là tác động từ dân số (xem điểm 12 bên dưới), từ năm 1986, chúng ta dự kiến sẽ sử dụng tối đa năng suất quang hợp trên cạn của thế giới vào khoảng giữa thế kỷ này. Đó là bởi phần lớn năng lượng thu được từ ánh nắng sẽ được sử dụng phục vụ các mục đích của con người, và chỉ một chút được để lại hỗ trợ cho sự sinh trưởng của cộng đồng thực vật tự nhiên, như những khu rừng tự nhiên.

Ba vấn đề tiếp theo liên quan tới những điều hại mà chính chúng ta tạo ra hay di chuyển chúng, đó là: các hóa chất độc hại, những sinh vật ngoại lai và các loại khí trong khí quyển.

8. Ngành công nghiệp hóa chất và nhiều ngành khác sản xuất hay thải vào môi trường không khí, đất, đại dương, và sông hồ nhiều loại hóa chất độc hại, trong đó có một số hóa chất “phi tự nhiên” và hoàn toàn con người tạo ra, một số loại khác trong tự nhiên có nồng độ thấp (như thủy ngân) hay những sinh vật sống có thể tạo ra, nhưng số lượng con người tạo ra và thải vào môi trường lớn hơn các sinh vật tự nhiên khác nhiều lần (như các loại hoocmon). Những hóa chất độc hại đầu tiên được chú ý rộng rãi là các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt các loài sinh vật hại và thuốc diệt cỏ với những tác động tiêu cực tới các loài chim, cá và những loài động vật khác được tác giả Rachel Carson công khai trong cuốn sách Silent Spring (tạm dịch: Mùa xuân im lặng) xuất bản năm 1962. Từ đó, con người nhận rằng chính các hóa chất do mình chế tạo lại gây ra những ảnh hưởng độc hại lớn cho con người. Thủ phạm không chỉ là các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt các loài gây hại và thuốc diệt cỏ, mà còn là thủy ngân và các loại kim loại khác, các hóa chất dập lửa, các chất làm lạnh trong tủ lạnh, chất tẩy rửa và các thành phần của nhựa. Các chất độc này xâm nhập cơ thể chúng ta qua đường thức ăn và nước, không khí và hấp thụ qua da. Thường chỉ với một nồng độ rất nhỏ, chúng cũng gây ra những hậu quả khác nhau từ sinh con dị dạng, chậm phát triển trí não, tổn hại hệ miễn dịch và sinh sản tạm thời hoặc vĩnh viễn. Một số hóa chất gây rối loạn nội tiết, chúng xâm nhập vào các hệ thống sinh sản của chúng ta bằng cách mô phỏng hay cản trở những tác dụng của các hoocmon giới tính của chúng ta. Có thể chúng là một trong những nguyên nhân chính gây suy giảm nghiêm trọng số lượng tinh trùng của nhiều nam giới trong vài thập kỷ qua, và rõ ràng làm tăng nguy cơ vô sinh ở các cặp vợ chồng, kể cả tình trạng làm tăng tuổi kết hôn ở một số nước. Ngoài ra, số người chết ở Mỹ do ô nhiễm không khí (không tính nạn nhân của ô nhiễm nước và đất) đã được đánh giá dè dặt là trên 130.000 người mỗi năm.

Nhiều loại hóa chất độc hại phân hủy trong môi trường rất chậm (như DDT và PCBs) hay không hề phân hủy (như thủy ngân), và chúng tồn tại trong môi trường trong một thời gian dài trước khi bị phân hủy. Bởi vậy, chi phí làm sạch nhiều khu vực ô nhiễm ở Mỹ lên tới hàng tỷ đô-la (như kênh Love, sông Hudson, vịnh Chesapeake, vụ tràn dầu Exxon Valdez và các mỏ đồng ở Montana). Nhưng những khu vực ô nhiễm nhất của Mỹ cũng khó có thể so sánh với ô nhiễm ở những mỏ khai thác ở Liên Xô cũ, Trung Quốc và nhiều nước Thế giới thứ ba, với chi phí làm sạch lớn tới mức không ai dám nghĩ đến.

9. Thuật ngữ “sinh vật ngoại lai” nhằm chỉ những loài sinh vật mà chúng ta di chuyển, vô tình hay cố ý, từ nơi chúng sinh ra tới một nơi xa lạ với chúng. Một số sinh vật ngoại lai hiển nhiên rất giá trị với chúng ta như các loại hoa màu, gia súc và các loài sinh vật cảnh. Nhưng có những loài gây hại tiêu diệt các loài sinh vật bản địa khác mà chúng tiếp xúc, bằng cách ăn thịt, sống ký sinh, đầu độc hoặc lấn át chúng. Các sinh vật ngoại lai gây ra những ảnh hưởng lớn bởi các sinh vật bản địa trước đó chưa hề tiếp xúc với chúng hoặc không thể chống lại chúng (như bệnh đậu mùa hay bệnh AIDS mới phát sinh với con người). Hiện có hàng trăm trường hợp các sinh vật ngoại lai gây thiệt hại trong một khoảng thời gian hoặc kéo dài nhiều năm tốn kém hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đô-la. Những ví dụ hiện đại bao gồm hai loài thỏ và cáo của Australia, các loài cỏ dại trong nông nghiệp như cây xa cúc đốm và đại kích lá rậm (Chương 1), các loài địch hại và mầm bệnh đối với cây cối, hoa màu và vật nuôi (như rệp vừng lan tràn trên những cây dẻ và tàn phá cây du của Mỹ), bèo Nhật Bản làm tắc nghẽn các tuyến đường thủy, giống trai vằn bít nguồn năng lượng của thực vật, và cá mút đá đã tiêu diệt những loài cá thương mại trước đây ở những hồ lớn ở Bắc Mỹ (Phụ bản 30, 31). Những ví dụ cổ xưa bao gồm việc du nhập loài chuột góp phần làm tuyệt chủng loài cọ trên đảo Phục Sinh do chúng gặm nhấm những hạt cọ, hút trứng và ăn thịt những loài chim sinh sản trên các đảo Phục Sinh, Henderson và tất cả các đảo Thái Bình Dương khác trước đó chưa hề có chuột.

10. Các hoạt động của con người sản sinh ra các loại khí thoát vào khí quyển, khiến chúng hoặc tàn phá tầng ozone bảo vệ Trái đất (như ảnh hưởng trước đây của các chất làm lạnh có trong tủ lạnh từng lan tràn phổ biến) hoặc trở thành khí nhà kính hấp thụ ánh nắng khiến khí hậu toàn cầu nóng dần lên. Các loại khí góp phần khiến khí hậu toàn cầu nóng lên là carbon dioxide do đốt cháy các nguyên liệu và sự hô hấp của các loài, và khí metan lên men từ phân của các loài động vật nhai lại. Tất nhiên, những vụ cháy tự nhiên và sự hô hấp của động vật cũng sản sinh ra carbon dioxide, và những loài vật nhai lại hoang dã cũng sản sinh ra khí metan, nhưng việc chúng ta đốt củi hoặc các loại nhiên liệu hóa thạch làm tăng mạnh khí carbon dioxite, và những đàn gia súc, đàn cừu làm tăng mạnh khí metan.

Trên thực tế, các nhà khoa học đã tranh cãi trong nhiều năm liền về nguyên nhân và mức độ của hiện tượng khí hậu toàn cầu nóng lên: Có phải xét về mặt lịch sử về việc hiện nhiệt độ thế giới đang lên cao không, nếu đúng thì tăng lên bao nhiêu, và có phải con người là nguyên nhân gây ra tình trạng này không? Các nhà khoa học lỗi lạc nhất đồng ý rằng, mặc dù nhiệt độ mỗi năm tăng giảm thất thường nhưng cũng cần có những phân tích chi tiết nhằm xác định những khuynh hướng nhiệt độ tăng lên, gần đây nhiệt độ của bầu khí quyển thực sự đang tăng mạnh bất thường, và các hoạt động của con người góp phần hoặc chính là nguyên nhân chính gây ra tình trạng này. Những băn khoăn còn lại chủ yếu liên quan tới mức độ nghiêm trọng của hiện tượng này trong tương lai: Ví dụ, liệu nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng “chỉ” 1,5 độ C hay tới 5 độ C trong vòng thế kỷ tới. Những con số này nghe chừng không có gì to tát, cho tới khi hiểu ra rằng nhiệt độ trung bình toàn cầu “chỉ” giảm có 5 độ tại thời kỳ đỉnh điểm của Kỷ Băng hà cuối cùng.

Mặc dù ban đầu mọi người có thể nghĩ rằng chúng ta nên vui mừng trước hiện tượng khí hậu toàn cầu nóng lên bởi nhiệt độ cao hơn có nghĩa là thực vật tăng trưởng nhanh hơn, nhưng hóa ra hiện tượng này đem lại cả những điều thuận lợi và bất lợi. Thực tế hoa màu ở những vùng có khí hậu lạnh lẽo, nhiệt độ không thuận lợi cho hoạt động nông nghiệp thì sản lượng có thể tăng lên, trong khi các loại hoa màu ở những vùng đã có khí hậu ấm áp và khô hanh thì sản lượng sẽ giảm. Tại Montana, California và nhiều vùng khác có khí hậu hanh khô, sự biến mất của những đỉnh núi bốn mùa tuyết phủ sẽ làm giảm lượng nước cung cấp cho các mục đích sinh hoạt và tưới tiêu, và gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới sản lượng hoa màu tại những vùng này. Mực nước biển toàn cầu tăng do băng, tuyết tan chảy gây ra những nguy cơ lụt lội và xói mòn bờ biển, nguy hại đối với những đồng bằng ven biển nằm ở những vùng đất thấp và đông dân, cùng những châu thổ của các con sông hiện chỉ ở trên rất ít hoặc thậm chí còn ở dưới mực nước biển. Những khu vực đang đứng trước nguy cơ này bao gồm Hà Lan, Bangladesh, vùng bờ biển phía đông nước Mỹ, nhiều đảo thấp ở Thái Bình Dương, các vùng châu thổ của sông Nile và sông Mekong, các thành phố ven biển hoặc bên bờ sông của Anh (như London), Nhật Bản, Ấn Độ và Philippines. Khí hậu toàn cầu ấm lên cũng còn sản sinh ra những tác động thứ cấp khác khó có thể dự đoán chính xác và có nhiều khả năng chúng sẽ gây ra những vấn đề lớn, như khí hậu thay đổi mạnh mẽ hơn do những thay đổi dòng hải lưu bởi những tảng băng Bắc Cực đang bị tan chảy.

Hai vấn đề còn lại liên quan tới tình trạng dân số thế giới tăng lên.

11. Dân số thế giới đang tăng lên. Dân số đông hơn khiến nhu cầu lương thực, không gian, nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên khác cũng cao hơn. Tỷ lệ và thậm chí kể cả xu hướng phát triển của dân số trên thế giới đã thay đổi mạnh mẽ, với tỷ lệ tăng trưởng dân số cao nhất (4% mỗi năm trở lên) ở một số nước Thế giới thứ ba, tỷ lệ tăng trưởng thấp (từ 1% mỗi năm trở xuống) ở một số nước Thế giới thứ nhất như Italia và Nhật Bản, và tỷ lệ tăng trưởng âm (dân số suy giảm) diễn ra ở các nước đang phải đối mặt với những khủng hoảng lớn về sức khỏe cộng đồng, như Nga và các nước châu Phi đang phải đối mặt với dịch bệnh AIDS. Tất cả mọi người thừa nhận rằng dân số thế giới đang tăng lên, nhưng tỷ lệ tăng hằng năm không cao như cách đây một, hai thập kỷ. Tuy nhiên, vẫn có sự bất đồng về vấn đề liệu dân số thế giới sẽ ổn định ở một giá trị nào đó trên mức độ hiện nay không (gấp đôi dân số hiện nay?), và (nếu vậy) bao nhiêu năm nữa (30 năm? 50 năm?) thì dân số thế giới mới đạt tới mức độ đó, hay liệu dân số sẽ vẫn tiếp tục tăng.

Có một đà nội tại lớn khiến dân số thế giới phát triển bởi cái gọi là “lợi thế nhân khẩu học” hay “đà dân số”, ví dụ như hiện tượng mất cân đối về số lượng trẻ em và những người trẻ trong độ tuổi sinh sản trong dân số hiện nay là hậu quả của sự phát triển dân số gần đây. Giả sử các cặp vợ chồng trên thế giới đều quyết định chỉ sinh tới hai con, đây chính là số lượng trẻ em cần thiết để dân số thế giới ổn định về lâu dài bởi số trẻ em này sẽ thay thế chính xác số những bậc làm cha mẹ sẽ chết đi (thực tế, tỷ lệ trẻ em là 2,1 không tính tỷ lệ trẻ tử vong, những cặp vợ chồng không sinh con và số trẻ ngoài giá thú). Dù sao, dân số thế giới vẫn tiếp tục tăng trong vòng khoảng 70 năm tới, bởi hiện số người trong hoặc đang vào độ tuổi sinh sản đông hơn số người già và người hết độ tuổi sinh sản. Trong vài thập kỷ gần đây, vấn đề tăng trưởng dân số được chú ý nhiều và tạo điều kiện cho những phong trào như Tăng trưởng Dân số Bằng không phát triển với mục đích làm chậm hay ngăn chặn tăng trưởng dân số.

12. Nhưng mối quan tâm thực sự không phải chỉ là số lượng con người, mà còn cả tác động của họ tới môi trường. Nếu phần lớn số 6 tỷ người trên thế giới hiện nay nằm trong kho đông lạnh mà không ăn uống, hít thở hay cũng không có quá trình chuyển hóa, thì dân số lớn đó cũng chẳng gây ảnh hưởng gì tới môi trường. Nhưng không phải vậy, dân số thế giới hiện đang gây ra nhiều vấn đề môi trường bởi chúng ta tiêu thụ những nguồn tài nguyên và tạo ra rác thải. Tỷ lệ tác động môi trường theo đầu người - các nguồn tài nguyên được tiêu thụ và các loại rác thải phát sinh của mỗi người - trên thế giới rất khác nhau, cao nhất là Thế giới thứ nhất và thấp nhất là Thế giới thứ ba. Trung bình, mỗi công dân Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản tiêu thụ tài nguyên, như các loại nhiên liệu hóa thạch, và thải ra rác thải cao gấp 32 lần so với công dân của Thế giới thứ ba (Phụ bản 35).

Nhưng những nước có tỷ lệ tác động thấp đang trở thành những nước có tỷ lệ tác động cao vì hai lý do: Mức sống ở các nước Thế giới thứ ba đang tăng lên bởi mục tiêu của người dân các nước này là nâng tiêu chuẩn sống lên ngang bằng Thế giới thứ nhất; và nhập cư, cả hợp pháp và bất hợp pháp, của người dân các nước Thế giới thứ ba vào Thế giới thứ nhất, do các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội trong nước. Nhập cư từ các nước có tỷ lệ tác động thấp hiện đang là nguyên nhân chính khiến dân số Mỹ và châu Âu tăng lên nhanh chóng. Cũng vì lý do này mà vấn đề dân số trầm trọng nhất thế giới không phải là tỷ lệ tăng trưởng dân số cao tại Kenya, Rwanda và một số nước Thế giới thứ ba nghèo khổ khác, mặc dù chắc chắn nó sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho các nước này, và mặc dù đó là vấn đề dân số được thảo luận nhiều nhất. Thay vào đó, vấn đề lớn nhất chính là tỷ lệ tác động tổng thể của con người tới môi trường tăng do mức sống của Thế giới thứ ba tăng, và tình trạng người dân Thế giới thứ ba di cư sang Thế giới thứ nhất và tuân theo các tiêu chuẩn sống của Thế giới thứ nhất.

Nhiều “người lạc quan” cho rằng thế giới có thể nuôi sống số dân gấp đôi như hiện nay, và con người chỉ tăng về số lượng còn tỷ lệ tác động môi trường trung bình trên mỗi đầu người là không tăng. Nhưng tôi chưa từng gặp ai nghiêm túc cho rằng thế giới có thể chịu đựng những tác động lớn gấp 12 lần như hiện nay, mặc dù hệ số tăng đó là do tất cả cư dân Thế giới thứ ba đang theo đuổi các tiêu chuẩn sống của Thế giới thứ nhất. (Hệ số 12 đó thấp hơn hệ số 32 mà tôi đã đề cập ở phần trên, bởi bản thân cư dân Thế giới thứ nhất đã có mức sống tác động cao, cho dù số dân không thể sánh kịp Thế giới thứ ba). Thậm chí nếu chỉ riêng người dân Trung Quốc đạt tiêu chuẩn sống tương đương Thế giới thứ nhất, trong khi tiêu chuẩn sống của các nước khác vẫn giữ nguyên, thì tác động của con người tới môi trường thế giới đã tăng gấp đôi (Chương 12).

Người dân Thế giới thứ ba ước ao được sống như người dân của Thế giới thứ nhất. Khát vọng của họ càng cháy bỏng khi xem truyền hình, xem những quảng cáo về các sản phẩm tiêu dùng của Thế giới thứ nhất đang bán trên đất nước họ và quan sát những du khách đến từ Thế giới thứ nhất. Thậm chí ngay tại những ngôi làng, những trại tị nạn xa xôi nhất hiện nay mọi người đều biết về cuộc sống ở thế giới bên ngoài. Khát vọng của công dân các nước Thế giới thứ ba được các cơ quan phát triển của Thế giới thứ nhất và Liên Hợp quốc khuyến khích khi luôn vẽ ra triển vọng biến giấc mơ thành hiện thực nếu họ có những chính sách đúng đắn như cân đối ngân sách quốc gia, đầu tư vào giáo dục và cơ sở hạ tầng, v.v...

Nhưng không một ai trong các chính phủ của Thế giới thứ nhất sẵn lòng thừa nhận những điều không tưởng của giấc mơ, đó là: Thế giới sẽ không thể chống đỡ được nếu toàn bộ dân số của Thế giới thứ ba đạt được mức sống hiện nay của Thế giới thứ nhất. Thế giới thứ nhất sẽ không thể giải quyết vấn đề này bằng cách ngăn cản những nỗ lực của Thế giới thứ ba nhằm vươn tới mục tiêu này. Các nước Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Hongkong, Đài Loan và Mauritius đã thành công hoặc sắp thành công; Trung Quốc và Ấn Độ đang phát triển nhanh chóng; và 15 nước Tây Âu giàu có hợp thành Liên minh châu Âu vừa kết nạp thêm 10 thành viên là những nước Đông Âu nghèo hơn, và cam kết hỗ trợ nâng mức sống của các nước này lên ngang bằng những thành viên cũ. Thậm chí kể cả nếu không có Thế giới thứ ba, thì chỉ riêng các nước Thế giới thứ nhất cũng khó có thể duy trì được tiến trình phát triển như hiện nay, bởi hiện các nước này đang đi trên con đường không vững chắc do các nguồn tài nguyên bản địa cũng như nhập khẩu từ Thế giới thứ ba đang dần suy kiệt. Hiện tại, về mặt chính trị, lãnh đạo các nước Thế giới thứ nhất đã buộc phải thừa nhận với các công dân của mình rằng mức sống của họ đang giảm đi, được thể hiện qua mức tiêu thụ tài nguyên và phát sinh rác thải giảm đi. Điều gì sẽ diễn ra nếu cuối cùng tất cả những người dân của Thế giới thứ ba phát hiện ra rằng họ không thể đạt được mức sống như Thế giới thứ nhất, và rằng Thế giới thứ nhất không chấp nhận tự nguyện từ bỏ mức sống của mình? Cuộc sống đầy những lựa chọn khó khăn dựa trên sự có đi có lại mà chúng ta phải giải quyết: khuyến khích và giúp đỡ tất cả mọi người trên thế giới nâng cao mức sống, nhưng lại không muốn tiêu chuẩn sống bị ảnh hưởng bởi những áp lực quá lớn đối với các nguồn tài nguyên trên toàn cầu.

Tôi đã mô tả 12 vấn đề môi trường một cách riêng biệt nhưng thực tế chúng có liên quan tới nhau: vấn đề này làm vấn đề kia nghiêm trọng hơn hay khiến việc giải quyết nó khó khăn hơn. Ví dụ, tăng trưởng dân số ảnh hưởng tới tất cả 11 vấn đề: dân số đông hơn có nghĩa là phá rừng nhiều hơn, hóa chất độc hại nhiều hơn, nhu cầu tiêu thụ cá tự nhiên cao hơn, v.v. Vấn đề năng lượng có liên quan tới những vấn đề khác bởi việc sử dụng các nhiên liệu hóa thạch để sản xuất năng lượng góp phần làm tăng các loại khí nhà kính, khắc phục hiện tượng đất bạc màu bằng cách sử dụng phân bón nhân tạo đòi hỏi cần phải có năng lượng để sản xuất phân bón, khan hiếm nhiên liệu hóa thạch khiến chúng ta tăng cường xây dựng các nhà máy năng lượng nguyên tử với những nguy cơ “độc hại” lớn nhất trong trường hợp xảy ra sự cố, khan hiếm nhiên liệu hóa thạch cũng khiến việc giải quyết các vấn đề về nước ngọt của chúng ta tốn kém hơn do phải sử dụng năng lượng để khử mặn nước biển. Suy kiệt các nguồn thủy hải sản và các nguồn lương thực tự nhiên khác làm tăng áp lực đối với việc chăn nuôi gia súc, trồng trọt hoa màu và nuôi trồng thủy sản để thay thế các nguồn lương thực tự nhiên đã mất, từ đó dẫn tới tình trạng mất đất mặt và dư thừa chất dinh dưỡng trong nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản diễn ra trầm trọng hơn. Các vấn đề về phá rừng, thiếu nước và suy thoái đất ở Thế giới thứ ba càng tạo điều kiện cho những cuộc chiến tranh bùng nổ và khiến số người tỵ nạn và di cư bất hợp pháp sang Thế giới thứ nhất ngày càng đông.

Xã hội của chúng ta hiện đang đi trên con đường không bền vững, và bất kỳ vấn đề nào trong 12 vấn đề không bền vững mà chúng ta vừa điểm qua cũng đủ gây ảnh hưởng tới mức sống của chúng ta trong vài thập kỷ tới. Chúng như những trái bom nổ chậm mà giờ nổ chưa tới 50 năm nữa. Ví dụ, những khu rừng nhiệt đới dễ tiếp cận ở những vùng đất thấp, ngoài các công viên quốc gia, hiện rõ ràng đã bị hủy diệt hoàn toàn ở bán đảo Malaysia, và với tốc độ như hiện nay rồi thì chỉ chưa đầy một thập kỷ nữa sẽ tới lượt quần đảo Solomon, Philippines, Sumatra và Sulawesi, và chỉ trong vòng 25 năm nữa sẽ tới lượt tất cả những cánh rừng khác trên toàn thế giới, trừ những cánh rừng trong khu vực lưu vực Amazon và Congo. Với tốc độ hiện nay, chúng ta sẽ khai thác kiệt quệ hoặc tàn phá phần lớn những nguồn hải sản còn lại của thế giới, khai thác kiệt quệ những trữ lượng dầu lửa và khí tự nhiên sạch, rẻ, dễ tiếp cận và tận dụng tối đa năng suất quang hợp chỉ trong vài thập kỷ tới. Khí hậu toàn cầu nóng lên dự kiến sẽ đạt tới ít nhất một độ C, và một phần lớn các loài động thực vật hoang dã của thế giới sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm hay bị tuyệt chủng và không thể phục hồi, chỉ trong vòng nửa thế kỷ nữa. Mọi người thường hỏi nhau: “Vấn đề dân số, môi trường đơn lẻ nào quan trọng nhất mà thế giới ngày nay đang phải đối mặt?” Câu trả lời hài hước sẽ là: “Vấn đề đơn lẻ quan trọng nhất là chúng ta đã nhầm lẫn khi chú trọng xác định vấn đề đơn lẻ quan trọng nhất”. Câu trả lời đó thực chất lại chính xác, bởi bất kỳ vấn đề nào trong số 12 vấn đề trên nếu không được giải quyết cũng gây thiệt hại cực kỳ to lớn cho chúng ta, và bởi tất cả chúng đều có quan hệ tương tác với nhau. Nếu chúng ta giải quyết 11 vấn đề mà bỏ qua vấn đề thứ 12, chúng ta vẫn gặp rắc rối, cho dù đó là bất kỳ vấn đề nào. Chúng ta cần phải giải quyết tất cả 12 vấn đề trên.

Do vậy, bởi chúng ta đang tiến rất nhanh trên con đường không bền vững này, nên bằng cách này hay cách khác, các vấn đề môi trường của thế giới sẽ được các thế hệ trẻ hiện nay giải quyết. Vấn đề ở đây là liệu chúng có được giải quyết bằng những cách thích hợp do chính chúng ta chọn lựa hay không, hay bằng những cách tiêu cực mà chúng ta không muốn chọn lựa như chiến tranh, diệt chủng, dịch bệnh và các xã hội sụp đổ. Trong khi tất cả các hiện tượng tàn khốc trên luôn gắn chặt với lịch sử xã hội loài người, nhưng mức độ nghiêm trọng của suy thoái môi trường và áp lực dân số sẽ kéo theo đói nghèo và bất ổn chính trị.

Thế giới có rất nhiều ví dụ về những giải pháp tiêu cực trước những vấn đề về dân số và môi trường, cả trong thế giới hiện đại và thế giới cổ xưa. Trong đó có những cuộc tàn sát diễn ra gần đây ở Rwanda, Burundi và Nam Tư cũ; chiến tranh, nội chiến hay chiến tranh du kích ở Sudan, Philippines và Nepal hiện đại, và trong xã hội Maya cổ xưa; tục ăn thịt người ở đảo Phục Sinh và Mangareva thời tiền sử và Anasazi trước đây; nạn đói ở nhiều đất nước châu Phi hiện đại và ở đảo Phục Sinh thời tiền sử; dịch bệnh AIDS ở châu Phi và đang lan tràn sang những nơi khác; và sự sụp đổ của chính quyền Nhà nước ở Somalia, quần đảo Solomon và Haiti hiện đại, và trong xã hội Maya cổ xưa. Một hậu quả khác ít nghiêm trọng hơn kịch bản toàn thế giới sụp đổ có thể “chỉ là” sự tràn lan của tình trạng hỗn loạn như Haiti hay Rwanda sang các nước đang phát triển, trong khi chúng ta, những cư dân của Thế giới thứ nhất hiện vẫn tiếp tục cuộc sống tiện nghi của mình, nhưng trong tương lai sẽ phải đối mặt với nguy cơ điều kiện sống bị suy giảm do những cuộc khủng bố triền miên, chiến tranh và dịch bệnh bùng nổ. Không rõ liệu Thế giới thứ nhất có duy trì được mức sống riêng biệt như hiện nay khi phải đối mặt với làn sóng những người nhập cư tuyệt vọng chạy trốn khỏi những nước Thế giới thứ ba đang sụp đổ, mà số lượng người tị nạn lớn hơn gấp nhiều lần so với dòng người di cư hiện đã không thể ngăn chặn được. Tôi muốn nhắc lại bức tranh mà tôi đã phác họa về kết thúc thảm hại của trang trại Thánh đường Gardar và những đàn gia súc khổng lồ của Greenland đã bị những dòng người Norse tuyệt vọng từ những trang trại nghèo hơn, nơi gia súc đã chết hoặc bị ăn thịt hết, tràn đến tàn phá.

Nhưng trước khi chúng ta chịu bó tay trước kịch bản bi quan một chiều này, hãy nghiên cứu kỹ hơn những vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt và mức độ phức tạp của chúng. Theo tôi, điều này sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn lạc quan, thận trọng hơn.

Để kết luận bên trên bớt trừu tượng, giờ tôi sẽ chứng minh 12 vấn đề môi trường trên tác động như thế nào tới đời sống của phần trái đất mà tôi quen thuộc nhất: thành phố Los Angeles ở Nam California, nơi tôi sống. Lớn lên ở Bờ biển phía đông nước Mỹ và đã sống vài năm ở châu Âu, năm 1964 lần đầu tiên đến California, ngay lập tức tôi đã bị cuốn hút và chuyển tới đây năm 1966.

Bởi vậy, tôi tận mắt chứng kiến Nam California thay đổi như thế nào trong vòng 39 năm qua, chủ yếu theo chiều hướng tiêu cực, khiến nó ít lôi cuốn hơn. Theo tiêu chuẩn thế giới, những vấn đề môi trường của Nam California tương đối nhẹ nhàng. Nói theo cách đùa của người Mỹ ở Bờ biển phía đông là vùng này chưa có nguy cơ xã hội sẽ bị sụp đổ ngay lập tức. Theo tiêu chuẩn thế giới và thậm chí cả tiêu chuẩn của Mỹ, thì đây là vùng dân cư giàu có và có nhận thức cao về môi trường. Los Angeles nổi tiếng về một số vấn đề ô nhiễm môi trường, nhất là hiện tượng mây khói, nhưng phần lớn các vấn đề môi trường và dân số của nó ở mức độ bình thường hay điển hình khi so sánh với các thành phố hàng đầu khác của Thế giới thứ nhất. Những vấn đề môi trường này ảnh hưởng thế nào tới cuộc sống của người dân Los Angeles và cá nhân tôi?

Những phàn nàn của người dân Los Angeles chủ yếu là những vấn đề liên quan trực tiếp tới tình trạng đông dân và vẫn đang tiếp tục tăng lên, đó là: tắc đường và giá nhà quá cao (Phụ bản 36), do hàng triệu người chỉ tập trung làm việc trong vài khu vực trung tâm, và bởi khu vực dân sinh xung quanh các trung tâm này rất hạn chế; nên hậu quả là người dân Los Angeles phải sinh sống ở những nơi cách chỗ làm việc tới hai giờ đồng hồ lái xe hoặc tới gần 100 kilômét, và phải lái xe đi lại giữa nơi ở và nơi làm việc. Từ năm 1987, Los Angeles đã trở thành một trong những thành phố có tình trạng giao thông tồi tệ nhất nước Mỹ và từ đó tới nay vẫn chưa hề được cải thiện. Mọi người đều công nhận rằng trong thập kỷ qua, những vấn đề này ngày càng tồi tệ hơn. Hiện chúng là nguyên nhân lớn nhất ảnh hưởng tới khả năng thu hút và giữ chân người lao động của các nhà tuyển dụng ở Los Angeles, và khiến cư dân thành phố ngại lái xe tham dự các sự kiện hoặc đi thăm bạn bè. Với quãng đường gần 20 kilômét từ nhà tôi vào thành phố Los Angeles hay tới sân bay, giờ tôi phải đi mất tới 1h15’. Trung bình người Los Angeles mỗi năm phải mất tới 368 giờ đồng hồ, tương đương 15 ngày, để đi lại giữa nơi làm việc và nơi ở, đó là chưa tính thời gian lái xe đi làm những việc khác.

Hiện chưa có giải pháp nào có thể giải quyết triệt để các vấn đề, mà chắc chắn chỉ khiến vấn đề thêm tồi tệ hơn. Như việc xây dựng đường cao tốc đang được đề xuất hay thực hiện nhằm giải tỏa tắc nghẽn ở một số điểm trọng điểm nhưng chắc chắn sẽ sớm trở lại cảnh tắc nghẽn do số lượng xe hơi vẫn không ngừng tăng lên. Hiện không rõ tình trạng tắc nghẽn giao thông của Los Angeles sẽ còn trở nên tệ hại như thế nào, bởi hàng triệu người ở những thành phố khác trên thế giới cũng đang phải đối mặt với tình trạng tắc đường nghiêm trọng hơn nhiều. Như bạn bè tôi ở Bangkok, thủ đô Thái Lan, cho biết họ còn phải mang theo xe một chiếc bệ vệ sinh hóa học nhỏ bởi họ thường phải lái xe rất lâu và rất chậm; có lần họ khởi hành ra khỏi thị trấn để đi nghỉ cuối tuần, nhưng cuối cùng phải bỏ cuộc và quay về sau 17 giờ lái xe mà chỉ đi được có 5 kilômét qua một đoạn tắc đường. Mặc dù những người lạc quan lý giải những ích lợi của dân số tăng và thế giới sẽ nuôi nấng số dân đó như thế nào, nhưng tôi chưa bao giờ gặp một người dân Los Angeles (và rất ít người ở những nơi khác trên thế giới) mong muốn dân số trong khu vực sinh sống của mình tăng lên.

Sự góp phần của Nam California làm tăng mức tác động trung bình của con người tới môi trường của thế giới, do hậu quả của việc di cư của con người từ Thế giới thứ ba sang Thế giới thứ nhất, từ nhiều năm nay đã trở thành vấn đề nhạy cảm nhất trong nền chính trị California. Tăng trưởng dân số của California đang tăng mạnh, hầu như hoàn toàn do nhập cư và quy mô gia đình trung bình của người nhập cư cũng lớn hơn sau khi họ tới đây. Biên giới giữa California và Mexico dài và hầu như không thể kiểm soát được tình trạng người nhập cư trái phép từ các nước Trung Mỹ vào Mỹ để tìm kiếm việc làm và để đảm bảo an toàn tính mạng. Tháng nào cũng có tin những người nhập cư trái phép bị chết ở sa mạc hay bị cướp hoặc bị bắn giết, nhưng điều đó không ngăn cản được họ. Nhiều người nhập cư bất hợp pháp khác đến từ những nước xa xôi như Trung Quốc hay các nước Trung Á, trên những con thuyền thả họ ngay ở ngoài khơi. Người dân California cũng có những quan điểm khác nhau về những người nhập cư từ Thế giới thứ ba tới đây nhằm tìm kiếm một cuộc sống như ở Thế giới thứ nhất. Một mặt, nền kinh tế của chúng ta hoàn toàn phụ thuộc vào người nhập cư để bù đắp số lao động thiếu hụt trong các ngành dịch vụ, xây dựng và nông nghiệp. Mặt khác, những công dân California phàn nàn rằng người nhập cư tranh giành nhiều việc làm với những công dân bản địa đang thất nghiệp, làm giảm tiền lương và khiến cho hệ thống giáo dục và y tế công cộng vốn đã quá tải giờ càng trở nên nặng nề hơn. Năm 1994, một biện pháp (Đề xuất 187) được đưa ra trưng cầu dân ý bằng cách bỏ phiếu kín và được đa số cử tri ủng hộ, nhưng sau đó bị các tòa án hiến pháp hủy bỏ, đề xuất này đồng ý cắt bỏ phần lớn những khoản trợ cấp từ nguồn kinh phí của bang dành cho những người nhập cư bất hợp pháp. Từ đó, không một công dân hay một quan chức nào của California dám đề xuất một giải pháp mâu thuẫn tương tự, điều này gợi nhớ tới thái độ phân biệt của người Dominica với người Haiti, bởi vừa cần người nhập cư để làm việc nhưng lại phủ nhận sự tồn tại và những nhu cầu cần thiết của họ.

Nam California cũng là một trong những nơi góp phần lớn gây ra khủng hoảng năng lượng. Hệ thống xe điện trước kia của thành phố chúng ta đã sụp đổ do phá sản từ những năm 1920 và 1930, và quyền sử dụng các tuyến đường đã rơi vào tay các nhà sản xuất xe hơi và bị phân chia nên khiến nó không thể phục hồi được (hiện chỉ gồm toàn xe hơi). Người Los Angeles thích sống ở nhà riêng hơn là những căn hộ cao tầng, cùng với khoảng cách giữa nơi làm việc và nơi sinh sống quá xa khiến chính quyền thành phố không thể thiết kế được hệ thống vận tải công cộng nào đáp dứng được nhu cầu của phần lớn người dân. Bởi vậy, người Los Angeles phụ thuộc nhiều vào xe hơi.

Mức tiêu thụ khí của chúng ta cũng cao, những ngọn núi bao quanh phần lớn lưu vực Los Angeles, với những hướng gió gây ra vấn đề mây khói nổi tiếng của thành phố Los Angeles (Phụ bản 38). Mặc dù những thập kỷ gần đây đã có những tiến bộ trong việc khắc phục tình trạng mây khói, và có những thay đổi theo mùa (mây khói tồi tệ nhất vào thời điểm cuối mùa hè và đầu mùa thu) và theo vị trí địa lý (càng sâu trong đất liền tình trạng mây khói càng tồi tệ), nhưng Los Angeles vẫn tiếp tục đứng gần cuối danh sách chất lượng không khí tại các thành phố của Mỹ. Sau nhiều năm được cải thiện, trong những năm gần đây chất lượng không khí của chúng ta lại suy giảm trở lại. Một vấn đề độc hại khác ảnh hưởng tới đời sống và sức khỏe của con người là sự lan tràn của vi khuẩn roi gây bệnh đường ruột trong các sông hồ của California trong vài thập kỷ qua. Khi tôi mới chuyển tới đây sinh sống trong những năm 1960 và chạy bộ trên những sườn núi, thì uống nước suối vẫn rất an toàn; nhưng bây giờ thì chắc chắn đã bị nhiễm khuẩn roi.

Vấn đề quản lý môi trường sống mà chúng ta lo lắng nhất là nguy cơ hỏa hoạn trong hai môi trường sống chính của Nam California, chaparral (một khu rừng bụi tương tự như macchia của Địa Trung Hải) và rừng sồi. Trong những điều kiện tự nhiên, cả hai khu rừng này đều đã từng bị cháy do sét đánh, giống như tình trạng những khu rừng ở Montana mà tôi đã thảo luận trong Chương 1. Giờ đây, những người đang sống ở gần hay trong những khu rừng dễ cháy đó yêu cầu phải dập cháy ngay lập tức. Hằng năm, vào thời điểm cuối hè và đầu thu, thời điểm nóng nhất, khô nhất và gió nhất của Nam California, là mùa cháy khi một số vùng hay thậm chí hàng trăm ngôi nhà dễ dàng bốc cháy. Hẻm núi nơi tôi sống, sau khi để xảy ra một vụ cháy lớn thiêu rụi 600 căn nhà, từ năm 1961 tới nay chưa hề xảy ra vụ cháy rừng mất kiểm soát nào. Một giải pháp lý thuyết cho vấn đề này, giống như trong các khu rừng của Montana, đó là thường xuyên tạo ra những đám cháy nhỏ có kiểm soát để giảm những nhiên liệu dễ cháy trong rừng, nhưng những vụ cháy này cũng có thể đôi khi trở nên nguy hiểm trong khu vực đô thị đông dân như Los Angeles và công chúng sẽ không cho phép điều đó.

Những sinh vật ngoại lai là một hiểm họa và gánh nặng kinh tế lớn đối với nền nông nghiệp California, trong đó nghiêm trọng nhất là loài ruồi giấm Địa Trung Hải. Những hiểm họa ngoài nông nghiệp là những loại bệnh dịch ngoại lai đang đe dọa làm chết những cây sồi và thông của chúng ta. Bởi một trong hai cậu con trai của tôi quan tâm tới các loài động vật lưỡng cư (ếch và kỳ giông) ngay từ nhỏ, nên tôi phát hiện ra rằng phần lớn số sinh vật lưỡng cư bản địa đã bị tuyệt chủng ở 2/3 số dòng suối của hạt Los Angeles, do sự lan tràn của ba loài động vật ngoại lai ăn thịt các loài lưỡng cư (tôm, ễnh ương và cá đớp muỗi), trong khi những loài lưỡng cư ở Nam California không thể chống chọi được bởi chúng chưa từng gặp phải hiểm họa này.

Vấn đề đất đai lớn ảnh hưởng tới nền nông nghiệp California là tình trạng mặn hóa do các hoạt động tưới tiêu trong nông nghiệp gây ra, tàn phá những dải đất nông nghiệp rộng lớn ở thung lũng Trung tâm của California, vùng nông nghiệp trù phú nhất nước Mỹ.

Bởi lượng mưa ở Nam California thấp, nên Los Angeles phải phụ thuộc vào những hệ thống dẫn nước lớn, chủ yếu từ rặng núi Sierra Nevada, những thung lũng lân cận của Bắc California và từ sông Colorado ở biên giới phía đông của bang này. Với tốc độ tăng trưởng dân số của California, sự cạnh tranh các nguồn cung cấp nước giữa các nông dân và các thành phố ngày càng gay gắt. Do khí hậu toàn cầu nóng dần lên, những khu vực tuyết phủ của núi Sierra cung cấp phần lớn nước cho chúng ta, sẽ suy giảm như tại Montana, làm tăng nguy cơ khan hiếm nước tại Los Angeles.

Về sự sụp đổ của ngành thủy hải sản, ngành đánh bắt cá mòi của Bắc California đã sụp đổ từ đầu thế kỷ XX, ngành bào ngư của Nam California đã sụp đổ từ vài chục năm trước ngay sau khi tôi chuyển tới đây, và ngành cá quân của Nam California hiện cũng đang sụp đổ và trở thành đối tượng bị hạn chế đánh bắt nghiêm ngặt hay cấm triệt để như trong năm qua. Giá cá ở các siêu thị của Los Angeles đã tăng gấp bốn lần kể từ khi tôi chuyển tới đây.

Cuối cùng, tình trạng tổn hại đa dạng sinh học đã ảnh hưởng tới hầu hết những loài sinh vật đặc thù của Nam California. Biểu tượng của bang California, và của trường đại học của tôi (trường Tổng hợp California), là chú gấu vàng California, nhưng hiện cũng đã bị tuyệt chủng (Giờ trở thành một biểu tượng khủng khiếp cho cả bang và trường đại học của tôi). Rái cá biển của Nam California đã bị tuyệt chủng từ thế kỷ trước, và gần đây chính quyền đã có những nỗ lực nhằm khôi phục loài rái cá này nhưng vẫn chưa đạt kết quả. Trong thời gian tôi sống ở Los Angles, số lượng hai loài chim độc đáo nhất Los Angeles là gà lôi đuôi dài và chim cút California đã giảm mạnh. Các loài lưỡng cư của Nam California đang trên đà suy giảm là sa giông California và ếch California sống trên cây.

Bởi vậy, các vấn đề dân số và môi trường đang hủy hoại nền kinh tế và chất lượng cuộc sống ở Nam California. Chúng là nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu nước, thiếu năng lượng, rác thải chồng chất, những trường học đông nghẹt học sinh, thiếu nhà cửa, giá cả tăng và tắc nghẽn giao thông. Trong phần lớn những vấn đề mà tôi đề cập, ngoại trừ tình trạng tắc nghẽn giao thông và chất lượng không khí đặc biệt tồi tệ, những vấn đề khác của chúng ta cũng chưa tệ hại bằng nhiều nơi khác của nước Mỹ.

Phần lớn những vấn đề môi trường không rõ ràng đều trở thành đối tượng tranh cãi. Tuy nhiên, ngoài ra còn có nhiều lý do thường được viện dẫn để phủ nhận tầm quan trọng của những vấn đề môi trường, nhưng theo đánh giá của tôi đó là do người đưa ra những lý đó chưa hiểu biết tường tận vấn đề. Những lý lẽ phản đối thường chỉ là một nhận xét ngắn, đơn giản. Sau đây là một tá lý lẽ phổ biến nhất:

“Môi trường phải cân bằng với nền kinh tế”. Lý lẽ này xem những lo lắng, quan tâm tới môi trường là xa xỉ, coi những biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường là lãng phí tiền bạc, và cho rằng để cứ để mặc các vấn đề môi trường sẽ tiết kiệm được chi phí. Lý luận này cố tình chà đạp lên sự thật. Những ô nhiễm môi trường khiến chúng ta thiệt hại những khoản tiền lớn, cả trong thời gian trước mắt và lâu dài; việc làm sạch hay ngăn chặn những ô nhiễm môi trường này về lâu dài, và kể cả trong thời gian trước mắt, sẽ giúp chúng ta tiết kiệm được những khoản tiền lớn. Quan tâm chăm sóc môi trường xung quanh cũng giống như chăm sóc cơ thể chúng ta thì thường rẻ hơn và thích hợp hơn để phòng chống bệnh so với việc phải cố gắng điều trị những căn bệnh khi chúng đã phát triển. Hãy xem những thiệt hại do cỏ dại và sinh vật hại trong ngành nông nghiệp, những sinh vật phi nông nghiệp như cây dạ lan nước và giống trai vằn gây ra cùng với chi phí hằng năm để ngăn chặn chúng phát triển, những thiệt hại về thời gian do chúng ta bị tắc đường, chi phí tài chính phát sinh do con người bị ốm hay chết bởi những chất độc hại của môi trường, các chi phí làm sạch các loại hóa chất độc hại, tình trạng giá cá tăng vọt do trữ lượng cá suy kiệt, và giá trị của đất canh tác bị tàn phá hay suy giảm do xói mòn và tình trạng muối hóa. Hằng năm thế giới phải đổ hàng trăm triệu đô-la cho nơi này, vài chục tỷ đô-la cho nơi khác, và thêm hàng tỷ đô-la cho những nơi khác nữa và cứ phải rót tiền để ngăn chặn và xử lý hàng trăm vấn đề môi trường khác nhau. Ví như giá trị của “một thống kê đời sống” ở Mỹ thường vào khoảng 5 triệu đô-la, đó là thiệt hại với nền kinh tế Mỹ khi xã hội tốn kém nhiều chi phí để nuôi dạy một người Mỹ bình thường trưởng thành nhưng họ lại chết trước khi kịp đóng góp cho nền kinh tế quốc gia. Thậm chí nếu có lấy con số thấp nhất về số ca tử vong do ô nhiễm không khí ở Mỹ là 130.000 người, thì ô nhiễm không khí cũng đã khiến chúng ta thiệt hại 650 tỷ đô-la mỗi năm. Điều này lý giải tại sao Luật Không khí sạch của Mỹ ban hành năm 1970, mặc dù quy định các biện pháp bảo vệ môi trường rất tốn kém, nhưng lại được đánh giá mang lại lợi nhuận về mặt y tế khoảng 1 nghìn tỷ đô-la mỗi năm, do cứu được nhiều người và giảm các chi phí y tế.

“Công nghệ sẽ giải quyết các vấn đề của chúng ta”. Lý lẽ này thể hiện lòng tin vào tương lai, và bởi dựa vào thực tế từ trước tới nay những vấn đề mà công nghệ giải quyết luôn nhiều hơn vấn đề mà nó sinh ra. Cơ sở của lý lẽ tin tưởng này là giả thiết rằng, trong tương lai công nghệ sẽ đóng vai trò chính trong việc giải quyết các vấn đề hiện tại và ngăn chặn phát sinh những vấn đề mới. Những người tin vào những lý luận này cũng giả thiết rằng các công nghệ mới hiện đang được thảo luận sẽ thành công, và rằng chúng ta sẽ nhanh chóng tạo ra sự khác biệt lớn. Trong những cuộc trò chuyện với hai nhà thương gia và tài chính thành công nhất và nổi tiếng nhất nước Mỹ, cả hai đều hùng hồn khẳng định với tôi những công nghệ mới và các công cụ tài chính về cơ bản khác biệt với những công nghệ và công cụ trước đây và rằng, họ tự tin dự đoán, chúng sẽ giải quyết được mọi vấn đề môi trường của chúng ta.

Nhưng kinh nghiệm thực tế lại trái ngược với những dự đoán đó. Không phải công nghệ mới nào cũng thành công, một số thành công nhưng một số lại thất bại. Những công nghệ thành công thường phải mất vài thập kỷ thì mới được phát triển và áp dụng rộng rãi: Hãy cứ xem những công nghệ như làm nóng bằng khí, đèn điện, xe hơi và máy bay, truyền hình, máy tính, v.v … Cho dù có giải quyết thành công những vấn đề mà nó được thiết kế để xử lý hay không, thì những công nghệ mới cũng thường gây ra những vấn đề mới không lường trước được. Các giải pháp công nghệ nhằm xử lý những vấn đề môi trường thường tốn kém hơn nhiều so với các biện pháp phòng ngừa áp dụng ngay từ đầu không để vấn đề phát sinh: Ví dụ, thiệt hại và chi phí khắc phục tốn kém hàng tỷ đô-la trong những sự cố tràn dầu là rất lớn so với chi phí khiêm tốn của các biện pháp an toàn, hiệu quả nhằm giảm thiểu những nguy cơ gây ra sự cố tràn dầu.

Trên hết, những công nghệ tiến bộ chỉ làm tăng khả năng xử lý vấn đề của chúng ta, nhưng nó cũng có thể khiến vấn đề tốt hơn hoặc xấu đi. Tất cả những vấn đề hiện nay mà chúng ta đang phải đối mặt chính là những hậu quả tiêu cực không lường trước của các công nghệ hiện đại. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ trong thế kỷ XX đã và đang gây ra những khó khăn mới với tốc độ nhanh hơn giải quyết những vấn đề cũ; đó là lý do tại sao chúng ta rơi vào tình trạng như hiện nay và ở đó chúng ta thấy được khả năng của mình. Điều gì khiến bạn nghĩ rằng, ngày 1/1/2006, lần đầu tiên trong lịch sử loài người, công nghệ sẽ ngừng gây ra những vấn đề mới không lường trước một cách thần kỳ, trong khi vẫn tiếp tục giải quyết những vấn đề trước đây nó gây ra.

Có hàng ngàn ví dụ về những tác hại không lường trước của các giải pháp công nghệ mới, nhưng chỉ hai công nghệ là CFCs (chlorofluorocarbons) và xe hơi cũng đủ minh chứng cho điều này. Các loại khí làm lạnh trước đây từng được sử dụng để sản xuất tủ lạnh và điều hòa không khí chính là những loại khí độc hại (như amoniac) có thể gây chết người nếu bị rò rỉ khí vào ban đêm khi chủ nhà đang ngủ. Bởi vậy, nó đã được chào đón như một tiến bộ khoa học vĩ đại khi CFCs (còn gọi là freon) được phát triển thành các loại khí làm lạnh nhân tạo. Trong những điều kiện bình thường trên mặt đất, các loại khí này không mùi, không độc và có tính ổn định cao, chính vì vậy ban đầu không ai nhận ra hay dự đoán được những ảnh hưởng tiêu cực của nó. Chỉ trong một thời gian ngắn, chúng nhanh chóng được coi như những chất thần kỳ và được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới thành những chất làm lạnh cho tủ lạnh và điều hòa nhiệt độ, những tác nhân tạo bọt, chất dung môi và chất đẩy trong những bình khí. Tới năm 1974, con người phát hiện ra rằng trong tầng bình lưu có bức xạ cực tím với cường độ lớn đã làm các loại khí này bị phân hủy, sản sinh ra những nguyên tử clo có phản ứng cao, phá hủy phần lớn tầng ozone bảo vệ chúng ta và tất cả những sinh vật sống khác trước những ảnh hưởng độc hại từ tia cực tím. Phát hiện đó ban đầu bị nhiều người cố tình phủ nhận bởi những lợi nhuận quá lớn mà các loại chất này mang lại, không chỉ vì giá trị 200 tỷ đô-la của các ngành công nghiệp dựa trên CFCs mà còn bởi những hoài nghi đối với những vấn đề khoa học phức tạp liên quan. Bởi vậy, để loại trừ được việc sử dụng CFCs phải mất một thời gian dài: mãi cho tới năm 1988 công ty DuPont (nhà sản xuất CFCs lớn nhất thế giới) mới quyết định ngừng sản xuất, năm 1992 các nước công nghiệp đồng ý ngừng sản xuất CFCs vào năm 1995, và hiện Trung Quốc và một số nước đang phát triển khác vẫn tiếp tục sản xuất CFCs. Đáng tiếc là số lượng CFCs có trong không khí hiện cũng đã đủ lớn, do phân hủy rất chậm, nên chúng sẽ còn tiếp tục hiện diện trong nhiều thập kỷ kể cả khi hoạt động sản xuất CFCs trên toàn thế giới chấm dứt hoàn toàn.

Một ví dụ khác liên quan tới việc phát minh ra xe hơi. Vào những năm 1940, khi tôi còn nhỏ, một số giáo viên của tôi vẫn còn nhớ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, khi xe hơi dần thay thế xe ngựa và xe điện trên những đường phố của nước Mỹ. Theo các thầy cô giáo kể lại, hai thành quả tức thời lớn nhất đối với người dân thành thị của Mỹ mà xe hơi mang lại là các thành phố tự nhiên trở nên sạch sẽ và yên tĩnh lạ lùng. Đường phố không còn bị ô nhiễm bởi phân và nước tiểu của ngựa, mọi người không còn phải điếc tai bởi tiếng móng ngựa gõ xuống đường. Ngày nay, sau một thế kỷ xe hơi và xe bus phát triển, sẽ thật nực cười và không thể hiểu được nếu ai đó vẫn cho rằng xe hơi mang lại sự yên tĩnh cho đường phố và không gây ô nhiễm. Mặc dù không ai ủng hộ sử dụng lại xe ngựa để hạn chế khói bụi từ khí thải của động cơ xe hơi, nhưng hai ví dụ trên chứng minh những công nghệ mới luôn phát sinh những ảnh hưởng tiêu cực không thể lường trước, kể cả các công nghệ (không như khí CFCs) mà hiện chúng ta quyết định giữ lại.

“Nếu nguồn tài nguyên này cạn kiệt, thì chúng ta vẫn có thể chuyển sang một số nguồn tài nguyên khác đáp ứng nhu cầu cần thiết của chúng ta”. Những người lạc quan đưa ra lập luận này phớt lờ những khó khăn không lường trước được và thời kỳ chuyển đổi kéo dài. Ví dụ, một lĩnh vực chuyển sang sử dụng những công nghệ mới chưa hoàn thiện liên tục hứa hẹn giải quyết được một vấn đề môi trường lớn đó là ô nhiễm từ xe hơi. Hy vọng hiện nay về một bước đột phá là những loại xe chạy bằng hydro và pin nhiên liệu, hiện đây vẫn còn là những công nghệ sơ khai. Bởi vậy chưa hề có tài liệu nào chứng minh rằng giải pháp xe hơi chạy bằng hydro sẽ giúp giải quyết vấn đề nhiên liệu hóa thạch của chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta có tài liệu về hàng loạt công nghệ xe hơi mới khác cũng từng hứa hẹn trở thành những bước đột phá, như các động cơ xoay chiều và (gần đây nhất) là những xe hơi chạy bằng điện, đã gây nhiều tranh cãi và thậm chí một số mẫu đã được đưa vào sản xuất và bán ra thị trường, nhưng chúng đã suy giảm hay biến mất khi xuất hiện những vấn đề không lường trước được.

Một ví dụ khác cũng rất sinh động là những phát triển gần đây của ngành công nghiệp xe hơi về loại xe hơi sử dụng nhiên liệu hỗn hợp điện/khí hiệu quả cao (xe hybrid), hiện loại xe này đang được tiêu thụ ngày càng tăng. Tuy nhiên, sẽ không công bằng nếu chỉ đề cập tới loại xe hybrid mà không đề cập tới những phát triển đồng thời của ngành xe hơi đối với dòng xe thể thao SUVs, bán chạy hơn xe hybrid bởi độ bền của xe chứ không phải khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Hậu quả của hai công nghệ đột phá này là tiêu thụ nhiên liệu và khí thải của xe hơi vẫn tăng lên chứ không giảm. Không ai có thể tìm ra một phương pháp đảm bảo rằng công nghệ sẽ chỉ mang lại những sản phẩm và tác động thân thiện với môi trường (như xe hybrid) mà không gây ra những ảnh hưởng và các sản phẩm tổn hại tới môi trường (như dòng xe thể thao SUV).

Một ví dụ khác về sự tin tưởng trong việc thay thế và chuyển đổi tài nguyên là hy vọng về các nguồn năng lượng tái sinh, như năng lượng gió và mặt trời, có thể giải quyết được vấn đề khủng hoảng năng lượng. Những công nghệ này trên thực tế có tồn tại; nhiều người California hiện đang sử dụng năng lượng mặt trời để sưởi ấm bể bơi, và các máy phát điện chạy bằng sức gió hiện đang cung cấp khoảng 1/6 nhu cầu năng lượng của Đan Mạch. Tuy nhiên, khả năng ứng dụng của năng lượng gió và mặt trời bị giới hạn bởi chúng chỉ có thể sử dụng ở những nơi có đủ lượng gió và ánh nắng cần thiết. Ngoài ra, những phát triển gần đây của công nghệ cho thấy thời gian chuyển đổi áp dụng công nghệ mới, như từ nến sang đèn dầu rồi đèn khí và bây giờ là đèn điện để chiếu sáng, hay chuyển từ gỗ sang than rồi dầu lửa để đáp ứng nhu cầu năng lượng, đòi hỏi phải mất hàng thập kỷ, bởi có nhiều thể chế và công nghệ thứ cấp liên quan tới công nghệ cũ cần thay đổi. Quả thực, dường như những nguồn năng lượng, ngoài năng lượng hóa thạch, sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc sản xuất nhiên liệu cho xe hơi và sản xuất điện, nhưng đó là một triển vọng lâu dài. Chúng ta cũng sẽ cần giải quyết các vấn đề năng lượng và nhiên liệu trong vòng vài thập kỷ tới, trước khi những công nghệ mới trở nên phổ biến. Quá nhiều lần, việc các chính trị gia hay các ngành công nghiệp quá chú trọng vào những chiếc xe hydro và năng lượng gió đầy hứa hẹn trong tương lai xa xôi mà không chú ý tới tất cả những biện pháp khác cần thiết ngay bây giờ để giảm việc sử dụng và tiêu thụ nhiên liệu của số xe hơi hiện tại, và giảm mức tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch của các nhà máy điện.

“Lương thực không phải là vấn đề thực sự của thế giới; hiện đã có đủ lương thực; chúng ta chỉ cần giải quyết vấn đề vận chuyển để phân phối lương thực tới những nơi cần thiết mà thôi” (Lý lẽ này cũng có thể áp dụng với năng lượng). Hay “Vấn đề lương thực của thế giới hiện đang được giải quyết bằng cuộc Cách mạng Xanh, với các loại hoa màu, thóc lúa có sản lượng cao, hoặc sẽ được giải quyết bằng các loại hoa màu biến đổi gen”. Lý lẽ này lý giải hai điều: Đó là các công dân Thế giới thứ nhất được hưởng mức tiêu thụ lương thực trung bình tính theo đầu người cao hơn các công dân ở Thế giới thứ ba; và rằng một số nước Thế giới thứ nhất, như Mỹ, có khả năng và thực tế đã sản xuất được lượng lương thực cao hơn nhu cầu tiêu thụ của người dân. Nếu mức tiêu thụ lương thực trên toàn thế giới ngang bằng nhau, hay nếu lượng lương thực dôi thừa của Thế giới thứ nhất có thể xuất khẩu sang Thế giới thứ ba, thì có thể giảm được nạn đói xảy ra ở các nước Thế giới thứ ba hay không?

Sai lầm rõ ràng trong phần đầu của lý lẽ này là các công dân Thế giới thứ nhất không bao giờ muốn bớt ăn để đồng loại ở Thế giới thứ ba được ăn nhiều hơn. Sai lầm ở phần hai của lý lẽ này là, mặc dù các nước Thế giới thứ nhất đôi khi sẵn sàng xuất khẩu lương thực để giảm bớt nạn đói thi thoảng xảy ra do khủng hoảng (như hạn hán hay chiến tranh) ở một số nước Thế giới thứ ba nhất định, nhưng các công dân Thế giới thứ nhất không hề muốn phải thường xuyên trả một khoản tiền (thông qua thuế để viện trợ cho nước ngoài và trợ cấp cho nông dân) để nuôi sống hàng tỷ công dân của Thế giới thứ ba một cách lâu dài. Nếu điều đó quả thực diễn ra mà không có các chương trình kế hoạch hóa gia đình hiệu quả ở các nước đó, cái mà chính quyền Mỹ hiện đang phản đối về mặt nguyên tắc, thì hậu quả sẽ là một thảm họa Malthus, bởi tăng trưởng dân số cao hơn tỷ lệ tăng lương thực. Dân số tăng và thảm họa Malthus cũng góp phần lý giải tại sao, sau hàng chục năm đầu tư hy vọng và tiền của vào cuộc Cách mạng Xanh và tạo ra những loại hoa màu cho sản lượng cao, nhưng nạn đói vẫn lan tràn trên thế giới. Tất cả những điều trên cho thấy bản thân các loại lương thực biến đổi gen (GM) dường như không thể giải quyết được các vấn đề lương thực của thế giới (mặc dù giả sử dân số thế giới vẫn giữ nguyên?). Ngoài ra, rõ ràng tất cả loại hoa màu biến đổi gen hiện tại chỉ gồm bốn loại (đậu, ngô, cải dầu và bông), nhưng con người không tiêu thụ trực tiếp các hoa màu này mà chỉ sử dụng làm thức ăn cho gia súc, chiết xuất dầu hay dệt may và chỉ được trồng ở sáu nước hay vùng ôn đới. Lý do bởi người tiêu dùng kịch liệt phản đối việc tiêu thụ thực phẩm biến đổi gen; và một thực tế đau lòng là các công ty phát triển lương thực biến đổi gen vẫn có thể kiếm tiền bằng cách bán sản phẩm của mình cho những nông dân giàu có ở hầu hết các nước chịu ảnh hưởng khí hậu ôn đới, chứ không bán cho những nông dân nghèo ở các nước đang phát triển ở vùng nhiệt đới. Bởi vậy, các công ty không hề quan tâm tới việc đầu tư lớn cho việc phát triển sắn, kê hay cây lúa miến biến đổi gien cho nông dân các nước Thế giới thứ ba.

“Theo các chỉ số được tính toán như tuổi thọ, sức khỏe và sự thịnh vượng của con người (theo thuật ngữ của các nhà kinh tế là tổng sản lượng quốc gia tính trên đầu người - GNP), thì trong nhiều thập kỷ qua các điều kiện sống thực tế ngày càng tốt hơn”. Hay: “Cứ nhìn xung quanh bạn xem: cỏ vẫn xanh tươi, thực phẩm vẫn tràn ngập trong siêu thị, nước sạch vẫn chảy ra từ các vòi nước, và rõ ràng chẳng có dấu hiệu nào cho thấy xã hội sắp sụp đổ”. Với những công dân Thế giới thứ nhất giàu có, các điều kiện sống thực tế đang ngày càng tốt hơn, và thậm chí các biện pháp chăm sóc sức khỏe cộng đồng đang kéo dài tuổi thọ trung bình của cả công dân ở các nước Thế giới thứ ba. Nhưng chỉ riêng chỉ số tuổi thọ thôi thì chưa đủ: hàng tỷ công dân Thế giới thứ ba, chiếm tới 80% dân số thế giới, vẫn đang sống trong nghèo khổ, gần hoặc dưới mức đói ăn. Thậm chí tại Mỹ, ngày càng nhiều người rơi xuống mức sống nghèo khổ và thiếu các điều kiện chăm sóc y tế cần thiết, và tất cả những đề xuất nhằm thay đổi tình cảnh này (ví như “Chính phủ cung cấp bảo hiểm y tế cho tất cả mọi người) đều không thể chấp nhận về mặt chính trị.

Ngoài ra, tất cả mỗi cá nhân chúng ta đều biết rằng chúng ta không thể tính toán sự giàu có về kinh tế của chúng ta chỉ bằng số dư hiện có trong các tài khoản ngân hàng: chúng ta còn phải xem xét xu hướng của dòng tiền mặt. Khi nhìn vào bảng kê tài khoản ngân hàng của bạn và thấy một số dư tích cực 5.000 đô-la, bạn sẽ không thể cười nếu nhận ra rằng trong vài năm qua, mỗi tháng bạn tiêu lạm khoảng 200 đô-la, và với mức chi tiêu như vậy, chỉ hai năm và một tháng nữa là bạn sẽ rơi vào tình trạng phá sản. Nguyên tắc này cũng áp dụng với nền kinh tế quốc dân của chúng ta, và với những xu hướng dân số và môi trường. Sự thịnh vượng mà công dân Thế giới thứ nhất hiện đang hưởng thụ chính là dựa trên việc chi tiêu nguồn vốn môi trường trong ngân hàng (vốn là các nguồn năng lượng không tái sinh, trữ lượng cá, đất mặt, rừng…). Không được hiểu nhầm rằng việc chi tiêu nguồn vốn này sẽ tạo ra tiền. Chắc mức sống hiện tại sẽ không khiến bạn thoải mái nếu biết rằng chúng ta hiện đang đi trên con đường không bền vững.

Thực tế, một trong những bài học lớn mà chúng ta học được từ sự sụp đổ của Maya, Anasazi, đảo Phục Sinh và những xã hội trước đây khác (cũng như sự sụp đổ gần đây của Liên bang Xô Viết) là sự suy thoái nghiêm trọng của một xã hội có thể bắt đầu chỉ trong vòng một hoặc hai thập kỷ sau khi xã hội đó phát triển đạt tới tột đỉnh về dân số, sự thịnh vượng và quyền lực. Về mặt này, quỹ đạo của các xã hội mà chúng ta đã đề cập hoàn toàn khác hành trình thông thường trong cuộc đời của con người, khi cuộc sống suy giảm trong quá trình già yếu kéo dài. Lý do rất đơn giản: số lượng dân số, sự thịnh vượng, mức tiêu thụ các nguồn tài nguyên và lượng chất thải thải ra đã đạt tới cực điểm có nghĩa là những tác động tới môi trường cũng lên tới cực điểm và vượt xa giới hạn của các nguồn tài nguyên. Suy nghĩ kỹ thì thấy không có gì đáng ngạc nhiên khi các xã hội suy thoái ngay sau khi phát triển đạt tới tột đỉnh.

“Hãy xem, trước đây đã bao nhiêu lần các nhà môi trường đưa ra những dự báo ảm đạm nhưng cuối cùng tất cả đều sai. Vậy tại sao lần này chúng ta lại phải tin họ?”. Vâng, một số dự đoán của các nhà môi trường rõ ràng không chính xác, nổi bật nhất là dự đoán năm 1980 của Paul Ehrlich, John Harte và John Holdren về giá năm loại kim loại sẽ tăng, và những dự đoán của Câu lạc bộ Rome đưa ra năm 1972. Nhưng lý lẽ này phiến diện là chỉ nhắc đến những dự báo sai của các nhà môi trường mà không xét đến những dự báo chính xác của họ, hay có những dự báo phản bác lại việc bảo vệ môi trường cũng sai. Có hàng loạt sai sót trong những dự báo phản bác lại các nhà môi trường: Như những dự đoán quá lạc quan rằng Cách mạng Xanh sẽ giải quyết được vấn đề thiếu lương thực của thế giới; dự đoán của nhà kinh tế học Julian Simon rằng chúng ta có thể lo đủ lương thực cho dân số toàn thế giới nếu nó tiếp tục tăng trưởng trong vòng 7 tỷ năm tới; và cũng chính nhà kinh tế này dự đoán rằng “Đồng có thể được chiết xuất từ những nguyên tố khác” bởi vậy sẽ không có nguy cơ bị thiếu đồng. Về hai dự đoán đầu tiên của Simon, nếu với tốc độ tăng trưởng dân số thế giới như hiện nay thì 774 năm nữa, mật độ dân số thế giới sẽ là 12 người trên một m2, và chưa tới 2.000 năm nữa con người sẽ tràn đầy mặt đất, và sẽ tràn đầy vũ trụ trong vòng 6.000 năm nữa, còn rất lâu mới tới mức dự báo 7 tỷ năm của Simon mà vẫn không gặp phải những vấn đề này. Còn về dự báo thứ hai của ông, ngay trong bài học sơ đẳng về hóa học, chúng ta đã biết rằng đồng là một nguyên tố, có nghĩa là nó không thể được tạo ra từ những nguyên tố khác. Ấn tượng của tôi là những dự đoán lạc quan rõ ràng là không chính xác, như dự đoán của Ehrlich, Harte và Holdren về giá kim loại và của Câu lạc bộ Rome về khả năng đáp ứng lương thực trong tương lai, dù sao cũng thực tế hơn nhiều so với hai dự đoán của Simon.

Về cơ bản, lý lẽ này không đủ thuyết phục để cho rằng mọi dự báo môi trường đều là báo động giả. Cũng như trong những lĩnh vực khác của đời sống, như những vụ hỏa hoạn, chúng ta có một quan điểm nhẹ nhàng về những báo động giả. Mỗi chính quyền địa phương đều duy trì một lực lượng cứu hỏa tốn kém, mặc dù tại một số thị trấn nhỏ họ hiếm khi có việc để làm. Trong số những cuộc điện thoại báo cháy tới đội cứu hỏa, có không ít cuộc gọi báo động giả và nhiều cuộc chỉ liên quan tới những vụ hỏa hoạn nhỏ mà chủ nhân nơi xảy ra hỏa hoạn có thể tự mình dập tắt trước khi đội cứu hỏa tới nơi. Chúng ta chấp nhận một mức độ nhất định những cuộc báo động giả và những vụ hỏa hoạn nhỏ, bởi chúng ta hiểu rằng nguy cơ hỏa hoạn là không rõ ràng và rất khó xác định khi một vụ hỏa hoạn mới bùng phát, và rằng nếu một vụ hỏa hoạn vượt ra ngoài tầm kiểm soát có thể gây những tổn thất lớn về tài sản và con người. Không một người đứng đắn nào lại mong đội cứu hỏa nơi mình sống bị giải tán, cho dù nó hoạt động dưới dạng tình nguyện hay chuyên nghiệp, chỉ bởi vài năm nay không có một vụ hỏa hoạn nào. Cũng không ai muốn chỉ trích một chủ nhà vì lý do gọi điện báo hỏa hoạn khi đó chỉ là một vụ hỏa hoạn nhỏ và ông ta đã tự dập tắt trước khi đội cứu hỏa tới nơi. Chỉ khi số vụ báo động giả tăng mạnh thì chúng ta mới cảm thấy có điều gì đó sai. Thực vậy, tỷ lệ vụ báo động giả có thể chấp nhận được so sánh giữa tần số và mức độ thiệt hại của những vụ hỏa họa lớn với tần số và sự lãng phí của số vụ báo động giả. Số vụ báo động giản rất thấp chứng tỏ nhiều hộ gia đình đang quá thận trọng, họ muốn xem quy mô hỏa hoạn như thế nào rồi mới gọi điện báo cứu hỏa, và hậu quả là căn nhà của họ đã bị thiêu rụi.

Cũng bởi lý do này, chúng ta mong rằng cảnh báo của một số nhà môi trường là báo động giả, nếu không thì chắc chắn các hệ thống cảnh báo môi trường của chúng ta quá bảo thủ. Nhiều vấn đề môi trường gây thiệt hại nhiều tỷ đô-la chứng tỏ báo động giả về các vấn đề môi trường ở mức vừa phải. Ngoài ra, chính những dự báo ảm đạm này mới khiến chúng ta áp dụng những biện pháp phòng chống hiệu quả. Ví dụ, thực tế chất lượng không khí của Los Angeles ngày nay không tồi tệ như một số dự báo ảm đạm cách đây 50 năm. Tuy nhiên, chính từ những dự báo đó mà chính quyền Los Angeles và bang California đã áp dụng nhiều biện pháp đề phòng hữu hiệu (như đề ra những tiêu chuẩn thải khí của xe hơi, cấp chứng chỉ khí thải và khí thải không nhiễm chì).

“Khủng hoảng dân số tự nó đã được giải quyết, bởi tỷ lệ tăng trưởng dân số thế giới đang giảm dần, như vậy dân số thế giới sẽ chỉ ở mức chưa tới gấp đôi mức hiện nay”. Mặc dù dự đoán rằng dân số thế giới sẽ được khống chế ở mức không gấp đôi mức hiện nay có thể đúng hoặc không, nhưng lúc này nó là một khả năng hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, chúng ta không cảm thấy vui vẻ trước dự đoán này, vì hai lý do: theo nhiều tiêu chuẩn, thậm chí dân số hiện tại của thế giới đã ở mức không bền vững; và, như đã thảo luận ở chương trước, nguy cơ lớn hơn mà chúng ta phải đối mặt không chỉ là dân số tăng gấp đôi, mà là tác động của con người tới môi trường sẽ lớn hơn rất nhiều nếu mức sống của người dân ở Thế giới thứ ba ngang tầm Thế giới thứ nhất. Thật ngạc nhiên khi nghe nói rằng một số công dân Thế giới thứ nhất không mấy để ý tới việc thế giới “chỉ” thêm 2,5 tỷ người (mức thấp nhất mà bất cứ ai cũng dự báo) cứ như đó là điều chấp nhận được, khi thế giới hiện đã có quá nhiều người suy dinh dưỡng và có mức sống chưa tới 3 đô-la/ngày.

“Thế giới có thể chứa đựng dân số phát triển vô cùng. Càng nhiều người càng tốt, bởi nhiều người đồng nghĩa với nhiều sáng chế và thịnh vượng hơn”. Cả hai ý kiến này đều có liên hệ đặc biệt chặt chẽ với Julian Simon nhưng lại được nhiều người tán thành, nhất là các nhà kinh tế. Tuyên bố trái đất có khả năng chứa đựng dân số tăng trưởng vô cùng là tuyên bố không nghiêm túc, bởi chúng ta đã biết rằng vào năm 2779, mật độ dân số thế giới sẽ là 12 người trên mỗi m2. Số liệu về sự thịnh vượng của quốc gia chứng tỏ rằng lập luận nước nào càng đông dân thì càng giàu là hoàn toàn không chính xác. Mười nước đông dân nhất thế giới (trên 100 triệu người) là Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Brazil, Pakistan, Nga, Nhật Bản, Bangladesh và Nigeria, xếp theo thứ tự giảm dần. Mười nước thịnh vượng nhất thế giới (mức GDP thực tính trên đầu người) là Luxembourg, Na Uy, Mỹ, Thụy Sĩ, Đan Mạch, Iceland, Áo, Canada, Ireland và Hà Lan, xếp theo thứ tự giảm dần. Chỉ có Mỹ là nước duy nhất có tên trong cả hai danh sách.

Thực tế, các nước có dân số lớn thường là nước nghèo: 8 trong 10 nước đông dân nhất thế giới có mức GDP đầu người dưới 8.000 đô-la, và 5 nước dưới 3.000 đô-la. Các nước giàu thường có dân số ít hơn, 7 trong 10 nước giàu nhất thế giới có dân số dưới 9 triệu người, và hai nước có dân số chưa tới 500 ngàn người. Thực tế, sự khác biệt giữa hai danh sách chính là mức tăng trưởng dân số: tất cả mười nước giàu nhất thế giới đều có tỷ lệ tăng trưởng dân số tương đối thấp (chỉ từ 1% mỗi năm trở xuống), trong khi 8 trong số 10 nước đông dân nhất có tỷ lệ tăng trưởng dân số cao hơn bất kỳ một nước giàu nào khác, ngoại trừ hai nước lớn có được tỷ lệ tăng trưởng dân số thấp nhờ những biện pháp bắt buộc, như Trung Quốc đã ban hành quy định pháp luật và buộc phải nạo thai, và Nga, dân số thực tế đang suy giảm bởi những vấn đề y tế thảm khốc. Bởi vậy, kinh nghiệm cho thấy những nước càng đông dân và tỷ lệ tăng trưởng dân số càng cao đồng nghĩa với đói nghèo chứ không phải là giàu có hơn.

“Môi trường là những vấn đề xa xỉ mà chỉ những nước Thế giới thứ nhất giàu sang mới đủ khả năng giải quyết, và họ không có trách nhiệm chỉ bảo những công dân tuyệt vọng ở Thế giới thứ ba nên làm gì”. Đây là quan điểm mà tôi chủ yếu được nghe từ những người trẻ tuổi thuộc Thế giới thứ nhất, những người chưa có kinh nghiệm về Thế giới thứ ba. Dựa trên những hiểu biết của tôi về các nước Indonesia, Papua New Guinea, Đông Phi, Peru và các nước Thế giới thứ ba khác, những nước có những vấn đề môi trường và dân số đang phát triển, tôi rất ấn tượng bởi người dân các nước này hiểu rõ những tác hại từ tăng trưởng dân số, phá rừng, đánh bắt cá quá mức và những vấn đề môi trường khác ảnh hưởng tới cuộc sống của họ như thế nào. Họ biết rõ những tác hại môi trường bởi họ đang phải chịu đựng những ảnh hưởng trực tiếp từ những vấn đề đó, như không còn tự do kiếm gỗ để làm nhà, đất đai bị xói mòn hàng loạt, và (những kêu ca không ngớt mà tôi thường nghe thấy) là không đủ khả năng để mua quần áo, sách vở và đóng học phí cho con cái. Nhưng lý do tại sao những khu rừng sau làng của họ vẫn bị chặt, thường là bởi một chính phủ tham nhũng ra lệnh chặt cây bất chấp những cuộc biểu tình bạo lực phản đối của dân chúng, hoặc người dân địa phương buộc phải miễn cưỡng cho thuê đất khai thác rừng bởi họ không còn nguồn thu nào khác để nuôi nấng con cái. Những bạn bè tốt nhất của tôi ở Thế giới thứ ba, mỗi gia đình có từ 4-8 đứa con, than vãn rằng họ có nghe nói về những biện pháp tránh thai hiệu quả được áp dụng phổ biến ở Thế giới thứ nhất, và họ thực sự mong muốn được áp dụng những biện pháp này, nhưng lại không có đủ tiền hay không biết có thể tìm kiếm chúng ở đâu, một phần bởi trong chương trình viện trợ của mình, chính phủ Mỹ từ chối tài trợ cho kế hoạch hóa gia đình ở các nước.

Một quan điểm khác hiện đang rất phổ biến trong tư tưởng của người dân các nước Thế giới thứ nhất giàu có, nhưng họ hiếm khi bày tỏ công khai, đó là bản thân mỗi người đều cố gắng duy trì lối sống giàu sang bất chấp tất cả những vấn đề môi trường này, họ thực sự không quan tâm tới chúng bởi đa phần những vấn đề này đều đổ xuống đầu người dân Thế giới thứ ba. Thực tế, người giàu không thể miễn dịch trước các vấn đề môi trường. Các Giám đốc Điều hành của các công ty ở Thế giới thứ nhất tiêu thụ lương thực, uống nước, hít thở không khí và sinh con (hay cố gắng thụ thai), cũng giống như mọi người bình thường khác. Có chăng họ chỉ có thể tránh được các vấn đề về chất lượng nước bằng cách uống nước đóng chai, nhưng sẽ rất khó tránh không bị tác động bởi những vấn đề như lương thực và chất lượng không khí cũng giống như tất cả chúng ta. Lối sống quá phụ thuộc vào thực phẩm sản xuất theo dây chuyền công nghiệp, nồng độ các chất độc hại luôn cao hơn, khiến khả năng sinh sản của họ có nguy cơ bị suy giảm nhiều hơn do tiêu thụ hay tiếp xúc với các loại nhiên liệu độc hại, nguy cơ vô sinh của họ cao hơn và cần sự hỗ trợ y tế để thụ thai nhiều hơn. Ngoài ra, một trong những kết luận mà chúng ta thấy nổi lên từ thảo luận của chúng ta về các vị vua Maya, các tù trưởng Norse Greenland và đảo Phục Sinh là, về lâu dài, lợi ích của người giàu và con cháu họ sẽ không được đảm bảo nếu họ cai trị trên một xã hội đang dần sụp đổ và họ chỉ được hưởng một đặc ân duy nhất là người cuối cùng bị chết đói mà thôi. Còn với toàn bộ Thế giới thứ nhất, họ tiêu thụ phần lớn những nguồn tài nguyên của thế giới nên tác động tới môi trường của họ cũng cao hơn như đã trình bày ở phần đầu của chương này. Tiêu thụ tài nguyên tổng thể của chúng ta không bền vững có nghĩa rằng về lâu dài Thế giới thứ nhất không thể tiếp tục duy trì mức sống như hiện nay, thậm chí kể cả nếu Thế giới thứ ba không tồn tại và không đặt mục tiêu nâng mức sống lên ngang tầm mức sống của chúng ta.

“Nếu các vấn đề môi trường thực sự sẽ trở nên nghiêm trọng, thì có lẽ còn lâu chúng mới diễn ra, khi đó thì tôi đã chết rồi nên chẳng cần phải lo lắng gì”. Thực tế, với tốc độ hiện nay phần lớn hay thậm chí tất cả 12 vấn đề môi trường đã thảo luận ở phần đầu của chương này sẽ trở nên nghiêm trọng ngay trong thời gian sinh sống của lớp trẻ hiện nay. Phần lớn chúng ta đều có con cái và đặt tương lai của chúng lên ưu tiên hàng đầu về thời gian và tiền bạc. Chúng ta không tiếc tiền cho chúng học tập, ăn mặc, di chúc tài sản cho chúng, mua bảo hiểm cho chúng và làm tất cả những gì để chúng có cuộc sống tốt hơn từ nay tới cuối đời. Chúng ta không ngần ngại làm tất cả những điều gì tốt đẹp cho con em chúng ta, trong khi vẫn làm những việc gây tổn hại thế giới mà lũ trẻ sẽ sống trong vòng từ nay tới 50 năm nữa.

Hành vi trái ngược này là một trong những điều mà cá nhân tôi cũng phạm phải, bởi tôi sinh năm 1937, trước khi sinh con, tôi cũng không để tâm tới bất kỳ vấn đề môi trường nào (như hiện tượng khí hậu toàn cầu nóng dần lên hay những khu rừng nhiệt đới bị tàn phá) dự báo sẽ diễn ra nghiêm trọng vào năm 2037. Chắc chắn tới năm đó thì tôi cũng chết lâu rồi, nên năm 2037 với tôi là không có thật. Tuy nhiên, khi hai cậu con sinh đôi của tôi ra đời năm 1987, và khi vợ chồng tôi bắt đầu nhận ra những trách nhiệm của các bậc phụ huynh với cuộc sống của con cái như việc học hành, bảo hiểm nhân thọ và di chúc, thì tôi choáng váng nhận ra rằng: Năm 2037 là năm mà hai con tôi sẽ ở độ tuổi 50 như tôi bây giờ! Đó không phải là một năm tưởng tượng! Vậy chúng tôi sẽ để lại được những gì cho con cái nếu thế giới lúc đó rơi vào tình trạng lộn xộn?

Từng sống 5 năm tại châu Âu ngay sau khi Thế chiến Thứ hai kết thúc, rồi do hôn nhân của người lớn mà tôi trở thành thành viên của một gia đình Ba Lan gốc Nhật, lần đầu tiên tôi nhận thấy điều gì sẽ diễn ra nếu cha mẹ chăm sóc con cái mình tốt nhưng lại không thể quyết định được thế giới tương lai của trẻ. Cha mẹ của các bạn tôi người Ba Lan, Đức, Nhật Bản, Nga, Anh và Nam Tư cũng mua bảo hiểm, lập di chúc và lo lắng chuyện học hành cho con cái họ, giống như vợ chồng tôi mới đây. Một số phụ huynh rất giàu và có những tài sản giá trị để di chúc cho con cái họ. Nhưng họ lại không quyết định được thế giới của trẻ khi bị rơi vào thảm họa Thế chiến Thứ hai. Bởi vậy, cuộc sống của phần lớn bạn bè Nhật Bản và châu Âu trạc tuổi tôi đều bị ảnh hưởng, nhiều người trở thành trẻ mồ côi, bị tách khỏi bố, mẹ hoặc cả hai từ khi còn nhỏ, nhà cửa bị bom đạn tàn phá, mất cơ hội học tập, mất tài sản của gia đình, hay lớn lên với những ám ảnh nặng nề về chiến tranh và các trại tập trung. Các kịch bản tồi tệ nhất mà trẻ em hiện nay sẽ phải đối mặt nếu người lớn chúng ta phá hỏng thế giới của các em cho dù là dưới hình thức khác, nhưng hậu quả thì sẽ không khác gì Thế chiến Thứ hai.

Điều này khiến chúng ta phải xem xét thêm hai lý luận phổ biến khác là: “Giữa các xã hội hiện đại và những xã hội của cư dân đảo Phục Sinh, Maya và Anasazi trước đây đã sụp đổ có những khác biệt lớn nên chúng ta không thể áp dụng cứng nhắc những bài học từ quá khứ”. Và: “Với tư cách cá nhân, tôi có thể làm được gì khi thế giới thực sự đang nằm trong tay các lực lượng hùng mạnh là các chính phủ và các tập đoàn kinh tế?”. Nếu những lý lẽ trước đây có thể nhanh chóng bị bác bỏ, thì hai lý luận này hoàn toàn có cơ sở và không thể bác bỏ. Tôi sẽ dành phần còn lại của chương này để trả lời câu hỏi thứ nhất và một phần trong Phần Đọc thêm để giải đáp câu hỏi thứ hai.

Liệu sự tương đương giữa quá khứ và hiện tại có đủ để thế giới hiện đại có thể rút ra bài học nào từ sự sụp đổ của các xã hội đảo Phục Sinh, đảo Henderson, Anasazi, Maya và Norse Greenland không? Ban đầu, khi một người chỉ trích nhận ra những khác biệt hiển nhiên, có thể sẽ phản đối, “Thật nực cười khi cho rằng sự sụp đổ của tất cả các dân tộc cổ đại này lại có thể có nhiều liên quan tới thế giới ngày nay, nhất là với nước Mỹ hiện đại. Những xã hội trước đây không có những công nghệ hiện đại, hiện đang giúp ích cho chúng ta và cho phép chúng ta giải quyết các vấn đề bằng cách sáng chế ra những công nghệ mới thân thiện với môi trường. Những dân tộc cổ đại bất hạnh này phải gánh chịu những ảnh hưởng của thay đổi khí hậu. Họ tàn phá môi trường sống bằng những hành vi thiếu hiểu biết như phá rừng, thu hoạch quá mức các nguồn động vật hoang dã cung cấp protein cho con người, khoanh tay đứng nhìn lớp đất mặt bị xói mòn, và xây dựng những thành phố tại những nơi khí hậu hanh khô dường như không có đủ nước để đảm bảo cuộc sống lâu dài. Lãnh đạo của họ cũng là những người kém hiểu biết, không có chữ viết nên không rút ra kinh nghiệm từ lịch sử, bị lôi kéo vào những cuộc chiến bất ổn và tốn kém, họ chỉ quan tâm tới việc củng cố quyền lực của bản thân và không chú ý tới những vấn đề chung của xã hội. Họ bị áp đảo bởi những người nhập cư nghèo đói và tuyệt vọng, khi những xã hội nối tiếp nhau sụp đổ gây ra làn sóng những người tị nạn kinh tế đè nặng lên những nguồn tài nguyên của các xã hội chưa sụp đổ. Ở tất cả những khía cạnh này, chúng ta, những con người hiện đại, về cơ bản khác với những người cổ đại nguyên thủy, và không có gì chúng ta có thể học được từ họ. Nhất là khi chúng ta sống ở Mỹ, nước giàu nhất và hùng mạnh nhất thế giới hiện nay, với môi trường có năng suất cao nhất và những nhà lãnh đạo thông minh cùng những nước đồng minh trung thành và mạnh mẽ, và những kẻ thù tầm thường, yếu đuối - không một yếu điểm nào của các xã hội trước kia giờ có thể áp dụng với chúng ta”.

Vâng, đúng là có những khác biệt lớn giữa tình hình của các xã hội trước đây với xã hội hiện đại của chúng ta ngày nay. Khác biệt lớn nhất là dân số ngày nay hiện đã đông hơn rất nhiều, nhiều công nghệ hiện đại hơn nên tác động tới môi trường cũng lớn hơn so với trước đây. Hiện dân số thế giới đã lên hơn 6 tỷ người được trang bị những máy móc hạng nặng như xe ủi và nhà máy điện nguyên tử, trong khi những cư dân đảo Phục Sinh chỉ có vài chục ngàn người với những công cụ bằng đá và sức mạnh cơ bắp con người. Nhưng cư dân đảo Phục Sinh vẫn tàn phá môi trường sống và đẩy xã hội của mình tới sự sụp đổ. Vậy sự khác biệt này càng làm tăng, chứ không giảm, các nguy cơ sụp đổ của xã hội chúng ta ngày nay.

Khác biệt lớn thứ hai xuất phát từ sự toàn cầu hóa. Trong phần thảo luận này, tạm thời chúng ta không đề cập tới các vấn đề môi trường trong Thế giới thứ nhất, hãy chỉ đặt vấn đề liệu những bài học từ những xã hội sụp đổ trước đây có thể áp dụng vào nơi nào đó trong Thế giới thứ ba không? Đầu tiên, hãy hỏi một số nhà sinh thái học tháp ngà, những người rất hiểu biết về các vấn đề môi trường nhưng lại không bao giờ đọc một bài báo và không quan tâm tới chính trị, chỉ ra những nước đang phải đối mặt với những ảnh hưởng nghiêm trọng nhất từ sức ép môi trường, dân số hoặc cả hai. Các nhà sinh thái học sẽ trả lời: “Có thể chỉ ngay ra danh sách những nước đông dân hoặc đang chịu sức ép về môi trường bao gồm Afghanistan, Bangladesh, Burundi, Haiti, Indonesia, Iraq, Madagascar, Mông Cổ, Nepal, Pakistan, Phillippines, Rwanda, quần đảo Solomon, Somalia và một số nước khác (xem hình 6).

Sau đó hãy hỏi một chính trị gia của Thế giới thứ nhất, một người chẳng biết gì và cũng chẳng quan tâm tới các vấn đề môi trường và dân số, chỉ ra những điểm tình hình chính trị lộn xộn nhất thế giới: những nước có chính phủ bị suy yếu hay sụp đổ, có nguy cơ bị sụp đổ, hoặc đang bị giằng xé bởi những cuộc nội chiến gần đây; và những nước mà, do các vấn đề nội bộ của họ, đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới các nước Thế giới thứ nhất giàu có của chúng ta, như buộc chúng ta phải cung cấp viện trợ, phải đối mặt với tình trạng dân nhập cư bất hợp pháp từ những nước đó, có thể quyết định hỗ trợ quân sự để đàn áp phiến quân và các tổ chức khủng bố, hay thậm chí có thể trực tiếp gửi quân đội của chúng ta sang đó. Chính trị gia đó sẽ trả lời: “Có thể nói ngay được rằng danh sách những điểm lộn xộn chính trị chắc chắn sẽ bao gồm Afghanistan, Bangladesh, Burundi, Haiti, Indonesia, Iraq, Madagascar, Mông Cổ, Nepal, Pakistan, Phillippines, Rwanda, quần đảo Solomon, Somalia và một số nước khác”.

Bạn có ngạc nhiên không, hai danh sách này hoàn toàn giống nhau. Mối liên hệ giữa hai danh sách này rất rõ ràng: những vấn đề từng tác động tới các xã hội trước đây như Maya, Anasazi và đảo Phục Sinh hiện cũng đang tác động tới thế giới hiện đại. Ngày nay, cũng như trước đây, những nước chịu áp lực về môi trường, dân số hay cả hai áp lực thường dẫn đến nguy cơ áp lực chính trị cao hơn và khả năng sụp đổ cũng cao hơn. Khi con người tuyệt vọng, thiếu ăn và chán nản, họ sẽ đổ lỗi cho chính phủ phải chịu trách nhiệm do gây ra hay không thể giải quyết được vấn đề của họ. Bằng bất cứ giá nào, người dân sẽ di cư khỏi quê hương mình. Họ đánh lẫn nhau để tranh giành đất đai. Họ giết lẫn nhau. Họ gây ra những cuộc nội chiến thảm khốc. Họ phát hiện ra rằng mình chẳng còn gì để mất nên trở thành những kẻ khủng bố, hay ủng hộ hoặc khoan dung với chủ nghĩa khủng bố.

Hậu quả của mối liên hệ rõ ràng giữa các vấn đề môi trường, dân số và chính trị là những cuộc thảm sát như từng diễn ra tại Bangladesh, Burundi, Indonesia và Rwanda; những cuộc nội chiến hay cách mạng như đã từng xảy ra ở phần lớn các nước trong danh sách kể trên; những lời kêu gọi can thiệp quân sự từ các nước Thế giới thứ nhất như với Afghanistan, Haiti, Indonesia, Iraq, Philippines, Rwanda, quần đảo Solomon và Somalia; sự sụp đổ của chính quyền trung ương, như từng xảy ra tại Somalia và quần đảo Solomon; và đói nghèo cùng cực như ở tất cả các nước trong danh sách. Bởi vậy, những dấu hiệu của “sự sụp đổ nhà nước” hiện đại - như những cuộc cách mạng, thay đổi chế độ bằng bạo lực, chính quyền sụp đổ và tàn sát - rõ ràng có thể được đo bằng những áp lực dân số và môi trường, như số trẻ em tử vong cao, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh, tỷ lệ dân cư trong độ tuổi thanh thiếu niên cao, và số nam thanh niên thất nghiệp, tương lai không có việc làm và đủ lớn để gia nhập các nhóm du kích. Những áp lực đó biến thành những xung đột tranh giành đất đai (như ở Rwanda), nước, rừng, cá, dầu lửa và khoáng sản. Chúng không chỉ gây ra những cuộc xung đột nội bộ kéo dài, mà còn kéo theo cả làn sóng di cư của những người tị nạn chính trị và kinh tế, cùng những cuộc chiến tranh giữa các nước khi những người cầm quyền cố tình phát động chiến tranh với các nước láng giềng nhằm hướng sự chú ý của dân chúng ra khỏi những áp lực trong nước.

Tóm lại, vấn đề tranh cãi không phải là liệu sự sụp đổ của các xã hội trước kia có tương tự với các xã hội hiện đại và mang lại bài học nào cho chúng ta hay không. Vấn đề đó đã được giải đáp, bởi những sự sụp đổ tương tự thực tế gần đây đã xảy ra và rõ ràng sẽ còn tiếp tục xảy ra trong tương lai. Thay vào đó, câu hỏi thực sự là sẽ có thêm bao nhiêu nước nữa sẽ phải chịu chung số phận bi thương đó.

Với những kẻ khủng bố, bạn có thể nhận ra rằng nhiều tên sát nhân mang động cơ chính trị, những kẻ đánh bom tự sát và những kẻ khủng bố ngày 11/9 đều được học hành và giàu có chứ không phải là những kẻ vô học và tuyệt vọng. Đúng như vậy, nhưng những kẻ này vẫn dựa vào một xã hội tuyệt vọng để được chở che và dung thứ. Bất kỳ xã hội nào cũng có những tên sát nhân cuồng tín, ngay Mỹ cũng có Timothy McVeigh và Theodore Kaczinski từng tốt nghiệp Đại học Harvard. Nhưng những xã hội giàu có thường có khả năng tạo ra việc làm cao hơn như Mỹ, Phần Lan và Hàn Quốc, như vậy sẽ không có nhiều điều kiện thuận lợi để sản sinh ra những kẻ cuồng tín này.

Những vấn đề của các nước xa xôi, đông dân và môi trường bị tàn phá giờ đã trở thành vấn đề chung của chúng ta bởi sự toàn cầu hóa. Chúng ta thường nghĩ về toàn cầu hóa dưới khía cạnh những cư dân Thế giới thứ nhất giàu có chúng ta mang đến cho những người nghèo khổ, lạc hậu ở Thế giới thứ ba những điều tốt đẹp như Internet và Coca-Cola. Nhưng toàn cầu hóa không có gì khác hơn là những hình thức liên lạc toàn cầu hiện đại có thể chuyển tải nhiều điều từ nhiều hướng khác nhau; toàn cầu hóa không chỉ giới hạn ở những điều tốt đẹp mà Thế giới thứ nhất mang tới Thế giới thứ ba.

Thế giới thứ nhất cũng chuyển sang các nước đang phát triển không ít những gì xấu xa, độc hại, ở phần trên chúng ta đã biết rằng mỗi năm Trung Quốc nhập khẩu hàng triệu tấn rác điện tử từ các nước công nghiệp. Để hiểu hết được vấn đề rác thải lan tràn trên quy mô toàn cầu mạnh mẽ như thế nào, chúng ta hãy cùng xem xét những loại rác nhặt được trên các bờ biển của đảo san hô bé nhỏ Oeno và Ducie ở Đông Nam Thái Bình Dương (xem bản đồ trang 122). Đây là những đảo san hô không có người ở, không có nước ngọt, ít khi có tàu thuyền qua lại và thuộc vào số những mảnh đất xa xôi nhất thế giới, đảo gần nhất là đảo Henderson không có người ở cũng cách xa hai đảo này hàng trăm kilômét. Kết quả khảo sát ở đây cho thấy, trên mỗi mét bờ biển trung bình có một mảnh rác, chắc hẳn bị trôi dạt tới đây từ những con thuyền hay từ các nước châu Á và châu Mỹ trên Vòng cung Thái Bình Dương cách đó hàng ngàn kilômét. Các loại rác phổ biến nhất là túi ni lông, phao cứu sinh, chai nhựa và chai thủy tinh (nhất là chai rượu Suntory của Nhật Bản), dây chão, giày, bóng đèn, thậm chí cả những vật kỳ dị như trái bóng, những chú lính và máy bay đồ chơi, pedal xe đạp và tua vít.

Một minh chứng rõ ràng hơn về những tác động tiêu cực từ Thế giới thứ nhất tới các nước đang phát triển là hiện tượng nồng độ hóa chất công nghiệp và thuốc trừ sâu trong máu của người Inuit (Eskimoss) ở Siberia và Greenland cao nhất thế giới, mặc dù họ sống ở một trong những mảnh đất tận cùng của thế giới, cách xa những khu vực sản xuất hay sử dụng nhiều hóa chất. Lượng thuỷ ngân trong máu người Inuit cao gần tới mức có thể gây nhiễm độc, trong khi lượng chất PCBs (Polychlorinated biphenyls) trong sữa mẹ của phụ nữ Inuit cũng đủ cao để xếp vào loại “chất thải độc hại”. Chất PCBs này khiến trẻ sơ sinh bị điếc, chậm phát triển trí não, giảm khả năng miễn dịch nên tỷ lệ mắc các bệnh về tai và đường hô hấp cao hơn.

Vậy tại sao nồng độ các loại hóa chất độc hại từ những nước công nghiệp châu Mỹ và châu Âu xa xôi lại xuất hiện trong máu của người Inuit cao hơn chính người châu Âu và châu Mỹ sống ở các đô thị? Lý do là những thành phần chính trong khẩu phần ăn của người Inuit là thịt cá voi, hải cẩu, các loài chim biển ăn cá, động vật thân mềm, tôm và các hóa chất tích tụ dần dần khi chúng di chuyển qua các hệ sinh vật này. Những cư dân Thế giới thứ nhất chúng ta thi thoảng mới được thưởng thức các món ăn hải sản nên cũng có hấp thụ những hoá chất này, nhưng với số lượng nhỏ hơn nhiều. (Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là bạn sẽ an toàn nếu không ăn hải sản, bởi giờ đây bạn sẽ không thể tránh khỏi việc hấp thụ những loại hoá chất này cho dù bạn có tiêu thụ loại thực phẩm gì đi chăng nữa).

Thế giới thứ nhất còn gây ra nhiều tác động tiêu cực khác tới Thế giới thứ ba trong đó có phá rừng, nhập khẩu các sản phẩm gỗ của Nhật Bản hiện là nguyên nhân hàng đầu gây ra tình trạng phá rừng tại các nước nhiệt đới Thế giới thứ ba; và đánh bắt cá quá mức, do những hạm đội đánh bắt cá của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và những hạm đội được trợ cấp lớn của Liên minh châu Âu đang sục sạo các đại dương trên toàn thế giới. Ngược lại, hiện người dân ở Thế giới thứ ba, vô tình hoặc cố tình, cũng gây ra nhiều tác động tiêu cực đến cuộc sống của chúng ta: những căn bệnh của họ như AIDS, SARS, bệnh tả, bệnh sốt West Nile do những hành khách trên những chuyến bay xuyên lục địa vô tình mang theo; những dòng người nhập cư hợp pháp và bất hợp pháp bằng đủ loại phương tiện tàu thuyền, tàu hỏa, xe tải, máy bay và đi bộ không thể ngăn chặn được; những kẻ khủng bố và những hậu quả khác phát sinh từ những vấn đề trong Thế giới thứ ba của họ. Nước Mỹ chúng ta giờ không còn là pháo đài châu Mỹ biệt lập như một số người chúng ta từng tự hào trong những năm 1930; thay vào đó, chúng ta bị gắn chặt với các nước khác và không thể thay đổi được điều đó. Mỹ là nước nhập khẩu hàng đầu thế giới: Chúng ta nhập khẩu nhiều mặt hàng thiết yếu (nhất là dầu lửa và một số loại kim loại quý hiếm) và nhiều sản phẩm tiêu dùng (xe hơi và đồ điện tử gia dụng), đồng thời còn là một trong những nước tiếp nhận vốn đầu tư hàng đầu thế giới. Chúng ta cũng là nước xuất khẩu hàng đầu thế giới, nhất là lương thực và các sản phẩm do chính chúng ta sản xuất. Xã hội của chúng ta từ lâu đã lựa chọn con người gắn bó chặt chẽ với các nước khác trên thế giới.

Đó là lý do vì sao hiện nay bất kỳ bất ổn chính trị nào trên thế giới cũng ảnh hưởng tới chúng ta, các tuyến đường thương mại, các thị trường và nhà cung cấp nước ngoài của chúng ta. Chúng ta cũng phụ thuộc nhiều vào các nước khác trên thế giới tới mức, nếu cách đây 30 năm bạn hỏi một chính trị gia những nước có địa chính trị không liên quan gì tới lợi ích của chúng ta bởi đó là những nước xa xôi, nghèo đói và yếu kém, chắc chắn bản danh sách sẽ bắt đầu bằng Afghanistan và Somalia, nhưng sau này chúng ta cũng nhận thấy các nước này có vai trò quan trọng như thế nào với nước Mỹ khiến chúng ta phải gửi quân đội tới đó. Ngày nay thế giới không còn phải đối mặt với nguy cơ hạn chế như xã hội đảo Phục Sinh hay Maya biệt lập trước đây sụp đổ mà hoàn toàn không ảnh hưởng tới các xã hội khác trên thế giới. Thay vào đó, các xã hội hiện nay có sự liên kết với nhau chặt chẽ tới mức nguy cơ lớn nhất mà chúng ta phải đối mặt chính là sự suy thoái toàn cầu. Bất kỳ nhà đầu tư nào trên các thị trường cổ phiếu của thế giới đều hiểu rõ điều đó: bất ổn của thị trường chứng khoán Mỹ, hay suy thoái kinh tế sau sự kiện khủng bố 11/9 tại Mỹ cũng ảnh hưởng tới các thị trường chứng khoán và các nền kinh tế khác trên thế giới và ngược lại. Chúng ta sống tại Mỹ (và cả những người Mỹ giàu có) không còn có thể chạy trốn khi đặt quyền lợi của bản thân lên trên quyền lợi của những người khác.

Hà Lan là một ví dụ điển hình về một xã hội giảm tối thiểu những xung đột lợi ích kiểu này, đây có lẽ cũng là nước công dân có nhận thức môi trường cao nhất thế giới và hầu như tất cả mọi người đều tham gia các tổ chức môi trường. Mãi cho tới chuyến thăm Hà Lan mới đây, khi lái xe đi khắp đất nước này, các bạn bè người Hà Lan mới giúp tôi hiểu rõ nguyên nhân vì sao công dân Hà Lan có ý thức bảo vệ môi trường cao (Phụ bản 39, 40). Tôi sẽ không bao giờ quên những gì họ nói với tôi:

“Hãy cứ nhìn xung quanh, bạn sẽ thấy tất cả vùng đất canh tác này nằm dưới mực nước biển. 1/5 tổng diện tích lãnh thổ của Hà Lan nằm dưới mực nước biển, sâu tới hơn 6 mét, bởi trước đây những vùng này là những vịnh nước nông và chúng tôi đã cải tạo bằng cách đắp đê bao quanh những vịnh này và dần dần bơm nước ra khỏi vịnh. Người Hà Lan có câu ngạn ngữ ‘Chúa tạo ra Trái đất nhưng người Hà Lan chúng tôi ra tạo ra Hà Lan’. Những vùng đất được cải tạo từ biển gọi là ‘đất lấn biển’. Chúng tôi đã bắt đầu rút nước từ gần một ngàn năm trước. Tới giờ chúng tôi vẫn phải tiếp tục bơm số nước thẩm thấm qua đê ra ngoài. Đó là lý do chúng tôi sử dụng các cối xay gió để liên tục bơm nước ra khỏi những vùng đất lấn biển. Giờ đây chúng tôi đã chuyển sang sử dụng các máy bơm chạy bằng điện, dầu diesel và hơi nước. Ở mỗi vùng đất lấn biển có hàng loạt máy bơm, bắt đầu từ những nơi xa biển nhất, lần lượt bơm nước cho tới khi chiếc bơm cuối cùng bơm bước vào một con sông hay ra biển. Tại Hà Lan, chúng tôi còn một ngạn ngữ khác: ‘Bạn phải hòa thuận với kẻ thù của mình, bởi anh ta có thể là người điều khiển máy bơm tiếp theo trong vùng đất lấn biển của bạn’. Và tất cả chúng tôi đều sống cùng nhau trong những vùng đất lấn biển. Không có chuyện người giàu được sống an toàn trên mặt đê trong khi người nghèo phải sống trong những vùng đất lấn biển nằm dưới mực nước biển. Nếu những chiếc đê bị vỡ và máy bơm bị hỏng, tất cả chúng tôi đều bị nhấn chìm dưới nước. Ngày 1/2/1953, khi một cơn bão lớn cùng thủy triều cao tràn qua tỉnh Zeeland, gần 2.000 người Hà Lan, cả người giàu và người nghèo, đã bị nhấn chìm. Chúng tôi đã thề sẽ không bao giờ để tái diễn thảm kịch này, và cả nước đã bỏ ra những khoản tiền lớn để xây dựng những con đê chắn biển. Nếu khí hậu toàn cầu nóng lên khiến băng của địa cực tan chảy và mực nước biển của thế giới tăng lên, thì Hà Lan sẽ là nước phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng nhất so với bất kỳ nước nào khác trên thế giới, bởi phần lớn lãnh thổ của chúng tôi nằm dưới mực nước biển. Đó là lý do vì sao chúng tôi, những người Hà Lan, lại rất ý thức bảo vệ môi trường. Trong suốt lịch sử, chúng tôi học được rằng tất cả người Hà Lan đều đang sống trong những vùng đất lấn biển và rằng sự tồn tại của chúng tôi phụ thuộc vào sự tồn tại của người khác”.

Điều đó chứng tỏ sự phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các tầng lớp trong xã hội Hà Lan trái ngược hẳn với lối sống hiện nay của Mỹ, nơi ngày càng nhiều người giàu tìm cách tự cách ly mình với những người khác trong xã hội, khao khát xây dựng riêng cho mình những vùng đất lấn biển thực sự, dùng tiền để mua các dịch vụ riêng cho cá nhân họ và luôn phủ quyết những khoản thuế nhằm nâng cao đời sống, như những dịch vụ công cộng, cho tất cả những người khác. Những cá nhân đó sống trong những khu nhà kín cổng cao tường (Phụ bản 36), phụ thuộc nhiều vào vệ sĩ hơn là cảnh sát, cho con cái đi học ở những trường tư giàu có với những lớp ít học sinh hơn là những trường công đông đúc, ít kinh phí, mua bảo hiểm y tế hay dịch vụ chăm sóc sức khỏe riêng, uống nước đóng chai thay vì nước đô thị, và (ở miền nam California) trả tiền để được lái xe trên những tuyến đường cao tốc thu phí để khỏi phải đi trên những tuyến đường công cộng lúc nào cũng kẹt xe. Cơ sở của những đặc quyền này là một sự hiểu lầm rằng những người giàu có thể không bị ảnh hưởng bởi các vấn đề của xã hội xung quanh họ, giống như quan điểm của những tù trưởng Norse ở Greenland, những người chỉ có đặc quyền duy nhất được là người cuối cùng bị chết đói.

Trong suốt lịch sử loài người, đa phần mọi người đều có mối liên hệ với những người khác, như thể sống cùng với nhau trong một vùng đất lấn biển. Cư dân đảo Phục Sinh bao gồm một tá bộ tộc, phân chia hòn đảo của họ thành một tá lãnh thổ và hoàn toàn biệt lập với những đảo khác, nhưng các bộ tộc lại cùng chung nhau mỏ đá tạc tượng Rano Raraku và mỏ đá làm pukao Puna Pau, và một vài mỏ đá chai khác. Khi xã hội đảo Phục Sinh bị tan rã, tất cả các bộ tộc tan rã theo nhưng không ai trên thế giới biết điều đó, cũng không có vùng đất nào khác bị ảnh hưởng. Vùng đất ở đông nam Polynesia bao gồm ba đảo có quan hệ với nhau, nên sự suy thoái của xã hội Mangareva cũng là thảm hoạ với những cư dân đảo Pitcairn và Henderson nhưng chỉ có vậy mà thôi. Với người Maya cổ xưa, lãnh thổ của họ bao gồm phần lớn bán đảo Yucatán và những vùng lân cận. Khi các thành phố Maya cổ điển bị sụp đổ ở miền nam Yucatán, những người tị nạn đã chạy sang miền bắc Yucatán, nhưng chắc chắn chưa tới Florida. Nhưng giờ đây thì ngược lại, cả thế giới của chúng ta đã trở thành một vùng đất lấn biển thống nhất, nên những sự kiện xảy ra ở bất kỳ nơi nào cũng ảnh hưởng tới người Mỹ. Khi Somalia xa xôi sụp đổ, lập tức quân đội Mỹ được điều đến; khi Nam Tư cũ và Liên Xô sụp đổ, những dòng người di cư tỏa ra khắp châu Âu và thế giới; và khi những điều kiện xã hội, định cư và mức sống suy thoái gây ra những dịch bệnh lan tràn ở châu Phi và châu Á thì những căn bệnh này cũng lan ra toàn cầu. Hiện nay, cả thế giới là một vùng đất thống nhất và tự cung tự cấp giống như đảo Tikopia và Nhật Bản thời Tokugawa trước đây. Chúng ta cần nhận ra một điều rằng, cũng như người Tikopia và người Nhật Bản, vũ trụ này không có hòn đảo hay hành tinh nào khác để chúng ta có thể cầu cứu sự giúp đỡ, hay có thể di chuyển các vấn đề của mình sang đó. Thay vào đó, chúng ta cần phải học cách tồn tại trong những điều kiện hiện có của chúng ta, như chúng ta đã làm từ trước tới nay.

Tôi mở đầu phần này bằng việc thừa nhận rằng có những khác biệt quan trọng giữa thế giới cổ đại và thế giới hiện đại. Sau đó tôi tiếp tục đề cập tới những khác biệt này - như thế giới ngày nay dân số lớn hơn, công nghệ có khả năng phá hoại mạnh hơn và tính chất liên kết hiện nay làm nảy sinh nguy cơ sụp đổ toàn cầu chứ không chỉ một đất nước - có thể dường như sẽ khiến mọi người nghĩ tới một triển vọng ảm đạm. Nếu trước đây những cư dân đảo Phục Sinh không thể giải quyết được những vấn đề nhẹ nhàng hơn rất nhiều thì làm sao thế giới hiện nay có thể hy vọng giải quyết được những vấn đề toàn cầu lớn của mình?

Những người thất vọng bởi ý nghĩ như vậy thường hỏi tôi: “Jared, ông là người lạc quan hay bi quan trước tương lai của thế giới?” Tôi trả lời: “Tôi là người lạc quan thận trọng”. Đó là bởi tôi muốn nói rằng, một mặt tôi thừa nhận sự nghiêm trọng của những vấn đề mà chúng ta đang phải đối mặt. Nếu chúng ta không nỗ lực giải quyết chúng, và nếu nỗ lực của chúng ta không thành công, thì chỉ vài thập kỷ tới, cả thế giới sẽ phải đối mặt với tình trạng điều kiện sống suy thoái, hay có thể còn tồi tệ hơn. Đó là lý do vì sao tôi quyết định dành phần đời còn lại của mình để thuyết phục mọi người rằng cần xem xét nghiêm túc những vấn đề của chúng ta và đừng vì lý do gì mà bỏ qua chúng. Mặt khác, tôi tin chúng ta có thể giải quyết được các vấn đề của mình nếu chúng ta quyết định như vậy. Đó là cũng là lý do tại sao 17 năm trước, vợ chồng tôi quyết định sinh con, bởi chúng tôi đã nhìn thấy cơ sở để hy vọng.

Một cơ sở để hy vọng đó là, thực tế những vấn đề của chúng ta không phải là không thể giải quyết được. Mặc dù chúng ta phải đối mặt với những nguy cơ lớn, nhưng những vấn đề nghiêm trọng nhất hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của chúng ta, không giống như khả năng Trái đất va chạm với một hành tinh nhỏ mỗi hàng trăm triệu năm hay tương tự. Thay vào đó, đây là những vấn đề do chính chúng ta gây ra. Bởi chúng ta là nguyên nhân gây ra những vấn đề môi trường, nên chúng ta là những người kiểm soát chúng, và chúng ta có thể chọn lựa ngăn chặn hay không ngăn chặn chúng và bắt tay giải quyết chúng. Tương lai phụ thuộc vào sự hiểu biết thấu đáo và nằm trong tay chúng ta. Chúng ta không cần các công nghệ mới để giải quyết các vấn đề của mình; mặc dù những công nghệ mới có thể có một số đóng góp, nhưng chủ yếu chúng ta “chỉ” cần ý chí chính trị để áp dụng những giải pháp hiện có. Tất nhiên, đó là một vấn đề lớn. Nhưng trước đây nhiều xã hội đã có quyết tâm chính trị cần thiết. Các xã hội hiện đại của chúng ta cũng có quyết tâm để giải quyết một số vấn đề, và một phần những vấn đề khác.

Một cơ sở khác để hy vọng là ý thức bảo vệ môi trường của người dân trên toàn thế giới ngày càng được nâng cao. Mặc dù ý thức này đã tồn tại từ lâu nhưng hiện nó đang phát triển rất nhanh, nhất là kể từ khi xuất bản cuốn Silent Spring (tạm dịch: Mùa xuân im lặng) năm 1962. Các phong trào môi trường ngày càng phát triển, hoạt động dưới các hình thức tổ chức đa dạng và hiệu quả, không chỉ ở Mỹ và châu Âu mà còn ở Cộng hòa Dominica và các nước đang phát triển khác. Đồng thời, trong khi phong trào môi trường đang ngày càng trở nên mạnh mẽ thì những hiểm họa với môi trường của chúng ta cũng không ngừng phát triển. Đó là lý do tại sao ngay từ đầu cuốn sách này, tôi đã ví tình trạng của chúng ta lúc này như đang trong một cuộc đua ngựa gay cấn mà kết quả thì chưa biết chú ngựa nào sẽ chiến thắng. Không phải là không thể, nhưng cũng không chắc chắn, rằng chú ngựa mà chúng ta ưa thích sẽ thắng trong cuộc đua này.

Vậy lựa chọn của chúng ta là gì nếu hiện chúng ta muốn thành công chứ không phải là thất bại? Có nhiều chọn lựa cụ thể, trong đó chúng ta sẽ thảo luận những ví dụ trong phần Đọc thêm, mà bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể chọn lựa với vai trò cá nhân. Xét về mặt xã hội, những xã hội trước đây mà chúng ta đã nghiên cứu trong cuốn sách này mang lại những bài học lớn hơn. Với tôi, có hai chọn lựa dường như rất quan trọng trong việc quyết định chúng ta sẽ thành công hay thất bại, đó là: lập kế hoạch dài hạn, và sẵn sàng xem xét lại các giá trị cơ bản. Suy nghĩ kỹ, chúng ta cũng có thể nhận ra vai trò quan trọng của hai lựa chọn này đối với cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Một trong những chọn lựa đó phụ thuộc vào lòng can đảm để thực hiện những tư tưởng lâu dài, và có những quyết định táo bạo, can đảm và mang tính dự báo tại thời điểm các vấn đề trở đã nên rõ ràng nhưng chưa biến thành khủng hoảng. Loại hình ra quyết định này trái ngược với việc ra quyết định ảnh hưởng ngược, ngắn hạn thường mang đặc điểm của những chính trị gia mà chúng ta bầu ra - tư tưởng mà anh bạn tôi có quan hệ chặt chẽ với giới chính trị châm biếm là “tư tưởng 90 ngày”, như chỉ chú trọng giải quyết những vấn đề dường như sắp nổ tung thành khủng hoảng trong vòng 90 ngày tới. Ngoài những quyết định ngắn hạn gây ra những hậu quả xấu, đáng thất vọng, còn nhiều quyết định khác mang tư tưởng lâu dài, đáng khích lệ được đưa ra trong quá khứ và trong thế giới hiện đại của các tổ chức phi chính phủ, các doanh nghiệp và các chính phủ. Trong số những xã hội trước đây từng phải đối mặt với nguy cơ phá rừng nghiêm trọng, các tù trưởng đảo Phục Sinh và Mangareva đã thất bại bởi chỉ quan tâm tới các vấn đề trước mắt, nhưng các tướng quân Tokugawa, các quốc vương Inca, những cư dân cao nguyên New Guinea và những tá điền người Đức thế kỷ XVI đã thành công khi nhìn thấy những lợi ích lâu dài của cây rừng và tiến hành tái trồng rừng. Tương tự, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã thúc đẩy tái trồng rừng trong những thập kỷ gần đây và cấm khai thác gỗ trong những khu rừng tự nhiên từ năm 1998. Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ được thành lập với mục đích duy nhất là thúc đẩy các chính sách môi trường lâu dài và lành mạnh. Trong thế giới kinh doanh, các tập đoàn Mỹ thành công trong thời gian dài (như Procter & Gamble) là những tập đoàn không chịu đứng chờ khủng hoảng xảy ra để buộc họ phải xem xét lại chính sách của mình, mà họ lường trước các vấn đề sắp xảy ra và hành động trước khi chúng biến thành khủng hoảng. Tôi đã đề cập tới việc tập đoàn dầu khí Royal Dutch Shell thành lập một văn phòng chỉ để dự đoán những kịch bản sẽ xảy ra trên thế giới trong những thập kỷ tới.

Can đảm, thành công và có kế hoạch lâu dài cũng là những đặc tính của một số chính phủ và một số nhà lãnh đạo chính trị trong một số thời đại. Trong suốt 30 năm qua, nỗ lực bền bỉ của chính phủ Mỹ đã làm giảm 25% hàm lượng của 6 loại chất gây ô nhiễm không khí cơ bản trên toàn quốc, mặc dù mức độ tiêu thụ năng lượng và dân số của chúng ta đã tăng 40%, và tần suất hoạt động của xe hơi tăng 150% trong cùng thời kỳ. Chính phủ các nước Malaysia, Singapore, Đài Loan và Mauritius tất cả đều nhận ra rằng để duy trì được nền kinh tế thịnh vượng lâu dài đòi hỏi phải đầu tư lớn cho y tế công cộng nhằm ngăn chặn nguy cơ những căn bệnh nhiệt đới phá hoại nền kinh tế của họ; những đầu tư này rõ ràng là điều quan trọng với tốc độ tăng trưởng kinh tế thần kỳ gần đây của các nước này. Trong hai vùng lãnh thổ trước đây của đất nước Pakistan đông dân, vùng phía đông (tách ra độc lập từ năm 1971 và trở thành Bangladesh) đã áp dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình hiệu quả nhằm giảm tỷ lệ tăng trưởng dân số, trong khi vùng phía tây (vẫn gọi là Pakistan) không áp dụng và giờ trở thành nước đông dân thứ sáu trên thế giới. Cựu Bộ trưởng Môi trường Indonesia Emil Salim và cựu Tổng thống Cộng hòa Dominica Joaquín Balaguer là tấm gương sáng cho các nhà lãnh đạo chính phủ quan tâm tới những hiểm họa môi trường kéo dài đang gây ra những tác động lớn đối với đất nước họ. Tất cả những ví dụ trên về những tư tưởng can đảm và lâu dài này cả trong lĩnh vực công và tư đều góp phần khiến tôi thêm hy vọng vào tương lai tươi sáng của thế giới.

Một lựa chọn quan trọng khác được quá khứ chứng minh là sự dũng cảm đưa ra những quyết định khó khăn về việc xem xét lại các giá trị. Những giá trị nào trước đây rất có ích cho xã hội giờ vẫn còn có thể tiếp tục duy trì trong những điều kiện xã hội mới đã thay đổi? Những giá trị quý giá nào cần nhanh chóng vứt bỏ và thay thế bằng những phương pháp khác? Người Norse ở Greenland cứ khư khư giữ lấy những giá trị mang cá tính châu Âu, giá trị tín ngưỡng Cơ đốc giáo và nền kinh tế chăn nuôi gia súc không thích hợp trong điều kiện của Greenland nên họ đã bị tuyệt chủng. Ngược lại, cư dân đảo Tikopia đã dũng cảm tiêu diệt những con lợn tàn phá sinh thái của họ, cho dù lợn là vật nuôi có trọng lượng lớn nhất và là biểu tượng về địa vị giàu sang của các xã hội người Melanesia (quần đảo tây nam Thái Bình Dương). Australia hiện đang trong quá trình đánh giá lại đặc tính xã hội nông nghiệp kiểu Anh của mình. Người Iceland và nhiều xã hội phân chia đẳng cấp truyền thống khác của Ấn Độ trước đây, và những trại chủ Montana phụ thuộc vào hệ thống thủy lợi trong thời gian gần đây, đã đạt được thỏa thuận đặt quyền lợi cá nhân dưới quyền lợi tập thể. Bởi vậy, họ đã thành công trong việc quản lý những nguồn tài nguyên chung và tránh được thảm họa chung mà nhiều xã hội khác mắc phải. Chính phủ Trung Quốc thà hạn chế quyền tự do sinh sản của cá nhân, chứ không để các vấn đề dân số vượt ra ngoài khả năng kiểm soát. Những người dân Phần Lan, phải đối mặt với tối hậu thư của nước Nga láng giềng hùng mạnh hơn gấp nhiều lần, đã chọn giá trị tự do hơn là mạng sống của mình, và dũng cảm chiến đấu trước sự sửng sốt của cả thế giới, và họ đã thắng trong ván bài này, cho dù có thất bại trong cuộc chiến. Trong thời gian tôi sống ở Anh từ 1958 tới 1962, người Anh vẫn gắn bó với những giá trị lâu đời giờ đã lạc hậu dựa trên vai trò trước kia của Anh như một cường quốc về hải quân, kinh tế và chính trị thống trị thế giới. Pháp, Đức và các nước châu Âu khác thậm chí còn tiến xa hơn trong việc đặt chủ quyền quốc gia, điều mà họ từng chiến đấu để giành lấy, xuống dưới lợi ích của Liên minh châu Âu.

Tất cả những việc đánh giá lại giá trị diễn ra trước đây và gần đây mà tôi đã đề cập đều thành công mặc dù cực kỳ khó khăn. Bởi vậy chúng cũng góp phần khiến tôi hy vọng. Chúng có thể khuyến khích các công dân Thế giới thứ nhất hiện đại dũng cảm đánh giá lại những giá trị cơ bản nhất đang thách thức chúng ta: Có bao nhiêu giá trị tiêu dùng truyền thống và tiêu chuẩn sống của Thế giới thứ nhất mà hiện chúng ta vẫn đủ khả năng để duy trì? Tôi đã đề cập rằng, về mặt chính trị dường như có vẻ không thể thuyết phục các công dân Thế giới thứ nhất giảm bớt tác động của họ với thế giới. Nhưng có thể việc tiếp tục duy trì những tác động hiện nay của chúng ta còn khó khăn hơn. Tình trạng khó xử này khiến tôi nhớ tới phản ứng của Winston Churchill trước những lời chì trích nền dân chủ: “Mọi người cho rằng Dân chủ là hình thái chính phủ tồi tệ nhất, nhưng tất cả những hình thái khác đều đã được thử nghiệm trong nhiều thời đại rồi”. Trên tinh thần đó, một xã hội tác động [đến môi trường] ít hơn là kịch bản khó thực hiện nhất đối với tương lai của chúng ta - trừ phi có thể tưởng tượng ra tất cả những kịch bản khác.

Thực tế, mặc dù không dễ giảm những tác động [đến môi trường] của chúng ta, nhưng cũng không phải là không thể. Nên nhớ rằng tác động đó là sản phẩm của hai yếu tố: dân số và tác động trên đầu người đã tăng lên nhiều lần. Yếu tố thứ nhất, tăng trưởng dân số gần đây đã giảm mạnh ở tất cả các nước Thế giới thứ nhất, cũng như ở nhiều nước Thế giới thứ ba, trong đó có Trung Quốc, Indonesia và Bangladesh, những nước có dân số tương ứng đứng thứ nhất, thứ tư và thứ chín trên thế giới. Tăng trưởng dân số thực của Nhật Bản và Italia hiện đã thấp hơn mức tử vong, như vậy dân số hiện tại của họ (không tính người nhập cư) sẽ sớm bắt đầu bị suy giảm. Về tác động tính trên đầu người, thế giới thậm chí sẽ không cần phải giảm mức tiêu thụ các sản phẩm gỗ hay hải sản như hiện tại: những tỷ lệ này có thể tiếp tục duy trì hay thậm chí có thể tăng lên, nếu các khu rừng và các loài thủy sản trên thế giới được quản lý thích hợp.

Lý do còn lại khiến tôi hy vọng là một kết quả khác của sự liên kết chặt chẽ giữa các quốc gia trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa. Những xã hội trước đây không có các chuyên gia khảo cổ và cũng chẳng có truyền hình. Trong các cư dân đảo Phục Sinh bận rộn phá rừng trên những cao nguyên của hòn đảo đông dân để lấy đất canh tác vào những năm 1400, họ không có cách nào để biết rằng, cách đó hàng ngàn kilômét về phía đông và phía tây, xã hội người Norse ở Greenland và đế chế Khmer cũng đang trong giai đoạn cuối của thời kỳ suy thoái, trong khi xã hội Anasazi đã sụp đổ trước đó vài thế kỷ, xã hội Maya Cổ điển cũng sụp đổ trước Anasazi vài thế kỷ, và xã hội của người Mycenae Hy Lạp thì sụp đổ trước đó 2.000 năm. Nhưng ngày nay chúng ta chỉ cần bật truyền hình hay radio hoặc nhặt một tờ báo là có thể biết tất cả những gì đang diễn ra ở Somalia hay Afghanistan cách đó vài giờ. Những cuốn phim tài liệu truyền hình và những cuốn sách cung cấp cho chúng ta những biểu đồ chi tiết tại sao những cư dân đảo Phục Sinh, Maya Cổ điển và những xã hội trước đây khác lại sụp đổ. Bởi vậy chúng ta có cơ hội để rút kinh nghiệm từ những sai lầm của những dân tộc cổ xưa và những dân tộc xa xôi. Đó là một lợi thế mà không một xã hội trước đây nào có được. Khi viết cuốn sách này, tôi hy vọng sẽ có nhiều người chọn lợi thế đó để tạo ra một sự khác biệt.

« Lùi
Tiến »