Chuyện của Stan Falkow - Montana và tôi - Lý do bắt đầu với Montana? - Lịch sử kinh tế Montana - Khai mỏ - Rừng - Đất đai - Nước - Các loài sinh vật bản địa và ngoại lai - Những nhìn nhận khác nhau - Quan điểm về các quy định pháp luật - Chuyện của Rick Laible - Chuyện của Chip Pigman - Chuyện của Tim Huls - Chuyện của John Cook - Montana, hình mẫu của thế giới.
Khi tôi hỏi ông bạn Stan Falkow, vị giáo sư vi trùng học 70 tuổi của trường Đại học Stanford, gần San Francisco, về lý do ông mua căn nhà thứ hai ở thung lũng Bitterroot của Montana. Ông đã kể cho tôi Montana gắn bó với cuộc đời ông như thế nào:
“Tôi sinh ra ở New York, sau đó chuyển tới đảo Rhode. Nghĩa là, khi còn nhỏ tôi chẳng biết núi là gì cả. Những năm đầu tuổi 20, vừa tốt nghiệp đại học, tôi liền nghỉ học vài năm để làm ca đêm trong phòng khám nghiệm tử thi của một bệnh viện. Với một người trẻ tuổi chưa từng tiếp xúc với xác chết như tôi thì đó quả là một công việc rất căng thẳng. Một người bạn vừa trở về từ cuộc chiến Triều Tiên và từng trải qua rất nhiều căng thẳng ở đó, nhìn tôi và nói, ‘Stan, trông cậu lo lắng quá; cậu không nên căng thẳng như thế. Thử đi câu cá xem sao!’
Vậy là tôi bắt đầu đi câu cá vược. Tôi học cách buộc mồi và thực sự bị cuốn hút, nên ngày nào cũng đi câu sau khi hết giờ làm việc. Bạn tôi nói đúng: câu cá đã giúp tôi giảm căng thẳng. Nhưng trong thời gian học cao học ở đảo Rhode, công việc lại khiến tôi rơi trở lại tình trạng đó. Một bạn học lại bảo tôi rằng câu cá không có nghĩa là chỉ câu mỗi cá vược, tôi còn có thể sang bang Massachusetts bên cạnh câu cá hồi. Vậy là tôi đi câu cá hồi. Giáo sư hướng dẫn tôi là người thích ăn cá nên ông khuyến khích tôi đi câu. Ông không bao giờ nhăn mặt mỗi khi tôi bỏ thí nghiệm đi câu cá.
Bước vào tuổi 50, lại một khoảng thời gian căng thẳng của cuộc đời tôi bởi cuộc ly dị khó khăn và một số điều khác. Thời kỳ đó, tôi lại dành thời gian để đi câu chỉ ba lần mỗi năm. Sinh nhật lần thứ năm mươi khiến nhiều người trong chúng ta suy ngẫm về những gì ta muốn làm với phần đời còn lại của mình. Tôi đã suy ngẫm về cuộc đời của cha tôi, và tôi nhớ rằng ông đã chết ở tuổi 58. Tôi thấy choáng váng trước ý nghĩ, nếu chỉ thọ bằng ông thì tôi chỉ còn được đi câu 24 lần nữa trước khi từ biệt cõi đời này. Tôi cảm thấy mình còn rất ít thời gian để làm điều gì đó mình ưa thích. Nhận thức đó khiến tôi bắt đầu suy nghĩ làm thế nào để dành nhiều thời gian hơn cho những gì mình thực sự ưa thích trong những năm tháng còn lại, trong đó có cả câu cá.
Lúc đó, đột nhiên tôi được cử đi đánh giá một phòng thí nghiệm ở thung lũng Bitterroot, tây nam Montana. Trước đó tôi chưa từng tới Montana, thực ra tôi cũng chưa từng tới phía tây sông Mississippi, mãi cho tới năm 40 tuổi. Xuống sân bay Missoula, tôi thuê một chiếc xe lái tới miền nam thị trấn Hamilton, nơi có phòng thí nghiệm. Cách vài chục kilômét về phía Nam Missoula là một con đường dài thẳng tắp, trên một thung lũng bằng phẳng là những nông trại, cùng với rặng núi Bitterroot tuyết phủ ở phía tây và rặng Sapphire ở phía đông đột nhiên vươn lên khỏi thung lũng. Tôi thực sự sững sờ trước phong cảnh hùng vĩ này; tôi chưa thấy ở đâu có phong cảnh đẹp tới vậy. Nó mang lại cho tôi cảm giác yên bình và suy nghĩ lạ kỳ về thân phận của mình trong thế giới.
Khi tới phòng thí nghiệm, tôi vô tình gặp lại một sinh viên cũ của tôi đang làm việc ở đây và anh ta biết sở thích câu cá của tôi. Anh khuyên tôi nên quay lại vào năm sau để tiến hành một số thí nghiệm và để câu cá hồi, cá hồi sông Bitterroot rất nổi tiếng. Đúng hẹn, mùa hè năm sau tôi quay lại với ý định chỉ ở lại đây khoảng hai tuần, nhưng rồi tôi đã ở đây cả một tháng. Mùa hè sau nữa, tôi lại tới với ý định ở lại một tháng và rồi lại ở đó suốt cả mùa hè, cuối cùng vợ chồng tôi quyết định mua một căn nhà trong thung lũng. Từ đó, năm nào chúng tôi cũng tới đây và dành phần lớn thời gian trong năm cho Montana. Mỗi lần trở lại Bitterroot, khi bước vào con đường thẳng tắp ở phía Nam Missoula, hình ảnh đầu tiên của thung lũng lại khiến tôi có cảm giác thanh bình và hùng vĩ, cảm nhận mối liên hệ của tôi với vũ trụ. Ấn tượng này ở Montana lớn hơn bất kỳ nơi nào khác”.
Đó là những gì mà vẻ đẹp của Montana mang lại cho con người. Từ những người lớn lên ở những nơi hoàn toàn khác Montana, như Stan Falkow và tôi, cho tới những người bạn như John Cook, từng lớn lên ở những vùng núi khác ở phía Tây nước Mỹ, đều bị Montana cuốn hút. Ngay cả những người, như các thành viên gia đình Hirschy, sinh ra và lớn lên ở Montana đều chọn đây làm nơi sinh sống.
Cũng như Stan Falkow, tôi sinh ra ở Boston, đông bắc nước Mỹ và mãi tới khi 15 tuổi mới được tới phía Tây Mississippi. Hồi đó, cha mẹ tôi đưa tôi đi nghỉ hè vài tuần ở lưu vực Big Hole, phía Nam thung lũng Bitterroot (xem hình 3). Cha tôi là bác sĩ nhi khoa điều trị cho Johnny Eliel, cháu của một chủ nông trại, bị mắc một căn bệnh nguy hiểm mà bác sĩ của gia đình ở Montana bó tay và đề nghị đưa cậu bé tới Boston để điều trị đặc biệt. Johnny là chắt trai của Fred Hirschy Sr., một người Thụy Sĩ nhập cư và cũng là một trong những nông dân tiên phong của vùng Big Hole trong những năm 1890. Thời điểm tôi tới thăm nông trại, con trai ông là Fred Jr., cũng đã 69 tuổi và vẫn điều hành nông trại của gia đình, cùng với hai con trai lớn là Dick và Jack Hirschy và các con gái là Jill Hirschy Eliel (mẹ của Johny) và Joyce Hirschy McDowell. Dưới sự điều trị của cha tôi, sức khỏe của Johnny tiến triển rất tốt, bởi vậy ông bà và cha mẹ cậu ấy đã mời gia đình tôi tới thăm nông trại.
Cũng giống như Stan Falkow, tôi lập tức bị choáng ngợp bởi phong cảnh của Big Hole: Một thung lũng bằng phẳng bao la với những bãi cỏ và những con suối quanh co, bao quanh là những dãy núi bốn mùa tuyết phủ nổi bật trên nền trời. Montana tự gọi mình là “tiểu bang Bầu trời bao la”. Đúng như vậy. Ở những nơi tôi từng qua, hoặc những tòa nhà chọc trời che khuất tầm nhìn của con người về phía chân trời, như trong các thành phố; hoặc có núi nhưng địa hình gồ ghề và thung lũng lại hẹp, bởi vậy chỉ nhìn thấy một mảng trời như ở New Guinea và vùng Alps. Có nơi bầu trời mở rộng nhưng lại chẳng mấy thú vị bởi không có những rặng núi độc đáo ở phía chân trời, như đồng bằng Iowa và Nebraska. Ba năm sau, khi đã là sinh viên, tôi lại tới nghỉ hè ở nông trại của Dick Hirschy cùng với hai người bạn và chị gái tôi. Cả đám chúng tôi cùng tham gia thu hoạch cỏ khô cho các nông trại của dòng họ Hirschy. Tôi thì lái máy cắt cỏ, chị tôi thì cào cỏ, các bạn tôi thì đánh đống cỏ khô.
Sau mùa hè năm 1956 đó, phải rất lâu sau tôi mới trở lại Montana. Những năm sau đó tôi nghỉ hè ở những nơi khác, nơi cũng có những cảnh đẹp như New Guinea và Andes, nhưng tôi không thể quên Montana và dòng họ Hirschy. Cuối cùng, năm 1998, tôi đột nhiên nhận được lời mời của Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã Teller, một tổ chức tư nhân phi lợi nhuận tại Bitterroot. Đây là cơ hội để tôi đưa hai cậu con sinh đôi tới Montana để dạy chúng câu cá hồi khi chúng vẫn còn ít hơn tôi vài tuổi so với lần đầu tiên tôi tới tiểu bang này. Lập tức các con tôi cũng bị trò câu cá cuốn hút, một đứa hiện đang học để trở thành hướng dẫn viên câu cá. Tôi lại khôi phục mối quan hệ với Montana và tới thăm lại ông chủ nông trại Dick Hirschy cùng các anh chị em của ông. Tất cả đều đã trong độ tuổi 70-80 nhưng vẫn làm việc chăm chỉ suốt cả năm, như lần đầu tiên tôi gặp họ cách đây 45 năm. Từ đó, năm nào tôi cũng cùng vợ con về thăm Montana. Tất cả chúng tôi đều bị cuốn hút bởi phong cảnh độc đáo, khó quên của vùng đất này với bầu trời bao la như đã lôi cuốn và giữ chân bạn bè tôi (Phụ bản 1-3).
Bầu trời Montana ngày càng lớn dần trong tôi. Sau nhiều năm sinh sống ở những nơi khác, tôi thấy mình bị Montana cuốn hút khiến tôi quay trở lại đây nhiều lần và trở nên quen thuộc với cảnh phía trên là bầu trời bao la, bên dưới là thung lũng với những dãy núi bao quanh. Tôi thực sự mong muốn được sống trong phong cảnh hùng vĩ này. Tôi thấy mình có thể trải lòng với Montana, cho dù đi xa nhưng tôi vẫn biết rằng một ngày nào đó mình sẽ quay trở lại. Với tôi và gia đình, Los Angeles có những ưu điểm như một nơi để làm việc, học tập và sinh sống tốt. Nhưng Montana thực sự đẹp hơn nhiều và (như Stan Falkow đã nói) rất yên bình. Với tôi, cảnh đẹp nhất thế giới chính là cảnh những đồng cỏ bao la của Big Hole với những đỉnh núi cao tuyết phủ của dãy Đại lục phân thủy1 khi nhìn từ cổng nông trại của Jill và John Eliel.
Montana nói chung, và thung lũng Bitterroot ở phía tây nam, là một mảnh đất của những nghịch lý. Trong số 48 tiểu bang ở vùng thấp, Montana là tiểu bang có diện tích lớn thứ ba trong khu vực và có số dân nhỏ thứ sáu, bởi vậy mật độ dân số thấp thứ hai. Ngày nay, thung lũng Bitterroot trông rất tươi tốt, nhưng loại thực vật tự nhiên chính gốc ở đây chỉ có cây ngải đắng. Hạt Ravalli, nơi có thung lũng, có phong cảnh rất đẹp và thu hút nhiều người từ khắp nơi trên nước Mỹ về đây sinh sống, (kể cả những người từ những vùng khác của tiểu bang Montana). Đây cũng là một trong những hạt có tỷ lệ dân số tăng nhanh nhất nước Mỹ, nhưng 70% số học sinh tốt nghiệp trung học lại rời bỏ thung lũng, và phần lớn số này rời bỏ Montana ra đi. Mặc dù dân số của Bitterroot đang tăng, nhưng dân số ở phía đông Montana lại giảm đi, bởi vậy dân số trên toàn tiểu bang Montana ở mức cân bằng. Trong thập kỷ qua, số cư dân trong độ tuổi 50 của hạt Ravalli tăng mạnh, nhưng cư dân trong độ tuổi 30 lại giảm. Gần đây, trong số những người mua nhà ở thung lũng có những người rất giàu, như nhà sáng lập môi giới bất động sản Charles Schwab và chủ tịch Intel Craig Barrett, nhưng hạt Ravalli vẫn là một trong những hạt nghèo nhất bang Montana, trong khi Montana gần như là tiểu bang nghèo nhất nước Mỹ. Nhiều cư dân của hạt phải làm tới 2-3 công việc, nhưng thu nhập vẫn chỉ ở mức nghèo khổ của nước Mỹ.
Chúng tôi gắn bó với Montana bởi phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp của nó. Thực tế, môi trường Montana có lẽ là môi trường ít bị tàn phá nhất so với 48 bang ở vị trí thấp, và đó cũng chính là lý do vì sao nhiều người lại chuyển tới hạt Ravalli sinh sống. Chính quyền liên bang sở hữu hơn 1/4 số đất đai của tiểu bang và 3/4 số đất đai của hạt Ravalli, phần lớn là các khu rừng quốc gia. Tuy nhiên, thung lũng Bitterroot lại là một thế giới thu nhỏ hội tụ đầy đủ các vấn đề liên quan đến môi trường đang hoành hành trên khắp nước Mỹ như dân số tăng nhanh, tình trạng nhập cư ồ ạt, nước ngày càng khan hiếm trong khi chất lượng nước giảm, chất lượng không khí cục bộ và theo mùa giảm, các loại chất thải độc hại, nguy cơ cháy rừng cao, rừng bị suy thoái, đất bị xói mòn hay bạc màu, đa dạng sinh học bị tổn hại, những loài sinh vật hại ngoại lai xuất hiện nhiều cùng những ảnh hưởng của thay đổi khí hậu.

Hình 3. Montana hiện nay
Montana là trường hợp nghiên cứu điển hình lý tưởng để mở đầu cho cuốn sách này về các vấn đề môi trường trước đây và hiện nay. Đối với các xã hội trước đây mà tôi sẽ thảo luận là Polynesia, Anasazi, Maya, Norse của Greenland và những xã hội khác, chúng ta biết được những hậu quả cuối cùng mà cư dân các xã hội này phải gánh chịu trước những quyết định quản lý môi trường của họ. Nhưng chúng ta không biết tên tuổi hay cuộc đời của các cá nhân, và chúng ta chỉ có thể phỏng đoán động cơ khiến họ hành động như những gì đã làm. Ngược lại, trong Montana hiện đại, chúng ta biết rõ tên tuổi, tiểu sử cuộc đời và các động cơ của dân cư. Một số người là bạn của tôi trong suốt hơn 50 năm qua. Hiểu được những động cơ của Montana, chúng ta có thể hình dung tốt hơn về những động cơ trong quá khứ. Chương này sẽ nói về các cuộc sống cá nhân, để cuốn sách bớt phần trừu tượng.
Ngoài ra, Montana còn mang lại sự cân bằng hữu ích cho những thảo luận trong các chương sau về các xã hội trước đây, bé nhỏ, nghèo nàn và xa xôi trong những môi trường dễ bị tổn hại. Tôi cố tình chọn những xã hội này để thảo luận bởi chúng từng gánh chịu những tổn thất nghiêm trọng do tổn hại môi trường, bởi vậy chúng là những minh họa sống động về các quá trình mà cuốn sách này nghiên cứu. Nhưng chúng không phải là những hình thái xã hội duy nhất dễ bị tác động bởi các vấn đề môi trường nghiêm trọng, như đã minh họa với trường hợp trái ngược của Montana. Montana là một phần lãnh thổ của quốc gia giàu nhất thế giới, và cũng là vùng đất hoang sơ nhất và có số dân thấp nhất nước Mỹ. Dường như tiểu bang này cũng ít gặp các vấn đề môi trường và dân số so với các tiểu bang khác. Chắc chắn, các vấn đề môi trường của Montana ít khắc nghiệt hơn nhiều so với những vấn đề như dân cư đông đúc, khói bụi từ các phương tiện giao thông, chất lượng và trữ lượng nước, và các loại chất thải độc hại hiện đang bủa vây người dân Mỹ ở thành phố Los Angeles, nơi tôi sống, cũng như ở những đô thị khác trên toàn nước Mỹ. Mặc dù vậy, nếu thậm chí Montana có những vấn đề về dân số và môi trường, thì càng dễ đánh giá mức độ nghiêm trọng của các vấn đề này ở những bang khác của nước Mỹ. Montana sẽ minh họa năm chủ đề chính của cuốn sách, đó là: tác động của con người tới môi trường; thay đổi khí hậu; quan hệ của một xã hội với các xã hội láng giềng hữu nghị (trong trường hợp Montana là quan hệ với các tiểu bang khác của nước Mỹ); một xã hội với nguy cơ ảnh hưởng từ những xã hội thù địch (như khủng bố nước ngoài và các nước sản xuất dầu lửa hiện nay); và tầm quan trọng của việc một xã hội ứng phó như thế nào với các vấn đề của nó.
Những bất lợi môi trường giống nhau không chỉ gây cản trở cho hoạt động sản xuất lương thực trên khắp vùng núi phía Tây nước Mỹ, mà còn làm hạn chế khả năng trồng trọt và chăn nuôi gia súc của Montana. Những bất lợi môi trường đó là: lượng mưa của Montana tương đối thấp nên làm chậm khả năng tăng trưởng của cây trồng; vĩ độ và độ cao của Montana cao nên mùa vụ trồng trọt ngắn và chỉ trồng một vụ mỗi năm chứ không thể trồng hai vụ như những vùng có mùa hè dài hơn. Monata cũng nằm xa các thị trường đông dân cư khiến việc tiêu thụ sản phẩm khó khăn hơn. Như vậy có nghĩa là những gì trồng được ở Montana thì cũng có thể trồng được ở bất cứ đâu ở Bắc Mỹ với giá rẻ hơn, sản lượng cao hơn, vận chuyển tới những trung tâm dân cư nhanh hơn với chi phí thấp hơn. Bởi vậy, lịch sử Montana là hàng loạt những nỗ lực nhằm tìm ra câu trả lời cho một câu hỏi cơ bản là làm thế nào để có thể sống trên mảnh đất tươi đẹp nhưng lại thiếu sức cạnh tranh nông nghiệp này.
Lịch sử tồn tại của con người Montana được chia thành vài giai đoạn kinh tế. Giai đoạn đầu là của thổ dân châu Mỹ, những người đã đặt chân tới đây từ ít nhất 13.000 năm trước. Trái ngược với những xã hội nông nghiệp mà họ đã phát triển ở miền đông và miền nam Bắc Mỹ, trước khi người châu Âu đặt chân tới đây, thổ dân châu Mỹ của Montana vẫn chỉ biết săn bắn và hái lượm, thậm chí ngay cả trong các khu vực hiện nông nghiệp và chăn nuôi đang rất phát triển. Có một lý do là Montana không có các loài động thực vật bản địa hoang dã để thuần hóa, nên nền nông nghiệp của Montana không có nguồn gốc độc lập, trái ngược với tình trạng ở phía đông Bắc Mỹ và Mexico. Một lý do khác là Montana nằm quá xa hai trung tâm thổ dân châu Mỹ có nền nông nghiệp độc lập, cho nên các sản phẩm nông nghiệp ở đây không tới được Montana mãi tới khi người châu Âu xuất hiện. Ngày nay, khoảng 3/4 số thổ dân còn lại của Montana sống trong bảy khu bảo tồn thiên nhiên nghèo nàn tài nguyên, chỉ có những thảo nguyên bao la.
Theo sử sách, những người châu Âu đầu tiên đặt chân tới Montana là những thành viên trong đoàn thám hiểm xuyên lục địa Lewis and Clark vào khoảng năm 1804 - 1806. Họ đã dành nhiều thời gian để thám hiểm vùng đất sau này là Montana hơn so với những tiểu bang khác của nước Mỹ. Tiếp đó là giai đoạn kinh tế thứ hai của Montana liên quan tới “những người miền núi” là những thợ săn và các thương gia từ Canada và Mỹ tới. Giai đoạn tiếp theo bắt đầu vào những năm 1860 dựa trên ba trụ cột kinh tế Montana phát triển tới tận bây giờ (mặc dù tầm quan trọng đã giảm) là: khai mỏ, đặc biệt là đồng và vàng; khai thác gỗ; và sản xuất lương thực, bao gồm cả chăn nuôi gia súc, cừu và trồng lúa mì, rau quả. Những dòng thợ mỏ đổ tới mỏ đồng lớn của Montana ở Butte đã kích thích các lĩnh vực kinh tế khác phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường nội bang. Đặc biệt, nhiều cây gỗ đã bị chặt ở thung lũng Bitterroot gần đó để thợ mỏ sưởi ấm và đun nấu, để dựng nhà và để chống lò. Lương thực cung cấp cho thợ mỏ đa phần được trồng ngay trong thung lũng ở phía nam của bang, nơi có khí hậu ôn hòa (theo tiêu chuẩn của Montana) với biệt danh “Vành đai chuối của Montana”. Mặc dù lượng mưa trong thung lũng thấp (33,02 xăngtimét mỗi năm) và thực vật tự nhiên chỉ có cây ngải đắng, nhưng những người châu Âu đầu tiên tới đây khai hoang đã bước đầu khắc phục bất lợi này bằng cách xây dựng những con kênh nhỏ tưới ruộng lấy nước từ những con suối bắt nguồn từ rặng núi Bitterroot, ở sườn phía tây thung lũng. Sau này, nhờ có cơ khí, họ tiếp tục xây dựng hai hệ thống thủy lợi quy mô lớn hơn, tốn kém hơn. Một hệ thống tên là Big Ditch được xây dựng vào năm 1908 - 1910 dẫn nước từ hồ Como ở sườn phía tây thung lũng, và hệ thống kia bao gồm một số kênh tưới tiêu lớn lấy nước ngay từ sông Bitterroot. Cùng với những lợi ích khác, hệ thống thủy lợi này đã làm xuất hiện hàng loạt những vườn táo ở thung lũng Bitterroot vào đầu những năm 1880 và đạt tới đỉnh điểm vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX, hiện vẫn còn một số ít vườn táo trồng với mục đích thương mại.
Trong số những nền tảng kinh tế cũ của Montana, săn bắn và đánh cá đã chuyển từ chỗ là hình thức kiếm sống sang thành hình thức giải trí. Lĩnh vực buôn bán lông thú bị phá sản và vai trò quan trọng của các ngành khác như khai mỏ, khai thác gỗ và nông nghiệp đang giảm dần bởi ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế và môi trường thảo luận dưới đây. Thay vào đó, các lĩnh vực kinh tế khác hiện đang rất phát triển là du lịch, giải trí, những người tới nghỉ hưu và chăm sóc sức khỏe. Năm 1996, một bước ngoặt tượng trưng đánh dấu sự chuyển đổi kinh tế của thung lũng Bitterroot là khi ông trùm môi giới bất động sản Charles Schwab giàu có mua lại nông trại Bitterroot Stock rộng 2.600 mẫu từ nhà tư bản khai thác đồng của Montana là Marcus Daly. Ngay sau đó, ông cho xây dựng những căn nhà trên khu đất này để bán lại cho những người Mỹ giàu có muốn mua căn nhà thứ hai (thậm chí thứ ba, thứ tư) ở thung lũng xinh đẹp ấy chỉ để tới đây câu cá, đánh gôn, cưỡi ngựa, đi săn một vài lần trong năm. Nông trại Stock còn có một sân gôn 18 lỗ và khoảng 125 chiếc lều. Nói là “lều” nhưng đó là một công trình kiến trúc với 6 phòng ngủ trên diện tích đất rộng 1.800 m2, có giá bán từ 800.000 đô-la trở lên. Những người mua đất của nông trại Stock phải chứng minh thu nhập của mình, ít nhất cũng phải đủ khả năng đóng phí hội viên câu lạc bộ với phí ban đầu là 125.000 đô-la, cao gấp bảy lần thu nhập hằng năm của cư dân hạt Ravalli. Nông trại Stock có hàng rào bao quanh, và ngay ở cổng vào có dòng chữ: “Chỉ dành cho các thành viên và khách tới thăm”. Nhiều chủ nhà tới đây bằng máy bay riêng, mặc dù hiếm khi đi dạo hay mua sắm ở Hamilton, nhưng họ lại thích ăn uống ở câu lạc bộ của nông trại Stock, hoặc thưởng thức hoa quả do nhân viên câu lạc bộ mua từ Hamilton. Như một cư dân Hamilton đã nói với tôi giọng chua chát: “Bạn có thể nhận ra hàng đoàn quý tộc khi họ ra thị trấn dạo chơi trong những bộ đồ bó sát người trông như những du khách nước ngoài vậy”.
Một số cư dân lâu năm của thung lũng Bitterroot kinh ngạc khi kế hoạch phát triển nông trại Stock được công bố. Họ không tin sẽ có người bỏ ra số tiền lớn tới vậy để mua đất thung lũng và những lô đất sẽ chẳng bán được. Hóa ra họ đã lầm. Rất nhiều người giàu có trên khắp nước Mỹ tới xem và mua đất ở thung lũng, và sự kiện khai trương nông trại Stock trở thành một sự kiện quan trọng bởi quá nhiều người đổ xô tới mua đất ở Bitterroot cùng một lúc. Hơn nữa, nông trại Stock đã làm tăng giá trị đất thung lũng lên nhiều lần khi sử dụng vào mục đích giải trí so với những mục đích truyền thống như chăn bò và trồng táo.
Những vấn đề môi trường ngày nay của Montana bao gồm hầu như cả tá vấn đề đã tàn phá các xã hội tiền công nghiệp trước đây, cũng như hiện đang đe dọa các xã hội trên khắp thế giới. Những vấn đề môi trường nổi bật ở Montana là chất thải độc hại, rừng, đất, nước (và đôi khi cả không khí), thay đổi khí hậu, tổn hại đa dạng sinh học và sự du nhập của các loài sinh vật hại. Hãy bắt đầu với vấn đề dường như rõ ràng nhất, đó là chất thải độc hại.
Trong khi người dân Montana ngày càng lo lắng về những tác hại gây ra do rò rỉ thuốc trừ sâu, phân bón, các thùng chứa rác, thuốc diệt cỏ, thì vấn đề rác thải độc hại lớn nhất chính là các loại phế thải của ngành khai thác mỏ. Một số phế thải có từ thế kỷ trước, số khác mới xuất hiện gần đây hoặc hiện vẫn đang được thải ra. Khai thác kim loại - đặc biệt là đồng, ngoài ra còn chì, molybdenum, paladi, bạch kim, kẽm, vàng, và bạc – là một trong những ngành kinh tế truyền thống trụ cột của nền kinh tế Montana. Không ai phủ nhận tầm quan trọng của ngành mỏ với nền văn minh hiện đại và với các ngành công nghiệp phải sử dụng kim loại như hóa chất, xây dựng, điện và điện tử. Vấn đề là làm thế nào để có thể khai thác các vỉa quặng một cách tốt nhất.
Đáng buồn là, lượng quặng được mang đi khỏi mỏ quặng ở Montana để tách lấy kim loại chỉ là một phần nhỏ so với số đất đá bị đào lên. Phế thải còn lại là đất đá thải và các loại phế phẩm vẫn còn chứa đồng, thủy ngân, cadimi và chì là những chất độc hại cho con người (cũng như cho các loài thủy sản, động vật hoang dã và gia súc). Càng nguy hiểm hơn nếu các chất độc này thấm vào đất đai, ngấm vào nguồn nước ngầm và chảy ra các sông hồ. Hơn nữa, quặng của Montana thuộc loại giàu sunfua sắt, có thể tạo thành axit sunfua. Hiện ở Montana có chừng 20.000 mỏ bị bỏ hoang; một số mỏ mới bị bỏ hoang, nhưng nhiều mỏ đã bị bỏ hoang hàng thế kỷ nay, thậm chí còn lâu hơn nữa và có nguy cơ rò rỉ axit và các loại kim loại độc hại mãi mãi. Đa phần chủ sở hữu các mỏ này không còn sống để phải chịu các trách nhiệm tài chính, hoặc có còn sống thì cũng không đủ khả năng tài chính để phục hồi môi trường mỏ và xử lý liên tục hiện tượng rò rỉ axit.
Từ hơn một thế kỷ trước, người dân đã nhận ra những tác hại do khai thác mỏ từ một mỏ đồng lớn và từ nhà máy luyện đồng tại Butte, khi bò của các nông trại chết dần chết mòn và các nông dân đã kiện công ty khai thác đồng Anaconda. Công ty này phủ nhận trách nhiệm và thắng kiện, nhưng dù sao vào năm 1907, công ty cũng đã xây dựng một số bể lắng đầu tiên để giữ lại các chất thải độc hại. Bởi vậy, từ lâu chúng ta đã biết rằng các loại phế thải độc hại trong khai thác mỏ có thể được giữ lại để giảm thiểu tác hại. Hiện một số mỏ mới trên thế giới đã áp dụng các công nghệ hiện đại để xử lý chất thải độc hại, trong khi không ít mỏ vẫn cố tình lờ đi. Hiện nay ở Mỹ, theo quy định của pháp luật, khi một công ty khai thác một mỏ mới, họ phải mua một loại trái phiếu để ký quỹ đảm bảo thanh toán chi phí làm sạch mỏ trong trường hợp công ty khai mỏ đó phá sản. Nhưng có một vấn đề là chi phí làm sạch của nhiều mỏ còn cao hơn giá trị của trái phiếu nhiều lần, đồng thời khi khai thác một số mỏ cũ hơn, họ lại không buộc phải mua loại trái phiếu này.
Ở Montana cũng như những nơi khác, nhiều công ty đã mua lại những mỏ lâu đời hơn để trốn tránh chi phí phục hồi môi trường mỏ bằng một trong hai cách. Thứ nhất, nếu công ty đó có quy mô nhỏ, chủ công ty có thể tuyên bố phá sản, một vài trường hợp thì giấu giếm tài sản và chuyển giao hoạt động kinh doanh cho các công ty khác hay cho các công ty mới thành lập không phải chịu trách nhiệm làm sạch mỏ cũ. Thứ hai, nếu là công ty lớn thì không thể viện cớ các chi phí làm sạch sẽ khiến công ty phá sản (như trong trường hợp của tập đoàn ARCO mà tôi sẽ đề cập phần sau), thì công ty sẽ phủ nhận trách nhiệm hay tìm cách giảm thiểu chi phí. Dù trường hợp nào, nếu khu mỏ hoặc nguồn nước trong khu vực vẫn bị nhiễm độc có thể gây nguy hiểm cho con người thì chính quyền Mỹ và chính quyền tiểu bang Montana (cuối cùng vẫn là những người đóng thuế) phải bỏ kinh phí để làm sạch thông qua quỹ bảo vệ môi trường Superfund của liên bang và một quỹ tương tự của tiểu bang.
Hai kiểu phản ứng này của các công ty mỏ làm nảy sinh một câu hỏi lặp đi lặp lại trong suốt cuốn sách, khi chúng ta cố gắng tìm hiểu tại sao bất cứ cá nhân hay tổ chức nào trong bất kỳ xã hội nào cũng cố tình gây hại cho cả xã hội. Trong khi hành vi phủ nhận hay giảm thiểu trách nhiệm đối với các vấn đề môi trường có thể mang lại lợi ích tài chính trước mắt cho công ty khai mỏ, thì nó lại gây tổn hại cho toàn xã hội, hay cho toàn ngành khai mỏ. Mặc dù từ lâu, con người Montana đã coi ngành mỏ như một giá trị truyền thống biểu tượng của tiểu bang, thì gần đây họ cũng bắt đầu vỡ mộng với ngành mỏ và chung sức đẩy ngành này tới chỗ cáo chung. Ví dụ, năm 1998 ngành mỏ cùng với những chính trị gia ủng hộ nó bàng hoàng khi cử tri Montana bỏ phiếu thông qua quy định cấm khai thác vàng bằng phương pháp hòa tách đống (heap-leach) có sử dụng xyanua, sẽ được thảo luận kỹ hơn ở phần sau. Một số bạn bè tôi ở Montana nói: nhìn lại vấn đề, khi so sánh chi phí làm sạch môi trường mỏ lên tới nhiều tỷ đô-la là tiền thuế mà chúng ta chúng ta đóng góp với phần nhỏ thu nhập từ trước tới nay từ các mỏ của Montana, thì chúng ta sẽ thấy phần lớn lợi nhuận đã chảy vào túi cổ đông của các công ty ở miền đông nước Mỹ hay ở châu Âu xa xôi. Chúng ta cũng thấy rằng, sẽ tốt hơn cho Montana nếu nó không khai thác đồng mà chỉ nhập khẩu từ Chile và cứ để lại mọi hậu quả cho người Chile gánh chịu!
Chúng ta không phải là thợ mỏ nên rất dễ căm ghét các công ty khai mỏ và coi hành vi của họ là vô đạo đức. Chả lẽ họ không biết rằng họ đang cố tình gây hại cho chúng ta và giờ đây lại trốn tránh trách nhiệm? Trong nhà vệ sinh của một người bạn tôi có gắn một tấm biển viết: “Đừng dội nước. Hãy làm như ngành mỏ: cứ để đó cho người khác dọn chất thải của bạn”.
Thực ra vấn đề đạo đức phức tạp hơn nhiều. Đây là một lý giải mà tôi trích dẫn từ một cuốn sách mới đây: “… ASARCO [Công ty luyện và chế biến kim loại Mỹ, một công ty lớn chuyên khai thác và chế biến kim loại] khó có thể bị buộc tội [vì không làm sạch môi trường tại một mỏ đặc biệt độc hại của công ty]. Các ngành kinh doanh Mỹ sinh ra là để kiếm tiền cho những người chủ, đó là một mục tiêu của chủ nghĩa tư bản Mỹ. Một hệ quả tất yếu của việc kiếm tiền là không tiêu tiền vô ích… một triết lý chặt chẽ không chỉ áp dụng trong ngành mỏ. Kinh doanh thành công cần phân biệt rõ ràng giữa những chi phí cần thiết giữ lại để tiếp tục kinh doanh với những chi phí là ‘nghĩa vụ đạo đức’ sâu sắc hơn. Những khó khăn hay miễn cưỡng khi hiểu và chấp nhận sự khác biệt này càng làm tăng thêm sự căng thẳng giữa những người ủng hộ các chương trình bảo vệ môi trường rộng rãi và cộng đồng kinh doanh. Các thương gia hàng đầu luôn là những người thực tế chứ không phải những người chỉ thuyết giáo”. Những giải thích trên không phải từ Giám đốc điều hành của ASARCO, mà là của nhà tư vấn môi trường David Stiller, tác giả của cuốn sách: Vết thương phía Tây: Montana, Ngành mỏ và Môi trường đánh giá vấn đề chất thải mỏ độc hại ở Montana nghiêm trọng như thế nào và xã hội đã thực sự làm những gì để giải quyết vấn đề này.
Có một thực tế tàn nhẫn rằng hiện không có biện pháp rẻ tiền nào có thể làm sạch các mỏ cũ kỹ. Những gì thợ mỏ đã làm trước đây là do chính phủ hầu như không buộc họ phải tuân thủ một nguyên tắc nào, và bởi họ là những nhà kinh doanh hành động theo các nguyên tắc mà David Stiller đã lý giải. Mãi tới năm 1971, Montana mới ban hành một đạo luật buộc các công ty khai mỏ phải làm sạch môi trường khu vực khai thác khi đóng cửa mỏ. Thậm chí nếu những công ty giàu có (như ARCO và ASARCO) có ý định làm sạch môi trường cũng sẽ trở nên miễn cưỡng khi thấy rằng họ bị buộc phải làm điều không thể, hoặc chi phí sẽ rất cao, hoặc có thể đạt được kết quả nhưng thấp hơn những gì mà công chúng mong chờ. Khi chủ một mỏ không đủ khả năng tài chính hay trốn tránh trách nhiệm, thì những người nộp thuế cũng không muốn tham gia và tiêu tốn hàng tỷ đô-la cho việc làm sạch môi trường. Thay vào đó, những người nộp thuế cho rằng vấn đề môi trường này đã tồn tại trong suốt một thời gian dài và không ảnh hưởng trực tiếp tới bản thân họ, như vậy thì có thể tiếp tục chịu đựng được. Đa phần những người đóng thuế phản đối chi tiền nếu không xảy ra khủng hoảng ngay lập tức và cũng không nhiều người phàn nàn về những loại rác thải độc hại hay ủng hộ áp dụng các mức thuế cao hơn. Về mặt này, công chúng Mỹ cũng phải chịu trách nhiệm cùng với những thợ mỏ và chính quyền bởi sự trì trệ của họ; chính chúng ta là những người phải chịu trách nhiệm cuối cùng. Chỉ khi công chúng gây sức ép với các chính trị gia buộc họ phải thông qua những đạo luật, quy định các hành vi mà các công ty mỏ phải thực hiện thì những công ty này mới thay đổi cách hoạt động. Nếu không, các công ty này sẽ hoạt động như các tổ chức từ thiện và vi phạm trách nhiệm của họ với các cổ đông. Ba trường hợp minh họa cho những hậu quả khác nhau của những tình trạng rắc rối tới tận bây giờ là sông Clark Fork, đập Milltown và công ty mỏ Pegasus Zortman-Landusky.
Năm 1882, các công ty mỏ, sau này trở thành Công ty Khai thác đồng Anaconda, bắt đầu khai thác tại Butte gần thượng nguồn sông Clark Fork, một nhánh của sông Columbia. Năm 1900, Butte chiếm tới một nửa sản lượng đồng của nước Mỹ. Tới năm 1955, phần lớn các mỏ ở Butte đều là mỏ hầm lò, nhưng cũng trong năm này, Anaconda bắt đầu bóc đất đá mở một mỏ lộ thiên mang tên Berkeley Pit, hiện vẫn còn một chiếc hố lớn với đường kính hơn 1,6 kilômét và sâu gần 550 mét. Một lượng lớn các loại phế thải có chứa axit cùng với những kim loại độc hại đã bị đổ xuống sông Clark Fork. Nhưng sau đó Anaconda bắt đầu bị thua lỗ do hàng loạt vấn đề như cạnh tranh từ đồng giá rẻ của nước ngoài, các mỏ của công ty tại Chile bị sung công và công chúng Mỹ ngày càng quan tâm tới môi trường. Năm 1976, Anaconda bị công ty dầu lửa ARCO mua lại (và gần đây lại bị bán cho công ty dầu lửa lớn hơn là BP), nhà máy luyện đồng đóng cửa vào năm 1980, cuối cùng phải đóng cửa mỏ vào năm 1983 khiến hàng ngàn lao động mất việc làm và khiến doanh thu của vùng Butte giảm tới 3/4.
Sông Clark Fork, kể cả mỏ Berkeley Pit, hiện là khu vực cần làm sạch môi trường lớn nhất và tốn kém nhất của quỹ môi trường Superfund của Mỹ. Quan điểm của ARCO là không công bằng khi bắt công ty phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do những chủ mỏ trước đó gây ra, thậm chí trước cả khi ban hành luật Superfund. Chính quyền liên bang và chính quyền bang thì cho rằng ARCO mua lại tài sản của Anaconda thì cũng phải kế thừa những trách nhiệm của Anaconda. Ít nhất ARCO và BP không phải tuyên bố phá sản. Như một người bạn ủng hộ môi trường nói với tôi: “Họ đang cố lẩn tránh trách nhiệm để số tiền phải trả càng ít càng tốt, nhưng còn có những công ty khác hành động tệ hơn ARCO nhiều lần”. Từ nay trở đi, nước chứa axit chảy vào mỏ Berkeley Pit sẽ được bơm ra và xử lý mãi mãi. ARCO đã trả vài trăm triệu đô-la cho chính quyền tiểu bang Montana để phục hồi môi trường vùng Clark Fork và ước tính trách nhiệm xử lý môi trường sẽ khiến công ty này mất tới một tỷ đô-la, nhưng đây chỉ là con số ước tính bởi việc xử lý làm sạch khu mỏ tiêu tốn rất nhiều năng lượng, ai mà biết được giá năng lượng 40 năm sau sẽ như thế nào?
Trường hợp thứ hai là đập Milltown, được xây dựng năm 1907 qua nhánh sông Clark Fork ở Butte để phát điện cho một nhà máy cưa ở gần đó. Kể từ đó, khoảng hơn 6 triệu mét khối bùn lắng nhiễm thạch tín, cadimi, đồng, chì và kẽm bị rửa trôi từ các mỏ của Butte tích tụ trong một hồ chứa sau đập. Hậu quả, một vấn đề “nhỏ” xuất hiện là con đập ngăn không cho cá di chuyển dọc theo sông Clark Fork và Blackfoot2. Nhưng vấn đề chính xuất hiện năm 1981, khi cư dân địa phương phát hiện thấy mùi lạ trong giếng nước ăn của họ. Một lượng lớn nước ngầm có nồng độ thạch tín nguy hiểm cao gấp 42 lần so với tiêu chuẩn của liên bang đã thấm qua hồ chứa tràn ra ngoài. Do đang bị xuống cấp, không còn vững chắc và cần phải được sửa chữa, con đập lại nằm trong vùng thường xuyên có động đất và từng suýt bị băng phá vỡ năm 1996, sớm muộn gì rồi chiếc đập này cũng sẽ bị vỡ. Ngày nay chẳng ai lại xây một con đập thiếu kiên cố tới vậy. Nếu đập vỡ và cặn bùn lắng độc hại tràn ra từ hồ chứa thì nguồn cung cấp nước cho Missoula, thành phố lớn nhất ở phía tây nam Montana chỉ cách con đập hơn mười kilômét, sẽ không thể uống được và nghề đánh bắt cá ở hạ lưu sông Clark Fork sẽ không thể tiếp tục.
ARCO gánh lấy trách nhiệm đối với các cặn lắng độc hại trong hồ chứa sau con đập khi mua lại công ty khai thác đồng Anaconda, công ty xây chiếc đập này. Vụ kẹt băng năm 1996 suýt trở thành thảm họa và cá dưới hạ lưu đã chết do nước nhiễm đồng rò rỉ từ đập chắn. Tới năm 1998, người dân trong vùng lại thấy cần phải làm gì đó với con đập. Các nhà khoa học của bang và liên bang đề nghị phá bỏ con đập và dọn sạch những cặn lắng độc hại tích tụ trong hồ chứa với chi phí khoảng 100 triệu đô-la mà ARCO bỏ ra. Suốt một thời gian dài, ARCO phủ nhận nguyên nhân khiến cá chết là do rò rỉ cặn lắng độc hại, phủ nhận trách nhiệm với việc thạch tín ngấm vào nguồn nước ngầm của Milltown gây ra căn bệnh ung thư trong vùng, phủ nhận việc tài trợ cho phong trào “dân thường” ở thị trấn Bonner cạnh đó để họ phản đối việc phá bỏ đập và đề xuất chỉ cần gia cố đập với chi phí thấp hơn nhiều, khoảng 20 triệu đô-la. Nhưng các chính trị gia, các thương gia và công chúng Missoula, mặc dù lúc đầu đã xem xét đề xuất phá bỏ đập, giờ lại chuyển sang ủng hộ giữ lại đập. Năm 2003, Cục Bảo vệ Môi trường liên bang đã thông qua phương án phá bỏ con đập.
Trường hợp cuối cùng là mỏ Zortman-Landusky thuộc sở hữu của Pegasus Gold, một công ty nhỏ do những thợ mỏ từ các công ty khai thác khác đứng ra thành lập. Mỏ này đã áp dụng phương pháp được gọi là hòa tách đống có sử dụng xyanua để khai thác những quặng vàng chất lượng rất thấp, phải 50 tấn quặng mới thu được một ounce (28,35 gam) vàng. Quặng sau khi khai thác từ mỏ lộ thiên, được nghiền nhỏ và đổ thành một đống lớn (trông như một quả núi nho nhỏ) trong một hồ khuấy và được phun dung dịch xyanua, một loại chất độc từng được phát xít Đức sử dụng để tạo khí hydro xyanua dùng trong các phòng hơi ngạt giết người và Mỹ sử dụng trong các phòng tử hình bằng hơi ngạt, nhưng lại có công dụng kết dính vàng. Dung dịch có chứa xyanua thấm vào đống quặng nghiền mịn, hòa tan trong vàng và chảy xuống một chiếc bể cạnh đó, rồi được bơm tới một nhà máy chiết xuất vàng. Số dung dịch còn lại có chứa các kim loại độc hại được thải đi bằng cách phun vào những khu rừng hay đồi núi bên cạnh, hoặc thậm chí được bổ sung thêm xyanua để phun lại lên đống quặng khác.
Hiển nhiên, trong quy trình hòa tách đống này, một số thiết bị có thể hoạt động sai, nhưng ở mỏ Zortman-Landusky (Phụ bản 4) thì tất cả đều không đúng tiêu chuẩn. Lớp lót của hồ khuấy mỏng như một tấm niken và chắn chắn sẽ bị rò rỉ bởi sức nặng của hàng triệu tấn quặng bị các thiết bị nặng đảo xung quanh, bể lắng thì có thể bị tràn như đã từng xảy ra trong một mùa bão. Cuối cùng, bản thân xyanua là một loại chất độc: Một lần mỏ bị lụt khẩn cấp, khi những chủ mỏ được phép thải số dung dịch dôi thừa bằng cách phun ra xung quanh để giữ cho những hồ khuấy khỏi bị vỡ, do không giám sát chặt quy trình phun dung dịch nên đã tạo ra khí xyanua, suýt giết chết mấy công nhân của mỏ. Rốt cục mỏ vàng Pegasus cũng bị phá sản, bỏ lại những mỏ lộ thiên lớn, những núi quặng và những hồ lắng mà axit và xyanua sẽ rò rỉ mãi mãi. Trái phiếu ký quỹ làm sạch môi trường mà Pegasus đã mua không đủ để trang trải cho các chi phí làm sạch, khiến những người nộp thuế lại phải thanh toán phần còn lại ít nhất khoảng 40 triệu đô-la. Ba trường hợp nghiên cứu về vấn đề phế thải độc hại từ khai thác mỏ mà tôi vừa trình bày, và hàng ngàn trường hợp khác, lý giải vì sao gần đây những nhà đầu tư Đức, Nam Phi, Mông Cổ và các nước khác khi dự tính đầu tư khai thác mỏ ở đất nước họ lại tới thăm Montana để tự mình tìm hiểu về những thực tiễn rủi ro trong khai thác mỏ và những hậu quả của nó.
Loạt vấn đề môi trường thứ hai của Montana là hiện tượng chặt và đốt rừng. Nếu không ai phủ nhận khai thác kim loại là ngành kinh tế chủ chốt thì cũng chẳng ai phản đối rằng khai thác gỗ là việc làm cần thiết để lấy gỗ xây dựng và làm giấy. Câu hỏi mà những bạn bè của tôi ở Montana có quan điểm ủng hộ khai thác gỗ đặt ra là: nếu bạn phản đối khai thác gỗ ở Montana thì lấy gỗ thay thế ở đâu? Rick Laible bao biện với tôi trong một cuộc tranh luận gần đây về khai thác gỗ tại Montana rằng: “Thế vẫn còn hơn là chặt rừng nhiệt đới!” Quan điểm của Jack Ward cũng tương tự: “Nếu không thu hoạch những cây gỗ đã chết mà thay vào đó là nhập khẩu cây tươi từ Canada, thì chúng ta đã xuất khẩu cả những tác động môi trường từ khai thác gỗ và những lợi ích kinh tế sang Canada”. Dick Hirschy thì châm biếm: “Có một câu nói rằng ‘Khai thác gỗ là hãm hiếp đất đai’ - vậy chẳng lẽ chúng ta lại hãm hiếp Canada”.
Khai thác gỗ với mục đích thương mại bắt đầu tại thung lũng Bitterroot từ năm 1886, để cung cấp gỗ thông Ponderosa cho các công ty khai mỏ tại Butte. Hậu Thế chiến Thứ hai, nhu cầu nhà ở của Mỹ bùng nổ kéo theo nhu cầu tiêu thụ gỗ tăng cao, đưa doanh thu từ gỗ của cơ quan quản lý Rừng Quốc gia Mỹ đạt tới đỉnh điểm vào năm 1972, cao gấp sáu lần so với doanh thu năm 1945. Thuốc trừ sâu DDT được phun từ máy bay xuống các cánh rừng để diệt các loại sinh vật hại cây. Để trồng lại những loại cây được chọn lựa, thống nhất về độ tuổi và chủng loại để tăng tối đa khả năng thu hoạch và hiệu quả khai thác gỗ, ngành lâm nghiệp đã đốn sạch mọi loại cây thay vì chỉ chặt những cây đã đánh dấu, lựa chọn. Bên cạnh những lợi ích kinh tế thì việc đốn sạch cây đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực: Nhiệt độ nước ở các suối không còn được cây che phủ đã tăng lên mức bất lợi cho sự sinh sôi và phát triển của cá; không còn cây che phủ, mùa xuân tuyết tan rất nhanh, chứ không tan dần và chảy xuống hệ thống thoát nước trong suốt cả mùa hè như trước đây; và trong một số trường hợp, lượng bùn đất lắng đọng trong lòng suối tăng làm giảm chất lượng nước. Với những cư dân tiểu bang Montana luôn coi phong cảnh là nguồn tài nguyên quý giá nhất trên đất đai của họ, thì tác hại dễ thấy nhất khi cây bị đốn sạch chính là những quả đồi trơ trụi trông rất xấu, thực sự là xấu.
Sau đó diễn ra một cuộc tranh luận gay gắt được gọi là Tranh luận Đốn sạch. Những chủ đất, nông dân và công chúng Montana tức giận lên tiếng phản đối việc chặt đốn cây. Cục Kiểm lâm Mỹ sai lầm khi cứ khăng khăng rằng họ là những chuyên gia biết rõ phải khai thác gỗ như thế nào, và tốt hơn hết là công chúng không nên để ý tới chuyện đó làm gì mà nên giữ yên lặng. Năm 1970, báo cáo Bolle do các chuyên gia lâm nghiệp không thuộc Cục Kiểm lâm đưa ra đã chỉ trích các chính sách của cơ quan này và thổi bùng những cuộc tranh luận tương tự về khai thác gỗ ở các khu rừng quốc gia tây Virginia, dẫn tới những thay đổi trên toàn nước Mỹ, trong đó có những quy định hạn chế chặt đốn gỗ và tập trung quản lý rừng vì nhiều mục đích chứ không phải chỉ để khai thác gỗ (như mục tiêu đặt ra khi thành lập Cục Kiểm lâm năm 1905).
Hàng chục năm sau cuộc Tranh luận Đốn sạch, doanh thu bán gỗ hằng năm của Cục Kiểm lâm giảm tới hơn 80% - một phần bởi các quy định môi trường chặt chẽ trong Luật Các sinh vật đang gặp nguy hiểm, Luật Nước sạch và những quy định buộc các khu rừng quốc gia phải duy trì môi trường sống cho tất cả các loài sinh vật, và một phần bởi ngày càng khó tiếp cận những cây gỗ lớn để khai thác. Giờ đây, mỗi khi Cục Kiểm lâm đề nghị chặt gỗ để bán, thì các tổ chức môi trường lại khiếu nại và phản đối. Phải mất tới chục năm vụ việc mới được giải quyết khiến lợi nhuận khai thác gỗ ngày càng ít, kể cả khi những khiếu kiện bị bác toàn bộ. Hầu như tất cả bạn bè tôi ở Montana, kể cả những người theo chủ nghĩa môi trường, đều đồng ý rằng các tổ chức môi trường đã đi quá xa trong việc phản đối đốn chặt cây. Họ cảm thấy bực tức khi những đề nghị chặt cây, rõ ràng là rất đúng đắn (như để hạn chế nguy cơ cháy rừng sẽ được thảo luận dưới đây) lại bị trì hoãn kéo dài ở các tòa án. Nhưng các tổ chức môi trường tổ chức lại khẳng định, họ nghi ngờ tính trung thực của tất cả các kế hoạch chặt gỗ nghe có vẻ hợp lý mà chính quyền đề xuất. Hiện tất cả các nhà máy chế biến gỗ tại thung lũng Bitteroot đã phải đóng cửa, cũng một phần bởi những khu rừng tư nhân trong thung lũng đã được khai thác gỗ tới lần thứ hai. Các nhà máy này ngừng hoạt động kéo theo nhiều lao động có mức lương cao bị mất việc làm, đồng thời gây ảnh hưởng tới cuộc sống bình thường của người dân Montana.
Đâu đó ở Montana, bên ngoài thung lũng Bitterroot, vẫn còn một khu rừng thuộc sở hữu tư nhân, phần lớn đất rừng này có nguồn gốc là đất của chính phủ cấp cho tập đoàn đường sắt Bắc Thái Bình Dương từ những năm 1860 nhằm khuyến khích xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa. Năm 1989, khu đất này được tách ra khỏi tuyến đường sắt và chuyển cho công ty gỗ Plum Creek có trụ sở ở Seattle, được tổ chức như một quỹ ủy thác đầu tư bất động sản nhằm hưởng các ưu đãi về thuế (như vậy doanh thu của công ty sẽ được hưởng mức thuế thấp hơn như mức thuế lợi tức). Hiện đây là công ty sở hữu cánh rừng tư nhân lớn nhất Montana và lớn thứ hai trên nước Mỹ. Tôi đã đọc các ấn phẩm của Plum Creek và trò chuyện với Giám đốc Kinh doanh Bob Jirsa, người luôn bảo vệ các chính sách môi trường và các hoạt động lâm nghiệp bền vững của Plum Creek. Tôi cũng có nghe một số bạn bè ở Montana kêu ca về Plum Creek. Thường họ phàn nàn rằng: “Plum Creek chỉ quan tâm tới việc lấy gỗ mà thôi”; “họ không quan tâm tới một nền lâm nghiệp bền vững”; “họ có văn hóa doanh nghiệp riêng và mục tiêu là ‘làm sao càng có nhiều gỗ càng tốt!’”; “Plum Creek kiếm tiền từ mảnh đất bằng bất cứ cách nào có thể”; “họ chỉ kiểm soát cỏ dại nếu có ai đó phàn nàn mà thôi”.
Những quan điểm trái ngược này khiến bạn nhớ tới những quan điểm mà tôi đã nêu ra khi nói về các công ty mỏ? Đúng như vậy! Plum Creek được thành lập với mục đích kinh doanh kiếm lợi nhuận chứ không phải để làm từ thiện. Nếu các công dân Montana muốn Plum Creek thực hiện những việc ảnh hưởng tới lợi nhuận của công ty, thì họ có trách nhiệm buộc các chính trị gia phải thông qua và thi hành những bộ luật quy định những việc đó, hoặc mua lại khu đất và áp dụng phương pháp quản lý khác. Bao trùm lên trên cuộc tranh cãi này là một thực tế khắc nghiệt: Khí hậu khô lạnh của Montana và với vị trí cao so với mực nước biển là một điểm bất lợi cho đất đai của tiểu bang trong trồng rừng. Cây cối ở đông nam và đông bắc nước Mỹ mọc nhanh hơn cây cối ở Montana nhiều lần. Trong khi mảnh đất lớn nhất của Plum Creek là ở Montana, thì đất của công ty ở bốn tiểu bang khác là Arkansas, Georgia, Maine và Mississippi đều cho sản lượng gỗ cao hơn dù diện tích chỉ bằng 60-64% diện tích đất ở Montana. Khai thác gỗ ở Montana, Plum Creek không thể đạt được tỷ lệ hoàn vốn cao. Hằng năm, công ty đều phải nộp thuế và chi cho chống cháy rừng trong khi phải mất từ 60-80 năm mới được thu hoạch cây, mặc dù cây chỉ lớn bằng cây 30 tuổi trồng ở đông nam nước Mỹ. Khi phải đối mặt với những thực tiễn về mặt kinh tế, Plum Creek thấy rằng đất đai ở đây sẽ có giá hơn nếu kinh doanh bất động sản thay vì trồng cây lấy gỗ, đặc biệt là đất dọc theo bờ sông. Nhiều khách hàng tìm mua căn nhà có hồ nước trước mặt cũng rất ủng hộ ý kiến này. Những khách hàng này chính là sự đảm bảo lợi nhuận cho công ty, và cả chính quyền cũng ủng hộ kế hoạch. Vì những lý do này nên tương lai ngành khai thác gỗ ở Montana không bền vững như những nơi khác, cũng giống như ngành khai thác mỏ ở đây.
Liên quan tới những vấn đề của khai thác gỗ là những vấn đề khác như cháy rừng. Mức độ và phạm vi cháy tăng mạnh trong thời gian gần đây ở một số loại rừng của Montana và trên khắp miền tây nước Mỹ trong mùa hè các năm 1988, 1996, 2000, 2002 và 2003, những năm xảy ra các vụ cháy rừng đặc biệt nghiêm trọng. Riêng mùa hè năm 2000, 1/5 diện tích rừng còn lại của thung lũng Bitterroot bị thiêu trụi. Ngày nay, mỗi khi về Bitterroot, ý nghĩ đầu tiên của tôi khi nhìn qua cửa sổ máy bay là đếm số vụ cháy hay đoán số cột khói bốc lên ngày hôm đó3. Năm 2000, cháy rừng xảy ra nhiều tới mức, mỗi lần đưa các con tôi đi câu, John Cook phải kiểm tra xem có vụ cháy rừng nào xảy ra cạnh con suối đó hay không. Một số bạn bè của tôi ở Bitterroot liên tục phải di tản khỏi nhà do cháy rừng đang lan đến.
Số vụ cháy rừng tăng trong thời gian gần đây một phần do thay đổi khí hậu (với khuynh hướng mùa hè nóng và khô hơn), và một phần do hoạt động của con người, bởi những lý do phức tạp mà những cư dân sống cạnh rừng đã biết từ 30 năm nay nhưng hiện vẫn còn đang tranh cãi về tầm quan trọng của nó. Một trong những yếu tố đó là những ảnh hưởng trực tiếp của việc khai thác gỗ thường biến rừng thành cái gì đó trông như một đống mồi lửa. Trên mặt đất rừng vừa bị khai thác phủ đầy những cành cây, ngọn cây bị bỏ lại khi những súc gỗ có giá trị đã được chở đi. Mật độ trồng mới rừng dày đặc cũng khiến rừng dễ bị cháy. Những cây gỗ bị chặt và mang đi tất nhiên phải là những cây to nhất và khó bị cháy nhất, chỉ để lại những cây nhỏ hơn, dễ cháy hơn. Một yếu tố khác là Cục Kiểm lâm Mỹ, ngay từ đầu những năm 1990, đã ban hành một chính sách dập lửa (chống cháy rừng) vì không muốn những cây gỗ có giá trị bị cháy, cũng như không để cháy rừng đe dọa tới tính mạng và nhà cửa của người dân. Cục Kiểm lâm đề ra mục tiêu: “Dập tắt tất cả những vụ cháy rừng vào 10h sáng ngay sau ngày nhận được thông báo lần đầu tiên”. Thời gian sau Thế chiến Thứ hai, lính cứu hỏa dễ dàng thực hiện mục tiêu này nhờ những chiếc máy bay cứu hỏa, và hệ thống đường sá được mở rộng cho xe cứu hỏa hoạt động, cùng với công nghệ cứu hỏa tiên tiến hơn. Vài chục năm sau Thế chiến Thứ hai, số diện tích rừng bị cháy hằng năm đã giảm tới 80%.
Tới những năm 1980, tình trạng khả quan này bắt đầu thay đổi do những vụ cháy rừng lớn diễn ra thường xuyên hơn, và dường như không thể dập được trừ khi có trời mưa và gió nhẹ. Mọi người bắt đầu nhận ra chính sách dập lửa của chính quyền liên bang cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những vụ cháy lớn này, và những vụ cháy rừng tự nhiên do sét gây ra trước đây có một vai trò quan trọng trong duy trì cấu trúc rừng. Những đám cháy tự nhiên làm thay đổi độ cao của rừng, chủng loại cây và loại rừng. Hãy lấy rừng thông Ponderosa có độ cao thấp của Bitterroot làm ví dụ. Dựa trên sử sách cùng với số thớ gỗ hằng năm của cây, và những vết cháy có thể xác định thời điểm cháy trên các gốc cây cho thấy, cứ mỗi thập kỷ rừng thông Ponderosa lại bị cháy một lần do sét đánh trong những điều kiện tự nhiên (thời điểm trước khi bắt đầu kế hoạch chống cháy rừng năm 1910 và trở nên rất hiệu quả từ sau năm 1945). Trong những vụ cháy, số cây trưởng thành của rừng Ponderosa có lớp vỏ dày tới hơn 5 xăngtimét và gần như không bắt lửa, nên rừng chỉ bị cháy ở tầng dưới với những cây thông con Douglas dễ cháy vừa mọc từ vụ cháy trước. Mặc dù đã qua một thập kỷ, nhưng loại thông Douglas này vẫn thấp đủ để ngăn lửa không lan tới tầng cây cao. Bởi vậy, lửa bị giữ ở dưới đất và tầng cây thấp. Kết quả là nhiều khu rừng tự nhiên của Ponderosa trông như một công viên, với những cây dễ cháy ở phía dưới và những cây to cao vượt hẳn lên trên, tạo ra các tầng cây rất rõ ràng.
Dù vậy, tất nhiên những người đốn gỗ sẽ tập trung vào những cây thông Ponderosa to, nhiều tuổi và có giá trị, trong khi những vụ chống cháy rừng trong thời gian hàng thập kỷ qua đã khiến những cây thông Douglas ở tầng thấp lớn hơn với mật độ dày hơn. Mật độ cây tăng từ 30 lên 200 cây trên mỗi héc ta, và khả năng cháy rừng tăng lên cấp độ 6 cùng với việc Nghị viện liên tục trì hoãn phê chuẩn kinh phí để cắt tỉa cây non. Còn một yếu tố khác có liên quan tới con người, đó là việc thả rông cừu trong các khu rừng quốc gia cũng có vai trò quan trọng trong việc giảm bớt những đám cỏ ở tầng thấp có thể gây ra những vụ cháy ở quy mô nhỏ. Bởi vậy giờ đây, khi một vụ cháy bắt đầu từ khu rừng dày đặc những cây nhỏ, bất kể do sét hay do sự bất cẩn của con người hay (đáng tiếc là thường xuyên xảy ra) do cố tình, số cây nhỏ ở tầng thấp giờ đã cao và đông đúc sẽ trở thành chiếc thang dẫn lửa lên những tầng cao. Hậu quả cháy rừng đôi khi rất thảm khốc và không thể ngăn chặn được khi những ngọn lửa bốc tới độ cao 120 mét, lan từ tầng cao này sang tầng cao khác vượt qua những khoảng trống lớn, nhiệt độ đám cháy lên tới hơn 1.000oC, làm chết cả những hạt giống nằm sâu trong đất và có thể sẽ kéo theo lở đất và xói mòn trên quy mô lớn.
Những cư dân sống ở rừng giờ đây đã nhận ra vấn đề lớn nhất trong quản lý rừng là làm gì với những loại cây dễ cháy phát triển từ hàng nửa thế kỷ chữa cháy rừng thành công. Ở phía đông ẩm ướt của nước Mỹ, những cây chết sẽ mục ruỗng nhanh chóng hơn ở phía tây hanh khô, nơi những cây chết trở thành những que diêm khổng lồ. Lẽ ra, Cục Kiểm lâm nên quản lý và tái tạo rừng, tỉa mỏng và giảm mật độ cây bằng chặt tỉa hay tạo những đám cháy nhỏ có kiểm soát. Nhưng những hoạt động này sẽ tiêu tốn khoảng hơn 1.000 đô-la trên mỗi mẫu, với tổng diện tích rừng phía tây nước Mỹ lên tới một trăm triệu mẫu, tính ra tổng chi phí vào khoảng 100 tỷ đô-la. Không một chính trị gia hay một cử tri nào lại đồng ý bỏ ra một khoản tiền lớn tới vậy. Thậm chí, kể cả nếu chi phí thấp hơn, đa số công chúng cũng sẽ nghi ngờ một đề án lớn như vậy chỉ với lý do để lại tiếp tục khai thác gỗ trong khu rừng xinh đẹp của họ. Thay vì cấp một khoản kinh phí thường xuyên để duy trì những cánh rừng phía tây trong điều kiện ít bị bắt lửa, thì chính quyền liên bang lại để mặc chúng trong tình trạng dễ cháy để rồi mỗi khi xảy ra cháy rừng lại buộc phải chi số tiền không thể tính trước để dập lửa. Mùa hè năm 2000, chính quyền Mỹ phải chi khoảng 1,6 tỷ đô-la để dập tắt những vụ cháy rừng thiêu trụi hơn 16.000 kilômét.
Bản thân người Montana cũng có những quan điểm khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về quản lý và chống cháy rừng. Một mặt, theo bản năng, một bộ phận công chúng e ngại và không thích “để rừng cháy” thì yêu cầu rằng, Cục Kiểm lâm phải dập mọi đám cháy rừng, trừ trường hợp đó là những đám cháy lớn nguy hiểm tới tính mạng lính cứu hỏa hay không thể dập tắt được. Năm 1988, những vụ cháy xảy ra ở công viên quốc gia Yellowstone đã được phép để mặc cho cháy, công luận khi đó lên tiếng phản đối mạnh mẽ mà không hiểu một thực tế rằng không thể làm gì để dập tắt được những đám cháy đó ngoại trừ trời mưa hay tuyết rơi. Mặt khác, công chúng cũng không thích những đề xuất áp dụng các chương trình chặt tỉa rừng để làm giảm khả năng cháy rừng, bởi họ thích nhìn những cánh rừng rậm rạp. Họ phản đối những biện pháp can thiệp “trái tự nhiên” vào thiên nhiên, họ muốn để rừng trong một điều kiện “tự nhiên”, và chắc chắn họ cũng không muốn trả tiền cho việc chặt tỉa rừng bằng biện pháp tăng thuế. Họ (cũng như những người dân sống gần rừng hiện nay) không hiểu rằng bởi hàng loạt vụ dập lửa cháy rừng, không khai thác gỗ và không thả cừu rông trong suốt một thế kỷ qua nên những cánh rừng phía tây hiện đang trong tình trạng “rất không tự nhiên”.
Ở Bitterroot, người dân dựng những ngôi nhà nghỉ gần rừng hay giữa những cánh rừng dễ cháy trên mảnh đất vừa là đất xây dựng, vừa là đất hoang dã và mong chờ chính quyền bảo vệ chúng khỏi bị cháy. Tháng 7/2001, khi đi bộ tới phía tây thị trấn Hamilton, lúc qua nơi trước đây là khu rừng Blodgett, vợ chồng tôi bất ngờ gặp một khoảnh đất toàn những thân cây cháy đen như than, chết trong một vụ cháy rừng lớn xảy ra trong chuyến nghỉ hè năm 2000 của chúng tôi mà khói tràn đầy thung lũng. Hồi đó, cư dân vùng Blodgett ngăn cản Cục Kiểm lâm chặt tỉa rừng, tới khi rừng cháy lại yêu cầu Cục này phải thuê 12 trực thăng cứu hỏa loại lớn với giá 2.000 đô-la mỗi giờ để phun nước dập lửa cứu những căn nhà của họ. Trong khi đó, tuân lệnh chính phủ, Cục Kiểm lâm đã ưu tiên cứu người, bảo vệ tài sản của dân, rồi sau đó mới tới cứu rừng nên đành để mặc ngọn lửa thiêu dần những khu rừng với những cây gỗ giá trị hơn nhiều những ngôi nhà của người dân. Sau vụ này, Cục Kiểm lâm tuyên bố từ nay sẽ không hoang phí số tiền lớn như vậy và mạo hiểm mạng sống của những người lính cứu hỏa chỉ để bảo vệ các tài sản cá nhân. Nhiều người kiện Cục Kiểm lâm nếu ngôi nhà của họ bị cháy trong một vụ cháy rừng, hay bị cháy trong vụ đốt lửa chặn mà ngành lâm nghiệp tạo ra để khống chế một vụ cháy lớn hơn, hay nếu nhà không cháy nhưng khu rừng đẹp trước nhà bị cháy khiến họ không còn được ngắm cảnh đẹp. Quá đáng hơn, một số người Montana còn không muốn đóng thuế để thanh toán các chi phí chữa cháy rừng, và không muốn cho nhân viên chính phủ tiến hành các biện pháp chống cháy rừng trên mảnh đất của mình.
Những vấn đề môi trường tiếp theo của Montana liên quan tới đất đai. Một vấn đề “nhỏ” và đặc biệt liên quan tới đất đó là sự bùng nổ của các vườn táo thương mại của thung lũng Bitterroot, mà ban đầu mang lại lợi nhuận rất lớn, giờ đã sụp đổ một phần bởi những vườn táo đang hút hết nitơ của đất. Một vấn đề lớn hơn nữa là xói mòn do bất kỳ thay đổi nào dẫn tới chặt phá cây cối đang che phủ bảo vệ đất như: chăn thả gia súc quá nhiều, sự tàn phá của những loài cỏ độc, khai thác gỗ, hay những vụ cháy rừng quá lớn tạo sức nóng khiến mặt đất cằn cỗi. Những gia đình làm nông trại lâu đời biết rõ không nên chăn thả gia súc quá nhiều như Dick và Jack Hirschy giải thích với tôi rằng: “Chúng tôi phải chăm sóc tốt mảnh đất của mình, nếu không chúng tôi sẽ bị phá sản”. Tuy nhiên, một hàng xóm của Hirschy từ nơi khác chuyển đến, đã chi rất nhiều tiền để mua trang trại, nhiều hơn cả khả năng thu nhập mà công việc nông trại có thể mang lại. Ông ta chăn thả rất nhiều gia súc trên đồng cỏ của mình để mong nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư. Những hàng xóm khác cũng sai lầm khi cho thuê quyền thả gia súc trên đất nhà mình, những người đi thuê thả rất nhiều gia súc để mong thu lợi nhuận cao trong thời gian thuê là ba năm mà không quan tâm rằng việc đó có thể gây thiệt hại lâu dài. Do những hành vi trên khiến đất bị xói mòn, nên hiện chỉ còn 1/3 số nguồn nước của Bitterroot được coi là trong tình trạng tốt và không bị xói mòn, 1/3 có nguy cơ bị xói mòn, và 1/3 đã bị xói mòn và cần được phục hồi.
Vấn đề còn lại với đất của Montana, ngoài cạn kiệt nitơ và xói mòn, là tình trạng mặn hóa, một quá trình tích tụ muối trong đất và nước ngầm. Trong khi ở một số vùng, sự tích tụ này luôn diễn ra trong trạng thái tự nhiên, thì gần đây nhiều người lo lắng tình trạng mặn hóa ở Montana là do hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người gây ra (đặc biệt là hoạt động chặt phá các loại thực vật tự nhiên và tưới tiêu mà tôi sẽ giải thích ở những phần sau và trong Chương 13) đang tàn phá những vùng đất nông nghiệp rộng lớn. Ở một số vùng của Montana, độ mặn của nước ngầm thậm chí đã cao gấp đôi nước biển.
Ngoài việc muối gây ra một số tác hại nhất định cho trồng trọt, nồng độ muối cao còn có thể gây ảnh hưởng cho hoa màu trên diện rộng không kém tác động của một đợt hạn hán, nó làm tăng áp lực thấm nước của đất khiến rễ cây rất khó hút nước bằng thẩm thấu. Nguồn nước ngầm bị mặn còn có thể tràn vào các giếng nước và những con suối, bay hơi để lại lớp muối đóng thành bánh. Hãy tưởng tượng, nếu bạn uống một cốc nước còn mặn hơn cả nước biển, thì chắc bạn sẽ thấy rằng nó không chỉ có mùi rất kinh khủng và gây khó khăn cho việc trồng trọt của người nông dân mà sự phân hủy của nó thành các chất Borat, Selen và các loại chất độc khác còn có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của bạn (và tất nhiên cho cả gia súc và những loài sinh vật hoang dã). Mặn hóa không chỉ là vấn đề của riêng nước Mỹ mà còn với cả các quốc gia khác như Ấn Độ, Thổ Nhĩ kỳ và nhất là Australia (xem Chương 13). Trong quá khứ, tình trạng này từng góp phần khiến các nền văn minh lâu đời nhất thế giới bị diệt vong, trong đó có Mesopotamia. Mặn hóa được sử dụng để giải thích vì sao ngày nay sử dụng cụm từ “Tăng độ màu mỡ” với Iraq và Syria, từng là những trung tâm nông nghiệp của thế giới, sẽ là một chuyện cười chua xót.
Nguyên nhân chính gây mặn hóa ở Montana cũng là nguyên nhân gây mặn hoá đã phá hủy toàn bộ mấy triệu mẫu đất trồng trọt ở phía Bắc Đồng bằng Lớn (Great Plains), trong đó có mấy trăm ngàn mẫu ở phía bắc, phía đông và miền trung Montana. Hình thức này gọi là “thẩm thấu muối”, bởi muối tích tụ trong lòng một khu đất trên cao rồi thấm xuống các khu đất dưới thấp ở cách đó tới gần 1 kilômét (thậm chí còn xa hơn). Thẩm thấu muối thường khiến mối quan hệ láng giềng xấu đi do hoạt động sản xuất nông nghiệp của nông trại bên trên làm muối thấm xuống nông trại bên dưới.
Thẩm thấu muối hình thành như sau. Trong đất đá miền đông Montana có rất nhiều loại muối hòa tan trong nước (nhất là natri, canxi và sunphat magie) và còn có các mỏ muối biển (bởi phần lớn vùng này trước đây là biển). Dưới lớp đất mặt là lớp đá (đá phiến sét, sa thạch và than) có độ thấm nước thấp. Môi trường khô hanh của miền đông Montana khiến mặt đất phủ đầy những loài thực vật bản địa nên hầu hết tất cả lượng mưa rơi xuống lập tức bị rễ những loại cây này hút ngay hoặc bốc hơi trở lại không khí, dẫn tới lớp đất dưới rễ cây trở thành lớp đất khô. Tuy nhiên, khi dọn sạch đám thực vật bản địa, nông dân sẽ trồng trọt theo hình thức cách năm, có nghĩa trồng một năm (như lúa mỳ chẳng hạn), thì lại để đất nghỉ một năm, như vậy sẽ không có loại cây nào hút nước của đất. Nước mưa được tích trữ trong đất, thấm sâu xuống dưới lớp đất mà rễ cây vươn tới, phân hủy muối làm muối dâng lên tới tầng rễ cây khi mực nước dâng lên. Do không thể thẩm thấu qua lớp đá bên dưới, nên nước mặn không thấm sâu xuống lòng đất mà chảy xuống vùng đất thấp gây ra hiện tượng thẩm thấu muối. Hậu quả là mùa màng ngày càng xấu đi, thậm chí mất mùa hoàn toàn, cả với vùng đất bên trên nơi phát sinh vấn đề và vùng đất bên dưới, nơi xuất hiện thẩm thấu muối.
Sau năm 1940, thẩm thấu muối ngày càng lan rộng ra phần lớn đất đai của Montana do những thay đổi trong cách làm nông nghiệp, nhất là việc tăng cường sử dụng máy kéo và các thiết bị làm đất hiệu quả hơn, sử dụng các loại thuốc diệt cỏ để diệt lớp cỏ che phủ mặt đất trong thời gian cho đất nghỉ, và mỗi năm càng có nhiều đất bỏ hoang. Vấn đề này cần được xử lý bằng hàng loạt hình thức quản lý nông trại mạnh mẽ, như trồng các loại cây có khả năng chịu mặn ở vùng đất bên dưới bị thẩm thấu muối để phục hồi đất, giảm thời gian nghỉ của các vùng đất ở phía bên trên bằng một lịch trình gieo trồng linh hoạt, trồng cỏ linh lăng cùng các loài cây lâu năm có rễ sâu với khả năng hút nước cao để hút lượng nước dư thừa trong đất.
Ở Montana, thẩm thấu muối là hình thức chính gây tổn hại đất khiến cho đất bị mặn hóa, nhưng không phải là hình thức duy nhất. Vài triệu mẫu đất nông nghiệp phụ thuộc vào hệ thống nước tưới tiêu hơn là lượng mưa được phân bổ không đều trên toàn bang, kể cả những vùng mà tôi thường tới nghỉ hè ở thung lũng Bitterroot và lưu vực Big Hole. Mặn hóa cũng bắt đầu xuất hiện ở một số khu vực này do nước thủy lợi bị nhiễm muối. Một nguyên nhân khác gây mặn hóa là công nghiệp chiết xuất khí metan để sản xuất khí tự nhiên từ các vỉa than bằng cách khoan vào các vỉa than và bơm nước ra để khí metan thoát lên mặt đất. Đáng tiếc là lượng nước thải này cũng chứa muối đã bị phân hóa. Kể từ năm 1988, tiểu bang Wyoming bên cạnh, cũng nghèo chẳng kém Montana, đã theo đuổi chính sách phát triển kinh tế bằng cách khởi động một chương trình lớn khai thác khí metan bằng phương pháp này và bơm nước thải chứa muối vào lưu vực sông Powder, đông nam Montana.
Để bắt đầu tìm hiểu những khó khăn về nước rõ ràng làm Montana cũng như những vùng hanh khô khác của miền tây nước Mỹ điêu đứng, chúng ta hãy cùng nhau xem xét hai hệ thống cấp nước riêng biệt lớn của thung lũng Bitterroot, đó là: hệ thống kênh tưới tiêu lấy nước từ các suối, hồ hay ngay từ sông Bitterroot để cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp; và hệ thống giếng nước khoan vào các tầng nước ngầm để cung cấp nước sinh hoạt. Những thị trấn lớn hơn trong thung lũng được cung cấp nước sinh hoạt đô thị, nhưng những gia đình ở ngoài thị trấn đều phải tự khoan giếng để lấy nước dùng. Cả hai hệ thống cung cấp nước này đều đang phải đối mặt với một khó khăn lớn, đó là số người dùng nước ngày càng tăng trong khi lượng nước lại giảm. Ông ủy viên hội đồng nước vùng Bitterroot, Vern Woolsey, giải thích ngắn gọn với tôi: “Bất cứ khi nào bạn tìm ra một nguồn nước nhưng lại có hơn hai người sử dụng thì sẽ phát sinh tranh chấp. Nhưng tại sao lại phải đánh nhau vì nước? Đánh nhau cũng chẳng làm cho nước nhiều hơn!”
Lý do duy nhất làm giảm lượng nước chính là hiện tượng thay đổi khí hậu, Montana đang ngày càng trở lên nóng hơn và khô hơn. Trong khi hiện tượng khí hậu toàn cầu nóng dần lên tạo điều kiện thuận lợi cũng như gây khó khăn cho các vùng khác nhau trên toàn thế giới, thì Montana thuộc số gặp nhiều khó khăn nhất bởi lượng mưa vốn dĩ gần như không đáp ứng đủ cho sản xuất nông nghiệp. Hiện hạn hán đang khiến diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang ngày càng nhiều ở phía đông Montana, cũng như ở vùng Alberta và Saskatchewan lân cận. Ở những vùng mà tôi thường tới nghỉ hè ở phía tây Montana, những ảnh hưởng rõ ràng của hiện tượng khí hậu nóng lên toàn cầu là tuyết trên các ngọn núi hiện chỉ có ở những đỉnh cao và không còn được duy trì trong suốt mùa hè trên các ngọn núi vùng lưu vực Big Hole như lần đầu tôi tới đây năm 1953.
Ảnh hưởng rõ ràng nhất của hiện tượng khí hậu nóng lên toàn cầu ở Montana, và có lẽ ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, là ở Công viên Băng Quốc gia. Trong khi những tảng băng trên khắp thế giới đang tan dần – như ở núi Kilimanjaro, ở đỉnh Andes và Alps, trên các ngọn núi ở New Guinea và xung quanh Everest – thì hiện tượng này ở Montana được nghiên cứu rất kỹ bởi các nhà khí hậu học và các du khách rất dễ tiếp cận những tảng băng ở đây. Cuối những năm 1800, lần đầu tiên các nhà tự nhiên học phát hiện ra khu vực Công viên Băng Quốc gia thì vùng này có hơn 150 tảng băng, nhưng giờ chỉ còn khoảng 35 tảng, trong đó đa phần chỉ còn một phần nhỏ so với kích thước ban đầu của nó. Với tốc độ tan chảy như hiện nay, vào năm 2030 Công viên Băng Quốc gia sẽ không còn một tảng băng nào. Lượng tuyết trên các đỉnh núi giảm cũng gây ảnh hưởng xấu tới hệ thống tưới tiêu, bởi vào mùa hè, lượng tuyết trên các đỉnh núi sẽ tan ra cung cấp nước cho hệ thống tưới tiêu. Nó cũng gây ảnh hưởng xấu cho hệ thống giếng khoan lấy nước từ tầng nước ngầm của sông Bitterroot, hiện lượng nước sông này cũng đang bị giảm bởi những đợt hạn hán gần đây.
Cũng như những vùng khô hanh khác ở miền Tây nước Mỹ, sản xuất nông nghiệp của thung lũng Bitterroot không thể tồn tại nếu không có hệ thống tưới tiêu, bởi lượng mưa hằng năm ở đáy thung lũng chỉ khoảng 33 xăngtimét mỗi năm. Không có tưới tiêu, thực vật trong thung lũng sẽ chỉ có duy nhất một loại cây ngải đắng có thể tồn tại, loại cây mà Lewis và Clark đã ghi chép trong chuyến đi đầu tiên tới đây năm 1805 - 1806, và hiện mọi người vẫn dễ dàng nhận ra chúng ngay khi vượt qua con kênh tưới tiêu cuối cùng ở sườn phía Đông thung lũng. Hệ thống tưới tiêu lấy nước tuyết tan từ những đỉnh núi cao ở sườn tây của thung lũng bắt đầu được xây dựng từ cuối những năm 1800 và đạt tới đỉnh điểm vào năm 1908 - 1910. Trong mỗi hệ thống tưới tiêu hay mỗi địa phận, mỗi nông trang hay nhóm nông trang đều có quyền lấy một lượng nước nhất định từ hệ thống để tưới cho đất của mình.
Đáng tiếc là, nước luôn bị “phân bổ quá mức”. Có nghĩa là – rất khó tin với tôi, một người ngờ nghệch từ nơi khác đến – năm nào tổng lượng nước phân bổ cho các nông trại cũng vượt quá lưu lượng nước có thể có, ít nhất là vào cuối mùa hè khi lượng nước do tuyết tan giảm. Một phần lý do bởi việc phân bổ nước này được tính toán dựa trên giả thiết một lượng nước được cung cấp cố định, nhưng trên thực tế lượng nước được cung cấp mỗi năm không như nhau, phụ thuộc vào thời tiết, và lượng nước giả thiết lại dựa trên giá trị của năm có thời tiết ẩm ướt. Giải pháp cho vấn đề cấp nước là phân bổ quyền ưu tiên cho các trang trại, dựa trên thời gian lập nông trại, nông trại nào thành lập sớm nhất thì sẽ có quyền ưu tiên cấp nước cao nhất. Cắt nước sẽ được áp dụng đầu tiên với nông trại có quyền ưu tiên thấp nhất, sau đó lần lượt tới những nông trại có quyền ưu tiên cao hơn khi lượng nước trong các kênh cạn dần. Nhưng chính giải pháp này cũng gây ra những xung đột bởi những nông trại lâu đời nhất, có quyền ưu tiên cấp nước cao nhất lại thường nằm ở vùng đất thấp, và rất khó cho những nông dân ở vùng đất cao hơn, có quyền ưu tiên thấp hơn, đứng nhìn nước chảy qua nông trại của mình xuống nông trại bên dưới, trong khi họ cũng rất cần nước nhưng vẫn phải kiềm chế lấy nước, bởi nếu làm vậy họ sẽ bị những láng giềng phía dưới kiện.
Việc phân nhỏ đất đai càng làm cho việc phân phối nước khó khăn hơn. Ban đầu, mỗi nông trại sở hữu một diện tích đất lớn và họ có thể lấy nước từ kênh để lần lượt tưới cho những cánh đồng của mình, và cũng chẳng ai ngốc tới mức cố tưới cùng lúc cho tất cả những cánh đồng bởi làm như vậy sẽ hết nước. Nhưng khi mỗi mảnh đất với diện tích ban đầu 160 mẫu bị chia nhỏ thành 40 căn nhà 4 mẫu, thì không còn đủ nước khi tất cả các chủ nhà 4 mẫu này cố gắng lấy nước để giữ màu xanh cho khu vườn của mình mà không nhận ra rằng 39 hàng xóm khác cũng đồng thời đang tưới nước. Nhưng vẫn còn một vấn đề khác là quyền tưới tiêu chỉ áp dụng cho mục đích sử dụng gọi là “có ích”, mang lại lợi ích cho mảnh đất được quyền cấp nước. Để lại nước trong sông cho cá bơi và cho du khách đi bè trên sông không được coi là quyền “có ích”. Thực tế vài mùa hè gần đây, một số đoạn sông Big Hole đã bị khô cạn. Cho tới năm 2003, những nguy cơ xung đột ở thung lũng Bitterroot vẫn được ông Vern Woolsey, ủy viên hội đồng nước, 82 tuổi, được tất cả mọi người kính trọng, dàn xếp một thân thiện trong hàng thập kỷ. Nhưng mọi người lo ngại chúng sẽ bùng phát nay mai bởi hiện ông Vern đã xin từ chức.
Các hệ thống tưới tiêu của Bitteroot bao gồm 28 chiếc đập nhỏ của tư nhân bắc qua những dòng suối, để trữ nước do tuyết tan trong mùa xuân và tưới cho các cánh đồng trong mùa hè. Những chiếc đập này nguy hiểm như những trái bom hẹn giờ. Tất cả đều được xây cách đây từ một thế kỷ với thiết kế yếu, giờ bị coi là thô sơ và nguy hiểm. Chúng ít được bảo dưỡng, thậm chí hoàn toàn không được bảo dưỡng. Nhiều chiếc có nguy cơ sụp đổ, gây ngập lụt cho những căn nhà và tài sản bên dưới. Cách đây vài chục năm, hai con đập kiểu này đã bị sụp đổ gây ra những trận lụt tàn phá nặng nề, khiến ngành lâm nghiệp phải tuyên bố các chủ đập, kể cả những nhà thầu xây dựng đập, phải chịu trách nhiệm trước những thiệt hại do đập vỡ gây ra. Các chủ đập phải chịu trách nhiệm hoặc sửa chữa đập hoặc phá bỏ đập. Trong khi nguyên tắc này dường như có lý, thì có ba khó khăn tài chính khiến nguyên tắc khó có thể thực hiện được. Thứ nhất, đa số các chủ đập phải chịu trách nhiệm thường chỉ thu được một khoản lợi ích tài chính nhỏ từ những con đập, nên họ không quan tâm tới việc sửa chữa nó (do đất đai bị chia thành những lô nhỏ, và họ hiện chỉ sử dụng đập để tưới nước cho những thảm cỏ thay vì để trồng trọt như những nông dân thực thụ). Thứ hai, chính quyền liên bang và chính quyền tiểu bang chỉ chấp thuận trợ cấp một phần kinh phí để sửa chữa đập, chứ không phải để dỡ bỏ nó. Thứ ba, một nửa số đập hiện nằm trên những mảnh đất được xây dựng như những khu hoang dã nên không có đường vào và để sửa chữa đập chỉ có cách thuê trực thăng vận tải với giá đắt để vận chuyển máy móc.
Đập Tin Cup là một điển hình về loại bom hẹn giờ kiểu này. Nếu bị vỡ, đập này sẽ gây ngập lụt toàn bộ Darby, thị trấn lớn nhất miền Nam thung lũng Bitterroot. Hiện tượng rò rỉ nước và tình trạng kém chất lượng của đập gây ra những cuộc tranh cãi và những vụ kiện kéo dài giữa những người chủ đập, Cục Kiểm lâm và những tổ chức môi trường về việc liệu có nên sửa chữa đập và sửa chữa như thế nào, đỉnh điểm là trường hợp khẩn cấp khi đập bị rò rỉ nghiêm trọng năm 1998. Đáng tiếc là, nhà thầu được chủ đập thuê rút nước ra khỏi hồ chứa của đập đã gặp ngay phải tảng đá lớn, đòi hỏi phải sử dụng các thiết bị đào đá hạng nặng chỉ có thể vận chuyển bằng trực thăng. Tới lúc này, chủ đập tuyên bố hết tiền, và cả chính quyền tiểu bang Montana lẫn hạt Ravalli đều từ chối cấp kinh phí cho con đập, nhưng nó vẫn là một nguy cơ lớn gây nguy hiểm cho tính mạng người dân thị trấn Darby. Bởi vậy, Cục Kiểm lâm phải tự mình thuê trực thăng và thiết bị để sửa chữa đập và gửi hóa đơn thanh toán tới các chủ đập, tất nhiên chẳng bao giờ họ chịu thanh toán. Hiện Bộ Tư pháp Mỹ đang chuẩn bị kiện các chủ đập để đòi lại số tiền đã chi.
Bên cạnh hệ thống tưới tiêu hứng nước tuyết tan, Bitterroot còn có hệ thống giếng khoan cấp nước cho sinh hoạt từ các tầng nước ngầm. Ngay cả các tầng nước ngầm này cũng đang phải đối mặt với tình trạng cạn nước. Mặc dù dường như những đống tuyết trên đỉnh núi và các tầng nước ngầm chẳng có liên quan gì tới nhau, nhưng thực tế chúng gắn liền với nhau. Một phần lượng nước được sử dụng để tưới tiêu có thể thấm qua đất hòa vào các tầng nước ngầm, và một phần nước của các tầng nước ngầm có thể có nguồn gốc từ tuyết tan. Bởi vậy, tình trạng băng tuyết của Montana đang suy giảm nên dự báo lượng nước ngầm cũng sẽ suy giảm.
Không nghi ngờ gì, hiện nhu cầu sử dụng nước ngầm đang tăng lên. Dân số của Bitterroot bùng nổ liên tục có nghĩa cần nhiều nước hơn để người dân uống và dội nhà vệ sinh. Roxa French, người điều phối Diễn đàn Nước Bitterroot, khuyên những người xây nhà mới nên khoan cho mình một chiếc giếng sâu, bởi có rất nhiều “ống hút trong một bình sữa”, có nghĩa có nhiều giếng khoan vào cùng một tầng nước ngầm và làm giảm mực nước. Hệ thống pháp luật của Montana và những quy định của hạt về quản lý nước sinh hoạt hiện còn rất yếu kém. Giếng khoan của một căn nhà mới xây có thể làm giảm mực nước giếng của nhà hàng xóm, nhưng lại rất khó tính toán thiệt hại thực tế cho người hàng xóm. Để tính toán một tầng nước ngầm có thể cung cấp bao nhiêu nước sinh hoạt, cần phải lập bản đồ tầng nước ngầm và đo lưu lượng dòng nước chảy vào, nhưng - đáng ngạc nhiên - cả hai bước đơn giản này đều chẳng được áp dụng với bất kỳ tầng nước ngầm nào của thung lũng Bitterroot. Bản thân hạt cũng không đủ các nguồn lực để giám sát các tầng nước ngầm và không tiến hành đánh giá độc lập về trữ lượng nước khi xét cấp phép xây dựng một căn nhà mới. Thay vào đó, chính quyền hạt chỉ dựa trên cam kết của người xây dựng rằng sẽ có đủ nước giếng cho căn nhà.
Những gì tôi nói về nước tới nay mới chỉ liên quan tới lượng nước, tuy nhiên, chất lượng nước cũng có nhiều vấn đề. Phong cảnh miền tây Montana được coi như nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhất bởi những dòng sông và hệ thống kênh tưới tiêu hầu như chỉ chứa toàn nước tinh khiết do tuyết tan. Mặc dù là một lợi thế, nhưng hiện sông Bitterroot đã bị liệt vào danh sách “những dòng sông đang cạn kiệt” của Montana vì một vài lý do. Lý do chính là lòng sông bị bồi lắng do xói mòn, làm đường, cháy rừng, khai thác gỗ và lượng nước của hệ thống kênh, suối bị giảm do sử dụng cho tưới tiêu. Hầu hết các đường phân nước của Bitterroot hiện đã bị xói mòn hoặc có nguy cơ xói mòn. Vấn đề thứ hai là sử dụng phân bón tràn lan. Trung bình mỗi nông dân trồng cỏ sử dụng ít nhất 900 kg phân bón trên mỗi mẫu đất, nhưng không biết trong đó có bao nhiêu phân bón bị chảy xuống sông. Chất thải từ các hố rác tự hoại cũng là một mối nguy đối với chất lượng nước. Cuối cùng, như tôi đã trình bày, các hóa chất độc hại thoát ra từ các mỏ mới là nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng tới chất lượng nước, mặc dù không phải là ở Bitterroot, nhưng ở các vùng khác của Montana.
Chất lượng không khí cũng đáng được xem xét qua. Có vẻ như tôi là kẻ không biết xấu hổ khi nói về mặt tiêu cực này của Montana, bởi tôi là cư dân của thành phố Los Angeles, nơi có chất lượng không khí kém nhất nước Mỹ. Thực tế, một số vùng của Montana đang phải hít thở bầu không khí kém chất lượng xảy ra theo từng mùa, xấu nhất là ở Missoula, nơi chất lượng không khí (mặc dù đã có những tiến triển từ những năm 1980) thi thoảng vẫn xấu như không khí ở Los Angeles. Vấn đề không khí của Missoula càng trầm trọng hơn bởi những trái ngược nhiệt độ của mùa đông và bởi vị trí của nó trong thung lũng khiến không khí bị đọng lại. Bầu không khí này có chứa lượng khí thải từ xe hơi trong cả một năm, từ việc đốt củi để sưởi ấm trong mùa đông, cháy rừng và khai thác gỗ trong mùa hè.
Loạt vấn đề môi trường lớn còn lại của Montana có liên quan tới tình trạng du nhập của các loài sinh vật độc hại ngoại lai và sự tuyệt chủng của các sinh vật bản địa có giá trị, đặc biệt là các loài cá, hươu, nai và các loại cỏ.
Thời kỳ đầu, Montana trông cậy vào việc đánh bắt các loài cá bản địa có giá trị, như cá hồi Cut-throat (giống cá đặc trưng của Montana), cá hồi Bò, cá Bắc cực và cá Trắng. Tất cả các loài cá này, ngoại trừ cá Trắng, hiện đã suy giảm do một loạt nguyên nhân với những tác động khác nhau tới các loài cá. Đó là, mực nước ở các dòng suối nơi chúng sinh sôi và phát triển xuống thấp do nước bị lấy phục vụ cho tưới tiêu; nhiệt độ nước cao hơn và lòng suối nhiều chất cặn lắng do khai thác gỗ gây ra; đánh bắt cá quá mức; cạnh tranh, và trong một số trường hợp có sự lai giống, từ các giống cá hồi ngoại lai như cá hồi Cầu vồng, cá hồi Suối và cá hồi Nâu; bị tàn sát bởi giống cá chó miền Bắc và cá hồi hồ du nhập; bị nhiễm một loại thực vật ký sinh du nhập gây ra bệnh quay cuồng. Ví dụ, giống cá chó miền Bắc, một loại cá ăn được nhiều người ưa thích, được một số ngư dân lén lút mang về thả ở một số sông hồ phía tây Montana, và chúng đã tiêu diệt tất cả những con cá hồi bò và cá hồi Cut-throat sống trong các sông hồ này. Cũng như vậy, trước đây ngành đánh bắt cá ở hồ Flathead rất phát triển dựa vào một số loại cá bản địa nhưng hiện ngành này đã bị phá sản kể từ khi du nhập giống cá hồi hồ.
Năm 1958, bệnh quay cuồng vô tình du nhập vào Mỹ qua giống cá của châu Âu khi một cơ sở nuôi cá giống ở Pennsylvania nhập khẩu một số giống cá Đan Mạch đã bị nhiễm bệnh này. Hiện căn bệnh đã lan ra khắp miền tây nước Mỹ, một phần do các loài chim làm lây lan, nhưng chủ yếu là do con người (kể cả một số cơ quan của chính phủ và các cơ sở tư nhân nuôi cá giống) để quá nhiều cá nhiễm bệnh sống trong các sông hồ. Khi thực vật ký sinh đã nhiễm vào nước, hầu như không thể loại trừ được nó. Năm 1994, căn bệnh quay cuồng đã làm chết tới hơn 90% số cá hồi Cầu vồng trên sông Madison, nổi tiếng nhất Montana.
Ít nhất căn bệnh này không lây sang người; tác động của nó tới ngành du lịch câu cá hầu như không đáng kể. Một căn bệnh du nhập khác là bệnh gầy mòn kinh niên (CWD) của hươu và nai, nguy hiểm hơn bệnh quay cuồng ở cá bởi chúng có thể gây ra căn bệnh chết người bám dai dẳng ở người. Bệnh CWD của hươu nai giống như các bệnh nhiễm prion ở các loài động vật khác, trong đó nổi tiếng nhất là bệnh Creutzfeldt-Jakob ở người, bệnh bò điên hay còn gọi là bệnh viêm não thể bọt biển (BSE) ở gia súc (có thể lây sang người), và bệnh thần kinh ở cừu. Những bệnh lây nhiễm này khiến hệ thần kinh bị thoái hóa mà không thể chữa trị được; trong lịch sử chưa từng ghi nhận được trường hợp bệnh nhân Creutzfeldt-Jakob nào có thể hồi phục. Bệnh CWD lần đầu tiên được phát hiện trên hươu nai ở miền bắc nước Mỹ vào những năm 1970, có thể (theo một số người cho biết) do một trường đại học phía tây nhốt những con hươu phục vụ mục đích nghiên cứu trong một đồn điền gần những con cừu đang nhiễm bệnh scrapie và thả số hươu, này trở lại rừng sau khi nghiên cứu hoàn tất. (Ngày nay, hành động đó sẽ bị coi là phạm tội). Căn bệnh lây lan từ bang này sang bang khác mạnh hơn do việc trao đổi hươu nai nhiễm bệnh từ nông trại sinh thái này sang nông trại khác. Chúng ta vẫn chưa biết liệu bệnh CWD có lây từ hươu nai sang người như bệnh bò điên hay không, nhưng cái chết gần đây của một số thợ săn do mắc bệnh Creutzfeldt-Jakob đã đặt một số khu dân cư vào tình trạng báo động. Lo ngại tình trạng lây lan có thể phá hủy ngành công nghiệp săn hươu mang lại một tỷ đô-la mỗi năm, chính quyền tiểu bang Wisconsin đã bắt đầu tiêu diệt khoảng 25.000 con hươu trong một khu vực bị lây nhiễm hòng kiểm soát dịch bệnh CWD, (một giải pháp tuyệt vọng khiến những người liên quan chán nản).
Trong khi bệnh CWD do một loài sinh vật du nhập gây ra tạo nên một nguy cơ đáng sợ, thì sự du nhập của những loài cỏ dại cũng là một trong những vấn đề gây tốn kém nhất cho Montana. Khoảng 30 loài cỏ dại độc hại, chủ yếu có nguồn gốc Âu-Á (Eurasian), đã sinh sôi nảy nở ở Montana sau khi du nhập một cách tình cờ qua các giống cỏ khô hoặc do hạt cỏ bị gió thổi tới, hoặc cố ý do có người nhập về với mục đích trồng làm cảnh mà không lường hết được những thiệt hại có thể gây ra. Các loài cỏ này gây thiệt hại dưới một vài hình thức như: gia súc và các loài động vật hoang dã không thể ăn được hoặc chỉ ăn được rất ít và chúng còn lấn át những loài thực vật có thể ăn được. Vì vậy, chúng làm giảm tới 90% lượng thức ăn gia súc, thậm chí một số cỏ còn rất độc với các loài động vật và làm tăng gấp ba tỷ lệ xói mòn do rễ chúng giữ đất kém hơn các loài cỏ bản địa khác.
Xét về mặt kinh tế, hai loài cỏ gây thiệt hại nhất trong số cỏ này là cỏ Spotted Knap và Leafy Spurge hiện đã lan tràn khắp Montana. Cỏ Spotted Knap lấn át các loài cỏ bản địa bằng cách tiết ra các chất độc nhanh chóng tiêu diệt chúng, đồng thời sản sinh lượng hạt rất lớn. Mặc dù có thể nhổ bằng tay trên một vài cánh đồng nhỏ, nhưng hiện loài cỏ này đã lan ra 566.000 mẫu đất chỉ ở riêng thung lũng Bitterroot và 5 triệu mẫu trên toàn Montana, một diện tích quá lớn khiến việc nhổ bằng tay trở nên bất khả thi. Cũng có thể sử dụng thuốc diệt cỏ để khống chế cỏ Spotted Knap, nhưng loại thuốc diệt cỏ rẻ tiền có thể diệt chúng thì cũng diệt luôn cả nhiều loại thực vật khác. Loại thuốc đặc biệt dành riêng để diệt Spotted Knap lại có giá rất đắt, tới 800 đô-la/gallon4. Ngoài ra, cũng không dám chắc liệu các loại thuốc diệt cỏ này cuối cùng có thấm vào sông Bitterroot hay các tầng nước ngầm cung cấp nước uống cho con người hay không, và liệu bản thân chúng có những ảnh hưởng độc hại không? Do cỏ Spotted Knap lan tràn trên diện rộng tại các khu rừng quốc gia cũng như trên các đồng cỏ, nên chúng làm giảm năng suất cỏ khô để nuôi gia súc và ảnh hưởng cả tới thức ăn của các loài động vật ăn cỏ hoang dã trong rừng. Thiếu thức ăn khiến các loài hươu nai rời rừng lần ra những cánh đồng cỏ. Cỏ Leafy Spurge hiện lan tràn ít hơn so với cỏ Spotted Knap nhưng khó kiểm soát hơn nhiều và không thể nhổ bằng tay, bởi rễ của chúng ăn sâu xuống lòng đất tới 6 mét.
Hai loài cỏ dại này và những loại cỏ khác gây thiệt hại kinh tế trực tiếp cho Montana hơn 100 triệu đô-la mỗi năm. Sự xuất hiện của chúng còn làm giảm năng suất nông nghiệp và khiến bất động sản ở đây mất giá. Hơn tất cả, chúng là một nỗi đau lớn của những người nông dân, bởi không thể kiểm soát chúng bằng bất kỳ biện pháp riêng biệt nào mà phải áp dụng hàng loạt hệ thống quản lý thống nhất. Chúng buộc nông dân phải thay đổi nhiều biện pháp cùng một lúc: nhổ cỏ, phun thuốc diệt cỏ, thay đổi phân bón, thả côn trùng và nuôi những loại nấm thiên địch của cỏ, đốt cỏ có kiểm soát, thay đổi kế hoạch cắt cỏ, thay đổi chu trình trồng trọt và chăn thả gia súc hằng năm. Tất cả những hậu quả trên chỉ do một vài loài sinh vật nhỏ gây ra mà tại thời điểm du nhập, con người không đánh giá hết mức độ nguy hiểm của chúng và một số loài du nhập mà không bị phát hiện.
Bởi vậy, dường như Montana nguyên sơ thực tế đang phải gánh chịu những vấn đề môi trường nghiêm trọng liên quan tới chất thải độc hại, rừng, đất, nước, thay đổi khí hậu, ảnh hưởng đa dạng sinh thái và những sinh vật du nhập. Tất cả những vấn đề này đã trở thành những vấn đề kinh tế. Chúng giúp lý giải vì sao trong những thập kỷ gần đây, kinh tế Montana lại xuống dốc nhanh tới vậy, từng là một trong những tiểu bang giàu nhất, giờ tụt xuống vị trí một trong những tiểu bang nghèo nhất nước Mỹ.
Liệu những vấn đề này có được giải quyết hay không và giải quyết như thế nào, điều này phụ thuộc vào những quan điểm và giá trị mà người Montana nắm giữ. Nhưng dân số Montana đang ngày càng trở nên hỗn tạp và không thể thống nhất ý kiến về một tương lai và môi trường của bang. Nhiều bạn bè tôi bình luận về sự phân cực các quan điểm ngày càng lớn này. Ví dụ, chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng Emil Erhardt giải thích với tôi, “Có quá nhiều giọng nói trong một cuộc tranh luận. Những năm 1950 được coi là thịnh vượng bởi khi đó tất cả chúng ta đều nghèo, hay cảm thấy mình nghèo. Hồi đó không có ai quá giàu, hay ít nhất sự giàu nghèo khó có thể nhận thấy. Nhưng giờ chúng ta đã phân hóa thành hai tầng lớp xã hội rõ ràng, những gia đình có thu nhập thấp phải vật lộn để tồn tại ở dưới đáy xã hội, và những người mới đến giàu có ngự trên đỉnh xã hội, có đủ tiền để mua đất đai, tự tách riêng ra một nơi. Về bản chất, tiền khiến chúng ta phân hóa chứ không phải là việc sử dụng đất!”.
Sự phân cực mà bạn bè tôi nói đến song hành với nhiều trục đối nhau: Giàu với nghèo, những cư dân lâu năm với người mới đến, lối sống truyền thống với những thay đổi được chào đón, những người ủng hộ phát triển với những người chống phát triển, những người ủng hộ và những người chống quy hoạch của chính quyền, những người có và những người không có trẻ em trong độ tuổi tới trường. Tiếp thêm vào những bất đồng này là những nghịch lý của Montana mà tôi đã đề cập ở phần đầu của chương này, đó là: Một tiểu bang với cư dân nghèo nàn nhưng lại thu hút những người giàu có tìm đến, thậm chí ngay cả lớp trẻ của bang cũng đang dần rời bỏ Montana sau khi tốt nghiệp phổ thông.
Ban đầu tôi phân vân không biết liệu những vấn đề môi trường của Montana và những tranh chấp xung đột có liên quan tới những hành vi ích kỷ của một bộ phận cá nhân hay không, những người đặt lợi ích cá nhân lên trên hết trong khi hoàn toàn nhận thức được rằng hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho xã hội. Điều này có thể đúng trong một số trường hợp, như những đề xuất của các nhà quản lý khai thác mỏ để thực hiện phương pháp tách vàng bằng hòa tách đống có sử dụng xyanua, mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy phương pháp này sẽ làm nảy sinh những vấn đề độc hại; việc trao đổi hươu nai giữa các nông trại sinh thái của một số chủ nông trại mặc dù biết rằng hành động đó có thể làm tăng nguy cơ lây lan của căn bệnh gầy mòn kinh niên ở động vật; và việc lén lút thả giống cá chó xuống hồ của một số ngư dân chỉ để tăng thu nhập cho mình, mặc dù trong lịch sử đã có những vụ việc tương tự khiến nhiều loại cá khác bị tiêu diệt. Mặc dù trong những trường hợp này, tôi chưa hề phỏng vấn những cá nhân liên quan và cũng không biết liệu họ có trung thực thừa nhận rằng khi làm như vậy họ không biết tới những nguy hiểm sau này? Thực tế, mỗi khi trò chuyện với người Montana, tôi đều thấy hành động của họ luôn vì lợi ích cá nhân của họ, cho dù những lợi ích đó mâu thuẫn với lợi ích của tôi hay của những người Montana khác. Không phải những khó khăn của Montana khiến con người Montana trở nên ích kỷ, xấu xa, cố ý kiếm lời trên thiệt hại của hàng xóm một cách đáng trách. Thực ra, đây là xung đột giữa những người có nguồn gốc và lợi ích khác nhau; bởi vậy họ ủng hộ những chính sách khác với chính sách của những người có nguồn gốc và lợi ích khác họ. Sau đây là những quan điểm hiện đang xung đột với nhau trong định hướng cho tương lai của Montana.
Xung đột đầu tiên là giữa “những cư dân lâu năm” và “những người mới đến”. Ví dụ, những người sinh ra ở Montana hay những gia đình sinh sống đã mấy thế hệ ở đây, tôn trọng lối sống và nền kinh tế được xây dựng trên ba trụ cột lâu đời là khai thác mỏ, khai thác gỗ và nông nghiệp chống lại những người mới chuyển đến hay những du khách. Cả ba trụ cột kinh tế của Montana hiện đều đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Hầu như tất cả các mỏ ở Montana đã đóng cửa do những vấn đề về chất thải độc hại, cùng với sự cạnh tranh từ các mỏ nước ngoài có chi phí thấp. Doanh thu từ gỗ hiện giảm tới 80% so với thời kỳ cao điểm, và hầu hết các xưởng cưa và các doanh nghiệp kinh doanh gỗ, ngoại trừ các công ty đặc biệt (nhất là những doanh nghiệp chuyên dựng nhà bằng gỗ), đã phải đóng cửa bởi hàng loạt yếu tố như công chúng muốn duy trì những cánh rừng nguyên vẹn, chi phí quản lý rừng và chống cháy rừng lớn và cạnh tranh gay gắt từ hoạt động khai thác gỗ ở những vùng có khí hậu ẩm ướt và ấm áp hơn gắn liền với những lợi thế so với hoạt động khai thác gỗ trong khí hậu hanh khô của Montana. Nông nghiệp, trụ cột kinh tế thứ ba của Montana cũng đang chao đảo. Ví dụ, trong số 400 nông trại sản xuất bơ sữa hoạt động tại thung lũng Bitterroot năm 1964, thì hiện chỉ còn lại 9 nông trại. Những lý do đằng sau sự suy thoái của nền nông nghiệp Montana phức tạp hơn những lý do của ngành mỏ và ngành khai thác gỗ, mặc dù về cơ bản đó là do bất lợi trong cạnh tranh trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi bò bởi khí hậu lạnh, khô của Montana.
Mặc dù tuổi đã xế bóng nhưng nhiều nông dân Montana vẫn tiếp tục làm việc, một phần bởi họ yêu lối sống này và tự hào vì nó. Như Tim Huls đã nói với tôi: “Thật tuyệt vời khi tỉnh giấc trước bình minh và ngắm nhìn mặt trời mọc, để thấy những chú chim ưng bay lượn trên đỉnh đầu và lũ hươu hốt hoảng nhảy qua đồng cỏ, chạy trốn những chiếc máy cắt cỏ”. Jack Hirschy, một nông dân tôi đã gặp từ năm 1950 khi ông mới 29 tuổi, hiện vẫn làm việc trong nông trại mặc dù đã ở tuổi 83, trong khi cha ông là Fred vẫn cưỡi ngựa trong buổi sinh nhật lần thứ 91. Nhưng “chăn nuôi và trồng trọt là công việc vất vả và nguy hiểm”, theo lời của bà Jill, em gái ông Jack. Ở tuổi 77, ông Jack bị chấn thương và gãy xương sườn do bị tai nạn máy kéo, trong khi ông Fred suýt bị chết khi ngã từ trên cây xuống ở tuổi 58. Tim Huls bổ sung thêm, giọng tự hào về cuộc sống tuyệt vời này: “Thi thoảng, tôi thức dậy lúc ba giờ sáng và làm việc tới tận mười giờ đêm. Công việc của chúng tôi không phải công việc hành chính chỉ làm từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Nhưng trong đám con của tôi, chẳng đứa nào muốn trở thành nông dân nếu ngày nào cũng phải làm việc từ ba giờ sáng tới mười giờ đêm”.
Nhận xét của Tim cho thấy một trong những lý do khiến nền nông nghiệp Montana suy thoái. Cuộc sống nông nghiệp được những thế hệ cao tuổi đánh giá cao, nhưng con cháu họ lại đánh giá khác. Chúng thích làm những việc ngồi trong nhà, trước màn hình máy tính hơn là khệ nệ khiêng những kiện cỏ, thích buổi tối và những ngày cuối tuần được nghỉ ngơi hơn là đi vắt sữa bò và cắt cỏ. Họ không muốn sống một cuộc sống, theo nghĩa đen, bắt họ phải làm việc tới gãy lưng khi đã ở tuổi 80, giống như ba ông bà già nhà Hirschy hiện vẫn đang làm.
Steve Powel giải thích với tôi: “Trước đây mọi người chỉ mong nông trại giúp họ đủ ăn; nhưng ngày nay họ muốn nhiều hơn thế; họ muốn kiếm đủ tiền để cho con cái đi học đại học”. John Cook từng lớn lên trong nông trại cùng với cha mẹ, cho biết thêm: “Buổi chiều, tới giờ ăn mẹ tôi rất vui khi ra vườn cây ăn quả và nhặt măng tây. Lúc còn nhỏ, tôi cũng rất thích đi câu và đi săn, nhưng bọn trẻ ngày nay chỉ thích ăn đồ ăn nhanh và xem phim trên kênh HBO; nếu cha mẹ chúng không đáp ứng, chúng sẽ cảm thấy thua kém so với bạn bè cùng trang lứa. Thời chúng tôi, thanh niên luôn xác định sẽ phải sống nghèo khổ trong vòng 20 năm, và sau đó, nếu may mắn, có thể cuối đời bạn sẽ có cuộc sống thoải mái hơn. Nhưng thanh niên bây giờ chỉ muốn sớm được sống sung túc ngay. Câu hỏi đầu tiên của chúng về công việc là: “Lương bao nhiêu, làm việc mấy giờ và nghỉ lễ như thế nào?” Tất cả những nông dân Montana mà tôi biết và yêu thích nghề nông thì hoặc rất lo lắng không biết liệu con cái họ có tiếp tục công việc đồng áng của gia đình hay không, hoặc đã biết chắc rằng không một người con nào của họ muốn nối nghiệp cha mẹ.
Những lý do kinh tế khiến người nông dân ngày càng khó sống nhờ vào đồng ruộng, bởi các chi phí nông nghiệp hiện tăng nhanh hơn thu nhập của họ gấp nhiều lần. Giá thịt bò và sữa hầu như vẫn bằng giá cách đây 20 năm, trong khi chi phí nhiên liệu, máy móc nông nghiệp, phân bón và những vật dụng cần thiết khác cho nông nghiệp đã tăng lên. Rick Laible đưa ra một ví dụ: “Năm mươi năm trước, nếu muốn sắm một chiếc xe tải mới, người nông dân chỉ cần bán hai con bò. Ngày nay, giá xe đã lên tới khoảng 15.000 đô-la trong khi bò vẫn bán với giá chỉ 600 đô-la, như vậy phải bán tới 25 con bò mới đủ mua xe”. Như thế mới có thể hiểu hết ý nghĩa truyện cười mà một nông dân Montana kể cho tôi như sau: “Một người hỏi: ‘Anh sẽ làm gì nếu có một triệu đô-la trong tay’. Người kia trả lời: ‘Tôi rất thích làm nông nghiệp, bởi vậy tôi sẽ ở lại đây với nông trại đang thua lỗ này cho tới khi hết chỗ tiền đó triệu đô!’”
Lợi tức ngày càng giảm sút, cạnh tranh tăng cao khiến hàng trăm nông trại nhỏ ở thung lũng Bitterroot trước đây có thể tự lực, giờ làm ăn không có lãi. Ban đầu nông dân thấy họ cần phải làm thêm những việc khác để kiếm sống, rồi sau đó họ bỏ nghề nông bởi nó đòi hỏi họ phải làm việc quá nhiều vào buổi tối và cả những ngày cuối tuần sau khi kết thúc việc làm thêm. Sáu mươi năm trước, ông bà của Kathy Vaughn tự nuôi sống mình nhờ một nông trại rộng 40 mẫu, bởi vậy Kathy và Pat Vaughn cũng mua một nông trại 40 mẫu năm 1977. Với sáu con cừu, sáu con bò và vài con lợn, Kathy vẫn phải nhận dạy thêm như một cô giáo, và Pat còn là công nhân xây dựng hệ thống tưới tiêu. Thu nhập từ nông trại đủ giúp họ nuôi dạy ba đứa con nhưng nó lại không ổn định và sau này họ sẽ không có lương hưu. Sau tám năm, họ bán nông trại, chuyển vào thị trấn và giờ tất cả đám con cái họ đã rời Montana.
Trên toàn nước Mỹ, những nông trại nhỏ đang bị các nông trại lớn chèn ép, cách duy nhất có thể tồn tại trong khi lợi tức đang ngày càng giảm sút là mở rộng quy mô nông trại. Nhưng ở tây nam Montana, hiện các nông trại nhỏ không thể mở rộng quy mô bằng cách mua thêm đất, bởi những lý do mà Allen Bjergo giải thích rất ngắn gọn: “Nền nông nghiệp của Mỹ đang chuyển dần sang các vùng như Iowa và Nebraska, nơi không ai đến đó sống vì cảnh đẹp bởi nó không đẹp như Montana! Nhưng ở Montana này, mọi người chỉ muốn sống vui vẻ nên họ sẵn sàng bỏ ra rất nhiều tiền mua mảnh đất với giá cao hơn những gì nông nghiệp có thể mang lại cho họ. Bitterroot đang trở thành một thung lũng của ngựa. Nuôi ngựa hiện đang rất phát đạt bởi mặc dù giá sản phẩm nông nghiệp phụ thuộc vào giá trị của sản phẩm đó và không phải là vô hạn, nhưng nhiều người sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì chỉ để mua những con ngựa chẳng mang lại lợi ích kinh tế thiết thực nào”.
Giá đất tại Bitterroot hiện đã tăng từ 10-20 lần so với thời điểm cách đây vài thập kỷ. Với giá này, cho thuê đất còn thu nhập cao hơn là làm nông nghiệp. Đó là lý do trực tiếp lý giải vì sao các nông trại nhỏ ở Bitterroot không thể tiếp tục tồn tại bằng cách mở rộng nông trại, và tại sao chúng lại bị bán cho những mục đích phi nông nghiệp. Nếu những nông dân già cả hiện vẫn đang sống trên mảnh đất của mình, khi họ chết, con cháu họ sẽ buộc phải bán đất cho những nhà đầu cơ với giá cao hơn nhiều nếu bán cho một nông dân khác để lấy tiền trả tiền thuế bất động sản đã tăng cao hơn rất nhiều theo giá trị đất so với thời kỳ những người nông dân già cả còn sống. Thường thì chính những người nông dân già tự tay bán nông trại. Tuy họ như muốn khuỵ xuống khi nhìn mảnh đất mà mình đã trồng trọt và thương yêu trong suốt 60 năm qua bị chia thành những lô đất chật hẹp với diện tích 5 mẫu mỗi mảnh, nhưng giá đất tăng cao khiến họ bán đi, thậm chí ngay cả nông trại nhỏ từng nuôi sống bản thân, cho một nhà đầu cơ nào đó để lấy một triệu đô-la. Để có được số tiền cần thiết tự nuôi sống bản thân sau khi nghỉ hưu, những nông dân này không còn chọn lựa nào khác bởi suốt cuộc đời làm lụng vất vả, họ không tiết kiệm được khoản tiền nào và cũng bởi con cái họ không muốn làm nông nghiệp nữa. Đúng như Rick Laible nói: “Với người nông dân, đất đai chính là khoản lương hưu duy nhất của họ”.
Điều gì khiến giá đất tăng vọt như vậy? Về cơ bản, do khung cảnh đẹp đẽ của Bitterroot thu hút những người giàu có từ những nơi khác đến. Những người mua lại đất đai của các nông dân già cả hoặc là những người mới chuyển đến, hoặc là những nhà đầu cơ đất để chia lô bán cho những người mới chuyển đến hoặc bán cho những người giàu có đang sống tại thung lũng. Tỷ lệ tăng dân số 4% của thung lũng gần như hoàn toàn do những người từ nơi khác chuyển tới, chứ không phải là tỷ lệ giữa sinh và tử trong thung lũng. Du lịch nghỉ dưỡng theo từng mùa cũng tăng lên nhờ những người từ nơi khác đến (như Stan Falkow, Lucy Tompkins và hai cậu con trai của tôi) tới đây câu cá, chơi gôn hay săn bắn. Những phân tích kinh tế gần đây do chính quyền hạt Ravalli tiến hành lý giải: “Không có gì bí ẩn khi có nhiều người kéo tới thung lũng Bitterroot như vậy. Đơn giản là thung lũng này có phong cảnh tuyệt đẹp với những ngọn núi, những cánh rừng, những con suối, những bầy thú hoang, cảnh đẹp với khí hậu tương đối ôn hòa”.
Nhóm cư dân nhập cư lớn nhất bao gồm “những người bán hưu trí” hay những người nghỉ hưu non trong độ tuổi 45-59, sống nhờ vào khoản tiền chênh lệch từ việc bán nhà ở những nơi khác, hoặc bằng thu nhập từ các hoạt động kinh doanh ngoài tiểu bang Montana hoặc kinh doanh qua internet. Có nghĩa, thu nhập của họ không hề bị ảnh hưởng bởi những vấn đề kinh tế có liên quan tới môi trường của Montana. Ví dụ, một người California bán căn nhà tí xíu ở California với giá 500.000 đô-la, thì có thể nghỉ hưu sớm và dùng số tiền này để mua một mảnh đất rộng năm mẫu ở Montana với một căn nhà lớn để cưỡi ngựa, đi câu và sống thoải mái bằng số tiền tiết kiệm cộng với số tiền chênh lệch còn lại. Bởi vậy, gần như một nửa số dân nhập cư gần đây của Bitteroot là người California. Họ mua đất Bitterroot vì phong cảnh đẹp chứ không phải vì những con bò hay những vườn táo, vì vậy họ sẵn sàng mua đất với giá chẳng liên quan gì tới giá trị nông nghiệp mà mảnh đất có thể mang lại.
Nhưng giá nhà đất tăng vọt gây khó khăn về nhà ở cho cư dân thung lũng Bitterroot, những người phải làm việc để nuôi sống bản thân. Nhiều người tới cuối đời vẫn không đủ tiền mua nhà, phải sống trong những căn nhà di động hoặc những chiếc xe tải hay sống với cha mẹ, và phải làm cùng lúc 2-3 việc mới đủ sống cuộc sống đạm bạc.
Đương nhiên, những sự thực kinh tế tàn nhẫn này tạo ra sự chênh lệch rõ ràng giữa những cư dân lâu đời và những người từ nơi khác đến, nhất là những người giàu có tới Montana mua căn nhà thứ hai, thứ ba hay thậm chí là thứ tư (ngoài những căn nhà họ đã có ở San Francisco, Palm Springs hay Florida). Họ chỉ tới nghỉ ở đây trong một thời gian ngắn để câu cá, đi săn hay trượt tuyết. Những cư dân lâu đời than phiền vì những chiếc máy bay phản lực tư nhân ầm ĩ cất, hạ cánh tại sân bay Hamilton để đưa các du khách tới chơi gôn vài tiếng đồng hồ ở ngôi nhà thứ tư của họ trong nông trại Stock rồi lại quay về San Francisco ngay trong ngày. Những cư dân lâu đời cũng phản đối những người ở nơi khác đến mua những nông trại rộng lớn mà họ muốn mua nhưng giờ không có đủ tiền, và trước đây cư dân địa phương được phép săn bắn và câu cá trong nông trại đó nhưng giờ những người chủ mới chỉ muốn dành độc quyền săn bắn hoặc câu cá cho mình cùng những người bạn giàu có và buộc cư dân địa phương phải đứng ngoài. Những hiểu lầm giữa hai bên xuất phát từ xung đột giá trị và những gì mà họ mong đợi. Ví dụ, những người mới đến muốn những con nai xuống núi đi về phía nông trại, như vậy trông vừa đẹp lại vừa tiện săn bắn, nhưng những người cư dân địa phương lại không muốn nai xuống ăn cỏ của họ.
Những chủ nhà giàu có từ nơi khác luôn thận trọng chỉ ở lại Montana chưa đến 180 ngày mỗi năm, để tránh phải nộp thuế thu nhập của tiểu bang Montana và cũng không phải đóng góp các khoản chi phí cho chính quyền địa phương và cho các trường học. Một cư dân địa phương nói với tôi: “Những người từ nơi khác đến có những sở thích khác chúng tôi. Họ muốn được sống riêng biệt, không bị xâm phạm đời tư và không muốn liên quan gì tới địa phương, ngoại trừ khi đưa bạn bè đến quán bar địa phương để cho họ thấy đời sống nông thôn và những người dân lạ lùng. Họ thích động vật hoang dã, thích câu cá, đi săn và ngắm nhìn phong cảnh nhưng họ không phải là một phần của cộng đồng dân cư địa phương”. Hay như Emil Erhardt nói: “Quan điểm của họ là ‘tôi tới đây là để cưỡi ngựa của tôi, để ngắm những ngọn núi và câu cá, nên đừng quấy rầy tôi với những vấn đề mà vì chúng, tôi phải trốn tới đây’”.
Nhưng những người giàu từ nơi khác chuyển đến cũng có những ảnh hưởng tích cực khác đến cộng đồng bản địa, Emil Erhardt bổ sung: “Nông trại Stock mang lại những công việc với mức lương cao, họ đóng phần lớn thuế tài sản cho toàn thung lũng Bitterroot, họ tự trả tiền cho đội ngũ nhân viên an ninh của mình, họ không đòi hỏi gì nhiều về các dịch vụ của cộng đồng hay chính quyền địa phương. Cảnh sát trưởng của chúng tôi không bị gọi tới để xử lý những vụ ẩu đả trong quán bar và những người sinh sống ở đó cũng không cho con cái mình đi học ở đây”. John Cook thì thừa nhận: “Có một điều là, nếu ông Charles Schwab, chủ nông trại Stock, không mua tất cả khu đất đó thì nhà đầu cơ bất động sản nào đó cũng mua và chia nó ra làm nhiều mảnh, chứ khu đất đó cũng chẳng được để không để làm nơi sinh sống cho các loài thú hoang dã hay trở thành một không gian xanh”.
Do bị cuốn hút bởi môi trường đẹp đẽ của Montana, nên một số người giàu từ nơi khác đến chăm sóc tài sản của họ rất cẩn thận và trở thành người đứng đầu trong bảo vệ môi trường và quy hoạch đất đai. Ví như căn nhà nghỉ hè mà tôi thuê trong suốt bảy năm qua nằm trên bờ sông Bitterroot, phía Namnam Hamilton thuộc sở hữu của một tổ chức tư nhân mang tên “Nơi ẩn náu của động vật hoang dã” Teller. Chủ của tổ chức này là Otto Teller, một người California giàu có, thích câu cá hồi ở Montana. Một ngày, ông tức điên lên khi thấy một chiếc máy xúc lớn đang đổ đất xuống hố câu mà ông ưa thích ở sông Gallavin. Ông càng tức giận hơn nữa khi thấy những cánh rừng bị các công ty khai thác gỗ tàn phá hàng loạt từ những năm 1950, giờ lại phá hỏng những dòng suối đầy cá hồi mà ông yêu thích và làm hỏng chất lượng nước suối. Năm 1984, Otto mua một khu đất lớn dọc bờ sông Bitterroot và biến nó thành nơi ẩn náu cho các loài động vật hoang dã nhưng vẫn cho phép cư dân địa phương săn bắn và câu cá ở đây. Sau này ông hiến những khu bảo tồn trên đất của mình cho một tổ chức phi lợi nhuận mang tên Montana Land Reliance, để đảm bảo khu đất sẽ được quản lý, trông nom mãi mãi và chất lượng môi trường được đảm bảo. Nếu Otto Teller không mua khu đất rộng 1.600 mẫu này thì có lẽ nó đã bị chia thành những lô đất nhỏ để làm nhà.
Dòng người mới chuyển đến đông, giá đất và các loại thuế bất động sản tăng, cuộc sống nghèo khổ của những cư dân lâu đời của Montana và quan điểm bảo thủ của họ về chính quyền và các loại thuế, tất cả các yếu tố này góp phần khiến các trường học của Montana, phần lớn được cấp kinh phí từ các khoản thuế bất động sản, lâm vào tình trạng khó khăn. Do hạt Ravalli có ít bất động sản thương mại và công nghiệp nên nguồn thu chính của thuế bất động sản chính là thuế nhà đất, và các loại thuế này cũng tăng lên cùng với giá đất. Với những cư dân địa phương và những người mới chuyển đến chẳng mấy giàu có thì mỗi lần tăng thuế bất động sản là một lần họ gặp khó khăn. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên nếu họ thường phản ứng bằng cách phủ quyết đề xuất phát hành trái phiếu trường học và thu thuế bất động sản bổ sung để chi cho các trường học.
Hậu quả là trong khi các trường công chiếm tới 2/3 chi tiêu công của chính quyền hạt Ravalli, chi phí này nếu tính theo tỷ lệ thu nhập đầu người thì nó đứng cuối cùng trong số 24 hạt nông thôn của miền tây nước Mỹ tương đương với hạt Ravalli, và bản thân mức thu nhập đầu người của hạt Ravalli cũng rất thấp. Mặc dù tiêu chuẩn đánh giá chi phí cho trường học của bang Montana đã là thấp, thì chi phí cho trường học của hạt Ravalli vẫn ở mức thấp của tiêu chuẩn này. Đa phần các trường học ở các quận của hạt Ravalli đều giữ chi phí ở mức tối thiểu như pháp luật Montana yêu cầu. Lương trung bình của giáo viên Montana thấp nhất ở Mỹ, và đặc biệt ở hạt Ravalli thì mức lương này cùng với giá đất tăng khiến giáo viên khó có thể đủ tiền mua nhà.
Những người trẻ tuổi sinh ra ở Montana đang dần rời bang ra đi bởi nhiều người trong số họ thích những lối sống khác, và còn bởi những người thích sống ở Montana lại không thể tìm được việc làm ở địa phương. Ví dụ, kể từ khi Steve Powel tốt nghiệp phổ thông ở Hamilton, 70% số bạn học của anh đã rời thung lũng Bitterroot. Không một ngoại lệ, tất cả bạn bè tôi, những người chọn sống ở Montana, đều đã từng tranh luận liệu con cháu họ sẽ ở lại những nơi chúng đến hay chúng sẽ trở về. Tất cả tám người con của Allen và Jackie Bjergo, sáu người con của Jill và tám người con của John Eliel hiện đều đang sinh sống ở ngoài Montana.
Lại một lần nữa phải trích lời của Emil Erhardt: “Chúng tôi, những người sống ở thung lũng Bitterroot, đang xuất khẩu con cái mình. Những tác động từ bên ngoài như tivi đã khiến bọn trẻ biết được ngoài thung lũng có cái gì và trong thung lũng thiếu cái gì. Mọi người đem con cái tới đây bởi không khí thoáng đãng, và còn bởi đây là nơi tuyệt vời để nuôi dạy bọn trẻ. Nhưng khi chúng lớn lên, chúng không còn muốn bầu không khí này nữa”. Hằng năm, hai đứa con trai tôi rất thích tới Montana câu cá trong hai tuần nghỉ hè, còn thì cả năm chúng sống theo lối sống thành thị ở Los Angeles. Tôi nhớ chúng sửng sốt như thế nào khi bước ra khỏi một quán ăn nhanh ở Hamilton và nhận ra ở đây có quá ít nơi giải trí theo kiểu thành thị cho thanh niên địa phương, những người đang rất khao khát. Hamilton chỉ có hai rạp chiếu phim, khu buôn bán lớn nhất cũng ở Missoula, cách đó 80 kilômét. Nhiều thanh niên Hamilton cũng có chung cảm nhận như vậy khi đi khỏi Montana và nhận ra những gì còn thiếu thốn ở quê nhà.
Cũng như những vùng nông thôn miền Tây nước Mỹ nói chung, người Montana có khuynh hướng bảo thủ và hoài nghi các quy định của chính quyền. Thái độ này có nguồn gốc mang tính lịch sử bởi những cư dân đầu tiên tới đây khai hoang sống trong một khu vực vắng dân cư, xa các trung tâm, xa chính quyền nên họ phải tự lập và không thể trông chờ chính quyền giải quyết các vấn đề của họ. Người Montana đặc biệt ghét chính quyền liên bang ở Washington D.C, xa cách cả về mặt địa lý và tâm lý, chỉ giáo họ phải làm gì. (Nhưng họ lại không chê tiền của chính quyền liên bang, cứ mỗi đô-la mà Montana nộp cho Washington thì họ nhận lại khoảng 1,5 đô-la từ chính quyền). Trong mắt người Montana, đa phần các quan chức điều hành chính quyền liên bang là những người sống ở các đô thị của Mỹ nên chẳng hiểu gì về những điều kiện ở Montana. Còn trong mắt của các nhà quản lý chính quyền liên bang, môi trường Montana là báu vật của tất cả nhân dân Mỹ, chứ không chỉ của riêng người Montana.
Thậm chí xét theo tiêu chuẩn của Montana, thì thung lũng Bitterroot đặc biệt bảo thủ và chống chính phủ. Điều này có thể là do nhiều cư dân đầu tiên của Bitterroot có nguồn gốc từ những bang ly khai trong cuộc nội chiến những năm 1860, và hàng loạt những người bảo thủ cánh hữu khổ cực chạy từ Los Angeles tới sau khi xảy ra những vụ bạo loạn trong thành phố. Như Chris Miller đã nói: “Những người tự do và dân chủ sống ở đây thường nghẹn ngào khi đọc kết quả bầu cử, bởi chúng quá bảo thủ”. Những người cực đoan của chủ nghĩa bảo thủ cánh hữu ở Bitterroot còn lập ra các tổ chức dân quân là những nhóm nông dân có trang bị vũ khí. Những người này từ chối nộp thuế, buộc những người khác tránh xa tài sản của họ và bị các cư dân trong thung lũng coi là những kẻ mắc bệnh hoang tưởng.
Một hậu quả của những quan điểm chính trị ở Bitterroot là sự phản đối quy hoạch hay phân vùng của chính quyền và mang đến cảm giác rằng các chủ nông trại có quyền làm bất cứ những gì họ muốn trên mảnh đất của họ. Hạt Ravalli không có luật xây dựng cũng như không có quy hoạch toàn vùng. Ngoài hai thị trấn và vài quận được những cử tri bản địa tự nguyện quy hoạch ở một số vùng nông thôn ngoại ô, thì không có bất cứ quy định hạn chế nào trong việc sử dụng đất. Ví dụ, một tối khi tôi đang đi dạo ở Bitterroot cùng cậu con nhỏ Joshua thì nó đọc được trên một tờ báo rằng bộ phim mà nó muốn xem hiện đang được chiếu ở một trong hai rạp chiếu phim của Hamilton. Khi hỏi thăm tới nơi, tôi sửng sốt khi thấy rạp này mới được xây dựng trên khu đất nông nghiệp, bất chấp một cơ sở nghiên cứu công nghệ sinh học lớn ngay bên cạnh. Không hề có một quy định quy hoạch nào về việc thay đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Ngược lại, ở nhiều nơi khác trên đất Mỹ, công chúng rất quan tâm tới việc sử dụng đất nông nghiệp, và những quy định về quy hoạch hạn chế hay ngăn cấm chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích thương mại. Cảnh một nhà hát với rất nhiều xe cộ lại đặt ngay cạnh một cơ sở công nghệ sinh học nhạy cảm sẽ khiến nhiều người đặc biệt lo sợ.
Người Montana hiện đã bắt đầu nhận ra rằng hai quan điểm thủ cựu nhất của họ lại mâu thuẫn trực tiếp với nhau, đó là: quan điểm chống lại quy định của chính phủ để bảo vệ quyền lợi cá nhân của mình, và lòng tự hào về chất lượng cuộc sống của họ. Cụm từ “chất lượng cuộc sống” được đề cập hầu như trong mọi cuộc chuyện trò của tôi với người Montana về tương lai của họ. Cụm từ này muốn nói rằng, trong cuộc sống hằng ngày, người Montana được tận hưởng một phong cảnh tươi đẹp mà những du khách từ các nơi khác đến (như tôi chẳng hạn) coi đó là một đặc ân khi mỗi năm được tới đây nghỉ một, hai tuần. Cụm từ này cũng thể hiện lòng tự hào của người Montana về lối sống truyền thống ở một vùng nông thôn có mật độ cư dân thấp, dân số trung bình và đều là những cư dân lâu năm ở đây. Emil Erhardt nói với tôi: “Ở Bitterroot, người dân muốn duy trì bản chất của một cộng đồng nông dân nhỏ, bình lặng, ở đó cuộc sống của mọi người đều nghèo như nhau và họ tự hào về điều đó”. Hay, như Stan Falkow nói: “Trước đây, khi bạn muốn đi xe về Bitterroot, bạn có thể vẫy bất kỳ chiếc xe nào bởi mọi người đều biết nhau”.
Đáng buồn là, do không giới hạn sử dụng đất và bởi dòng người nhập cư ngày càng đông, nên việc người Montana liên tục phản đối các quy định của chính phủ lại là một trong những nguyên nhân làm suy thoái môi trường thiên nhiên tươi đẹp và chất lượng cuộc sống mà họ tự hào. Điều này có thể giải thích rõ nhất bằng những gì Steve Powell nói với tôi: “Tôi nói với những người bạn làm đại lý bất động sản và xây dựng rằng, ‘Các cậu phải bảo vệ phong cảnh thiên nhiên, động vật hoang dã và đất nông nghiệp’ bởi chúng là những điều làm tăng giá trị của tài sản. Chúng ta càng trì hoãn quy hoạch thì phong cảnh càng bị xấu đi. Đất nông nghiệp rất giá trị với toàn cộng đồng, nó là phần quan trọng trong ‘chất lượng cuộc sống’ cuốn hút mọi người ở đây. Với áp lực phát triển ngày càng tăng, cũng chính những người từng chống chính phủ giờ lại lo lắng cho sự phát triển của Montana. Họ nói những khu vực giải trí ưa thích của họ giờ đã trở nên đông nghịt người, và lúc này họ thừa nhận rằng phải có những quy định quản lý đất đai cần thiết”. Khi Steve còn là ủy viên hội đồng hạt Ravalli năm 1993, ông đã tài trợ tổ chức những cuộc mít tinh để thảo luận về quy hoạch sử dụng đất và kích thích công chúng xem xét vấn đề này. Nhưng những thành viên dữ dằn của các tổ chức dân quân đã phá hoại những cuộc mít tinh này. Chúng ngang nhiên đeo súng để đe dọa người khác và sau đó Steve đã thất bại trong đợt tái cử.
Tới giờ vẫn chưa rõ xung đột giữa việc chống quy hoạch của chính phủ với sự cần thiết phải có quy hoạch củachính phủ sẽ được giải quyết như thế nào. Tôi lại trích lời của Steve Powell: “Mọi người đang cố bảo vệ Bitterroot như một cộng đồng nông thôn, nhưng họ lại không thể tìm ra cách vừa bảo vệ nó vừa có thể tồn tại về phương diện kinh tế”. Land Lindbergh và Hank Goetz cũng có chung quan điểm: “Vấn đề cơ bản ở đây là làm sao chúng ta có thể bám mãi vào những gì cuốn hút chúng ta tới Montana, trong khi vẫn phải đối phó với những thay đổi không thể tránh được”.
Để kết luận chương đầu về Montana, phần lớn là những bình luận của tôi, tôi sẽ để bốn người bạn Montana của tôi kể họ đã trở thành cư dân Montana như thế nào, và sự lo lắng của họ cho tương lai của Montana. Rick Laible là một cư dân mới chuyển đến, hiện là nghị sĩ của tiểu bang; Chip Pigman là cư dân lâu đời và là người đầu cơ đất đai; Tim Huls, một cư dân lâu đời và là một nông dân sản xuất bơ sữa; và John Cook, một cư dân mới làm nghề dạy câu cá.
Đây là chuyện của Rick Laible : “Tôi sinh ra và lớn lên ở khu vực gần Berkeley, California, nơi tôi có một doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ. Vợ tôi Frankie và tôi đều làm việc rất vất vả. Một ngày, Frankie nhìn tôi và nói: ‘Anh đang làm việc 10-12 tiếng mỗi ngày và bảy ngày mỗi tuần đó’. Vậy là chúng tôi quyết định giảm cường độ làm việc, lái xe đi hơn 7.000 kilômét quanh miền tây để tìm một nơi ở mới. Chúng tôi mua căn nhà đầu tiên ở một vùng xa xôi của Bitterroot năm 1993, rồi lại chuyển tới một nông trại gần thị trấn Victor năm 1994. Vợ tôi chăm sóc những con ngựa A Rập gốc Ai Cập trong nông trại, còn tôi mỗi tháng quay về California một lần để kiểm tra công việc kinh doanh ở đó. Chúng tôi có năm đứa con. Cậu con trai cả lúc nào cũng muốn được chuyển đến Montana, và cậu quản lý nông trại của chúng tôi. Bốn đứa trẻ còn lại không hiểu chất lượng cuộc sống tại Montana, không hiểu người Montana tốt như thế nào và không hiểu tại sao cha mẹ lại chuyển tới đây.
Hiện mỗi tháng tôi chỉ quay về California trong bốn ngày. Tôi muốn đi khỏi California càng sớm càng tốt. Ở đó tôi cảm thấy mình như tù túng như một con chuột bị nhốt trong lồng. Còn Frankie, mỗi năm bà ấy chỉ về California hai lần để thăm các cháu, với bà ấy thế là đủ. Một ví dụ về những gì khiến tôi không thích California là gần đây tôi có quay lại đó để dự một cuộc họp. Do có ít thời gian nhàn rỗi nên tôi chỉ đi dạo trên các đường phố. Tôi thấy những người đi ngược chiều tôi thường nhìn xuống đất, tránh cái nhìn của tôi. Khi tôi lên tiếng chào những người không quen biết, họ tỏ vẻ ngạc nhiên. Ở đây, ở Bitterroot, có một nguyên tắc rằng khi bạn đi qua ai đó, bạn phải nhìn người ta.
Còn lý do tôi tham gia chính trị là bởi tôi thường đóng góp nhiều ý kiến chính trị. Do vậy, người lãnh đạo hội đồng bang quyết định từ chức và thuyết phục tôi thay thế ông. Frankie cũng ủng hộ ông ấy. Còn tại sao tôi lại quyết định nhận lời? Là bởi tôi muốn đền đáp một điều gì đó. Tôi thấy người dân nơi đây quá tốt với tôi, và tôi muốn góp sức mình làm cho cuộc sống của mọi người tốt đẹp hơn.
Vấn đề pháp luật mà tôi đặc biệt quan tâm là quản lý rừng, do quận tôi ở toàn là rừng và nhiều cử tri của tôi làm nghề thợ mộc. Thị trấn Darby, nằm trong quận của tôi, từng là thị trấn có rất nhiều gỗ, và quản lý rừng tốt sẽ tạo ra nhiều việc làm cho thung lũng. Thời kỳ đầu, thung lũng có khoảng bảy nhà máy chế biến gỗ nhưng giờ chẳng còn cái nào khiến thung lũng mất nhiều việc làm và cơ sở hạ tầng. Các quyết định quản lý rừng hiện do các tổ chức môi trường và chính quyền liên bang đưa ra, chính quyền tiểu bang và hạt không được tham gia. Tôi đang đề xuất các quy định pháp luật về quản lý rừng nên có sự hợp tác giữa ba cấp chính quyền là các cơ quan liên bang, tiểu bang và hạt.
Vài thập kỷ trước, Montana nằm trong số 10 tiểu bang có thu nhập đầu người cao nhất nước Mỹ; giờ đã tụt xuống vị trí thứ 40 trong số 50 tiểu bang do sự suy thoái của các ngành công nghiệp khai thác (như gỗ, than, dầu, khí và khai mỏ) làm mất những việc làm có mức lương cao. Tất nhiên, chúng ta không thể quay trở lại khai thác quá mức như trước đây. Ở Bitterroot này, trong một gia đình cả hai vợ chồng đều phải làm việc, và thường mỗi người phải có hai công việc thì mới đủ sống tằn tiện, nhưng ở đây bao quanh chúng tôi lại là một khu rừng rậm rạp, rất dễ cháy. Mọi người ở đây, kể cả các chuyên gia môi trường và những người khác, đều đồng tình rằng chúng ta cần áp dụng các biện pháp phát quang rừng để phòng chống cháy rừng. Phát quang rừng sẽ khiến rừng thưa hơn, đặc biệt là những cây nhỏ, thấp. Giờ việc phát quang rừng chỉ tiến hành bằng cách đốt rừng có kiểm soát. Cơ quan phòng cháy quốc gia của chính quyền liên bang thực hiện bằng cách chặt tỉa những cây gỗ, mục đích để giảm lượng biomass trong rừng. Hầu hết lượng gỗ chúng ta đang sử dụng là nhập khẩu từ Canada! Nhưng mục tiêu ban đầu của chúng ta với các cánh rừng quốc gia là cung cấp một lượng gỗ ổn định, và để bảo vệ các nguồn nước. Trước đây, khoảng 25% doanh thu từ các khu rừng quốc gia được dành cho giáo dục, nhưng hiện doanh thu này đã giảm mạnh. Càng khai thác nhiều gỗ có nghĩa càng có nhiều tiền dành cho giáo dục.
Hiện tại, không có chính sách phát triển nào cho toàn hạt Ravalli! Dân số trong thung lũng đã tăng 40% trong thập kỷ qua, và có thể vẫn tiếp tục duy trì tỷ lệ này trong thập kỷ tới: vậy số 40% tới sẽ đi đâu? Chúng ta có thể khoá cửa lại không cho người khác tiếp tục chuyển tới được không? Hay cấm nông dân phân chia mảnh đất của họ để xây dựng trên những mảnh đất đó? Hay buộc nông dân phải gắn bó suốt đời với nghề nông? Tất cả lương hưu của người nông dân nằm chính trên mảnh đất của họ. Nếu cấm nông dân bán đất để xây dựng thì bạn sẽ làm gì cho họ?
Còn về ảnh hưởng lâu dài của sự tăng trưởng dân số, trong tương lai sẽ xảy ra những chu kỳ giống như những chu kỳ trong quá khứ, và trong một trong những chu kỳ đó, những người từ nơi khác chuyển đến sẽ quay về nhà họ. Montana sẽ không bao giờ phát triển quá mức, nhưng hạt Ravalli sẽ tiếp tục phát triển. Trong hạt vẫn còn rất nhiều đất công. Giá đất ở đây sẽ tiếp tục tăng cho tới khi đạt mức quá cao, khi đó những người tìm mua nhà đất sẽ chuyển tới những vùng đất khác có giá rẻ hơn. Cuối cùng, toàn bộ đất nông nghiệp trong thung lũng sẽ trở thành đất xây dựng.”
Còn đây là chuyện của Chip Pigman: “Cụ tôi từ Oklahoma chuyển tới đây vào khoảng năm 1925 và có một khu vườn trồng táo. Mẹ tôi lớn lên ở đây trong một nông trại nuôi cừu và sản xuất bơ sữa, giờ bà là chủ một văn phòng bất động sản trong thị trấn. Cha tôi chuyển tới đây từ khi ông còn nhỏ, đã từng làm thợ mỏ và trồng củ cải đường. Ngoài ra, ông còn làm thêm trong ngành xây dựng; đó là lý do vì sao tôi làm nghề này. Tôi sinh ra và học hành ở đây, tôi đã tốt nghiệp khoa kế toán thuộc trường Đại học Montana, ở Missoula.
Tôi từng sống ở Denver trong thời gian ba năm, nhưng tôi không thích cuộc sống đô thị nên tôi quyết định quay về đây, một phần bởi Bitterroot là nơi tuyệt vời để nuôi dạy con cái. Lúc tôi vừa mới chuyển tới Denver được hai tuần, tôi đã bị mất một chiếc xe đạp. Tôi không thích hệ thống giao thông của thành phố cũng như những nơi dân cư đông đúc. Ở Bitterroot, các nhu cầu của tôi được đáp ứng. Tôi được nuôi dạy không có “văn hoá” và tôi không cần điều đó. Tôi đã chờ tới khi nhận được cổ phiếu của công ty mà tôi làm ở Denver, rồi tôi quay về đây. Như vậy có nghĩa tôi đã bỏ công việc ở Denver với mức lương 35.000 đô-la mỗi năm và quay về đây sống với thu nhập 17.000 đô-la mỗi năm, và không có khoản trợ cấp nào khác. Tôi sẵn sàng bỏ công việc ổn định ở Denver để trở về sống ở thung lũng, nơi tôi có thể thoải mái đi bộ. Vợ tôi chưa bao giờ sống trong cảnh bấp bênh như vậy, nhưng trước đây tôi đã từng sống trong cảnh này ở Bitterroot. Ở Bitterroot này, gia đình bạn phải có hai nguồn thu nhập mới đủ sống, và cha mẹ tôi từng phải làm thêm nhiều công việc lạ kỳ. Tôi cũng từng sẵn sàng nhận việc bốc vác hoa quả ban đêm để kiếm tiền cho gia đình. Khi quay lại đây, phải mất năm năm tôi mới khôi phục lại được mức thu nhập như ở Denver và phải mất một, hai năm sau tôi mới mua được bảo hiểm y tế.
Công việc của tôi chủ yếu là xây nhà, cùng với việc đầu tư vào những khoảnh đất rẻ tiền bởi tôi không thể mua và phát triển những mảnh đất đắt tiền. Ban đầu, những lô đất mà tôi mua toàn là đất nông trại, nhưng tại thời điểm tôi mua, phần lớn chúng không còn sử dụng làm nông trại. Chúng đã bị mua đi bán lại nhiều lần, và được chia nhỏ. Chúng không còn là đất nông nghiệp và trên đất mọc toàn cây xa cúc chứ không phải là trồng cỏ.
Có một ngoại lệ là dự án Hamilton Heights của tôi, tôi mua một nông trại cũ rộng 40 mẫu và hiện đang dự kiến chia thành những lô nhỏ. Tôi trình lên chính quyền hạt một kế hoạch phát triển chi tiết đòi hỏi phải qua ba lần phê duyệt, và tôi đã vượt qua hai lần. Nhưng tới lần thứ ba và là bước cuối cùng, chính quyền tổ chức lấy ý kiến của công chúng. Khoảng 80 người tới dự và phản đối rằng việc chia nhỏ lô đất có nghĩa sẽ làm mất đất nông nghiệp. Mặc dù đất còn tốt và trước đó từng là đất nông nghiệp nhưng khi tôi mua nó không còn sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp nữa. Tôi đã mua mảnh đất 40 mẫu này với giá 225.000 đô-la, nếu là đất nông nghiệp thì sẽ không có giá cao tới mức đó. Nhưng mọi người không để ý tới khía cạnh kinh tế này. Thay vào đó, những người hàng xóm nói: “Chúng tôi muốn được nhìn ngắm một không gian bao la với những khu rừng bao quanh”. Nhưng làm sao có thể duy trì không gian đó nếu người bán đất là một người đã sáu mươi tuổi, họ đang cần tiền để nghỉ hưu? Nếu những người hàng xóm muốn bảo tồn khu đất liền thổ thì lẽ ra họ nên tự mua lấy mảnh đất này. Mặc dù có thể nhưng họ đã không mua. Dù không thuộc sở hữu của mình, nhưng họ vẫn muốn kiểm soát khu đất đó.
Kế hoạch của tôi đã bị bác bỏ bởi những nhà quy hoạch của hạt không muốn làm mất lòng 80 cử tri trước một cuộc bầu cử đang tới gần. Trước khi trình kế hoạch, tôi không đàm phán với những người hàng xóm bởi tôi là kẻ cứng đầu. Tôi muốn làm cái mà tôi nghĩ mình có quyền làm, và tôi không muốn bị chỉ bảo phải làm gì. Ngược lại, mọi người cũng không nhận ra rằng, với một dự án nhỏ như vậy, việc đàm phán sẽ khiến tôi tốn nhiều thời gian và tiền bạc. Sau này với dự án tương tự, tôi sẽ thảo luận với những người hàng xóm, nhưng tôi cũng sẽ đưa 50 công nhân của tôi cùng tới dự, như vậy những ủy viên hội đồng của hạt sẽ thấy rằng cũng còn một bộ phận công chúng cần việc làm, ủng hộ cho dự án. Tôi bị sa lầy với những chi phí đất đai trong vụ tranh chấp này. Những người hàng xóm muốn tôi bỏ hoang lô đất và chẳng xây dựng gì trên đó cả.
Mọi người nói rằng ở đây đã có quá nhiều nhà ở rồi và dân số thung lũng đang ngày càng đông, và họ cố lên án tôi. Câu trả lời của tôi là: Đó là nhu cầu của thị trường với sản phẩm của tôi, tôi không tạo ra nhu cầu. Hằng năm, số nhà ở và phương tiện giao thông trong thung lũng càng tăng. Nhưng tôi thích đi bộ, và khi bạn đi bộ hay bay trên thung lũng, bạn sẽ thấy còn rất nhiều không gian thoáng đãng ở đây. Giới truyền thông đưa tin rằng trong 10 năm qua, thung lũng đã tăng trưởng khoảng 44%, nhưng đó chỉ là dân số tăng từ 25.000 – 35.000 người. Giới trẻ đang dần dần rời bỏ thung lũng. Tôi có khoảng 30 nhân viên và tôi dự kiến trả lương hưu, bảo hiểm y tế, tiền nghỉ mát và chia sẻ lợi tức với họ. Không một công ty đối thủ nào làm như tôi, vì vậy doanh thu của tôi thấp. Tôi còn thường xuyên bị các nhà môi trường coi là nguyên nhân gây ra những vấn đề về môi trường nhưng tôi đâu có tạo ra nhu cầu. Nếu tôi không xây nhà thì cũng có người khác làm mà thôi.
Tôi dự định ở lại thung lũng cho hết phần đời còn lại. Tôi thuộc về cộng đồng này và tôi ủng hộ rất nhiều dự án của cộng đồng. Ví dụ: tôi ủng hộ các đội tuyển bóng chày, bóng đá và bơi lội. Tôi sinh ra ở đây và tôi muốn sống ở đây. Tôi không định kiếm tiền ở đây rồi bỏ đi. Tôi sẽ sống ở đây 20 năm, tiếp tục thực hiện các dự án của mình. Tôi không muốn sau này nhìn lại và thú nhận với chính mình: “Đó là dự án tồi tệ mà mình đã làm”’.
Tim Huls là một nông dân sản xuất bơ sữa trong một gia đình nông dân lâu đời. “Ông cố, bà cố tôi là một trong những người đầu tiên trong gia đình lập nghiệp ở đây từ năm 1912. Họ mua 40 mẫu đất khi đó vẫn còn rất rẻ và nuôi một tá bò sữa để mỗi ngày bỏ ra hai tiếng đồng hồ vắt sữa bằng tay vào buổi sáng và buổi tối. Rồi ông tôi lại mua thêm 110 mẫu nữa với giá chỉ vài xu một mẫu. Ông bán kem từ sữa bò để làm pho mát, trồng táo và cỏ. Nhưng phải rất cố gắng mọi người mới sống được. Hồi đó có những thời điểm rất khó khăn nhưng ông bà tôi vẫn tồn tại bằng chính đôi tay của mình trong khi đó một số nông dân khác thì không thể. Cha tôi đã định đi học đại học nhưng rồi ông quyết định tiếp tục ở lại nông trại. Ông là người biết nhìn xa trông rộng và có trí sáng tạo, với những quyết định kinh doanh quan trọng, ông trở thành một chuyên gia sản xuất bơ sữa. Ông đã xây dựng chuồng trại nuôi 150 con bò sữa như một cách để tăng thu nhập từ đất đai.
Anh em trai chúng tôi mua lại nông trại từ cha mẹ chứ họ không cho không chúng tôi. Cha mẹ bán đất cho chúng tôi bởi họ nghĩ người nào thực sự muốn làm nông nghiệp thì người đó sẽ sẵn sàng bỏ tiền để mua nông trại. Mỗi cặp vợ chồng chúng tôi sở hữu một mảnh đất và cho công ty của gia đình thuê lại. Phần lớn công việc trong nông trại đều do vợ chồng, con cái chúng tôi làm; chỉ có vài người làm công là người ngoài gia đình. Có rất ít nông trại hoạt động theo hình thức công ty như chúng tôi. Một trong những điều giúp chúng tôi thành công, đó là tất cả chúng tôi đều có chung một đức tin và đều đi lễ nhà thờ ở Corvallis. Tất nhiên chúng tôi cũng có những xung đột gia đình, nhưng chúng tôi tranh cãi vì những lợi ích chung và tối về vẫn là bạn của nhau. Cha mẹ tôi cũng đôi khi cãi nhau, nhưng họ luôn giải quyết ổn thỏa mọi việc trước khi mặt trời lặn. Chúng tôi biết những ngọn đồi nào đáng để trồng trọt, chăn nuôi, những ngọn đồi nào không.
Bằng cách nào đó, tinh thần gia đình này đã truyền sang hai con trai tôi. Chúng học cách hợp tác với nhau ngay từ khi còn bé. Khi đứa nhỏ mới có bảy tuổi, chúng đã cùng nhau chuyển những đoạn ống nước bằng nhôm dài khoảng 12 mét, mỗi đường ống gồm 16 đoạn như vậy. Mỗi đứa một đầu ống, hai anh em cùng nhau chuyển hết số ống này. Sau này khi lớn lên phải rời thị trấn, hai anh em lại ở chung một phòng và trở thành bạn thân của nhau. Tới giờ chúng vẫn sống cạnh nhau. Những gia đình khác lấy hai anh em làm gương để dạy con cái họ duy trì chặt chẽ mối quan hệ gia đình, nhưng những đứa trẻ của các gia đình khác không mấy gắn bó với nhau, mặc dù dường như chúng cũng đang làm những công việc như gia đình tôi.
Kinh tế nông trại rất eo hẹp, bởi đất ở Bitterroot chỉ có giá trị cao khi dùng để ở hoặc xây nhà để bán. Nông dân trong vùng hiện đang phải đối mặt với quyết định khó khăn: có nên tiếp tục làm nông trại hay bán đất và nghỉ hưu? Chẳng có vụ mùa nào có thể cạnh tranh được với việc bán đất làm nhà, do vậy chúng tôi cũng không đủ tiền để mua thêm đất. Thay vào đó, điều quyết định sự sống còn của chúng tôi là hoặc tự tìm cách sản xuất hiệu quả nhất trên mảnh đất 760 mẫu của mình hoặc thuê của người khác. Chi phí sản xuất, như giá xe tải, đã tăng nhưng giá bán sữa thì vẫn giữ nguyên như cách đây 20 năm. Làm sao chúng tôi có thể thu được lợi nhuận khi có sự chênh lệch lớn tới vậy? Chúng tôi phải áp dụng công nghệ mới và phải tiếp tục tự học để ứng dụng công nghệ hiện đại vào nông trại của mình, việc này đòi hỏi phải có vốn. Chúng tôi sẵn sàng từ bỏ lối sản xuất lạc hậu.
Ví như, năm nay chúng tôi đã chi một khoản vốn lớn để xây dựng một trại nuôi 200 con bò được điều hành bằng máy tính. Trại này có hệ thống tự động dọn phân bò và di chuyển hàng rào để dồn bò về phía một máy vắt sữa tự động và sau khi bò được vắt sữa thì chúng sẽ được tự động chuyển ra ngoài. Tất cả bò đều được máy tính nhận diện và được vắt sữa bằng một máy tính tại chuồng của nó. Sản lượng sữa được máy kiểm tra ngay lập tức nhằm sớm phát hiện tình trạng nhiễm trùng, sữa cũng được cân để theo dõi sức khỏe của bò và những chất dinh dưỡng cần thiết bổ sung cho bò. Dựa trên những thông tin từ máy tính, chúng tôi sẽ phân loại bò vào những chuồng khác nhau. Nông trại của chúng tôi hiện được coi là mô hình mẫu cho toàn bang Montana. Những nông dân khác đang để ý xem nông trại của chúng tôi hoạt động như thế nào.
Bản thân chúng tôi cũng có một số nghi ngờ hiệu quả của nông trại hiện đại này, do có hai rủi ro nằm ngoài sự kiểm soát của chúng tôi. Nhưng nếu chúng tôi còn chút hy vọng vào nghề nông thì chúng tôi phải hiện đại hóa công việc này, nếu không chúng tôi sẽ chỉ còn cách bán đất xây nhà mà thôi. Ở đây, đất chỉ dùng để nuôi bò hoặc xây nhà để bán. Một trong số hai rủi ro nằm ngoài sự kiểm soát của chúng tôi đó là khoảng chênh lệch giữa giá của các thiết bị và dịch vụ nông nghiệp mà chúng tôi phải mua và giá bán sữa. Nông dân sản xuất bơ sữa không thể kiểm soát được giá sữa. Sữa của chúng tôi có thể bị thối; khi đã vắt, chúng tôi chỉ có hai ngày để đưa sữa đi bán, vì vậy chúng tôi không có quyền mặc cả. Chúng tôi bán sữa theo giá mà người mua đưa ra.
Một rủi ro khác nữa là công chúng ngày càng quan tâm tới các vấn đề môi trường, trong đó có việc chúng tôi đối xử với động vật như thế nào, chất thải của gia súc và mùi bơ sữa. Chúng tôi đã gắng hết sức để kiểm soát những tác động này, nhưng chắc không thể làm hài lòng tất cả mọi người. Nhiều người chuyển đến Bitterroot vì cảnh đẹp nơi đây. Ban đầu họ thích nhìn những con bò và những đồng cỏ xa xa, nhưng đôi khi họ không hiểu hết rằng tất cả những cảnh đẹp đó là từ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt sản xuất bơ sữa. Ở những vùng khác, nơi sản xuất bơ sữa và xây dựng nhà ở cùng tồn tại, việc phản đối sản xuất bơ sữa chỉ do mùi bơ sữa, tiếng động của thiết bị hoạt động ban đêm, với tiếng ầm ì của những chiếc xe tải chạy “trên những con đường nông thôn tĩnh lặng” và nhiều điều khác. Nhưng ở đây chúng tôi thậm chí còn bị trách cứ khi đôi giày trắng của một người hàng xóm dẫm phải phân bò khi chạy tập thể dục. Một trong những mối lo của chúng tôi là những người không thông cảm với việc chăn nuôi gia súc có thể đề nghị áp dụng biện pháp nào đó hạn chế hay cấm sản xuất bơ sữa. Hai năm trước, chính quyền đã từng quy định cấm săn bắn trong những nông trại sinh thái khiến các nông trại nuôi hươu bị phá sản. Trước đây chúng tôi không bao giờ nghĩ rằng chính quyền sẽ tái áp dụng quy định này, nhưng giờ thì hoàn toàn có thể, nếu chúng tôi không thận trọng. Trong một xã hội đề cao sự khoan dung, thì thật ngạc nhiên khi một số người không thể chấp nhận ngành chăn nuôi gia súc và những khó khăn của ngành sản xuất thực phẩm.”
Câu chuyện cuối cùng trong bốn câu chuyện về cuộc đời của người dân Montana mà tôi trích dẫn là chuyện của John Cook, một người dạy câu cá kiên nhẫn vô hạn dạy các con tôi câu cá từ năm chúng mới 10 tuổi và từ bảy năm nay, mùa hè nào cũng đưa chúng ra bờ sông Bitterroot câu cá. John Cook kể: “Tôi lớn lên bên một vườn táo ở thung lũng Wenatchee, bang Washington. Cuối năm học trung học, tôi đã sống như một gã hippy hoang dã và định đi mô tô tới Ấn Độ, nhưng tôi chỉ mới đi tới bờ biển phía đông nước Mỹ. Hồi đó, tôi đã đi du lịch khắp nước Mỹ. Sau khi gặp vợ tôi là Pat, chúng tôi chuyển tới bán đảo Olympic của Washington và sau đó tiếp tục chuyển tới đảo Kodiak ở Alaska, nơi tôi làm việc 16 năm liền với tư cách là người bảo vệ các loài thủy sản và động vật hoang dã. Rồi chúng tôi chuyển xuống Portland, để Pat có thể chăm sóc ông bà cô ấy đang bị ốm. Ông bà lần lượt qua đời, sau khi ông mất một tuần, chúng tôi rời Portland tới Montana.
Tôi tới Montana lần đầu tiên từ những năm 1970, khi cha của Pat còn là hướng dẫn viên trong khu hoang dã Selway-Bitterroot của Idaho, ngay sát ranh giới Montana. Pat và tôi từng làm việc cho ông trong một thời gian, Pat nấu ăn còn tôi làm hướng dẫn viên. Hồi đó, Pat đã rất thích sông Bitterroot và muốn được sống cạnh nó, nhưng đất ở đây giá hàng ngàn đô-la một mẫu, quá đắt để chúng tôi có thể mua được một nông trại. Sau đó năm 1994, khi định rời Porland, chúng tôi có cơ hội mua được một lô đất rộng 10 mẫu gần sông Bitterroot với giá hợp với khả năng của mình. Nông trại cần phải sửa chữa một chút, nên chúng tôi bỏ ra mấy năm để cải tạo nó, đồng thời tôi cũng được cấp giấy phép làm hướng dẫn viên và dạy câu cá.
Chỉ có hai nơi trên thế giới tôi cảm thấy gắn bó sâu sắc về mặt tinh thần: một là vùng bờ biển Oregon và hai là ở thung lũng Bitterroot này. Khi mua nông trại này, chúng tôi nghĩ nó là một thứ “tài sản chết”, đó là căn nhà chúng tôi sẽ sống nốt phần đời còn lại. Ngay ở đây, trên mảnh đất này, chúng tôi nuôi những con cú lớn, những con chim trĩ, chim cút, những con vịt trời và một đồng cỏ lớn đủ để nuôi hai con ngựa.
Con người có thể được sinh ra đúng một thời điểm mà họ cảm thấy thật đáng sống và có thể họ không muốn sống ở thời điểm khác. Tình yêu của chúng tôi với thung lũng này vẫn nguyên vẹn như cách đây 30 năm. Kể từ đó tới nay, số dân trong thung lũng đã tăng lên nhiều. Tôi sẽ không còn muốn sống ở đây nếu thung lũng trở thành một nơi chật chội với cả triệu người sống trong thung lũng, giữa Missoula và Darby. Phong cảnh thoáng đãng là điều cực kỳ quan trọng đối với tôi. Khu đất bên kia đường, đối diện với nhà tôi, trước đây là một nông trại có chiều dài hơn 3 kilômét và rộng 1,6 kilômét trong đó có một đồng cỏ rộng, với hai trại nuôi chăn nuôi và một khu nhà. Khu đất này thuộc sở hữu của một ca sĩ nhạc rock kiêm diễn viên tên là Huey Lewis, từ nơi khác chuyển đến. Mỗi năm, anh ta chỉ tới đây chừng một tháng để săn bắn và câu cá, thời gian còn lại một người quản gia sẽ chăn bò, trồng cỏ hoặc cho nông dân thuê bớt một phần đất. Nếu khu đất của Huey Lewis bị chia thành những lô nhỏ, tôi sẽ không chịu được cảnh những căn nhà chắn trước mặt mình, khi đó tôi sẽ chuyển đi nơi khác.
Tôi thường tưởng tượng rồi mình sẽ chết như thế nào. Cha tôi đã chết dần chết mòn do bị bệnh phổi. Ông mất khả năng kiểm soát cuộc sống của mình và năm cuối đời, ông phải sống trong đau đớn. Tôi không muốn chết như vậy. Nghe có vẻ nhẫn tâm, nhưng tôi đã tưởng tượng mình sẽ chết như thế nào nếu được lựa chọn. Tôi tưởng tượng Pat sẽ chết trước tôi. Lý do bởi khi chúng tôi cưới nhau, tôi đã thề sẽ yêu thương, tôn trọng và chăm sóc bà ấy. Nếu bà ấy chết trước, tôi biết mình đã thực hiện trọn vẹn lời hứa. Cũng bởi tôi không có bảo hiểm nhân thọ để hỗ trợ bà ấy, nên bà ấy sẽ khổ nếu sống lâu hơn tôi. Sau khi Pat mất – tôi tiếp tục tưởng tượng – tôi sẽ di chúc căn nhà này cho con trai tôi là Cody và hằng ngày đi câu cá hồi khi còn đủ sức khỏe. Khi không còn đi câu được nữa, tôi sẽ kiếm một liều morphine lớn và đi sâu vào rừng. Tôi sẽ chọn một nơi thật xa để không ai có thể tìm ra thi thể tôi, để tôi có thể tận hưởng những cảnh đẹp tuyệt vời. Tôi sẽ nằm xuống, ngửa mặt lên trời và tiêm morphine vào người. Đó là cách chết tốt nhất, chết đúng cách mà tôi đã chọn lựa với cảnh cuối cùng là bầu trời Montana mà tôi muốn mang theo.”
Tóm lại, câu chuyện cuộc đời của bốn người Montana, và những nhận xét của tôi trước đó, cho thấy người Montana có những giá trị và mục đích khác nhau. Họ muốn dân số tăng lên hay giảm đi, quy định của chính phủ chặt chẽ hay nới lỏng hơn, đất nông nghiệp nên được phân thành các lô nhỏ hay xây nhà để bán, duy trì hay nới lỏng mục đích sử dụng đất nông nghiệp, tăng cường hay giảm mức độ khai thác tài nguyên, chú trọng phát triển hay giảm các hoạt động du lịch ngoài trời. Mục tiêu của những người dân Montana này rõ ràng trái ngược với nhau.
Trong phần trước của chương này, chúng ta biết rằng những vấn đề môi trường mà Montana đang phải đối mặt hiện đã chuyển thành các vấn đề kinh tế. Do những giá trị và mục tiêu trái ngược nhau như chúng ta vừa đề cập bên trên nên sẽ dẫn tới những mâu thuẫn về phương pháp giải quyết các vấn đề môi trường, có lẽ sẽ gắn liền với khả năng thành công hay thất bại khi giải quyết chúng. Hiện đang có mâu thuẫn lớn giữa các ý kiến lựa chọn những phương pháp tốt nhất. Chúng ta không biết cuối cùng những công dân Montana sẽ chọn phương pháp nào, và chúng ta cũng không biết liệu các vấn đề môi trường và kinh tế của Montana sẽ tốt hơn hay xấu đi.
Ban đầu có vẻ vô lý khi chọn Montana là đối tượng của chương đầu tiên cuốn sách viết về sự sụp đổ của xã hội. Không phải Montana nói riêng, cũng như nước Mỹ nói chung, đang bên bờ vực sụp đổ. Nhưng xin hãy lưu ý rằng một nửa thu nhập của cư dân Montana không phải từ việc làm của họ ở Montana, mà là từ những nguồn tiền khác ngoài Montana đổ vào, như các khoản thanh toán cho an ninh xã hội, y tế, bảo hiểm y tế và các chương trình hỗ trợ nghèo khổ của chính quyền liên bang, và tiền của các cá nhân từ nơi khác chuyển đến như tiền lương hưu, khoản chênh lệch nhờ bán nhà đất ở nơi khác và thu nhập từ kinh doanh ở nơi khác. Như vậy, có thể thấy nền kinh tế của Montana giờ đã không còn đủ khả năng đáp ứng lối sống của Montana, thay vào đó phải trông chờ vào sự hỗ trợ và phụ thuộc vào phần còn lại của nước Mỹ. Nếu Montana là một hòn đảo biệt lập, như đảo Phục Sinh ở Thái Bình Dương trong thời kỳ của người Polynesia trước khi người châu Âu đặt chân tới, thì nền kinh tế của Thế giới thứ nhất sẽ bị sụp đổ, cũng như không thể phát triển thành nền kinh tế hàng đầu.
Cũng nên suy ngẫm rằng các vấn đề môi trường của Montana mà chúng ta đang thảo luận, mặc dù nghiêm trọng, nhưng vẫn ít khốc liệt hơn nhiều so với những vấn đề môi trường ở các nơi khác của nước Mỹ; hầu như cả nước Mỹ đều gặp phải vấn đề dân số quá đông và những tác động tới con người cũng nặng nề hơn, và đa phần những bang khác đều có môi trường dễ bị tổn hại hơn Montana. Cuối cùng, nước Mỹ lại bị lệ thuộc vào những nguồn tài nguyên quan trọng của các quốc gia khác có liên quan tới các mặt kinh tế, chính trị và quân sự của nước Mỹ. Mặc dù một số quốc gia đó còn gánh chịu những vấn đề môi trường khắc nghiệt hơn nhiều và đang trong tình trạng suy thoái mạnh mẽ hơn Mỹ nhiều lần.
Trong phần còn lại của cuốn sách, chúng ta sẽ xem xét các vấn đề môi trường, tương tự như của Montana, của một số xã hội hiện đại và xã hội cổ xưa. Đối với những xã hội cổ xưa mà chúng ta sẽ thảo luận, một nửa xã hội đó không có chữ viết, vì vậy chúng ta biết rất ít về những giá trị và mục tiêu của mỗi cá nhân so với Montana. Đối với các xã hội hiện đại, thông tin về những giá trị và các mục tiêu cũng sẵn có, nhưng ở Montana bản thân tôi có nhiều kinh nghiệm hơn so với những nơi khác. Bởi vậy, khi bạn đọc cuốn sách này cũng như khi bạn xem xét những vấn đề môi trường chủ yếu được diễn đạt một cách khách quan, xin hãy nghĩ về những vấn đề của các xã hội khác được nhìn nhận dưới góc độ cá nhân như Stan Falkow, Rick Laible, Chip Pigman, Tim Huls, John Cook và anh chị em nhà Hirschy. Khi chúng ta thảo luận về xã hội rõ ràng thuần nhất của đảo Phục Sinh trong chương tiếp theo, hãy hình dung mỗi tù trưởng, mỗi nông dân, thợ khắc đá, và ngư dân đánh bắt cá heo trên đảo Phục Sinh đang thuật lại cuộc đời, những giá trị và mục đích riêng của họ như các bạn tôi ở Montana đã kể với tôi.
1. Dãy Đại lục phân thủy (gốc là “Continental Divide”): chỉ đường nối liền các đỉnh núi của dãy núi Rocky ở phía Bắc Mỹ và dãy Andes ở Nam Mỹ. (BT)
2. Sông Blackfoot nổi tiếng với cá hồi trong tiểu thuyết của Norman Maclean và trong phim A river runs through it (tạm dịch: Dòng sông chảy qua) của Robert Redford.
3. Ngày 19/8/2003, khi bay tới sân bay Missoula, tôi đã đếm được hàng tá đám cháy, khói bốc lên che lấp tầm nhìn trong khoảng cách tới vài kilômét.
4. 3,78 lít. (ND)