SỤP ĐỔ

Lượt đọc: 1954 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN II. NHỮNG XÃ HỘI CỔ XƯA
CHƯƠNG 2
sự suy thoái của xã hội phục sinh

Mỏ đá bí ẩn - Địa lý và lịch sử của đảo Phục Sinh - Con người và lương thực - Tù trưởng, thị tộc và thường dân  Những bệ đá và các tượng - Tạc đẽo, vận chuyển và dựng tượng - Những khu rừng biến mất - Hậu quả đối với xã hội - Người châu Âu và những lý giải - Tại sao Phục Sinh dễ bị tổn hại? - Phục Sinh như một phép ẩn dụ.

Chưa có nơi nào tôi từng đến lại gây cho tôi cảm giác rờn rợn như mỏ đá Rano Raraku trên đảo Phục Sinh, nơi có những tượng đá khổng lồ nổi tiếng (Phụ bản 5). Trước hết, đảo này là vùng đất xa xôi nhất thế giới mà con người có thể sống được. Vùng đất gần nhất là bờ biển Chile cách đó 3.700 kilômét về phía đông và quần đảo Pitcairn của người Polynesia cách 1.389 kilômét về phía tây (bản đồ trang 84-85). Năm 2002, khi từ Chile tới đây, tôi phải bay mất hơn năm tiếng đồng hồ trên biển Thái Bình Dương trải dài vô tận giữa chân trời, dưới cánh máy bay chỉ thấy toàn là nước. Cuối cùng, khi mặt trời xuống chúng tôi cũng thấy đảo Phục Sinh như một đốm nhỏ hiện lờ mờ trong cảnh chiều nhập nhoạng. Trước đó tự nhiên tôi bỗng lo lắng không biết liệu có tìm ra hòn đảo trước khi trời tối hay không, và máy bay có đủ nhiên liệu để quay về Chile nếu chẳng may bay quá và không tìm thấy đảo Phục Sinh. Nếu không có những chuyến thám hiểm bằng thuyền lớn của người châu Âu trong những thế kỷ gần đây thì có lẽ hòn đảo này không phải là chỗ mà con người mong khám phá và tới định cư.

Rano Raraku là một miệng núi lửa gần như tròn có đường kính khoảng 550 mét, từ đồng bằng thấp phía ngoài, tôi theo một con đường mòn dựng đứng tới mép núi lửa, sau đó lại theo con dốc cheo leo xuống một đầm lầy dưới đáy miệng núi lửa. Ngày nay xung quanh nơi đây không có người sinh sống. Rải rác cả bên trong và bên ngoài miệng núi lửa là 397 tượng đá được tạc đẽo cách điệu hóa hình những thân mình đàn ông không chân, tai dài, đa số có chiều cao từ 4,5 - 6 mét nhưng bức lớn nhất có chiều cao tới 21 mét (cao hơn cả một tòa nhà năm tầng trung bình) và nặng từ 10-270 tấn. Vết tích còn lại của một con đường vận chuyển dẫn ra khỏi miệng núi lửa qua một hẻm núi xuyên dẫn vào một điểm thấp trên bờ miệng núi lửa vẫn còn hiện rõ. Từ đó, thêm ba con đường nữa rộng khoảng 7,6 mét tỏa ra các hướng bắc, nam và tây dài tới 15 kilômét đi về phía các bờ biển của đảo Phục Sinh. Rải rác dọc theo những con đường có thêm 97 tượng nữa, dường như chúng bị bỏ lại trong quá trình vận chuyển từ mỏ đá ra. Dọc theo bờ biển và rải rác sâu bên trong đất liền có khoảng 300 bệ đá, 1/3 số đó trước đây dùng làm nền hoặc để dựng khoảng 393 bức tượng nữa, chỉ vài thập kỷ trước tất cả số tượng này còn chưa được dựng lên mà nằm nghiêng ngả, nhiều bức bị đổ, ở cổ có dấu vết như bị ai đó cố tình phá hoại.

Từ miệng núi lửa, tôi có thể nhìn thấy bệ đá gần nhất và to nhất (gọi là Ahu Tongariki), nơi có 15 bức tượng đổ mà nhà khảo cổ Claudio Cristino cho tôi biết năm 1994 ông đã dùng một cần cẩu có trọng lượng nâng 55 tấn để dựng lại số tượng này. Mặc dù sử dụng thiết bị hiện đại nhưng Claudio vẫn gặp không ít khó khăn bởi tượng lớn nhất của Ahu Tongariki nặng tới 88 tấn. Vậy mà người dân tiền sử Polynesia của đảo Phục Sinh không hề có cần cẩu, xe trượt, không máy móc, không một dụng cụ kim loại, không súc vật kéo và chẳng hề có một phương tiện nào khác ngoại trừ sức người để vận chuyển và dựng những tượng đá khổng lồ này.

Số tượng bị bỏ lại ở mỏ đá đều đang trong các giai đoạn hoàn thiện. Một số vẫn còn gắn vào tảng đá mà chúng đang được tạc đẽo, tượng đã được phác họa nhưng còn thiếu những họa tiết tay và tai. Một số khác đã hoàn thiện, được tách ra khỏi tảng đá gốc và nằm trên sườn của miệng núi lửa dưới chỗ chúng đã được tạc và một số tượng đã được dựng lên bên miệng núi lửa. Mỏ đá khiến tôi có cảm giác rùng rợn khi thấy mình như đang đứng giữa một công trường, đột nhiên tất cả công nhân bỏ chạy vì những lý do bí ẩn nào đó, vứt lại đồ nghề của mình và để mặc những bức tượng vẫn còn dang dở. Bừa bộn trên mỏ đá là những dụng cụ tạc đẽo đá, những mũi đục và những chiếc búa đang dùng để tạc tượng. Xung quanh những bức tượng vẫn còn dính vào tảng đá gốc là những chiếc hào để những thợ điêu khắc đứng vào đó làm việc. Khắc sâu vào những bức tường đá là những vết khía dường như trước đây các thợ điêu khắc treo bầu đựng nước ở đó. Một số tượng trong miệng núi lửa có những dấu hiệu như bị kẻ nào đó cố tình phá hoại hay làm cho chúng trông xấu xí, như thể có những nhóm thợ điêu khắc kình địch cố ý phá hoại những tác phẩm của người khác. Người ta tìm thấy dưới một bức tượng có một lóng xương ngón tay người, có thể đó là hậu quả khi một người trong nhóm vận chuyển tượng bất cẩn bị tai nạn. Nhưng ai đã tạc những tượng này và bằng cách nào họ tạc và dựng được những bức tượng lớn như vậy? Tại sao họ lại cố tình lật đổ chúng?

Ngay khi mới đặt chân lên đảo Phục Sinh vào Ngày Phục Sinh (5/4/1722)5, ông Jacob Roggeveen6, đã nhận ra ra nhiều điều bí ẩn của hòn đảo này. Xuất phát từ Chile, ba chiếc thuyền lớn của châu Âu lênh đênh vượt biển Thái Bình Dương trong suốt 17 ngày mà không hề thấy bóng đất liền, Roggeveen phân vân không biết người Polynesia sẽ chào đón ông như thế nào khi tàu của ông cập bờ biển Phục Sinh, đặt chân lên một hòn đảo xa xôi như vậy? Hiện chúng ta biết rằng đi tới đảo Phục Sinh từ đảo gần nhất của người Polynesia ở hướng tây cũng phải mất ít nhất chừng đó thời gian. Vì vậy Roggeveen và những du khách châu Âu sau này đã rất ngạc nhiên khi thấy loại thuyền duy nhất của cư dân trên đảo chỉ là những chiếc thuyền độc mộc bé nhỏ và yếu ớt, dài không quá hơn 3 mét và chỉ có thể chở một hay nhiều lắm là hai người. Theo lời Roggeveen: “Những chiếc thuyền của họ rất xấu và mỏng mảnh, chúng được ghép bằng nhiều tấm ván nhỏ, bên trong lát gỗ nhẹ và được đan lại với nhau một cách khéo léo bằng những sợi dây bện rất chắc làm từ một loại cây. Nhưng do thiếu kiến thức và nhất là không có những vật liệu dùng để trám xuồng và để những điểm ghép giữa các tấm ván không bị thấm nước, bởi vậy thuyền rất yếu buộc họ phải mất một nửa thời gian để tát nước.” Làm thế nào để một nhóm người di cư cùng với cây giống, những con gà và nước uống có thể sống sót trong chuyến đi biển kéo dài tới hai tuần rưỡi chỉ bằng những chiếc thuyền như thế này?

Cũng như tất cả các du khách sau này, trong đó có tôi, Roggeveen không hiểu cư dân trên đảo làm thế nào để dựng những bức tượng của họ. Nhật ký của ông viết: “Đầu tiên, hình ảnh những tượng đá khiến chúng tôi kinh ngạc bởi không biết làm sao những cư dân trên đảo có thể làm như vậy khi họ hoàn toàn không có những loại cây gỗ lớn để có thể chế tạo bất kỳ thiết bị nào cũng như những loại dây chão chắc khỏe. Nhưng họ đã dựng được những tượng lớn cao hơn 9 mét với độ dày tương ứng.” Roggeveen nhận ra rằng, cho dù cư dân trên đảo có dùng bất cứ phương pháp nào để dựng tượng, thì chắc chắn họ phải dùng những thanh gỗ lớn và những sợi dây chắc khỏe làm từ những cây gỗ lớn. Nhưng như chính mắt ông thấy, đảo Phục Sinh là một vùng đất khô cằn không có lấy một cây gỗ hay một bụi rậm nào cao quá 3 mét (các phụ bản 6,7): “Ban đầu từ xa chúng tôi thấy đảo Phục Sinh như một đảo cát, lý do bởi chúng tôi tin rằng cát đã phủ lên những thảo nguyên, khiến cỏ bị tàn lụi, làm khô héo hay đốt cháy các loài thực vật khác, bởi bề ngoài khô cằn của hòn đảo khiến người ta có ấn tượng rằng đó là một vùng đất đặc biệt cằn cỗi và nghèo nàn”. Vậy điều gì đã xảy ra với những loài cây chắc hẳn đã từng mọc ở đây?

Việc tổ chức đục đẽo, vận chuyển và dựng tượng đòi hỏi xã hội đó phải là xã hội đông dân, dồi dào tài nguyên sống trong một môi trường đủ giàu để hỗ trợ công việc này. Số lượng và quy mô của tượng đá cho thấy dân số trên đảo phải nhiều hơn số lượng chỉ vài ngàn người mà những nhà thám hiểm châu Âu trong thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX đã thấy: Vậy điều gì đã xảy ra với dân số lớn trước đây? Việc đục đẽo, vận chuyển và dựng tượng đòi hỏi phải có nhiều thợ lành nghề: Vậy những người này được nuôi ăn như thế nào, khi Roggeveen đặt chân lên đảo Phục Sinh thì đảo không hề có loài động vật lớn nào, ngoại trừ những loài côn trùng và vật nuôi chỉ có mỗi loài gà? Phục Sinh được coi là xã hội phát triển còn bởi sự phân bố rải rác các nguồn tài nguyên trên đảo với một mỏ đá gần cực Đông, những loại đá tốt dùng để chế tạo công cụ sản xuất ở phía tây nam, một bãi biển rất tốt để ra khơi đánh cá ở phía tây bắc và phần đất canh tác tốt nhất ở phía nam. Việc khai thác và phân phối lại tất cả những tài nguyên đó sẽ đòi hỏi một hệ thống có khả năng thống nhất kinh tế trên toàn đảo: Vậy tại sao nó lại có thể biến thành cảnh khô cằn và bần hàn tới mức này và điều gì đã xảy ra với xã hội trên đảo.

Trong suốt ba thế kỷ qua, có rất nhiều những suy đoán xung quanh những bí ẩn đó. Nhiều người châu Âu tỏ ý nghi ngờ khả năng người Polynesia, “những người man rợ”, lại có thể tạo ra những bức tượng hay những bệ đá đẹp tới vậy. Nhà thám hiểm người Na Uy Thor Heyerdahl không công nhận giả thuyết rằng người Polynesia đã di cư ra ngoài châu Á, từ phía tây Thái Bình Dương. Theo ông, các xã hội tiên tiến của thổ dân Nam Mỹ từ phía đông Thái Bình Dương đã định cư trên đảo Phục Sinh, rồi sau đó chắc hẳn những xã hội này đã tiếp nhận văn minh từ những xã hội tiên tiến hơn của Cựu Thế giới ở phía bên kia Đại Tây Dương. Heyerdahl đã tổ chức chuyến thám hiểm Kon-Tiki nổi tiếng và những chuyến đi biển bằng bè mảng nhằm chứng minh những chuyến vượt đại dương của người tiền sử là hoàn toàn khả thi, và để chứng minh mối quan hệ giữa những kim tự tháp của người Ai Cập, những kiến trúc vĩ đại bằng đá của đế chế Inca ở Nam Mỹ với những tượng đá khổng lồ trên đảo Phục Sinh. Sự quan tâm của tôi tới đảo Phục Sinh được nhen lên từ hơn 40 năm trước khi đọc cuốn sách thuật lại chuyến thám hiểm Kon-Tiki của Heyerdahl và những lý giải lãng mạn của ông về lịch sử của Phục Sinh. Hồi đó, tôi nghĩ không gì có thể bác bỏ những lý giải tuyệt vời này. Xa hơn nữa, học giả người Thụy Sĩ Erich von Däniken, người luôn tin rằng có một nền văn minh ngoài trái đất, cho rằng những tượng đá trên đảo Phục Sinh là tác phẩm của những người ngoài hành tinh với những công cụ cực kỳ hiện đại. Những người này bị mắc kẹt trên đảo Phục Sinh và sau đó đã được giải cứu.

Lý giải chính thức cho những bí ẩn này hiện đã thừa nhận việc tạc đẽo tượng là do con người thực hiện với những dụng cụ đẽo đá và những công cụ khác rõ ràng vẫn còn bừa bộn ở Rano Raraku chứ không phải do những yếu tố vũ trụ thần thoại, và do những cư dân Polynesia của đảo Phục Sinh chứ không phải người Inca hay người Ai Cập. Lịch sử đảo Phục Sinh cũng lãng mạn và hấp dẫn như chuyến vượt đại dương bằng mảng Kon-Tiki hay những giả thuyết về sự viếng thăm của người ngoài trái đất, đồng thời cũng có liên quan nhiều hơn đến những sự kiện hiện đang diễn ra trong thế giới hiện đại. Lịch sử đảo Phục Sinh cũng rất phù hợp để mở đầu những chương về các xã hội cổ xưa, bởi nó là một minh chứng rõ ràng nhất mà chúng ta có thể thấy về một thảm họa sinh thái xảy ra ở một nơi hoàn toàn biệt lập.

Phục Sinh là một đảo hình tam giác trên đó bao trùm ba ngọn núi lửa tương đối gần nhau mọc lên từ đáy biển tại những thời điểm khác nhau từ hàng triệu năm trước, ngủ yên trong suốt thời gian con người sinh sống trên đảo. Núi lửa Poike lâu đời nhất phun lửa cách đây khoảng 600.000 năm (cũng có thể là 3 triệu năm trước), và giờ án ngữ góc đông nam của tam giác, sau đó tới lượt núi lửa Rano Kau hoạt động chắn phía tây nam. Khoảng 200.000 năm trước, núi lửa Terevaka trẻ nhất nằm gần góc phía bắc của tam giác phun dung nham hiện phủ tới 95% bề mặt đảo.

Phục Sinh rộng khoảng 106 kilômét vuông và ở độ cao 510 mét so với mực nước biển, khiêm tốn nhất so với các đảo khác của người Polynesia. Địa hình của đảo phần lớn là thoai thoải, không có những thung lũng sâu như quần đảo Hawaii. Ngoại trừ tại các miệng núi lửa có sườn dốc đứng và những đám bọt đá hình nón, thì tôi thấy có thể dễ dàng đi bộ ở bất cứ vùng đất nào trên đảo theo một đường thẳng để tới vùng lân cận, không như ở Hawaii hay Marquesas, nơi mà con đường kiểu đó sẽ nhanh chóng khiến tôi vấp đá ngã lộn cổ.

Nằm ở vùng khí hậu bán nhiệt đới ở vĩ độ 27o nam, giống như Miami giáp cực nam hay Đài Bắc ở cực bắc của xích đạo, nên Phục Sinh có khí hậu ôn hòa, trong khi nham thạch của những núi lửa làm cho đất đai thêm màu mỡ. Sự kết hợp của những thuận lợi này lẽ ra phải khiến hòn đảo trở thành một tiểu thiên đường, mà không gặp bất cứ khó khăn nào mà những nơi khác trên thế giới đang phải đối mặt. Tuy nhiên, vị trí địa lý của Phục Sinh đã gây ra một số khó khăn cho những người mới tới đây khai phá. Nếu khí hậu bán nhiệt đới là ấm áp khi so với mùa đông của Bắc Mỹ và châu Âu, thì nó lại lạnh nếu so với đa phần những vùng lãnh thổ Polynesia nhiệt đới. Tất cả những đảo khác có người Polynesia sinh sống, trừ New Zealand, Chathams, Norfolk và Rapa, đều nằm gần xích đạo hơn Phục Sinh. Bởi vậy, một số giống cây nhiệt đới quan trọng với người Polynesia ở những vùng khác, như cây dừa (mới du nhập vào Phục Sinh trong thời kỳ hiện đại), lại phát triển rất kém ở Phục Sinh, và đại dương bao quanh lại quá lạnh để các dải san hô có thể nhô lên gần mặt biển mang theo các loại cá và các loài giáp xác như tôm, cua. Khi lang thang xung quanh Teravaka và Poike, tôi và Barry Rolett phát hiện ra rằng Phục Sinh là một hòn đảo lộng gió, điều này gây khó khăn cho cả những nông dân cổ xưa và hiện nay. Gió làm rụng những quả sa kê, loại cây mới được du nhập lên đảo, khi chúng chưa kịp chín. Cùng với những yếu tố khác, sự biệt lập của Phục Sinh khiến nó không chỉ thiếu những loại cá sống trong dải san hô mà toàn bộ các loại cá nói chung. Phục Sinh chỉ có 127 loại cá so với hơn một ngàn loài cá của đảo Fiji. Tất cả những bất lợi địa lý này khiến nguồn lương thực của cư dân đảo Phục Sinh ít hơn so với hầu hết cư dân các đảo Thái Bình Dương khác.

Vấn đề còn lại liên quan tới vị trí địa lý của Phục Sinh là lượng mưa trung bình chỉ khoảng 128 xăngtimét mỗi năm, dường như quá nhiều so với vùng châu Âu Địa Trung Hải và miền nam California, nhưng lại thấp so với các vùng khác của người Polynesia. Cùng với những hạn chế do lượng mưa thấp gây ra, nước mưa rơi xuống còn nhanh chóng bị thấm vào lớp đất xốp của Phục Sinh, kéo theo hậu quả khan hiếm nước ngọt. Những nguồn cung cấp nước nước ngọt trên đảo là con suối duy nhất trên sườn núi Teravakas, nước lúc có lúc không, lúc tôi đến thì nó cạn trơ đáy; những chiếc hồ và đầm lầy dưới đáy của ba miệng núi lửa trên đảo, những chiếc giếng được đào ở những nơi có mực nước ngầm gần mặt đất và những bong bóng nước ngọt sủi lên trên đáy biển ngoài khơi xa hay giữa những đợt thủy triều lên xuống. Tuy nhiên, cư dân đảo Phục Sinh vẫn có thể kiếm đủ nước để uống, đun nấu và tưới cây, mặc dù rất vất vả.

Cả Heyerdahl và von Däniken đều phớt lờ những bằng chứng rất quan trọng chứng minh các cư dân đảo Phục Sinh chính là người Polynesia có nguồn gốc châu Á chứ không phải là từ châu Mỹ, và văn hóa của họ (kể cả những bức tượng) cũng bắt nguồn từ văn hóa của người Polynesia. Ngôn ngữ của họ là tiếng Polynesia, như thuyền trưởng Cook khẳng định trong chuyến đi ngắn của ông tới Phục Sinh năm 1774, một người Tahiti trong đoàn có thể trò chuyện với cư dân Phục Sinh. Điều đặc biệt là họ nói một thổ ngữ của người Polynesia ở phía đông mà người Hawaii và người Marquesa sử dụng, phần lớn rất giống với loại thổ ngữ tên là Early Mangarevan. Lưỡi câu, rìu đá, lao móc, cây giũa bằng san hô và những công cụ khác đều mang đặc trưng của người Polynesia và đặc biệt giống với những công cụ thủa sơ khai của người Marquesa. Nhiều chiếc xương sọ của cư dân Phục Sinh mang nét đặc trưng của người Polynesia gọi là “hàm cong”. Khi phân tích DNA lấy từ 12 bộ xương vùi dưới những bệ đá của Phục Sinh, tất cả 12 mẫu đều cho thấy có một đoạn gien mất chín cặp và ba đột biến thay cặp có trong gien của đa phần người Polynesia. Hai trong số ba đột biến thay cặp không có ở thổ dân Mỹ và vì vậy nó phủ nhận quan điểm của Heyerdahl rằng thổ dân châu Mỹ có đóng góp vào bộ gien của Phục Sinh. Các giống cây của Phục Sinh là chuối, khoai sọ, khoai lang, mía và cây dướng, phần lớn là các giống cây của người Polynesia có nguồn gốc ở Đông Nam Á. Vật nuôi duy nhất của Phục Sinh là gà, cũng là nét đặc trưng của người Polynesia và người châu Á, thậm chí cả những con chuột cũng theo những chiếc thuyền chở những cư dân đầu tiên tới Phục Sinh.

Sự di dân của người Polynesia tiền sử là sự bùng nổ mạnh mẽ nhất trong tiền sử học của loài người của việc thám hiểm bằng đường biển. Cho tới năm 1.200 TrCN, sự di cư của con người cổ đại từ lục địa châu Á qua quần đảo Indonesia tới Australia và New Guinea không tiến sâu vào Thái Bình Dương, chỉ tới quần đảo Solomon ở phía đông New Guinea. Thời gian đó, một dân tộc sinh sống bằng nghề trồng trọt và đi biển, rõ ràng có nguồn gốc từ quần đảo Bismarck, đông bắc New Guinea, và sản xuất ra đồ gốm được gọi là nghề gốm thủ công kiểu Lapita, đã vượt qua khoảng gần một ngàn dặm đường biển qua các đại dương bao la phía đông quần đảo Solomon để tới Fiji, Samoa và Tonga, trở thành tổ tiên của người Polynesia. Mặc dù không có la bàn, chữ viết và dụng cụ kim loại, nhưng người Polynesia là bậc thầy của nghệ thuật hàng hải và kỹ thuật bơi xuồng. Có rất nhiều bằng chứng khảo cổ học được giám định niên đại bằng các bon 14 như đồ gốm và các dụng cụ bằng đá, tàn tích của những ngôi nhà và những đền thờ, những mảnh vụn lương thực và những bộ xương người giúp xác định khoảng thời gian và tuyến đường trong sự bành trướng của dân tộc này. Vào khoảng năm 1200, người Polynesia đã tới được tất cả những vùng đất có thể sinh sống trong một tam giác toàn là biển mênh mông nước với ba đỉnh là Hawaii, New Zealand và đảo Phục Sinh.

Trước đây, các nhà lịch sử từng giả thiết rằng tất cả những đảo có người Polynesia sinh sống đều được phát hiện và đến định cư một cách ngẫu nhiên, như những chiếc thuyển chở đầy ngư dân bỗng nhiên bị vỡ chẳng hạn. Tuy nhiên, giờ đã rõ ràng cả những chuyến thám hiểm và di cư đều được lên kế hoạch kỹ càng. Trái ngược với những gì mọi người cho rằng đó là những chuyến đi biển lênh đênh bất ngờ, đa phần những nơi người Polynesia định cư nằm trên trục từ tây sang đông, ngược với hướng gió và dòng hải lưu từ đông sang tây. Có thể những đảo mới được những người đi biển phát hiện khi chèo thuyền ngược gió theo hướng đã định trước, hay chờ gió đổi hướng tạm thời, để tới những nơi xa lạ. Việc mang theo nhiều chủng loại giống cây và gia súc, từ cây khoai nước cho tới chuối, từ những con lợn cho tới chó, gà chứng tỏ việc định cư đã được những người khai hoang chuẩn bị kỹ lưỡng, họ mang theo những sản phẩm từ quê hương rất cần thiết để tồn tại trên vùng đất mới.

Làn sóng di dân đầu tiên của những người thợ gốm Lapita, tổ tiên của người Polynesia, tràn về hướng đông qua Thái Bình Dương, xa nhất cũng chỉ tới Fiji, Samoa và Tonga, mỗi đảo chỉ cách nhau vài ngày chèo thuyền. Những đảo phía tây của người Polynesia bị một khoảng đại dương rộng hơn nhiều lần chia cách với những đảo phía đông như các đảo Cook, quần đảo Society, Marquesa, Austral, Tuamotus, Hawaii, New Zealand, quần đảo Pitcairn và đảo Phục Sinh. Chỉ sau một thời gian “tạm nghỉ dài” khoảng 1.500 năm, cuối cùng khoảng cách này cũng bị chinh phục, không rõ có phải vì những tiến bộ của người Polynesia trong việc đóng thuyền và đi biển, hay do những thay đổi của dòng hải lưu, hoặc những hòn đảo xuất hiện làm bước đệm do mực nước biển rút xuống, hay chỉ là một chuyến đi biển may mắn. Khoảng thời gian từ năm 600-800 (thời gian cụ thể hiện vẫn đang gây tranh cãi), các đảo phía đông Polynesia gần các đảo phía tây nhất là Cook, các đảo Society và Marquesa đã bị chinh phục và trở thành điểm xuất phát cho những chuyến thám hiểm những hòn đảo còn lại. New Zealand được khám phá vào khoảng năm 1200, sau khi vượt qua một đại dương rộng ít nhất 2.000 hải lý và cuối cùng cuộc chinh phục những hòn đảo Thái Bình Dương mà con người có thể sinh sống đã hoàn tất.

Nhưng bằng tuyến đường nào người Polynesia đã đặt được chân lên đảo Phục Sinh, hòn đảo phía đông xa nhất? Những khó khăn do hướng gió và dòng hải lưu có thể khiến người Polynesia không thể chèo thuyền trực tiếp từ Marquesa, một đảo có dân cư đông đúc và dường như là điểm trung gian để tiếp tục chinh phục Hawaii, sang Phục Sinh. Thay vào đó, những điểm xuất phát để chinh phục Phục Sinh dường như là các đảo Mangareva, Pitcairn và Henderson, nằm giữa chặng đường từ Marquesa tới Phục Sinh. Số phận của cư dân các đảo này sẽ được thảo luận ở chương tiếp theo (Chương 3). Sự tương đồng giữa ngôn ngữ của Phục Sinh với tiếng Early Mangarevan, sự giống nhau giữa một bức tượng trên đảo Pitcairn với một số tượng trên đảo Phục Sinh, sự trùng khớp giữa các loại công cụ sản xuất của Phục Sinh với công cụ sản xuất trên đảo Mangareva và Pitcairn, sự tương ứng giữa những xương sọ người trên đảo Phục Sinh với hai xương sọ trên đảo Henderson thậm chí còn chặt chẽ hơn cả những xương sọ của người Marquesa. Tất cả cho thấy có thể người tiền sử đã sử dụng những đảo Mangareva, Pitcairn và Henderson làm điểm trung gian để tới Phục Sinh. Năm 1999, chiếc thuyền được tái tạo theo kiểu thuyền Hokulea của người Polynesia đã hoàn thành chuyến đi từ đảo Mangareva tới Phục Sinh trong thời gian 17 ngày. Với những người hiện đại không quen đi biển như chúng ta, thật khó tin rằng những ngư dân đã chèo xuồng sang phía đông từ đảo Mangareva lại may mắn bắt gặp một hòn đảo chỉ rộng dài 14 kilômét tính từ bắc sang nam, sau một chuyến đi biển dài ngày như vậy. Tuy nhiên, người Polynesia biết cách dự đoán chiều dài một hòn đảo trước khi nó hiện ra, căn cứ vào những đàn chim biển bay ra trên một bán kính 160 kilômét từ một vùng đất tới nơi tìm thức ăn. Vì vậy, đường kính chính xác của Phục Sinh (ban đầu là nơi cư ngụ của một số loài chim biển lớn nhất Thái Bình Dương) phải vào khoảng 320 kilômét, theo tính toán của những ngư dân Polynesia, chứ không phải chỉ có 14 kilômét.

Một truyền thuyết dân gian lưu truyền trong cư dân đảo Phục Sinh kể rằng thủ lĩnh chuyến di dân tới định cư trên hòn đảo của họ là một tù trưởng tên là Hotu Matu’a (tức “Người cha vĩ đại”) đi trên một hoặc hai chiếc thuyền lớn với vợ và sáu người con cùng đại gia đình. (Những người châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi tới đây đã ghi lại rất nhiều truyền thuyết do những cư dân còn sống sót trên đảo kể lại, chứa đựng những thông tin rõ ràng đáng tin cậy về cuộc sống trên đảo Phục Sinh trong hàng thế kỷ, hoặc trước thời điểm người châu Âu đặt chân tới đây, nhưng không chắc liệu những truyền thuyết này có ghi lại những chi tiết chính xác về những sự kiện xảy ra từ một ngàn năm trước không). Chúng ta sẽ thấy (ở Chương 3) rằng cư dân trên nhiều đảo khác của người Polynesia vẫn giữ liên lạc với nhau qua những chuyến đi biển thường xuyên giữa những hòn đảo sau khi được phát hiện và định cư. Có thể điều này cũng đúng với trường hợp của Phục Sinh và có thể sau Hotu Matu’a vẫn có những chiếc thuyền khác tiếp tục tới Phục Sinh. Nhà khảo cổ học Roger Green cho rằng có khả năng đó, dựa trên những điểm tương đồng giữa một số kiểu công cụ sản xuất của Phục Sinh với kiểu công cụ sản xuất của Mangareva tại thời điểm vài thế kỷ sau khi người Polynesia đã sinh sống trên đảo Phục Sinh. Tuy nhiên, bác lại giả thuyết này là hiện tượng Phục Sinh không có những vật nuôi truyền thống như chó, lợn và một số loại cây trồng điển hình của người Polynesia. Có ý kiến cho rằng, lẽ ra những giống vật nuôi và cây trồng này phải được những người đi biển sau này mang tới, trong trường hợp chúng đã được mang theo xuồng của Hotu Matu’a nhưng không thể sống trên đảo hay chết ngay khi ông vừa đặt chân lên đảo. Ngoài ra, trong chương tiếp theo chúng ta sẽ thấy rằng, một số công cụ sản xuất bằng đá được tìm thấy trên một hòn đảo lại có chứa những thành phần hóa học đặc biệt chỉ có trong đá của một hòn đảo khác, đó là một bằng chứng rõ ràng về việc có sự qua lại giữa các đảo Marquesa, Pitcairn, Henderson, Mangareva và Society, nhưng không hề có một viên đá nào có nguồn gốc từ Phục Sinh được tìm thấy trên những đảo khác và ngược lại. Bởi vậy, có thể khẳng định cư dân đảo Phục Sinh vẫn hoàn toàn biệt lập ở nơi tận cùng của thế giới, mà không có bất kỳ mối quan hệ nào với bên ngoài trong thời gian hàng ngàn năm, kể từ chuyến khám phá đầu tiên của Hotu Matu’a cho tới khi nhà thám hiểm Roggeveen đặt chân tới đây.

Giả sử đa phần đảo phía đông của người Polynesia có thể được định cư trong khoảng thời gian từ năm 600-800, khi đó đảo Phục Sinh đã được tìm ra chưa? Thời điểm định cư trên các hòn đảo của người Polynesia không mấy chắc chắn. Những tài liệu viết về đảo Phục Sinh thường cho rằng thời điểm đó vào khoảng năm 300 - 400, dựa trên những tính toán đặc biệt về thời điểm phân nhánh ngôn ngữ bằng kỹ thuật sắp xếp niên đại ngôn ngữ học (glottochronology) và ba niên đại được xác định bằng phương pháp các bon đồng vị phóng xạ với than củi được lấy tại Ahu Te Peu, lấy từ một chiếc hào ở Poike, và từ những trầm tích dưới lòng hồ cho thấy rừng đã bị chặt phá. Tuy nhiên, các chuyên gia về lịch sử đảo Phục Sinh ngày càng nghi ngờ những thời điểm sớm như vậy. Họ nghi ngờ độ chính xác của những tính toán bằng kỹ thuật sắp xếp niên đại ngôn ngữ học, nhất là khi áp dụng với những ngôn ngữ có lịch sử phức tạp như tiếng của người Phục Sinh (chúng ta biết chủ yếu thông qua, và có thể bị ảnh hưởng, từ ngôn ngữ của những người Tahiti và người Marquesa) và tiếng của người Mangareva (rõ ràng đã bị thay đổi tới lần thứ hai do những người Marquesa đến sau). Cả ba niên đại trên đều được xác định trên những mẫu đơn lẻ bằng kỹ thuật các bon đồng vị phóng xạ lạc hậu hơn và hiện không còn được sử dụng nên không đáng tin cậy, và cũng không có bằng chứng rằng các mẫu vật là than củi thực tế có liên quan tới con người.

Thay vào đó, dường như thời điểm định cư trên đảo Phục Sinh đáng tin cậy nhất là vào khoảng năm 900, được xác định bằng phương pháp đồng vị phóng xạ mà nhà cổ sinh vật học David Steadman và hai chuyên gia khảo cổ học Claudio Cristino và Patricia Vargas áp dụng đối với than gỗ và xương cá heo bị con người ăn thịt, và những bằng chứng từ những tầng khảo cổ học lâu đời nhất cho thấy sự hiện diện của con người trên bãi biển Anakena của đảo Phục Sinh. Thời kỳ đó, Anakena là bến đậu tốt nhất trên đảo, hiển nhiên những cư dân đầu tiên sẽ sinh sống ở đây. Công việc giám định niên đại trên xương cá heo được tiến hành bằng phương pháp các bon đồng vị phóng xạ hiện đại là AMS (Phép đo phổ khối lượng) và phương pháp Hiệu chỉnh tầng nước biển để tính niên đại bằng các bon 14 đối với xương của các loài sinh vật biển như cá heo được xác định khá chính xác. Những niên đại này dường như sát với thời gian định cư đầu tiên bởi chúng có nguồn gốc từ những tầng khảo cổ học có chứa xương của các loài chim bản địa sống trên đất liền đã bị tuyệt chủng rất nhanh trên đảo Phục Sinh và trên nhiều đảo Thái Bình Dương khác, và bởi những chiếc thuyền săn cá heo cũng sớm biến mất hoàn toàn. Bởi vậy, đánh giá đáng tin cậy nhất hiện nay về thời điểm định cư của con người trên đảo Phục Sinh là khoảng thời gian trước năm 900.

Vậy lương thực của cư dân trên đảo là gì và họ có bao nhiêu người?

Tại thời điểm những người châu Âu đặt chân lên đảo, các cư dân trên đảo sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, trồng khoai lang, khoai mỡ, khoai sọ, chuối, mía và gà là loài vật nuôi duy nhất trong gia đình. Khác với hầu hết các đảo khác của người Polynesia, do không có dải san hô ngầm và đầm phá nên trong khẩu phần ăn của cư dân Phục Sinh hầu như không có cá và các loài giáp xác. Chim biển, chim đất liền và cá heo là những động vật mà những cư dân đầu tiên có thể săn bắn được, nhưng chúng ta cũng thấy rằng sau này những loài này suy giảm hay tuyệt chủng rất nhanh. Do vậy khẩu phần ăn của họ có lượng carbonhydrate cao, cộng với tình trạng khan hiếm nước ngọt buộc họ phải uống nhiều nước mía để thay thế. Sẽ không một nha sĩ nào ngạc nhiên khi biết rằng tỷ lệ cư dân trên đảo mắc sâu răng cao nhất trong số những dân tộc thời tiền sử. Đa số trẻ em bị sâu răng ở tuổi 14, và hầu như tất cả mọi người đều bị sâu răng năm 20 tuổi.

Dân số của Phục Sinh ở thời điểm đông nhất được tính bằng những phương pháp như đếm số nền nhà, giả thiết mỗi nhà có từ 5-15 người và một phần ba số nhà đó có người ở. Hoặc dân số được tính bằng cách tính số tù trưởng và những cư dân trong bộ tộc của họ dựa trên số bệ đá hay số tượng đá được dựng lên. Kết quả cho thấy, dân số của Phục Sinh ít nhất là 6.000 người và cao nhất là 30.000 người, với mật độ trung bình từ 90-450 người trên mỗi 2,5 kilômét vuông. Một số khu vực trên đảo như bán đảo Poike và những vùng đất cao nhất không mấy thích hợp cho canh tác thì mật độ dân số sẽ thấp hơn những vùng đất khác, nhưng chênh lệch không nhiều bởi theo những khảo sát khảo cổ cho thấy phần lớn diện tích đất trên đảo đã được sử dụng.

Cũng như những nơi khác trên thế giới, khi các nhà khảo cổ học có những đánh giá trái ngược nhau về mật độ dân số thời tiền sử, thì những người ủng hộ những số liệu thấp hơn luôn coi những số liệu cao hơn là ngớ ngẩn và ngược lại. Theo ý kiến cá nhân tôi, những số liệu cao dường như chính xác hơn, một phần bởi chúng do các nhà khảo cổ học có uy tín tiến hành khảo sát ở đảo Phục Sinh như Claudio Cristino, Patricia Vargas, Edmundo Edwards, Chris Stevenson và Jo Anne Van Tilburg. Ngoài ra, những số liệu trước đó được coi là đáng tin cậy, đánh giá dân số của Phục Sinh khoảng 2.000 người là do các nhà truyền giáo tới đây năm 1864 đưa ra, khi vừa xảy ra dịch bệnh đậu mùa giết chết phần lớn cư dân trên đảo. Trước đó nữa, khoảng 1.500 cư dân bị những thuyền buôn nô lệ Peru bắt cóc trong giai đoạn 1862-1863 và hai đợt dịch bệnh đậu mùa hoành hành trên đảo mà tài liệu còn ghi lại được vào khoảng chừng năm 1836, cùng hàng loạt bệnh dịch khác theo chân những người châu Âu thường xuyên tới viếng thăm kể từ năm 1770 trở đi, cùng một thời kỳ dân số bị suy giảm nghiêm trọng từ những năm 1600 mà chúng ta sẽ thảo luận ở phần sau. Cũng chính con thuyền đã gây ra trận dịch bệnh đậu mùa lần thứ ba ở đảo Phục Sinh tiếp tục tới Marquesa và gây ra dịch bệnh ở đây làm chết 7/8 số dân. Theo tôi, nếu với số dân ban đầu chỉ có 6.000 – 8.000 người thì sau hàng loạt biến cố xảy ra như trên thì số dân trên đảo Phục Sinh sống sót sau đợt dịch bệnh đậu mùa năm 1864 không thể là 2.000 người. Dựa trên những bằng chứng về sự thâm canh nông nghiệp thời tiền sử trên đảo Phục Sinh, tôi thấy các số liệu cao của Claudio và Edmundo cho rằng dân số đảo Phục Sinh phải từ 15.000 người trở lên là không có gì đáng ngạc nhiên.

Bằng chứng về một nền nông nghiệp phát triển mạnh mẽ thể hiện ở một số hình thức. Đầu tiên là những chiếc hố được xếp bằng đá có đường kính từ 1,5 - 3,2 mét và sâu tới 1,2 mét được sử dụng như những chiếc hố ủ phân để trồng cây giống hoặc trồng rau. Một bằng chứng khác là hai chiếc đập bằng đá được dựng chắn qua một con suối nước lúc có lúc không chạy dọc theo sườn đông nam của ngọn Terevaka để nắn dòng nước chảy vào những bệ đá lớn. Hệ thống nắn dòng nước này tương tự như những hệ thống tưới nước cho khoai sọ ở những nơi khác của Polynesia. Thêm một bằng chứng khác về một nền nông nghiệp mạnh mẽ là hàng loạt chuồng gà được dựng bằng đá, (gọi là hare moa), đa số có chiều dài tới 6 mét, cá biệt có những chiếc dài 21 mét, rộng 3 mét và cao 1,8 mét có một cửa chuồng nhỏ sát đất để gà chui ra, chui vào. Chuồng còn có một hàng rào được xếp bằng những viên đá để ngăn những con gà quý giá xổng ra ngoài hay đề phòng trộm cắp. Nếu những bức tượng hay những chiếc bệ đá to hơn không làm lu mờ những chiếc hare moa to lớn này thì chắc hẳn các du khách sẽ coi đảo Phục Sinh là đảo của những chiếc chuồng gà bằng đá. Chúng nổi bật ở những nơi gần bờ biển, bởi ngày nay những chiếc chuồng gà thời tiền sử này - tất cả có 1.233 chiếc - được chú ý hơn cả những ngôi nhà thời tiền sử chỉ còn lại những chiếc nền bằng đá hay những khoảng sân và chẳng còn bức tường bằng đá nào.

Nghiên cứu đá nham thạch, nhà khảo cổ Chris Stevenson đã tìm ra phương pháp phổ biến nhất được áp dụng để tăng sản lượng nông nghiệp. Cư dân đảo Phục Sinh xếp những tảng đá cuội lớn thành những hàng rào chắn gió để bảo vệ cây trồng khỏi bị chết khô do những cơn gió mạnh thường xuyên thổi tới. Những viên đá nhỏ hơn cũng được chồng lên nhau để bảo vệ những mảnh vườn ở trên mặt đất hay ở những chỗ trũng để trồng chuối và để ươm cây giống rồi chuyển đi trồng ở nơi khác sau khi chúng lớn. Có những khu đất rộng được che phủ một phần bằng những tảng đá đặt cách nhau một khoảng ngắn, như vậy có thể trồng cây giữa những tảng đá. Một số khu vực khác được thay đổi bằng phương pháp “phủ một lớp đá”, có nghĩa đổ một lớp đá lên mặt đất dày khoảng 0,3048 mét, hoặc bằng cách bóc lớp đá trồi lên ngay bên cạnh hoặc đào sâu xuống một chút và phá vỡ nền đá bên dưới. Những chỗ lún sụt trồng khoai sọ được xới lên thành những cánh đồng sỏi tự nhiên. Tất cả những hàng rào chắn gió bằng đá và những khu vườn kiểu này đòi hỏi tốn nhiều công sức để xây dựng, bởi cư dân trên đảo phải vận chuyển hàng triệu, thậm chí hàng tỷ viên đá. Như nhà khảo cổ Barry Rolett từng nghiên cứu nhiều vùng lãnh thổ khác của người Polynesia, nói với tôi trong lần đầu tiên cùng nhau tới đảo Phục Sinh: “Tôi chưa từng thấy một hòn đảo nào của người Polynesia mà cư dân lại vất vả tới vậy. Họ xếp những viên đá nhỏ với nhau thành một vòng tròn chỉ để trồng vài cây khoai sọ yếu ớt và bảo vệ chúng trước những cơn gió mạnh! Trên quần đảo Cook, mọi người cũng trồng khoai sọ nhưng họ chẳng bao giờ phải làm như vậy!”.

Thực vậy, tại sao những nông dân đảo Phục Sinh lại phải vất vả tới vậy? Trên những nông trại vùng đông bắc Mỹ, nơi hồi nhỏ tôi đã từng tới đây nghỉ hè, nông dân phải rất vất vả mới chuyển được những tảng đá ra khỏi cánh đồng, và chắc hẳn họ sẽ kinh ngạc khi biết rằng ngày xưa mọi người cố tình chuyển những tảng đá này vào cánh đồng. Vậy tại sao cư dân trên đảo lại mang đá vào ruộng?

Câu trả lời là để đối phó với khí hậu lạnh giá, hanh khô và nhiều gió của Phục Sinh mà tôi đã mô tả. Những khu vườn đá hay hình thức canh tác “phủ một lớp đá” được nông dân ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới nghĩ ra và áp dụng như ở sa mạc Negev của Israel, các sa mạc tây nam nước Mỹ, các vùng đất khô cằn của Peru, Trung Quốc, La Mã, và Maori ở New Zealand. Đá giữ độ ẩm cho đất khi được phủ lên trên mặt đất, làm giảm khả năng bay hơi nước do ánh nắng mặt trời và gió gây ra, và thay cho lớp đất mặt khô cứng có thể khiến nước mưa chảy nhanh hơn. Đá làm giảm hiện tượng dao động nhiệt độ trong đất bởi chúng hấp thụ hơi nóng mặt trời vào ban ngày và nhả ra ban đêm. Chúng bảo vệ đất khỏi bị xói mòn khi những hạt mưa rơi xuống làm bắn đất lên. Những viên đá xám trên đất sáng màu hơn sẽ làm đất ấm hơn bởi hấp thụ nhiệt từ mặt trời nhiều hơn và đá còn có vai trò như những nơi tích trữ phân bón và các khoáng chất cần thiết để thấm dần vào đất (giống như một số chúng ta thường uống thuốc vitamin vào bữa sáng). Trong những cuộc thí nghiệm nông nghiệp được tiến hành ở tây nam nước Mỹ để tìm hiểu vì sao những cư dân Anasazi cổ xưa (Chương 4) lại sử dụng phương pháp “rải đá”, hóa ra những viên đá mang lại những lợi ích rất lớn cho nông dân. Những lớp đất được trộn đá làm tăng gấp đôi độ ẩm trong đất, giảm mức nhiệt độ tối đa trong đất vào ban ngày và làm tăng nhiệt độ trong đất vào ban đêm, làm tăng sản lượng cho tất cả 16 loại cây trồng, trung bình gấp khoảng 4 lần, trong đó loại cao nhất sản lượng tăng gấp 50 lần. Đó là những ích lợi cực kỳ to lớn.

Chris Stevenson lý giải những khảo sát của mình là tư liệu giải thích sự phổ biến trong việc sử dụng đá để nâng cao hoạt động sản xuất nông nghiệp ở đảo Phục Sinh. Theo ông, trong khoảng 500 năm đầu tiên người Polynesia sinh sống trên đảo, nông dân vẫn ở những vùng đất thấp, trong phạm vi chỉ vài dặm kể từ bờ biển, để gần các nguồn nước ngọt và thuận tiện cho đánh bắt cá và các loài giáp xác. Bằng chứng đầu tiên mà ông thu thập được cho thấy những khu vườn đá xuất hiện vào khoảng năm 1.300, ở những vùng đất cao nằm sâu bên trong đảo có lượng mưa lớn hơn các khu vực bờ biển nhưng nhiệt độ lạnh hơn (được cư dân trên đảo điều hòa bằng cách dùng những tảng đá xám để tăng nhiệt độ cho đất). Đa phần những vùng đất nằm sâu bên trong đảo bị chuyển thành những khu vườn đá. Có một điều thú vị là dường như bản thân những người nông dân cũng không sống trong những vùng đất này, bởi hiện chỉ có tàn tích của rất ít nhà ở của những thường dân, không có chuồng gà và chỉ có những bếp lò và những đống rác nhỏ. Thay vào đó, chỉ có rải rác vài ngôi nhà “cao cấp”, bằng chứng cho thấy những giới thượng lưu có cả những khu vườn đá lớn với quy mô trồng trọt cũng lớn hơn (không như khu vườn của một gia đình thường dân) để sản xuất ra nhiều lương thực hơn cho những người làm công của các tù trưởng, trong khi tất cả những nông dân vẫn tiếp tục sinh sống ở gần bờ biển và đi về giữa vườn đá và nơi ở tới vài dặm mỗi ngày. Những con đường có chiều rộng 4,5 mét với những vệ đường bằng đá, nối liền những vùng đất cao xa bờ biển với bờ biển, chứng tỏ đây có thể là tuyến đường qua lại hằng ngày. Có thể những vườn cây ở vùng cao xa bờ biển không đòi hỏi phải được chăm sóc quanh năm, nông dân chỉ cần tới thăm và trồng khoai sọ và những loại cây trồng khác trong mùa xuân rồi quay về, cuối năm mới lên thu hoạch.

Cũng như những nơi khác ở Polynesia, xã hội truyền thống của Phục Sinh được chia thành tù trưởng và thường dân. Các nhà khảo cổ học phát hiện có sự khác biệt rõ ràng giữa những tàn tích của hai loại nhà khác nhau. Các tù trưởng và những thành viên của tầng lớp thượng lưu sống trong những căn nhà gọi là hare paenga, có hình một chiếc thuyền dài, nhỏ, lộn ngược, thường có chiều dài khoảng 12 mét, cá biệt có cái dài 94 mét, rộng không quá 3 mét và uốn cong ở phần cuối nhà. Tường và mái nhà (tương ứng với phần lõm của thân xuồng) là ba lớp rạ khô, nhưng nền nhà được xếp bằng những viên đá bazan cắt rất gọn gàng. Đặc biệt là những viên đá được uốn cong và có cạnh xiên lát ở cuối căn nhà rất khó làm, khó cậy lên và khó bị các bộ tộc ăn trộm của nhau. Phía trước nhiều hare paenga là một chiếc sân lát đá. Hare paenga được xây dựng trên một dải bờ biển rộng 182 mét, mỗi xóm có từ 6-10 căn, vùng đất liền tiếp theo khu vực này có những chiếc tượng dựng trên bệ đá. Ngược lại, những căn nhà của thường dân bị tách riêng ra ở những vùng đất sâu hơn trong đất liền, diện tích nhỏ hơn và gắn liền với chiếc chuồng gà, bếp lò, vườn rào bằng đá và một hố rác của mình - những cấu trúc rất thực tế, tách biệt với tapu tôn giáo và khu vực bờ biển có những bệ đá và những căn nhà hare paenga đẹp đẽ.

Cả những truyền thuyết lưu truyền trong cư dân trên đảo và kết quả những cuộc khảo cổ đều cho thấy lãnh thổ Phục Sinh bị chia thành khoảng gần một tá vùng đất (chừng 11-12), mỗi vùng thuộc về một bộ tộc hay một dòng họ, đều bắt đầu từ bờ biển và kéo dài vào trong đất liền, như thể Phục Sinh là một chiếc bánh bị cắt thành 12 miếng. Mỗi vùng đất đều có tù tưởng và những bệ đá để thực hiện các nghi lễ tôn giáo của mình. Các bộ tộc cạnh tranh với nhau một cách hòa bình bằng cách cố xây dựng những bệ đá và tượng đá cao to hơn bộ tộc khác, nhưng cuối cùng cuộc cạnh tranh hòa bình cũng biến thành những cuộc giao tranh khốc liệt. Sự phân chia lãnh thổ thành những vùng đất bé nhỏ cũng phổ biến với những đảo của người Polynesia trên Thái Bình Dương. Có một điều bất thường trên lãnh thổ của Phục Sinh đó là, một lần nữa lại căn cứ vào cả những truyền thuyết dân gian và những kết quả khảo cổ, mặc dù có sự cạnh tranh lãnh thổ nhưng giữa các bộ tộc có sự thống nhất về mặt tôn giáo, và cả một số lĩnh vực kinh tế và chính trị, đặt dưới sự lãnh đạo của một tù trưởng tối cao. Ngược lại, trên các đảo Mangareva và quần đảo Marquesa lớn hơn, mỗi thung lũng lớn đều thuộc sự cai quản của một thủ lĩnh độc lập và liên tục sa vào những cuộc chiến khốc liệt, kéo dài với những thủ lĩnh khác.

Vậy điều gì có thể lý giải cho sự thống nhất của Phục Sinh, và tại sao nó lại dễ phát hiện về mặt khảo cổ như vậy? Hóa ra chiếc bánh Phục Sinh không phải được chia đều thành 12 miếng như nhau, mà mỗi vùng đất được phân chia đều có những nguồn tài nguyên quý giá khác nhau. Ví dụ rõ ràng nhất là vùng đất Tongariki (gọi là Hotu Iti), nơi có miệng núi lửa Rano Raraku và là nơi duy nhất trên đảo có loại đá tốt nhất để tạc tượng và có rêu dùng để trám xuồng. Tất cả những trụ đá màu đỏ trên đầu một số tượng đều có nguồn gốc từ mỏ đá Puna Pau của vùng đất Hanga Poukura. Hai vùng đất Vinapu và Tongariki có loại đá bazan tốt nhất để dựng những ngôi nhà hare paenga. Anakena ở bờ biển phía Bắc có hai bãi biển tốt nhất làm bến đậu cho những chiếc thuyền ra khơi, trong khi vùng đất láng giềng Heki cũng ở trên cùng bờ biển thì sở hữu bãi biển tốt thứ ba. Kết quả là những mẫu vật dùng trong đánh bắt cá được tìm thấy chủ yếu ở các bờ biển. Nhưng những vùng đất bờ biển phía Bắc này cũng là nơi có đất canh tác chất lượng xấu nhất, những mảnh đất canh tác tốt nhất nằm ở bờ biển phía nam và phía tây. Chỉ có 5 trong số 12 vùng là có đất kéo sâu vào vùng cao bên trong đất liền dùng để trồng cây với những khu vườn đá. Chim biển chỉ làm tổ trên một vài hòn đảo ngoài biển, dọc theo bờ biển phía nam, nhất là trong vùng đất Vinapu. Những nguồn tài nguyên khác như gỗ, san hô để làm giũa, đất đỏ và cây dướng (vỏ cây có thể giã ra làm thành vải tapa) cũng được phân phối không đều.

Những bằng chứng khảo cổ học rõ ràng nhất về một số mức độ thống nhất trên lãnh thổ của các bộ tộc là những tượng đá và những trụ đá màu đỏ của nó, được làm từ những mỏ đá trên vùng đất của hai bộ tộc Tongariki và Hanga Poukura, tất cả đều được dựng lên trên những bệ đá tại 11 hoặc 12 vùng đất phân bố trên toàn đảo. Bởi vậy, những con đường dùng để vận chuyển tượng và những chiếc vương miện ra khỏi những mỏ đá trên đảo cũng phải đi qua nhiều vùng lãnh thổ, và một bộ tộc sống xa các mỏ đá cũng phải được một số bộ tộc khác cho phép vận chuyển tượng và những trụ đá qua lãnh thổ của họ. Đá vỏ chai, loại đá bazan tốt nhất, cá và những loại tài nguyên bản địa khác tương tự được phân bố trên khắp đảo Phục Sinh. Ban đầu, dường như đối với con người hiện đại chúng ta, những người sống trong những nước có sự thống nhất chính trị cao như Mỹ thì việc vận chuyển tài nguyên là một việc tự nhiên. Chúng ta được mặc nhiên thường xuyên vận chuyển tài nguyên từ một bờ biển ở rất xa tới những bờ biển khác, đi qua nhiều quận hay nhiều tỉnh. Nhưng chúng ta quên mất rằng trong suốt lịch sử, việc đàm phán để một bộ tộc được tiếp cận nguồn tài nguyên của một bộ tộc khác phức tạp như thế nào. Một lý giải tại sao Phục Sinh lại trở thành một đảo thống nhất, trong khi những đảo của Marquesa lớn hơn lại không bao giờ thống nhất, chính là địa hình thoai thoải của Phục Sinh, trái ngược với những thung lũng của Marquesa với những sườn dựng đứng nên những bộ tộc ở thung lũng lân cận chỉ có thể liên lạc (hoặc xâm lược) nhau chủ yếu bằng đường biển chứ không phải là đường bộ.

Giờ chúng ta sẽ quay trở lại với đề tài mà khi nói tới đảo Phục Sinh mọi người nghĩ ngay tới nó, đó là: những tượng đá khổng lồ (gọi là moai) và những bệ đá của tượng (gọi là ahu). Tới nay khoảng 300 ahu đã được xác định, trong đó có rất nhiều ahu nhỏ hoặc không có moai, nhưng khoảng 113 chiếc có moai, và có 25 chiếc đặc biệt to, cao. Mỗi vùng đất trên đảo đều có ít nhất 1-5 ahu loại lớn này. Đa số ahu có tượng đều nằm trên các bờ biển, cả ahu và tượng đều quay mặt vào trong đất liền, hướng về vùng đất của bộ tộc chứ không nhìn ra biển.

Ahu là bệ đá hình chữ nhật, không phải làm từ những tảng đá nguyên khối, mà là một khu đất được xây tường bốn xung quanh bằng những tảng đá bazan xám, sau đó được đổ đầy đá cuội. Một số bức tường kiểu này, nhất là những bệ đá ở Ahu Vinapu, được ghép bằng những phiến đá vừa khít, rất đẹp gợi nhớ tới kiến trúc của người Inca và khiến nhà thám hiểm người Na Uy Thor Heyerdahl cho rằng có mối liên hệ giữa Phục Sinh với Nam Mỹ. Tuy nhiên, những bức tường của ahu trên đảo Phục Sinh chỉ có mặt đá, chứ không phải đá nguyên khối như tường của người Inca. Nhưng có phiến đá nặng tới 10 tấn, rất ấn tượng với chúng ta nhưng vẫn chưa bằng những tảng đá nặng tới 361 tấn trong những pháo đài Sacsahuama của người Inca. Những ahu cao tới 4 mét và nhiều chiếc được mở rộng ra hai bên với chiều rộng lên tới 152 mét. Bởi vậy các ahu nhỏ cũng nặng 300 tấn, lớn thì lên tới hơn 9.000 tấn như Ahu Tongariki khiến những tượng trên bệ trông như nhỏ lại. Chúng ta sẽ trở lại tầm quan trọng của vấn đề này khi đánh giá công sức trong việc xây dựng ahu và moai của Phục Sinh.

Tường chắn phía sau của ahu (hướng ra biển) gần như thẳng đứng, nhưng tường phía trước dốc xuống một quảng trường bằng phẳng hình chữ nhật, rộng khoảng 50 mét mỗi bên. Đằng sau ahu là nơi hỏa táng người chết, hiện vẫn còn tàn tích của hàng ngàn thi thể. Phục Sinh là nơi duy nhất trong cộng đồng Polynesia tiến hành hỏa táng mà không địa táng như những nơi khác. Ngày nay, những chiếc ahu có màu xám xịt, nhưng ban đầu chúng có màu sắc sặc sỡ với các màu trắng, vàng và đỏ. Những mặt đá được khảm san hô trắng, đá của những moai mới tạc có màu vàng, vương miện của moai và dải chạy ngang mặt tường phía trước của một số ahu là màu đỏ.

Tượng moai thể hiện những tổ tiên của tầng lớp thượng lưu, nhà khảo cổ học Jo Anne Van Tilburg đã tìm ra tổng số 887 tượng, gần một nửa số đó vẫn còn nằm ở mỏ đá Rano Raraku, trong khi số tượng được chuyển ra ngoài thì đã được dựng lên các ahu gần hết (mỗi ahu có khoảng từ 1-15 tượng). Tất cả số tượng trên các ahu đều được tạc từ đá nham thạch của Rano Raraku, nhưng cũng có một số tượng (khoảng 53 tượng) được chế tác từ những loại đá núi lửa khác có trên đảo (thường là đá bazan, đá xỉ núi lửa màu đỏ, màu xám và đá trachit). Những tượng đã được dựng lên trung bình có chiều cao 4 mét, nặng 10 tấn. Tượng cao nhất được dựng lên tên là Paro cao 10 mét nhưng trông mỏng manh, “chỉ” nặng khoảng 75 tấn. Một tượng khác ở Ahu Tongariki thấp hơn tượng Paro một chút nhưng nặng 87 tấn nên trông nó to hơn và nhà khảo cổ Claudio Cristino đã rất vất vả khi dùng cẩu để dựng lại tượng này. Cư dân trên đảo đã chuyển được một tượng cao hơn tượng Paro vài centimet tới nơi dự kiến dựng tượng ở Ahu Hanga Te Tenga, nhưng không may bức tượng bị đổ khi đang dựng lên. Mỏ đá Rano Raraku hiện vẫn còn những tượng chưa hoàn thiện to hơn, trong đó có một tượng dài 21 mét và nặng khoảng 270 tấn. Với những gì chúng ta biết về trình độ công nghệ của đảo Phục Sinh thì dường như cư dân trên đảo không thể vận chuyển và dựng được những tượng đá khổng lồ này, và không biết chứng hoang tưởng tự đại nào đã thúc đẩy những người thợ điêu khắc làm nên những tượng đá đó.

Với những người ủng hộ giả thuyết người ngoài hành tinh như Erich von Däniken và một số người khác, thì những bệ và tượng đá trên đảo Phục Sinh dường như độc nhất vô nhị và cần một sự giải thích đặc biệt. Thực tế, có nhiều bệ đá được xây dựng trước ở Polynesia, nhất là ở phía đông Polynesia. Những bệ đá này gọi là marae, được sử dụng như những lăng mộ và thường dùng làm nền móng để xây dựng những đền thờ, xuất hiện khá nhiều; trước đó từng có ba bệ đá xuất hiện trên đảo Pitcairn, có thể đây là điểm xuất phát để những thổ dân thám hiểm đảo Phục Sinh. Điểm khác biệt cơ bản giữa ahu của Phục Sinh với marae ở đông Polynesia là ahu lớn hơn và không làm nền móng để xây dựng đền thờ. Các đảo Marquesa và Austral có những tượng đá lớn; đảo Marquesa, Austral và Pitcairn đều có những tượng tạc từ đá xỉ núi lửa màu đỏ, tương tự như chất liệu dùng cho một số tượng trên đảo Phục Sinh, trong khi một số loại đá núi lửa khác (giống như đá tuff của núi lửa Rano Raraku) cũng được sử dụng ở Marquesa. Các đảo Mangareva và Tonga có những kiến trúc đá khác, trong đó Tonga có một trilithon nổi tiếng (kiến trúc gồm hai tảng đá dựng đứng đỡ một tảng đá nằm ngang, mỗi tảng đá nặng chừng 40 tấn), và còn có những tượng gỗ trên đảo Tahiti và những nơi khác. Bởi vậy, các tác phẩm kiến trúc của Phục Sinh phát triển trên cơ sở truyền thống sẵn có của người Polynesia.

Tất nhiên, chúng ta muốn biết chính xác cư dân đảo Phục Sinh dựng bức tượng đầu tiên vào thời điểm nào, kiểu cách và kích thước thay đổi như thế nào theo thời gian. Rất tiếc là bởi tượng đá không thể tính niên đại bằng kỹ thuật các bon phóng xạ, nên chúng ta buộc phải dựa trên những phương pháp xác định niên đại gián tiếp, như xác định niên đại của than củi tìm thấy ở ahu bằng kỹ thuật các bon phóng xạ, một phương pháp khác là xác định niên đại bằng kỹ thuật hydrat hóa opxidian đối với những đá vỏ chai (hay còn gọi là thủy tinh núi lửa) bị nứt, bằng kiểu dáng của những bức tượng bị bỏ đi (giả thiết những bức tượng này được làm trước), bằng những kết quả thực nghiệm các công đoạn xây dựng theo suy luận của một số ahu, kể cả những ahu bị các nhà khảo cổ khai quật. Tuy nhiên, dường như có một điều rất rõ ràng là những tượng sau luôn cao hơn tượng trước (mặc dù không nhất thiết phải nặng hơn), và chiếc ahu to nhất đã phải tốn rất nhiều thời gian làm đi làm lại để ngày càng to hơn và cao hơn. Thời gian xây dựng các ahu vào khoảng năm 1000 đến 1600 . Những niên đại được xác định gián tiếp này gần đây lại được củng cố bằng một phương pháp nghiên cứu rất thông minh của J.Warren Beck và các đồng nghiệp. Họ đã áp dụng phương pháp tính niên đại bằng các bon phóng xạ đối với các bon có trong san hô được sử dụng để khảm lên thân và mắt tượng, và các bon có trong tảo màu trắng được sử dụng để trang trí quảng trường. Những kỹ thuật xác định niên đại trực tiếp này cho thấy ba giai đoạn xây dựng và cải tạo của Ahu Nau Nau tại Anakena. Giai đoạn đầu tiên vào khoảng năm 1100 và giai đoạn cuối cùng kết thúc vào năm 1600. Ahu sớm nhất có lẽ là những bệ đá không có tượng, giống như các marae ở những nơi khác của người Polynesia. Những tượng được phỏng đoán là sớm nhất được sử dụng lại trên tường của các ahu sau này và những kiến trúc khác. Chúng dường như nhỏ hơn, tròn hơn và giống người hơn những tượng sau này, chúng cũng được tạc bằng nhiều loại đá núi lửa chứ không phải chỉ bằng đá tuff của núi lửa Rano Raraku.

Cuối cùng, cư dân đảo Phục Sinh ưa chuộng đá núi lửa tuff của Rano Raraku vì một lý do đơn giản là nó cực tốt cho tạc đẽo. Đá tuff có mặt đá cứng nhưng bên trong lại chắc như cây tần bì và bởi vậy dễ tạc đẽo hơn so với đá bazan rất cứng. So với đá xỉ núi lửa màu đỏ, đá tuff khó vỡ hơn và thích hợp hơn cho đánh bóng và tạc các chi tiết. Bởi chúng ta chỉ có thể phỏng đoán thời gian tương đối, nên có thể thấy càng về sau những bức tượng của Rano Raraku ngày càng lớn hơn, vuông vắn hơn, cách điệu hóa hơn và dường như được sản xuất hàng loạt, mặc dù mỗi tượng đều khác nhau một chút. Paro, tượng cao nhất trong số tượng được dựng lên, cũng là một trong những tượng được làm muộn nhất.

Càng về sau quy mô của tượng càng lớn cho thấy có sự cạnh tranh giữa các tù trưởng kình địch nhau, bộ tộc này luôn cố làm tượng lớn hơn tượng của bộ tộc kia. Kết luận này cũng được rút ra từ một chi tiết xuất hiện muộn hơn gọi là pukao: một trụ đá xỉ núi lửa màu đỏ, nặng tới 12 tấn (trọng lượng pukao của tượng Paro), được đặt riêng trên đỉnh đầu bằng phẳng của một moai (Phụ bản 8). (Khi đọc tới đây chắc bạn sẽ tự hỏi: vì sao cư dân trên đảo không có cần trục lại có thể đưa được khối đá nặng 12 tấn đặt cân bằng trên đầu một tượng cao tới 10 mét? Đó cũng là một trong những bí ẩn khiến Erich von Däniken đưa ra giả thuyết có sự giúp sức của người ngoài hành tinh. Câu trả lời thực tế nhất dựa trên những thực nghiệm gần đây là pukao và tượng có thể được dựng lên cùng một lúc). Chúng tôi không biết chắc pukao thể hiện điều gì, nhưng có thể nó tượng trưng cho chiếc vòng đội đầu bằng lông của loài chim đỏ, một loài chim được người Polynesia rất quý, chuyên dành cho các tù trưởng, hoặc một kiểu mũ làm bằng lông chim và vải tapa. Khi một đoàn thám hiểm người Tây Ban Nha tới đảo Santa Cruz ở Thái Bình Dương, điều gây ấn tượng mạnh với cư dân bản địa không phải là thuyền lớn, súng gươm và gương soi mà chính là những mảnh vải đỏ. Tất cả pukao đều làm bằng đá xỉ núi lửa màu đỏ của mỏ đá Puna Pau, cũng giống như xưởng chế tác moai ở Rano Raraku, ở đây tôi cũng thấy những chiếc pukao chưa hoàn thiện và cả những chiếc đã hoàn thiện đang chờ để chuyển đi.

Theo chúng tôi, biết có chừng chưa tới 100 chiếc pukao dành cho những tượng đá trên ahu lớn nhất của bộ tộc giàu nhất được xây dựng vào cuối thời kỳ tiền sử của Phục Sinh. Tôi không cưỡng nổi ý nghĩ rằng những chiếc pukao này được chế tạo như một cách thể hiện sức mạnh với người khác. Chúng như một lời tuyên bố rằng: “Được rồi, anh có thể dựng tượng cao tới 10 mét, nhưng hãy xem tôi này, tôi có thể đặt được chiếc pukao nặng tới 12 tấn lên trên đầu tượng của tôi, anh không làm được như vậy thì thật là kẻ yếu đuối!”. Tôi thấy những chiếc pukao giống như sự phô trương của các ông trùm Hollywood sống gần nhà tôi ở Los Angeles, cùng một cách thể hiện sự giàu có và quyền lực bằng cách xây nhà to hơn, cao hơn và phô trương hơn. Nhà tư bản Marvin Davis từng đứng đầu các ông trùm với tòa nhà rộng 15.200 mét vuông, nhưng ông ta đã bị Aaron Spelling vượt qua với tòa nhà rộng 17.000 mét vuông. Nhưng tất cả những tòa nhà của các ông trùm này là đều không có một thông điệp rõ ràng về quyền lực như ở đảo Phục Sinh đó là chiếc pukao màu đỏ nặng 12 tấn đặt trên tháp cao nhất của tòa nhà, được đặt vào đúng vị trí mà không cần viện tới cần trục.

Căn cứ vào sự phân bố các bệ và tượng đá khắp Polynesia, chúng ta sẽ tự hỏi vì sao những cư dân đảo Phục Sinh là những người duy nhất hăng hái đầu tư các nguồn lực xã hội lớn nhất để tạc và dựng lên những tượng đá lớn nhất? Ít nhất có bốn yếu tố kết hợp với nhau để tạo ra kết quả này. Đầu tiên, đá tuff của núi lửa Rano Raraku là loại đá tạc tượng tốt nhất Thái Bình Dương. Với một nhà điêu khắc từng vật lộn với loại đá bazan và đá xỉ núi lửa màu đỏ thì dường như đá tuff kêu lên rằng: “Hãy lấy tôi mà tạc tượng!”. Thứ hai, những bộ lạc trên các đảo Thái Bình Dương khác, chỉ cách nhau vài ngày chèo thuyền, thì dành năng lượng, các nguồn tài nguyên và sức lao động để tăng cường buôn bán, cướp bóc, thăm dò, xâm lược lẫn nhau và tiến hành di cư giữa các đảo, nhưng cư dân đảo Phục Sinh lại hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi những hành động này do vị trí biệt lập của họ. Trong khi các tù trưởng trên các đảo Thái Bình Dương có thể cạnh tranh nhau về thanh thế và địa vị bằng cách vượt qua nhau trong mọi hoạt động giữa các đảo, “nhưng những chàng trai trên đảo Phục Sinh thậm chí còn không chơi những trò chơi bình thường này”, như một sinh viên của tôi nhận xét. Thứ ba, địa hình thoai thoải của Phục Sinh và những nguồn tài nguyên phân bố ở các vùng khác nhau đã dẫn tới một số sự thống nhất trên đảo, như đã trình bày ở phần trên, cho phép các bộ tộc trên toàn đảo được lấy đá và tạc tượng ở Rano Raraku. Nếu Phục Sinh không có sự thống nhất về mặt chính trị, giống như đảo Marquesa, thì bộ tộc Tongariki cai quản vùng đất có núi lửa Rano Raraku sẽ độc chiếm đá làm tượng, và các bộ tộc láng giềng sẽ ngăn cản việc vận chuyển tượng qua lãnh thổ của họ - như đã từng xảy ra trên thực tế. Cuối cùng, như chúng ta sẽ thấy, việc xây dựng những bệ và tượng đá đòi hỏi phải lo lương thực cho nhiều người, một kỳ công trong việc tăng sản lượng lương thực của những khu vườn ở vùng núi do tầng lớp thượng lưu cai quản.

Không có cần trục, vậy cư dân đảo Phục Sinh làm thế nào để tạc đẽo, vận chuyển và dựng những tượng đá này? Tất nhiên chúng ta không thể biết chắc chắn, bởi không một người châu Âu nào được tận mắt chứng kiến những công việc này để ghi chép lại. Nhưng chúng ta có thể phỏng đoán dựa trên những truyền thuyết dân gian lưu truyền trong cư dân trên đảo (nhất là việc dựng tượng), từ những bức tượng trong giai đoạn hoàn thiện vẫn còn ở các mỏ đá và từ những kết quả thực nghiệm gần đây về những cách vận chuyển khác nhau.

Ở mỏ đá Rano Raraku, có thể thấy những tượng đá chưa hoàn thiện vẫn còn gắn vào các tảng đá, xung quanh là những hào tạc tượng chỉ rộng khoảng 0,6 mét. Những dụng cụ đục đá bazan cầm tay của các thợ điêu khắc vẫn còn trong mỏ đá. Những tượng thô sơ nhất trông chẳng khác gì một khối đá thô, mới được tách ra khỏi một tảng đá có hình mặt người hướng lên trên và phần sau vẫn gắn chặt vào tảng đá bên dưới bằng một chiếc xương sống dài bằng đá. Phần tiếp theo được tạc là đầu, mũi và tai, rồi mới đến cánh tay, bàn tay và thắt lưng. Tới giai đoạn này, chiếc xương sống bằng đá gắn bức tượng với tảng đá mới được đục ra và tượng bắt đầu được chuyển ra chỗ thích hợp. Tất cả tượng trong quá trình vận chuyển đều không có hốc mắt, điều đó chứng tỏ mắt tượng chỉ được tạc khi tượng đã được chuyển tới ahu. Một trong những phát hiện đáng chú ý nhất gần đây về những bức tượng là vào năm 1979, hai nhà khảo cổ Sonia Haoa và Sergio Rapu Haoa tìm thấy một mắt tượng đã được hoàn thiện làm bằng san hô trắng với con ngươi bằng đá xỉ núi lửa màu đỏ chôn gần một ahu. Sau đó, họ lại tiếp tục phát hiện ra những mảnh vỡ của những mắt tượng tương tự. Khi những chiếc mắt này được lắp vào một tượng đá, chúng khiến cho bức tượng có một cái nhìn chằm chằm, lạnh lẽo khiến người nhìn khiếp sợ. Thực tế chỉ có vài mắt tượng được tìm thấy cho thấy có thể cư dân bản địa chỉ tạo ra rất ít mắt tượng, và chúng được các thầy cúng giữ gìn và chỉ đặt vào hốc mắt tượng khi tiến hành các nghi lễ cúng tế.

Dấu vết những con đường vận chuyển tượng từ các mỏ đá hiện vẫn còn rõ ràng. Tượng được vận chuyển theo các tuyến đường vòng nhằm tránh tốn thêm công sức đưa tượng lên xuống các quả đồi, và tuyến đường xa nhất là từ Rano Rarakhu tới ahu ở bờ biển phía tây vào khoảng 15 kilômét. Trong khi dường như nhiệm vụ này khiến chúng ta nể phục, thì cũng nên nhớ rằng nhiều dân tộc thời tiền sử khác từng vận chuyển những tảng đá rất nặng như tại bãi đá cổ Stone henge ở nước Anh, các Kim tự tháp Ai Cập, Teotihuacán và các trung tâm của người Inca và người Olmec để có thể suy luận ra điều gì đó về phương pháp của mỗi trường hợp. Các nhà khoa học hiện đại đã tiến hành thực nghiệm các giả thuyết khác nhau trong việc vận chuyển tượng của đảo Phục Sinh. Đầu tiên là Thor Heyerdahl, chắc chắn giả thuyết của ông là sai bởi ông đã phá hỏng những tượng đá trong quá trình thử nghiệm vận chuyển. Những người thử nghiệm sau đó cũng thử kéo tượng bằng nhiều cách, hoặc để tượng đứng hoặc để tượng nằm, có hoặc không có những xe trượt bằng gỗ, và trên hoặc không trên những đường ray đã chuẩn bị sẵn với những con lăn có bôi trơn hoặc với những thanh giằng cố định. Phương pháp có sức thuyết phục nhất đối với tôi là ý kiến của Jo Anne Van Tilburg cho rằng cư dân đảo Phục Sinh đã cải tạo những chiếc thang xuồng, khi đó rất phổ biến ở các đảo Thái Bình Dương dùng để vận chuyển những khúc gỗ nặng. Những khúc gỗ này được chặt trong rừng, đục thành hình chiếc thuyền độc mộc rồi được chuyển ra bờ biển. Chiếc thang là hai thanh gỗ song song, cố định với nhau bằng những thanh ngang (không phải là những con lăn có thể di chuyển được) và những khúc gỗ được kéo đi trên những chiếc thang này. Ở vùng New Guinea, tôi đã thấy những chiếc thang này dài tới hơn 1,609 kilômét, rộng hàng chục mét, dẫn từ bờ biển ngược lên tới chỗ đốn gỗ trong rừng, nơi một cây gỗ lớn bị hạ xuống và khoét thành một chiếc thuyền. Chúng ta biết rằng những chiếc thuyền lớn nhất của người Hawaii được vận chuyển bằng những chiếc thang xuồng nặng hơn một tượng đá cỡ trung bình trên đảo Phục Sinh, vì vậy phương pháp phỏng đoán này là hợp lý.

Jo Anne đã thuê những cư dân hiện đại trên đảo Phục Sinh để thực nghiệm giả thuyết của mình bằng cách tạo ra một chiếc thang xuồng kiểu này, đặt một tượng đá nằm nghiêng trên một xe trượt bằng gỗ, buộc dây chão vào xe trượt và kéo đi trên chiếc thang này. Bà thấy rằng khoảng 50-70 người, làm việc trong năm giờ đồng hồ mỗi ngày, mỗi lần gắng sức kéo được chiếc xe trượt đi được khoảng hơn 4,5 mét thì có thể chuyển được tượng đá cỡ trung bình nặng 12 tấn đi gần 15 kilômét trong một tuần. Điều quan trọng mà Jo và các cư dân trên đảo phát hiện ra là tất cả mọi người phải đồng thời gắng sức đẩy, giống như những người chèo thuyền đồng thời khua mái chèo. Bằng phép ngoại suy, có thể thấy rằng một nhóm 500 người lớn hoàn toàn có thể vận chuyển cả những tượng đá lớn như tượng Paro, như vậy việc vận chuyển tượng hoàn toàn nằm trong khả năng của một bộ tộc trên đảo Phục Sinh với cư dân chỉ 1.000 - 2.000 người.

Cư dân đảo Phục Sinh kể cho Thor Heyerdahl rằng tổ tiên họ đã dựng những bức tượng lên ahu như thế nào. Họ tỏ ra bực bội khi các nhà khảo cổ học không thèm hỏi ý kiến họ, và họ đã dựng một tượng đá cho ông xem mà không cần cần trục để chứng minh những gì họ nói. Những thông tin thu thập được ngày càng nhiều qua hàng loạt thực nghiệm vận chuyển và dựng tượng được các nhà khảo cổ học như William Mulloy, Jo Anne Van Tilburg, Claudio Cristino và những người khác tiếp tục thực hiện. Những cư dân trên đảo đã xây dựng một đoạn dốc thoai thoải từ quảng trường lên đỉnh mặt trước của bệ đá, sau đó để tượng nằm nghiêng với đế tượng xoay về hướng bệ đá và kéo tượng lên bệ. Khi đế tượng được kéo lên bệ, họ sẽ dùng các đòn bẩy bằng gỗ kê dưới đầu tượng để bẩy tượng lên 2,54 xăngtimét mỗi lần, rồi dùng những tảng đá chèn vào để giữ cho tượng không bị trôi xuống và bằng cách này tiếp tục dựng tượng đứng lên. Sau đó những đoạn dốc bằng đá này có thể bị dỡ ra và sử dụng lại để xây hai cánh bên của ahu. Pukao có thể được dựng cùng lúc và theo cách dựng tượng, cả hai được gắn vào nhau và được đặt trên cùng một giá đỡ.

Phần nguy hiểm nhất là giai đoạn cuối cùng, dựng tượng đứng thẳng lên từ một góc rất sâu, do đà của tượng trong lần dựng cuối cùng này có thể khiến tượng vượt quá chiều thẳng đứng và lật ra đằng sau bệ đá. Rõ ràng, để giảm rủi ro này những người thợ điêu khắc cổ đại đã thiết kế bức tượng không hoàn toàn vuông góc với chân đế phẳng của nó mà chỉ hơi vuông góc (với một góc khoảng 870 so với đế tượng chứ không phải là 900). Như vậy, khi tượng đã được dựng đứng lên một vị trí cố định với phần đế phẳng tiếp xúc với bệ đá, phần thân tượng vẫn hơi ngả về phía trước mà không có nguy cơ bị lật ra đằng sau. Sau đó họ từ từ và thận trọng bẩy phần cạnh trước của đế tượng lên vài độ, dùng đá chèn bên dưới đế cho tới khi tượng đứng thẳng. Nhưng những tai nạn thảm khốc vẫn có thể xảy ra ở giai đoạn cuối cùng, với những bằng chứng cho thấy tai nạn từng xảy ra trong quá trình dựng một bức tượng cao hơn tượng Paro tại Ahu Hanga Te Tenga. Bức tượng đã bị lật ra đằng sau và bị gãy.

Toàn bộ quá trình dựng tượng và bệ đá đòi hỏi phải có một lượng lương thực khổng lồ mà tù trưởng các bộ tộc dựng tượng phải chịu trách nhiệm thu xếp, chuẩn bị, vận chuyển và phân phối lương thực. Hằng tháng, tù trưởng phải lo lương thực cho 20 thợ điêu khắc, đồng thời trả công họ bằng lương thực. Sau đó là một nhóm vận chuyển từ 50-500 người và một đội dựng tượng tương đương cần được ăn nhiều hơn bình thường do làm những công việc nặng nhọc. Ngoài ra, còn những buổi chiêu đãi cho cả bộ tộc dựng tượng và những bộ tộc nơi tượng đi qua. Những nhà khảo cổ đầu tiên khi thử tính toán lượng công việc thực hiện, lượng calo tiêu thụ và lượng lương thực cần thiết đã không nhận ra rằng bản thân bức tượng chỉ là một phần nhỏ trong cả quá trình. Một ahu nặng hơn những bức tượng của nó tới 20 lần và tất cả số đá để xây dựng ahu cũng phải chuyển từ nơi khác đến. Jo Anne Van Tilburg và chồng là kiến trúc sư Jan, chuyên xây dựng những tòa nhà cao tầng hiện đại ở Los Angeles và chịu trách nhiệm tính toán phần công việc liên quan tới các cần trục và thang máy, đã tính toán sơ bộ những công việc tương tự trên đảo Phục Sinh. Căn cứ vào số lượng và kích cỡ của các ahu và moai trên đảo Phục Sinh, họ kết luận rằng công việc xây dựng những bức tượng đòi hỏi tăng thêm khoảng 25% lương thực của toàn đảo với thời gian xây dựng cật lực là 300 năm. Những tính toán này lý giải sự thừa nhận của Chris Stevenson rằng 300 năm miệt mài này đồng nghĩa với hàng thế kỷ phát triển nông nghiệp của Phục Sinh trên những vùng núi, nằm sâu trong đất liền để sản xuất ra lượng lương thực lớn hơn nhiều lần so với những năm trước đó.

Tuy nhiên chúng ta quên không tính đến một vấn đề khác. Việc dựng tượng đòi hỏi không chỉ rất nhiều lương thực mà còn phải có rất nhiều dây chão to và dài (được làm từ vỏ các loại cây có xơ của Polynesia), để 50 tới 500 người có thể kéo những bức tượng nặng từ 10-90 tấn, và cũng cần rất nhiều cây gỗ to để lấy gỗ làm xe trượt, làm thang xuồng và làm đòn bẩy. Nhưng đảo Phục Sinh như Roggeveen và những người châu Âu sau này nhìn thấy thì chỉ có rất ít cây cối, và chỉ là những cây nhỏ, cao chưa tới 3 mét, và là đảo duy nhất trong các đảo của Polynesia hầu như không có cây cối. Vậy những loại cây đã cung cấp dây chão và gỗ cần thiết từng sống ở đâu?

Những khảo sát thực vật về các loại cây sống trên đảo Phục Sinh trong thế kỷ XX đã xác định chỉ có 48 loài thực vật bản địa, thậm chí cả cây to nhất (cây toromiro cao tới 2,1 mét) cũng khó có thể gọi là cây gỗ, còn lại là những cây dương xỉ, cỏ, lác và cây bụi. Tuy nhiên, một số phương pháp thu thập tàn tích của những loài thực vật đã biến mất được thực hiện trong vài thập kỷ qua cho thấy, khoảng vài trăm ngàn năm trước khi con người đặt chân tới đây và ngay cả trong những thời kỳ đầu con người định cư, đảo Phục Sinh không phải là một vùng đất cằn cỗi mà là một khu rừng bán nhiệt đới với những cây cao và những cây bụi thân gỗ.

Phương pháp đầu tiên để mang lại kết luận trên là kỹ thuật phân tích phấn hoa (palynology), tiến hành khoan lấy mẫu một trầm tích nằm dưới một đầm lầy hay một chiếc hồ. Trong mẫu này, với điều kiện không được lắc hay khuấy lên, lớp bùn mặt sẽ là trầm tích mới nhất và lớp bùn sâu nhất đại diện lớp trầm tích cổ hơn. Tuổi thực tế của mỗi tầng trong trầm tích có thể xác định bằng phương pháp các bon đồng vị. Còn một việc chán ngắt, kéo dài là sử dụng kính hiển vi để kiểm tra hàng chục ngàn hạt phấn hoa có trong mẫu, đếm và xác định loại thực vật sinh ra mỗi hạt phấn hoa bằng cách so sánh với những loại phấn hoa của các loài cây đã biết. Với đảo Phục Sinh thì nhà khoa học đầu tiên thực hiện những công việc này là nhà nghiên cứu phấn hoa người Thụy Điển Olof Selling. Ông đã kiểm tra những lõi trầm tích khoan được từ các đầm lầy ở Rano Raraku và từ các núi lửa ở Rano Kau trong cuộc thám hiểm năm 1955 của Heyerdahl. Từ đó ông phát hiện ra rất nhiều phấn hoa của một loại cọ chưa xác định hiện không còn tồn tại trên đảo Phục Sinh.

Năm 1977 và 1983, John Flenley thu thập rất nhiều lõi trầm tích và lại thấy xuất hiện nhiều phấn hoa của cọ, nhưng năm 1983 Flenley may mắn có được hóa thạch của một số hạt cọ mà những nhà thám hiểm hang động người Pháp tìm thấy trong một hang động nham thạch ở Sergio Rapu Haoa. Sau đó, ông đã gửi những hóa thạch này tới các chuyên gia về cọ hàng đầu thế giới để phân tích. Kết quả là những hạt cọ này, dù hơi to hơn một chút, rất giống với loại cọ lớn nhất thế giới hiện nay là loại cọ có thể dùng để nấu rượu ở Chile, cao tới gần 20 mét với đường kính thân cây là khoảng 1 mét. Những nhà khoa học tới Phục Sinh sau này đã tìm thấy thêm nhiều bằng chứng của cây cọ dưới dạng những tiêu bản thân cọ bị chôn dưới những dòng nham thạch tại núi Terevaka từ hàng trăm ngàn năm trước, và những bó rễ cây cho thấy đường kính thân cọ ở đảo Phục Sinh đạt tới hơn 2,1 mét. Bởi vậy, loài cọ này lấn át thậm chí cả cọ Chile và có lẽ là loài cọ lớn nhất thế giới (khi chúng còn tồn tại).

Người Chile tôn vinh cây cọ hiện nay của họ bởi một vài lý do và những cư dân đảo Phục Sinh chắc hẳn cũng như vậy. Giống như ý nghĩa của cái tên, thân cọ có chứa một loại nước ngọt có thể ủ men để làm rượu hay đun sôi để làm mật hay làm đường. Nhân hạt cọ được coi là một món ăn quý. Lá cây là vật liệu lý tưởng để lợp nhà, làm giỏ xách, làm thảm và làm buồm. Và tất nhiên, thân cây chắc khỏe sẽ được dùng để vận chuyển và dựng các moai và có thể còn dùng để làm bè mảng.

Flenley và Sarah King cũng xác định được phấn hoa của năm loài cây khác hiện đã bị tuyệt chủng có trong lõi trầm tích. Mới gần đây, nhà khảo cổ học người Pháp Catherine Orliac đã kỳ công sàng khoảng 30.000 mẩu gỗ bị đốt cháy thành than từ những lõi trầm tích chôn vùi trong những bếp lò và những đống rác của đảo Phục Sinh. Noi gương các nhà khảo cổ lão luyện như Selling, Flenley và King, bà đã so sánh 2.300 mẩu than gỗ với những mẫu gỗ của các loại cây hiện vẫn tồn tại trên các vùng lãnh thổ của người Polynesia. Bằng cách này, bà đã xác định có 16 loại thực vật khác nhau từng sống trên đảo Phục Sinh, đa số là những cây có liên quan tới hay giống những loại cây hiện vẫn tồn tại phổ biến ở phía đông Polynesia. Bởi vậy, chắc chắn Phục Sinh từng có rừng rậm với nhiều loại cây.

Ngoài cọ, đa số 21 loài thực vật đã biến mất đều là những loại có giá trị với những cư dân trên đảo. Hai loại cây cao nhất có tên khoa học là Alphitonia cf. zizyphoides và Elaeocarpus cf. rarotongensis (cao tới 30 mét và 15 mét) từng được sử dụng để đóng thuyền trên khắp lãnh thổ Polynesia và chắc chắn tốt hơn cọ. Người Polynesia ở khắp nơi đều làm dây chão từ vỏ cây Triumfetta semitriloba hauhau và có thể cư dân đảo Phục Sinh đã dùng loại dây chão này để kéo các bức tượng của mình. Vỏ của loại cây dướng Broussonetia papyrifera được giã ra làm vải tapa; cây Psydrax odorata có thân rất thẳng và dẻo tốt cho chế tạo lao móc và mái chèo. Loại táo Malay Syzygium malaccense cho một loại trái có thể ăn được, gỗ hồng sắc đại dương Thespesia populanea và ít nhất tám loại thực vật khác có gỗ rắn hợp với tạc đẽo tượng và xây dựng. Cây Toromiro có gỗ cháy đượm như cây keo và mesquite. Có một thực tế là bà Orliac đã dựng lại tất cả những loài thực vật này từ những mẩu than để chứng minh rằng chúng đã từng được sử dụng làm củi.

Nhà cổ động vật học David Steadman đã miệt mài nghiên cứu 6.433 chiếc xương chim và xương các loài động vật có xương sống khác từ những bãi rác cổ xưa trên bãi biển Anakena, có lẽ là khu vực đầu tiên con người đặt chân tới và cũng là khu vực định cư đầu tiên của cư dân Phục Sinh. Bản thân là một nhà điểu học, tôi kính phục những kỹ năng xác định và con mắt tinh tường của Dave. Mặc dù tôi không biết làm thế nào để phân biệt xương một giống chim cổ đỏ với xương của một con bồ câu hay xương của một con chuột, nhưng Dave có thể phân biệt được xương của hàng tá loại hải âu có quan hệ gần gũi với nhau. Từ đó, ông đã chứng minh rằng mặc dù tại Phục Sinh hiện không một loài chim đất liền bản địa nào còn tồn tại, nhưng nó từng là nơi sinh sống của ít nhất sáu loài chim đất liền, trong đó có một loài diệc, hai loài gà nước, hai loài vẹt và một loài chim lợn. Ấn tượng hơn, đã có tổng số khoảng 25 loài chim biển từng làm tổ trên đảo Phục Sinh, biến đảo này trở thành nơi sinh sản chim biển đông nhất trong toàn lãnh thổ Polynesia và có thể cả trong toàn Thái Bình Dương. Những loài chim biển bao gồm hải âu lớn, chim điêu, chim chiến, hải âu fumma, hải âu petrel, chim biển prion, hải âu thường, chim báo bão, én biển và chim biển nhiệt đới. Do nằm ở nơi xa xôi và hoàn toàn không có những loài động vật ăn thịt, nên trước khi con người đặt chân tới đây, Phục Sinh là một thiên đường lý tưởng, cực kỳ an toàn cho các loài chim sinh sản. Dave còn phát hiện một số xương của hải cẩu, hiện vẫn còn sinh sôi tại quần đảo Galápagos và quần đảo Juan Fernandez ở phía đông của Phục Sinh, nhưng không rõ liệu số xương hải cẩu trên đảo Phục Sinh có phải do loài hải cẩu trước đây từng sinh sống trên đảo hay chỉ là một vài con sống lang thang.

Số xương chim và xương hải cẩu thu được từ những cuộc khai quật trên bãi biển Anakena cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin giá trị về khẩu phần ăn và lối sống của những cư dân đầu tiên trên đảo Phục Sinh. Trong số 6.433 chiếc xương của các loài động vật có xương sống được giám định từ những bãi rác, thì loại xương nhiều nhất, chiếm tới hơn 1/3 tổng số xương, được xác định là xương loài cá heo thường, nặng tới 75 kg, loài động vật lớn nhất mà cư dân đảo Phục Sinh có thể săn được. Đây là một điều đáng ngạc nhiên bởi không một nơi nào của Polynesia, xương cá heo lại chiếm quá 1% số xương tìm thấy trong các bãi rác. Loài cá heo thường sống ngoài biển, bởi vậy khó có thể bị đánh bắt bằng phương pháp thủ công như chài lưới hay dùng lao xiên từ bờ biển. Thay vào đó, chúng có thể bị đâm bằng lao ở ngoài khơi xa, trên những chiếc thuyền lớn có thể đi biển được làm từ những cây cao mà Catherine Orliac đã xác định.

Xương các loài cá khác cũng tìm thấy trong các bãi rác nhưng chỉ chiếm 23% tổng số xương, mặc dù ở những nơi khác của Polynesia cá là thực phẩm chính (chiếm từ 90% trở lên số xương tìm thấy). Tỷ lệ cá xuất hiện trong khẩu phần ăn của người Phục Sinh thấp là do địa hình bờ biển gồ ghề và đáy biển sâu, thẳng đứng nên chỉ có rất ít vùng nước nông để cư dân có thể đánh bắt cá bằng lưới hay bằng dây câu. Cũng vì lý do này nên khẩu phần ăn của người Phục Sinh có tỷ lệ động vật thân mềm và nhím biển thấp. Bù lại, đảo lại có rất nhiều loài chim đất liền và chim biển. Món chim hầm chắc cũng hợp với món thịt chuột, loài chuột theo những chiếc thuyền thám hiểm của người Polynesia vượt biển tới đảo Phục Sinh. Phục Sinh là đảo duy nhất của người Polynesia mà số xương chuột phát hiện ở những khu vực khảo cổ nhiều hơn số xương cá. Cho dù bạn có ghê sợ và coi chuột là loài không thể ăn thịt thì tôi vẫn phải kể rằng, thời kỳ tôi sống ở Anh cuối những năm 1950, các nhà sinh học người Anh là bạn tôi từng kể rằng trong thời kỳ chiến tranh, do thiếu lương thực nên họ đã phải chế biến cả những con chuột thí nghiệm thành thức ăn để bổ sung thực phẩm.

Cá heo, cá, những loài giáp xác, chim và chuột không phải là toàn bộ danh mục các nguồn thực phẩm sẵn có cho những cư dân đầu tiên của Phục Sinh. Tôi đã đề cập tới một vài chứng tích của hải cẩu và những loại xương khác chứng thực đôi khi cư dân trên đảo cũng bắt được những con rùa biển và có thể cả những con thằn lằn lớn. Tất cả những món cao lương mỹ vị này đều được nấu chín và đây cũng có thể là nguyên nhân khiến những cánh rừng Phục Sinh biến mất.

So sánh những trầm tích rác thời kỳ đầu với những trầm tích rác cuối thời kỳ tiền sử hay với những điều kiện hiện nay của đảo Phục Sinh, có thể nhận thấy những thay đổi lớn trong các nguồn thực phẩm phong phú ban đầu. Cá heo và các loại cá biển khác như cá ngừ đã biến khỏi khẩu phần ăn của cư dân trên đảo vì những lý do tôi sẽ trình bày dưới đây. Những loài cá tiếp tục bị đánh bắt chủ yếu là những loài cá ven bờ. Những giống chim đất liền hoàn toàn không còn trong khẩu phần ăn chỉ vì lý do đơn giản là bất cứ loài sinh vật nào cũng không tránh khỏi bị tuyệt chủng trước hàng loạt yếu tố như săn bắn quá nhiều, phá rừng và bị chuột ăn thịt. Đây là thảm họa tồi tệ nhất xảy ra với những loài chim trên đảo Thái Bình Dương, tồi tệ hơn cả những gì đã xảy ra với New Zealand và Hawaii khi loài chim Moa, loài ngỗng không biết bay và một số loài sinh vật khác bị tuyệt chủng, nhưng không ít loài sinh vật vẫn sống sót. Không một đảo nào trên Thái Bình Dương mà tất cả các loài chim đất liền đều bị tuyệt chủng như đảo Phục Sinh. Trong số 25 loài chim biển (có thể còn nhiều hơn) từng sinh sản trên đảo, do bị săn bắn vô hạn độ và bị chuột ăn thịt, 24 loài đã không còn tiếp tục sinh sản trên đảo; có khoảng 9 loài hiện chỉ sinh sản ở một vài đảo đá nhỏ ngoài biển Phục Sinh, và 15 loài khác trên những đảo đá này cũng bị tuyệt chủng. Thậm chí các loài giáp xác cũng bị khai thác quá nhiều, nhưng sau này con người ít ăn các loài ốc tiền lớn quý hiếm mà ăn nhiều ốc sên đen nhỏ hơn, và số vỏ ốc tiền và ốc sên trong các bãi rác cũng giảm theo thời gian bởi cư dân thích đánh bắt những loài khác lớn hơn.

Loài cọ khổng lồ, và tất cả những loài cây khác hiện đã bị tuyệt chủng được các nhà khảo cổ học Catherine Orliac, John Flenley và Sarah King xác định đã biến mất bởi chừng nửa tá lý do mà chúng ta có thể ghi nhận được hay phỏng đoán. Những mẫu than củi mà Orliac lấy từ những bếp lò là bằng chứng trực tiếp rằng nhiều loại cây đã bị chặt để làm củi. Chúng còn được dùng để thiêu xác: tại nơi hỏa táng trước đây của Phục Sinh hiện vẫn còn tàn tích của hàng ngàn thi thể và lượng lớn tro xương người, chứng tỏ một lượng gỗ rất lớn đã được dùng để hỏa táng. Cây cối còn bị chặt để lấy đất canh tác, bởi phần lớn đất mặt của Phục Sinh, ngoại trừ những vùng núi cao nhất, đều trở thành đất canh tác. Từ rất nhiều xương của cá heo và cá ngừ đại dương được tìm thấy trong đống rác thời cổ xưa, chúng ta có thể phỏng đoán rằng những loại cây lớn như Alphitonia và Elaeocarpus đã bị cư dân trên đảo chặt xuống để đóng những chiếc thuyền lớn có thể đi biển. Những chiếc thuyền bé nhỏ, mỏng manh, dễ thấm nước mà nhà thám hiểm Roggeveen đã thấy chắc chắn không thể dùng để đi đâm cá ngoài khơi hay mạo hiểm ra khơi xa. Chúng ta phỏng đoán rằng những cây này cung cấp gỗ và vỏ để làm dây chão vận chuyển và dựng tượng, chắc chắn chúng còn được sử dụng cho nhiều mục đích khác. Giống chuột du nhập vô tình lên đảo Phục Sinh theo những chuyến di cư cũng rất thích loại cọ này và cả những loại cây khác. Tất cả số hạt cọ tìm thấy trên đảo Phục Sinh đều có vết răng chuột gặm nhấm và không còn khả năng nảy mầm.

Phá rừng có thể đã bắt đầu ngay từ khi con người mới chân ướt chân ráo bước lên đảo vào khoảng năm 900 và hoàn tất vào năm 1722, thời điểm nhà thám hiểm Roggeveen tới đây và chẳng thấy cây nào cao quá 3 mét. Liệu chúng ta có thể xác định chính xác thời điểm phá rừng diễn ra trong khoảng thời gian từ năm 900 đến năm 1722? Có năm loại bằng chứng có thể giúp chúng ta. Hầu hết niên đại được xác định bằng kỹ thuật các bon phóng xạ trên những hạt cọ đều cho thấy niên đại trước năm 1500, chứng tỏ sau thời điểm đó, cọ đã trở thành hiếm có hay tuyệt chủng. Trên bán đảo Poike, nơi đất đai cằn cỗi nhất Phục Sinh và có lẽ cũng là nơi rừng bị tàn phá đầu tiên, những cây cọ biến mất hoàn toàn vào khoảng năm 1400 mặc dù có những dấu hiệu nông nghiệp chứng tỏ con người vẫn tiếp tục sinh sống ở đây. Những mẫu than củi lấy từ những bếp lò và các hố rác được xác định niên đại bằng các bon phóng xạ cho thấy, từ sau năm 1640 than củi dần được thay thế bằng các loại thảo mộc và cỏ làm chất đốt, có lẽ ngay cả những gia đình thuộc tầng lớp cao hơn cũng chặt những cây quý giá cuối cùng sau khi không còn cây gỗ nào cho nông dân. Những lõi phấn hoa của Flenley cho thấy sự tuyệt chủng của các loại cây như cọ, cây cúc, toromiro và cây bụi và được thay thế bằng cỏ và phấn hoa của thảo mộc trong giai đoạn từ năm 900 tới năm 1300. Nhưng những niên đại xác định bằng các bon đồng vị áp dụng với các lõi trầm tích lại không trực tiếp chỉ ra thời điểm rừng bị phá so với những niên đại trực tiếp trên cọ và hạt cọ. Cuối cùng, những khu vườn trên các vùng núi mà Chris Stevenson đã nghiên cứu, có thời gian tồn tại tương đương với khoảng thời gian tối đa sử dụng gỗ và dây chão để dựng tượng, được duy trì trong khoảng thời gian từ đầu những năm 1400 tới những năm 1600. Tất cả những điều này cho thấy việc phá rừng diễn ra ngay từ khi con người đặt chân lên đảo, đỉnh điểm vào khoảng năm 1400 và rừng bị phá hoàn toàn vào khoảng từ đầu những năm 1400 tới những năm 1600, tùy từng vùng khác nhau.

Bức tranh toàn cảnh của đảo Phục Sinh là ví dụ sinh động nhất về tình trạng phá rừng ở Thái Bình Dương, và cũng là trường hợp phá rừng khốc liệt nhất thế giới. Toàn bộ rừng đã biến mất và tất cả các loại cây rừng đều bị tuyệt chủng. Những hậu quả tức thời đối với cư dân trên đảo là mất nguồn nguyên liệu thô, mất các loại thực phẩm mà thiên nhiên mang lại và hoa lợi giảm.

Không còn các loại nguyên liệu thô hay còn nhưng số lượng bị giảm mạnh khiến những sản phẩm làm từ các loài cây và loài chim bản địa như gỗ, dây chão, vỏ cây để làm vải và lông chim cũng suy giảm mạnh. Không còn những cây gỗ lớn và dây chão nên việc vận chuyển và dựng tượng phải chấm dứt, kể cả việc đóng những chiếc thuyền lớn có thể đi biển. Năm 1838, khi năm chiếc xuồng nhỏ, dễ thấm nước, mỗi chiếc chở được hai người chèo ra trao đổi hàng hóa với một chiếc tàu thủy của Pháp thả neo ngoài khơi đảo Phục Sinh, viên thuyền trưởng đã ghi lại nhận xét: “Những người thổ dân liên tục nhắc đi nhắc lại một cách phấn khích từ miru và tỏ ra mất kiên nhẫn khi thấy chúng tôi không hiểu gì. Từ này là tên của một loại gỗ mà người Polynesia sử dụng để đóng thuyền. Đó cũng là mặt hàng họ muốn có nhất và họ làm mọi cách để chúng tôi hiểu điều đó…”. Cái tên “Terevaka” của ngọn núi cao nhất và lớn nhất đảo Phục Sinh có nghĩa là “Nơi đóng thuyền”, trước khi những cây cối trên các sườn núi bị chặt để lấy đất canh tác. Những loại cây này từng được sử dụng để lấy gỗ và hiện vẫn còn rải rác những chiếc dùi bằng đá, những chiếc nạo, dao, đục và những dụng cụ khác để làm mộc và đóng thuyền từ thời kỳ này. Không còn những cây gỗ lớn có nghĩa là con người không có củi để đun nấu, để sưởi ấm trong những đêm đông và dưới những cơn mưa lớn lạnh giá do mất rừng với nhiệt độ 100C của đảo Phục Sinh. Thay vào đó, sau năm 1650, những cư dân của đảo Phục Sinh buộc phải đổi sang đốt các loại thảo mộc, các loại cỏ, bã mía và những phế thải khác từ cây trồng. Chắc hẳn đã xảy ra cuộc tranh giành dữ dội những bụi cây còn lại giữa các cư dân trên đảo để lợp nhà, những mẩu gỗ còn sót lại để làm nhà, làm dụng cụ sản xuất và làm vải từ vỏ cây. Ngay cả lễ tang cũng phải thay đổi, việc hỏa táng đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều gỗ trở nên phi thực tế khiến cư dân phải chuyển sang hình thức ướp xác và mai táng.

Đa phần các nguồn lương thực từ thiên nhiên không còn nữa. Không có thuyền lớn có thể đi biển, xương cá heo, từng là một loại thực phẩm chính của cư dân trên đảo trong những thế kỷ đầu tiên, hoàn toàn đã biến mất khỏi những đống rác có niên đại năm 1500, kể cả cá ngừ và cá biển. Số lượng rác là lưỡi câu và xương cá nói chung cũng giảm, chỉ còn đa phần là những loài cá có thể đánh bắt ở những vùng nước nông hay ở gần bờ. Những loài chim đất liền biến mất hoàn toàn và số chim biển còn sót lại chỉ bằng 1/3 số ban đầu và giới hạn sinh sản chỉ trên vài đảo đá ngoài khơi của Phục Sinh. Hạt cọ, táo Malay và tất cả các loại hoa quả dại khác đã không còn trong khẩu phần ăn. Những loài giáp xác ăn được ngày càng nhỏ đi và số lượng ngày càng ít đi. Chỉ có một nguồn thực phẩm hoang dã không hề thay đổi và luôn sẵn có đó là chuột.

Cùng với những nguồn lương thực tự nhiên bị suy giảm mạnh mẽ, sản lượng hoa màu cũng giảm vì một số lý do. Phá rừng dẫn tới hiện tượng xói mòn cục bộ do mưa và gió, thể hiện bằng số ion kim loại tìm thấy trong đất tăng mạnh theo kết quả nghiên cứu những lõi trầm tích lấy lên từ đầm lầy của nhà khảo cổ Flenley. Ví dụ, những cuộc khai quật trên bán đảo Poike cho thấy hoa màu ban đầu được trồng xen kẽ với những cây cọ. Tán cọ rợp mát, bảo vệ đất và hoa màu trước ánh nắng chói chang của mặt trời, giúp ngăn chặn nước bay hơi, chống lại những tác động trực tiếp từ gió và mưa. Những cây cọ bị chặt gây ra xói mòn nghiêm trọng tới mức vùi lấp cả các ahu và tạo thành những con dốc bằng đất, buộc cư dân trên đảo phải từ bỏ những cánh đồng trên bán đảo Poike vào khoảng năm 1400. Chỉ tới khi những đồng cỏ dại tự hình thành trên bán đảo, hoạt động nông nghiệp mới được khôi phục vào khoảng năm 1500, rồi một thế kỷ sau lại bị bỏ hoang trong làn sóng xói mòn thứ hai. Những tổn hại khác với đất do phá rừng làm hoa lợi giảm còn bao gồm cả hiện tượng đất bị khô cằn. Phần lớn những loại lá cây, hoa quả và những cây con hoang dại trước đây nông dân dùng làm phân bón giờ cũng đã tuyệt chủng.

Đó là những hậu quả tức thời do phá rừng và những hành động khác tàn phá môi trường của con người. Những hậu quả nặng nề hơn khởi đầu với nạn đói, dân số suy giảm và con người suy thoái thành những kẻ ăn thịt người. Những lời kể của những cư dân trên đảo còn sống sót về nạn đói được chứng thực một cách sinh động bằng sự gia tăng nhanh chóng của những bức tượng nhỏ gọi là moai kavakava, mô tả những người đói ăn, má hõm và xương sườn nhô ra. Năm 1774, thuyền trưởng Cook mô tả những cư dân trên đảo là “bé nhỏ, gầy còm, nhút nhát và đáng thương”. Số nhà nằm ở vùng đất thấp trên bờ biển, nơi sinh sống trước đây của hầu hết cư dân, giảm tới 70% so với thời kỳ cao điểm khoảng năm 1400 – 1600 và những năm 1700, cho thấy số cư dân cũng giảm tương ứng. Thay cho những nguồn thực phẩm hoang dã trước kia, cư dân trên đảo giờ chuyển sang nguồn thực phẩm rất sẵn có nhưng họ chưa từng sử dụng, đó là thịt người. Xương người được tìm thấy rất nhiều không chỉ ở những nơi mai táng mà còn cả trong những đống rác trên đảo Phục Sinh sau này (xương đã bị đập vỡ để hút tủy). Trong truyền thuyết dân gian của cư dân trên đảo đầy rẫy những câu chuyện về những kẻ ăn thịt người, những lời châm chọc kích động nhất có thể khiến kẻ thù nổi điên là câu: “Thịt của mẹ anh đang dính chặt vào răng tôi đây này”.

Giới tù trưởng và tu sĩ trên đảo Phục Sinh trước đây bảo vệ địa vị cao quý của mình bằng cách viện ra rằng họ có khả năng liên hệ với thần thánh, và hứa hẹn sẽ mang lại cuộc sống ấm no và mùa màng bội thu. Họ củng cố tư tưởng này bằng những kiến trúc và những nghi lễ lạ thường để gây ấn tượng với đám đông, và được đám đông cống nạp lương thực. Khi cư dân nhận ra những lời hứa của họ chỉ là những lời hứa rỗng tuếch, thì quyền lực của các tù trưởng và tu sĩ bị các thủ lĩnh quân sự gọi là matatoa lật đổ vào khoảng năm 1680 và xã hội thống nhất trước đây của Phục Sinh giờ đã sụp đổ bởi cuộc nội chiến lan tràn nhanh chóng. Những mũi lao bằng đá chai cứng (gọi là mata’a) có từ thời kỳ xung đột hiện vẫn còn rải rác trên đảo Phục Sinh. Giờ những dân thường đã dựng lều trên những bờ biển trước kia chỉ dành để dựng những ngôi nhà (hare paenga) cho những người thuộc tầng lớp trên. Để đảm bảo an toàn, nhiều người đã chui vào sống trong những hang động được đào rộng thêm ra, lối vào bị bịt bớt lại thành một đường hầm hẹp để tiện tự vệ. Những tàn tích của lương thực, những chiếc kim khâu làm bằng xương, những dụng cụ nghề mộc và những công cụ để may vải tapa tìm thấy trong những hang động chứng tỏ con người đã sống trong những hang động một thời gian dài, chứ không phải chỉ là nơi ẩn nấp tạm thời.

Sai lầm trong sự suy thoái của xã hội người Polynesia trên đảo Phục Sinh không chỉ bởi hệ tư tưởng chính trị cũ kỹ mà còn cả bởi tín ngưỡng lỗi thời đã bị loại bỏ cùng quyền lực của các tù trưởng. Những truyền thuyết dân gian kể rằng ahu và moai cuối cùng được dựng vào khoảng năm 1620, và Paro (tượng đá cao nhất) cũng nằm trong số này. Những khu vườn trên các vùng núi thuộc sở hữu của tầng lớp cao hơn từng sản xuất lương thực cho những nhóm dựng tượng cũng liên tục bị bỏ hoang trong thời kỳ từ năm 1600 đến 1680. Quy mô các tượng đá ngày càng tăng phản ánh có thể không chỉ những tù trưởng kình địch ganh đua với nhau, mà đó còn là lời khẩn cầu thần linh do những khủng hoảng môi trường ngày càng lớn. Khoảng năm 1680, thời điểm diễn ra sự lật đổ bằng bạo lực, những bộ tộc đối địch nhau chuyển từ ganh đua dựng tượng sang lật đổ tượng của nhau, bằng cách lật tượng vào một phiến đá để tượng bị vỡ. Bởi vậy, như chúng ta sẽ còn thấy trong các chương 4 và 5 về người Anasazi và người Maya, sự sụp đổ của xã hội Phục Sinh là sự suy thoái nhanh chóng sau khi xã hội đạt tới đỉnh điểm về dân số, xây dựng đền đài và tác động tới môi trường.

Chúng ta không biết vào thời điểm người châu Âu đầu tiên đặt chân lên đảo thì xã hội Phục Sinh đã sụp đổ tới mức nào, bởi năm 1722 Roggeveen chỉ dừng chân ở đảo trong một khoảng thời gian ngắn và cũng chỉ ở trong một khu vực, và cuộc thám hiểm năm 1770 của nhà thám hiểm González, người Tây Ban Nha không ghi chép gì về hòn đảo, ngoại trừ những ghi chép trong cuốn nhật trình. Mô tả đầu tiên tương đối đầy đủ là của thuyền trưởng Cook viết vào năm 1774. Ông ở lại trên đảo bốn ngày và đã phái một đội thám hiểm đi sâu vào đất liền có mang theo một người Tahiti có ngôn ngữ tương tự như cư dân trên đảo Phục Sinh và có thể giao tiếp với họ. Cook mô tả những bức tượng đã bị đổ và cả những bức vẫn còn đứng vững. Tài liệu cuối cùng của người châu Âu nói về một bức tượng vẫn còn đứng là vào năm 1838, nhưng vào năm 1868 thì không còn một tài liệu nào viết về những bức tượng còn đứng vững. Truyền thuyết dân gian kể rằng bức tượng cuối cùng bị lật đổ (vào khoảng năm 1840) là tượng Paro, nghe nói là do một phụ nữ dựng lên để tỏ lòng tôn kính chồng mình, và bị kẻ thù của gia đình lật đổ nên Paro bị vỡ ngang thân.

Bản thân những Ahu cũng không còn được coi là vật thiêng liêng khi một số phiến đá tốt bị cạy ra để làm tường rào của những khu vườn (gọi là manavai) ngay bên cạnh. Một số phiến khác thì bị dùng để xây những nhà tang lễ, nơi quàn xác chết. Hậu quả là hiện những ahu vẫn chưa được phục chế và đa phần thoạt nhìn trông giống như những đống đá. Khi tôi cùng các nhà khảo cổ Jo Anne Van Tilburg, Claudio Cristino, Sonia Haoa, Barry Rolett lái xe đi quanh Phục Sinh, chúng tôi đã thấy những chiếc ahu nằm cạnh nhau trông như một đống đá vụn với những bức tượng bị gãy. Chúng hiện thân cho sức lực vĩ đại của cư dân trên đảo trong hàng thế kỷ để xây dựng những chiếc ahu, tạc đẽo, vận chuyển và dựng những moai và cũng chính họ đã phá hủy những tác phẩm của tổ tiên mình. Trong lòng chúng tôi tràn ngập cảm giác chua xót.

Việc cư dân đảo Phục Sinh lật đổ những moai của tổ tiên họ khiến tôi nhớ tới trường hợp những người Nga và người Rumani lật đổ tượng của Stalin và Ceausescu khi Chính phủ Cộng sản của các nước này sụp đổ. Chắc hẳn sự căm ghét những thủ lĩnh đã dồn nén trong tâm trí cư dân trên đảo từ lâu, giống như những gì chúng ta chứng kiến ở người Nga và người Rumani. Tôi phân vân không biết có bao nhiêu tượng đã bị những kẻ thù của từng chủ tượng lần lượt lật đổ giống như tượng Paro, và bao nhiêu tượng bị phá hủy khi những cơn cuồng nộ và thất vọng biến thành làn sóng lan tràn nhanh chóng như đã xảy ra khi chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu và Nga chấm dứt. Tôi cũng nhớ tới một thảm họa văn hóa và sự bác bỏ tín ngưỡng mà tôi được nghe kể hồi năm 1965 tại ngôi làng Bomai ở một vùng cao của New Guinea. Một nhà truyền giáo Cơ đốc đã kể với tôi giọng tự hào rằng ông đã từng kêu gọi những tín đồ mới thu thập “những đồ ngoại đạo” (như những di sản văn hóa và nghệ thuật của họ), tập trung lại một chỗ để đốt và họ đã ngoan ngoãn nghe theo như thế nào. Có lẽ những matatoa trên đảo Phục Sinh đã ra một lệnh tương tự cho những tín đồ của mình.

Tôi không muốn mô tả sự phát triển xã hội trên đảo Phục Sinh sau năm 1680 là hoàn toàn tiêu cực và phá hoại. Những người sống sót phải thích nghi với cuộc sống và tín ngưỡng mới trên đảo tốt nhất có thể. Không chỉ tục ăn thịt người mà cả những chiếc chuồng gà cũng xuất hiện sau năm 1650, trước đây xương gà chiếm chưa tới 0,1% số xương hàng loạt từ động vật trong những đống rác cổ nhất mà David Steadman, Patricia Vargas và Claudio Cristino đã khai quật ở Anakena. Để bao biện cho những hành động bạo lực của mình, những matatoa lập ra một giáo phái tôn thờ đấng Tạo hóa Makemake, người trước đó chỉ được coi là một trong những vị thần của Phục Sinh. Trung tâm của giáo phái này là làng Orongo, trên rìa miệng núi lửa Rano Kau, trông ra ba hòn đảo ngoài khơi lớn nhất, nơi những loài chim biển làm tổ. Tôn giáo mới này phát triển những kiểu cách nghệ thuật mới của riêng mình, nhất là nghệ thuật khắc đá hình những bộ phận sinh dục nữ, người chim và những con chim (mức độ giảm dần theo thứ tự). Những hình này được khắc không chỉ trên những đền thờ của Orongo mà đôi khi cả trên những moai và pukao bị lật đổ. Hằng năm giáo phái Orongo tổ chức một cuộc thi cho những người đàn ông bơi qua một eo biển chia cắt giữa các đảo nhỏ rộng chừng một dặm, lạnh buốt và đầy cá mập để nhặt quả trứng én biển đầu tiên và bơi trở về Phục Sinh mà không làm vỡ trứng và được phong tặng “Người Chim của năm”. Lễ hội cuối cùng của Orongo được tổ chức năm 1867 và những nhà truyền giáo Thiên Chúa đã được chứng kiến, như vậy những gì còn sót lại của xã hội đảo Phục Sinh không phải bị cư dân trên đảo tàn phá mà bị chính thế giới bên ngoài phá hủy.

Có thể tóm tắt ngắn gọn câu chuyện buồn về những tác động của người châu Âu tới các cư dân trên đảo Phục Sinh. Sau lần tạm trú ngắn ngày của thuyền trưởng Cook vào năm 1774, dòng người châu Âu tìm tới đảo này đã tăng mạnh. Như những tư liệu tìm thấy ở Hawaii, Fiji và nhiều đảo Thái Bình Dương khác, chính những người này đã mang theo những căn bệnh châu Âu giết chết rất nhiều cư dân trên đảo trước đó hoàn toàn khỏe mạnh và chưa hề mắc những loại bệnh này, dịch bệnh đầu tiên mà chúng ta biết đến là bệnh đậu mùa xảy ra vào năm 1836. Ngoài ra, cũng như trên các đảo Thái Bình Dương khác, hiện tượng cư dân trên đảo bị bắt làm nô lệ cũng bắt đầu diễn ra trên đảo Phục Sinh vào khoảng năm 1805 và lên tới đỉnh điểm vào năm 1862-63, năm đen tối nhất trong lịch sử Phục Sinh, khi hơn 20 chiếc thuyền của Peru bắt đi khoảng 1.500 người (một nửa dân số còn sống sót trên đảo) và bán họ làm nô lệ ở những mỏ phân chim biển của Peru và làm đầy tớ. Hầu hết những người bị bắt cóc đã chết trong khi bị bắt giữ. Dưới áp lực của cộng đồng quốc tế, Peru đã phải hồi hương khoảng một tá người bị bắt cóc vẫn còn sống sót, chính những người này đã mang về đảo mầm bệnh gây ra một đại dịch bệnh đậu mùa khác. Những nhà truyền giáo Thiên Chúa tới đây cư trú vào năm 1864. Tới năm 1872, trên đảo chỉ còn 111 cư dân.

Những thương nhân châu Âu đưa cừu tới Phục Sinh vào những năm 1870 và đòi được sở hữu đất đai ở đây. Năm 1888, chính phủ Chile thôn tính Phục Sinh và biến hòn đảo trở thành một nông trại chăn nuôi cừu do một công ty Scottland ở Chile điều hành. Tất cả những cư dân trên đảo bị dồn vào sống trong một ngôi làng, phải làm việc cho công ty và được trả công bằng hàng hóa tại cửa hàng của công ty chứ không phải bằng tiền mặt. Cuộc nổi dậy của cư dân trên đảo vào năm 1914 bị Chile mang tàu chiến tới trấn áp. Việc chăn thả quá nhiều cừu, dê và ngựa của công ty này gây ra hiện tượng xói mòn và làm tuyệt chủng phần lớn những loài thực vật bản địa còn sót lại trên đảo, kể cả những cây hauhau và toromiro cuối cùng cũng bị tiêu diệt vào năm 1934. Mãi tới năm 1966, những cư dân trên đảo mới được coi là công dân Chile. Ngày nay, những cư dân trên đảo đang nỗ lực phục hồi những giá trị văn hóa, nền kinh tế được kích thích phát triển khi mỗi tuần có vài chuyến bay của hãng hàng không quốc gia Chile từ Santiago và Tahiti chở những du khách (như Barry Rolett và tôi) tới đây tham quan những bức tượng nổi tiếng. Tuy nhiên, mặc dù chỉ trong một chuyến tham quan ngắn nhưng vẫn có thể nhận thấy sự căng thẳng rõ ràng giữa những cư dân trên đảo và những người Chile sinh ra trên đất liền, hiện chiếm một số lượng tương đương, trên đảo Phục Sinh.

Không nghi ngờ gì, hệ thống văn tự rongo-rongo nổi tiếng của đảo Phục Sinh là do những cư dân trên đảo phát minh, nhưng không hề có bằng chứng về sự tồn tại của văn tự này mãi cho tới khi những nhà truyền giáo Thiên Chúa phát hiện lần đầu tiên vào năm 1864. 25 mẫu vật còn sót lại có lưu những ký tự ghi lại mối liên hệ với người châu Âu diễn ra muộn hơn thực tế; một vài mẫu vật là những mảnh gỗ của nước ngoài hay một mái chèo của người châu Âu, một số do cư dân trên đảo sản xuất để bán cho những cha xứ Thiên Chúa giáo người Tahiti, những người quan tâm tới chữ viết và đang để tâm tìm kiếm bằng chứng. Năm 1995, nhà ngôn ngữ học Steven Fischer tuyên bố giải mã thành công những văn tự bằng chữ rongo-rongo, đó là những lời cầu nguyện cho sự sinh sản, nhưng bản dịch của ông vẫn còn gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học. Hiện phần lớn những chuyên gia về đảo Phục Sinh, trong đó có Fischer, đồng ý rằng sự sáng tạo ra văn tự rongo-rongo bắt nguồn từ những tiếp xúc đầu tiên của cư dân trên đảo với chữ viết trong lần người Tây Ban Nha đặt chân lên đảo vào năm 1770, hoặc do thảm họa săn nô lệ của người Peru diễn ra vào năm 1862-63 đã giết chết nhiều người chuyên kể chuyện dân gian.

Một phần bởi lịch sử bị bóc lột và trấn áp, nên cả những cư dân trên đảo và những nhà khoa học đều không thừa nhận thực tế những tác hại môi trường do chính con người gây ra trước khi nhà thám hiểm Roggeveen đặt chân lên đảo vào năm 1722, bất chấp mọi bằng chứng cụ thể mà tôi đã tóm tắt bên trên. Về bản chất, cư dân trên đảo nói: “Tổ tiên chúng tôi chẳng bao giờ làm như vậy”, trong khi những nhà khoa học tới đây nghiên cứu cũng nói: “Những con người tốt bụng và đáng yêu này sẽ chẳng bao giờ làm vậy”. Như Michel Orliac đã đưa ra những nhận xét tương tự về thay đổi môi trường ở Tahiti: “… ít nhất là dường như, nếu không nói là không tới mức như vậy, những biến đổi môi trường bắt nguồn từ những nguyên nhân tự nhiên chứ không phải từ những hành vi của con người. Đây là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi (McFadgen 1985; Grand 1985; McGlone 1989), nên tôi không dám tự nhận rằng đã tìm ra một lời giải tuyệt đối, cho dù bởi tôi có tình cảm với người Polynesia nên tôi chọn những tác động của thiên nhiên (ví dụ như gió xoáy) để lý giải những tổn hại gây ra cho môi trường”. Có ba giả thuyết khác nhau bênh vực rằng những tổn hại môi trường trên đảo Phục Sinh không phải do những cư dân trên đảo gây ra.

Thứ nhất, có ý kiến cho rằng tình trạng rừng trên đảo Phục Sinh bị tàn phá mà Roggveen đã chứng kiến năm 1722, không phải do những cư dân trên đảo gây ra mà do những xáo trộn bởi những người châu Âu, trước Roggveen, gây ra. Hoàn toàn có khả năng đã có một hay nhiều chuyến thám hiểm như vậy nhưng không được sử sách ghi lại. Nhiều thuyền buồm lớn của người Tây Ban Nha đã qua lại Thái Bình Dương trong những năm 1500 và 1600, và những phản ứng của cư dân trên đảo với cuộc thám hiểm của Roggveen như lãnh đạm, không tò mò và không sợ hãi chứng tỏ có thể trước đó người châu Âu đã từng tới đây. Phản ứng của cư dân trên đảo không phải là phản ứng sợ hãi thường thấy ở những dân tộc sống hoàn toàn biệt lập và luôn cho rằng mình là những con người duy nhất trên thế giới. Tuy nhiên, chúng ta không có bất kỳ bằng chứng cụ thể nào về một cuộc thám hiểm Phục Sinh của người châu Âu diễn ra trước thời điểm năm 1722, cũng như không có bằng chứng rõ ràng những cuộc thám hiểm đó là nguyên nhân khiến rừng bị tàn phá. Thậm chí ngay cả trước khi Magellan trở thành người châu Âu đầu tiên vượt Thái Bình Dương vào năm 1521, đã có vô khối bằng chứng chứng minh sự tác động hàng loạt của con người tới đảo Phục Sinh. Đó là sự tuyệt chủng của tất cả các loài chim đất liền, sự biến mất của cá heo và cá ngừ khỏi khẩu phần của cư dân, sự suy giảm của phấn hoa các loại cây trong những lõi trầm tích của Flenley có niên đại trước năm 1300, rừng bị tàn phá trên bán đảo Poike vào khoảng năm 1400, tất cả các hạt cọ được xác định niên đại bằng kỹ thuật các bon phóng xạ đều có trước năm 1500 và nhiều bằng chứng khác.

Giả thuyết thứ hai cho rằng rừng bị tàn phá có thể do những hiện tượng thay đổi khí hậu tự nhiên gây ra như hạn hán hay El Nino. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu hiện tượng thay đổi khí hậu thực sự gây hại cho Phục Sinh, bởi chúng ta sẽ thấy những thiệt hại kinh tế do những bất lợi về mặt khí hậu càng bị những tác động môi trường của con người làm trầm trọng thêm như trong các xã hội Anasazi (Chương 4), Maya (Chương 5), Greenland Norse (Chương 7 và 8), và có thể còn ở nhiều xã hội khác. Hiện chúng ta không có những thông tin về hiện tượng thay đổi khí hậu trên đảo Phục Sinh giai đoạn từ năm 900 - 1700 , bởi vậy chúng ta không biết liệu khí hậu thời kỳ đó bị hanh khô hơn, khắc nghiệt hơn và ít thuận lợi cho rừng phát triển (như những người chỉ trích đã viện dẫn), hay ngược lại ẩm ướt hơn, bớt khắc nghiệt hơn và thuận lợi hơn cho rừng phát triển. Nhưng với tôi, có bằng chứng đầy sức thuyết phục chống lại quan điểm cho rằng hiện tượng thay đổi khí hậu là nguyên nhân khiến rừng bị tàn phá và các loài chim bị tuyệt chủng. Những tiêu bản thân cọ tìm thấy trong những dòng nham thạch của núi Terevaka chứng tỏ rằng loài cọ khổng lồ đã tồn tại trên đảo Phục Sinh trong khoảng thời gian hàng trăm ngàn năm; và những lõi trầm tích của Flenley có phấn hoa của cọ, cây cúc dại, cây toromiro và chừng nửa tá chủng loại cây khác sống trên đảo Phục Sinh từ 21.000 - 38.000 năm trước. Bởi vậy, trong thời gian dài như vậy chắc chắn hệ thực vật của Phục Sinh đã trải qua vô số những đợt hạn hán và El Nino và chúng không thể đồng loạt chết bởi hạn hán và El Nino vào cùng một thời điểm sau khi những con người vô tội đặt chân lên đảo. Thực tế, những di chỉ mà Glenley tìm thấy chứng tỏ khoảng 12.000 đến 26.000 năm trước, khí hậu Phục Sinh trở nên khô và lạnh, khắc nghiệt hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới có cùng khí hậu khô lạnh trong vòng một ngàn năm trở lại đây. Lý do bởi những cây gỗ của Phục Sinh trên các vùng núi bị đưa xuống trồng ở những vùng đất thấp.

Giả thuyết thứ ba là cư dân đảo Phục Sinh chắc chắn không ngốc tới mức chặt hết cây cối của mình khi nhận thấy những hậu quả nhỡn tiền đối với họ. Như Catherine Orliac phát biểu: “Tại sao lại phải phá một khu rừng cần cho sự tồn tại cả về mặt thể chất và tinh thần cho mọi người (như những cư dân đảo Phục Sinh)?”. Đây thực sự là một câu hỏi quan trọng, không chỉ riêng Catherine Orliac đặt ra mà ngay cả những sinh viên của tôi tại trường Đại học California, tôi và bất cứ ai khác quan tâm tới những tổn hại môi trường do bản thân con người gây ra cũng đều hỏi như vậy. Tôi thường tự hỏi mình: “Cư dân trên đảo Phục Sinh đã nói gì khi đốn cây gỗ cuối cùng?” Giống như những người đốn gỗ hiện đại khác, không biết anh ta có kêu lên: “Vì công việc, chứ không phải vì những cây gỗ!”, hay: “Công nghệ sẽ xử lý những vấn đề của chúng ta, không phải lo, chúng ta sẽ tìm ra vật liệu khác thay thế cho gỗ”? hay: “Chúng ta không có bằng chứng rằng cọ đã hoàn toàn tuyệt chủng trên đảo Phục Sinh, bởi vậy chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị cấm chặt gỗ của bạn vẫn còn hấp tấp quá, chắc do lo lắng vô cớ mà thôi?”. Những câu hỏi tương tự cũng luôn được đặt ra đối với mỗi xã hội đã vô tình phá hủy môi trường của mình. Khi chúng ta trở lại vấn đề này ở Chương 14, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều lý do tại sao các xã hội lại phạm phải hàng loạt sai lầm như vậy.

Chúng ta vẫn chưa giải đáp câu hỏi tại sao đảo Phục Sinh lại được coi là một ví dụ điển hình về tàn phá rừng khủng khiếp như vậy. Xét cho cùng, Thái Bình Dương bao gồm hàng ngàn đảo có người sinh sống, hầu như tất cả cư dân trên các đảo đều chặt đốn gỗ, phát rừng lấy đất canh tác, lấy gỗ làm củi, đóng thuyền và lấy gỗ cùng dây chão làm nhà và phục vụ những mục đích khác. Nhưng trong số những đảo này, chỉ có ba đảo trong quần đảo Hawaii có khí hậu hanh khô hơn Phục Sinh đó là hai đảo Necker và Nihoa và một đảo lớn hơn là Niihau, có mức độ tàn phá rừng gần bằng Phục Sinh. Hiện Nihoa vẫn là nơi sinh sống của một loại cọ lớn và không chắc liệu hòn đảo tí xíu Necker, với diện tích chưa tới 40 mẫu, đã bao giờ có cây gỗ nào không. Tại sao chỉ duy nhất cư dân Phục Sinh, gần như thế, triệt phá toàn bộ rừng của mình? Câu trả lời đôi khi được đưa ra là: “bởi những cây cọ và cây toromino của Phục Sinh lớn chậm quá”, cũng không thể giải thích tại sao ít nhất 19 loại cây hay loại thực vật khác, có liên quan hoặc cùng chủng loại như những loài thực vật hiện vẫn đang rất phát triển ở các đảo đông Polynesia, lại bị tuyệt chủng trên đảo Phục Sinh mà không phải là những đảo khác. Tôi chắc rằng câu trả lời nằm trong sự miễn cưỡng thừa nhận của các cư dân Phục Sinh và một số nhà khoa học rằng những cư dân trên đảo đã phá rừng, bởi kết luận này dường như ngụ ý rằng họ là những người bất hạnh nhất hay hoang phí nhất trong số những dân tộc sinh sống ở Thái Bình Dương.

Barry Rolett và tôi bối rối trước kết luận này. Thực tế, nó chỉ là một phần trong một vấn đề khó xử lớn hơn, đó là: Tại sao rừng trên các đảo Thái Bình Dương nói chung lại bị phá ở những cấp độ khác nhau? Ví dụ, tại đảo Mangareva (sẽ được thảo luận ở chương tiếp theo), phần lớn các đảo của quần đảo Cook và Austral và các đảo nằm phía dưới hướng gió của quần đảo chính của người Hawaii và người Fiji, rừng cũng bị phá ở quy mô lớn nhưng không bị phá triệt để như ở đảo Phục Sinh. Các đảo Society và Marquesa, và phía hướng gió của quần đảo chính của người Hawaii và người Fiji có những cánh rừng nguyên sinh trên những vùng núi và một sự pha trộn của những cánh rừng thứ sinh, những mảnh đất mọc toàn dương xỉ và cỏ ở vùng đất thấp. Tại các đảo Tonga, Samoa và phần lớn những đảo thuộc quần đảo Bismarck và Solomon và Makatea (đảo lớn nhất của quần đảo Tuamotus), rừng vẫn bao phủ phần lớn diện tích đảo. Những sự khác biệt này có thể lý giải như thế nào?

Barry bắt đầu bằng cách nghiên cứu tất cả những ghi chép của các nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên tới Thái Bình Dương để xem thời điểm đó những hòn đảo được mô tả như thế nào. Điều này cho phép ông xác định mức độ rừng bị tàn phá trên 81 hòn đảo tại thời điểm những người châu Âu đầu tiên đặt chân tới đây, sau hàng thế kỷ hoặc hàng thiên niên kỷ chịu tác động từ những cư dân trên các đảo Thái Bình Dương. Với 81 đảo này, chúng ta lập một bảng giá trị so sánh chín yếu tố tự nhiên của các đảo để tìm ra sự khác biệt của chúng, có thể đây là nguyên nhân khiến rừng bị tàn phá ở các cấp độ khác nhau trên mỗi đảo. Dù mới xem qua dữ liệu, dường như ta có thể nhận ra ngay ra một số xu hướng rõ ràng, nhưng chúng ta vẫn phải nghiên cứu kỹ dữ liệu qua nhiều phân tích thống kê để có thể đánh giá đúng tầm quan trọng của mỗi xu hướng.

Những điều kiện ảnh hưởng tới tình trạng phá rừng trên các đảo Thái Bình Dương?

Phá rừng khốc liệt hơn trên:

Những đảo có khí hậu khô hanh so với những đảo có khí hậu ẩm ướt;

Những đảo có vĩ độ cao, lạnh giá so với những đảo gần xích đạo ấm áp;

Những đảo núi lửa già so với những đảo núi lửa trẻ;

Những đảo không có tro núi lửa rơi xuống từ trên cao so với những đảo có tro rơi xuống;

Những đảo xa những cột bụi Trung Á so với những đảo gần;

Những đảo không có đá makatea so với những đảo có đá makatea;

Những đảo ở vị trí thấp so với những đảo ở vị trí cao hơn;

Những đảo xa xôi so với những đảo có những láng giềng bên cạnh;

Những đảo nhỏ so với những đảo lớn.

Hóa ra tất cả chín biến số tự nhiên đều góp phần gây ra hậu quả (xem bảng trên). Quan trọng nhất là những khác biệt trong lượng mưa và vĩ độ: Với những đảo khô và những đảo càng xa xích đạo do đó càng lạnh (ở vĩ độ cao hơn) thì mức độ rừng bị tàn phá khốc liệt hơn những đảo xích đạo có khí hậu ẩm ướt. Đó đúng là điều chúng ta trông đợi: tỷ lệ sinh trưởng của cây trồng và hạt giống nảy mầm tỷ lệ thuận với lượng mưa và với nhiệt độ. Ở một vùng có khí hậu nóng, ẩm ướt như những vùng đất thấp của New Guinea, nếu một cây gỗ bị chặt thì chỉ trong vòng một năm, cây mới có thể mọc cao 6 mét ngay chính trên vị trí của cây gỗ cũ, nhưng ở những sa mạc lạnh lẽo và khô hanh, tỷ lệ sinh trưởng của cây thấp hơn nhiều. Bởi vậy, những đảo có khí hậu nóng, ẩm mức độ tái sinh của cây rừng có thể theo kịp tỷ lệ cây bị chặt hạ ở mức vừa phải nên luôn giữ cho đảo được những cây to che phủ.

Ba biến số khác là độ tuổi của đảo, lượng tro và lượng bụi rơi xuống từ các ngọn núi lửa có những ảnh hưởng mà chúng ta không thể lường trước, bởi chúng ta không am hiểu những tài liệu khoa học về việc duy trì độ màu mỡ của đất. Những đảo già không có bất kỳ núi lửa nào hoạt động trong khoảng thời gian hơn một triệu năm thì rừng bị phá nhiều hơn những đảo trẻ, có núi lửa mới hoạt động gần đây. Đó là bởi đất được tạo ra từ dung nham mới phun và tro của núi lửa có chứa những chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng phát triển. Đối với những đảo già, nguồn dinh dưỡng này sẽ dần cạn kiệt do bị mưa rửa trôi. Một trong hai cách chính để làm tăng chất dinh dưỡng trên các đảo Thái Bình Dương chính là lượng tro bụi do những núi lửa hoạt động phun vào không khí và rơi xuống đất. Nhưng Thái Bình Dương bị phân chia bởi một đường nổi tiếng với các nhà địa chất gọi là đường andexit. Ở tây nam Thái Bình Dương, phía châu Á của đường này, tro bụi do núi lửa hoạt động phun ra có thể bị gió thổi đi xa hàng trăm dặm nên duy trì được độ màu mỡ cho đất của nhiều đảo (như New Caledonia) không hề có núi lửa. Ở miền trung và phía đông Thái Bình Dương, phía bên kia của đường andexit, lượng chất dinh dưỡng từ trên không bổ sung cho độ màu mỡ của đất lại là hàm lượng bụi cao có trong không khí do gió cuốn tới từ những thảo nguyên Trung Á. Bởi vậy, những đảo ở phía đông của đường andexit và xa những cột bụi châu Á, rừng sẽ bị tàn phá nhiều hơn so với những đảo nằm trong đường andexit hay gần châu Á hơn.

Một biến số khác cần được xem xét nhưng chỉ xuất hiện trên khoảng nửa tá đảo, đó là đá makatea, về bản chất đây là một dải san hô cạn hình thành do sự trồi lên của địa chất. Tên của đá xuất phát từ đảo Tuamotu của Makatea, chủ yếu toàn là đá. Địa hình Makatea hầu như không thể đi bộ; những vết nứt sâu, những tảng san hô sắc như dao cạo có thể cắt vụn những đôi giày, những bàn tay và bàn chân. Lần đầu tiên tôi gặp đá makatea là trên đảo Rennell, quần đảo Solomon, tôi phải đi bộ mất 10 phút trên quãng đường khoảng 10 mét, và tôi đã khiếp sợ khi tay bị những tảng đá san hô cứa rách nát mỗi khi tôi vô tình chạm phải do vươn tay ra để giữ thăng bằng. Chỉ vài ngày đi bộ ở đây, đá makatea có thể cắt nát cả những chiếc giày hiện đại và bền chắc. Không biết bằng cách nào những cư dân trên các đảo Thái Bình Dương vẫn có thể đi chân trần trên đảo mà chẳng hề hấn gì. Tất cả những người từng đau đớn khi đi bộ trên đá makatea sẽ không hề ngạc nhiên khi biết rằng rừng trên những đảo Thái Bình Dương có đá makatea ít bị tàn phá hơn so với những nơi không có đá makatea.

Như vậy còn lại ba biến số với những ảnh hưởng phức tạp hơn, đó là: độ cao, khoảng cách và diện tích. Những đảo ở độ cao hơn dường như rừng ít bị tàn phá hơn (kể cả những vùng đất thấp trên đảo), bởi những ngọn núi gây ra mây và mưa, tạo thành những dòng suối dẫn nước xuống những vùng đất thấp để tưới cho những loại thực vật, mang theo những chất dinh dưỡng bị rửa trôi và những hạt bụi trong không khí. Bản thân những ngọn núi vẫn duy trì được những cánh rừng che phủ trên núi nếu núi quá cao hay sườn quá dốc khiến cư dân trên đảo không thể phát quang rừng để lấy đất canh tác. Những đảo có vị trí xa xôi thì rừng lại bị tàn phá nhiều hơn những đảo ở gần nhau, có thể bởi những cư dân trên đảo xa thích ở lại đảo và làm những việc gây ảnh hưởng tới môi trường của họ hơn là dành thời gian và công sức thăm viếng những đảo khác để mở rộng hoạt động buôn bán, trao đổi, xâm lấn hay định cư. Những đảo lớn có xu hướng ít bị phá rừng hơn so với những đảo nhỏ bởi một số lý do trong đó có tỷ lệ vành đai/diện tích thấp hơn, vì vậy nguồn thủy sản tính theo đầu người cũng thấp hơn và mật độ dân số thấp hơn, thời gian để thu hoạch rừng lâu hơn và vẫn còn nhiều khu vực không thích hợp cho canh tác hơn.

Vậy Phục Sinh được đánh giá như thế nào theo chín tham số này trước khi rừng bị tàn phá? Nó có vĩ độ cao thứ ba, có lượng mưa thấp nhất, lượng tro núi lửa rơi xuống thấp nhất, lượng bụi cuốn từ châu Á tới thấp nhất, không có đá makatea, là đảo xa xôi thứ hai. Nó cũng là đảo có vị trí thấp hơn và diện tích nhỏ hơn trong số 81 đảo mà Barry Rolett và tôi đã nghiên cứu. Tất cả tám thông số này khiến rừng của Phục Sinh rất dễ bị tàn phá. Những núi lửa trên đảo Phục Sinh ở độ tuổi trung bình (khoảng chừng 200.000 đến 600.000 năm tuổi); bán đảo Poike của Phục Sinh, nơi có núi lửa già nhất, là khu vực rừng bị tàn phá đầu tiên trên đảo Phục Sinh và cũng là nơi đất bị xói mòn nghiêm trọng nhất hiện nay. Kết hợp tất cả những ảnh hưởng từ những biến số trên, mô hình thống kê của tôi và Barry dự đoán rằng Phục Sinh, Nihoa và Necker phải là những đảo Thái Bình Dương có mức độ rừng bị tàn phá khốc liệt nhất. Điều này hoàn toàn đúng với những gì đã xảy ra trên thực tế: Nihoa và Necker suy thoái tới mức không còn ai sống sót và chỉ có một loại cây duy nhất còn sống trên đảo (loài cọ Nihoa), trong khi số phận Phục Sinh thì kết thúc trong tình trạng không một cây rừng nào sống sót và 90% dân số đã chết.

Tóm lại, nguyên nhân rừng của Phục Sinh bị tàn phá khốc liệt tới mức bất thường như vậy không phải do những cư dân tốt bụng quá bất hạnh hay quá hoang phí. Mà họ không may phải sống trong một trong những môi trường dễ bị tổn hại nhất, cùng với nguy cơ rừng bị tàn phá cao nhất so với những dân tộc khác ở Thái Bình Dương. Với đảo Phục Sinh, được thảo luận kỹ lưỡng nhất so với bất kỳ xã hội nào khác được đề cập trong cuốn sách này, chúng ta có thể xác định cụ thể những yếu tố cơ bản khiến môi trường dễ bị tổn hại.

Sự biệt lập của Phục Sinh khiến đảo này trở thành ví dụ rõ ràng nhất về một xã hội tự hủy hoại bản thân khi khai thác quá mức những nguồn lực của mình. Nếu chúng ta trở lại với Khung năm điểm bao gồm các yếu tố được coi là có liên quan tới sự sụp đổ vì lý do môi trường, thì hai trong số năm yếu tố là bị các xã hội thù địch lân bang tấn công và mất sự hỗ trợ từ những xã hội láng giềng hữu nghị, hoàn toàn không xuất hiện trong sự sụp đổ của Phục Sinh, bởi không có bằng chứng cho thấy xã hội đảo Phục Sinh có quan hệ với bất kỳ xã hội thù địch hay hữu nghị nào kể từ khi nó hình thành. Thậm chí nếu thực sự đã có một vài chiếc thuyền tới đây thì những quan hệ đó cũng không thể đủ mạnh để tạo nên những cuộc tấn công nguy hiểm hay sự hỗ trợ quan trọng. Với vai trò của yếu tố thứ ba, thay đổi khí hậu, hiện chúng ta cũng không có bằng chứng của nó, mặc dù trong tương lai có thể tìm ra. Như vậy chỉ còn hai yếu tố chính gây ra sự sụp đổ của Phục Sinh, đó là: Những tác động tới môi trường của con người, đặc biệt là phá rừng và phá nơi cư trú của các loài chim; và những yếu tố chính trị, xã hội và tôn giáo đằng sau những tác động môi trường đó, như cư dân trên đảo không thể di cư sang vùng đất khác như một cách chạy trốn bởi sự biệt lập của Phục Sinh, việc chú trọng dựng tượng vì những lý do đã trình bày, và sự cạnh tranh giữa các bộ tộc và các tù trưởng dựng những bức tượng ngày càng lớn hơn, đòi hỏi phải có nhiều gỗ, dây chão và thực phẩm hơn.

Sự biệt lập của cư dân đảo Phục Sinh cũng có thể là lý do vì sao những độc giả và sinh viên của tôi luôn bị ám ảnh về sự sụp đổ của xã hội này nhiều hơn so với sự sụp đổ của bất kỳ xã hội tiền công nghiệp nào khác. Mọi người ớn lạnh khi so sánh đảo Phục Sinh với toàn thế giới hiện đại. Nhờ toàn cầu hóa, thương mại quốc tế, máy bay phản lực và mạng Internet, ngày nay tất cả các nước trên Trái Đất có thể chia sẻ những nguồn tài nguyên và có ảnh hưởng lẫn nhau, cũng giống như những bộ tộc cùng chung sống trên đảo Phục Sinh. Sự cô độc của đảo Phục Sinh của người Polynesia trong Thái Bình Dương cũng giống như tình trạng hiện nay của Trái Đất trong vũ trụ. Khi những cư dân đảo Phục Sinh gặp khó khăn, họ không biết trốn chạy đi đâu và cũng không biết phải nhờ cậy ai, cũng như con người hiện đại chúng ta sẽ không thể nhờ cậy vào đâu nếu những rắc rối ngày càng tăng. Đó là những lý do vì sao mọi người coi sự sụp đổ của xã hội đảo Phục Sinh như một phép ẩn dụ, một kịch bản tồi tệ nhất có thể đang chờ đợi chúng ta ở phía trước.

Tất nhiên, phép ẩn dụ không phải hoàn toàn đúng. Tình thế của chúng ta ngày nay có nhiều mặt quan trọng rất khác với những cư dân đảo Phục Sinh trong thế kỷ XVII. Một số khác biệt đó làm tăng nguy hiểm cho chúng ta: ví như, nếu chỉ vài ngàn cư dân đảo Phục Sinh, với những công cụ sản xuất bằng đá và sức người đã đủ để tàn phá môi trường dẫn tới tàn phá cả xã hội của họ thì hàng tỷ con người ngày nay với những công cụ bằng kim loại và sức mạnh của máy móc lại không tàn phá xã hội nghiêm trọng hơn sao? Nhưng cũng có những khác biệt có lợi cho chúng ta, những khác biệt mà chúng ta sẽ trở lại trong chương cuối của cuốn sách này.

5. Đảo được đặt tên là Phục Sinh và được lưu giữ tới ngày nay. 

6. Nhà thám hiểm người Hà Lan.

« Lùi
Tiến »