SỤP ĐỔ

Lượt đọc: 1958 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 6
khúc dạo đầu và bản fuga sự trình diễn của người viking

Những thử nghiệm trên Đại Tây Dương - Sự bùng nổ của người Viking - Tự xúc tác - Nền nông nghiệp của Viking - Sắt - Các tù trưởng Viking - Tôn giáo của Viking - Các quần đảo Orkney, Shetland, Faeroe - Môi trường Iceland - Lịch sử Iceland - Khung cảnh Iceland - Vinland.

Thời chúng tôi, mỗi khi nghe từ “Viking”, chúng tôi thường hình dung ra thuyền trưởng Kirk Douglas, nhân vật không thể nào quên trong bộ phim sử thi Cướp biển sản xuất năm 1958, mặc áo da với những chiếc khuy sắt, chỉ huy những kẻ man rợ mặt đầy râu ria, cùng những chiếc thuyền buồm lênh đênh trên biển tấn công cướp bóc, hãm hiếp, giết người. Gần nửa thế kỷ đã qua kể từ cái ngày hẹn hò cô bạn gái cùng đi xem bộ phim này, tôi vẫn nhớ rõ cảnh đầu tiên trong phim là các chiến binh Viking phá đổ cổng một lâu đài, trong khi những cư dân bên trong vẫn mải mê chè chén say sưa mà không hề hay biết và tiếng họ la hét khi những người Viking tràn vào ra tay tàn sát, và thuyền trưởng Kirk Douglas càng khoái trá khi nữ tù binh xinh đẹp Janet Leigh tuyệt vọng vùng vẫy chống lại ông. Cũng có nhiều sự thực trong những hình ảnh đẫm máu đó: thời trung cổ, những người Viking thực sự đã hoành hành khắp châu Âu trong vài thế kỷ. Thậm chí trong ngôn ngữ của họ (tiếng Na Uy cổ), từ víkingar còn nghĩa là “những tên cướp biển”.

Nhưng những phần khác của câu chuyện Viking cũng tương đối lãng mạn và khá thích hợp với chủ đề của cuốn sách này. Không chỉ là những tên cướp biển đáng sợ, người Viking còn là những nông dân, các thương gia, những người khai hoang và là những người châu Âu đầu tiên thám hiểm Bắc Đại Tây Dương. Những vùng dân cư mà họ lập ra có những số phận rất khác nhau. Cư dân Viking của lục địa châu Âu và trên các đảo nhỏ của Anh thậm chí đã đồng hóa với dân cư bản địa và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một số nhà nước, đặc biệt là Nga, Anh và Pháp. Thuộc địa Vinland, thể hiện nỗ lực đầu tiên của người châu Âu để định cư ở Bắc Mỹ, đã nhanh chóng bị từ bỏ; thuộc địa Greenland, sau 450 năm tồn tại như tiền đồn xa xôi nhất của xã hội châu Âu, cuối cùng cũng biến mất; thuộc địa Iceland trong nhiều thế kỷ cố thoát ra khỏi cảnh đói nghèo và những khó khăn chính trị, gần đây trở thành một trong những xã hội có ảnh hưởng lớn nhất thế giới; và các thuộc địa Orkney, Shetland và Faeroe vẫn tồn tại với một chút khó khăn. Tất cả những thuộc địa này của người Viking đều có chung một xã hội tổ tiên, nhưng những số phận khác nhau của chúng rõ ràng là do môi trường sống khác nhau, ở đó những người Viking khai hoang phát huy được những thế mạnh của mình.

Bởi vậy, sự mở rộng của người Viking về hướng tây qua Bắc Đại Tây Dương được coi như một thử nghiệm tự nhiên chứa đựng nhiều thông tin, giống như sự bành trướng về phía đông của người Polynesia qua Thái Bình Dương (xem hình 9 và 10). Ẩn trong thử nghiệm tự nhiên lớn này, Greenland cũng được coi là một thử nghiệm tự nhiên nhỏ hơn: Ở đây, người Viking đã gặp một dân tộc khác là người Inuit với những giải pháp xử lý những vấn đề môi trường của Greenland rất khác với người Viking. Khoảng năm thế kỷ sau, khi thử nghiệm nhỏ này kết thúc, người Viking trên đảo Greenland đã diệt vong hoàn toàn, để Greenland rơi vào tay người Inuit một cách dễ dàng. Bởi vậy, thảm họa của người Norse Greenland (những người Scandinavia sống trên đảo Greenland) ẩn chứa một thông điệp đầy hy vọng rằng: Thậm chí ngay trong những môi trường khó khăn nhất, sụp đổ của xã hội loài người không phải là điều không thể tránh khỏi, nó phụ thuộc vào cách phản ứng của xã hội đó.

Xã hội người Viking trên đảo Greeland sụp đổ vì lý do môi trường, trong khi mặc dù có những vấn đề môi trường tương tự như những vấn đề đã khiến các xã hội đảo Phục Sinh, Mangareva, Anasazi, Maya và nhiều xã hội khác thời kỳ tiền công nghiệp sụp đổ, nhưng Iceland đã nỗ lực đấu tranh vượt qua những khó khăn này. Tuy nhiên, chúng ta cũng có những thuận lợi khi tìm hiểu sự sụp đổ của Greenland và những rắc rối của Iceland. Đối với lịch sử Greenland, và đặc biệt là lịch sử của Iceland, chúng ta vẫn lưu giữ được nhiều văn tự của những xã hội đó, cũng như của những đối tác thương mại - mặc dù những văn tự này còn rời rạc, lẻ tẻ nhưng chúng là những văn tự duy nhất mô tả một xã hội thời kỳ tiền công nghiệp. Người Anasazi đã bị diệt vong hoặc bị tản mát, cư dân đảo Phục Sinh chỉ còn lại vài người và bị biến đổi bởi thế giới bên ngoài, nhưng phần lớn người Iceland ngày nay là hậu duệ trực tiếp sinh ra từ những người đàn ông Viking và đàn bà Celtic, những cư dân đầu tiên của Iceland. Đặc biệt là những xã hội Cơ đốc châu Âu thời trung cổ, như Iceland và Norse Greenland, đã tiến hóa trực tiếp thành những xã hội Cơ đốc châu Âu hiện đại. Bởi vậy, chúng ta biết được ý nghĩa của những di tích nhà thờ, những nghệ thuật được bảo tồn và những công cụ được khai quật, mặc dù vẫn còn nhiều điều phải phỏng đoán để làm sáng tỏ những di tích khảo cổ của những xã hội này. Ví như khi tôi đứng trong một lỗ hổng của bức tường phía tây của một căn nhà bằng đá tại Hvalsey, Greenland được xây dựng vào khoảng năm 1300 và được bảo quản tốt, bằng việc so sánh, tôi biết tòa nhà này cũng được coi là một nhà thờ Cơ đốc như những nhà thờ Cơ đốc ở những nơi khác, nó như một bản sao chính xác của một nhà thờ ở Eidfjord tại Na Uy, và lỗ hổng ở bức tường phía tây chính là chiếc cổng chính của nhà thờ này (Phụ bản 15). Ngược lại, chúng ta không hy vọng tìm hiểu được chi tiết như thế này ý nghĩa của những tượng đá trên đảo Phục Sinh.

Số phận của người Viking trên đảo Iceland và Greenland là một câu chuyện phức tạp và nhiều thông tin hơn so với số phận cư dân đảo Phục Sinh, với những hàng xóm của Mangareva, Anasazi và Maya. Tất cả năm yếu tố mà tôi đã đề cập trong phần Mở đầu đều có một vai trò nhất định. Người Viking đã phá hủy môi trường, họ phải gánh chịu ảnh hưởng của hiện tượng thay đổi khí hậu, và cách phản ứng cùng những giá trị văn hóa của họ thực sự đã ảnh hưởng tới kết cục. Yếu tố thứ nhất và yếu tố thứ ba cũng xuất hiện trong lịch sử của Phục Sinh và những láng giềng của Mangareva, và có ba yếu tố tác động tới người Anasazi và Maya, nhưng ngoài ra yếu tố giao thương với các đối tác hữu nghị bên ngoài cũng có vai trò quan trọng trong lịch sử của Iceland và Greenland giống như với những người láng giềng của Mangareva và người Anasazi, mặc dù không xuất hiện trong lịch sử của đảo Phục Sinh và Maya. Cuối cùng, trong số những xã hội này, chỉ có người Viking Greenland có yếu tố can thiệp từ xã hội thù địch bên ngoài (người Inuit) đóng vai trò quan trọng. Bởi vậy, nếu lịch sử của Phục Sinh và những láng giềng của Mangareva là khúc nhạc fuga đan kết hai hay ba giai điệu, như một số fuga của nhà soạn nhạc vĩ đại Johann Sebastian Bach, thì những khó khăn của Iceland là một fuga bốn phần, giống như một fuga hùng tráng không có hồi kết Bach viết trong khi ông sắp chết, với ý định hoàn thành tác phẩm lớn cuối cùng, bản Nghệ thuật của Fuga. Chỉ có sự diệt vong của Greenland mới cho chúng ta thấy cái mà bản thân Bach không bao giờ đạt được, một bản Fuga đủ năm phần. Về tất cả những lý do trên, các xã hội Viking sẽ được thảo luận chi tiết trong chương này và hai chương tới của cuốn sách: Đây chính là chú cừu thứ hai lớn hơn trong bụng chú trăn nhiệt đới của chúng ta.

Khúc dạo đầu của những fuga Iceland và Greenland là sự bùng nổ và trỗi dậy của người Viking tại châu Âu thời trung cổ bắt đầu từ sau năm 793, trải dài từ Iceland và Baltic tới Địa Trung Hải và Constantinople. Nó nhắc nhở rằng tất cả những yếu tố cơ bản của nền văn minh châu Âu thời trung cổ đều đã xuất hiện từ hơn 10.000 năm trước trong hay gần vùng đất Fertile Crescent của Trung Đông, vùng đất hình lưỡi liềm của Tây Nam Á chạy từ phía bắc Jordan tới đông nam Thổ Nhĩ Kỳ và theo phía đông tới Iran. Đây chính là khu vực thuần hóa các loại hoa màu và vật nuôi đầu tiên của thế giới và nơi phát minh ra hình thức vận tải bằng xe, tinh thông về kỹ thuật luyện đồng, sau đó là thiếc và thép, là nơi đầu tiên xuất hiện các thị trấn và thành phố, các tù trưởng và các vương quốc, và những tôn giáo có tổ chức. Tất cả những yếu tố này dần dần lan sang và chuyển hóa châu Âu từ đông nam cho tới tây bắc, đầu tiên là việc du nhập hình thức làm nông nghiệp vào Hy Lạp từ Anatolia vào khoảng năm 7000 trước công nguyên. Vùng Scandinavia, góc châu Âu xa xôi nhất tính từ vùng đất Fertile Crescent, là vùng cuối cùng của châu Âu bị chuyển hóa và mãi vào khoảng năm 2500 TrCN mới tiếp nhận hình thức sản xuất nông nghiệp. Đây cũng là vùng đất xa nhất chịu ảnh hưởng của nền văn minh La Mã: không giống như khu vực của người Đức hiện đại, các thương gia La Mã chưa bao giờ tới đây, và nó cũng không có chung bất kỳ ranh giới nào với đế chế La Mã. Bởi vậy, mãi cho tới thời Trung cổ, Scandinavia vẫn là vùng lạc hậu của châu Âu.

Nhưng Scandinavia có hai lợi thế tự nhiên đang chờ được khai thác, đó là: những mặt hàng xa xỉ được xuất khẩu sang các vùng khác của châu Âu như lông các loại thú rừng ở miền bắc, da hải cẩu và sáp ong; và (tại Na Uy và Hy Lạp) một bờ biển có độ lồi lõm cao nên đi lại bằng đường biển nhanh hơn đường bộ, hứa hẹn thuận lợi cho những người có thể phát triển kỹ năng đi biển. Tới tận thời Trung cổ, người Scandinavia mới chỉ có thuyền mái chèo không có buồm. Mãi tới năm 600, công nghệ thuyền buồm Địa Trung Hải mới du nhập vào Scandinavia, vào thời kỳ khí hậu ấm áp cùng với việc nhập khẩu những chiếc cày nên kích thích sản lượng lương thực tăng và làm dân số Scandinavia bùng nổ. Bởi phần lớn địa hình Na Uy là đồi núi và dốc đứng, chỉ có khoảng 3% diện tích có thể sử dụng làm đất canh tác, nên tới năm 700, áp lực dân số trên những vùng đất có thể canh tác ngày càng lớn, đặc biệt là ở phía tây Na Uy. Cơ hội để lập những trang trại mới ngày càng ít, dân số ngày càng đông nên cư dân Scandinavia phải di cư ra nước ngoài. Nhờ du nhập công nghệ thuyền buồm, người Scandinavia nhanh chóng chế tạo ra những chiếc thuyền mái chèo có buồm với tốc độ cao và rất linh hoạt, dễ kéo đi trên cạn và rất lý tưởng để chuyên chở các mặt hàng xuất khẩu sang trọng cho các khách hàng châu Âu và Anh đang háo hức chờ đợi. Những chiếc thuyền này đưa họ vượt đại dương, sau đó còn có thể đẩy lên bất kỳ bãi biển nông nào hay chèo trên những con sông chứ không bị bó buộc chỉ trong một vài cảng nước sâu.

Nhưng với người Scandinavia Trung cổ, cũng như với những người đi biển khác trong suốt lịch sử, buôn bán đã mở đường cho cướp bóc. Khi một số thương gia người Scandinavia phát hiện những tuyến đường biển có thể đưa họ tiếp cận những dân tộc giàu có sẵn sàng đổi vàng, bạc lấy lông thú, thì những người anh em trẻ tuổi và tham vọng của những thương gia này lại thấy rằng hoàn toàn có thể có được số vàng bạc đó mà không phải đổi lại thứ gì. Những chiếc thuyền dùng trong buôn bán cũng có thể theo các tuyến đường biển đó bất ngờ tiếp cận những thị trấn ven biển hay ven sông, kể cả những thị trấn ở sâu trong đất liền nhưng ở bên bờ sông. Và người Scandinavia đã trở thành những tên cướp biển Viking như thế. Tốc độ của những chiếc thuyền và đội thủy thủ lão luyện của Viking hoàn toàn có thể sánh với bất kỳ hạm đội nào của châu Âu và có thể thoát ra biển trước khi những chiếc thuyền bản địa chậm hơn có thể tiếp cận họ, và người châu Âu cũng không hề có ý định tấn công lên những mảnh đất quê hương của người Viking để phá hủy các căn cứ của họ. Những vùng đất đó nay thuộc Na Uy và Thụy Điển, hồi đó vẫn chưa thống nhất dưới quyền cai quản của một vị vua, vẫn bị xẻ nhỏ dưới sự cai trị của những tù trưởng hay tiểu vương đang háo hức tranh giành các chiến lợi phẩm ở nước ngoài để thu hút và để ban thưởng cho đám quần thần. Những tù trưởng thất bại dưới tay những tù trưởng khác ngay tại quê hương mình thì rất muốn thử vận may ở nước ngoài.

Những vụ cướp bóc đầu tiên của người Viking đột ngột diễn ra vào ngày 8/6/793 , với cuộc tấn công một tu viện giàu có nhưng không có khả năng tự vệ trên đảo Lindisfarne, ngoài khơi bờ biển đông bắc của Anh. Từ đó trở đi, những cuộc tấn công cướp bóc liên tục diễn ra mỗi mùa hè, bởi khi đó biển lặng sóng hơn và thuận lợi hơn cho việc đi biển, cho tới tận mấy năm sau người Viking mới ngừng quấy phá để trở về nhà vào mùa thu, nhưng họ vẫn xây dựng những khu trú đông trên bờ biển mục tiêu để mùa xuân sang năm có thể bắt đầu tấn công cướp bóc sớm hơn. Từ những sự khởi đầu này, người Viking đã phát triển một chiến lược linh hoạt, tổng hợp nhiều phương pháp khác nhau để cướp bóc, tùy theo tương quan lực lượng giữa những hạm đội Viking và những dân tộc là mục tiêu tấn công. Nếu người Viking mạnh hơn hay đông hơn so với cư dân bản địa, thì quan hệ giữa hai bên cũng chuyển từ giao thương hữu nghị sang buộc phải cống nạp để đổi lấy hòa bình, hoặc người Viking đánh cướp chớp nhoáng rồi nhanh chóng rút lui, hoặc đỉnh điểm là xâm lược và thiết lập nhà nước Viking ở nước ngoài.

Người Viking từ những vùng khác nhau của Scandinavia tiến hành tấn công cướp bóc ở những hướng khác nhau. Những người Viking sống ở vùng hiện là Thụy Điển, được gọi là người Varangia, giong thuyền về hướng đông vào vùng biển Baltic, chèo ngược những con sông chảy từ Nga vào vùng Baltic, tiếp tục theo hướng nam tới đầu nguồn sông Volga và những sông khác chảy ra biển Đen và biển Caspia, để buôn bán với đế chế La Mã phương đông giàu có, và lập ra vương quốc Kiev, sau này là tiền thân của nước Nga hiện đại. Người Viking từ những vùng đất hiện nay là Đan Mạch giong thuyền theo hướng tây cập bờ biển tây bắc châu Âu và bờ biển phía đông nước Anh, tìm đường ngược sông Rhine và sông Loire, rồi định cư ở ngay hai cửa sông này, cùng vùng Normandy và Brittany, lập nên nhà nước Danelaw ở phía đông nước Anh và vương quốc Normandy ở Pháp. Sau đó vòng qua bờ biển Đại Tây Dương của Tây Ban Nha, theo eo biển Gibraltar vào Địa Trung Hải và tấn công Italia. Người Viking sống ở vùng đất Na Uy hiện nay thì vượt biển tới Ireland và vùng bờ biển phía bắc và phía tây của Anh, lập nên một trung tâm thương mại lớn tại Dublin. Tại mỗi vùng đất châu Âu mà người Viking định cư, họ kết hôn với người bản địa và dần bị đồng hóa với cư dân địa phương, kết quả là các ngôn ngữ Scandinavia và những khu dân cư đặc trưng của họ ở ngoài khu vực Scandinavia đã biến mất hoàn toàn. Người Viking Thụy Điển sáp nhập với dân cư người Nga, người Viking Đan Mạch thì trở thành người Anh, trong khi những người Viking định cư ở vùng Normandy đã từ bỏ ngôn ngữ Norse của mình và chuyển sang nói tiếng Pháp. Trong quá trình đồng hóa này, những từ ngữ cũng như gien của người Scandinavia cũng được người bản địa hấp thu. Ví dụ, trong tiếng Anh có những từ như “awkward”, “die”, “egg”, “skirt” và hàng chục từ thường nhật khác là vay mượn từ ngôn ngữ của những kẻ xâm lược người Scandinavia.

Trong những chuyến di cư tới những vùng đất của người châu Âu, nhiều thuyền Viking bị gió thổi chệch hướng vào vùng biển Bắc Đại Tây Dương, khi đó đang trong thời kỳ khí hậu ấm áp, mặt biển không có những khối băng như sau này cản trở tàu thuyền đi lại, góp phần ảnh hưởng tới vận mệnh của xứ Norse Greenland và cả số phận của con tàu Titanic lừng danh sau này. Những người Viking lạc đường này đã phát hiện và định cư trên những vùng đất hoang trước đó người châu Âu hay bất kỳ dân tộc nào còn chưa hề biết đến, đó là quần đảo Faeroe vào khoảng sau năm 800 và Iceland khoảng năm 870 và vào khoảng năm 980, chỉ có phần cực bắc của Greenland là có các thổ dân Mỹ, tổ tiên của người Inuit, được gọi là người Dorset sinh sống; và vào năm 1000 , Vinland, một khu vực thám hiểm bao gồm Newfoundland, vùng vịnh St. Lawrence, và có thể cả một số vùng bờ biển khác phía tây bắc Bắc Mỹ có rất nhiều thổ dân Mỹ sinh sống và chính những người này đã buộc người Viking phải ra đi chỉ sau một thập kỷ.

Những cuộc tấn công cướp bóc châu Âu của người Viking giảm hẳn khi những mục tiêu ở châu Âu giờ đã biết tự vệ và sẵn sàng nghênh chiến, bởi quyền lực của các hoàng đế Anh, Pháp và quốc vương Đức đã tăng lên, cùng với việc vua Na Uy bắt đầu khống chế những tù trưởng cứng đầu chuyên cướp bóc và hướng họ nỗ lực trở thành một quốc gia buôn bán đầy uy tín. Trên lục địa, người Pháp đánh bật người Viking ra khỏi sông Seine vào năm 857, giành chiến thắng trong trận đánh lớn ở Loivain thuộc nước Bỉ ngày nay vào năm 891, và trục xuất người Viking ra khỏi Brittany vào năm 939. Trên những hòn đảo nhỏ của Anh, người Viking bị đuổi khỏi Dublin năm 902 và vương quốc Danelaw tại Anh cũng bị tan rã vào năm 954, mặc dù sau đó nó được tái lập bằng những cuộc phản công mạnh mẽ hơn của người Viking trong giai đoạn từ 980-1016. Năm 1066 nổi tiếng bởi trận chiến Hastings khi William the Conqueror (William của vùng Normandy) chỉ huy lớp hậu duệ nói tiếng Pháp của những kẻ xâm lược Viking ngày xưa tới chinh phạt nước Anh, đây cũng là thời điểm đánh dấu sự chấm dứt những cuộc tấn công cướp bóc của người Viking. Sở dĩ vì sao William có thể đánh bại vua Harold của Anh tại Hastings trên bờ biển Đông Nam nước Anh vào ngày 14/10/1066 là bởi Harold và binh lính đã kiệt sức. Họ đã phải hành quân trên chặng đường 354 km về phía nam chỉ trong thời gian chưa đầy ba tuần, sau khi đánh bại đội quân xâm lược cuối cùng của người Viking và giết chết vua của chúng tại cầu Stamford, miền trung nước Anh ngày 25/9. Từ đó trở đi, các vương quốc Scandinavia phát triển thành các nước buôn bán bình thường và có mối quan hệ thương mại với các nước châu Âu khác, thi thoảng mới gây ra một cuộc chiến, chứ không thường xuyên tấn công cướp bóc như trước. Na Uy thời Trung cổ trở nên nổi tiếng không phải chỉ vì những tên cướp biển đáng sợ của mình mà còn bởi mặt hàng cá tuyết khô xuất khẩu.

Qua phần lịch sử Viking mà chúng ta vừa điểm qua, chúng ta có thể giải thích như thế nào về nguyên nhân người Viking phải rời bỏ quê hương để mạo hiểm mạng sống của mình trong những cuộc chiến hay những môi trường sống khó khăn như đảo Greenland? Sau một nghìn năm chỉ quẩn quanh trong vùng Scandinavia và hoàn toàn cách biệt với châu Âu, tại sao người Viking có thể bành trướng nhanh tới vậy và đạt tới đỉnh điểm từ sau năm 793, rồi chưa đầy ba thế kỷ sau gần như ngừng lại hoàn toàn? Với bất kỳ sự bành trướng của một dân tộc nào trong lịch sử đều có thể đặt câu hỏi rằng liệu nó xảy ra do “bị thúc đẩy” (bởi áp lực dân số và điều kiện sống khó khăn tại quê hương), “bị lôi kéo” (những cơ hội thuận lợi và những vùng đất hoang ở nước ngoài có thể định cư), hay cả hai. Nhiều làn sóng bành trướng là do sự kết hợp của cả bị thúc đẩy và bị lôi kéo, điều này đúng với trường hợp của người Viking: họ bị thúc đẩy bởi tăng trưởng dân số và sự củng cố quyền lực hoàng gia ở quê nhà, và bị lôi kéo bởi những vùng đất hoang mới phát hiện, nơi họ có thể định cư và những vùng đất giàu có, không có khả năng tự vệ dễ bị tấn công cướp bóc. Tương tự, cuộc di cư của người châu Âu sang Bắc Mỹ lên tới đỉnh điểm vào những năm 1800 và đầu những năm 1900 qua sự kết hợp của cả bị thúc đẩy và bị lôi kéo của các yếu tố: tăng trưởng dân số, nạn đói và đàn áp chính trị ở châu Âu đã thúc đẩy người châu Âu di cư khỏi vùng đất quê hương của mình, trong khi ở Mỹ và Canada quá sẵn những vùng đất canh tác màu mỡ và các cơ hội sinh sống tốt hơn đã lôi kéo họ tới đây.

Còn tại sao sự kết hợp của ảnh hưởng “bị thúc đẩy” và “bị lôi kéo” lại đột ngột chuyển từ “không lôi cuốn” sang “lôi cuốn” kể từ thời điểm sau năm 793 , rồi sau đó lại nhanh chóng lắng xuống vào khoảng năm 1066, sự bành trướng của người Viking là một ví dụ điển hình về cái gọi là quy trình tự xúc tác. Trong lĩnh vực hóa học, cụm từ xúc tác chỉ một thành phần có tác dụng làm tăng vận tốc của một phản ứng hóa học, như enzyme. Một số phản ứng hóa học tạo ra một chất có vai trò như một chất xúc tác, như vậy vận tốc phản ứng bắt đầu từ không có gì và sau đó diễn ra rất nhanh khi một số chất xúc tác được tạo ra, xúc tác và thúc đẩy phản ứng diễn ra nhanh hơn, đồng thời tiếp tục sản sinh thêm nhiều chất xúc tác để làm tăng vận tốc của phản ứng nhanh hơn nữa. Chuỗi phản ứng này gọi là quy trình tự xúc tác, một ví dụ quan trọng là quá trình kích nổ của một trái bom nguyên tử khi nơtron trong một khối lượng tới hạn uranium phân tách các hạt nhân uranium thành nhiều mảnh, giải phóng năng lượng và sản sinh ra nhiều nơtron mới, và số nơtron này lại tiếp tục phân tách thành nhiều mảnh khác và sinh ra năng lượng cực lớn.

Tương tự, trong sự mở rộng mang tính tự xúc tác của dân số loài người, một dân tộc có một số thuận lợi ban đầu (như những lợi thế công nghệ) giúp họ thu được những lợi ích hay những khám phá, và kích thích nhiều người tìm kiếm nhiều hơn nữa những lợi ích hay những khám phá, khiến cho số lợi ích và khám phá thu được nhiều hơn. Những kết quả này lại tiếp tục kích thích nhiều người tham gia hơn cho tới khi con người tràn đầy những vùng đất có thể mang lại cho họ những lợi ích đó. Lúc này, quá trình mở rộng tự xúc tác mới ngừng tự xúc tác và hết năng lượng thúc đẩy. Có hai sự kiện cụ thể gây ra chuỗi phản ứng của người Viking, đó là: cuộc tấn công cướp bóc năm 793 nhằm vào tu viện Lindisfarne, thu được lượng chiến lợi phẩm lớn kích thích những cuộc tấn công cướp bóc khác diễn ra năm sau thu được nhiều chiến lợi phẩm hơn; và sự phát hiện quần đảo hoang Faeroe thuận lợi cho chăn nuôi cừu, thúc đẩy người Viking tiếp tục tìm kiếm và phát hiện ra hoang đảo Iceland xa hơn, có diện tích lớn hơn, rồi sau đó lại tiếp tục tìm ra đảo Greenland ở khoảng cách xa hơn nữa với diện tích lớn hơn nữa. Người Viking từ nước ngoài trở về mang theo chiến lợi phẩm hay những thông tin tìm ra những hòn đảo có thể sinh sống được càng thúc đẩy những người Viking ở nhà hăm hở lên đường tìm kiếm chiến lợi phẩm và hoang đảo. Những minh chứng khác về sự mở rộng tự xúc tác, ngoài sự mở rộng của người Viking, là sự mở rộng của tổ tiên người Polynesia về hướng đông qua biển Thái Bình Dương bắt đầu vào khoảng năm 1200 TrCN, và sự lan tràn của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha trên toàn thế giới bắt đầu từ đầu những năm 1400 và nhất là với sự “khám phá” ra Tân Thế giới của Columbus vào năm 1492.

Cũng như sự mở rộng của người Polynesia, người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, sự mở rộng của người Viking bắt đầu chấm dứt khi tất cả những vùng tàu thuyền của họ có thể tiếp cận đều đã bị tấn công cướp bóc hay bị thuộc địa hóa, và khi đó những người Viking trở về nhà không còn mang theo những câu chuyện kể về những vùng đất hoang hay dễ bị cướp bóc ở nước ngoài. Cũng như hai sự kiện cụ thể gây ra phản ứng dây chuyền của người Viking, có hai sự kiện khác được coi là ngăn chặn phản ứng này. Thứ nhất là cuộc chiến ở cầu Stamford năm 1066 mở đầu cho hàng loạt thất bại kéo dài của người Viking và chứng tỏ những cuộc tấn công cướp bóc không còn hiệu quả. Sự kiện thứ hai là việc người Viking bắt buộc phải từ bỏ vùng đất thuộc địa Vinland xa xôi nhất của họ vào khoảng năm 1000, chỉ sau một thập kỷ chiếm đóng. Hai truyền thuyết của người Norse được lưu truyền tới ngày nay kể về Vinland nói rõ rằng nó bị từ bỏ bởi người Viking, do thời điểm đó chỉ có rất ít người Viking có thể đi thuyền vượt Đại Tây Dương nên không thể đánh bại những thổ dân Mỹ đông hơn nhiều. Với những đảo Faeroe, Iceland và Greenland đã đầy những người Viking định cư, thì Vinland rõ ràng là nơi nguy hiểm với họ, và cũng chẳng còn hoang đảo mới nào trên Thái Bình Dương được phát hiện nên người Viking thấy rằng chiến lợi phẩm dành cho những người tiên phong, dám mạo hiểm cuộc sống trong vùng biển Bắc Đại Tây Dương đầy bão tố đã hết.

Khi những người nhập cư nước ngoài tới định cư ở một vùng đất mới, thì lối sống mới của họ cũng thường in đậm những bản sắc riêng của quê hương họ, đó là một “vốn văn hóa” của học thức, tín ngưỡng, cách sinh nhai và tổ chức xã hội được đúc rút, tích lũy từ quê hương. Điều này đặc biệt đúng với trường hợp của người Viking, họ chiếm một vùng đất ban đầu hoặc bị bỏ hoang hoặc đã có một dân tộc khác sinh sống nhưng ít có quan hệ với những kẻ thực dân. Thậm chí ngay cả tại Mỹ ngày nay, những người mới nhập cư phải hòa đồng với một cộng đồng cư dân Mỹ lớn hơn rất nhiều, tuy nhiên mỗi nhóm người mới nhập cư vẫn duy trì nhiều đặc tính riêng biệt của họ. Ví dụ, trong thành phố nơi tôi sống ở Los Angeles có sự khác biệt lớn giữa những giá trị văn hóa, trình độ học vấn, nghề nghiệp và khả năng kinh tế của những nhóm người mới nhập cư gần đây như người Việt Nam, người Iran, người Mexico và người Ethiopia. Mức độ thích ứng với xã hội Mỹ của mỗi nhóm người nhập cư khác nhau phụ thuộc một phần vào lối sống mà họ mang theo mình.

Trường hợp của người Viking cũng vậy, những xã hội mà họ lập ra trên các đảo Bắc Đại Tây Dương được xây dựng theo mô hình những xã hội của người Viking trên lục địa mà những người nhập cư đã bỏ lại đằng sau. Di sản của lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực nông nghiệp, luyện sắt, cấu trúc giai cấp và tôn giáo.

Trong khi chúng ta coi người Viking như những kẻ cướp biển và thủy thủ, thì họ tự coi mình là những người nông dân. Những loại hoa màu và vật nuôi nhất định phát triển rất tốt ở miền nam Na Uy đã trở thành một phần quan trọng trong lịch sử của người Viking ở nước ngoài, không chỉ bởi những loài vật nuôi và cây trồng này được những người định cư Viking mang theo tới Iceland và Greenland, mà còn bởi chúng hàm chứa những giá trị xã hội của người Viking. Mỗi loại lương thực và lối sống khác nhau có vị trí khác nhau trong từng dân tộc: ví dụ, gia súc được đánh giá cao nhưng dê lại bị coi là có giá trị thấp theo cách nhìn nhận của những chủ nông trang ở miền tây nước Mỹ. Những vấn đề xuất hiện khi những hình thức sản xuất nông nghiệp mà người nhập cư thường áp dụng trên quê hương mình tỏ ra không thích hợp với quê hương mới của họ. Ví như người Australia hiện đang vật lộn với câu hỏi liệu những chú cừu mà họ mang theo từ Anh sang thực sự có lợi hay gây hại cho môi trường Australia. Như chúng ta sẽ thấy, sự bất tương xứng tương tự giữa lối sống trên hai miền đất mới và cũ đã gây hậu quả nặng nề cho xã hội Norse Greenland như thế nào.

Khí hậu lạnh lẽo của Na Uy thuận lợi hơn cho chăn nuôi gia súc so với trồng trọt hoa màu. Năm loài vật nuôi chính là nền tảng sản xuất lương thực của vùng đất Trung Đông Fertile Crescent và châu Âu trong hàng ngàn năm qua là bò, cừu, dê, lợn và ngựa. Trong số các loài này, những loài được người Viking coi trọng nhất là lợn cung cấp thực phẩm, bò cung cấp các sản phẩm sữa như pho mát, và ngựa dùng để vận tải và tạo uy thế. Theo những truyền thuyết cổ của người Norse, thịt lợn là thực phẩm hằng ngày dành cho những chiến binh của thần chiến tranh Oldin của người Norse tại Valhalla sau khi họ chết. Mặc dù bị đánh giá thấp hơn nhiều nhưng vẫn rất hữu ích về mặt kinh tế là cừu và dê, được nuôi nhằm cung cấp các sản phẩm sữa và lông hơn là cung cấp thực phẩm.

Số xương trong các đống rác được khai quật từ trang trại của một tù trưởng ở miền nam Na Uy vào thế kỷ thứ IX cho thấy gia đình vị tù trưởng này đã ăn thịt một số loài gia súc khác nhau. Khoảng một nửa số xương gia súc trong đống rác là xương bò, và một phần ba là xương lợn, trong khi chỉ có một phần năm là xương cừu và dê. Có lẽ một vị tù trưởng Viking đầy tham vọng lập trang trại ở nước ngoài cũng sẽ chỉ nuôi những loài gia súc này. Thực tế, một lượng xương tương tự cũng được tìm thấy trong các đống rác của những trang trại Viking lâu đời nhất ở Greenland và Iceland. Tuy nhiên, tỷ lệ xương của những trang trại sau này có chút khác biệt, bởi trong điều kiện môi trường của Greenland và Iceland, một số loài kém thích nghi hơn so với những loài khác. Càng về sau, số lượng bò càng giảm, lợn thì hầu như đã biến mất hoàn toàn, nhưng số lượng cừu và dê lại tăng lên.

Càng xa về phía bắc Na Uy thì việc nuôi gia súc trong các chuồng trại vào mùa đông và cung cấp thức ăn cho chúng ngay trong chuồng càng phổ biến, thay vì thả rông ngoài đồng để chúng tự kiếm cỏ. Bởi vậy, những chiến binh Viking quả cảm này thực tế đã giành phần lớn thời gian mùa hè và mùa thu để trở lại thành những nông dân chất phác với những công việc như cắt cỏ, phơi và đánh đống cỏ khô để làm thức ăn cho gia súc trong mùa đông, chứ không phải để đánh nhau trong những trận chiến từng khiến các dân tộc khác khiếp sợ.

Trong những vùng khí hậu ôn hòa thích hợp cho trồng trọt, người Viking cũng trồng các loại hoa màu thích nghi với giá lạnh, nhất là lúa mạch. Những loại hoa màu khác ít quan trọng hơn lúa mạch (bởi chúng chịu rét kém hơn) là ngũ cốc yến mạch, lúa mì và lúa mạch đen; các loại rau cải bắp, hành, đậu Hà Lan và đỗ; lanh để dệt vải lanh; và hoa bia để nấu bia. Càng xa về phía bắc Na Uy, tầm quan trọng của các loại hoa màu so với gia súc càng giảm. Bên cạnh các loài gia súc, các loại thực phẩm từ thiên nhiên cũng được coi như một nguồn bổ sung protein chính - nhất là cá, chiếm tới hơn một nửa số xương trong các đống rác của người Viking Na Uy. Trong những loài thú săn được có hải cẩu và những loài động vật biển có vú khác, tuần lộc, nai sừng tấm và những loài thú có vú nhỏ hơn sống trên đất liền, chim biển, vịt và các loài chim nước khác.

Các công cụ bằng sắt được các nhà khảo cổ phát hiện tại các khu vực sinh sống của người Viking cho chúng ta thấy người Viking đã biết sử dụng sắt vào nhiều mục đích khác nhau: để chế tạo những loại công cụ nặng dùng trong nông nghiệp như cày, xẻng, rìu và liềm; những công cụ nhỏ hơn dùng trong sinh hoạt gia đình có dao, kéo và kim khâu; đinh, đinh tán và những dụng cụ xây dựng; và tất nhiên cả vũ khí, nhất là gươm kiếm, giáo mác, rìu chiến và áo giáp. Tàn tích của những đống xỉ và những hầm sản xuất than củi tại các khu luyện sắt cho phép chúng ta tái dựng cách người Viking luyện sắt như thế nào. Sắt không được khai thác trên quy mô công nghiệp tại những xưởng tập trung, mà được khai thác ở quy mô nhỏ hơn, mang tính chất gia đình trong từng trang trại. Nguyên liệu thô là quặng đầm lầy có rất nhiều ở vùng Scandinavia: oxit sắt tan trong nước, rồi kết tủa trong các điều kiện axit hay do các loại vi khuẩn trong các đầm lầy và trong trầm tích các hồ. Mặc dù các công ty khai thác sắt hiện nay chỉ chọn quặng có hàm lượng từ 30-95% oxit sắt, nhưng những thợ rèn Viking chấp nhận những loại quặng chất lượng thấp hơn nhiều, thậm chí chỉ có 1% oxit sắt. Khi xác định được một trầm tích “giàu sắt”, quặng sẽ được sấy khô và nung lên tới nhiệt độ nóng chảy trong một chiếc lò để tách sắt ra khỏi những tạp chất (xỉ), rồi đập mạnh bằng búa để tiếp tục loại bỏ những tạp chất, rồi rèn thành những hình thù mong muốn.

Chỉ đốt củi không thể tạo ra nhiệt độ đủ cao để luyện sắt. Thay vào đó, củi phải đốt thành than để có thể duy trì ngọn lửa ở nhiệt độ cao. Kết quả khảo sát ở một số nước cho thấy, trung bình phải đốt 1,8 kg mới có được 0,45kg than củi. Do tỷ lệ như vậy, cộng với hàm lượng sắt trong quặng thấp, nên việc luyện sắt và sản xuất công cụ bằng sắt, thậm chí chỉ sửa chữa cũng tiêu thụ một lượng gỗ khổng lồ, đây chính là một điểm hạn chế trong lịch sử của người Viking Greenland, do sản lượng gỗ chỉ đủ dùng trong thời gian ngắn.

Hệ thống xã hội mà người Viking mang theo từ lục địa Scandinavia ra nước ngoài là hệ thống xã hội có thứ bậc, với các tầng lớp phân chia từ thấp nhất là nô lệ bị bắt trong những cuộc tấn công, rồi đến những người tự do và cao hơn là các tù trưởng. Những vương quốc thống nhất lớn hơn (đối lập với những vùng đất nhỏ dưới quyền cai trị của các tù trưởng, những người có thể tự phong cho mình là “vua”) chỉ mới xuất hiện ở Scandinavia trong thời kỳ bành trướng của người Viking, và những cư dân Viking ở hải ngoại cuối cùng cũng phải quan hệ với vua Na Uy và (sau này) là Đan Mạch. Tuy nhiên, những cư dân phải di cư một phần để trốn tránh quyền lực đang nổi lên của những người sau này sẽ trở thành vua Na Uy, bởi vậy cả Iceland và Greenland đều chưa bao giờ có vua của riêng mình. Thay vào đó, quyền lực ở những nơi này vẫn nằm trong tay tầng lớp quý tộc là những thủ lĩnh quân sự. Chỉ những người này mới có thuyền riêng và đàn gia súc đông đúc, kể cả những con bò quý giá và khó nuôi cũng như những đàn cừu, dê ít được chăm chút hơn. Những người được các tù trưởng bảo hộ là đám tùy tùng và những người ủng hộ, trong đó có nô lệ, những lao động tự do, những tá điền và những nông dân tự do, độc lập.

Các tù trưởng thường xuyên ganh đua với nhau cả bằng biện pháp hòa bình và biện pháp bạo lực. Hình thức cạnh tranh hòa bình giữa các tù trưởng muốn trội hơn nhau là tặng quà và tổ chức yến tiệc để tạo uy tín, ban thưởng cho những người ủng hộ và thu hút đồng minh. Các tù trưởng tích lũy của cải bằng các hoạt động buôn bán, cướp bóc và canh tác trên các trang trại của mình. Nhưng xã hội Viking cũng là một xã hội bạo lực, các tù trưởng thường xuyên mang quân đánh lẫn nhau ngay trên mảnh đất quê hương và còn xung đột cả với các dân tộc khác ở nước ngoài. Những kẻ thất bại trong những cuộc chiến tương tàn này lại càng quyết tâm khôi phục vị thế bằng cách thử vận may ở nước ngoài. Ví như vào những năm 980, một tù trường Iceland tên là Erik the Red bị đánh bại và bị trục xuất, ông ta đã phát hiện ra Greenland và dẫn đám tùy tùng của mình tới định cư trên những khu đất tốt nhất.

Trong xã hội Viking, tù trưởng đưa ra phần lớn những quyết định quan trọng, mà động cơ là để tăng uy tín cá nhân, kể cả trong những trường hợp có thể xung đột với lợi ích của toàn xã hội hiện tại cũng như những thế hệ mai sau. Chúng ta cũng đã bắt gặp những xung đột lợi ích kiểu này của các vị vua Maya và các tù trưởng trên đảo Phục Sinh (Chương 2 và Chương 5), và họ đã gây ra những hậu quả nặng nề đối với số phận của xã hội Norse Greenland (Chương 8).

Những năm 800, khi người Viking bắt đầu bành trướng ra nước ngoài họ vẫn là những người “vô đạo”, tôn thờ các vị thần truyền thống trong tín ngưỡng người Đức, như thần sinh sản Frey, thần bầu trời Thor và thần chiến tranh Odin. Điều khiến các xã hội châu Âu lo sợ nhất khi bị những kẻ cướp biển Viking tấn công là người Viking không theo đạo Cơ đốc nên không tuân thủ những điều cấm kỵ của một xã hội Cơ đốc. Có một điều khá lạ lùng là người Viking dường như rất thích tấn công các nhà thờ và tu viện. Ví như, năm 843, một hạm đội Viking lớn bất ngờ ngược sông Loire trên đất Pháp và mở màn bằng cuộc tấn công một nhà thờ vùng Nantes nằm bên cửa sông, giết chết giám mục và tất cả những linh mục. Mặc dù vậy, thực tế người Viking không có sở thích đặc biệt tấn công các nhà thờ, cũng không hề định kiến với những nguồn chiến lợi phẩm tôn giáo, chỉ bởi những nhà thờ và tu viện là những nơi giàu có mà lại không có khả năng tự vệ. Người Viking cũng rất thích tấn công những trung tâm thương mại giàu có bất cứ khi nào có cơ hội.

Khi đã định cư trên những vùng đất Cơ đốc ở nước ngoài, người Viking hầu hết đều sẵn sàng kết hôn và thích nghi với phong tục bản địa, và kể cả theo đạo Cơ đốc. Việc cải đạo của người Viking ở nước ngoài góp phần làm xuất hiện đạo Cơ đốc ở ngay trên quê hương Scandinavia của họ, khi những người Viking ở nước ngoài trở về thăm nhà mang theo những thông tin về tôn giáo mới, và khi những tù trưởng và các vị vua vùng Scandinavia bắt đầu nhận ra những lợi ích chính trị mà đạo Cơ đốc có thể mang lại cho họ. Một số tù trưởng Scandinavia chính thức cải theo đạo Cơ đốc, thậm chí trước cả vua của họ. Những sự kiện quyết định sự hình thành đạo Cơ đốc ở vùng Scandinavia là việc Đan Mạch “chính thức” cải đạo theo vua Harold Bluetooth của mình vào khoảng năm 960, Na Uy vào khoảng năm 995 và Thụy Điển cũng cải đạo trong thế kỷ sau đó.

Khi Na Uy bắt đầu cải đạo, các thuộc địa ở nước ngoài của người Viking là Orkney, Shetland, Faeroe, Iceland và Greenland cũng cải theo. Một phần vì những thuộc địa này có ít thuyền nên phụ thuộc vào đội tàu thuyền của Na Uy để buôn bán hàng hóa, nên không thể tiếp tục là những kẻ “vô đạo” sau khi Na Uy đã trở thành những giáo dân đạo Cơ đốc. Ví dụ, khi vua Olaf I của Na Uy cải đạo, ông cấm những kẻ vô đạo Iceland buôn bán với Na Uy, bắt giữ những người Iceland đang có mặt ở Na Uy (kể cả họ hàng của những tù trưởng Iceland vô đạo), và đe dọa tùng xẻo hay giết số con tin này trừ khi Iceland từ bỏ chủ nghĩa vô đạo. Tại cuộc họp của nghị viện Iceland mùa hè năm 999, Iceland buộc phải chấp nhận điều không thể tránh được và tuyên bố cải sang đạo Cơ đốc. Cũng khoảng năm đó, Leif Eriksson, con trai của Erik the Red, người sáng lập ra thuộc địa Greenland cũng ủng hộ du nhập đạo Cơ đốc vào Greenland.

Những nhà thờ Cơ đốc giáo được dựng lên ở Iceland và Greenland sau năm 1000 không phải là những thực thể độc lập có quyền sở hữu đất đai và nhà cửa của họ, như những nhà thờ hiện đại. Thay vào đó, chúng được xây dựng và thuộc sở hữu của những người đứng đầu địa phương hay những tù trưởng hoặc tá điền ngay trên chính mảnh đất của mình, và họ được phép hưởng một phần nhỏ thuế mà người dân địa phương đóng gọi là thuế thập phân để duy trì hoạt động của nhà thờ. Việc này tương tự như một tù trưởng đàm phán sử dụng thương quyền (franchise) của hãng thức ăn nhanh nổi tiếng McDonald và được phép phân phối độc quyền các sản phẩm McDonald ở địa phương, ông ta liền xây dựng một nhà thờ và cung cấp các loại hàng hóa theo tiêu chuẩn thống nhất của McDonald, và được giữ lại một phần tiền lãi cho bản thân trong khi phải gửi phần còn lại về trung tâm quản lý - trong trường hợp này, Giáo hoàng tại Rome sẽ thông qua tổng Giám mục tại Nidaros (vùng Trondheim hiện nay). Đương nhiên, Giáo hội Cơ đốc cũng nỗ lực đấu tranh để các nhà thờ của mình được độc lập với những chủ đất. Năm 1297, cuối cùng Giáo hội cũng thành công khi buộc chủ các nhà thờ Iceland phải chuyển giao quyền sở hữu những cánh đồng của nhà thờ cho linh mục. Hiện không có tài liệu nào chứng minh liệu điều tương tự có diễn ra với Greenland không, nhưng việc Greenland chấp nhận (ít nhất là trên danh nghĩa) sự cai quản của người Na Uy vào năm 1261 có thể tạo ra một số áp lực đối với các chủ nhà thờ ở Greenland. Chúng ta biết rằng năm 1341, linh mục Bergen phái giám thị Ivar Bardarson tới Greenland, sau đó ông này trở về Na Uy với một danh sách mô tả chi tiết tất cả các nhà thờ Greenland, và đề xuất rằng giám mục nên xiết chặt sự quản lý đối với “thương quyền” của mình trên đất Greenland như đã làm với Iceland.

Việc cải sang đạo Cơ đốc đã tạo ra một xung đột văn hóa kịch tính đối với các thuộc địa ở nước ngoài của người Viking. Đạo Cơ đốc cho rằng mình là độc nhất và là tôn giáo chân chính duy nhất, có nghĩa phải loại bỏ tất cả những truyền thống ngoại đạo. Các loại hình nghệ thuật và kiến trúc tuân thủ các hình thức của đạo Cơ đốc, theo những mô hình trên lục địa. Người Viking ở nước ngoài xây dựng những nhà thờ và cả những thánh đường với quy mô lớn tương đương những nhà thờ ở những vùng trên lục địa Scandinavia có dân cư đông hơn, và vì vậy các nhà thờ này trở nên quá lớn so với quy mô dân số ở nước ngoài nhỏ hơn nhiều để có thể duy trì hoạt động của chúng. Những thuộc địa này rất sùng đạo và luôn đóng đủ phần thuế thập phân cho Rome: Chúng tôi có những tài liệu ghi chép về khoản thuế thập phân mà linh mục ở Greenland nộp cho Giáo hoàng vào năm 1282 (trả bằng răng hải mã và da gấu trắng Bắc cực thay vì nộp tiền), và cả một biên nhận chính thức của Giáo hoàng vào năm 1327 nhận số tiền thuế sáu năm của Greenland. Nhà thờ trở thành phương tiện chính truyền tải những tư tưởng mới nhất của châu Âu vào Greenland, bởi tất cả linh mục được bổ nhiệm cai quản Greenland đều là người Scandinavia lục địa chứ không phải là người Greenland bản địa.

Có lẽ hậu quả quan trọng nhất của việc những người khai hoang cải sang đạo Cơ đốc có liên quan tới việc họ nhận thức về bản thân như thế nào. Kết quả đó nhắc tôi nhớ rằng người Australia, rất lâu sau khi những thuộc địa Australia của Anh được lập ra vào năm 1788, vẫn tiếp tục cho rằng mình không phải là người châu Á và Thái Bình Dương mà là người Anh ở hải ngoại, nên họ vẫn sẵn sàng xả thân trong cuộc chiến năm 1915 tại Gallipoli xa xôi cùng với người Anh đánh lại người Thổ, mặc dù chẳng liên quan gì tới lợi ích quốc gia của Australia. Cũng như vậy, những người khai hoang Viking trên các đảo Bắc Đại Tây Dương vẫn coi mình là người Cơ đốc giáo châu Âu. Họ liên tục thay đổi theo những thay đổi trên lục địa trong kiến trúc nhà thờ, phong tục mai táng và các đơn vị đo lường. Chính sự đồng nhất này đã liên kết vài ngàn người Greenland hợp tác với nhau để vượt qua khó khăn và tồn tại trong khoảng thời gian bốn trăm năm trong một môi trường sống khắc nghiệt. Như chúng ta sẽ thấy, nó còn có một nhược điểm lớn là cản trở người Viking tiếp thu kinh nghiệm của người Inuit, sửa đổi bản thân để có thể tồn tại lâu hơn khoảng thời gian bốn thế kỷ.

Sáu thuộc địa của người Viking trên các đảo Bắc Đại Tây Dương tạo ra sáu thử nghiệm tương tự trong việc thiết lập các xã hội có chung nguồn gốc, tổ tiên. Như tôi đã đề cập ở phần mở đầu của chương này, sáu thử nghiệm tự nhiên này có những kết quả khác nhau: Các thuộc địa Orkney, Shetland và Faeroe tiếp tục tồn tại trong thời gian hơn một ngàn năm mà không ai nghi ngờ điều này; thuộc địa Iceland cũng tồn tại nhưng phải vượt qua đói nghèo và những khó khăn nghiêm trọng về mặt chính trị; xã hội Norse Greenland diệt vong sau 450 năm tồn tại; và thuộc địa Vinland bị từ bỏ ngay trong thập kỷ đầu tiên. Những kết quả khác nhau này rõ ràng có liên quan tới những yếu tố môi trường khác nhau của các thuộc địa. Bốn khác biệt môi trường chính gây ra những hậu quả khác nhau là: khoảng cách đại dương hay thời gian đi thuyền từ Na Uy tới Anh; sự kháng cự của những dân tộc bản địa chống lại sự xâm lược của người Viking, nếu có; khả năng thích hợp để phát triển nông nghiệp, đặc biệt phụ thuộc vào vĩ độ và khí hậu bản địa; và mức độ dễ tổn hại của môi trường, nhất là mức độ nhạy cảm với xói mòn đất và phá rừng.

Mặc dù có sáu kết quả thử nghiệm nhưng chỉ có bốn biến số có thể giải thích cho những kết quả đó, và chúng ta cũng không thể hy vọng tiếp tục tìm kiếm thêm những lý giải khác như chúng ta đã làm ở Thái Bình Dương, nơi chúng ta có 81 kết quả (trên 81 đảo) và 9 biến số để so sánh. Trong phân tích tương quan thống kê, để có được bất kỳ cơ hội thành công nào, có khi cần nhiều kết quả thử nghiệm riêng biệt hơn là chỉ phân tích những biến số này. Bởi vậy, do Thái Bình Dương có số đảo nhiều như vậy, nên chỉ riêng các phân tích thống kê cũng đủ để xác định tầm quan trọng tương ứng của những biến số độc lập đó. Trong Bắc Đại Tây Dương không có đủ những thử nghiệm tự nhiên riêng biệt để làm như vậy. Nên chỉ với những thông tin này, một chuyên gia thống kê sẽ tuyên bố vấn đề của người Viking là không thể giải quyết được. Điều này sẽ gây khó khăn cho các nhà lịch sử khi thử áp dụng phương pháp so sánh với những vấn đề trong lịch sử loài người: rõ ràng có quá nhiều biến số độc lập tiềm tàng và có quá ít những kết quả riêng biệt nhằm giúp xác định tầm quan trọng của những biến số này theo phương pháp thống kê.

Nhưng hiểu biết của các nhà lịch sử về các xã hội loài người còn nhiều hơn nhiều, chứ không chỉ đơn thuần là những điều kiện môi trường ban đầu và những kết quả cuối cùng: họ còn có nhiều thông tin về trình tự các giai đoạn phát triển liên kết những điều kiện ban đầu với những kết quả cuối cùng. Đặc biệt là các nhà khoa học chuyên nghiên cứu dân tộc Viking có thể phân tích tầm quan trọng của thời gian đi thuyền trên biển bằng cách tính toán số tàu qua lại dựa trên những số liệu đã được ghi lại và số lượng hàng chuyên chở; dựa trên những sự kiện lịch sử về những cuộc chiến giữa những người xâm lược Viking và các dân tộc khác, các nhà khoa học có thể phân tích ảnh hưởng từ mức độ kháng cự của người bản địa; họ có thể phân tích sự thích ứng trong sản xuất nông nghiệp dựa trên những tài liệu về khả năng sinh trưởng thực tế của cây trồng và vật nuôi; và có thể phân tích mức độ dễ tổn hại của môi trường qua những dấu hiệu lịch sử về phá rừng và xói mòn đất (như qua thống kê phấn hoa và những mẩu thực vật hóa thạch), và bằng việc xác định gỗ và các vật liệu xây dựng khác. Dựa trên những kiến thức này về trình tự các giai đoạn phát triển cũng như các kết quả, chúng ta có thể kết luận mức độ biệt lập theo trình tự tăng dần và mức độ thịnh vượng theo trình tự giảm dần của năm trong sáu thuộc địa Bắc Đại Tây Dương được xếp như sau: Orkney, Shetland, Faeroe, Iceland và Vinland. Trong hai chương tới, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết về số phận của xã hội người Viking trên đảo Greenland.

Orkney là một quần đảo nằm sát ngay mũi phía bắc của nước Anh, bao quanh là cảng Scapa Flow, một cảng ẩn trú lớn của tàu thuyền và từng là căn cứ chính của Hải quân Anh trong hai cuộc chiến tranh thế giới. Từ John O’Groats, điểm cực bắc của lục địa Scotlen, tới đảo Orkney gần nhất chỉ 11,7 km, và từ quần đảo Orkney tới Na Uy đi bằng thuyền của người Viking chỉ mất 24 giờ đồng hồ. Do vậy, rất thuận lợi cho người Viking Na Uy xâm chiếm quần đảo Orkney làm điểm trung chuyển để nhập khẩu bất kỳ mặt hàng gì họ cần từ Na Uy hay từ các đảo nhỏ của Anh, và vận chuyển hàng xuất khẩu của họ với chi phí thấp hơn. Quần đảo Orkney còn được gọi là quần đảo lục địa, bởi đó thực ra chỉ là một mảnh đất mới bị tách khỏi lục địa Anh khi mực nước biển trên thế giới dâng lên do băng tan ở cuối Thời kỳ Băng hà 14.000 năm trước. Trên quần đảo này có nhiều loại động vật đất liền thuộc loài có vú sinh sống, trong đó có nai sừng tấm (biệt danh của loài hươu đỏ ở Anh), rái cá và thỏ rừng được du nhập để phục vụ thú săn bắn. Những kẻ xâm lược Viking nhanh chóng khuất phục cư dân bản địa của quần đảo Orkney, được gọi là người Pict.

Là cực nam của các thuộc địa của người Viking ở Bắc Đại Tây Dương, trừ Vinland, và nằm trên dòng hải lưu nóng Gulf Stream (chảy từ vịnh Mehico qua Đại Tây Dương đến châu Âu), Orkney được hưởng một khí hậu ôn hòa. Đất đai của họ màu mỡ, được băng bảo vệ và không có nguy cơ xói mòn nghiêm trọng nào. Bởi vậy, trồng trọt trên quần đảo Orkney đã được người Pict thực hiện từ trước khi người Viking xâm chiếm hòn đảo, tiếp tục được người Viking thừa kế, và vẫn cho sản lượng cao tới tận ngày nay. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Orkney hiện đại là thịt bò và trứng, thịt lợn, pho mát và một số hoa màu.

Người Viking xâm lược quần đảo Orkney vào khoảng năm 800, và tiếp tục sử dụng những hòn đảo này làm căn cứ tiến hành những cuộc tấn công cướp bóc nhằm vào các lục địa Anh và Ireland lân cận, dựng lên một xã hội giàu có và mạnh mẽ và có một thời gian độc lập với vương quốc Norse. Một bằng chứng về sự giàu có của người Viking ở Orkney là một hầm khoảng 7,7 kg bạc được chôn giấu vào khoảng năm 950, mà không một đảo nào khác của Bắc Đại Tây Dương có và tương đương những hầm bạc lớn nhất trên lục địa Scandinavia. Một bằng chứng khác là tu viện St.Magnus, được xây dựng vào thế kỷ thứ XII theo mô hình tu viện Durham hùng mạnh của Anh. Năm 1472, quyền sở hữu quần đảo Orkney được chuyển giao hòa bình từ Na Uy (khi đó vẫn thuộc Đan Mạch) sang Scotland, vì một lý do chính trị rất tầm thường (Vua James của Scotland đòi bồi thường của hồi môn cho công chúa Đan Mạch mà ông ta đã cưới). Dưới sự cai trị của Scotland, các cư dân đảo Orkney tiếp tục nói một loại thổ ngữ Norse cho tới tận những năm 1700. Ngày nay, lớp hậu duệ của người Pict bản địa và những kẻ xâm lược Norse trên đảo Orkney vẫn là những nông dân sung túc, và lại càng giàu hơn nhờ một mỏ khai thác dầu lửa Biển Bắc.

Trong những gì tôi vừa đề cập về quần đảo Orkney, có một số điều tương tự cũng đã diễn ra với thuộc địa quần đảo Shetland ở Bắc Đại Tây Dương. Ban đầu quần đảo này cũng do những nông dân người Pict chiếm giữ, rồi bị người Viking xâm chiếm vào thế kỷ IX, được nhượng cho Scotland vào năm 1472, một thời gian sau đó vẫn sử dụng tiếng Norse, và gần đây cũng được lợi từ khai thác dầu lửa của Biển Bắc. Những điểm khác biệt là quần đảo này xa hơn một chút về phía bắc (cách Orkney khoảng 80,4 km về phía bắc và 209,2 km về phía bắc Scotland), lộng gió hơn, đất ít màu mỡ hơn và sản lượng nông nghiệp thấp hơn. Nuôi cừu lấy len là ngành kinh tế chính của Shetland cũng như của quần đảo Orkney, nhưng chăn nuôi gia súc của Shetland bị thất bại và bị thay thế bằng ngành đánh bắt cá ngày càng được chú trọng.

Xét về sự biệt lập, xa hơn quần đảo Orkney và Shetland là quần đảo Faeroe, cách Orkney 321,8km về phía bắc và cách Na Uy 643,7 km về phía tây. Ở vị trí này, những chiếc thuyền của người Viking chở cư dân và hàng hóa vẫn dễ dàng tiếp cận Faeroe, nhưng những loại thuyền khác trước đó thì rất khó tiếp cận. Vì vậy, khi người Viking tìm ra đảo Faeroe, nó giống như một đảo hoang, chỉ có vài người Ireland sống ẩn dật mà sự tồn tại của họ là những câu chuyện rất mơ hồ và không có bằng chứng khảo cổ nào khẳng định điều đó.

Nằm cách Vòng Bắc cực 48,2 km về hướng nam, tại vĩ độ trung gian giữa hai thị trấn lớn nhất trên bờ biển phía tây Na Uy (Bergen và Trondheim), quần đảo Faeroe có khí hậu đại dương ôn hòa. Tuy nhiên, vị trí của quần đảo xa hơn về phía bắc so với quần đảo Orkney và Shetland, có nghĩa là thời gian trồng trọt ngắn hơn cho nông dân và những người chăn nuôi gia súc sau này. Bởi diện tích của các đảo quá nhỏ nên hơi nước muối bốc lên từ biển len lỏi vào tất cả những ngõ ngách trên quần đảo, kết hợp với gió mạnh khiến cây rừng không phát triển được. Thực vật bản địa ở đây chỉ là những cây liễu, gỗ bulô, dương lá rung và bách xù thấp lè tè đã nhanh chóng bị những cư dân đầu tiên chặt sạch và không thể mọc trở lại bởi bị những đàn cừu gặm hết những cành non. Nếu khí hậu khô hơn thì đây sẽ đúng là nơi lý tưởng để xói mòn đất, nhưng quần đảo Faeroe có khí hậu rất ẩm ướt, có sương mù và “hưởng” lượng mưa trung bình tới 280 ngày mỗi năm, thi thoảng có những trận mưa đá. Bản thân những cư dân nơi đây cũng áp dụng những biện pháp hạn chế xói mòn như xây tường bao, làm ruộng bậc thang để ngăn chặn mất đất. Những cư dân Viking ở Greenland và đặc biệt là Iceland ít thành công hơn trong việc kiểm soát xói mòn, không chỉ vì họ không thận trọng như những cư dân quần đảo Faeroe mà còn bởi đất Iceland và khí hậu Greenland khiến nguy cơ xói mòn đất cao hơn.

Những người Viking định cư trên quần đảo Faeroe trong thế kỷ IX. Họ chỉ trồng lúa mạch và một số rất ít hoặc không trồng loại hoa màu nào khác; thậm chí ngày nay cũng chỉ có khoảng 6% diện tích đất trên quần đảo Faeroe được dành để trồng khoai tây và những loại rau quả khác. Bò và lợn được đánh giá cao ở Na Uy, và thậm chí cả cừu mặc dù giá trị kinh tế thấp hơn, nhưng đều không được cư dân nơi đây chăn nuôi trong thời gian 200 năm đầu tiên để đề phòng tình trạng chăn thả quá mức. Thay vào đó, nền kinh tế Faeroe chú trọng phát triển chăn nuôi cừu để xuất khẩu len, cộng với sau này xuất khẩu cá ướp muối, và hiện nay là cá tuyết khô, cá bơn Halibut, và cá hồi nuôi. Đổi lại việc xuất khẩu len và cá, cư dân trên đảo nhập khẩu từ Na Uy và Anh rất nhiều hàng hóa cần thiết mà môi trường Faeroe thiếu hay có nhưng không đạt chất lượng, nhất là lượng gỗ lớn bởi quần đảo này không có gỗ xây dựng, trừ những cây gỗ trôi dạt; sắt để chế tạo công cụ hầu như trên đảo không có; và những loại đá và khoáng sản khác như các loại đá mài, đá steatite mềm có thể đẽo thành những dụng cụ làm bếp thay thế cho gốm.

Về phần lịch sử Faeroe từ khi con người đặt chân lên đảo, các cư dân trên đảo đã cải sang đạo Cơ đốc vào khoảng năm 1000, cùng thời điểm với các thuộc địa Bắc Đại Tây Dương khác của người Viking, và sau này họ đã xây dựng một nhà thờ theo kiến trúc Gothic. Những đảo này trở thành chư hầu của Na Uy vào thế kỷ XI và được chuyển giao cùng với Na Uy sang cho Đan Mạch vào năm 1380 khi Na Uy tự đặt mình dưới vương triều Đan Mạch và giành quyền tự trị vào năm 1948. Hiện 47.000 cư dân trên đảo vẫn nói một thổ ngữ của người Faeroe, có nguồn gốc trực tiếp từ người Na Uy cổ và rất giống với tiếng Iceland hiện đại; người Faeroe và người Iceland có thể hiểu tiếng nói của nhau và những văn bản của người Na Uy cổ.

Tóm lại, quần đảo Faeroe ít gặp những vấn đề gây khó khăn cho các xã hội Norse Iceland và Greenland như đất dễ bị xói mòn và những núi lửa hoạt động của Iceland, hay mùa vụ trồng hoa màu ngắn, khí hậu khô hơn, khoảng cách đi thuyền xa hơn và cư dân địa phương thù địch hơn của Greenland. Mặc dù nằm xa hơn so với các quần đảo Orkney và Shetland, và nghèo tài nguyên thiên nhiên hơn, nhất là khi so với Orkney, cư dân đảo Faeroe vẫn tồn tại mà không gặp khó khăn nào do nhập khẩu đáp ứng phần lớn những loại hàng hóa cần thiết - một giải pháp mà người Greenland không có được.

Lần đầu tiên tôi tới Iceland là để tham dự một cuộc hội thảo do NATO tài trợ về phục hồi sinh thái các môi trường bị tàn phá. NATO chọn Iceland là nơi tổ chức hội thảo là cực kỳ thích hợp bởi Iceland là nước có hệ sinh thái bị tàn phá nặng nề nhất châu Âu. Kể từ khi con người định cư ở đây, hầu hết các loài cây và các loài thực vật bản địa đã bị tuyệt chủng, và khoảng một nửa số đất ban đầu đã bị xói mòn xuống biển. Hậu quả là những vùng rộng lớn của Iceland vẫn còn xanh tươi khi những người Viking đặt chân lên đây, giờ đã trở thành hoang mạc không có sự sống, không có nhà ở, đường sá hay bất cứ dấu hiệu nào của con người. Khi cơ quan không gian của Mỹ NASA muốn tìm kiếm một nơi trên Trái đất để mô phỏng bề mặt Mặt trăng để các phi hành gia có điều kiện luyện tập trong môi trường tương tự họ sẽ gặp khi lần đầu hạ cánh xuống Mặt trăng, NASA đã chọn một vùng đất của Iceland trước đây từng phủ đầy cây xanh, giờ hoàn toàn cằn cỗi.

Bốn yếu tố tạo nên môi trường Iceland là núi lửa, băng, nước và gió. Iceland nằm trên biển Bắc Đại Tây Dương cách Na Uy khoảng 965,6 km về phía tây trên rặng Mid-Atlantic Ridge (rặng núi ngầm dưới biển nằm giữa Đại Tây Dương và Bắc Băng Dương; những đỉnh cao nhất trồi lên khỏi mặt nước tạo thành đảo), nơi các dải lục địa Mỹ và Âu Á mở rộng ra và nơi các núi lửa dưới lòng biển hoạt động theo chu kỳ tạo nên những dải đất mới, trong đó Iceland là dải đất rộng nhất. Trung bình, cứ mỗi một hoặc hai thập kỷ, Iceland lại có ít nhất một núi lửa phun trào dữ dội. Ngoài núi lửa, Iceland còn có những suối nước nóng và các khu vực địa nhiệt nhiều tới mức hầu như cả nước (trong đó có toàn bộ thủ đô của Reykjavík) khoan lấy nhiệt của núi lửa để sưởi ấm cho nhà của mình mà không phải đốt các nhiên liệu hóa thạch.

Yếu tố thứ hai trong môi trường Iceland là băng, những chỏm băng được hình thành và hiện vẫn còn trên phần lớn các cao nguyên nằm sâu bên trong đất liền bởi nó ở vị trí cao (tới 2.119 mét), ngay bên dưới Vòng Bắc cực, nên có khí hậu lạnh. Nước đổ xuống khi mưa và tuyết rơi trôi ra biển qua các dòng sông băng, sông thường và gây ra những trận lụt theo chu kỳ, và thi thoảng xảy ra những trận lụt lớn bất thường khi những chiếc đập nham thạch tự nhiên hay những tảng băng chắn qua hồ nước bị cuốn đi, hay khi một núi lửa đột ngột phun trào dưới một chỏm băng, khiến nó tan chảy thành rất nhiều tảng băng nhỏ. Cuối cùng, Iceland là một nơi rất lộng gió. Sự cộng hưởng của bốn yếu tố núi lửa, lạnh giá, nước và gió khiến đất đai Iceland rất dễ bị xói mòn.

Khi những người Viking đầu tiên đặt chân lên đất Iceland, những ngọn núi lửa và suối nước nóng là những thắng cảnh lạ lẫm đối với họ, không giống như những gì họ biết ở Na Uy hay các đảo nhỏ của Anh, nhưng dù sao phong cảnh cũng không quá xa lạ và khiến họ mạnh dạn hơn. Phần lớn các loài cây và chim nơi đây đều là những loài quen thuộc với châu Âu. Những vùng đất thấp ven biển chủ yếu được che phủ bởi rừng liễu và những cây bulô thấp, rất dễ chặt để chăn thả gia súc. Trong những vùng quang đãng này, ở những vùng thấp không cây cối như những đầm lầy, và ở những vùng đất có độ cao mà cây cối không thể mọc được, những người tới định cư tìm thấy những đồng cỏ tươi tốt, các loài thảo mộc và rêu rất lý tưởng cho chăn nuôi các loại gia súc mà họ từng nuôi ở Na Uy và các đảo nhỏ của Anh. Đất đai màu mỡ, có nơi đất dày tới 15,2 mét. Mặc dù có những chỏm băng ở vĩ độ cao và vị trí gần với Vòng Bắc cực, nhưng dòng hải lưu nóng Gulf Stream bên cạnh vẫn khiến cho khí hậu vùng đất thấp đủ ôn hòa trong một số năm thuận lợi cho trồng lúa mạch ở miền nam. Những chiếc hồ, dòng sông và các đại dương xung quanh dồi dào thủy sản và do chưa từng bị săn bắt nên các loài chim biển và vịt hoang dã ở đây rất dạn người, trong khi hải cẩu và hải mã nằm tràn trên các bờ biển.

Nhưng vẻ bên ngoài của Iceland giống tây nam Na Uy và Anh khiến cư dân dễ bị nhầm lẫn về ba mặt quan trọng. Thứ nhất, vị trí của Iceland sát với phía bắc, cách vùng đất canh tác chính phía tây nam Na Uy hàng trăm dặm về phía bắc, có nghĩa là khí hậu lạnh hơn và thời gian trồng trọt hoa màu ngắn hơn, khiến hoạt động nông nghiệp khó khăn hơn. Sau này, cuối thời kỳ Trung cổ khi khí hậu trở nên lạnh hơn, những cư dân nơi đây đã ngừng trồng trọt hoa màu và chuyển sang chăn nuôi thuần túy. Thứ hai, tro núi lửa phun trào theo chu kỳ phát tán trên một diện rộng làm hỏng cỏ khô làm thức ăn cho gia súc. Xuyên suốt lịch sử Iceland, những vụ núi lửa phun trào liên tục không ít lần khiến gia súc và con người rơi vào cảnh đói ăn; thảm họa tồi tệ nhất xảy ra vào năm 1783 khi núi lửa Laki phun trào, sau đó khiến khoảng 1/5 dân số bị chết đói.

Những vấn đề lớn nhất khiến những người định cư nhầm lẫn có liên quan tới sự khác biệt giữa khả năng dễ bị tổn hại và sự khác biệt của những loại đất của Iceland so với những loại đất màu mỡ và quen thuộc của Anh và Na Uy. Những người định cư không thể đánh giá được những khác biệt này, một phần bởi những khác biệt này rất khó phát hiện, tới giờ các chuyên gia về đất cũng còn chưa hiểu rõ, nhưng cũng còn bởi đó là một khác biệt không thể phát hiện ra ngay từ đầu mà phải mất nhiều năm theo dõi, là đất đai của Iceland hình thành rất chậm nhưng lại xói mòn nhanh hơn đất đai của Anh và Na Uy. Do vậy, khi những cư dân nhìn thấy đất đai của Iceland màu mỡ và dày, họ tỏ ra rất vui sướng, cũng như phản ứng của bất kỳ ai trong chúng ta khi nghe tin được thừa kế một tài khoản ngân hàng có số dư rất lớn, chúng ta sẽ nhẩm tính mức lãi suất với hy vọng mỗi năm tài khoản này sẽ sinh ra một khoản tiền lãi lớn. Đáng tiếc là, mặc dù đất đai và rừng núi rậm rạp của Iceland gây ấn tượng lớn khi nhìn thấy - giống như số dư lớn trong tài khoản ngân hàng - nhưng số dư ngân hàng này lại được tích lũy rất chậm (như với mức lãi suất thấp) và từ rất lâu khi Thời kỳ Băng hà chấm dứt. Sau này những cư dân cũng phát hiện ra rằng họ không được hưởng lãi suất sinh thái hằng năm của Iceland, mà họ đang ăn vào phần vốn là đất và thảm thực vật được tích lũy từ hàng chục ngàn năm qua, và phần lớn số vốn này nhanh chóng bị kiệt quệ chỉ trong vài thập kỷ hoặc thậm chí chỉ trong vòng một năm. Những cư dân này đã vô tình sử dụng đất đai và thực vật một cách không bền vững, bởi các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ tồn tại vô hạn nếu tốc độ thu hoạch chậm hơn tốc độ tái sinh của chúng (giống như hoạt động đánh bắt cá và khai thác rừng nếu được quản lý tốt). Thay vào đó, họ đã khai thác đất và thực vật theo kiểu thợ mỏ khai thác các mỏ khoáng sản và dầu lửa, bởi chúng có tỷ lệ tái sinh cực kỳ chậm và bị khai thác tới kiệt quệ.

Điều gì khiến đất đai Iceland lại dễ bị tổn hại và chậm hình thành tới vậy? Một lý do quan trọng chính là nguồn gốc của nó. Tại Na Uy, miền bắc nước Anh và Greenland, gần đây không có núi lửa hoạt động và hầu như bị băng che phủ hoàn toàn trong kỷ Băng hà, đất thịt được hình thành hoặc do các lớp sét của đại dương bị đẩy trồi lên hoặc do sông băng nghiền nhỏ những tảng đá bên dưới khiến chúng lẫn vào băng, sau này khi băng tan lắng xuống thành trầm tích. Mặc dù vậy, tại Iceland núi lửa thường xuyên phun trào, phun những đám tro li ti vào không khí. Những hạt tro nhẹ bị gió mạnh thổi đi hầu như khắp đất nước, tạo ra một lớp tro (tephra) nhẹ như bột đá. Trên lớp tro màu mỡ này, thực vật có thể sinh sôi, bao phủ lớp tro và giữ cho nó khỏi bị xói mòn. Nhưng một khi lớp thực vật này bị gỡ đi (có thể do chăn nuôi cừu quá nhiều hoặc do nông dân đốt nương làm rẫy), lớp tro sẽ lộ ra và rất dễ bị xói mòn. Do tro rất nhẹ nên nó có thể bị gió cuốn đi tới một nơi nào đó, sau đó lại tiếp tục bị cuốn đi nơi khác. Ngoài hiện tượng xói mòn do gió, mưa lớn và lũ lụt thường xuyên của Iceland khiến lớp tro bị xói mòn, nhất là trên các sườn đồi núi thẳng đứng.

Những lý do khác khiến đất đai Iceland dễ bị tổn hại là do thảm thực vật của nó cũng rất dễ bị tổn hại. Thực vật phát triển sẽ bao phủ đất đai và bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bằng cách sản sinh các chất hữu cơ liên kết đất và làm tăng trọng lượng của đất. Nhưng thực vật Iceland phát triển chậm bởi vị trí địa lý của Iceland quá gần phía bắc, không khí lạnh và thời gian trồng trọt ngắn. Sự cộng hưởng của đất đai dễ bị tổn hại và thực vật tăng trưởng chậm tạo ra một chu kỳ xói mòn có xu hướng diễn ra mạnh hơn ở Iceland. Sau khi lớp thực vật bao phủ có tác dụng bảo vệ đất bị cừu hay nông dân gỡ bỏ, lúc đó xói mòn đất bắt đầu diễn ra, thực vật rất khó tự tái sinh để tiếp tục bảo vệ đất, bởi vậy xói mòn lại càng lan rộng hơn.

Quá trình thuộc địa hóa Iceland diễn ra mạnh nhất vào khoảng năm 870 và chấm dứt vào năm 930, khi hầu như toàn bộ diện tích đất đai thích hợp cho trồng trọt đã có người định cư hay chiếm giữ. Đa phần cư dân tới trực tiếp từ phía tây Na Uy, còn lại là những người Viking nhập cư từ những đảo nhỏ của Anh và kết hôn với những phụ nữ Celtic. Những cư dân nơi đây vất vả tái tạo nền kinh tế chăn nuôi tương tự như lối sống quen thuộc của họ ở Na Uy và các đảo nhỏ của Anh, và cũng dựa trên năm loài gia súc, trong đó cừu là loài được nuôi nhiều nhất. Sữa cừu được dùng để làm bơ, pho mát và một đặc sản của người Iceland gọi là skyr, tôi thấy có mùi vị như sữa chua đặc rất ngon. Ngoài ra, bổ sung vào khẩu phần ăn của người Iceland còn bao gồm các loài thú hoang săn được và cá, như các nhà cổ động vật học phát hiện sau khi kiên nhẫn phân tích 47.000 chiếc xương khai quật từ những đống rác của người cổ đại. Hải mã nhanh chóng bị tuyệt chủng và các loài chim biển bị suy thoái, khiến cho những người thợ săn phải chuyển sang săn hải cẩu. Sau này, nguồn cung cấp protein chính từ thiên nhiên là cá, cả các nước ngọt với các loại cá hồi, cá vược và cá hồi chấm hồng đầy trong các sông, hồ, và cá nước mặn với rất nhiều cá tuyết và cá êfin dọc theo bờ biển. Cá tuyết và cá êfin có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống của người Iceland trong những thập kỷ khó khăn Thời kỳ Tiểu Băng hà và trong việc thúc đẩy nền kinh tế Iceland hiện nay phát triển.

Thời điểm con người bắt đầu định cư tại Iceland, rừng chiếm một phần tư diện tích đảo. Cư dân đã chặt cây để chăn thả gia súc, dùng làm củi đun, lấy gỗ và đốt làm than. Chỉ trong vài thập kỷ đầu tiên, khoảng 80% diện tích rừng đã bị phát quang và tới nay đã lên 96%, giờ Iceland chỉ còn lại khoảng 1% diện tích rừng (Phụ bản 16). Những súc gỗ lớn cháy sém tìm thấy trong những khu vực khảo cổ sớm nhất cho thấy, tới nay vẫn thực sự khó tin, rằng phần lớn gỗ rừng bị chặt khi phát rừng làm nương đều bị vứt thành rác hay cứ để chúng cháy tự do, cho tới khi người Iceland nhận ra rằng nếu tiếp tục như vậy thì sau này họ sẽ không còn gỗ nữa. Khi những diện tích rừng đầu tiên bị chặt bỏ, cư dân đã sử dụng mảnh đất mới phát quang để chăn thả cừu và lợn, nên cừu thì ăn cây non và lợn thì ủi cả rễ cây khiến các loại cây con không thể tái sinh được. Ngày nay, khi lái xe dọc theo Iceland, thi thoảng bạn vẫn bắt gặp những lùm cây nhưng đa phần đều có rào bảo vệ để cừu khỏi phá.

Những cao nguyên của Iceland nằm ở độ cao mà cây cối không thể phát triển, thuận lợi cho những đồng cỏ tự nhiên phát triển trên những vùng thổ nhưỡng nông, đặc biệt thu hút các cư dân bởi họ không cần phải phát quang cây rừng để trồng cỏ. Nhưng những vùng đất cao lại dễ bị tổn hại hơn những vùng đất thấp bởi khí hậu lạnh và khô hơn, nên tỷ lệ thực vật tái sinh thấp hơn, và không có cây rừng bảo vệ. Khi thảm cỏ tự nhiên bị cắt sạch hay bị gia súc gặm hết, mặt đất trước kia được phủ một lớp tro núi lửa do gió thổi tới, giờ lại bị phơi ra để mặc gió xói mòn. Ngoài ra, những dòng nước chảy từ trên cao xuống, do mưa hoặc do tuyết tan, cũng bắt đầu xói mòn thành những mương rãnh trên mặt đất trơ trụi. Nhưng khi một chiếc rãnh hình thành và mực nước trong rãnh giảm xuống, mặt đất sẽ bị khô và lại càng bị gió xói mòn mạnh hơn. Chỉ sau một thời gian định cư ngắn, đất Iceland bắt đầu bị cuốn từ các cao nguyên xuống các vùng đất thấp và cuốn ra biển. Các cao nguyên bị bóc đi lớp đất mặt cũng như thảm thực vật, vùng đồng cỏ trước kia sâu bên trong đất liền của Iceland giờ trở thành hoang mạc do chính con người (hay do những đàn cừu được nuôi) tạo ra như ngày nay mọi người đã thấy và sau đó xói mòn bắt đầu lan sang cả những vùng đất thấp ven biển.

Ngày nay chúng ta phải tự hỏi mình: tại sao trên Trái đất lại có những cư dân ngốc nghếch với những cách quản lý đất đai rõ ràng có thể gây ra những thiệt hại? Chẳng lẽ họ không nhận thức được điều gì sẽ xảy ra? Có, sau này họ có nhận ra, nhưng ban đầu họ không nhận ra ngay bởi với họ đó là một vấn đề quản lý đất khó khăn và lạ thường. Ngoại trừ núi lửa và những suối nước nóng, Iceland trông rất giống những vùng đất khác của Na Uy và Anh trước khi họ di cư, những cư dân Viking không có cách nào để biết rằng đất đai và thực vật của Iceland lại dễ tổn hại hơn nhiều so với những loại mà họ biết. Lẽ tất nhiên là họ sẽ chiếm lĩnh những vùng đất cao và chăn nuôi rất nhiều cừu ở đây, giống như họ đã từng làm ở những cao nguyên Scotland. Làm sao họ có thể biết rằng không thể chăn nuôi cừu mãi mãi trên những cao nguyên của Iceland, và rằng ngay cả gia súc ở những vùng đất thấp cũng trở nên quá nhiều? Tóm lại, lý do vì sao Iceland trở thành nước châu Âu có hệ sinh thái tổn hại nặng nề nhất không phải vì những người Na Uy và người Anh cẩn thận bỗng nhiên trở nên bất cẩn khi đặt chân lên đảo Iceland, mà bởi họ sống trong một môi trường rõ ràng là rất tươi tốt nhưng thực tế dễ bị tổn hại mà kinh nghiệm sống của họ ở Anh và Na Uy chưa từng gặp phải.

Cuối cùng, khi những cư dân nhận ra điều gì đang xảy ra, họ đã áp dụng những biện pháp khắc phục. Họ không còn vứt đi những súc gỗ lớn, không để lợn và dê tiếp tục phá hoại môi trường sinh thái, và rời bỏ phần lớn những cao nguyên. Những nhóm trang trại gần nhau hợp tác với nhau trong việc cùng ra những quyết định quan trọng để ngăn chặn xói mòn, như quyết định cuối mùa xuân, thời điểm thuận lợi cho cỏ sinh sôi thì đưa toàn bộ cừu lên các thảo nguyên trên núi có vĩ độ cao hơn và để cừu ở đó suốt mùa hè, khi mùa thu tới mới đưa cừu trở lại. Các nông dân thống nhất với nhau số cừu tối đa thả trên một đồng cỏ chung, và phân chia chỉ tiêu cừu cho từng nông dân.

Việc ra quyết định cũng rất linh hoạt và thận trọng, nhưng cũng bảo thủ. Thậm chí ngay cả những bạn bè người Iceland của tôi cũng thừa nhận với tôi rằng xã hội của họ là một xã hội bảo thủ và cứng nhắc. Chính quyền Đan Mạch cai trị Iceland từ sau năm 1397 cũng thường nản lòng bởi thái độ bảo thủ mỗi khi họ định áp dụng một chính sách nào đó nhằm cải thiện điều kiện sống của Iceland. Trong số danh mục những cải tiến mà người Đan Mạch đã định áp dụng có: trồng ngũ cốc; cải tiến lưới đánh cá; khuyến khích đánh cá bằng thuyền có boong chứ không phải là thuyền thô sơ, chế biến cá muối xuất khẩu chứ không chỉ đơn thuần là phơi khô cá; xây dựng ngành sản xuất dây chão, ngành da thuộc và khai thác sunphua để xuất khẩu. Với những cải tiến này và bất cứ đề xuất thay đổi nào, người Đan Mạch (cũng như bản thân những người Iceland có tư tưởng đổi mới) thường vấp phải phản ứng cố hữu là “không”, bất kể chúng tiềm tàng những lợi ích cho họ.

Các bạn Iceland giải thích với tôi rằng quan điểm bảo thủ này là có thể thông cảm được bởi nó phản ánh mức độ dễ bị tổn hại của môi trường Iceland. Người Iceland trở nên bảo thủ bởi những kinh nghiệm được tích lũy trong suốt lịch sử lâu dài cho thấy, mỗi khi họ cố thay đổi một điều gì đó thì dường như chỉ khiến mọi việc tệ hơn. Trong những năm thử nghiệm đầu tiên trong thời kỳ đầu lịch sử Iceland, các cư dân đã sáng tạo và áp dụng một hệ thống xã hội và kinh tế, không ít thì nhiều cũng có phần hiệu quả. Cứ cho là hệ thống này đã khiến đa số cư dân rơi vào cảnh nghèo nàn, và thi thoảng có nhiều người chết vì đói nhưng ít nhất xã hội vẫn tồn tại. Nhiều thử nghiệm khác mà người Iceland đã thử áp dụng trong lịch sử hầu như đều thất bại thảm hại. Bằng chứng của những thảm họa đó hiện vẫn còn hiển hiện ở khắp nơi, xung quanh họ, là những cao nguyên trơ trụi như Mặt trăng, những trang trại ngày xưa giờ bị bỏ hoang, những vùng đất canh tác đã bị xói mòn. Từ tất cả những kinh nghiệm đó, người Iceland rút ra một kết luận rằng: Đây không phải là đất nước để chúng tôi có thể tự do thử nghiệm. Chúng tôi sống trên một vùng đất dễ bị tổn hại; chúng tôi biết rằng con đường mà chúng tôi đang đi sẽ cho phép ít nhất một số người trong chúng tôi sống sót, nên đừng yêu cầu chúng tôi thay đổi.

Lịch sử chính trị Iceland từ năm 870 trở đi có thể tóm tắt ngắn gọn như sau. Iceland tự trị trong vài thế kỷ, cho tới khi xảy ra chiến tranh giữa các tù trưởng của năm bộ tộc lớn nhất nước, giết chết nhiều người và đốt cháy nhiều trang trại trong nửa đầu của thế kỷ XIII. Năm 1262, cư dân Iceland tự nguyện đặt mình dưới sự cai trị của vua Na Uy, với lý do rằng một vị vua xa xôi sẽ ít nguy hiểm với họ hơn, đồng thời để họ tự do hơn và không để mảnh đất rơi vào tình trạng hỗn loạn như khi nằm dưới tay những tù trưởng sống cạnh họ. Sự kết hôn giữa các thành viên trong các hoàng gia vùng Scandinavia đã dẫn tới sự thống nhất các vương triều Đan Mạch, Thụy Điển và Na Uy vào năm 1397, tất cả đặt dưới sự cai trị của một vị vua, người chỉ quan tâm tới Đan Mạch bởi đây là vùng đất giàu có nhất của ông ta, mà ít quan tâm tới Na Uy và Iceland bởi họ nghèo hơn. Năm 1874, Iceland giành được một số quyền tự trị, trở thành tự trị vào năm 1904 và độc lập hoàn toàn, tách ra khỏi Đan Mạch vào năm 1944.

Cuối thời kỳ Trung cổ, nền kinh tế Iceland được kích thích nhờ sự phát triển của hoạt động buôn bán cá khô (cá tuyết khô), được đánh bắt trong những vùng biển của Iceland và xuất khẩu sang những thành phố đang phát triển của lục địa châu Âu, nơi dân cư đô thị có nhu cầu thực phẩm lớn. Bởi bản thân Iceland không có những cây gỗ lớn đủ để đóng thuyền, nên việc đánh bắt và xuất khẩu cá phụ thuộc vào tàu thuyền nước ngoài, nhất là Na Uy, Anh và Đức, kể cả Pháp và Hà Lan cũng tham gia. Tới đầu những năm 1900, Iceland cuối cùng cũng bắt đầu gây dựng một hạm đội của riêng mình và bắt đầu thời kỳ bùng nổ đánh bắt cá trên quy mô công nghiệp. Tới năm 1950, thủy sản chiếm hơn 90% sản lượng hàng xuất khẩu của Iceland, vượt qua cả lĩnh vực nông nghiệp từng một thời là ngành kinh tế chủ yếu của đất nước. Ngay từ năm 1923, dân số đô thị của Iceland đã vượt dân số nông thôn về mặt số lượng. Hiện Iceland là nước vùng Scandinavia có tỷ lệ đô thị hóa mạnh nhất, với một nửa dân số sống ở thủ đô Reykjavík. Dòng dân cư từ nông thôn đổ ra thành thị vẫn tiếp tục tới tận ngày nay, khi những nông dân Iceland từ bỏ những trang trại của mình hoặc chuyển đổi chúng thành nhà nghỉ và chuyển tới thành thị kiếm công ăn việc làm, uống Coca-Cola và hưởng thụ văn hóa toàn cầu.

Ngày nay, nhờ các nguồn tài nguyên phong phú như cá, năng lượng địa nhiệt cùng thủy điện từ tất cả các dòng sông, và nhu cầu gỗ đóng tàu cũng đã giảm (hiện tàu được đóng bằng kim loại), nên Iceland từ một nước nghèo nhất châu Âu giờ đã trở thành một trong những nước giàu nhất thế giới, tính theo thu nhập bình quân trên đầu người, một tấm gương xã hội thành công vĩ đại để cân bằng với những kết cục bi thảm sụp đổ xã hội từ Chương 2 đến Chương 5. Nhà tiểu thuyết từng đoạt giải Nobel của Iceland là Halldór Laxness đã để một nhân vật nữ chính trong tiểu thuyết Salka Valka nói một câu bất hủ mà chỉ có người Iceland mới có thể thốt lên: “Khi tất cả đã được nói và làm, thứ đầu tiên và trên hết của cuộc sống là cá muối”. Nhưng đánh cá cũng có những khó khăn về mặt quản lý, giống như với rừng và đất đai. Người Iceland hiện đang hết sức nỗ lực để khắc phục những thiệt hại trước đây mà họ gây ra đối với rừng và đất đai và ngăn chặn những thiệt hại tương tự đối với ngành thủy sản của họ.

Với việc điểm qua lịch sử Iceland, hãy xem Iceland đứng ở đâu so với năm thuộc địa Norse khác của Bắc Đại Tây Dương. Tôi đã từng nói rằng số phận khác nhau của những thuộc địa này đặc biệt phụ thuộc sự khác nhau trong bốn yếu tố: khoảng cách đi thuyền từ châu Âu; sự kháng cự của cư dân bản địa chống lại sự xâm lược của người Viking; mức độ thích hợp cho sản xuất nông nghiệp; và mức độ dễ bị tổn hại của môi trường. Trong trường hợp của Iceland, hai trong số bốn yếu tố này là thuận lợi, và hai yếu tố còn lại là khó khăn. Tin vui cho các cư dân Iceland là đảo này trước đó không (hay theo như chúng ta biết là không) có người ở, và khoảng cách từ nó đến châu Âu (gần hơn nhiều so với Greenland hay Vinland, mặc dù xa hơn so với Orkney, Shetland và Faeroe) vừa đủ gần để cho phép buôn bán hàng hóa với số lượng lớn, kể cả bằng những chiếc thuyền thời Trung cổ. Không như người Greenland, cư dân Iceland hằng năm vẫn liên lạc bằng đường biển với Na Uy hay Anh, và có thể nhập khẩu lượng lớn những mặt hàng cần thiết (nhất là gỗ, sắt và sau này cả đồ gốm), và xuất khẩu lượng lớn hàng hóa. Cụ thể, xuất khẩu cá khô của Iceland là yếu tố quyết định cứu vãn nền kinh tế Iceland sau thời điểm năm 1300, nhưng đối với thuộc địa Greenland ở xa hơn lại không thể thực hiện được bởi những tuyến đường biển tới châu Âu thường xuyên bị những tảng băng chắn đường.

Về mặt tiêu cực, vị trí phía bắc của Iceland khiến nó trở thành nước bất lợi thứ hai, sau Greenland, trong sản xuất lương thực. Nền nông nghiệp lúa mạch, khó trồng trọt ngay cả trong những năm đầu tiên con người định cư trên đảo khi khí hậu còn ôn hòa, nên đã bị từ bỏ ngay khi khí hậu trở nên lạnh hơn trong giai đoạn cuối thời kỳ Trung cổ. Thậm chí sinh hoạt nông thôn dựa vào chăn nuôi cừu và bò cũng rất khó khăn đối với những trang trại nghèo hơn trong những năm khí hậu kém hơn. Tuy nhiên, trong những năm chăn nuôi cừu phát đạt nhất ở Iceland, xuất khẩu lông cừu trở thành ngành kinh tế then chốt trong thời gian vài thế kỷ, sau khi con người đặt chân lên đảo. Vấn đề lớn nhất của Iceland là môi trường dễ bị tổn hại: Đất dễ bị tổn hại nhất so với những thuộc địa Norse, và thực vật dễ bị tổn hại thứ hai sau Greenland.

Còn lịch sử Iceland xét từ góc độ của năm yếu tố tạo thành bộ khung cho cuốn sách này là: Tổn hại môi trường do con người tự gây ra, thay đổi khí hậu, xung đột với những xã hội khác, quan hệ giao thương hữu hảo với xã hội khác và những quan điểm văn hóa thì sao? Bốn trong năm yếu tố này có vai trò rõ rệt trong lịch sử Iceland; chỉ có yếu tố quan hệ thù địch với xã hội bên ngoài là không có vai trò quan trọng, trừ giai đoạn bị cướp biển tấn công. Iceland là trường hợp minh họa rõ ràng sự tương tác giữa bốn yếu tố còn lại. Người Iceland có bất hạnh là phải gánh chịu một loạt những vấn đề môi trường cực kỳ khó khăn, và lại càng trở nên nghiêm trọng hơn khi khí hậu lạnh giá trong Thời kỳ Tiểu Băng hà. Giao thương với châu Âu đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống của Iceland cho dù có nhiều khó khăn môi trường. Phản ứng của người Iceland với các vấn đề môi trường của họ cũng gắn chặt với những quan điểm văn hóa của họ. Một số quan điểm này được họ mang theo từ Na Uy, nhất là nền kinh tế chăn nuôi, ban đầu họ nuôi quá nhiều bò và lợn, và ứng xử với môi trường theo cách thích hợp với đất đai của Na Uy và Anh nhưng lại không thích hợp với Iceland. Sau này người Iceland đã thay đổi nhận thức môi trường của mình, họ không còn nuôi lợn, dê và giảm số lượng bò, học cách chăm sóc môi trường dễ tổn hại của Iceland tốt hơn, và chọn cách áp dụng quan điểm bảo thủ. Quan điểm này từng khiến nhiều chính quyền Đan Mạch nản lòng và trong một số trường hợp có thể gây thiệt hại cho bản thân cư dân Iceland, nhưng cuối cùng đã giúp họ tồn tại mà không phải mạo hiểm.

Chính quyền Iceland ngày nay rất lo lắng về những thảm họa xói mòn đất và chăn thả cừu quá mức trong lịch sử Iceland, từng là nguyên nhân khiến đất nước này bị lâm vào tình trạng đói nghèo kéo dài. Chính phủ đã thành lập ra một cơ quan chuyên trách có nhiệm vụ chống xói mòn đất, tái trồng rừng và thảm thực vật trong đất liền và điều hòa tỷ lệ chăn nuôi cừu. Trên các cao nguyên Iceland, tôi thấy những hàng cỏ được cơ quan này trồng trên những mảnh đất nếu không có cỏ sẽ chẳng khác gì đất trên Mặt trăng, nhằm gây dựng một số thảm thực vật bảo vệ đất và ngăn chặn xói mòn lan rộng. Những thảm thực vật này - những thảm cỏ xanh trên một hoang mạc vàng - thường khiến tôi xúc động trước những nỗ lực nhằm đối phó với một vấn đề quá lớn. Nhưng thực tế người Iceland đã đạt được một số tiến bộ.

Hầu như ở bất cứ đâu trên thế giới, các nhà khảo cổ học mà tôi biết đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc thuyết phục các chính phủ rằng công việc khảo cổ có những giá trị thực tế rõ ràng. Họ cố làm cho những cơ quan tài trợ hiểu rằng nghiên cứu về số phận của các xã hội cổ xưa có thể giúp chúng ta nhận ra những gì có thể xảy ra với những xã hội hiện đại đang sống trên chính những khu vực đó. Đặc biệt, các nhà khảo cổ nhấn mạnh, những tổn hại môi trường đã xảy ra trong quá khứ có thể xuất hiện trở lại, như vậy cần phải sử dụng những hiểu biết về quá khứ để tránh lặp lại những sai lầm trước đây.

Phần lớn các chính phủ tảng lờ những yêu cầu của các nhà khảo cổ. Nhưng với Iceland thì khác bởi đây là nơi chịu những tác động của xói mòn nặng nề nhất từ 1.130 năm trước, nơi đa phần các loài thực vật và một nửa đất đai đã bị mất và là nơi có quá khứ khắc nghiệt và những hậu quả của nó vẫn hiển hiện ở khắp nơi. Rất nhiều nghiên cứu về các khu dân cư thời Trung cổ của người Iceland và các hình thức xói mòn đất hiện đang được tiến hành. Khi một trong những nhà khảo cổ học mà tôi biết tiếp xúc với đại diện chính phủ Iceland và bắt đầu bài diễn thuyết dài lê thê về sự cần thiết của khảo cổ giống như ông làm ở các nước khác, ngay lập tức người đại diện vui vẻ: “Vâng, tất nhiên là chúng tôi biết rằng hiểu được xói mòn đất thời kỳ Trung cổ sẽ giúp chúng tôi hiểu vấn đề hiện nay của mình. Chúng tôi cũng biết rằng ông không nên phí thời gian thuyết phục chúng tôi. Đây là số tiền ông cần, hãy đi thực hiện nghiên cứu của ông đi”.

Sự tồn tại ngắn của thuộc địa Viking xa xôi nhất trên Bắc Đại Tây Dương, Vinland, là một câu chuyện riêng biệt thú vị về chính bản thân nó. Là nỗ lực đầu tiên của người châu Âu nhằm chinh phục châu Mỹ, khoảng gần 500 năm trước khi Columbus tìm ra châu Mỹ, nên Vinland là đối tượng của những phỏng đoán lãng mạn và là đề tài của nhiều cuốn sách. Với mục tiêu của chúng ta trong cuốn sách này, những bài học quan trọng nhất rút ra từ việc nghiên cứu Vinland chính là những nguyên nhân khiến Vinland sụp đổ.

Bờ biển đông bắc Bắc Mỹ mà người Viking đã đặt chân lên, cách Na Uy hàng ngàn dặm, qua Bắc Đại Tây Dương, nên những con thuyền Viking không thể đi thẳng từ Na Uy tới đây. Thay vào đó, tất cả thuyền của người Viking muốn tới Bắc Mỹ đều xuất phát từ thuộc địa Greenland nằm ở cực tây. Thậm chí ngay cả Greenland cũng cách xa Bắc Mỹ theo cách đi biển của người Viking. Căn cứ chính của người Viking trên vùng đất Newfoundland cũng cách khu dân cư của Greenland khoảng 1.000 hải lý theo hải trình thẳng, nhưng thực tế hải trình này dài tới 2.000 hải lý và phải đi mất tới sáu tuần do men theo bờ biển vì lý do an toàn, và bởi trình độ hàng hải của họ còn non nớt. Nếu đi từ Greenland tới Vinland và quay trở lại ngay trong mùa hè bởi lý do thời tiết thuận lợi cho việc đi biển thì chỉ còn rất ít thời gian để thám hiểm Vinland. Bởi vậy, người Viking đã lập một căn cứ ở Newfoundland, nơi họ có thể trú chân trong mùa đông và có thể dành cả mùa hè tiếp theo để thám hiểm Vinland.

Những chuyến đi tới Vinland được sử sách ghi lại đều xuất phát từ Greenland và do hai con trai, một con gái và một con dâu của tù trưởng Erik the Red, người sáng lập thuộc địa Greenland vào năm 984, tổ chức. Mục đích của họ là thăm dò vùng đất nhằm tìm hiểu xem đảo này có những sản phẩm gì và đánh giá khả năng sinh sống của con người trên đảo. Theo các truyền thuyết, những người du hành đầu tiên mang theo cả gia súc trên thuyền, như vậy rõ ràng họ đã có ý định cư trú lâu dài nếu điều kiện tự nhiên trên đảo tốt với họ. Sau này, khi người Viking không còn hy vọng định cư ở đây, họ vẫn tiếp tục thăm dò bờ biển Bắc Mỹ trong thời gian hơn 300 năm để tìm kiếm những cây gỗ (lúc nào Greenland cũng thiếu), và cũng có thể để luyện sắt ngay tại các khu vực có nhiều gỗ đủ làm than củi (mà Greenland chẳng bao giờ đủ) để rèn các công cụ bằng sắt.

Chúng tôi có hai nguồn thông tin đáng tin cậy về ý định của người Viking định cư ở Bắc Mỹ là những văn bản cổ và những kết quả khai quật khảo cổ. Những văn bản cổ bao gồm hai truyền thuyết mô tả những chuyến đi biển đầu tiên thám hiểm và khám phá đảo Vinland, được chuyển thành chuyện kể rồi cuối cùng được chép lại tại Iceland trong những năm 1200. Do không có bằng chứng độc lập xác nhận chuyện này, nên các học giả có xu hướng bác bỏ truyền thuyết, coi đó là những câu chuyện viễn tưởng và nghi ngờ rằng người Viking chưa từng đặt chân đến vùng đất Tân Thế giới. Cuộc tranh luận rồi cũng kết thúc khi các nhà khảo cổ tìm ra căn cứ của người Viking trên đảo Newfoundland vào năm 1961. Những tình tiết trong truyền thuyết về Vinland giờ đã được công nhận là những mô tả cổ nhất bằng văn bản của Bắc Mỹ, mặc dù các học giả vẫn chưa thôi tranh cãi về tính chính xác của các chi tiết trong truyền thuyết. Các truyền thuyết được ghi trong hai văn bản cổ, tên là Truyền thuyết của người Greenland và Truyền thuyết về Erik the Red, nói chung là thống nhất với nhau nhưng vẫn có những chi tiết nhỏ khác nhau. Chúng kể rằng có tới 5 chuyến đi khác nhau từ Greenland tới Vinland, chỉ trong một chu kỳ ngắn khoảng một thập kỷ, mỗi chuyến chỉ có một thuyền, riêng chuyến cuối cùng có hai tới ba thuyền.

Trong hai truyền thuyết về Vinland này, những khu vực Bắc Mỹ mà người Viking đã tới được miêu tả ngắn gọn và được đặt cho những cái tên Na Uy cổ là Helluland, Markland, Vinland, Leifsbudir, Straumfjord và Hop. Nhiều học giả đã rất nỗ lực tìm hiểu ý nghĩa những cái tên này và họ đã miêu tả ngắn gọn rằng (ví dụ “mảnh đất này [Markland] bằng phẳng và có rừng, thoai thoải trải dần ra phía biển, và chạy qua nhiều bãi biển đầy cát trắng… mảnh đất này được đặt tên theo những gì có trên mặt đất nên được gọi là Markland [tức Đất rừng]”. Dường như rất rõ ràng rằng Helluland có nghĩa là bờ biển phía đông của đảo Baffin trong vùng Bắc cực của Canada, và rằng Markland là bờ biển Labrador phía nam đảo Baffin, cả đảo Baffin và Labrador đều nằm chính hướng tây của Greenland ngang qua eo biển Davis hẹp, tách Greenland ra khỏi Bắc Mỹ. Để duy trì tầm nhìn với đất liền càng lâu càng tốt, người Viking Greeland không lái thuyền đi thẳng qua vùng biển quang đãng của Bắc Đại Tây Dương tới Newfoundland mà đi qua eo biển Davis tới đảo Baffin và sau đó vòng lên phía nam, men theo bờ biển. Tên các vùng còn lại được đề cập trong các truyền thuyết chứng tỏ chỉ các khu vực bờ biển của Canada ở phía nam Labrado, trong đó chắc chắn có Newfoundland, có thể có Vịnh St.Lawrence và New Brunswick và Nova Scotia (tất cả được gọi chung là Vinland), và có thể một phần bờ biển New England. Người Viking trong Tân Thế giới có thể ban đầu đã thám hiểm trên một diện tích rộng để tìm ra những nơi tốt nhất, như chúng ta biết rằng họ cũng đã làm như vậy ở Greenland trước khi chọn ra hai vịnh hẹp có những thảo nguyên tốt nhất để định cư.

Nguồn thông tin thứ hai của chúng tôi về người Viking ở Tân Thế giới là những kết quả khảo cổ. Mặc dù nhiều nhà khảo cổ học đã tiến hành tìm kiếm, nhưng mới chỉ có một căn cứ của người Viking ở L’Anse aux Meadows trên bờ biển tây bắc của Newfoundland được xác định và khai quật. Qua xác định niên đại bằng kỹ thuật các bon phóng xạ cho thấy căn cứ này được lập ra vào khoảng năm 1000, phù hợp với những chi tiết trong truyền thuyết kể rằng đoàn người du hành tới Vinland dưới sự chỉ huy của những người con lớn của Erik the Red, người lập ra các khu dân cư trên đảo Greenland vào năm 984 và theo truyền thuyết, ông ta vẫn sống vào thời điểm tiến hành các chuyến thám hiểm. Khu vực L’Anse aux Meadows có vị trí dường như cũng phù hợp với những mô tả trong truyền thuyết về một trại có tên là Leifsbudir, hiện tại đây vẫn còn di tích của tám khu nhà, trong đó có ba phòng ở lớn có thể chứa được 80 người, một lò luyện sắt và sản xuất đinh sắt để đóng thuyền, một xưởng đồ mộc và một xưởng sửa chữa thuyền, nhưng không có một khu nông nghiệp hay một dụng cụ nông nghiệp nào.

Theo các truyền thuyết, trại Leifsbudir chỉ là một căn cứ trung chuyển ở một vị trí thuận tiện để trú đông và đi thám hiểm trong mùa hè; những nguồn tài nguyên quan trọng với người Viking lại được tìm thấy ở những khu vực thám hiểm được gọi là Vinland. Điều này được khẳng định bằng một phát hiện nhỏ nhưng lại rất quan trọng trong khi khai quật khảo cổ trại L’Anse aux Meadows, đó là hai quả óc chó dại còn được gọi là quả bồ đào không được trồng ở Newfoundland. Thậm chí trong hàng thế kỷ khí hậu ấm hơn vào khoảng năm 1000, cây óc chó mọc gần Newfoundland nhất cũng ở tận phía nam thung lũng sông St. Lawrence. Đây cũng là khu vực gần nhất có những cây nho dại được mô tả trong các truyền thuyết. Có lẽ vì có những cây nho này nên người Viking đặt tên vùng đất này là Vinland, có nghĩa là “Vùng đất của rượu”.

Những truyền thuyết mô tả Vinland là vùng giàu các loại tài nguyên quý giá mà Greenland không có. Đứng đầu trong danh sách những thuận lợi tự nhiên của Vinland là một khí hậu tương đối ôn hòa, nằm ở vĩ độ thấp hơn nên có vụ hè dài hơn so với Greenland, cỏ cao hơn và mùa đông ít khắc nghiệt hơn, nên người Norse có thể thả rông các loại gia súc trong suốt mùa đông, vì vậy không mất công làm cỏ khô để cho gia súc ăn trong mùa đông. Những rừng gỗ tốt mọc ở khắp nơi. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên khác còn bao gồm cá hồi trong các sông hồ lớn hơn bất kỳ loại cá hồi nào của Greenland, một trong những ngư trường nhiều cá nhất thế giới nằm trong những vùng biển xung quanh Newfoundland, và có nhiều loại thú hoang có thể săn được như hươu, tuần lộc caribu và là nơi sinh sản của các loài chim.

Mặc dù một số lượng đáng kể gỗ, nho và lông thú được đoàn người du hành Vinland mang về Greenland, nhưng các chuyến đi đã bị chấm dứt và trại L’Anse aux Meadows bị bỏ hoang. Mặc dù cuối cùng kết quả khai quật khảo cổ khu trại đã chứng minh được rằng thực ra người Viking đã tìm ra Tân Thế giới trước Columbus, nhưng cũng rất thất vọng là những người Norse chẳng để lại thứ gì có giá trị. Những mẫu vật thu được chỉ là những vật nhỏ có thể bị cư dân trước kia vứt đi, bị rơi hay bị bỏ quên, như 99 chiếc đinh sắt gãy, 1 chiếc đinh còn nguyên vẹn, 1 chiếc ghim bằng bạc, 1 miếng đá mài, 1 con suốt, 1 hạt thủy tinh và 1 chiếc kim khâu. Rõ ràng khu vực này không phải bị rời bỏ vội vã, mà là một phần trong kế hoạch sơ tán vĩnh viễn nên tất cả những công cụ, những đồ vật có giá trị đều được mang về Greenland. Ngày nay chúng ta biết rằng Bắc Mỹ khi đó là vùng đất lớn nhất và giá trị nhất của Bắc Đại Tây Dương được người Norse phát hiện; thậm chí chỉ một diện tích đất nhỏ mà người Norse đã thám hiểm cũng gây ấn tượng mạnh với họ. Vậy tại sao sau đó người Norse lại rời bỏ Vinland, một vùng đất trù phú?

Những truyền thuyết đưa ra một giải đáp đơn giản cho câu hỏi này: Do những thổ dân da đỏ hung hăng quá đông mà những người Viking không thiết lập được quan hệ hữu hảo với họ. Theo truyền thuyết, người Viking đã gặp một nhóm chín thổ dân da đỏ đầu tiên, nhưng họ đã giết tới tám người và người thứ chín trốn thoát. Đó không thể là sự khởi đầu tốt đẹp, làm cơ sở phát triển mối quan hệ hữu nghị. Nên không có gì ngạc nhiên, khi sau đó thổ dân da đỏ quay trở lại trên một hạm đội thuyền độc mộc, bắn tên vào những người Norse và giết chết tù trưởng Thorval, con trai của Erik the Red. Rút tên ra khỏi bụng, Thorvard hấp hối: “Đây là một vùng đất trù phú mà chúng ta đã tìm ra, mang lại sự no đủ cho chúng ta. Chúng ta đã tìm ra một vùng đất giàu tài nguyên dù chúng ta sẽ khó được hưởng thụ”.

Nhóm người Norse tiếp theo đến đây đã cố thiết lập quan hệ giao thương với thổ dân da đỏ (đổi vải vóc và sữa bò của người Norse lấy lông thú của thổ dân), nhưng khi một người Viking giết một thổ dân đang định đánh cắp vũ khí, thì quan hệ này sụp đổ. Trong trận chiến ngay sau đó, rất nhiều thổ dân da đỏ đã bị giết trước khi kịp chạy trốn, nhưng nó là bằng chứng rõ ràng rằng người Norse sẽ phải đối mặt với những vấn đề lâu dài. Như tác giả vô danh của Truyền thuyết Erik the Red đã viết: “Nhóm người Viking sau đó nhận ra rằng, mặc dù mảnh đất này có đủ mọi thứ, nhưng họ luôn bị những thổ dân đe dọa tấn công. Họ đã sẵn sàng trở về quê hương [Greenland] của mình”.

Bởi vậy, sau khi bỏ lại Vinland cho thổ dân da đỏ, người Norse Greenland vẫn tiếp tục tiến hành những cuộc thám hiểm xa hơn về phía bắc trên bờ biển Labrador, nơi có ít thổ dân da đỏ hơn, để tìm kiếm gỗ và quặng sắt. Chỉ có một nhúm mẫu vật của người Norse làm bằng chứng về những chuyến thám hiểm này (là một chút đồng và sắt đã nấu chảy, và những sợi lông dê) được tìm thấy tại các khu vực khảo cổ của thổ dân Mỹ nằm rải rác trên vùng Bắc cực của Canada. Mẫu vật giá trị nhất là một đồng xu bằng đồng được đúc ở Na Uy trong giai đoạn từ 1065 đến 1080 dưới thời trị vì của vua Olav the Quiet, được tìm thấy tại một khu vực của thổ dân da đỏ trên bờ biển Maine, cách Labrador hàng trăm kilômét về phía nam, và được đục thủng như một dây chuyền. Vùng Maine từng là một khu thương mại lớn mà các nhà khảo cổ đã khai quật được những hòn đá và những công cụ có nguồn gốc từ Labrador và cũng như từ Nova Scotia, New England, New York và Pennsylvania. Có lẽ đồng xu bị đánh rơi hay được trao đổi khi một người Norse tới thăm vùng Labrador, và sau đó theo mạng lưới buôn bán của thổ dân da đỏ tới Maine.

Những bằng chứng khác chứng tỏ người Norse tiếp tục tới Labrador cũng được đề cập trong các tài liệu lịch sử. Theo biên niên sử của Iceland, vào năm 1347 một chiếc thuyền của Greenland với 18 thủy thủ đã tới Iceland sau khi bị đứt neo và bị lạc đường khi đang trên đường trở về từ “Markland”. Biên niên sử ghi rất ngắn gọn và đơn giản cứ như không có gì bất thường cần phải giải thích, nên những người viết sử đã viết tương đối đơn giản: “Vậy là, những tin tức của năm nay là một trong số thuyền thường xuyên tới Markland vào mùa hè đã bị đứt neo, Thorunn Ketilsdóttir làm rơi một bình sữa lớn tại trang trại Djupadalur của bà, một con cừu của Bjarni Bollason bị chết và đó là tất cả tin đáng chú ý trong năm nay, toàn những chuyện tầm thường”.

Tóm lại, việc thuộc địa hóa Vinland thất bại là do bản thân thuộc địa Greenland quá nhỏ và nghèo tài nguyên gỗ, sắt để đáp ứng những nhu cầu cần thiết, đồng thời ở khoảng cách quá xa so với châu Âu và cả với Vinland, có quá ít thuyền có thể đi biển và không đủ khả năng tổ chức những hạm đội thám hiểm lớn; và rằng một hoặc hai thuyền chở đầy người Greenland không thể địch nổi đám đông các thổ dân da đỏ ở Nova Scotia và vịnh St.Lawrence khi họ bị kích động. Vào năm 1000, dân số của thuộc địa Greenland có lẽ chưa tới 500 người, vậy 80 người lớn ở trại L’Anse aux Meadows cũng đã làm giảm một phần lớn sức người của Greenland. Sau này, khi những người châu Âu khai hoang trở lại Bắc Mỹ sau năm 1500, qua lịch sử của người châu Âu mới thấy rõ sự chênh lệch quá lớn giữa hai lần thuộc địa hóa Bắc Mỹ, kể cả đối với những thuộc địa được những quốc gia châu Âu giàu có nhất, đông dân nhất ủng hộ. Hằng năm, các nước này đều phái những hạm đội với những chiếc thuyền lớn hơn nhiều lần so với thuyền của người Viking thời Trung cổ, và được trang bị đầy đủ súng và vô số công cụ bằng sắt. Tại những thuộc địa đầu tiên của người Anh và người Pháp ở Massachusetts, Virginia và Canada, khoảng một nửa số người tới định cư đã chết vì đói và bệnh tật ngay trong năm đầu tiên. Nên không có gì ngạc nhiên bởi lúc đó 500 người Greenland, thuộc địa xa xôi nhất của Na Uy, một trong những quốc gia nghèo nhất châu Âu, không thể thành công khi chinh phục và thuộc địa hóa Bắc Mỹ.

Với những mục tiêu trong cuốn sách của chúng ta, điều quan trọng nhất trong sự sụp đổ của thuộc địa Vinland chỉ trong vòng 10 năm là nó phần nào giúp chúng ta xem xét nhanh sự sụp đổ của thuộc địa Greenland sau 450 năm. Xã hội Norse Greenland tồn tại lâu hơn nhiều so với xã hội Norse Vinland bởi nó gần Na Uy hơn và bởi không vấp phải sự kháng cự của thổ dân ngay trong vài thế kỷ đầu tiên. Nhưng Greenland cũng gặp phải những vấn đề tương tự của Vinland, mặc dù ít nghiêm trọng hơn, đó là sự biệt lập và không thể thiết lập mối quan hệ hữu hảo với thổ dân Mỹ. Nếu không vì thổ dân Mỹ, chắc hẳn người Greenland vẫn có thể tiếp tục tồn tại bất chấp những vấn đề sinh thái, và cư dân Vinland chắc cũng vẫn còn. Trong trường hợp đó, Vinland có thể đã phải trải qua một đợt bùng nổ dân số, người Norse có thể đã tràn lan khắp Bắc Mỹ sau năm 1000, và tôi, một người Mỹ của thế kỷ XX giờ có thể viết cuốn sách này bằng một loại ngôn ngữ dựa trên tiếng Na Uy cổ như tiếng Iceland hoặc tiếng Faeroe, chứ không phải bằng tiếng Anh.

« Lùi
Tiến »