Tiền đồn của châu Âu - Khí hậu Greenland ngày nay - Khí hậu thời cổ xưa - Động thực vật bản địa - Sự định cư của người Norse - Trồng trọt - Săn bắn và đánh cá - Một nền kinh tế thống nhất - Xã hội - Trao đổi hàng hóa với châu Âu - Tự nhận thức về bản thân.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về Greenland là ý nghĩ chắc hẳn có sự nhầm lẫn phũ phàng trong việc đặt trên cho vùng đất này, bởi tôi thấy quang cảnh nơi đây chỉ có ba màu nổi bật: trắng, đen và xanh nước biển, với màu trắng là màu chủ đạo. Một số nhà sử học cho rằng cái tên của đảo thực chất là một âm mưu của Erik the Red, người sáng lập ra xã hội Viking trên đảo Greenland, nhằm lừa gạt, lôi kéo những người Viking khác cùng tới đây sinh sống. Khi chuyến phi cơ của tôi từ Copenhagen dần tiến gần tới bờ biển phía đông của Greenland, hình ảnh đầu tiên hiện ra sau làn nước biển xanh thẫm là một vùng trắng sáng chói rộng lớn, trải dài ngút tầm mắt, đó là chỏm băng lớn nhất thế giới ngoài Nam cực. Các bờ biển của Greenland dốc đứng, kéo tới một cao nguyên phủ đầy băng bao trùm hầu hết diện tích đảo và thoát nước bằng những sông băng lớn chảy ra biển. Trên khoảng trắng rộng hàng trăm kilômét mà chiếc phi cơ của chúng tôi bay qua, chỉ có một màu đen duy nhất hiển hiện, đó là những núi đá trơ trụi trồi lên khỏi biển băng, và rải rác trên đó như những hòn đảo màu đen. Chỉ khi phi cơ rời khỏi cao nguyên đó và chuyển hướng ra bay ra bờ biển phía tây, tôi mới phát hiện thêm hai màu khác trên một ranh giới mong manh vạch trên mặt băng, đó là sự phối màu của những vùng màu vàng toàn sỏi trơ trụi với những vùng có màu xanh nhạt của rêu hay địa y.
Nhưng khi tôi hạ cánh xuống sân bay chính Narsarsuaq ở phía nam Greenland và vượt qua một chiếc vịnh hẹp đóng băng tới Brattahlid, nơi thủ lĩnh Erik the Red từng chọn làm trang trại, tôi ngạc nhiên khi phát hiện có thể cái tên Greenland được đặt hoàn toàn đúng đắn, chứ không phải chỉ cố tình để thu hút người khác. Mệt mỏi sau chuyến bay dài từ Los Angeles tới Copenhagen, rồi tiếp tục bay tới Greenland, qua tới 13 vùng có múi giờ khác nhau, tôi vẫn tản bộ, tham quan các di tích của người Norse nhưng rồi nhanh chóng thấy buồn ngủ, thậm chí không còn đủ sức quay về nhà trọ chỉ cách đó vài trăm mét, nơi tôi đang để chiếc ba lô ở đó. May mắn là những di tích nằm giữa những bãi cỏ tươi tốt, mềm mại cao hơn 0,3048 mét, mọc trên một lớp rêu dày và những cây mao lương hoa vàng mọc rải rác, cùng những cây bồ công anh Trung Quốc màu vàng, những cây cúc tây màu trắng và đám cỏ liễu hồng. Không cần nệm khí hay gối, tôi ngả lưng trên chiếc giường tự nhiên đẹp nhất, mềm mại nhất có thể tưởng tượng và đánh một giấc ngủ sâu.
Như bạn tôi, nhà khảo cổ học Na Uy Christian Keller, từng nói: “Cuộc sống ở Greenland dường như lúc nào cũng tìm kiếm những mảnh đất tốt có những nguồn tài nguyên hữu ích”. Trong khi khoảng 99% diện tích đảo thực ra chỉ toàn màu đen hay trắng và không có người ở, thì vẫn có những khu vực màu xanh nằm sâu trong hai hệ thống vịnh hẹp trên bờ biển Tây Nam. Những chiếc vịnh này hẹp, dài xuyên sâu vào trong đất liền, cách xa những dòng hải lưu lạnh, những tảng băng, những luồng hơi muối và gió mạnh gây ra ảnh hưởng tới thảm thực vật dọc theo bờ biển ngoài cùng của Greenland. Đó đây dọc theo những vịnh có những vách dốc nhất là những vùng đất có địa hình bằng phẳng với những đồng cỏ xum xuê, trong đó có đồng cỏ mà tôi đã ngả lưng đánh một giấc, và rất thuận lợi để chăn nuôi gia súc (Phụ bản 17). Trong khoảng thời gian gần 500 năm (từ năm 984 tới những năm 1400), hai hệ thống vịnh này đã nuôi sống vùng tiền đồn xa xôi nhất của nền văn minh châu Âu, nơi có những người Scandinavia ở cách Na Uy 2.414 kilômét) đã xây dựng được một thánh đường và các nhà thờ, có chữ viết bằng tiếng Latinh và tiếng Na Uy cổ, biết sử dụng những công cụ bằng sắt, chăn nuôi gia súc, theo đuổi những kiểu trang phục mới nhất của châu Âu và cuối cùng đã biến mất.
Sự biến mất bí ẩn của họ được hình tượng hóa bởi nhà thờ đá tại Hvalsey, công trình kiến trúc nổi tiếng nhất của Norse Greenland, và có thể dễ dàng tìm thấy những bức ảnh của nó trong bất kỳ cuốn sách du lịch nào giới thiệu về Greenland. Nằm trên những bãi cỏ ở đầu một vịnh dài, rộng và giữa hai vách núi, nhà thờ này bao quát một khung cảnh rộng lớn trên một diện tích hàng chục kilômét vuông. Những bức tường, cổng phía tây, những hốc đặt tượng và những cột đá của nhà thờ hiện vẫn còn nguyên vẹn: chỉ có những vách đất là không còn nữa. Xung quanh nhà thờ là những di tích của những phòng ở, khu chăn nuôi, nhà kho, nhà thuyền và những đồng cỏ duy trì cuộc sống cho những người đã dựng lên những khu nhà này. Trong số tất cả các xã hội châu Âu Trung cổ, xã hội của người Norse ở Greenland là xã hội có những di tích được bảo quản tốt nhất bởi sau khi người Norse diệt vong, những khu vực này bị bỏ hoang và được giữ nguyên trong khi hầu hết những khu vực khác của nước Anh và châu Âu lục địa vẫn tiếp tục có người sinh sống và bị nhấn chìm dưới những công trình xây dựng thời kỳ hậu Trung cổ. Ngày nay, khi tới thăm Hvalsey, chắc hẳn mọi người đều mong được nhìn thấy những người Viking bước ra từ những khu nhà này, nhưng thực tế toàn bộ khu vực này rất tĩnh lặng: hiện không còn ai sống trong phạm vi 32 kilômét xung quanh đó (Phụ bản 15). Những người đã dựng lên nhà thờ này cũng đủ hiểu biết để tái tạo một cộng đồng dân cư sinh sống theo phong cách châu Âu và duy trì nó trong hàng thế kỷ, nhưng không đủ hiểu biết để xã hội đó tồn tại lâu hơn.
Làm tăng thêm sự bí ẩn là một thực tế còn có một dân tộc khác cùng chung sống với người Viking trên đảo Greenland, đó là người Inuit (Eskimos), trong khi người Norse ở Iceland không phải chia sẻ lãnh thổ Iceland với dân tộc nào khác và cũng không phải đối mặt với những khó khăn này. Người Viking đã biến mất nhưng người Inuit thì vẫn tồn tại, chứng tỏ rằng không phải con người không thể tồn tại trên đảo Greenland và sự biến mất của người Viking cũng không phải là điều tất yếu. Khi dạo quanh những trang trại hiện đại của Greenland, có thể nhận ra hai dân tộc này đã từng cùng nhau chung sống trong thời kỳ Trung cổ, đó là người Scandinavia và người Inuit. Năm 1721, ba trăm năm sau khi người Viking Trung cổ bị diệt vong, những người Scandinavia khác (người Đan Mạch) quay trở lại giành quyền kiểm soát Greenland, và mãi tới năm 1979, người Greenland bản địa mới giành được quyền tự trị. Trong suốt thời gian ở thăm Greenland, tôi thấy bối rối mỗi khi nhìn thấy những người Scandinavia tóc vàng, mắt xanh làm việc ở đây, bởi ý nghĩ rằng cũng chính những người cùng nòi giống với họ từng xây dựng nhà thờ Hvalsey và những di tích khác mà tôi đang nghiên cứu, đã bị diệt vong. Tại sao cuối cùng những người Scandinavia Trung cổ lại phải chịu thất bại trước những khó khăn của Greenland, trong khi người Inuit lại thành công?
Giống như số phận của người Anasazi, cũng có nhiều lý giải về số phận của người Norse trên đảo Greenland chỉ dựa trên một yếu tố, nhưng hiện vẫn chưa có sự thống nhất cũng như chưa có kết luận lý giải nào là chính xác. Giả thuyết được ưa thích là do khí hậu lạnh đi, gây ra những hình thái cực đoan (theo như lời nhà khảo cổ Thomas McGovern) “Khí hậu quá lạnh và họ đã chết”. Những giả thuyết khác chỉ dựa trên một yếu tố thì cho rằng sự diệt vong của người Norse là do bị người Inuit tiêu diệt, do bị châu Âu lục địa bỏ rơi, do môi trường bị tàn phá và do quan điểm bảo thủ tới mức tuyệt vọng. Thực tế, sự diệt vong của người Norse trên đảo Greeland là một trường hợp sẽ cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin chính xác bởi nó liên quan tới cả năm yếu tố lý giải cho sự sụp đổ của một xã hội mà tôi đã đề cập ở phần đầu cuốn sách. Đây là trường hợp chúng ta có rất nhiều thông tin không chỉ trên thực tế mà còn từ những nguồn thông tin sẵn có khác, bởi người Norse để lại rất nhiều di cảo về Greenland (trong khi cư dân đảo Phục Sinh và người Anasazi không có chữ viết), và bởi chúng ta hiểu xã hội châu Âu thời Trung cổ rõ hơn xã hội của người Polynesia và người Anasazi. Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi lớn về sự sụp đổ của xã hội tiền công nghiệp nhiều tư liệu nhất này.
Vậy môi trường mà trong đó thuộc địa Norse tại Greenland hình thành, thịnh vượng và suy vong như thế nào? Người Norse sống trong hai khu dân cư trên bờ biển phía tây của Greeland, dưới Vòng Bắc cực một chút, vào khoảng vĩ độ 61 và 64 độ bắc. Nghĩa là ở cực nam Iceland và tương đương vĩ độ của Bergen và Trondheim trên bờ biển phía tây của Na Uy. Nhưng Greenland lạnh hơn Iceland và Na Uy, bởi hai vùng này nằm trong dòng hải lưu nóng Gulf Stream ấm hơn chảy từ phía nam xuống, trong khi bờ biển phía tây của Greenland nằm trong dòng hải lưu lạnh phía tây Greenland chảy từ Bắc cực xuống. Do vậy, thậm chí kể cả vùng có khí hậu ôn hòa nhất Greenland trong những khu vực trước kia người Norse sinh sống, thời tiết có thể tóm lược bằng bốn từ: lạnh, hay thay đổi, nhiều gió và mây mù.
Nhiệt độ mùa hè trung bình hiện nay tại các khu dân cư vào khoảng 5 - 60C trên bờ biển phía ngoài, 100C ở các vịnh sâu trong đất liền. Nghe thì có vẻ không lạnh lắm, nhưng nên nhớ rằng đó là nhiệt độ của những tháng ấm nhất trong năm. Ngoài ra, gió khô và mạnh thường thổi xuống từ những chóp băng của Greenland, mang theo những tảng băng trôi dạt từ phương bắc, án ngữ ở các vịnh ngay cả trong mùa hè và gây ra mây mù dày đặc. Trong mùa hè ở thăm Greenland, tôi đã chứng kiến những dao động khí hậu lớn diễn ra chỉ trong một thời gian ngắn như mưa lớn, gió mạnh và mây mù thường xuyên xảy ra khiến tàu thuyền không thể hoạt động. Nhưng tàu thuyền là phương tiện giao thông chính ở Greenland, bởi bờ biển lõm vào khá sâu với những vịnh hẹp xuyên sâu vào đất liền (thậm chí ngày nay vẫn không có đường nối liền những trung tâm dân cư của Greenland, những cộng đồng dân cư được nối với nhau bằng tuyến đường hoặc nằm cùng một phía vịnh hoặc trên những vịnh liền nhau bị tách ra chỉ bằng một rặng đồi thấp). Một cơn bão kiểu này đã làm chậm kế hoạch tới thăm nhà thờ Hvalsey của tôi: ngày 25/7 tôi đi thuyền tới Qaqortoq trong điều kiện thời tiết rất đẹp, sau đó tìm một chiếc tàu thủy để ra khỏi Qaqortoq vào ngày 26/7 nhưng không thể đi được do gió, mưa, sương mù và những tảng băng cản đường. Ngày 27/7, thời tiết đẹp trở lại và chúng tôi đã tới được nhà thờ Hvalsey, và ngày hôm sau ra khỏi vịnh Qaqortoq tới Brattahlid dưới bầu trời trong xanh.
Tôi có may mắn được tận hưởng thời tiết đẹp nhất của Greenland, tại khu dân cư của người Norse ở điểm cực nam vào cao điểm của mùa hè. Là người miền nam California quen với những ngày nắng ấm, tôi thấy nhiệt độ ở đây thay đổi rất rõ rệt “từ mát sang lạnh”. Cho dù mặc áo phông, áo sơ mi dài tay hay áo lạnh ngắn tay, thì tôi luôn phải khoác một chiếc áo khoác bên ngoài, và thường phải mặc thêm một chiếc áo da paca trùm đầu, dày của người Eskimo mà tôi mua trong lần đầu tiên tới Bắc Cực. Nhiệt độ dường như thay đổi rất nhanh và chênh lệch nhiều, lặp đi lặp lại chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ. Đôi khi ở Greenland, mỗi khi đi bộ ở ngoài đường tôi cảm thấy dường như công việc chính của mình chỉ là mặc và cởi áo parka do nhiệt độ thay đổi quá nhiều và quá thường xuyên.
Qua bức tranh này, tôi chỉ muốn mô tả khí hậu trung bình của Greenland hiện nay, thời tiết có thể thay đổi chỉ trong một khoảng cách ngắn và mỗi năm lại thay đổi. Những thay đổi trong khoảng cách ngắn phần nào lý giải quan điểm của Christian Keller với tôi về tầm quan trọng của việc tìm ra những mảnh đất tốt có nhiều tài nguyên thiên nhiên ở Greenland. Những thay đổi thời tiết mỗi năm ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng hằng năm của các đồng cỏ mà nền kinh tế của người Norse phụ thuộc để sản xuất cỏ khô, và cũng tác động tới số lượng băng trên biển, từ đó gây ảnh hưởng tới việc săn hải cẩu và khả năng đi lại của thuyền bè để buôn bán, trao đổi hàng hóa, hai lĩnh vực rất quan trọng với người Viking. Cả hiện tượng thay đổi thời tiết trong một khoảng cách ngắn và thay đổi theo từng năm đều có ảnh hưởng rất quan trọng, bởi Greenland là nơi thích hợp nhất để người Norse sản xuất cỏ khô, nên chỉ một thay đổi tiêu cực nhỏ hay một năm nhiệt độ lạnh hơn bình thường một chút cũng có thể khiến sản lượng cỏ khô không đủ cho vật nuôi ăn trong suốt mùa đông.
Về những thay đổi theo vị trí địa lý, có một sự khác biệt quan trọng là một trong hai khu vực sinh sống của người Viking nằm cách khu vực kia 482 kilômét về phía bắc, nhưng cả hai đều có tên khó hiểu là Khu Tây và Khu Đông chứ không gọi là Khu Bắc và Khu Nam. (Chính những cái tên này hàng thế kỷ sau khiến người châu Âu nhầm lẫn khi cứ đi tìm Khu Đông ở bờ biển phía đông của Greenland, chứ không phải phía tây, nơi sinh sống thực sự của người Norse). Nhiệt độ mùa hè của Khu Tây sát phía bắc hơn cũng ấm như ở Khu Đông. Tuy nhiên, thời gian trồng trọt trong mùa hè ở Khu Tây lại ngắn hơn (chỉ năm tháng với nhiệt độ trung bình trên mức lạnh giá, thay vì bảy tháng như ở Khu Đông), bởi số ngày hè có nắng và nhiệt độ ấm áp càng về phía bắc càng ít. Một thay đổi khác của thời tiết về mặt vị trí địa lý là trên những bờ biển ở cửa các vịnh thời tiết lạnh hơn, ẩm ướt hơn và sương mù dày hơn, do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dòng hải lưu lạnh ở phía tây Greenland so với những vịnh ở sâu bên trong đất liền, xa biển.
Vẫn còn một thay đổi khác của thời tiết do vị trí địa lý mà tôi không thể không chú ý trong thời gian ở Greenland là một số vịnh có những sông băng đổ vào, trong khi một số vịnh khác không có. Những vịnh có sông băng thường nhận những tảng băng có nguồn gốc từ địa phương, trong khi những vịnh không có sông băng thường nhận những tảng băng trôi dạt từ đại dương. Ví dụ, trong tháng Bảy tôi đã thấy vịnh Igaliku (ở đó có một giáo đường của người Viking Greenland) không hề bị đóng băng, bởi không có sông băng nào chảy vào đây; vịnh Eirik (trên đó có vùng đất Brattahlid) có những tảng băng rải rác bởi một sông băng chảy vào vịnh này; và vịnh gần phía bắc của Brattahlid, vịnh Sermilik, có rất nhiều sông băng lớn và bị băng bịt kín. (Những khác biệt này và sự đa dạng về kích thước và hình dạng của những tảng băng là một trong những lý do vì sao tôi thấy khung cảnh Greeland thú vị tới vậy, cho dù ít màu sắc). Khi Christian Keller còn đang nghiên cứu một khu khảo cổ biệt lập trên vịnh Eirik, ông thường leo qua đồi để tới thăm mấy nhà khảo cổ người Thụy Điển đang khai quật một khu vực trên vịnh Sermilik. Khu cắm trại của các nhà khảo cổ Thụy Điển lạnh hơn rất nhiều so với trại của Christian Keller, và như vậy trang trại của người Viking mà các nhà khảo cổ Thụy Điển chọn để nghiên cứu cũng nghèo hơn trang trại mà Christian đang nghiên cứu (bởi khu vực của các nhà khảo cổ Thụy Điển lạnh hơn nên thu hoạch được ít cỏ khô hơn).
Thời tiết thay đổi theo từng năm được thể hiện qua sản lượng thu hoạch cỏ khô của các trang trại nuôi cừu mới khôi phục hoạt động từ đầu những năm 1920. Những năm khí hậu ẩm ướt hơn, thực vật sinh trưởng mạnh hơn khiến những nông dân vui mừng, bởi như vậy có nghĩa là họ sẽ thu hoạch được nhiều cỏ khô hơn làm thức ăn cho cừu trong mùa đông và có nhiều cỏ cho tuần lộc caribu (như vậy sẽ săn được nhiều tuần lộc hơn). Tuy nhiên, nếu mưa quá nhiều vào thời điểm thu hoạch cỏ khô là tháng Tám và tháng Chín thì cũng khiến sản lượng cỏ khô giảm do cỏ khó khô. Mùa hè lạnh giá sẽ gây khó khăn bởi nó làm chậm khả năng sinh trưởng của cỏ; mùa đông càng kéo dài thì ảnh hưởng càng lớn bởi gia súc sẽ phải được nuôi ở trong các chuồng trại trong nhiều tháng, đòi hỏi lượng cỏ khô nhiều hơn; và nếu mùa hè có nhiều băng trôi từ phía bắc xuống sẽ dẫn tới tình trạng sương mù dày đặc không tốt cho cỏ phát triển. Thời tiết mỗi năm mỗi khác gây khó khăn không chỉ cho cuộc sống của những người chăn nuôi cừu ngày nay ở Greenland mà còn cả những người Norse thời Trung cổ.
Đó là những hiện tượng thay đổi khí hậu có thể quan sát rõ ràng trong hàng năm hay hàng thập kỷ tại Greenland hiện nay. Vậy còn những thay đổi khí hậu trong quá khứ thì sao? Thời tiết tại thời điểm người Norse tới Greenland như thế nào, và nó đã thay đổi ra sao trong thời gian gần năm thế kỷ tồn tại của họ? Bằng cách nào để có thể tìm hiểu tình hình khí hậu trước đây tại Greenland? Chúng ta có ba nguồn thông tin chính: những di cảo của người Greenland, phấn hoa và các lõi băng.
Đầu tiên, bởi người Norse Greenland là dân tộc có chữ viết và thường xuyên tiếp xúc với người Iceland và người Na Uy cũng có chữ viết, vì vậy sẽ rất thuận tiện cho những người quan tâm nghiên cứu số phận của người Viking trên đảo Greenland xem họ có để lại di cảo nào về thời thiết của Greenland thời đó hay không. Rất tiếc là không. Mặc dù, với Iceland chúng ta có nhiều thông tin về thời tiết của những năm khác nhau – trong đó đề cập tới thời tiết lạnh giá, mưa rào và biển đóng băng - từ những chi tiết ngẫu nhiên trong các cuốn nhật ký, những lá thư, biên niên sử và những thông báo. Những thông tin thời tiết của Iceland phần nào giúp chúng ta hiểu được khí hậu của Greenland, bởi nếu Iceland có một thập kỷ khí hậu lạnh giá thì Greenland cũng có khí hậu lạnh giá, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng đúng. Chúng ta cũng hoàn toàn có thể hiểu tầm quan trọng của những thông tin về biển đóng băng xung quanh Iceland với Greenland, bởi băng gây khó khăn cho tàu thuyền đi từ Iceland hay Na Uy tới Greenland.
Nguồn thông tin thứ hai có thể cho chúng ta biết về khí hậu trước đây của Greenland là những mẫu phấn hoa có trong những lõi trầm tích được các nhà nghiên cứu phấn hoa khoan lên từ đáy hồ và đầm lầy của Greenland. Bằng phương pháp nghiên cứu phấn hoa, các nhà khoa học này đã hiểu rõ lịch sử thực vật của đảo Phục Sinh và Maya mà chúng ta đã tìm hiểu (ở Chương 2 và Chương 5). Có thể đa số chúng ta không thấy có gì thú vị trong việc khoan sâu qua lớp bùn dưới đáy hồ hay đầm lầy, nhưng đó lại là thiên đường của các nhà nghiên cứu phấn hoa, bởi những lớp bùn sâu dưới đáy hồ đã lắng đọng từ rất lâu. Áp dụng kỹ thuật tính niên đại bằng cacbon phóng xạ đối với các chất hữu cơ có trong mẫu bùn giúp xác định thời điểm cụ thể hình thành lớp bùn đó. Các hạt phấn hoa của các loài thực vật khác nhau dưới kính hiển vi trông rất khác nhau, do vậy các hạt phấn hoa có trong các mẫu bùn cho phép các nhà nghiên cứu phấn hoa biết loài thực vật nào đã mọc gần hồ hay đầm lầy lấy mẫu và nhả phấn hoa rơi xuống hồ hay đầm lầy vào năm đó. Giai đoạn khí hậu trước đây của Greenland trở nên lạnh hơn, các nhà nghiên cứu phấn hoa phát hiện thấy các loại phấn hoa chuyển từ những loại cây hợp với khí hậu ấm áp sang các loại cỏ và cây lau lách hợp với khí hậu lạnh giá. Nhưng sự chuyển dịch trong phấn hoa này cũng còn có thể là người Norse đã chặt cây, và các nhà nghiên cứu phấn hoa đã tìm những cách khác nhau để phân biệt hai giả thuyết suy giảm phấn hoa của cây cối.
Cuối cùng, những thông tin chi tiết nhất về khí hậu trước đây của Greenland mà chúng ta có được là từ những lõi băng. Trong điều kiện khí hậu của Greenland là lạnh giá, ẩm ướt và liên tục thay đổi, nên đảo không có các loại cây gỗ lớn và chỉ mọc cục bộ, gỗ thì bị hư hỏng rất nhanh, do vậy chúng ta không có những khúc gỗ được bảo quản tốt với những vòng tuổi thân cây như đã cho phép các nhà khảo cổ học tái tạo hiện tượng thay đổi khí hậu từng năm trong những sa mạc hanh khô ở Tây Nam nước Mỹ mà người Anasazi sinh sống. Thay cho vòng tuổi thân cây, các nhà khảo cổ học Greenland may mắn có thể nghiên cứu những vòng băng – hay thực tế là những lớp băng. Hằng năm, tuyết rơi xuống các chóp băng của Greenland và bị nén xuống do tích tụ trong nhiều năm, khiến tuyết biến thành băng. Oxy trong nước tạo thành tuyết hay băng có ba loại chất đồng vị khác nhau, như ba loại nguyên tử oxy có trọng lượng nguyên tử khác nhau bởi số neutron không tích điện trong nhân oxy là khác nhau. Áp đảo là lượng oxy tự nhiên (chiếm 99,8%) với chất đồng vị oxy-16 (nghĩa là oxy có trọng lượng nguyên tử là 16), nhưng cũng có một phần nhỏ (0,2%) của oxy-18 và thậm chí cả một lượng oxy-17 nhỏ hơn nữa. Tất cả ba loại chất đồng vị này là ổn định, không có phóng xạ, nhưng vẫn có thể đo được bằng một dụng cụ gọi là khối phổ kế. Nhiệt độ càng cao thì trong oxy của tuyết được hình thành càng có tỷ lệ oxy-18 cao hơn. Bởi vậy, tuyết mùa hè bao giờ cũng có tỷ lệ oxy-18 cao hơn so với tuyết mùa đông trong cùng năm đó. Vì lý do đó, trong cùng một tháng, lượng tuyết có oxy-18 của năm có khí hậu ấm áp sẽ nhiều hơn tuyết của năm có khí hậu lạnh giá.
Bởi vậy, khi khoan qua một chỏm băng Greenland (hiện các nhà khoa học có thể khoan tới độ sâu 3,2 kilômét) và đo tỷ lệ oxy-18, bạn sẽ thấy tỷ lệ này thay đổi khi khoan qua lớp băng mùa hè của năm này sang lớp băng mùa đông trước đó và sau đó lại sang lớp băng mùa hè trước đó, bởi những thay đổi nhiệt độ theo mùa có thể dự đoán trước được. Bạn cũng có thể thấy rằng các giá trị của oxy-18 trong các mùa hè và mùa đông là khác nhau, do những dao động nhiệt độ từng năm không thể dự đoán trước được. Bởi vậy, các lõi băng của Greenland chứa đựng những thông tin tương tự như thông tin mà các nhà khảo cổ có được từ những vòng tuổi thân cây khi nghiên cứu về người Anasazi. Nó cho chúng ta biết nhiệt độ mùa hè và mùa đông của mỗi năm, và độ dày của các lớp băng giữa các mùa hè liên tục (hay giữa những mùa đông liên tục) cho chúng ta biết số lượng mưa tuyết trong năm đó.
Có một đặc tính nữa của khí hậu mà chúng ta có thể tìm hiểu từ các lõi băng, nhưng không thể tìm hiểu từ những vòng tuổi thân cây, đó là bão. Gió bão cuốn hơi muối từ đại dương xung quanh Greenland, thổi sâu vào bên trong lục địa, khi qua các chóp băng, gặp hơi lạnh, một số hơi muối tích tụ và rơi xuống như tuyết nhưng chúng có mang theo ion natri trong nước biển. Bên trên những chóp băng, gió bão cũng thổi những hạt bụi không khí có nguồn gốc từ những khu vực hanh khô, bụi bặm xa xôi của các lục địa, loại bụi này có hàm lượng ion canxi cao. Tuyết hình thành từ những vùng nước tinh khiết sẽ không có hai loại ion này. Khi tìm thấy hàm lượng natri và canxi cao trong một lớp băng của một chỏm băng, thì có nghĩa đó là một năm có nhiều bão.
Tóm lại, chúng ta có thể tái tạo khí hậu xa xưa của Greenland từ những di cảo của người Iceland, phấn hoa và các lõi băng, nhất là các lõi băng cho phép chúng ta tái tạo được khí hậu hằng năm. Vậy từ đó chúng ta rút ra được điều gì?
Như dự kiến, chúng ta biết rằng khí hậu nóng lên sau khi kết thúc kỷ Băng hà cuối cùng khoảng 14.000 năm trước; những vịnh của Greenland chỉ trở nên “lạnh” chứ không phải “lạnh buốt” và những vùng rừng thấp đã phát triển. Nhưng khí hậu Greenland không tẻ nhạt như vậy trong suốt 14.000 năm còn lại. Đôi khi nó cũng trở nên lạnh hơn, sau đó lại trở lại ôn hòa. Những dao động khí hậu này có ảnh hưởng quan trọng tới việc định cư tại Greenland của những thổ dân Mỹ, trước khi người Norse tới đây. Trong khi Bắc cực chỉ có vài loại thú có thể săn được, đáng chú ý là tuần lộc, hải cẩu, cá voi và cá biển, - vài loại động vật này thường khá phong phú. Nhưng nếu những loài thú săn này bị tuyệt chủng hay di cư đi nơi khác, thì cư dân trên đảo sẽ không còn loài thú nào khác để săn, nhưng ở những vùng đất thấp hơn thì có nhiều loài thú hơn. Bởi vậy, lịch sử của Bắc cực, trong đó có Greenland, là lịch sử của con người đặt chân tới đây, sinh sống trong những vùng đất rộng lớn trong nhiều thế kỷ, sau đó suy thoái hay biến mất hoặc phải thay đổi lối sống trên những vùng rộng lớn khi những hiện tượng thay đổi khí hậu gây ảnh hưởng tới số lượng thú có thể săn bắn.
Có thể thấy rõ hậu quả của những thay đổi thời tiết này ảnh hưởng tới những thợ săn bản địa của Greenland trong thế kỷ XX. Đầu thế kỷ, nhiệt độ nước biển ấm lên khiến hải cẩu hầu như biến mất hoàn toàn khỏi miền nam Greenland. Hoạt động săn bắt hải cẩu lại phục hồi khi thời tiết lạnh trở lại. Sau đó khi thời tiết trở nên lạnh buốt trong giai đoạn 1959 - 1974, số lượng hải cẩu di trú đã giảm mạnh bởi mặt biển bị đóng băng toàn bộ, và những vùng biển có thể săn hải cẩu cũng bị thu hẹp lại. Nhưng cư dân Greenland đã không bị đói nhờ săn loài hải cẩu vòng, vẫn sống ở Greenland tương đối nhiều bởi loài này biết đục lỗ qua mặt băng để thở. Những dao động khí hậu tương tự dẫn tới hậu quả làm giảm số lượng thú săn có thể là nguyên nhân khiến lần định cư đầu tiên của các thổ dân Mỹ vào khoảng năm 2500 TrCN bị thất bại, dân số giảm dần và diệt vong vào khoảng năm 1500 TrCN. Sau này họ lại trở lại Greenland, lại suy thoái và cuối cùng đã rời bỏ hoàn toàn miền nam Greenland trước khi người Norse tới đây vào khoảng năm 980. Bởi vậy, ban đầu khi đặt chân lên đảo, những người Norse không bắt gặp bất kỳ thổ dân Mỹ nào, mặc dù có tìm thấy những di tích mà những cư dân trước kia bỏ lại. Đáng tiếc cho người Norse là họ đến Greenland đúng vào thời điểm khí hậu ấm áp, trùng với thời kỳ người Inuit (có biệt danh là Eskimos) đang mở rộng nhanh chóng về hướng đông từ eo biển Bering vượt qua vùng Bắc cực của Canada, bởi trước đó trong những thế kỷ lạnh giá, băng đã lấp toàn bộ những eo biển nằm giữa các đảo phía bắc Canada, giờ bắt đầu tan chảy trong mùa hè, cho phép cá voi, nguồn thực phẩm chính cho sự tồn tại của người Inuit, bơi vào vùng Bắc Băng Dương của Canada. Thay đổi khí hậu này cho phép người Inuit từ Canada di cư xuống tây bắc Greenland vào khoảng năm 1200, gây ra những hậu quả lớn cho người Norse.
Từ năm 800 tới năm 1300, những lõi băng cho chúng ta thấy rằng khí hậu của Greenland tương đối ôn hòa, tương tự như khí hậu Greenland hiện nay, thậm chí còn ấm hơn. Những thế kỷ khí hậu ôn hòa được gọi là Giai đoạn Ấm áp thời Trung cổ. Bởi vậy, người Norse đặt chân lên Greenland đúng vào thời kỳ có khí hậu thuận lợi cho trồng cỏ và chăn nuôi gia súc, so với khí hậu trung bình của Greenland trong vòng 14.000 năm qua. Cho dù vào khoảng năm 1300, khí hậu bắc Đại Tây Dương bắt đầu trở nên lạnh hơn và dao động hằng năm nhiều hơn, mở đầu cho thời kỳ lạnh giá được gọi là Thời kỳ Tiểu Băng hà kéo dài tới những năm 1800. Vào khoảng năm 1420, thời điểm Tiểu Băng Hà phát triển lên đến tột đỉnh làm số băng trôi dạt giữa Greenland, Iceland, và Na Uy tăng mạnh cắt đứt giao thông đường biển của người Norse Greenland với thế giới bên ngoài. Điều kiện khí hậu lạnh giá này lại thích hợp, hay thậm chí tốt cho người Inuit, bởi họ có thể dễ dàng săn được loài hải cẩu vòng, nhưng lại rất khó khăn cho người Norse, bởi họ phụ thuộc nhiều vào cỏ khô. Như chúng ta sẽ thấy, thời tiết khắc nghiệt trong giai đoạn đầu của Thời kỳ Tiểu Băng Hà là một yếu tố khiến người Norse Greenland bị diệt vong. Nhưng sự thay đổi khí hậu từ Giai đoạn Ấm áp Trung cổ sang Thời kỳ Tiểu Băng hà rất phức tạp và không chỉ đơn giản là “trở nên rất lạnh và khiến người Norse diệt vong”. Có những giai đoạn khí hậu lạnh giá diễn ra rải rác trước năm 1300 mà người Norse vẫn tồn tại, và sau năm 1400 vẫn thi thoảng có giai đoạn khí hậu ấm áp nhưng cũng không cứu được người Norse khỏi bị diệt vong. Hơn hết, ở đây vẫn còn một câu hỏi dai dẳng: tại sao trong Thời kỳ Tiểu Băng hà, người Norse không học người Inui cách đối phó với khí hậu lạnh giá?
Để hoàn tất phần nghiên cứu về môi trường Greenland, hãy xem xét động, thực vật bản địa. Thực vật ở đây phát triển tốt nhất trong những khu vực có khí hậu ôn hòa, không bị ảnh hưởng bởi hơi muối ngoài biển, nằm trong những vịnh sâu bên trong đất liền của Khu Tây hoặc Khu Đông trên bờ biển Tây Nam của Greenland. Ở đây, những thực vật trong các khu vực không bị gia súc gặm cũng khác nhau, tùy thuộc theo vị trí địa lý. Ở những vùng cao, khí hậu lạnh và trong những vịnh phía ngoài, sát biển thì cây cối sinh trưởng rất chậm do khí hậu lạnh, sương mù, và hơi muối, thực vật thì chủ yếu là cây lau lách, một loại cây ngắn hơn cỏ và có ít giá trị dinh dưỡng cho gia súc. Cây lau lách có thể sinh trưởng trên những vùng đất nghèo nàn bởi chúng có khả năng chống chọi với hanh khô tốt hơn các loại cỏ, bởi vậy có thể tự mọc trên đất đá chỉ cần một chút nước. Mặc dù những vùng đất sâu trong nội địa không bị ảnh hưởng bởi hơi muối, nhưng những vùng có địa hình dốc cao và gió lạnh do gần các sông băng thì hiển nhiên chỉ có đá trơ trụi mà không có thực vật. Những vùng đất liền ít khắc nghiệt hơn chủ yếu chỉ có những bụi cây thấp lè tè phát triển. Những vùng đất tốt nhất, như ở vị trí thấp, có đất tốt, không bị gió, có nguồn nước đầy đủ và quay về phía nam để hứng được nhiều ánh nắng nhất, thì thường có những rừng cây bulô và cây liễu thấp, với một số bách xù và cây tổng quán sủi, đa phần đều cao không quá 4,8 mét, ở vùng đất cực tốt thì những cây bulô có thể cao tới 9,1 mét.
Trong những vùng chăn thả cừu và ngựa hiện nay, bức tranh thực vật rất khác, chắc cũng giống như thời người Norse (Phụ bản 17). Những đồng cỏ ẩm ướt mọc trên những sườn đồi thoai thoải, như những đồng cỏ xung quanh Gardar và Brattahlid, với những đám cỏ xum xuê cao tới 0,3 mét, nở hoa rực rỡ. Những mảnh rừng liễu và bulô lùn bị cừu gặm chỉ cao được tới 0,45 mét. Những cánh đồng rộng rãi hơn, có độ dốc cao hơn và khô hơn thì chỉ có cỏ hay những cây liễu lùn cao chỉ vài xăngtimét. Chỉ những vùng không chăn thả cừu và ngựa, có hàng rào bảo vệ như những vùng xung quanh sân bay Narsarsuaq, thì tôi mới thấy những cây liễu và bulô lùn cao khoảng 2,1 mét, nhưng vẫn bị gió lạnh từ những sông băng bên cạnh thổi tới làm cho còi cọc.
Còn những loài thú hoang của Greenland, những loài có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của người Norse và người Inuit là những động vật có vú trên cạn và dưới biển, những loài chim, cá và những loài hải sản không xương sống. Loài động vật ăn cỏ lớn nhất của Greenland trong khu vực sinh sống trước kia của người Norse (không kể loài bò xạ ở tận cùng phía bắc) là tuần lộc caribu, mà người Lapp và những người bản địa khác của lục địa Âu - Á đã thuần hóa để nuôi như hươu, nhưng người Norse và người Inuit không làm được như vậy. Gấu Bắc cực và sói của Greenland chỉ quanh quẩn ở phía bắc khu vực sinh sống của người Norse. Những loài thú săn khác nhỏ hơn thì có thỏ rừng, cáo, chim đất liền (mà to nhất là thiên nga và ngỗng trời), và chim biển (nhất là vịt biển và chim alka, còn được gọi là alcid). Loài động vật biển có vú quan trọng nhất là hải cẩu với sáu loài khác nhau, tầm quan trọng của mỗi loài đối với người Norse và người Inuit cũng khác nhau, tùy thuộc vào nơi định cư và thái độ của họ mà tôi sẽ giải thích. Trong sáu loài hải cẩu, loài lớn nhất là hải mã. Nhiều loài cá voi cũng sinh sống dọc theo bờ biển, nhưng người Inuit có thể săn được cá voi còn người Norse thì không. Các loài cá tràn đầy trong các sông, hồ và biển trong khi tôm và trai là những loài hải sản không xương sống có thể ăn được giá trị nhất.
Theo các truyền thuyết và lịch sử Trung cổ, khoảng năm 980, một người Na Uy tính khí nóng nảy tên là Erik the Red bị buộc tội giết người và bị trục xuất sang Iceland, ở đây ông ta lại tiếp tục tái phạm giết thêm vài người nữa và bị đày tới một vùng khác của Iceland. Cuối cùng, trong một cuộc cãi cọ, ông ta lại ra tay giết thêm vài người nữa và lần này bị trục xuất ra khỏi lãnh thổ Iceland trong thời gian ba năm, bắt đầu từ năm 982.
Erik nhớ rằng, vài chục năm trước khi Gunnbjörn Ulfsson bị gió thổi về hướng Tây xa xôi trong khi đang trên hành trình tới Iceland, ông ta đã phát hiện một số đảo nhỏ cằn cỗi, mà hiện chúng ta biết chúng nằm ngay ngoài khơi bờ biển đông nam của Greenland. Khoảng năm 978, một người họ hàng xa của Erik là Snaebjörn Galti cũng đã trở lại những đảo này, tại đây ông ta cũng cãi lộn với một thủy thủ đồng nghiệp và bị giết. Erik liền giong thuyền tới các đảo này mong thử vận may, và ông đã dành cả thời gian ba năm bị trục xuất để thám hiểm phần lớn bờ biển Greenland, và phát hiện những đồng cỏ tươi tốt sâu bên trong vịnh. Trong lần trở lại Iceland, ông ta lại thua trong một cuộc chiến khác, nên buộc phải dẫn một hạm đội 25 thuyền tới định cư ở vùng đất mới khám phá mà ông đặt cho cái tên rất hay là Greenland. Tin tức về một vùng đất rất tốt mới được khám phá dội về Iceland khiến một thập kỷ sau đó, thêm ba hạm đội nữa từ Iceland tới Greenland. Kết quả là, vào năm 1000, hầu như tất cả những vùng đất có thể canh tác ở cả Khu Đông và Khu Tây đều có người sinh sống, đưa tổng số người Norse ở Greenland lên khoảng 5.000 người, trong đó 1.000 người ở Khu Tây và 4.000 người ở Khu Đông.
Từ những khu định cư của mình, người Norse tiếp tục những cuộc thám hiểm và hằng năm tiến hành những chuyến đi săn về phương bắc, dọc theo bờ biển phía tây, đi sâu về phía bắc của Vòng Bắc cực. Chuyến xa nhất họ đã tới tận vĩ độ 790 bắc, chỉ còn cách Bắc cực 1.126 kilômét, nơi hiện có nhiều hiện vật của người Norse, trong đó có một chuỗi xích của áo giáp, một cái bào thợ mộc và những chiếc đinh thuyền được phát hiện trong một khu khảo cổ của người Inuit. Bằng chứng rõ ràng nhất về những cuộc thám hiểm phương bắc là một ụ đá hình tháp (dùng để đánh dấu đường đi) được dựng ở vĩ độ 730 bắc, trên có một viên đá có dòng chữ Run (chữ viết cổ ở Bắc Âu khoảng thế kỷ thứ II), tuyên bố rằng Erling Sighvatsson, Bjarni Thordarson và Eindridi Oddson đã dựng lên ụ đá này vào thứ Bảy, trước Tiểu lễ thăng thiên (25/4), có thể vào khoảng năm 1300.
Sự tồn tại của người Norse trên đảo Greenland dựa trên sự kết hợp giữa nông nghiệp (chăn nuôi gia súc) và săn bắn động vật hoang dã. Sau khi Erik the Red mang theo những gia súc từ Iceland tới, người Norse ở Greenland vẫn tiếp tục phụ thuộc vào nguồn thực phẩm từ thiên nhiên hoang dã ở mức độ nhiều hơn so với Na Uy và Iceland, bởi những vùng đất này có khí hậu ôn hòa hơn nên chăn nuôi và trồng trọt (ở Na Uy) đã đủ để đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm của con người.
Những cư dân Greenland bắt đầu cuộc sống bằng cách chăn nuôi những đàn gia súc giống như cách những tù trưởng người Na Uy giàu có thường làm, đó là một đàn gia súc hỗn hợp chủ yếu là bò và lợn, một ít cừu và dê, cùng với vài con ngựa, vịt và ngỗng. Áp dụng kỹ thuật tính niên đại bằng các bon đồng vị đối với số xương động vật được khai quật từ những đống rác ở những nơi sinh sống của người Norse Greenland trong những thế kỷ khác nhau, thì thấy hóa ra sự pha trộn những loài gia súc này không phù hợp với điều kiện khí hậu lạnh giá hơn của Greenland. Vịt và ngỗng bị diệt vong ngay lập tức, có lẽ chúng chết ngay từ khi trên đường tới Greenland, không có bằng chứng khảo cổ nào cho thấy chúng được nuôi ở trên đảo. Mặc dù trong những cánh rừng ở Na Uy, lợn có thể tìm thấy nhiều quả hạch để ăn và người Viking thích thịt lợn nhất so với những loại thực phẩm khác, nhưng đây rõ ràng là thủ phạm chính phá hoại những cánh rừng mỏng manh của Greenland và cũng không mang lại lợi ích cao, bởi chúng dũi tung đất đai và những loài cây dễ bị tổn hại. Bởi vậy, chỉ trong một thời gian ngắn, số lợn đã giảm mạnh chỉ còn rất ít và cuối cùng bị tuyệt chủng. Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy những bộ yên thồ và những chiếc búa tạ cho thấy ngựa đã được nuôi để hỗ trợ công việc của con người, nhưng đạo Cơ đốc cấm ăn thịt ngựa nên xương chúng hiếm khi xuất hiện trong rác. Trong điều kiện khí hậu của Greenland, nuôi bò đòi hỏi tốn nhiều công sức hơn so với chăn nuôi cừu hay dê, bởi chúng chỉ được thả rông để tự gặm cỏ trong thời gian ba tháng mùa hè không có tuyết. Còn những tháng còn lại, người Greenland phải nuôi bò trong chuồng cho chúng ăn cỏ khô và những loại cây khô khác, nên việc tích trữ thức ăn cho bò trở thành việc chính của nông dân Greenland trong mùa hè. Có thể người Greenland đã thấy rằng nên giảm bớt chăn nuôi bò do tốn nhiều công sức, bởi vậy số lượng bò đã giảm trong hàng thế kỷ, nhưng do được đánh giá là loại tài sản thể hiện địa vị của người giàu trong xã hội nên bò không bị tuyệt chủng.
Thay vào đó, những động vật chính cung cấp thực phẩm cho Greenland là cừu và dê do chúng thích nghi với khí hậu lạnh tốt hơn với những loài gia súc khác. Chúng có khả năng khác mà bò không có, là mùa đông chúng có thể bới tuyết để tìm cỏ. Tại Greenland ngày nay, mỗi năm cừu được thả rông ngoài trời tới chín tháng (lâu gấp ba lần so với bò) và chỉ phải nuôi trong chuồng trong ba tháng tuyết rơi nặng nhất. Ban đầu, số lượng cừu và dê tương đương với bò, nhưng về sau số cừu, dê đã tăng gấp tám lần so với bò. Còn tỷ lệ giữa cừu và dê ít nhất là 6 - 1 trở lên, đó cũng là tỷ lệ chăn nuôi tại những vùng đất tốt nhất của Greenland trong những năm đầu người Norse mới định cư; nhưng thời gian qua đi, tỷ lệ này đã thay đổi cho tới khi số lượng dê tăng lên tương đương với số cừu. Đó là bởi dê có thể ăn được những nhánh cây con cứng, những cây bụi và những loại cây thấp mọc rất nhiều trên những đồng cỏ khô cằn của Greenland, trong khi cừu không ăn được những loại cây này. Bởi vậy, khi người Norse mới đến Greenland thì chú trọng nuôi bò, sau đó tới cừu, rồi tới dê nhưng khả năng thích nghi của những loài này với điều kiện của Greenland đã làm đảo ngược trật tự này. Hầu hết các trang trại (đặc biệt là những trang trại càng gần phía bắc và bởi vậy hoạt động nông nghiệp của Khu Tây khó khăn hơn) phải tự hài lòng với mình, cho dù cuối cùng loài dê bị coi thường đã nhiều hơn bò vốn được đánh giá cao; chỉ những trang trại có năng suất cao nhất ở Khu Đông mới nuôi được bò và dê.
Di tích những dãy chuồng trại mà người Norse Greenland nuôi bò trong chín tháng mỗi năm hiện vẫn còn rõ ràng. Chúng là một dãy chuồng nhỏ, dài có tường xây bằng đá và những vạt cỏ rậm, dày tới vài mét để giữ cho chuồng ấm áp trong mùa đông bởi bò không thể chịu lạnh như cừu và dê của Greenland. Mỗi con bò được nhốt trong một chuồng hình chữ nhật, cách nhau bằng những phiến đá hiện vẫn còn nguyên trong nhiều trại bò đổ nát. Từ quy mô của chuồng trại, dựa trên chiều cao của cửa để lùa bò ra vào, và tất nhiên cả từ những bộ xương bò được khai quật, có thể thấy rằng bò của Greenland là loại bò nhỏ nhất trong thế giới hiện đại, chỉ cao không quá 1,2 mét tính tới vai bò. Chúng được nuôi trong chuồng trong suốt mùa đông. Phân mà chúng thải ra tích tụ và tràn lên xung quanh chúng, tới tận mùa xuân thì biển phân này mới được xúc ra ngoài. Mùa đông, bò chỉ được ăn cỏ khô, nhưng nếu không đủ thì chúng phải ăn cả tảo biển được mang vào đất liền. Rõ ràng, bò không thích ăn tảo biển, do vậy nông dân phải sống ngay trong những chuồng bò, cùng biển phân của chúng đang ngày càng dâng cao, có lẽ để ép lũ bò phải ăn tảo biển, trong khi chúng ngày càng nhỏ đi và yếu hơn. Khoảng tháng Năm, khi tuyết bắt đầu tan và lớp cỏ mới bắt đầu mọc thì bò mới được thả ra ngoài để tự tìm cỏ. Nhưng tới lúc đó, chúng đã quá yếu nên không còn đi được nữa mà nông dân phải khiêng chúng ra ngoài. Những mùa đông quá khắc nghiệt, khi cỏ khô và tảo biển dự trữ đã hết mà cỏ mới chưa kịp mọc, nông dân phải chặt cả những cành lá liễu và lá cây bulô mọc trong mùa xuân để chống đói cho gia súc.
Bò, cừu và dê của Greenland được nuôi chủ yếu là để lấy sữa hơn là để lấy thịt. Sau khi gia súc sinh sản vào tháng Năm hay tháng Sáu, chúng sẽ cho sữa chỉ trong vài tháng mùa hè. Sau đó, người Norse chế biến sữa thành pho mát, bơ và Skyr, một sản phẩm tương tự như sữa chua mà họ trữ trong những thùng lớn và giữ lạnh bằng cách dìm xuống những dòng suối trên núi hay để trong những ngôi nhà làm bằng những vạt cỏ rậm, và ăn những sản phẩm bơ sữa này trong suốt mùa đông. Dê còn được nuôi để lấy lông, và cừu để lấy len, len cừu Greenland có chất lượng rất cao bởi chúng được nuôi trong vùng có khí hậu lạnh, nên thường sản sinh ra len dày và không thấm nước. Thịt gia súc chỉ được cung cấp dồi dào vào thời điểm thải loại gia súc, nhất là vào mùa thu khi nông dân tính toán khả năng có thể nuôi được bao nhiêu gia súc trong suốt mùa đông dựa trên số cỏ khô mà họ đã tích trữ trong mùa thu đó. Họ sẽ giết số gia súc không thể tiếp tục nuôi trong mùa đông do không đủ thức ăn. Do gia súc không cung cấp đủ thực phẩm, nên hầu hết xương của số gia súc bị giết thịt ở Greenland đều bị đập vỡ hay chẻ ra để lấy nốt phần tủy. Số xương vỡ này nhiều hơn bất kỳ nước Viking nào. Tại các khu vực khảo cổ mà người Inuit sinh sống trên đảo Greenland, do có kỹ năng săn bắn thuần thục hơn nên lượng thực phẩm từ thú hoang cũng nhiều hơn so với người Norse, những ấu trùng của các loài có cánh sống trong những tủy xương thối rữa và các chất béo được bảo quản tốt nên vẫn còn rất nhiều, nhưng tại các khu vực sinh sống của người Norse, những ấu trùng này xuất hiện rất ít.
Để nuôi một con bò trong suốt một mùa đông có độ lạnh trung bình của Greenland, phải mất tới vài tấn cỏ khô, tốn gấp nhiều lần so với nuôi một con cừu. Bởi vậy, công việc chính của hầu hết người Norse ở Greenland trong giai đoạn cuối mùa hè là cắt cỏ, phơi khô và đánh đống. Số lượng cỏ khô tích trữ rất quan trọng bởi chúng quyết định số lượng gia súc sẽ được nuôi trong mùa đông tiếp theo, nhưng điều này còn phụ thuộc vào thời gian của mùa đông mà không thể dự đoán chính xác được. Bởi vậy, tháng Chín hằng năm, người Norse lại đau đầu khi phải quyết định sẽ loại bao nhiêu gia súc quý giá của mình, dựa trên số lượng cỏ khô hiện có và dự đoán thời gian mùa đông sắp tới kéo dài bao lâu. Nếu họ giết quá nhiều gia súc vào tháng Chín, thì tới tháng Năm sang năm lượng cỏ khô sẽ tồn đọng do không tiêu thụ hết và đàn gia súc ít quá, khi đó họ có thể sẽ tự trách mình đã không dám mạo hiểm nuôi nhiều gia súc hơn. Nhưng nếu họ giết quá ít gia súc vào tháng Chín, thì có thể chưa tới tháng Năm đã hết cỏ khô và có nguy cơ khiến cả đàn gia súc chết đói.
Cỏ khô được sản xuất trên ba loại cánh đồng. Cho sản lượng cao nhất là những cánh đồng ở gần khu dân cư, có rào chắn gia súc và được bón phân để cỏ mọc nhanh hơn, và thường được dùng để sản xuất cỏ khô. Tại trang trại của thánh đường Gardar và một vài di tích nông trang khác của người Norse, có thể nhận thấy những dấu tích của các hệ thống thủy lợi bao gồm các con đập và kênh tưới tiêu dẫn nước từ các con suối trên núi về những cánh đồng cỏ để sản lượng cao hơn. Khu vực sản xuất cỏ thứ hai là những khu đất xa trang trại, đôi khi xa cả những khu dân cư và nằm ngoài khu vực có hàng rào bảo vệ. Cuối cùng, người Norse Greenland mang theo từ Na Uy và Iceland một hệ thống gọi là shieling hay saeter, là những khu nhà trên những vùng núi cao xa xôi hơn thích hợp cho sản xuất cỏ khô và chăn nuôi gia súc trong mùa hè nhưng quá lạnh để nuôi gia súc trong mùa đông. Những shieling phức tạp nhất chính là những trang trại thu nhỏ, có nhà cho nông dân ở trong mùa hè để trông coi gia súc và sản xuất cỏ khô nhưng mùa đông thì quay trở về sống ở trang trại chính. Mỗi năm, khi tuyết tan thì cỏ bắt đầu mọc từ những vùng đất thấp, sau đó mới tới những vùng cao, nhưng cỏ mới có chất dinh dưỡng cao hơn và ít chất xơ khó hấp thụ hơn. Bởi vậy, shieling là một phương pháp tiên tiến để giúp nông dân Norse giải quyết vấn đề nguồn tài nguyên không đều và hạn chế của Greenland, bằng cách khai thác tạm thời những khoảnh đất nằm trên những rặng núi, và đưa dần gia súc lên núi gặm cỏ mới sẽ mọc trên những vùng cao hơn khi mùa hè tới.
Như tôi đã đề cập bên trên, Christian Keller từng nói với tôi trước khi tôi tới Greenland rằng “cuộc sống ở Greenland là luôn đi tìm những mảnh đất tốt nhất”. Điều mà Christian muốn nói là, thậm chí ngay cả trong hai hệ thống vịnh này cũng có những khu vực duy nhất thích hợp với trồng cỏ, những khu vực tốt nhất nằm dọc theo những vịnh này không nhiều và phân tán. Khi tôi đi thuyền hay đi bộ lên xuống những vịnh của Greenland, thậm chí là một người dân thành thị ngờ nghệch, tôi vẫn cảm thấy mình đang dần nhận ra những tiêu chuẩn của một mảnh đất tốt để người Norse lập trang trại. Trong khi những cư dân Greenland thực tế xuất thân từ Iceland và Na Uy có kinh nghiệm làm nông nhiều hơn tôi, nhưng tôi có lợi thế của kẻ hậu sinh: tôi biết điều họ không thể biết, những khu đất nào của các trang trại của người Norse thực sự nghèo nàn hay sẽ bị bỏ rơi. Phải mất hàng năm, thậm chí hàng thế hệ thì người Norse mới nhận ra những mảnh đất có bề ngoài tưởng như rất tốt nhưng cuối cùng mới rõ là không thích hợp. Các tiêu chuẩn của người thành thị ngờ nghệch Jared Diamond về một trang trại tốt của người Norse thời kỳ Trung cổ là:
Khu vực đó phải là một vùng đất thấp, có diện tích rộng, thoai thoải hoặc bằng phẳng (ở độ cao dưới 213 mét so với mực nước biển) để phát triển như một cánh đồng gần khu dân cư có sản lượng cao, bởi vùng đất thấp có khí hậu ấm áp nhất và thời gian trồng trọt dài nhất mà không có tuyết, và còn bởi cỏ mọc trên các sườn núi càng cao thì càng kém chất lượng. Trong số những trang trại của người Norse Greenland, trang trại của thánh đường Gardar là trang trại tốt nhất do ở những vùng đất thấp, bằng phẳng, sau đó tới một số trang trại Vatnahverfi.
Bên cạnh vùng đất thấp, rộng rãi, gần khu dân cư còn cần thêm một cánh đồng xa khu dân cư rộng rãi, nằm ở độ cao trung bình (tới 396 mét so với mực nước biển) để sản xuất cỏ khô bổ sung. Các tính toán cho thấy, chỉ riêng những vùng đất thấp của phần lớn những trang trại của người Norse sẽ không sản xuất đủ cỏ khô cho gia súc, số lượng gia súc được tính theo cách đếm số chuồng trại hoặc đo diện tích các di tích trước đây là trại chăn nuôi. Trang trại của Erik the Red tại Brattahlid là trang trại tốt nhất trong số những khu đất rộng có thể sử dụng ở vùng cao.
Ở bán cầu phía bắc, những sườn núi hướng về phía nam nhận được nhiều ánh nắng nhất. Điều này rất quan trọng bởi như vậy băng tuyết của mùa đông sẽ sớm tan chảy khi mùa xuân đến, và thời gian trồng cỏ khô hằng tháng sẽ dài hơn, số giờ có nắng hằng ngày cũng sẽ nhiều hơn. Tất cả những trang trại tốt nhất của người Norse Greenland như Gardar, Brattahlid, Hvalsey và Sandnes đều quay mặt về hướng nam.
Cần có một hệ thống suối cấp nước tốt để đảm bảo tưới đủ nước cho những đồng cỏ bằng những dòng suối tự nhiên hay bằng các hệ thống tưới tiêu, để tăng sản lượng cỏ khô.
Trang trại đói nghèo là trang trại quay về hướng một sông băng, từ đó những luồng gió lạnh thổi mạnh làm chậm khả năng sinh trưởng của cỏ và làm tăng xói mòn đất trên những đồng cỏ bị gia súc gặm trơ trụi. Gió từ sông băng là nguyên nhân khiến các trang trại ở Narssaq và vịnh Sermilik rơi vào đói nghèo, và khiến nông dân buộc phải từ bỏ những trang trại ở đầu thung lũng Qoroq và ở những vùng đất cao hơn tại quận Vatnahverfi.
Nếu có thể, hãy lập trang trại trực tiếp trên một vịnh có một cảng biển tốt để vận chuyển những hàng hóa cần thiết lên, xuống bằng thuyền.
Chỉ riêng những sản phẩm bơ sữa thì không đủ để nuôi sống 5.000 cư dân Norse trên đảo Greenland. Trồng trọt chỉ bù đắp được một phần rất ít lương thực còn thiếu, bởi khí hậu lạnh giá của Greenland rất bất lợi cho việc trồng trọt hoa màu và thời gian trồng trọt ngắn. Những tài liệu thời bấy giờ của Na Uy cho thấy phần lớn người Norse Greenland cả đời chưa từng nhìn thấy lúa mì, một mẩu bánh mì hay bia (nấu từ lúa mạch). Ngày nay, khí hậu của Greenland tương tự như lúc người Norse mới đặt chân lên đây, tôi nhìn thấy ở trang trại Gardar trước kia tốt nhất Greenland có hai mảnh vườn nhỏ mà hiện người Greenland hiện đại chỉ trồng vài loại rau có khả năng chịu rét như cải bắp, củ cải đường, cây đại hoàng và rau diếp, từng được trồng ở Na Uy thời kỳ Trung cổ, cùng với khoai tây, du nhập vào châu Âu sau khi thuộc địa Norse Greenland đã diệt vong. Có lẽ người Norse cũng từng trồng các loại hoa màu này (trừ khoai tây) trong một vài khu vườn, có thể thêm một chút lúa mạch, nhất là trong những năm khí hậu ôn hòa. Tại Gardar và hai trang trại khác ở Khu Đông, tôi thấy những cánh đồng nhỏ trong những khu vực chắc hẳn trước kia từng là vườn của người Norse, trên nền những tảng đá chắc hẳn dùng để giữ nhiệt từ ánh nắng mặt trời, cùng với những bức tường để ngăn gió và cừu. Nhưng bằng chứng trực tiếp của chúng ta về hoạt động trồng trọt của người Norse Greenland là một số phấn hoa và hạt cây lanh, một loại cây của châu Âu thời Trung cổ chứ không phải là loại thực vật bản địa của Greenland, bởi vậy chắc hẳn loại cây này là do người Norse mang theo tới Greenland và rất hữu ích trong dệt vải lanh và sản xuất dầu hạt lanh. Nếu người Norse quả thực đã trồng bất kỳ loại hoa màu nào, thì chắc hẳn chúng chỉ góp phần cực kỳ nhỏ vào chế độ ăn uống của họ, và có lẽ được coi như một loại đặc sản chỉ dành cho vài tù trưởng và giáo sĩ.
Thay vào đó, các thành phần chính khác trong khẩu phần của người Norse Greenland là thịt các loài thú hoang, nhất là tuần lộc caribu và hải cẩu, được tiêu thụ nhiều hơn nhiều lần so với ở Na Uy hay Iceland. Tuần lộc caribu sống thành những đàn lớn và mùa hè chúng sống trên núi, mùa đông chúng xuống những vùng thấp hơn. Răng của tuần lộc caribu được tìm thấy trong những đống rác cho thấy loài thú này bị săn vào mùa thu, có thể là bằng cung tên, kết hợp với chó săn (trong rác còn có cả những chiếc xương lớn của giống chó săn Na Uy). Ba loại hải cẩu bị săn nhiều nhất là hải cẩu thường (còn gọi là hải cẩu nhỏ), sinh sống quanh năm tại các vùng biển xung quanh Greenland và mùa xuân bò lên các bãi biển trong các vịnh sâu trong đất liền để đẻ con, đây là thời điểm chúng dễ bị bắt bằng cách bủa lưới từ trên thuyền và bị giết bằng gậy; loại hải cẩu Bắc cực di trú và hải cẩu lớn, cả hai loại này đều sinh sản ở Newfoundland nhưng thường kéo hàng đàn tới Greenland vào tháng Năm, nhưng chúng chỉ ở dọc bờ biển chứ không đi vào các vịnh sâu trong đất liền nơi có nhiều trang trại của người Norse. Để săn được các loài hải cẩu di trú này, người Norse lập ra những trại săn theo mùa đặt trên những vịnh phía ngoài, cách các trang trại hàng chục kilômét. Tháng Năm, mùa di trú của hải cẩu Bắc cực và hải cẩu lớn là thời điểm rất quan trọng với sự sinh tồn của người Norse, bởi đây là thời điểm thực phẩm bơ sữa dự trữ từ mùa hè và thịt thú rừng dự trữ từ mùa thu trước sẽ hết, nhưng tuyết trên các trang trại của người Norse vẫn chưa tan nên gia súc vẫn chưa được thả rông trên các đồng cỏ, dẫn tới hậu quả là chúng chưa sinh sản được và chưa cho sữa. Như chúng ta sẽ thấy, điều này rất dễ khiến người Norse bị rơi vào tình trạng đói ăn do hải cẩu không di cư tới đây, hay do bất kỳ khó khăn nào (như băng trong các vịnh và dọc bờ biển, hoặc tình trạng thù địch của người Inuit) khiến họ không thể tiếp cận những đàn hải cẩu di cư. Những điều kiện băng tuyết như vậy có thể rất dễ xảy ra trong những năm khí hậu lạnh giá khi người Norse trở nên rất dễ bị tác động bởi mùa hè lạnh giá và bởi sản lượng cỏ khô thấp.
Bằng những cách tính toán thành phần của xương (gọi là phân tích đồng vị các bon), có thể tính toán tỷ lệ hải sản so với lương thực trồng trên đất liền mà con người hay động vật đó đã ăn trong suốt cuộc đời. Khi áp dụng với những bộ hài cốt của người Norse khai quật từ những nghĩa trang Greenland, phương pháp này cho thấy tỷ lệ hải sản (chủ yếu là hải cẩu) tiêu thụ ở Khu Đông tại thời điểm mới hình thành chỉ là 20%, nhưng đã tăng lên tới 80% trong những năm cuối cùng của người Norse: có lẽ bởi khả năng sản xuất cỏ khô làm thức ăn cho gia súc trong mùa đông của họ đã giảm, và cũng bởi dân số tăng nên cần lượng lương thực nhiều hơn mà gia súc không cung cấp đủ. Tại bất kỳ thời điểm nào, tỷ lệ tiêu thụ hải sản ở Khu Tây bao giờ cũng cao hơn Khu Đông, bởi sản lượng cỏ khô tại Khu Tây thấp hơn do vị trí của nó gần phía bắc hơn. Tiêu thụ thịt hải cẩu của cư dân Norse thực tế có thể còn cao hơn những số liệu đo đạc, bởi các nhà khảo cổ học thường thích khai quật những trang trại lớn, giàu có hơn là những trang trại nhỏ, nghèo nàn, nhưng số xương nghiên cứu cho thấy cư dân tại các trang trại nhỏ, nghèo nàn với chỉ một con bò lại ăn thịt hải cẩu nhiều hơn những cư dân giàu. Tại một trang trại nghèo ở Khu Tây, các nhà khảo cổ sửng sốt khi phát hiện 70% số xương động vật có trong rác là xương hải cẩu.
Ngoài việc phụ thuộc nhiều vào hải cẩu và tuần lộc, người Norse còn kiếm được một lượng nhỏ thực phẩm từ việc săn bắt những loại thú hoang có vú nhỏ hơn (nhất là thỏ), chim biển, gà gô trắng xám, thiên nga, vịt biển, trai và cá voi. Cá voi chắc chỉ thi thoảng mới bắt được những con mắc cạn bởi trong khu vực sinh sống của người Norse không có lao hay bất cứ công cụ nào dùng để săn bắt cá voi. Thực phẩm không phải ăn hết ngay lập tức, bất kể từ gia súc hay thú hoang, mà tất cả đều được phơi khô trong những nhà kho gọi là skemmur, được xây bằng những viên đá mà không cần chất dính kết để gió thổi qua và làm khô thực phẩm, và chỉ xây ở những nơi lộng gió như trên đỉnh các ngọn núi.
Một điều dễ thấy là trong các khu vực khảo cổ của người Norse hầu như không có cá, mặc dù người Greenland có nguồn gốc từ Na Uy và Iceland, những dân tộc rất thạo nghề đánh bắt cá và thích ăn cá. Xương cá chỉ chiếm chưa tới 0,1% xương động vật thu thập được tại các khu vực khảo cổ của người Norse Greenland, so với mức 50% và 95% ở hầu hết những khu vực của Iceland, Bắc Na Uy và Shetland cùng thời. Nhà khảo cổ Thomas McGovern chỉ tìm thấy tổng số ba chiếc xương cá trong bãi rác của người Norse tại các trang trại Vatnahverfi ở ngay bên cạnh những chiếc hồ đầy cá, trong khi nhà khảo cổ Georg Nygaard chỉ phát hiện được hai chiếc xương cá trong tổng số 35.000 xương động vật có trong bãi rác của trang trại Ö34 của người Norse. Thậm chí tại khu vực GUS, nơi thu được nhiều xương cá nhất – 166 chiếc, thì cũng chỉ chiếm 0,7% tổng số xương động vật thu thập được trong khu vực. Trong số xương cá đó có 26 xương là xương đuôi của cá tuyết, và xương của tất cả các loài cá gộp lại vẫn ít hơn xương của một loại chim (gà gô trắng xám) với tỷ lệ 3/1 và so với xương của các loài động vật có vú thì tỷ lệ là 144/1.
Số lượng xương cá ít ỏi một cách khó tin trong khi Greenland là đảo có rất nhiều cá, và cá biển (đặc biệt là cá efin và cá tuyết) là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Greenland hiện đại. Cá hồi thường và cá hồi chấm hồng tràn đầy trong các sông hồ của Greenland, ngay đêm đầu tiên ở tại nhà nghỉ tại Brattahlid, tôi đã cùng với một nữ du khách Đan Mạch nấu hai con cá hồi chấm hồng to, mỗi con nặng tới 0,9 kg và dài khoảng 50,8 xăngtimét, mà cô bắt được bằng tay không trong một vũng nước nhỏ khi chúng bị mắc lại. Chắc chắn ít ra người Norse cũng có thể dùng tay bắt cá như nữ du khách này, và họ có thể dùng lưới để bắt cá trong các vịnh bởi họ vẫn dùng lưới để đánh bắt hải cẩu. Thậm chí nếu người Norse không thích ăn những loại cá bắt được dễ dàng, thì họ có thể làm thức ăn cho chó, như vậy sẽ giảm được số thịt hải cẩu và những loại thức ăn khác cho chó, và thực phẩm cho người sẽ nhiều hơn.
Tất cả các nhà khảo cổ từng tới khai quật ở Greenland ban đầu đều không chịu tin điều lạ thường là người Norse Greenland không ăn cá, nên họ dốc sức tìm kiếm nơi người Norse chôn giấu số xương cá. Có thể người Norse chỉ ăn cá trong phạm vi vài mét bờ biển, và giờ những khu vực này đã nằm sâu dưới nước do đất bị lún? Hay họ đã tận dụng hết xương cá để làm phân bón, làm nhiên liệu hay để cho bò ăn? Cũng có thể cá đã được chặt đầu và cho chó ăn, còn xương cá thì đổ ra một số cánh đồng mà họ biết chắc những người đời sau sẽ hiếm khi đào lên, và thận trọng tránh mang cá về nhà hay không vứt trong những đống rác để các nhà khảo cổ sau này có thể tìm ra? Hay người Norse thời đó có nhiều thực phẩm tới mức họ không cần phải ăn cá? Nhưng tại sao hồi đó họ lại phải đập vỡ xương gia súc để lấy những mẩu tủy cuối cùng? Hay tất cả số xương cá nhỏ này đã bị phân hủy và lẫn vào trong đất? Nhưng những điều kiện bảo quản trong các đống rác tại Greenland đủ tốt để bảo quản từ hòn phân cừu cho tới cả con rận trên thân cừu. Nhưng điều mâu thuẫn của những lý giải này về việc không phát hiện ra xương cá ở những khu vực sinh sống của người Norse Greenland là chúng cũng có thể áp dụng tương đối hợp lý với các khu vực của người Inuit Greenland, người Iceland và người Norse ở Na Uy, nơi xương cá xuất hiện rất nhiều. Những lý giải này cũng không giải thích được tại sao khu vực sinh sống của người Norse Greenland hầu như không hề có lưỡi câu, chì của lưới đánh cá vốn thường xuất hiện ở những khu vực sinh sống khác của người Norse.
Tôi thì nghiêng về thực tế rằng: mặc dù người Norse Greenland xuất thân từ một xã hội cư dân có sở thích ăn cá, nhưng có thể họ đã đề ra một điều kiêng kỵ là không ăn cá. Tất cả mọi xã hội điều có những luật lệ riêng cấm ăn một loại thực phẩm nào đó, như một trong những cách để phân biệt mình với những xã hội khác. Chúng ta tự cho mình là những người sạch sẽ, không ăn những thứ ghê tởm mà những kẻ man rợ thường ăn. Trong số những điều kiêng kỵ, thì những điều liên quan tới thịt và cá có tỷ lệ cao nhất. Ví dụ, người Pháp ăn ốc sên, ếch và thịt ngựa, người New Guinea ăn chuột, nhện và ong mật, người Mexico ăn thịt dê và người Polynesia ăn giun biển, tất cả những thực phẩm này đều có chất dinh dưỡng và (nếu bạn dám thử) rất ngon, nhưng đa phần người Mỹ đều chờn chợn khi nghĩ tới việc ăn bất kỳ loại thực phẩm nào kể trên.
Còn vì sao thịt và cá lại thường bị kiêng kỵ, bởi dường như so với các loại thực phẩm thực vật, chúng sản sinh ra nhiều vi khuẩn hay sinh vật đơn bào có thể khiến thực phẩm bị ngộ độc hoặc các loại vi khuẩn dễ xâm nhập cơ thể nếu chúng ta ăn chúng. Điều này dường như đã xảy ra tại Iceland và Scandinavia, khi cư dân những nơi này sử dụng nhiều phương pháp lên men để bảo quản lâu dài những con cá nặng mùi (những người không phải dân Scandinavia chắc sẽ gọi đó là cá thối), kể cả những biện pháp có sử dụng vi khuẩn có thể gây ngộ độc thịt. Căn bệnh đau đớn nhất trong đời tôi, thậm chí còn hơn cả bệnh sốt rét, là khi tôi bị nhiễm độc thực phẩm do ăn tôm mua ở một khu chợ ở Cambridge, Anh và rõ ràng đó không phải là tôm tươi. Tôi đã phải nằm bẹp trên giường mấy ngày với những cơn nôn khủng khiếp, cơ bắp đau nhừ, đầu như búa bổ và bị tiêu chảy. Điều này khiến tôi liên tưởng tới người Norse ở Greenland: có lẽ trong những năm đầu định cư ở Greenland, Erik the Red đã từng bị ngộ độc thực phẩm khủng khiếp do ăn cá. Khi hồi phục, ông kể cho mọi người biết rằng cá gây hại cho con người như thế nào, và chúng ta, những người Greenland, là một dân tộc sạch sẽ và kiêu ngạo sẽ không bao giờ sẽ không bao giờ hạ thấp mình trước những thói quen không có lợi cho sức khỏe như những người Iceland và Na Uy ăn cá, dơ dáy và liều lĩnh.
Những điều kiện bất lợi cho chăn nuôi gia súc ở Greenland có nghĩa rằng người Norse ở Greenland phải phát triển một nền kinh tế đa dạng và thống nhất để đảm bảo sự sinh tồn. Đây là sự thống nhất cả về mặt không gian và thời gian: những hoạt động khác nhau được lên kế hoạch chi tiết cho từng mùa, và mỗi trang trại chuyên sản xuất một loại sản phẩm để chia sẻ với nhau.
Để hiểu lịch trình theo mùa, chúng ta hãy bắt đầu từ mùa xuân. Cuối tháng Năm, đầu tháng Sáu bắt đầu một mùa ngắn nhưng rất quan trọng đó là mùa săn hải cẩu, khi những con hải cẩu Bắc cực và hải cẩu lớn di cư thành từng đàn, dọc theo những vịnh ngoài cùng và những con hải cẩu thường, cư trú ở đây bò lên bãi biển để sinh đẻ. Đó là thời điểm chúng dễ bị bắt nhất. Những tháng mùa hè, từ tháng Sáu tới tháng Tám là mùa đặc biệt bận rộn, khi gia súc đã được thả ra ngoài thảo nguyên để gặm cỏ, cũng là lúc chúng cho sữa để chế biến thành những sản phẩm bơ sữa có thể dự trữ. Một số đàn ông thì lên thuyền tới Labrador để chặt gỗ, những thuyền khác thì đi về phương bắc để săn hải mã, và những thuyền hàng từ Iceland hay châu Âu cập bến để trao đổi hàng hóa. Tháng Tám tới đầu tháng Chín là những tuần sôi nổi cắt cỏ, phơi khô và đánh đống, trước khi những đàn bò bị lùa từ các đồng cỏ về nhốt trong các chuồng trại, còn cừu và dê được đưa về gần khu chuồng trại của chúng hơn. Tháng Chín và tháng Mười là mùa săn tuần lộc caribu, trong khi những tháng mùa đông từ tháng Mười một cho tới tháng Tư năm sau, là thời gian để chăm sóc gia súc trong các chuồng trại, dệt vải, sử dụng gỗ để xây dựng và sửa chữa, để xử lý những chiếc ngà của hải mã bị giết trong mùa hè - tích trữ các sản phẩm bơ sữa và thực phẩm khô làm thức ăn cho con người, làm cỏ khô cho gia súc ăn, và đảm bảo nhiên liệu sưởi ấm và đun nấu đủ dùng trong suốt mùa đông.
Bên cạnh việc thống nhất kinh tế về thời gian, thì thống nhất về không gian cũng rất cần thiết, bởi thậm chí ngay cả trang trại giàu nhất Greenland cũng không có đủ mọi thứ cần thiết để tồn tại trong suốt năm. Sự thống nhất này liên quan tới sự chuyển giao giữa những vịnh ngoài cùng với những vịnh bên trong, giữa những trang trại ở vùng cao với những trang trại ở vùng thấp, giữa Khu Đông và Khu Tây, giữa những trang trại giàu có với những trang trại nghèo nàn. Ví dụ, khi những đồng cỏ tốt nhất mọc ở những vùng đất thấp, tại các mỏm đầu những vịnh trong đất liền thì việc săn tuần lộc caribu sẽ diễn ra tại các trang trại ở vùng cao, bất lợi cho trồng cỏ bởi nhiệt độ ở đây lạnh hơn và thời gian trồng trọt cũng ngắn hơn. Đồng thời việc săn bắt hải cẩu cũng diễn ra tập trung tại những vịnh ngoài cùng bởi hơi muối, sương mù và thời tiết lạnh giá gây khó khăn cho các hoạt động nông nghiệp ở đây. Cư dân của những trang trại của các vịnh nằm trong đất liền sẽ không thể tới những khu vực săn bắn nằm ở các vịnh phía ngoài mỗi khi vịnh bị đóng băng hoặc đầy những tảng băng trôi dạt. Người Norse xử lý vấn đề không gian này bằng cách vận chuyển phần thân hải cẩu và chim biển từ những vịnh ngoài cùng vào vịnh trong đất liền, và chuyển thịt tuần lộc từ những trang trại vùng cao xuống vùng thấp hơn. Chẳng hạn, hiện xương hải cẩu vẫn còn rất nhiều trong những bãi rác của các trang trại vùng cao nằm sâu trong đất liền, như vậy thịt hải cẩu chắc hẳn đã được vận chuyển trên quãng đường hàng chục kilômét từ cửa các vịnh lên đây. Tại những trang trại Vatnahverfi nằm sâu bên trong đất liền, xương hải cẩu vẫn xuất hiện nhiều trong bãi rác, tương đương số xương của dê và cừu. Ngược lại, xương tuần lộc caribu xuất hiện nhiều hơn tại những trang trại giàu có, rộng lớn trên những vùng đất thấp so với những trang trại nghèo hơn, nằm trên vùng đất cao hơn, nơi gia súc đã bị loại bớt.
Bởi Khu Tây cách Khu Đông 482 kilômét về phía bắc, nên sản lượng cỏ khô chỉ bằng 1/3 sản lượng của Khu Đông. Tuy nhiên, Khu Tây gần với những nơi săn hải mã và gấu Bắc cực hơn, hai sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Greenland sang châu Âu, như tôi sẽ giải thích. Nhưng ngà hải mã được tìm thấy ở hầu hết các khu vực khảo cổ ở Khu Đông, rõ ràng chúng đã được đưa về xử lý tại đây trong mùa đông, và trao đổi hàng hóa bằng đường biển (kể cả xuất khẩu ngà hải mã) với châu Âu diễn ra chủ yếu ở trang trại Gardar và những trang trại lớn khác ở Khu Đông. Bởi vậy, Khu Tây, mặc dù nhỏ hơn Khu Đông nhiều lần, nhưng có vai trò rất quan trọng với nền kinh tế của người Norse.
Sự thống nhất giữa những trang trại giàu, nghèo là điều rất cần thiết bởi sản lượng cỏ khô và sự sinh trưởng của cỏ đặc biệt phụ thuộc vào sự kết hợp của hai yếu tố: nhiệt độ và số giờ nắng. Nhiệt độ ấm hơn, và số giờ hay ngày nắng nhiều hơn trong vụ trồng trọt mùa hè, thì có nghĩa rằng một trang trại có thể trồng được nhiều cỏ hơn, thu hoạch được nhiều cỏ khô hơn và như vậy chăn nuôi được nhiều gia súc hơn, cả bởi gia súc có thể tự gặm cỏ trong mùa hè và có nhiều cỏ khô hơn để chúng ăn trong mùa đông. Do vậy, trong một năm có khí hậu tốt, những trang trại tốt nhất với những lợi thế như nằm ở vùng thấp, trên những vịnh sâu trong đất liền, hay quay về hướng nam sẽ sản xuất được lượng cỏ khô dôi dư nhiều hơn và chăn nuôi được nhiều gia súc hơn so với số lượng cần thiết để cư dân trong trang trại có thể tồn tại, trong khi những trang trại nhỏ, nghèo nàn hơn với những hạn chế như ở trên những vùng đất cao hơn, gần những vịnh ngoài cùng, hoặc không quay mặt về hướng nam thì sản xuất được ít cỏ khô hơn. Trong năm khí hậu tồi tệ (lạnh hơn và/hay nhiều sương mù hơn), thì sản lượng cỏ khô bị suy giảm ở khắp nơi, nhưng những trang trại tốt nhất có thể vẫn còn cỏ khô, cho dù với số lượng rất nhỏ. Những trang trại nghèo hơn có thể thấy mình sẽ không có đủ cỏ khô để nuôi cả đàn gia súc tới hết mùa đông. Bởi vậy mùa thu, họ sẽ phải giết bớt gia súc và thậm chí trong trường hợp xấu nhất là tới mùa xuân chẳng còn gia súc nào sống sót. Tốt nhất là họ có thể phải chuyển hướng từ sản xuất sữa từ gia súc sang nuôi bò đẻ, cừu non và dê non, và bản thân người nông dân chắc cũng phải sử dụng thực phẩm từ hải cẩu và tuần lộc caribu nhiều hơn sản phẩm bơ sữa.
Có thể phân biệt các trang trại giàu, nghèo dựa trên khoảng không gian dành để nuôi bò trong những di tích của các trại chăn nuôi của người Norse. Trang trại tốt nhất, vượt hẳn lên thể hiện qua khu chăn nuôi bò rộng nhất là trang trại Gardar, nơi duy nhất có hai chuồng trại lớn đủ để nuôi khoảng 160 con bò. Những trang trại đứng thứ hai như Brattahlid và Sandnes có thể nuôi được từ 30-50 con. Nhưng những trang trại nghèo chỉ có chỗ để nuôi vài con bò, có lẽ cũng chỉ nuôi đúng một con. Do vậy, những trang trại tốt nhất hỗ trợ những trang trại nghèo trong những năm khí hậu khắc nghiệt bằng cách cho họ mượn gia súc trong mùa xuân để gây dựng lại đàn gia súc của mình.
Bởi vậy, xã hội Greenland có một đặc điểm nổi bật là phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau, thịt hải cẩu và chim biển được vận chuyển vào sâu trong đất liền, thịt tuần lộc được chuyển từ những vùng cao xuống, ngà hải mã được chuyển về phương nam và gia súc được chuyển từ các trang trại giàu có sang những trang trại nghèo hơn. Nhưng tại Greenland, cũng như ở bất kỳ đâu trên thế giới nơi người giàu và người nghèo phụ thuộc lẫn nhau, nhưng tiêu chuẩn sống của họ lại không như nhau. Thay vào đó, những người thuộc những tầng lớp khác nhau thì tỷ lệ thực phẩm cao cấp và tầm thường trong chế độ ăn uống của họ cũng khác nhau, được phản ánh rõ rệt trong số lượng xương của các loài động vật khác nhau có trong bãi rác. Tỷ lệ xương bò, loại thực phẩm cao cấp, và xương cừu, thực phẩm cấp thấp hơn, và giữa cừu với dê, thực phẩm tầm thường nhất, có xu hướng cao hơn khi so sánh trang trại giàu với trang trại nghèo, và các trang trại ở Khu Đông cao hơn so với các trang trại ở Khu Tây. Xương tuần lộc caribu, nhất là xương hải cẩu, xuất hiện ở Khu Tây nhiều hơn ở Khu Đông bởi điều kiện chăn nuôi gia súc của Khu Tây khó khăn hơn và gần nơi sinh sống của tuần lộc caribu hơn. Trong số hai loại thực phẩm hoang dã này, xương tuần lộc caribu xuất hiện nhiều ở những trang trại giàu có (nhất là trang trại Gardar), trong khi cư dân các trang trại nghèo hơn thì ăn nhiều thịt hải cẩu hơn. Khi ở Greenland, tôi đã tò mò thử ăn thịt hải cẩu và không dám ăn tới miếng thứ hai, tôi đã hiểu tại sao những người có khẩu vị châu Âu lại thích ăn thịt thú rừng hơn là đồ biển nếu họ được lựa chọn.
Một vài số liệu thực tế sẽ minh họa rõ hơn những khuynh hướng này, bãi rác của trang trại nghèo ở Khu Tây có ký hiệu là W48 hay Niaquusat cho chúng ta thấy rằng thực phẩm mà những cư dân kém may mắn ở đây tiêu thụ thật khủng khiếp khi có tới 85% từ hải cẩu, 6% từ dê, chỉ có 5% từ tuần lộc, 3% từ cừu và 1% (chắc chỉ có trong những dịp lễ hiếm hoi) từ bò. Cũng trong thời kỳ này, tầng lớp quý tộc nhỏ ở Sandnes, trang trại giàu nhất Khu Tây thì được thưởng thức chế độ ăn uống có 32% thịt tuần lộc, 17% thịt bò, 6% thịt cừu và 6% thịt dê, phần còn lại 39% là thịt hải cẩu. Sung sướng nhất là tầng lớp quý tộc ở Khu Đông, trong trang trại Brattahlid của Erik the Red, được ăn thịt bò nhiều hơn thịt tuần lộc và thịt cừu, và dê trở là loại thực phẩm tầm thường nhất.
Có hai chuyện chua xót minh họa rõ hơn tình trạng những người có địa vị cao được hưởng thụ những loại thức ăn ngon nhất, trong khi những người có địa vị thấp chẳng bao giờ được ăn, mặc dù ở cùng một trang trại. Chuyện thứ nhất, khi các nhà khảo cổ khai quật các di tích của thánh đường thánh Nicholas tại Gardar, họ tìm thấy dưới nền đá hài cốt của một người đàn ông cầm quyền trượng và đeo nhẫn giám mục, có thể đó là giám mục John Arnason Smyrill cai quản Greenland từ năm 1189 đến năm 1209. Các phân tích chất đồng vị các bon đối với bộ hài cốt cho thấy chế độ ăn uống của ông ta có tới 75% thực phẩm trên cạn (có thể đa phần là thịt bò và pho mát) và chỉ có 25% là đồ biển (chủ yếu là thịt hải cẩu). Hai bộ xương khác của một người đàn ông và một người đàn bà cùng thời chôn ngay bên dưới vị giám mục, có lẽ họ cũng thuộc tầng lớp quý tộc, thì tỷ lệ đồ biển trong chế độ ăn uống cao hơn một chút (45%), nhưng tỷ lệ này lên tới 78% trong những bộ xương khai quật ở Khu Đông, và 81% ở Khu Tây. Chuyện thứ hai, tại Sandnes, trang trại giàu nhất Khu Tây, xương động vật tìm thấy trong bãi rác bên ngoài trang viên chứng tỏ cư dân của nó đã ăn thịt rất nhiều tuần lộc caribu và gia súc, trong khi lại ít ăn thịt hải cẩu. Cách đó chỉ vài chục mét là một trại nuôi gia súc trong mùa đông, và những nông dân phải sống chung với gia súc và phân của chúng trong suốt mùa đông. Đống rác chôn phía ngoài trại chăn nuôi đó cho thấy thực phẩm chính của những nông dân này là thịt hải cẩu và chỉ được thưởng thức một ít thịt tuần lộc, thịt bò hay thịt cừu.
Nền kinh tế thống nhất mà tôi vừa mô tả, dựa trên hoạt động chăn nuôi gia súc, săn bắn trên đất liền và trong các vịnh, cho phép người Norse Greenland tồn tại trong một môi trường mà con người không thể tồn tại nếu chỉ tiến hành một trong những hoạt động kinh tế trên. Nhưng đó cũng có thể là một lý do khiến cư dân Greenland bị diệt vong, bởi nền kinh tế của nó quá mong manh nếu bất kỳ yếu tố nào bị phá vỡ. Nhiều hiện tượng khí hậu có thể trở thành bóng ma đe dọa cuộc sống của cư dân Greenland: một mùa hè ngắn ngủi, lạnh giá và đầy sương mù, hay một tháng Tám ẩm ướt sẽ làm giảm sản lượng cỏ khô; một mùa đông khắc nghiệt kéo dài sẽ khiến gia súc và cả tuần lộc khó có thể tồn tại, và làm tăng nhu cầu cỏ khô làm thức ăn cho gia súc trong mùa đông; mặt các vịnh bị đóng băng gây khó khăn cho việc đi thuyền ra các vịnh ngoài cùng trong mùa săn hải cẩu vào tháng Năm và tháng Sáu; nhiệt độ nước biển thay đổi ảnh hưởng tới số lượng cá và số lượng hải cẩu ăn cá; hay một hiện tượng thay đổi khí hậu diễn ra ở tận vùng Newfoundland xa xôi cũng ảnh hưởng tới số lượng hải cẩu Bắc cực và hải cẩu lớn bởi đó là nơi sinh sản của chúng. Một vài sự kiện kiểu này đã được ghi nhận trong lịch sử Greenland hiện đại, như mùa đông lạnh giá và tuyết rơi dày xảy ra vào năm 1966 - 1967 đã làm chết 22.000 con cừu, hoặc trong thời kỳ lạnh giá từ năm 1959 - 1974, số lượng hải cẩu Bắc cực di cư đã giảm 2%. Thậm chí cả trong những năm khí hậu thuận lợi nhất, sản xuất cỏ khô của Khu Tây cũng khó khăn hơn Khu Đông, và nhiệt độ trong mùa hè chỉ giảm 10C cũng đủ phá hỏng một vụ cỏ khô của một trang trại cổ xưa.
Người Norse có thể đương đầu với những mất mát về gia súc do một mùa hè hay mùa đông tồi tệ, với điều kiện rằng sau đó là những năm có khí hậu thuận lợi cho phép họ gây dựng lại đàn gia súc, và họ có thể săn được số hải cẩu và tuần lộc đủ để nuôi sống họ trong những năm này. Nhưng cuộc sống của người Norse sẽ nguy hiểm hơn trong trường hợp một thập kỷ có vài năm khí hậu khắc nghiệt, hay một mùa hè có sản lượng cỏ khô thấp, nhưng tiếp sau đó lại là một mùa đông khắc nghiệt kéo dài cần nhiều cỏ khô để nuôi những đàn gia súc trong chuồng, rồi số hải cẩu cũng giảm mạnh hoặc chuyện gì đó xảy ra khiến mùa xuân cư dân Greenland không thể đi thuyền ra các vịnh ở phía ngoài cùng. Như chúng ta sẽ thấy, đó là những gì thực tế đã xảy ra với các cư dân ở Khu Tây.
Đặc điểm của xã hội Norse Greenland có thể tóm tắt bằng năm tính từ, đôi khi trái ngược nhau, đó là: cộng đồng, bạo lực, có trật tự, bảo thủ và chịu ảnh hưởng của văn hóa châu Âu. Tất cả những đặc điểm này đều thừa hưởng từ những xã hội Iceland và Na Uy tổ tiên, nhưng được thể hiện tới mức cực đoan ở Greenland.
Trước tiên là, dân số của người Norse trên đảo Greenland chừng 5.000 người, sống trong 250 trang trại, trung bình 20 người mỗi trang trại, được tổ chức thành những cộng đồng tập trung quanh 14 nhà thờ chính, trung bình cứ 20 trang trại có một nhà thờ. Norse Greenland là một xã hội mang tính cộng đồng cao, ở đó một người không thể tự tách riêng đi kiếm sống một mình mà có hy vọng tồn tại. Mặt khác, sự hợp tác giữa những cư dân trong cùng trang trại hay cùng một cộng đồng là điều quan trọng trong việc săn hải cẩu vào mùa xuân hay đi săn tại Nordrseta vào mùa hè (sẽ được mô tả dưới đây), thu hoạch cỏ khô vào cuối mùa hè, săn tuần lộc caribu vào mùa thu và để xây dựng trang trại. Tất cả các hoạt động này đều đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều người và không thể thực hiện hay thực hiện không hiệu quả nếu chỉ có một người. (Hãy thử hình dung một mình bạn chạy vòng quanh để dồn bầy tuần lộc hoang hay bầy hải cẩu, hoặc nhấc một tảng đá nặng bốn tấn của thánh đường để đặt vào đúng chỗ cần thiết). Mặt khác, sự hợp tác cũng rất cần thiết cho sự thống nhất kinh tế giữa các trang trại và nhất là giữa các cộng đồng, bởi mỗi trang trại, mỗi vùng của Greenland sản xuất ra những sản phẩm khác nhau, bởi vậy cư dân ở những vùng khác nhau của Greenland phụ thuộc lẫn nhau vì những sản phẩm mà họ không sản xuất được. Tôi đã đề cập tới hoạt động vận chuyển những con hải cẩu săn được tại các vịnh phía ngoài cùng vào các vịnh sâu trong đất liền, hay thịt tuần lộc caribu săn được ở các vùng cao xuống các vùng thấp, và gia súc từ những trang trại giàu có sang những trang trại nghèo khi những trang trại nghèo bị mất hết gia súc trong một mùa đông khắc nghiệt. Đàn gia súc 160 con mà trang trại Gardar nuôi trong các chuồng thừa sức đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của cư dân Gardar. Như chúng ta sẽ thấy bên dưới, ngà hải mã, mặt hàng xuất khẩu giá trị nhất của Greenland, chỉ do vài thợ săn Khu Tây kiếm được trong những khu vực săn hải cẩu ở Nordrseta, nhưng sau đó được phân phối khắp các trang trại ở cả Khu Đông và Khu Tây để cùng nhau chế biến trước khi xuất khẩu.
Tham gia một trang trại là điều rất quan trọng cả vì sự tồn tại và vì sự đồng nhất xã hội. Tất cả những mảnh đất hữu dụng ở Khu Đông và Khu Tây đều thuộc sở hữu của hoặc một vài trang trại riêng biệt hoặc của cả một nhóm trang trại, vì vậy họ có toàn quyền với tất cả những nguồn tài nguyên trên đất, không chỉ đối với những đồng cỏ, cỏ khô mà còn cả với tuần lộc, đất mặt, hoa quả và thậm chí cả gỗ trôi nổi ở đó. Bởi vậy, một người Greenland muốn tách riêng, tự kiếm sống thì sẽ không được phép đi săn hay cắt cỏ cho gia súc của bản thân. Tại Iceland, nếu bạn mất trang trại hay bị tẩy chay thì vẫn có thể đi tìm nơi khác sinh sống, hoặc ra một hòn đảo, hoặc sống trong một trang trại bỏ hoang hay lên những vùng núi cao. Nhưng ở Greenland thì không, bởi đơn giản là ở đây “chẳng có nơi nào” để đi.
Do vậy xã hội Greenland được kiểm soát chặt chẽ, ở đó chỉ vài tù trưởng hay vài trang trại giàu là có thể ngăn chặn bất kỳ ai có hành động đe dọa lợi ích của họ, kể cả những người muốn áp dụng những cải tiến không hứa hẹn sẽ mang lại lợi ích cho các tù trưởng. Bởi vậy, Khu Tây nằm dưới sự kiểm soát của Sandnes, trang trại giàu nhất và là nơi duy nhất có đường đi ra các vịnh bên ngoài, trong khi đó Khu Đông thuộc sự kiểm soát của Gardar, trang trại giàu nhất và là trang trại của giám mục Greenland. Chúng ta nên biết rằng xem xét việc này có thể giúp chúng ta hiểu số phận sau này của xã hội Norse Greenland.
Gia tài mang từ Iceland và Na Uy tới Greenland, ngoài tính cộng đồng còn có cả tính cách bạo lực. Một số di cảo viết: Năm 1124, vua Sigurd Jorsalfar của Na Uy bổ nhiệm linh mục Arnald tới Greenland làm giám mục thường trú đầu tiên, nhưng Arnald không đồng ý viện cớ rằng người Greenland là những người hung dữ. Đức vua thông minh liền trả lời rằng: “Thử thách của ngươi trong tay những người này càng khắc nghiệt thì giá trị và phần thưởng của ngươi càng lớn”. Arnald chấp nhận với điều kiện con trai của một tù trưởng đáng kính ở Greenland tên là Einar Sokkason phải cam kết bảo vệ ông và tài sản của giáo hội ở Greenland, và trừng trị những kẻ thù của ông. Như kể lại trong truyền thuyết về Einar Sokkason (xem phần tóm tắt bên dưới), quả thật, khi Arnald đặt chân đến Greenland, ông thường xuyên dính dáng tới những cuộc cãi cọ mang tính bạo lực, nhưng tất cả đều được ông giải quyết một cách khéo léo tới mức những bên tranh chấp đánh giết lẫn nhau, (thậm chí cả Einar Sokkason cũng bị thiệt mạng), trong khi Arnald vẫn duy trì được mạng sống và quyền lực của mình.
Thêm một bằng chứng khác cụ thể hơn về tình trạng bạo lực ở Greenland. Nghĩa trang nhà thờ tại Brattahlid, ngoài những ngôi mộ của các cá nhân với những bộ hài cốt nguyên vẹn được đặt gọn gàng, còn có một ngôi mộ tập thể có niên đại từ thời kỳ đầu của thuộc địa Greenland, trong đó có những chiếc xương của 13 người đàn ông và một trẻ em chín tuổi đã bị vỡ thành từng mảnh, có thể là một bộ tộc bị trả thù. Trong đó vết thương trên xương sọ của năm bộ hài cốt có thể do một dụng cụ sắc, có thể là kiếm hoặc rìu, gây ra. Trong khi vết thương của hai xương sọ có dấu tích đang liền lại, chứng tỏ các nạn nhân này vẫn sống sót sau khi bị tấn công, sau đó mới kiệt sức và chết. Vết thương trên ba xương sọ khác có rất ít hoặc hầu như không có dấu tích liền lại, chứng tỏ họ đã chết rất nhanh. Suy đoán đó không có gì là ngạc nhiên nếu xem ảnh chụp những chiếc xương sọ này, trong đó có một chiếc mất hẳn một miếng xương dài 7,62 xăngtimét, rộng 5,08 xăngtimét. Những vết thương trên hộp sọ hoặc nằm bên trái phía trước hộp sọ hoặc nằm bên phải phía sau hộp sọ, như vậy có thể thủ phạm là kẻ thuận tay phải và tấn công từ đằng trước hay đằng sau. (Đa phần những vết thương trong những trận chiến bằng gươm giống với những vết thương này, bởi phần lớn mọi người thuận tay phải).
Một bộ hài cốt đàn ông khác cũng trong nghĩa trang đó vẫn còn mắc một lưỡi dao ở giữa những chiếc xương sườn. Hai bộ hài cốt phụ nữ ở nghĩa trang Sandnes cũng có những vết thương giống như những vết chém của những hộp sọ bên trên chứng tỏ phụ nữ cũng như nam giới đều có thể bị giết do trả thù. Xương sọ của bốn phụ nữ và một trẻ em tám tuổi được xác định niên đại thuộc những năm sau này của thuộc địa Greenland, thời điểm rìu và gươm đã dần biến mất do khan hiếm sắt. Tất cả những chiếc sọ này đều có một hay hai lỗ rất sắc, rộng từ một nửa cho tới một inch (2,54 xăngtimét) và rõ ràng là do bị bắn bằng nỏ hay bằng cung. Bạo lực gia đình được thể hiện qua bộ hài cốt của một phụ nữ 50 tuổi tại thánh đường Gardar với chiếc xương cổ bị gãy ở phần xương móng; các nhà nghiên cứu pháp y cho rằng đó là bằng chứng chứng tỏ nạn nhân đã bị bóp cổ chết.
Ngoài tính nết hung tợn, một đặc điểm không dễ tồn tại ở đây, nơi sự hợp tác cộng đồng được coi trọng, người Norse Greenland còn mang theo mình từ Iceland và Na Uy một hình thái xã hội được phân chia thành tầng lớp và tổ chức một cách trật tự. Ở đó, chỉ một vài tù trưởng kiểm soát tất cả chủ những trang trại nhỏ và tá điền không được có trang trại riêng, và (ban đầu) nô lệ riêng. Lại cũng giống như Iceland, về mặt chính trị, Greenland không được tổ chức như một nhà nước mà như một liên bang lỏng lẻo của các tù trưởng hoạt động dưới các điều kiện phong kiến, không có tiền tệ cũng không có kinh tế thị trường. Ngay trong một hoặc hai thế kỷ đầu tiên của thuộc địa Greenland, chế độ nô lệ đã bị xóa bỏ và những nô lệ trở thành người tự do. Tuy nhiên, càng về sau số nông dân độc lập càng giảm bởi họ buộc phải trở thành tá điền của những tù trưởng, một giai đoạn được ghi nhận cụ thể ở Iceland. Chúng ta không có tài liệu tương tự về giai đoạn này của Greenland, nhưng dường như cũng tương tự như Iceland, bởi ở Greenland những động lực thúc đẩy giai đoạn này thậm chí còn rõ ràng hơn ở Iceland. Những động lực này bao gồm những hiện tượng thay đổi khí hậu khiến những nông dân nghèo trở thành con nợ của các nông dân giàu hơn do đã vay họ cỏ khô và gia súc, và cuối cùng bị họ tịch thu tài sản để thế nợ. Bằng chứng về thứ hạng của những trang trại này vẫn còn hiển hiện giữa những di tích của các trang trại Greenland. So với những trang trại nghèo, những trang trại giàu có vị trí tốt nhất với diện tích đồng cỏ rộng hơn, có khu chăn nuôi bò và cừu rộng hơn, với số chuồng đủ nuôi nhiều gia súc hơn, kho chứa cỏ khô rộng hơn, nhà rộng hơn, nhà thờ và lò rèn to hơn. Trật tự này ngày nay vẫn hiển hiện với tỷ lệ xương bò và tuần lộc nhiều hơn so với xương cừu và hải cẩu trong những đống rác tại các trang trại giàu so với những trang trại nghèo.
Lại cũng giống như Iceland, người Viking Greenland là một xã hội bảo thủ bám chặt những suy nghĩ cũ và chống lại những thay đổi so với tư tưởng cởi mở của những người Viking ở quê hương Na Uy. Trong hàng thế kỷ, Greenland chỉ có những thay đổi rất nhỏ về kiểu công cụ sản xuất và nghệ thuật chạm khắc. Đánh bắt cá bị từ bỏ ngay từ những năm đầu tiên của thuộc địa, và người Greenland không hề xem xét lại quyết định của mình trong suốt 450 năm tồn tại. Họ không học hỏi người Inuit kinh nghiệm săn hải cẩu vòng hay cá voi, mặc dù như vậy có nghĩa là không có được những loại thực phẩm phổ biến ở Greenland, và tất yếu sẽ bị rơi vào đói kém. Lý do cơ bản của quan điểm bảo thủ này của người Greenland có thể cũng là lý do mà các bạn Iceland của tôi đã lý giải cho chủ nghĩa bảo thủ trong xã hội của họ. Đó là, thậm chí còn bảo thủ hơn cả người Iceland, người Greenland nhận thấy họ đang sống trong một môi trường rất khó khăn. Trong quá trình phát triển thành công nền kinh tế đã giúp họ tồn tại ở đây trong nhiều thế hệ, người Greenland thấy rằng những thay đổi đối với nền kinh tế này dường như chỉ mang lại tai họa nhiều hơn là thuận lợi. Đó là lý do tốt để lý giải cho sự bảo thủ.
Một tuần trong cuộc sống của giám mục Greenland:
Truyền thuyết về Einar Sokkason
Trong khi đi săn với 14 người bạn, Sigurd Njalsson phát hiện một chiếc thuyền mắc cạn chở đầy hàng hóa quý giá. Bên trong một túp lều gần đó, xác của thủy thủ đoàn và thuyền trưởng Arnbjon đang thối rữa, tất cả họ đều đã chết vì đói. Sigurd mang hài cốt của thủy thủ đoàn về thánh đường Gardar chôn cất, và tặng chiếc thuyền cho giám mục Arnald để linh hồn những người chết được siêu thoát. Về phần hàng hóa, ông khẳng định quyền sở hữu thuộc về những người tìm ra nó nên chia cho bạn bè và bản thân.
Khi cháu của Arnbjon là Ozur biết tin, ông ta liền cùng họ hàng của những thủy thủ xấu số kéo tới Gardar. Họ khiếu nại với giám mục rằng họ phải được thừa kế số hàng hóa trên thuyền. Nhưng giám mục trả lời rằng theo luật lệ của người Greenland, hàng hóa thuộc quyền sở hữu của người nào tìm ra, nên hàng hóa và thuyền giờ phải thuộc về nhà thờ bởi họ đã phải bỏ ra nhiều chi phí để làm lễ cầu hồn cho những người chết là chủ của số hàng hóa, và thật đáng khinh cho Ozur và đám bạn bè đã dám đòi lại số hàng hóa. Vậy là Ozur liền kiện lên Hội đồng nguyên lão Greenland và phiên xử diễn ra với sự tham dự của Ozur và đám bạn bè, cùng với giám mục Arnald, người bạn Einar Sokkason và nhiều quần thần của ông ta. Hội đồng nguyên lão bác khiếu nại của Ozur, ông ta không hài lòng và cảm thấy nhục nhã, bởi vậy Ozur đã phá hỏng chiếc thuyền của Sigurd (giờ đã thuộc sở hữu của giám mục Arnald) bằng cách chém nát những tấm ván dọc theo hai bên thuyền. Giám mục tức giận tuyên bố rút phép thông công của Ozur.
Một lần, khi giám mục đang làm lễ trong nhà thờ, Ozur có mặt ở đó và phàn nàn với người giúp việc của giám mục về cách đối xử tồi tệ của giám mục với ông ta. Einar tình cờ nghe thấy liền nổi giận giật một chiếc rìu từ tay một thầy tế đứng bên cạnh và chém Ozur chết ngay lập tức. Giám mục hỏi Einar: “Einar, có phải con đã gây ra cái chết của Ozur?”, “Đúng vậy”, Einar trả lời, “Đúng là con”. Giám mục liền nói: “Giết người như vậy là không đúng, nhưng lần này là đúng”. Giám mục còn không muốn chôn cất Ozur theo nghi lễ nhà thờ, nhưng Einar cảnh báo có thể sẽ có những rắc rối lớn.
Đúng vậy, một người họ hàng của Ozur là Simon, một tù trưởng hùng mạnh, cho rằng vụ việc lần này không chỉ đơn thuần là một vụ cãi cọ. Ông ta liền tập trung đám bạn bè gồm Kolbein Thorljotsson, Keitel Kalfsson và nhiều đàn ông của Khu Tây. Một ông già tên là Sokki Thorisson đề xuất tiến hành hòa giải giữa Simon và Einar. Để bồi thường cho cái chết của Ozur, Einar đưa ra một số vật phẩm, trong đó có một bộ áo giáp cổ, nhưng Simon từ chối và cho đó là thứ vớ vẩn. Kolbein đi vòng quanh Einar, bất ngờ dùng rìu chém vào giữa hai vai ông, khi ngã xuống, Einar còn kịp dùng rìu chém xuống đầu Simon. Cả Simon và Einar đều chết. Einar trăng trối: “Đây chỉ là điều mà tôi đã dự kiến”. Em nuôi của Einar là Thord lao vào Kolbein và bị ông ta giết chết bằng một cú chém ngang cổ họng.
Cả hai bên lao vào đánh nhau loạn xạ. Một người tên là Steingrim lên tiếng kêu gọi tất cả ngừng đánh nhau, nhưng trong cơn say máu, Steingrim đã bị nhiều người đâm chết. Về phía Kolbein, Krak, Thorir và Vighvat bị chết cùng với Simon. Về phía Einar có Bjorn, Thorarin, Thord và Thorfinn bị chết cùng với Einar, và Steingrim được tính là người của Einar. Nhiều người bị thương nặng. Tại một cuộc hòa giải do một quý tộc tên là Hall tổ chức, phía Kolbein buộc phải bồi thường bởi bên Einar chết quá nhiều người. Mặc dù vậy, phía Einar vẫn tỏ ra không hài lòng với lời phán quyết. Kolbein liền dong thuyền sang Na Uy, mang theo một con gấu Bắc cực còn sống làm quà tặng cho vua Harald Gilli, nhưng lên tiếng kêu ca rằng mình bị đối xử tồi tệ như thế nào. Vua Haral cho rằng những lời của Kolbein là dối trá nên không ban thưởng dù đã được tặng con gấu Bắc cực. Vậy là Kolbein liền lao vào đánh nhà vua bị thương, sau đó lên thuyền sang Đan Mạch, nhưng thuyền của ông ta đã bị đắm trên đường đi. Đó là hồi kết của truyền thuyết này.
Tính từ còn lại để chỉ đặc tính của xã hội Norse Greenland là “Chịu ảnh hưởng văn hóa châu Âu”. Từ châu Âu, người Greenland nhận được rất nhiều loại hàng hóa, nhưng quan trọng hơn chính là những mặt hàng nhập khẩu vô hình, như việc du nhập đạo Cơ đốc và chịu ảnh hưởng của văn hoá châu Âu. Trước tiên chúng ta hãy xem xét việc trao đổi hàng hóa. Những mặt hàng nào được nhập khẩu vào Greenland, đổi lại người Greenland đã trả bằng những sản vật gì?
Với những chiếc thuyền buồm thời Trung cổ, hành trình từ Na Uy tới Greenland phải mất ít nhất từ một tuần trở lên và rất nguy hiểm; các biên niên sử thường nhắc tới những vụ đắm thuyền, hay những con thuyền ra đi mà không bao giờ trở lại. Bởi vậy, mỗi năm người Greenland chỉ đón một, hai chuyến thuyền của châu Âu, đôi khi vài năm mới có một chuyến thuyền. Ngoài ra, khả năng chuyên chở hàng hóa của thuyền châu Âu thời kỳ đó rất nhỏ. Dựa trên những đánh giá về số lần thuyền cập đảo Greenland, trọng tải của thuyền và số dân của Greenland cho phép tính toán lượng hàng nhập khẩu trung bình mỗi năm chỉ 3,1kg/người. Nhưng hầu hết người Greenland nhận được lượng hàng thấp hơn số trung bình này nhiều lần, bởi phần lớn hàng hóa được dành cho các nhà thờ và là những mặt hàng xa xỉ dành cho giới quý tộc. Bởi vậy, hàng hóa nhập khẩu chỉ có thể là những mặt hàng quý giá, chiếm ít diện tích. Cụ thể, người Greenland phải tự đảm bảo lương thực cho mình và không thể trông chờ nhập khẩu ngũ cốc hay những sản phẩm lương thực khác với số lượng lớn.
Hai nguồn tư liệu về hàng hóa nhập khẩu của Greenland là những danh mục hàng hóa mà người Na Uy ghi lại, và những mẫu vật có nguồn gốc từ châu Âu được tìm thấy ở các khu vực khảo cổ của Greenland. Hàng nhập khẩu bao gồm ba mặt hàng thiết yếu là: sắt mà người Greenland khó có thể tự sản xuất; gỗ dùng trong xây dựng và làm đồ gia dụng, mặt hàng mà người Greenland luôn thiếu; và hắc ín dùng như một chất bôi trơn và để bảo quản gỗ. Còn những mặt hàng phi kinh tế, chủ yếu là dùng cho nhà thờ như chuông, cửa kính màu, chân nến bằng bạc, rượu lễ, vải lanh, tơ tằm, bạc, áo choàng và đồ trang sức của các linh mục. Trong số những đồ dùng xa xỉ tìm thấy tại các khu vực khảo cổ trong các trang trại có các đồ dùng bằng thiếc, đồ gốm, chuỗi hạt và khuy áo bằng thủy tinh. Ngoài ra, có thể còn có một lượng nhỏ hàng xa xỉ nhập khẩu là mật ong dùng để làm men rượu mật ong, và muối để chữa bệnh.
Cũng chính do trọng tải của thuyền bị hạn chế nên người Greenland không thể xuất khẩu cá với số lượng lớn, như người Iceland Trung cổ và người Greenland hiện nay, kể cả trong trường hợp người Greenland sẵn sàng đánh bắt cá. Thay vào đó, để đổi lấy những mặt hàng nhập khẩu này, mặt hàng xuất khẩu của Greenland cũng phải là những sản vật nhỏ nhưng có giá trị cao. Đó là da thú như dê, hải cẩu và các loài gia súc, tất nhiên người châu Âu cũng có thể nhập khẩu những mặt hàng này từ những nước khác, nhưng châu Âu thời Trung cổ cần số lượng da thú lớn để làm quần áo, giày và thắt lưng. Cũng giống như Iceland, Greenland xuất khẩu áo lông rất giá trị bởi đặc tính không thấm nước độc đáo của nó. Nhưng những mặt hàng xuất khẩu giá trị nhất của Greenland được ghi trong những di cảo của Na Uy là năm mặt hàng có nguồn gốc từ những loài động vật Bắc cực quý hiếm hay châu Âu tuyệt nhiên không có. Đó là: ngà và da hải mã (giá trị bởi có thể dùng để sản xuất loại dây chão cực bền dùng trên các thuyền), gấu Bắc cực sống hay da của chúng được coi như biểu tượng của sức mạnh, ngà kỳ lân biển (một loại cá voi nhỏ), và chim ưng phương Bắc (loài chim ưng lớn nhất thế giới). Ngà hải mã trở thành loại ngà duy nhất của châu Âu thời Trung cổ để dùng trong điêu khắc sau khi đạo Hồi thống lĩnh toàn bộ khu vực Địa Trung Hải, cắt đứt nguồn cung cấp ngà voi cho châu Âu Cơ đốc giáo. Còn chim ưng phương Bắc của Greenland quý tới mức năm 1396, công tước xứ Burgundy đã dùng 12 con chim này để chuộc lại con trai sau khi bị bắt cóc tại Saracens.
Tất nhiên hải mã và gấu Bắc cực chỉ sống ở những vùng phía bắc, cách xa hai khu dân cư của người Norse, trong một vùng gọi là Nordseta (vùng săn bắn phía bắc), cách Khu Tây vài trăm kilômét và trải dài về phía bắc dọc theo bờ biển phía tây của Greenland. Bởi vậy, mỗi mùa hè người Greenland đều phái tới đây những toán thợ săn đi trên những chiếc thuyền buồm nhỏ, sáu mái chèo, có khả năng đi 20 hải lý mỗi ngày và có thể chở được lượng hàng tương đương 1,5 tấn. Toán thợ săn khởi hành vào tháng Sáu, sau thời kỳ cao điểm săn bắt hải cẩu Bắc cực, sẽ mất 2 tuần để đi thuyền từ Khu Tây tới Nordrseta hoặc 4 tuần nếu đi từ Khu Đông, và trở về vào cuối tháng Tám. Với những chiếc thuyền nhỏ như vậy nên hiển nhiên họ không thể mang hàng trăm con hải mã hay gấu Bắc cực, bởi mỗi thuyền chỉ có thể chở tối đa khoảng 1 tấn hải mã và nửa tấn gấu Bắc cực. Bởi vậy, số thú săn được bị xả thịt ngay tại chỗ và chỉ lấy hàm hải mã có ngà và da gấu Bắc cực vẫn còn dính bàn chân (thi thoảng là một con gấu Bắc cực còn sống) để mang về. Sau đó, trong những tháng mùa đông, khi cư dân của cả hai khu đều rỗi rãi thì người ta mới rút ngà hải mã và làm sạch da gấu Bắc cực. Những thợ săn còn mang về gân dương vật của hải mã đực, nó là một chiếc xương thẳng, dài khoảng 0,3 mét là lõi dương vật của hải mã, để làm cán rìu hay cán mác bởi nó có kích thước và hình dáng thích hợp, (nhưng cũng có người nghi rằng nó có tác dụng tăng cường sinh lực cho đàn ông).
Đi săn ở Nordrseta rất tốn kém và nguy hiểm. Đầu tiên là săn hải mã và gấu Bắc cực mà không có súng, chắc hẳn phải rất nguy hiểm. Hãy thử tưởng tượng bạn chỉ được trang bị một cây giáo, một cái mác, cung tên hay một chiếc gậy (tùy bạn chọn), rồi cố hạ một con hải mã hay một con gấu Bắc cực khổng lồ đang nổi cơn điên, trước khi nó giết bạn. Cũng thử tưởng tượng rằng bạn phải ở trên một chiếc thuyền nhỏ bé cùng với một con gấu Bắc cực bị trói chặt trong thời gian vài tuần liền. Nếu chẳng có một con gấu sống trên thuyền, thì hải trình cũng là chuyến đi dọc bờ biển phía tây Greenland đầy bão tố và lạnh giá cũng khiến cho những thợ săn có nguy cơ chết do bị đắm thuyền hoặc phơi mình trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt tới vài tuần liền. Ngoài những nguy hiểm này, chuyến đi cũng rất tốn kém đòi hỏi phải huy động nhiều thuyền, nhiều người và nhất là thời gian mùa hè lại ngắn. Bởi Greenland hiếm gỗ nên chỉ ít người Greenland có thuyền riêng, do đó nếu sử dụng những chiếc thuyền quý giá này để săn hải mã thì phải dừng những công việc khác cần dùng đến thuyền, như đến Labrador để mua thêm gỗ chẳng hạn. Chuyến đi săn diễn ra vào mùa hè, thời điểm cần những người đàn ông để thu hoạch cỏ khô làm thức ăn cho gia súc trong mùa đông. Vậy nhưng phần lớn ngà hải mã và da gấu mà những người Greenland kiếm được lại chỉ để đổi cho người châu Âu để lấy những mặt hàng xa xỉ dùng cho nhà thờ và các tù trưởng. Ngày nay, chúng ta không thể không nghĩ rằng lẽ ra người Greenland nên dùng thuyền và khoảng thời gian quý báu đó một cách có ích hơn, vào những việc khác quan trọng. Mặc dù vậy, theo quan điểm của người Greenland, có lẽ những chuyến săn này giúp nâng cao uy tín cho những thợ săn, và giúp toàn xã hội duy trì mối quan hệ tâm lý với châu Âu, điều mà họ xem là quan trọng.
Quan hệ thương mại của Greenland với châu Âu được thực hiện chủ yếu thông qua các cảng Bergen và Trondheim của Na Uy. Mặc dù ban đầu một số hàng hóa được vận chuyển bằng thuyền đi biển của chính người Iceland và người Greenland, nhưng qua thời gian, những con thuyền này trở nên cũ kỹ mà không thể thay thế bởi cả hai đảo này đều không có gỗ đóng thuyền, bởi vậy họ đành phải để hoạt động trao đổi hàng hóa rơi vào tay người Na Uy. Vào giữa những năm 1200, có những giai đoạn kéo dài tới vài năm mà không hề có một chiếc thuyền nào ghé thăm Greenland. Năm 1257, để khẳng định quyền lực của mình đối với tất cả những xã hội của người Norse trên các đảo Đại Tây Dương, vua Haakon Haakonsson của Na Uy phái ba nhà truyền giáo tới Greenland thuyết phục những người Greenland, tại thời điểm đó vẫn là vùng lãnh thổ độc lập, chấp nhận chủ quyền của ông ta và phải cống nộp sản vật. Mặc dù không còn lưu giữ được những chi tiết về cuộc đàm phán, nhưng một số tư liệu cho thấy năm 1261, người Greenland đã chấp nhận đặt mình dưới chủ quyền của người Na Uy, đổi lại vua Na Uy cam kết hằng năm sẽ phái hai chiếc thuyền sang đây, tương tự như thỏa thuận hồi đó của ông ta với Iceland, nhưng số thuyền sang Iceland nhiều hơn, sáu chuyến thuyền mỗi năm như chúng ta đã biết. Từ đó trở đi, trao đổi hàng hóa với Greenland trở thành độc quyền của hoàng gia Na Uy. Nhưng sự gắn kết của Greenland với Na Uy vẫn rất lỏng lẻo, và quyền lực của người Na Uy khó được thi hành trên lãnh thổ Greenland do khoảng cách địa lý quá xa. Chúng ta chỉ biết chắc chắn rằng, trong thế kỷ XIV luôn có một đại diện của hoàng gia Na Uy thường trú ở Greenland trong những thời điểm khác nhau.
Không kém phần quan trọng so với xuất khẩu hàng hóa vật chất từ châu Âu sang Greenland là những mặt hàng tâm lý; nhất là việc du nhập của đạo Cơ đốc và ảnh hưởng văn hóa của người châu Âu. Hai đặc tính này có thể giải thích vì sao người Greenland lại hành động theo những cách – chúng ta ngày nay sẽ cho rằng đó là cái giá của sự nhận thức muộn màng – không thích hợp và cuối cùng phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Nhưng cũng chính những đặc tính đó đã giúp người Greenland duy trì hoạt động của xã hội trong nhiều thế kỷ, trong những điều kiện khó khăn nhất của châu Âu thời Trung cổ.
Người Greenland cải sang đạo Cơ đốc vào khoảng năm 1.000, cùng thời với người Iceland và những lãnh thổ Viking khác ở Đại Tây Dương, và cả với người Na Uy. Trong hơn một thế kỷ, những nhà thờ Greenland vẫn chỉ là những ngôi nhà nhỏ, vách đất nằm trên mảnh đất của một số nông dân, chủ yếu là ở những trang trại lớn nhất. Dường như, cũng như ở Iceland, đây là những nhà thờ được xây dựng và thuộc sở hữu của những điền chủ và được nhận một phần thuế thập phân mà các cư dân địa phương nộp cho nhà thờ.
Nhưng thời điểm đó, Greenland vẫn chưa có giám mục thường trú, họ chỉ xuất hiện mỗi khi tiến hành lễ kiên tín và làm lễ thánh hóa cho một nhà thờ. Bởi vậy, khoảng năm 1118, Einar Sokkason, người chúng ta đã biết trong truyền thuyết bên trên, bị giết do bị chém từ đằng sau, được cư dân Greenland cử sang Na Uy để thuyết phục vua Na Uy cử một giám mục sang Greenland. Để thể hiện lòng hữu hảo, Einar mang theo rất nhiều sản vật là ngà và da hải mã, còn cả một con gấu Bắc cực còn sống, để tặng cho nhà vua. Đáp lại nhà vua Na Uy đã bổ nhiệm Arnald, nhân vật mà truyền thuyết cũng nhắc tới, làm giám mục thường trú đầu tiên ở Greenland, sau này còn có chín giám mục khác cai quản Greenland trong thời kỳ đang phát triển phồn thịnh. Không có ngoại lệ, tất cả những giám mục này đều sinh ra và học hành ở châu Âu và được bổ nhiệm làm giám mục của Greenland. Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi họ lấy châu Âu làm hình mẫu, thích ăn thịt bò hơn thịt hải cẩu, và hướng xã hội Greenland tìm kiếm các tài nguyên ở vùng săn bắt Nordrseta để họ mua rượu và lễ phục cho bản thân, và cửa kính màu cho nhà thờ.
Một chương trình lớn xây dựng các nhà thờ theo mô hình nhà thờ châu Âu được tiến hành ngay sau khi Arnald nhậm chức giám mục Greenland, và kéo dài cho tới khoảng năm 1300, khi nhà thờ xinh xắn cuối cùng tại Hvalsey được dựng lên. Tổ chức giáo hội Greenland bao gồm một thánh đường, khoảng 13 nhà thờ với giáo xứ lớn, nhiều nhà thờ nhỏ hơn và thậm chí cả một tu viện và một nhà dòng. Trong khi phần lớn những nhà thờ có tường thấp được xây bằng đá và tường cao hơn được đắp bằng những vạt cỏ rậm, thì nhà thờ Hvalsey và ít nhất là ba nhà thờ khác có tường được xây hoàn toàn bằng đá. Những nhà thờ này đều quá đồ sộ so với quy mô nhỏ bé của xã hội Greenland đã dựng lên và nuôi dưỡng chúng.
Ví dụ, thánh đường thánh Nicholas tại Gardar có diện tích dài 32 mét và rộng 16 mét, to gấp đôi thánh đường của Iceland, trong khi Iceland có số dân đông gấp 10 lần Greenland. Tôi ước tính những khối đá lớn nhất trong phần tường thấp của thánh đường phải nặng chừng ba tấn, chúng được vận chuyển từ những mỏ đá sa thạch ở cách đó ít nhất là 1,609 kilômét, sau đó được đẽo rất khéo léo và xếp khít với nhau. Thậm chí còn có một phiến đá lát đường rất lớn, nặng chừng 10 tấn được lát ngay trước cửa nhà giám mục. Những công trình liền kề gồm có một tháp chuông cao 24,3 mét, và một sảnh hành lễ với diện tích sàn 426,7 m2, đây là sảnh hành lễ lớn nhất Greenland và bằng 3/4 sảnh hành lễ của Tổng giám mục của Trondheim tại Na Uy. Để khẳng định địa vị giàu có của mình, thánh đường này còn có hai dãy chuồng bò, trong đó một dãy dài 63,3 mét, chuồng bò rộng nhất Greenland và có một rầm lanh tô bằng đá nặng khoảng 4 tấn. Là nơi tráng lệ để đón tiếp các giáo dân, những chỗ ngồi của thánh đường được trang trí hoàn toàn bằng 25 chiếc xương sọ hải mã và năm chiếc xương sọ của kỳ lân biển, đây có thể là những chiếc duy nhất được lưu giữ từ thời của xã hội người Norse Greenland, ở những nơi khác các nhà khảo cổ chỉ tìm thấy những mảnh ngà hải mã vụn, bởi chúng rất quý và hầu như được xuất khẩu hết sang châu Âu.
Thánh đường Gardar và các nhà thờ ở Greenland chắc hẳn phải tiêu thụ lượng gỗ quý giá rất lớn để đỡ tường và đỡ mái. Những đồ vật linh tinh dùng cho nhà thờ phải nhập khẩu như chuông đồng và rượu lễ, cũng là những đồ vật xa hoa với người Greenland bởi chúng được đổi bằng mồ hôi và cả máu của những thợ săn tại Nordrseta chỉ để lấy lượng sắt ít ỏi quý báu trên những chiếc thuyền châu Âu. Hàng năm, người dân Greenland còn phải đóng thuế thập phân cho nhà thờ để họ nộp về Rome, và khoản thuế thập phân bổ sung phục vụ cho những cuộc Thập tự chinh mà tất cả những giáo dân Cơ đốc đều phải nộp. Những khoản thuế này được Greenland trả bằng cách chuyển những sản vật tới Bergen để đổi lấy bạc. Hiện vẫn còn một biên lai của một chuyến hàng kiểu này, đó là khoản nộp thuế thập phân Thập tự chinh trong thời gian sáu năm, từ 1274 - 1280. Biên lai này cho thấy, khoản thuế này được trả bằng 666,7 kg ngà lấy từ 191 con hải mã, và Tổng giám mục Na Uy đã bán lấy 11,7 kg bạc nguyên chất. Việc Nhà thờ bòn rút những khoản thuế này và hoàn tất những công trình xây dựng thể hiện quyền lực tuyệt đối của họ ở Greenland.
Nhà thờ cũng chiếm lĩnh những mảnh đất tốt nhất Greenland, trong đó chiếm khoảng 1/3 đất Khu Đông. Những khoản thuế thập phân của nhà thờ ở Greenland, và có thể cả những mặt hàng xuất khẩu sang châu Âu, đều phải tập trung về Gardar, ở đó vẫn còn di tích của một nhà kho lớn, ngay bên cạnh góc đông nam của giáo đường. Vì vậy, Gardar tự hào không chỉ là khu tích trữ hàng hóa lớn nhất Greenland, mà còn là nơi có đàn gia súc lớn nhất và là mảnh đất giàu nhất, bất cứ ai kiểm soát được Gardar thì cũng kiểm soát được Greenland. Có một điều vẫn chưa rõ là không biết Gardar và những trang trại khác của các nhà thờ là thuộc sở hữu của Giáo hội hay của những điền chủ, chủ các trang trại có nhà thờ. Nhưng cho dù quyền lực và quyền sở hữu thuộc giám mục hay thuộc về các tù trưởng thì cũng không làm thay đổi kết luận chủ yếu: Greenland là một xã hội có trật tự, có sự phân cách lớn giữa giàu nghèo đặt dưới sự quản lý của nhà thờ, và có sự đầu tư quá lớn cho các nhà thờ. Một lần nữa, những con người hiện đại chúng ta lại phân vân liệu cuộc sống của người Greenland có bớt khó khăn hơn nếu họ giảm nhập khẩu những chiếc chuông bạc, và nhập khẩu nhiều sắt hơn để chế tạo công cụ sản xuất, vũ khí để tự vệ trước sự tấn công của người Inuit, hoặc trao đổi hàng hóa với người Inuit để lấy thực phẩm trong những thời khắc khó khăn. Nhưng những câu hỏi của chúng ta được đặt ra sau khi chúng ta đã biết rõ vấn đề xảy ra, và không có liên hệ với những di sản văn hóa đã khiến người Greenland đưa ra những chọn lựa của mình.
Ngoài những đặc tính của một xã hội Cơ đốc giáo, cư dân Greenland còn chịu ảnh hưởng của văn hóa châu Âu dưới nhiều hình thức khác nhau, kể cả việc nhập khẩu những chiếc chân nến bằng bạc, những khuy áo bằng thủy tinh và những chiếc vòng vàng. Trong hàng thế kỷ tồn tại của xã hội, người Greenland tuân thủ chặt chẽ những tập quán của châu Âu, kể cả những thay đổi. Một loạt những minh chứng cụ thể có liên quan tới phong tục mai táng, được thu thập qua những cuộc khai quật hài cốt ở những nghĩa trang của người Scandinavia và của Greenland. Người Na Uy thời Trung cổ mai táng trẻ em và trẻ sơ sinh xung quanh đầu hồi phía đông của nhà thờ; người Greenland cũng vậy. Người Na Uy thời kỳ đầu Trung cổ mai táng người chết trong những chiếc quan tài, và phụ nữ thì chôn ở phần đất phía nam nghĩa địa và đàn ông thì ở phía bắc, sau này người Na Uy bỏ quan tài, chỉ cuốn xác chết vào quần áo hay một vải liệm, và mai táng trong nghĩa trang không còn phân biệt giới tính. Người Greenland cũng dần thay đổi theo những tập quán này. Tại các nghĩa trang trên châu Âu lục địa trong suốt thời kỳ Trung cổ, người chết được đặt nằm ngửa, đầu quay về hướng tây và chân quay về hướng đông (như vậy người chết có thể “nhìn về” hướng đông), nhưng vị trí cánh tay thay đổi theo thời gian: tới năm 1250, tay vẫn được đặt song song với cơ thể, từ sau năm 1250, tay hơi được gập lại để lên xương chậu, sau này được gập nhiều hơn và để lên bụng, và cuối thời Trung cổ thì gập chặt, vắt qua ngực. Thậm chí ngay cả những thay đổi trong cách đặt tay của người chết cũng xuất hiện trong những nghĩa trang của người Greenland.
Ngay cả kiến trúc nhà thờ của Greenland cũng theo phong cách châu Âu của người Na Uy và cả những thay đổi theo thời gian. Bất kỳ du khách nào hiểu biết về kiến trúc thánh đường châu Âu, với gian giữa dài, cổng chính quay về hướng tây, bục hát thánh ca, cánh ngang đằng bắc và đằng nam, sẽ ngay lập tức nhận ra những chi tiết này trên những di tích bằng đá của thánh đường Gardar vẫn còn tới ngày nay. Nhà thờ Hvalsey cũng giống hệt nhà thờ Eidfjord ở Na Uy tới mức chúng ta có thể nghĩ rằng chắc hẳn người Greenland đã thuyết phục chính kiến trúc sư đó về xây dựng nhà thờ hoặc đã sao chép bản thiết kế. Khoảng giữa 1200 đến 1225, những thợ xây của Na Uy đã từ bỏ đơn vị đo chiều dài theo hệ đo lường La Mã và chuyển sang sử dụng hệ đo lường của Hy Lạp ngắn hơn; những thợ xây của Greenland cũng làm như vậy.
Sự bắt chước kiểu cách châu Âu còn lan sang cả những đồ dùng gia dụng như lược và quần áo. Lược của người Na Uy chỉ có một mặt (lược đơn), với những răng lược chỉ được tạo trên một mặt, nhưng tới khoảng năm 1200, những chiếc lược kiểu này lỗi mốt và bị thay thế bằng kiểu lược hai mặt (lược kép), với những răng lược được tạo ra trên hai mặt đối diện; người Greenland cũng chuyển sang sử dụng kiểu lược này. (Điều này khiến tôi nhớ tới nhận xét của Henry Thoreau trong cuốn sách Walden của ông viết về những người luôn chạy theo những kiểu thời trang của một đất nước xa xôi một cách mù quáng: “Con khỉ đầu đàn ở Paris đội một chiếc mũ lưỡi trai của du khách, và tất cả những con khỉ khác ở nước Mỹ đều làm theo”). Qua trang phục được dùng để liệm người chết được bảo quản rất tốt do chôn ở một tầng đất đóng băng vĩnh cửu tại nghĩa trang Herjolfsnes trong những thập kỷ cuối cùng mà Greenland tồn tại, chúng ta có thể thấy rằng trang phục của người Greenland luôn theo kịp các kiểu cách của người châu Âu, mặc dù dường như chúng không thích hợp với điều kiện khí hậu lạnh giá của Greenland nếu so với áo paca (áo da có tay dài và mũ trùm đầu của người Eskimo). Trang phục của những người Norse Greenland cuối cùng bao gồm: cho phụ nữ là một chiếc áo dài cổ thấp, eo chít hẹp; cho đàn ông là một chiếc áo khoác khỏe khoắn gọi là houpelande, một chiếc áo khoác ngoài, dài rộng, có thắt lưng ở eo, ống tay áo rộng tới mức gió có thể thổi qua; cùng những chiếc jacket có hàng khuy bấm phía trước; và những chiếc mũ hình trụ dài.
Tất cả những phong cách châu Âu này chứng tỏ người Greenland rất chú ý tới thời trang châu Âu và theo sát tới từng chi tiết. Những phong cách này vô tình mang một thông điệp: “Chúng tôi là người châu Âu, là những giáo dân Cơ đốc, Chúa không cho phép bất kỳ ai nhầm lẫn chúng tôi với người Inuit”. Cũng giống như Australia, khi tôi lần đầu tiên tới nước này vào những năm 1960, tôi thấy ở đây còn mang nhiều đặc tính của người Anh hơn cả nước Anh, Greenland là tiền đồn xa xôi nhất của châu Âu nhưng vẫn có ràng buộc về mặt tình cảm với châu Âu. Sẽ chẳng hại gì nếu những ràng buộc đó chỉ là những chiếc lược kép và cách gập tay người chết ngang qua người. Nhưng chính sự cố chấp rằng “Chúng tôi là người châu Âu” trở nên trầm trọng hơn khi người Greenland ngoan cố duy trì việc nuôi bò trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, hay thay vì dành sức người để thu hoạch cỏ khô trong mùa hè thì lại phung phí sức lực cho những chuyến đi săn ở Nordrseta, từ chối áp dụng những công nghệ hữu ích của người Inuit, và hậu quả là rơi vào tình trạng chết đói. Với chúng ta, những người hiện đại và thực tế, thật khó hiểu những nhận thức về tình trạng khó khăn của người Greenland. Tuy nhiên, mặc dù có liên quan tới sự sinh tồn của xã hội cũng như sự sinh tồn của bản thân, nhưng người Greenland không hề đặt vấn đề giảm bớt đầu tư cho các nhà thờ, học hỏi hay hòa hợp với người Inuit, và họ chỉ đối phó với những khó khăn trước mắt để tồn tại được năm nào tốt năm đó. Sự ngoan cố đeo bám vào hình ảnh người Cơ đốc giáo châu Âu có thể là một yếu tố trong chủ nghĩa bảo thủ của họ mà tôi đã đề cập bên trên: châu Âu hơn cả người châu Âu, và bởi vậy bị cản trở về mặt văn hóa trong việc tạo ra những thay đổi mạnh mẽ trong lối sống để có thể giúp họ tồn tại.