Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 1

Lượt đọc: 929 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Học tập giảm sút

Một số học sinh có thành tích học tập rất tốt trong thời gian học tiểu học. Chúng không cảm thấy học tập là một việc khó khăn và gần như chẳng cần nỗ lực cũng có thể đạt điểm cao. Do có ít bài tập về nhà, chúng có thể hoàn thành ở trường hoặc tranh thủ làm khi ở nhà. Chúng hoàn thành công việc học tập đủ tốt để hiếm khi bị nghi ngờ liệu có cần động viên chúng hay không. Chúng thi đỗ lên lớp một cách dễ dàng. Một số đứa trẻ trong nhóm này có kết quả học tập rất tốt nên giáo viên thường buông lỏng những hành vi sai trái của chúng. Một giáo viên lớp 4 đã viết trên phiếu báo điểm của một cậu bé rằng: “Nếu có thể điều chỉnh hành vi phù hợp với khả năng học tập thì cậu bé sẽ là học sinh xuất sắc nhất trường”.

Clark, một cậu bé 9 tuổi, là một trong những đứa trẻ dường như sở hữu mọi đặc điểm tốt đẹp. Cậu ta đẹp trai, là một vận động viên xuất sắc, tôn trọng giáo viên và dễ dàng tiếp thu những gì được dạy. Bài kiểm tra trí tuệ cho thấy cậu ta nằm trong top trên những người có chỉ số thông minh vượt trội. Việc Clark có tính cạnh tranh cao trong mọi hoạt động là một điểm cộng quyết định nhưng cũng gây ra hạn chế. Một giáo viên chỉ ra “bản tính cạnh tranh” giúp cậu ta xuất sắc trong các môn học ở trường, nhưng cũng lưu ý “tính cách này đôi khi phản tác dụng về mặt xã hội. Cậu ta quá hung hăng với bạn bè của mình”. Clark bắt nạt các học sinh khác và hay gây sự khi chơi các môn thể thao đồng đội đến mức nhiều lần bị khiển trách vì những hành vi thô bạo quá mức. Trong số một loạt các điểm A và “Xuất sắc” có ba điểm U (Không đạt yêu cầu) trong các danh mục “thể hiện sự tôn trọng đối với bạn bè, tài sản và người có thẩm quyền”, “hòa đồng với người khác” và “khả năng cộng tác làm việc”. Giáo viên xếp chỗ Clark cách xa những học sinh còn lại để cậu không làm phân tâm những học sinh khác hoặc ngược lại. Trong một ghi chú trên phiếu báo điểm của cậu bé, cô giáo nhận xét, “Chính hành vi xã hội của cậu bé vẫn là một mối lo ngại và khiến cậu không phát huy hết tiềm năng khi ở trong vị trí là một học sinh và nhà lãnh đạo”.

Clark vẫn còn rất trẻ, và tất nhiên hy vọng là cậu bé sẽ phát triển ra khỏi giai đoạn chỉ mang tính thời điểm này. Nhiều đứa trẻ đã trải qua những thời điểm thực hiện các hành vi gây rối. Tuy nhiên, chúng đã cải thiện nhờ quá trình uốn nắn và kỉ luật từ người khác cũng như học hỏi từ bạn bè. Đây không phải là những gì đang xảy ra với trường hợp của Clark khi cậu bé ngày càng trở nên tồi tệ hơn theo thời gian. Việc Clark có thể vượt qua những vấn đề này trong một khoảng thời gian cũng không có gì đáng nghi ngờ vì cậu ta cực kỳ thông minh, giỏi thể thao, tài năng và rất cuốn hút. Nhưng tất cả những điều đó sẽ chỉ đưa cậu ta ngày càng đi quá xa. Cho dù cậu ta bỏ dở con đường đại học hay vạch ra một con đường hoàn hảo thông qua đại học hay bậc cao hơn cũng vẫn còn là vấn đề cần phải xem xét. Nhưng rõ ràng, rắc rối nghiêm trọng vẫn nằm ở phía trước nếu Clark không thay đổi những tính cách vốn đã khiến cậu ta xung đột với giáo viên và các học sinh khác (cũng như cha mẹ và các anh chị em).

Khi những đứa trẻ như Clark bước vào cấp hai, chúng thường tiếp tục đạt được kết quả học tập tốt ít nhất là trong một khoảng thời gian nào đó. Trải nghiệm ở trường trung học cơ sở là điều mới mẻ và học sinh được tự do đi lại từ lớp này sang lớp khác mà không bị giáo viên giám sát suốt cả ngày. Chúng có thể đạt được kết quả xuất sắc trong giai đoạn phân loại đầu tiên vì nhiều bài tập có các tài liệu ôn luyện và không quá khó. Nhưng khi tính mới mẻ của trường trung học cơ sở mất dần và nhịp độ cũng như độ khó của bài tập tăng lên, một số học sinh không thể tự thích nghi và chất lượng học tập bị giảm sút. Một học sinh nói với tôi rằng, sau khi nhận được điểm xuất sắc trong kỳ thi đầu tiên, cậu ta trở nên “thất vọng” và “vỡ mộng” trong khoảng thời gian sau đó. Điểm của cậu ta giảm từ A xuống C. “Cháu không muốn nhận điểm C. Cháu không phải là học sinh ở mức C”, cậu bé tuyên bố, sau đó thừa nhận, “Cháu đã mất đi động lực và khao khát của bản thân”. Thực tế là cậu bé nhận thấy việc học ngày càng trở nên khó khăn hơn và không thể tiếp tục đạt điểm cao như trước đây với mức nỗ lực tối thiểu. Những thói quen được phát triển ở trường tiểu học không còn mang lại kết quả như bản thân mong đợi. Và cậu ta không thấy được bất kỳ lý do gì để bản thân phải học tập chăm chỉ hơn.

Tôi từng tư vấn cho James, một học sinh lớp 10, và cậu bé nói rằng mình sẽ có một bài kiểm tra lịch sử vào ngày hôm sau. Tôi thấy cậu bé đi từ trường đến văn phòng tôi mà không mang theo sách vở nên đã hỏi cậu ấy về điều đó. Cậu ta trả lời rằng cậu ta biết mình sẽ vượt qua bài kiểm tra và không có lý do gì để xem lướt qua cuốn sách giáo khoa. Khi gặp James vào tuần sau đó, tôi hỏi cậu bé về kết quả bài kiểm tra này. Khi ấy, chủ đề này đã không còn trong tâm trí và cậu bé hỏi lại tôi đang muốn nói về điều gì. James thừa nhận không vượt qua bài kiểm tra, nhưng sau đó lại đổ lỗi cho giáo viên và bài kiểm tra. Thất bại không dạy được cho cậu bé bài học gì. Cậu ta tiếp tục nói về những mục tiêu cao cả của bản thân. Tuy nhiên những thứ đó chỉ thực sự là ảo tưởng chứ không phải mục tiêu. Cậu ta khẳng định bản thân có thể viết “một cuốn sách đáng kinh ngạc”, sẽ trở thành một cuốn sách bán chạy bậc nhất và sau đó nhận được bằng danh dự.

Đây là tư duy của một tên tội phạm. Chỉ nghĩ ra điều gì đó và muốn nó trở thành hiện thực. Khi James nói rằng cậu ta sẽ nhận được điểm A mà không cần học, đây không phải là một cuộc nói chuyện đơn thuần. Cậu ta hoàn toàn quả quyết điều đó sẽ xảy ra. Cậu ta không phải lôi sách vở về nhà và dành hàng giờ ôn tập để chuẩn bị cho bài kiểm tra. Khi nhận lại bài kiểm tra từ cô giáo với số điểm không đạt, cậu ta tái xanh mặt. Điều đó đáng lẽ không thể xảy ra. Giáo viên là một kẻ ngốc. Bài kiểm tra không phản ánh những gì cậu ta đã học được,… Khi mọi thứ không diễn ra như mong đợi thì đó luôn là lỗi của người khác bất kể những kỳ vọng có phi thực tế đến mức nào đi nữa. Đổ lỗi cho người khác là thói quen không có hồi kết: trường học vốn có tiếng không tốt, giáo viên không biết cách dạy, giáo viên không thích anh ta,…

Nếu không đổ lỗi cho người khác, những học sinh này cho rằng họ bị khiếm khuyết, chẳng hạn như khiếm khuyết trong học tập. Perry nói với tôi rằng bài tập ở trường rất khó vì cậu ta mắc “chứng khó đọc”. Không lâu trước khi nói ra điều này, cậu ta cho biết từng bị cuốn hút bởi một cuốn sách dài về kẻ thao túng và giết người Charles Manson. Khi tôi hỏi liệu “chứng rối loạn” của cậu ta có cản trở việc đọc cuốn sách đặc biệt đó hay không thì cậu ta trả lời, “Cháu đọc rất chăm chú nếu đó là chủ đề mình thích. Nếu nó nhàm chán, cháu không biết làm thế nào để tập trung cả”.

Những đứa trẻ như Perry có thể tỏ ra mình là người trách nhiệm bằng cách đưa ra những tuyên bố như: “Cháu không thể tiếp thu nhanh như những người khác. Cháu gặp khó khăn khi làm bài kiểm tra. Cháu rất dễ thất vọng”. Thay vì mắc phải chứng khuyết tật nào đó, sự thật khiến những học sinh như vậy không thể học tập tiến bộ bởi vì chúng không hề tập trung. Chúng gặp khó khăn khi làm bài kiểm tra, nhưng đó là do chúng không chuẩn bị bài học. Chúng cũng dễ nản lòng vì khi không thể nhanh chóng nắm bắt được một chủ đề nào đó, chúng không muốn kiên trì cho đến khi đạt được kết quả tốt.

Những học sinh buông thả chỉ hoàn thành ở mức đủ để vượt qua. Chúng “quên” làm bài tập về nhà hoặc lơ là không nộp bài tập. Các bài tập và bài luận bị vứt xó hoặc làm cẩu thả vào phút chót. Một cậu bé không có điều gì tích cực để nói về công việc học tập ở trường học nhưng lại tuyên bố thực sự thích nó. Khi tôi hỏi tại sao, cậu ta trả lời, “Cháu có thể thoải mái thư giãn đầu óc trò chuyện với bạn bè khi ở trường bởi vì cháu có thể gặp bạn bè ở đó”. Đối với một chàng trai như vậy, các môn học gần như không được quan tâm. Một thiếu niên nói khá nghiêm túc, “Tại sao phải học lịch sử? Tất cả đều đã là quá khứ”. Đây không phải là một lời chỉ trích dành cho trường học. Nếu chương trình đào tạo bao gồm một khóa học về phóng hỏa, phá két và bẻ khóa, những đứa trẻ này có thể cảm thấy bị thách thức và trở nên hứng thú. Một số học sinh buông thả học không gặp vấn đề gì khi đào sâu vào một chủ đề chúng quan tâm. Điều này phù hợp với thái độ của chúng đối với rất nhiều thứ trong cuộc sống: “Nếu tôi thích thì tôi làm, nếu không thích thì quên đi”. Kết quả học tập của chúng hết sức yếu kém, chẳng hạn như ngoại ngữ, đòi hỏi sự chăm chỉ luyện tập, học thuộc và ghi nhớ. Chúng đạt điểm cao trong các môn học chúng yêu thích hoặc cảm thấy đó là một việc làm dễ dàng. Nếu không, chúng hầu như không qua môn.

Có thể hiểu được sự tức giận của các bậc cha mẹ khi đứa con buông thả của họ mang về nhà một tờ phiếu báo điểm với điểm số thấp, đặc biệt là sau khi họ đã quen với mức điểm xuất sắc ở trường tiểu học của con cái. Làm thế nào mà học sinh danh dự của họ lại có thể trượt các bài kiểm tra và bị giáo viên gửi giấy báo về nhà vì không tự giác nộp bài tập?

Van là một mẫu học sinh buông thả điển hình. Trong thời gian học lớp 5, với trí tuệ ở mức trung bình, Van luôn bị điểm D và F. Cha mẹ đã cho cậu bé học lại lớp năm, và cậu bé giải thích đó là “vì con đã không sử dụng hết tiềm năng của bản thân”. Cậu ta sẽ phớt lờ các yêu cầu làm bài tập về nhà, lãng quên bài tập cho đến phút cuối cùng và đôi khi không hoàn thành công việc học tập. Năm lớp 6, cậu ta bị đình chỉ học một thời gian ngắn vì đánh nhau và biện minh là hành động tự vệ. Ở trường cấp hai, cậu ta nhiều lần bị đưa đến văn phòng hiệu trưởng vì cãi lại giáo viên. Cậu ta từng bị đuổi khỏi xe buýt của trường vì nói tục và có hành vi gây rối. Và cậu ta bị đình chỉ học tập một thời gian ngắn vì tội hút thuốc trong nhà vệ sinh. Năm lớp 10, Van nghe được tin đồn bạn gái sẽ chia tay cậu ta vì đã thích một chàng trai khác. “Tin đồn đó khiến tôi phát điên”, cậu ta nhớ lại và đáp trả bằng lời đe dọa giết chết tình địch vào thời điểm đó. Van nói rằng anh ta không bao giờ thực sự có ý định thực hiện lời đe dọa của mình ngoại trừ việc “đang nói cho hả giận”. Tuy nhiên, cậu ta đã bị đình chỉ học một tuần.

Van chia sẻ rằng hoàn thành những bài tập về nhà là việc làm không “ngầu”. Nếu cảm thấy công việc được giao thú vị thì cậu ta mới thực hiện việc đó. Cậu ta chủ động đọc cuốn tiểu thuyết kinh điển Fahrenheit 451 (tên tiếng Việt: 451 độ F) nhưng từ chối đọc những truyện ngắn “chán ngắt, ngớ ngẩn” được yêu cầu trong bộ môn ngôn ngữ Anh. “Những việc đó phải thực hiện theo yêu cầu của người khác”, cậu ta nói với tôi, và nói thêm, “Cháu không phải là một người mạnh mẽ khi phải đối mặt với những việc bản thân không muốn làm”. Cậu ta nghĩ rằng thật vô ích khi “giải những bài toán chẳng bao giờ dùng đến”. Ngược lại, cậu ta chia sẻ, “Hầu hết mọi thứ liên quan đến khoa học đều thú vị”. Cậu ta đắm chìm trong một số dấu mốc lịch sử vì thích “tìm hiểu về các cuộc chiến tranh”. Tuy nhiên, cậu ta bị trượt môn tiếng Tây Ban Nha vì không chịu nỗ lực học tập một ngoại ngữ bắt buộc. Những kỳ vọng của Van vượt xa kết quả thực tế của cậu ta. Ngay sau khi nhận được phiếu báo điểm với điểm C, Van nói với tôi: “Dù sao thì, tất cả những gì cháu quan tâm cũng đã qua. Để đạt điểm A, cháu phải về nhà và học tập chăm chỉ, cháu không muốn làm điều đó”. Với kết quả học tập yếu kém, cậu ta vẫn tưởng tượng mình đang đi bộ trong khuôn viên của một trường đại học hàng đầu cả nước. Với mong muốn tìm ra lời giải cho vấn đề kém tập trung của con trai, cha mẹ của Van đã tìm đến bác sĩ tâm lý để được tư vấn. Khi còn học cấp 3, Van bắt đầu dùng thuốc điều trị chứng “rối loạn tăng động giảm chú ý” (ADHD). Khi nhận thấy việc sử dụng thuốc không giúp cải thiện điểm số hay bất kỳ biểu hiện nào khác trong hành vi của cậu ta, bác sĩ đã ngừng thuốc. Cậu thiếu niên chỉ kịp tốt nghiệp trung học, sau đó kiếm một công việc bán lẻ. Cuối cùng, Van phải vào tù vì bị kết tội trộm cắp tài sản.

Đứa trẻ phạm pháp dường như sẽ có một khoảng thời gian ngắn chú ý tới hầu hết các bài tập trên lớp. Và nếu anh ta được chẩn đoán mắc chứng rối loạn thiếu tập trung thì căn bệnh đó có thể lý giải và bào chữa cho bất cứ điều gì, kể cả hành vi phạm tội. Andy, 16 tuổi, được giới thiệu đến gặp tôi để được tư vấn sau khi cậu ta làm vỡ hộp sọ của một người bạn cùng lớp trong một cuộc ẩu đả ở phòng thay đồ. Mẹ của Andy chuẩn bị sẵn một đống giấy tờ, bao gồm báo cáo từ các đánh giá giáo dục và tâm lý. Các báo cáo có đầy đủ các yếu tố tham chiếu liên quan đến chứng rối loạn ADHD được chẩn đoán gần đây của con trai cô. Thực tế, mọi vấn đề thiếu niên này gặp phải đều là do ADHD, bao gồm điểm thấp, cảm xúc dễ thay đổi, kỹ năng giải quyết vấn đề kém, bốc đồng, né tránh thử thách và sống tiêu cực. Tôi không biết làm thế nào ADHD lại có thể biện minh cho hành vi đe dọa tấn công một cậu bé của Andy, rồi lại tiếp tục đe dọa chỉ trong hơn một giờ sau đó. ADHD dường như cũng không liên quan đến các hành vi phạm tội mà Andy tiết lộ, bao gồm đánh nhau, hàng chục vụ trộm cắp, phá hoại tài sản, trộm cắp tài sản của cha mẹ, trốn học, gọi điện nặc danh, lái xe không bằng lái, uống bia khi chưa đủ tuổi và hút cần sa. Bào chữa cho hành vi của cậu ta bằng chẩn đoán với một hội chứng nào đó không hề giúp cải thiện hạnh kiểm của cậu bé.

Các nhà giáo dục và chuyên gia sức khỏe tâm thần thường quan tâm đến quá trình chẩn đoán, , và công việc này được thực hiện trong suốt quá trình nó được đưa ra để giải thích cho mọi khía cạnh trong hoạt động của một cá nhân nào đó. (Theo JAMA Pediatrics, tỷ lệ chẩn đoán ADHD đã tăng 24% kể từ năm 2001.) [57] Với Andy và những người khác giống như cậu ta, chẩn đoán có thể là một sai lầm. Andy có thể tập trung chú ý khi cậu ta quan tâm đến những gì giáo viên đang trình bày, một việc mà những thanh niên mắc chứng ADHD gặp phải những vấn đề khó khăn rất lớn mới có thể thực hiện. Mẹ cậu ta đã thấy những thời điểm cậu ta dành rất nhiều thời gian vào trò chơi điện tử, và Andy cũng có thể ngồi trong xe hàng giờ liền mà không hề bồn chồn trong những chuyến đi xa đến nơi cậu ta thích. Người cha của một thiếu niên khác kể rằng con trai anh ta, cũng được chẩn đoán mắc chứng ADHD, đã dành trọn hai ngày để lắp ráp một chiếc máy bay mô hình phức tạp, đòi hỏi cậu ta phải tỉ mỉ làm theo các hướng dẫn chi tiết và rắc rối. Tuy nhiên, ở trường, nơi mà cậu ta khinh thường, cậu ta dường như không thể tập trung. Rõ ràng, vấn đề của những đứa trẻ này không xuất phát từ tình trạng bệnh lý mà do không muốn tập trung vào bất cứ điều gì bản thân không thích. Một số thanh thiếu niên như Andy tìm thấy mối quan tâm trong các lớp dạy nghề và sửa chữa sự cố điện, sửa đường ống nước hoặc sửa chữa ô tô. Ngay cả trong những lớp học như vậy, nhiều đứa trẻ phạm pháp cũng gặp nhiều khó khăn và thử thách khi chúng cảm thấy buồn chán, không hứng thú và bị yêu cầu làm một việc gì đó bản thân không mong muốn.

Ở tuổi 16, Warren trải qua một cuộc “đánh giá tâm lý” toàn diện. Cha mẹ cậu ta lo lắng về vấn đề khó tập trung, vô tổ chức và luôn trì hoãn của con trai họ. Warren được đánh giá có chỉ số thông minh ở mức khá cao. Báo cáo đánh giá bao gồm các nhận xét rằng cậu ta dường như không quan tâm đến trường học, mắc những lỗi cẩu thả và né tránh các nhiệm vụ đòi hỏi nỗ lực tinh thần bền bỉ.

Nhà tâm lý học viết rằng Warren có vấn đề trong việc chú ý khi cậu ta cảm thấy chủ đề không thú vị và “bị phân tâm bởi thực tế là cậu ta không muốn thực hiện công việc”. Hơn nữa, anh ta quan sát thấy Warren không cảm thấy bản thân đang gặp bất kỳ vấn đề nào với trường học hay bất kỳ khía cạnh nào trong hoạt động của mình, ngoại trừ thực tế rằng mối quan hệ của cậu ta với cha mẹ đang căng thẳng. Bỏ qua tất cả các yếu tố về mặt động lực và quan điểm, bác sĩ tâm lý chẩn đoán Warren mắc ADHD và đưa ra khuyến nghị về biện pháp và nơi điều trị. Nhà tâm lý học thậm chí còn khuyên rằng cậu ta cần được cung ứng hoạt động ghi chú nhằm hỗ trợ khi ôn thi, và nên được cung cấp bản sao bài giảng của giáo viên hoặc ghi chú của bạn cùng lớp.

ADHD không hề ngăn cản việc đạt được thành tích. Nhiều đứa trẻ gặp phải khó khăn trong việc chú ý muốn đạt được thành tích cao trong học tập. Những đứa trẻ này không có dấu hiệu hành vi chống đối xã hội. Chúng làm bất cứ điều gì cần thiết để cải thiện thành tích học tập, kể cả học thêm ngoài giờ với một gia sư. Hoặc chúng cố gắng bù đắp bằng cách đạt được thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực khác ngoài hoạt động học tập, chẳng hạn như thể thao, nghệ thuật hoặc kỹ năng cơ khí. Một số trường hợp như vậy là nhờ sử dụng thuốc điều trị. Cho đến nay, không có bằng chứng nào cho thấy thuốc được kê đơn cho chứng rối loạn tăng động giảm chú ý làm thay đổi tư duy tội phạm.

Một số độc giả có thể tự hỏi liệu việc chẩn đoán mắc ADHD có khiến một người đối mặt với nhiều nguy cơ thực hiện các hành vi phạm tội hơn hay không. Một số nghiên cứu cho thấy điều này cũng có thể xảy ra. Tuy nhiên, có hai vấn đề với những nghiên cứu như vậy. Đầu tiên, dường như không Có sự thống nhất về cách đánh giá ADHD. Thứ hai, để thực hiện một đánh giá thực sự chính xác, một chuyên gia sẽ phải quan sát đối tượng tham gia trong nhiều nhiệm vụ với các bối cảnh khác nhau, và điều này hiếm khi được thực hiện.

Ngay cả khi những học sinh không có động lực, thiếu chú ý, tiêu cực hoặc có hành vi thù địch, giáo viên vẫn luôn có xu hướng thông cảm và muốn giúp đỡ chúng. Họ vẫn tin rằng những học sinh như vậy bị rối loạn cảm xúc. Chiến lược của họ là phát triển bất kỳ điểm mạnh nào của học sinh và nuôi dưỡng hình ảnh bản thân tích cực. Họ khuyến khích kẻ phạm tội thực hiện những gì anh ta có thể làm tốt và hạ thấp những điểm yếu kém và hành vi ngỗ ngược của anh ta. Bất cứ việc tốt nào đứa trẻ ấy thực hiện đều được nêu lên như một tấm gương cho những đứa trẻ khác. Khi được khuyến khích, giáo viên có thể nới lỏng các hình thức kỷ luật. Cuối cùng, học sinh này có được người giáo viên mà bản thân mong muốn. Cậu ta hiểu rằng giáo viên này sẽ không gây áp lực vì cô ấy muốn giữ bầu không khí hòa bình. Nếu giáo viên có những kỳ vọng cao hơn, mối quan hệ gắn bó sẽ trở nên rạn nứt và học sinh sẽ hành động như thể một đồng minh đã phản bội mình. Cậu ta thực hiện hành vi có lỗi với giáo viên vì bất cứ điều gì đó xảy ra và một lần nữa thể hiện mình là nạn nhân của sự bất công.

Các giáo viên sẽ gặp khó khăn rất lớn khi một học sinh có năng khiếu bị trượt môn. Họ sẽ tăng cường chú ý và hỗ trợ như: kéo dài thời hạn bài tập về nhà cũng như các dự án, giúp đỡ trực tiếp, giới thiệu gia sư và cố vấn cho những học sinh này. Các nhà giáo dục vẫn tận tâm giúp đỡ những đứa trẻ để chúng đạt được thành công. Một số học sinh có thể đạt kết quả tốt nhờ những biện pháp như vậy, trong khi một số đứa trẻ phạm pháp cố gắng lợi dụng chúng.

Brad, 17 tuổi, là một chàng trai cực kỳ có năng lực, tuy nhiên nếu không nhận thấy một chủ đề dễ dàng hoặc đặc biệt hấp dẫn thì cậu ta sẽ từ chối thực hiện công việc đó. Một nhà đánh giá giáo dục nhận xét, “Lý do thực sự khiến cậu ta bị phân tâm là bởi cậu ta không muốn làm việc. Cậu ta tránh những công việc đòi hỏi nỗ lực tinh thần bền bỉ”. Nhà đánh giá này đề nghị sử dụng liệu pháp tâm lý cá nhân. Cha mẹ của Brad đưa cậu đến gặp một nhà trị liệu, nhưng con trai của họ cung cấp rất ít thông tin, sau đó từ chối tham gia thêm bất kỳ buổi gặp gỡ nào nữa. Cậu ta cũng từ chối dùng thuốc điều trị. Vị chuyên viên đánh giá đề nghị Brad dành thêm thời gian để thực hiện các bài kiểm tra, trong đó cậu ta được kiểm tra trong một nhóm nhỏ hoặc phòng riêng để giảm bớt sự phân tâm và có “thời gian nghỉ ngơi” sau mỗi ba mươi phút kiểm tra. Và cậu ta được phép làm lại một công việc để sửa chữa những lỗi bất cẩn trước đó. Nhà trường đã thực hiện những điều kiện hỗ trợ này, tuy nhiên vẫn không thể cải thiện động lực hay kết quả học tập của Brad. Brad tận dụng sự chú ý đặc biệt và tiếp tục tin rằng các giáo viên vẫn thông cảm và nhượng bộ nhiều hơn. Khi cân nhắc nộp đơn vào trường đại học, Brad hoàn toàn không thực hiện các bài tập hằng ngày. Giữa năm cuối cấp, cậu ta thi trượt môn khoa học. Người giáo viên thất vọng nhưng vẫn rất tận tâm của cậu ta gửi thư đến cha mẹ cậu ta rằng, [Brad] biết cậu ta có thể hoàn thành công việc nhưng cậu ta thực sự không muốn nỗ lực. Tôi và cậu bé đã cùng nhau thảo luận về thực tế rằng một người không thể chỉ mãi mong ước những gì bản thân mong muốn. Anh ta phải làm việc để đạt được được đó. Mẹ cậu ta cho biết các giáo viên đã “bắt đầu khen ngợi cậu ta với hy vọng thúc đẩy động lực của thằng bé đi lên”. Có hai vấn đề đối với cách tiếp cận này. Đầu tiên, Brad đã làm một việc nhỏ đáng được khen ngợi. Thứ hai, Brad thiếu động lực bên trong. Một viễn cảnh mờ mịt cho thấy, một khi bước vào đại học (nếu thi đỗ), cậu ta sẽ tự biến thành một quả cầu lửa trong hoạt động học tập.

Chris đăng ký vào một trường trung học dành cho học sinh có năng khiếu về toán và khoa học. Cậu ta rất xuất sắc, là kiểu học sinh có khả năng sẽ được các trường đại học theo đuổi khi nộp đơn. Tuy nhiên, thật khó có thể giải thích, kết quả học tập của Chris không như lời hứa của cậu ta. Vào giữa năm học thứ hai, cậu ta trượt gần như tất cả các môn học, một điều hầu như chưa từng có đối với một học sinh tại trường trung học đặc biệt này.

Các giáo viên cho rằng Chris có thể bị phân tâm, không hoàn thành bài tập về nhà và thường xuyên nghỉ học. Các giáo viên đều cho rằng nguyên nhân của sự mất tập trung đó nằm ở sự chăm chú quá mức của cậu ta vào chiếc máy tính xách tay. Vì trường học có rất nhiều máy tính, nên việc mang máy tính riêng đến trường là điều không cần thiết. Một khuyến nghị được đưa ra là Chris nên để máy tính xách tay ở nhà, nhưng cậu ta đã từ chối thực hiện điều đó.

Hóa ra Chris tập trung vào nội dung khiêu dâm đến mức quên đi bất kỳ điều thực tế nào khác. Kể từ năm 11 tuổi, khi lần đầu tiên khám phá ra nội dung khiêu dâm trên máy tính, cậu ta dường như bị ám ảnh bởi thứ đó. Gần như không thể kéo cậu ta ra khỏi chiếc máy tính, như thể một sợi dây rốn đã được gắn vào nó vậy. Chris đã lưu hàng nghìn hình ảnh và video khiêu dâm bạo lực, với những thứ tàn bạo nhất có thể tưởng tượng được, bao gồm cả hiếp dâm đường hậu môn và cắt bỏ bộ phận sinh dục. Cậu ta cũng đăng tải những bức ảnh của mình trong tư thế quan hệ tình dục, buôn bán nội dung khiêu dâm với những thanh thiếu niên khác và với những người lạ trên khắp thế giới. Ngoài ra, cậu ta còn xâm nhập vào tài khoản Facebook của các học sinh khác. Cha mẹ cậu đã phải chật vật để hạn chế thời gian sử dụng máy tính của con mình. Cậu ta nói dối rằng cần truy cập máy tính để hoàn thành bài tập về nhà. Chris bắt đầu thức đến hai ba giờ sáng để đắm mình trong những bộ phim khiêu dâm. Đôi khi, cậu ta mệt mỏi đến mức phải thuyết phục cha mẹ rằng mình không đủ sức khỏe để đi học. Cậu ta từ chối mọi nỗ lực hạn chế sử dụng máy tính và phàn nàn về việc xâm phạm quyền riêng tư. Một lần, khi mẹ cậu ta lấy được máy tính và cất nó trong tủ khóa, cậu ta đã nổi cơn thịnh nộ và đập phá tài sản trong nhà.

Các giáo viên của nhà trường làm mọi cách để giúp đỡ cậu bé này. Họ bàn bạc với cha mẹ cậu ta, những người đã dẫn cậu ta đến gặp bác sĩ tâm lý để điều trị, một quá trình mà cậu bé này kiên quyết phản đối. Mặc dù điểm trung bình học tập giảm xuống dưới mức có thể để được chấp nhận lại trường, tuy nhiên Chris bị quản chế và vẫn được phép ở lại thay vì bị chuyển đến trường công lập lân cận. Các giáo viên đã cố gắng hết sức để khuyến khích cậu ta, tiếp tục điều chỉnh và kéo dài thời hạn. Chris kiên quyết khẳng định mình không gặp vấn đề gì và từ chối những lời đề nghị được đưa ra.

Rõ ràng, có nhiều học sinh bỏ học vì những lý do không liên quan đến hành vi phạm tội. Nhiều học sinh không phải là tội phạm nhưng vẫn không có động lực để học tập. Chúng né tránh bài tập về nhà, ít quan tâm đến điểm số và đặc biệt không quan tâm đến các môn học truyền thống ở trường. Chúng có thể đăng ký vào các chương trình dạy nghề và phát triển các kỹ năng riêng biệt. Nhìn bề ngoài, chúng có thể giống với những tên tội phạm mà tôi đang mô tả, nhưng tính cách thì hoàn toàn khác. Chúng thường thừa nhận sai lầm và học hỏi từ những sai lầm đó. Chúng hiểu rằng đôi khi cần phải làm những việc chúng không muốn làm. Chúng chứng tỏ bản thân đáng tin cậy bằng cách nói về những người mình đang ở cùng và những gì mình đang làm.

“Công việc” của một đứa trẻ là đi học. Ở bất kỳ công việc nào, ai cũng sẽ đều phải làm những việc họ không hề mong muốn. Một tên tội phạm khi còn nhỏ đã vượt rào, đổ lỗi cho người khác về những vấn đề của bản thân, nói dối về những gì mình đã làm hoặc không làm được và đòi hỏi người khác đáp ứng yêu cầu của mình hơn là mình phải đáp ứng yêu cầu của người khác. Những kỳ vọng của cậu ta về người khác là phi thực tế và cậu ta trở nên tức giận khi những kỳ vọng đó không được đáp ứng. Bỏ học trở thành một lối sống, không chỉ với trường học mà còn với các môn thể thao, trường học tôn giáo, các câu lạc bộ và hoạt động có tổ chức, các bài học âm nhạc - bất cứ điều gì đòi hỏi nỗ lực bền bỉ và làm việc theo ý người khác. Cảm giác phấn khích mà cậu ta tìm kiếm không thể tìm thấy trong một thế giới sống có trách nhiệm. Đứa trẻ chối bỏ trường học chứ không phải trường học từ chối cậu ta.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của stanton e. samenow