Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 1

Lượt đọc: 928 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Học sinh quậy phá bỏ học

Một số học sinh phạm pháp rất khó quản lý ngay từ khi mới đi học. Nhiều giáo viên có xu hướng cảm thông với chúng và coi những hành vi sai trái đó như những lời kêu gọi muốn được chú ý. Với suy nghĩ rằng trẻ em đôi khi cần thời gian để thích nghi với trường học nên người giáo viên này kiên nhẫn, cố gắng hướng dẫn những đứa trẻ vượt qua bất kỳ khó khăn nào. Vấn đề là những thay đổi không bao giờ thực sự xảy ra và lòng tốt của giáo viên bị lợi dụng như một điểm yếu. Sự thông cảm bắt đầu vơi đi khi đứa trẻ này lớn lên và hành vi của nó ngày càng phá phách. Một số thanh niên nổi cơn điên cuồng trộm cắp và phá hoại. Nếu chúng muốn một thứ gì đó của một học sinh khác, chúng sẽ tự mình thực hiện mong muốn đó. Những món đồ biến mất khỏi bàn làm việc, phòng ngủ, tủ khóa và các đồ vật biến mất khỏi tủ đựng đồ. Tùy thuộc vào mức độ an ninh, bãi đậu xe có thể trở thành một kho chứa những chiếc xe không khóa để đánh cắp. Những đứa trẻ nhanh chóng tìm khách hàng để tiêu thụ những món đồ đánh cắp nhằm phủi đi những món hàng nóng khỏi bản thân. Các giao dịch ma túy với lượng khách ngày càng nở rộ. Hành vi xâm hại tài sản xảy ra trong giờ học và giờ tan tầm. Hành vi phá hoại gây ra thiệt hại rất lớn khi những đứa trẻ hư hỏng đục khoét bàn, vẽ bậy lên những tuyến đường, xé sách vở, làm vỡ cửa sổ và phá hoại đồ đạc. Các giáo viên nhận thấy rằng việc đối phó với một hoặc hai trong số những hành vi ngỗ ngược này còn khó hơn dạy cả một lớp với những học sinh ham học.

Một đứa trẻ rất khó tập trung vào bài học môn toán vào buổi sáng sau khi nó vừa bị quỵt tiền ăn trưa và bị cảnh báo tốt hơn hết là nó nên có nhiều tiền hơn vào ngày hôm sau. Một cậu học sinh gần như không thể học tập khi bị đe dọa cho ăn đòn nếu không nộp tiền để được “bảo kê”. Một số đứa trẻ làm mọi cách để tránh sử dụng nhà vệ sinh ở trường học vì sợ bị trở thành nạn nhân tại những nơi không được giám sát. Nỗi sợ hãi rình rập quanh những hành lang trường học, nơi thường xuyên xảy ra các vụ tống tiền và đánh nhau. Nếu tồn tại một số lượng học sinh phạm pháp nhất định tập trung tại một cơ sở thì trường học sẽ bị ảnh hưởng đến mức như thể đang bị kìm hãm. Toàn bộ quá trình giáo dục trở thành con tin cho những đứa trẻ tạo ra bầu không khí sợ hãi và cản trở việc học hành.

Một ngôi trường sẽ phải lựa chọn khía cạnh nào đáng để tập trung các nguồn lực quý giá giữa một loạt các vấn đề nhức nhối. Có thể tạm thời bỏ qua những hành vi không gây rối loạn nghiêm trọng hoặc lâu dài. Buông lỏng giám sát học sinh là một trong những vấn đề mà các ngôi trường thường không nghiêm khắc trong vấn đề đưa ra hình phạt, ít nhất là cho đến khi nó trở thành một hình thức thường xuyên xảy ra. Khi nhà trường thực hiện các biện pháp xử lý thì đứa trẻ đó đã có thể phủ nhận việc trốn học, tự viết giấy xin phép nghỉ học và giả mạo chữ ký của phụ huynh. Cha mẹ không biết rằng con mình trốn học, cũng như nó sử dụng thời gian như thế nào trong thời gian đó.

Một số nhân viên nhà trường phải đối mặt với khó khăn trong công tác quản lý các học sinh gây rối. Nếu phải kiềm chế hoặc cách ly một đứa trẻ bạo lực, họ có nguy cơ gặp rắc rối với lãnh đạo nhà trường hoặc phụ huynh học sinh, bị đưa ra tòa hoặc bị bạn bè của kẻ phạm tội hành hung. Tuy nhiên, họ cũng có thể gặp rắc rối nếu không có hành động gì khi một đứa trẻ nào đó bị xâm hại. Đình chỉ học tập giúp tạm thời xoa dịu tình hình, tuy nhiên đuổi học vĩnh viễn một học sinh gây rối thường hiếm khi xảy ra, do đó khó có thể là giải pháp khả quan. Nỗ lực vận động một đứa trẻ như vậy tham gia một chương trình hoặc đến cơ sở đặc biệt gặp phải những cáo buộc rằng nó đang bị kỳ thị, bị tước đi cơ hội và bị ruồng bỏ.

Trường học thường không tố giác hành vi tội phạm cho cơ quan công an. Họ muốn xử lý các vấn đề trong phạm vi nội bộ và tránh công khai. Lý do là bởi các lãnh đạo nhà trường không coi hành vi như vậy là một hành vi phạm tội. Lý do thứ hai là tố giác tội phạm có thể khiến một số cơ quan bên ngoài tiến hành công tác điều tra độc lập, từ đó gây rắc rối cho nhà trường. Lý do thứ ba là một vụ việc như vậy sẽ làm xấu hình ảnh cho cả ngôi trường cũng như ban giám hiệu.

Nhiều trường học hiện nay có những nhân viên thực thi pháp luật ngay tại cơ sở. Ví dụ như tại Washington, D.C., các trường công lập và bán công có 102 “sĩ quan cảnh sát tại chỗ” được vũ trang ngay trong khuôn viên nhà trường và 253 bảo vệ không vũ trang trong năm học 2012-2013. [52] Sự hiện diện của các nhân viên thực thi pháp luật tạo thành một tấm lưới ngăn chặn đối với một số hành vi phạm tội. Họ có thể ngăn chặn các cuộc xung đột cũng như bắt giữ đối tượng kịp thời. (Trong năm 2011, cảnh sát thuộc các ngôi trường tại D.C. đã thực hiện gần năm trăm vụ bắt giữ.) Một số trường có hệ thống giám sát an ninh giống như sân bay và học sinh phải đi qua mỗi khi vào trường.

Nhiều trường học, đặc biệt là tại các khu vực nội thành, giống các khu vực chiến sự hơn là các trung tâm học tập vì có những kẻ phạm pháp cai quản địa bàn và khẳng định ai mới là người phụ trách ở đó. Năm 2013, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA) công bố những phát hiện từ cuộc khảo sát trên 2.998 giáo viên từ bậc mẫu giáo đến lớp 12. [53] 94% số giáo viên này cho biết họ trở thành nạn nhân theo những cách thức như: 44% bị tấn công thể xác, 72% bị quấy rối, trong khi 50% bị trộm cắp hoặc thiệt hại tài sản tại trường học. Bạo lực đối với giáo viên đã trở thành một “cuộc khủng hoảng quốc gia”.

Tờ Baltimore Sun số ra ngày 16 tháng 2 năm 2014 đưa tin, trong năm học vừa qua, đã có 873 trường hợp bị đình chỉ học tập và tấn công nhân viên. Báo cáo này nhấn mạnh thực tế rằng, nhân viên tại các trường công lập bị tấn công thường xuyên hơn những nhân viên khác tại các cơ quan khác tại thành phố Baltimore, ngoại trừ nhân viên thuộc sở cảnh sát. [54]

Một bài báo của APA năm 2013 đã đề xuất các biện pháp ngăn chặn bạo lực đối với giáo viên. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, “Preventing Violence Against Teachers”, Monitor on Psychology, tháng 11 năm 2013, 61-64. [55] Một biện pháp can thiệp trong số đó là thu hút học sinh tham gia “các hoạt động tích cực” trong cộng đồng để nâng cao giá trị bản thân. Mặc dù phương pháp này có thể hiệu quả với nhiều học sinh, tuy nhiên rất ít học sinh phạm pháp muốn tham gia vào các tổ chức cộng đồng. Bài báo này tiếp tục cho biết, “các biện pháp can thiệp vào khủng hoảng tại trường học” mang lại “những thay đổi tích cực từ quan điểm của giáo viên và nhân viên… nhưng không phải từ quan điểm của học sinh”. Nói tóm lại, nhiều học sinh phạm pháp từ chối bất cứ thứ gì được đưa ra vì nó không phù hợp với sở thích của chúng.

Một số hệ thống trường học áp dụng “chính sách không khoan nhượng” để đối phó với những học sinh mang ma túy hoặc vũ khí vào sân trường. Các chính sách này ngày càng gây ra nhiều tranh cãi. Rất ít người phản đối việc cần phải có những biện pháp mạnh mẽ để xử lý những học sinh đe dọa môi trường an toàn, tuy nhiên một số người chỉ trích đã lên án những chính sách này là thái quá và không hiệu quả. Một lực lượng đặc nhiệm do APA ủy quyền tuyên bố: “Các chính sách không khoan nhượng có thể tạo ra hoặc làm gia tăng một số hậu quả tiêu cực liên quan đến sức khỏe tâm thần cho thanh thiếu niên do sự gia tăng tình trạng xa lánh, lo lắng, chối bỏ của học sinh và phá vỡ mối quan hệ lành mạnh của người lớn”. Mặc dù điều này có thể đúng trong một số trường hợp, tuy nhiên hãy chú ý tới những đứa trẻ chúng ta đang xem xét. Ai xa lánh ai? Những đứa trẻ phạm pháp bị giam hãm trong cuộc chiến với những người muốn giáo dục chúng. Một giáo viên nói với tôi, Brian có thái độ kiểu “Tôi thách bà dạy được tôi đấy”. Khi còn nhỏ, tội phạm xa lánh chính những người muốn dạy dỗ và giúp đỡ mình. Anh ta không quan tâm đến việc xây dựng “mối quan hệ lành mạnh của người lớn”. Chắc chắn là bất kỳ chính sách nào cũng có thể bị áp dụng sai lệch. Đình chỉ học một đứa trẻ bảy tuổi vì nó cắn chiếc bánh ngọt thành hình khẩu súng và chĩa vào bạn cùng lớp là một phản ứng thái quá, và hình phạt tương tự với một thiếu niên mang aspirin trong túi vào sân trường cũng giống như vậy. Nhưng chắc chắn, sẽ cần đến một số hình thức “không khoan nhượng” để xử lý những học sinh đe dọa đến sự an toàn của cộng đồng.

Về mặt học tập, hầu hết những đứa trẻ phạm pháp đều không phát huy hết tiềm năng của chúng. Do áp lực xã hội mạnh mẽ và luật định cần phải đến trường, một số học sinh duy trì việc đến trường trong một khoảng thời gian đủ để tránh gặp phải rắc rối với phụ huynh, giáo viên, nhân viên quản lý học sinh trốn học và tòa án. Khi chúng đến tuổi không bắt buộc phải đi học theo quy định của pháp luật, nhiều người sẽ bỏ học.

Tỷ lệ mù chữ cao trong giới tội phạm thường được cho là do họ bị khiếm khuyết trong học tập. Giả thuyết được đưa ra như sau: Khi đứa trẻ bị khiếm khuyết trong học tập, nó thất bại, chán nản, bực bội và giảm đi lòng tự trọng. Cậu ta không nhận được sự quan tâm tích cực và sẽ bù đắp điều đó bằng cách tìm kiếm theo những hướng tiêu cực. Có lẽ một bộ phận nhỏ trẻ em vi phạm thực sự bị khiếm khuyết trong khả năng học tập, tuy nhiên vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy mối liên hệ nhân quả giữa tình trạng khiếm khuyết học tập và hành vi phạm pháp ở tuổi vị thành niên. Lý do khiến hầu hết những đứa trẻ phạm pháp mù chữ là do chúng không chịu học hành chứ không phải bị khiếm khuyết trong học tập. Hãy xem những yêu cầu cần có với một bài học đọc - sự chú ý, tập trung, rèn luyện, kiên trì với một nhiệm vụ dường như tẻ nhạt hoặc khó khăn.

Khi còn nhỏ, tội phạm luôn cho rằng mình thông minh hơn những người khác. Anh ta nổi cáu khi bị yêu cầu phải làm gì và phải thực hiện theo mệnh lệnh của người khác. Điển hình là câu nói của một cậu bé từng nói với tôi: “Cháu có thể đạt được tất cả điểm A nếu muốn, nhưng trường học rất tệ”. Những người trẻ này thực hiện công việc ở mức tối thiểu và gần như không quan tâm đến kết quả cuối cùng. Chúng tự xác định tiêu chuẩn cho những gì có thể chấp nhận được. Một số kẻ phạm pháp thậm chí quyết định không thực hiện các yêu cầu được giao. Một anh chàng khẳng định, “Tôi thấy không cần thiết phải làm bài tập về nhà và tôi nói với giáo viên tôi sẽ không làm”.

Các hệ thống trường học gặp phải một vấn đề lớn khi tiếp nhận những học sinh thường xuyên quậy phá. Một hoặc hai học sinh như vậy có thể cướp đi cơ hội học tập của cả một lớp. Hầu hết mọi giáo viên đều đã có kinh nghiệm xử lý một đứa trẻ hoặc một cậu thiếu niên ngỗ ngược luôn đưa ra yêu cầu bất thường về thời gian của chúng. Đây không phải là một đứa trẻ nhiều lời, một “chú hề trong lớp”, hay đứa trẻ luôn đòi hỏi phải có sự thúc giục liên tục mới chịu hoàn thành dự án hoặc nộp bài tập về nhà. Tồi tệ nhất, những học sinh này thực hiện hành vi vi phạm ngay trong lớp học - trộm cắp, hành hung và phá hoại. Chúng chiếm đoạt thời gian, sự chú ý và các nguồn lực nên được dành cho các học sinh khác trong lớp. Chúng không phản ứng với các biện pháp kỷ luật thông thường hoặc những nỗ lực phi thường để thu hút chúng vào các môn học. Ban giám hiệu không phải lúc nào cũng ủng hộ những giáo viên vốn đang phải dẫn dắt cho những cá nhân ngoan cố này. Một giáo viên nói với tôi rằng các lãnh đạo sẽ nói với giáo viên, “Nếu một học sinh cư xử không đúng mực trong lớp học thì giáo viên phải chịu một phần trách nhiệm”. Cô ấy cho rằng, với thái độ như vậy, các nhà quản lý giáo dục sẽ “để những đứa trẻ ngỗ ngược tiếp tục ở lại trường và khủng bố những đứa khác”.

Đình chỉ học những đứa trẻ có vấn đề nghiêm trọng về hành vi khiến chúng không được giám sát khi ở nhà hoặc ngoài đường phố do cha mẹ chúng thường bận bịu đi làm. Nếu được xếp vào những nơi được coi là trường học thay thế với những thành viên giống như chúng thì chúng sẽ tiếp tục gây rối. Thông thường, những trường học như vậy là “bãi rác” cho học sinh.

Tuy nhiên việc cho phép những học sinh này trở lại lớp học bình thường và cản trở những học sinh ham học lại là một trò hề. Sẽ là một sự bất bình khủng khiếp khi để những đứa trẻ chăm chỉ và ngoan ngoãn đến trường mỗi ngày phải lo sợ bị bắt nạt, bị giật tiền ăn trưa hoặc bị đe dọa theo nhiều cách khác. Đối với một số ít học sinh gây rắc rối, việc giới thiệu chúng đến các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần có thể mang lại tác dụng. Nhiều khả năng những đứa trẻ này sẽ từ chối bất cứ sự hỗ trợ nào từ các nhà cố vấn. Theo quan điểm của chúng, vấn đề không nằm ở bản thân chúng mà nằm ở những người khác.

Đầu năm 2014, Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ Eric Holder tuyên bố rằng các chính sách không khoan nhượng khiến học sinh bị đình chỉ học “làm gián đoạn quá trình học tập” và góp phần đưa chúng từ “trường học đến nhà tù”. [56] Ông Holder cho rằng những biện pháp như vậy có tác động xấu đến giới trẻ, “làm tăng khả năng gặp phải các vấn đề pháp luật dành cho lứa tuổi vị thành niên và các hệ thống tư pháp hình sự trong tương lai”. Có phải trật tự nguyên nhân kết quả đang bị đảo ngược? Không phải các chính sách làm gián đoạn quá trình học tập mà chính những học sinh gây ra rắc rối đòi hỏi cần phải có các chính sách này. Cũng không phải các chính sách này khiến những người trẻ tuổi bị bắt giữ. Có lẽ đã có sai sót khi áp dụng các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc đối với hành vi sai trái nhỏ bé. Tuy nhiên, khi hành vi phạm tội xảy ra trong trường học, các nhà quản lý cần phải có các động thái về mặt pháp lý.

Nếu những học sinh gây nguy hiểm cho người khác được giáo dục trong các trường công lập thì cần phải đầu tư phát triển các chương trình với cơ chế giám sát chặt chẽ trong một môi trường mang tính quản lý chặt chẽ, trong đó một giáo viên và một phụ tá chịu trách nhiệm quản lý một số lượng nhỏ học sinh có thể trở thành tội phạm trong tương lai. Nếu những học sinh này cải thiện hành vi, chúng có thể được phép quay trở lại lớp học chính thống. Các biện pháp như vậy thường rất tốn kém. Tuy nhiên việc chi tiêu bất kỳ khoản tiền nào cần thiết cũng sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho quá trình giáo dục con em chúng ta và có thể thay đổi những đứa trẻ có vẻ khó sửa khác.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của stanton e. samenow