Chẩn đoán sai một con người nguy hiểm
Tôi nhận được một cuộc điện thoại từ luật sư bào chữa vụ án hình sự yêu cầu tôi đánh giá Clay, 32 tuổi, bị bắt vì tội ăn trộm. Tôi gần như không thể ngờ rằng lần làm việc này sẽ bắt đầu một mối quan hệ bốn năm đầy biến động với một trong những kẻ khó quản lý và nguy hiểm nhất tối từng gặp. Clay là một bệnh nhân quen thuộc của các chương trình điều trị ngoại trú và nội trú tâm thần, các trung tâm cấp cứu, các chương trình điều trị ban ngày và là người thường xuyên bị giam giữ trong nhà tù quận. Mặc dù anh ta không còn sống với cha mẹ già yếu và đãng trí của mình, tuy nhiên họ vẫn luôn ủng hộ việc điều trị cho anh ta. Họ đã phải trải qua rất nhiều khổ cực khi anh ta còn nhỏ và lần đầu tiên họ tìm cách điều trị sức khỏe tâm thần cho con trai của mình khi anh ta lên 9 tuổi. Họ có một cậu con trai khác đã trưởng thành, không gặp phải vấn đề nào đặc biệt và sống một cuộc sống độc lập có trách nhiệm.
Với thái độ kiên quyết, Clay bắt đầu phản đối việc đi học từ năm lớp 4, biến hầu hết các yêu cầu của cha mẹ thành chiến trường, bắt đầu sử dụng nhiều loại ma túy khi còn là một thiếu niên và nổi cơn thịnh nộ khi bị bố mẹ chửi mắng do đục lỗ trên tường ở nhà. Vừa tốt nghiệp trung học, Clay rất thông minh và sáng tạo, nhưng vô tổ chức và dễ bị phân tâm, hiếm khi làm bài tập, theo đuổi sở thích hay mối quan tâm nào. Anh ta từng làm nhiều công việc nhưng hoặc bỏ dở vì chán nản hoặc bị sa thải vì cáu kỉnh, hay đe dọa và nói chung là không muốn làm theo lời người khác.
Bởi vì Clay không muốn điều trị nên các chuyên gia sức khỏe tâm thần gặp anh ta chủ yếu trong các thời điểm anh ta phát bệnh và được cha mẹ đưa đến gặp bác sĩ hoặc theo yêu cầu của quy trình pháp lý. Cũng có một số thời điểm anh ta đồng ý điều trị vì cuộc sống tưởng như vô vọng. Trong quá trình điều trị sức khỏe tâm thần không thường xuyên của anh ta, các bác sĩ tâm thần và nhà tâm lý học chẩn đoán Clay mắc nhiều chứng bệnh khác nhau và các bác sĩ đã kê gần hai chục loại thuốc theo các đánh giá của họ. Hồ sơ của Clay cho thấy, vào từng thời điểm khác nhau, anh ta có những mong muốn giết người, tự sát, tâm thần, lo lắng, hoang tưởng và một kẻ lạm dụng chất kích thích. Nói tóm lại, anh ta dường như là một cuốn sách giáo khoa di động về tâm thần học.
Clay đã trải qua hai tháng liên tiếp trong các đơn vị điều trị tâm thần tại nơi cư trú. Điều đó hiếm khi xảy ra trừ khi một người tự bỏ tiền túi ra hoặc có bảo hiểm đặc biệt. Các chẩn đoán của anh ta trải dài từ tâm thần phân liệt, một căn bệnh mãn tính có khả năng làm tê liệt, cho đến chứng rối loạn lo âu đôi khi phải dùng thuốc điều nhẹ và điều trị ngoại trú ngắn hạn. Mặc dù Clay được chẩn đoán mắc một loạt các rối loạn tâm thần, tuy nhiên một số nhân viên bệnh viện quan sát anh ta trong ca làm việc kéo dài 8 tiếng nhận ra rằng hành vi của anh ta xuất phát từ những lựa chọn có chủ ý chứ không phải do bệnh tâm thần. Không có gì ngạc nhiên khi Clay là một kẻ bịp bợm vô cùng khôn khéo khi có thể thường xuyên rời khỏi các cơ sở điều trị nội trú để chống lại các chỉ định y tế. Dưới đây là tóm tắt quá trình nhập viện và điều trị của anh ta.
- Hai tuần trong bệnh viện ở tuổi 17 vì lo lắng và mất ngủ.
+ Chẩn đoán: Phản ứng lo lắng, tính cách thụ động, phụ thuộc
+ “Phụ thuộc quá mức và miễn cưỡng chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình”.
• Clay bị mọi người thúc giục thực hiện các việc làm hướng tới sự độc lập, ví dụ, tìm việc làm; phản ứng của anh ta là tức giận và rời khỏi bệnh viện bất chấp lời khuyên của bác sĩ.
- Ba năm sau. Hai tuần trong bệnh viện sau một vụ đánh nhau với mẹ của anh ta (người mà anh ta mô tả là “đáng sợ” nhưng “là một người tốt”), sau đó dùng thuốc ngủ quá liều. Ảo tưởng về tính chất tôn giáo đã được báo cáo.
+ chẩn đoán: Tâm thần phân liệt, rối loạn lo âu
+ sống thu mình, hoài nghi, từ chối trả lời câu hỏi; trở nên cáu kỉnh khi bị hỏi nhiều lần; nói rằng mọi người đã theo dõi anh ta và ăn cắp tiền của anh ta.
+ Nhân viên xã hội báo cáo rằng anh ta “phần nào đó giống như một người tham gia vào cuộc chơi và có thể thao túng mọi người”.
+ Khuyến nghị nhập viện dài hạn “để bảo vệ bản thân và vì không có khả năng đối phó”.
+ Được chuyển đến bệnh viện khác theo hình thức nhập viện không tự nguyện và nằm viện ba tháng.
+ Một năm sau. Hai tháng rưỡi trong bệnh viện. Bị bắt sau khi báo cảnh sát vì xảy ra xung đột với cha anh ta (người mà anh ta gọi là “quá khắt khe nhưng là một người tốt”). Cha anh ta bảo lãnh anh ta ra tù để anh ta có thể nhập viện.
+ Chẩn đoán: Tâm thần phân liệt thể không biệt định cấp tính, rối loạn nhân cách ranh giới
• Có một bản ghi chép cho thấy Clay có dấu hiệu “tự kỷ”, nhưng không có chi tiết nào được cung cấp.
- Ba năm sau. Nhập viện: phàn nàn về ảo giác thính giác, lú lẫn và có ý định tự tử.
+ Chẩn đoán: Tâm thần phân liệt thể không biệt định cấp tính, rối loạn nhân cách ranh giới + Clay rời khỏi bệnh viện bất chấp chỉ định của bác sĩ.
- Cuối năm đó. Nhập viện: uống thuốc quá độ, say xỉn, chán nản, tưởng mình sắp chết; phàn nàn về ảo giác và ảo tưởng.
+ Chẩn đoán: Rối loạn phân liệt cảm xúc
• Clay rời khỏi bệnh viện bất chấp chỉ định của bác sĩ.
* Một năm sau đó. Nhập viện (tự nguyện) trong ba tuần.
+ Chẩn đoán: Trầm cảm cấp tính, rối loạn nhân cách không đầy đủ
- Một năm sau. Nhập viện vì trầm cảm; sử dụng quá liều thuốc theo đơn và rượu.
+ chẩn đoán: Trầm cảm nặng tái phát
+ Clay nói rằng anh ta không còn ý nghĩ tự tử và đăng ký ra viện trái với chỉ định y tế.
+ Một năm sau. Bị giam giữ không tự nguyện hai ngày tại một cơ sở điều trị tâm thần sau khi có ý nghĩ giết vị hôn thê cũ của mình.
+ Chẩn đoán: Rối loạn nhân cách, loại trừ thụ động/phụ thuộc
+ “Anh ta hợp tác và có định hướng trong mọi lĩnh vực. Anh ta phủ nhận vấn đề ảo giác, ảo tưởng và những ý kiến tham khảo. Hiểu biết và phán đoán xã hội của anh ta rất tốt”.
+ Một lần nữa, anh ta lại chống lại các chỉ định y tế.
* Bốn năm sau. Nhập viện thông qua các dịch vụ cấp cứu do báo cáo về chứng trầm cảm và suy nghĩ tự tử mơ hồ. Nằm viện ba tuần.
+ Chẩn đoán: Rối loạn điều chỉnh với các biểu hiện hỗn hợp
+ Vấn đề được xác định là “giải quyết không hiệu quả”.
+ Anh ta cho biết, “Tôi muốn mua một khẩu súng và tự sát”. Bệnh án của bệnh viện cho thấy [Clayl “kiên quyết phủ nhận việc có bất kỳ ý định tự tử nào”.
+ Phàn nàn về vấn đề xuất tinh sớm.
Các chuyên gia sức khỏe tâm thần gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xác định vấn đề đang xảy ra với một người như Clay cũng như trong quá trình thể hiện một bức tranh phức tạp như vậy, đặc biệt khi những người đang cố gắng giúp anh ta hầu như không có cơ hội tiếp xúc với anh ta trong thời gian dài anh ta sinh sống bên ngoài cơ sở điều trị nội trú. Tôi đã có cơ hội đó. Sau khi đánh giá Clay, tôi được yêu cầu điều trị cho anh ta với hình thức là một bệnh nhân ngoại trú.
Clay là một người nói năng rõ ràng, minh mẫn và kiềm chế trong biểu hiện cảm xúc của bản thân. Tôi chưa bao giờ thấy anh ta trong tình trạng rối loạn tinh thần. Trong cuộc gặp đầu tiên của chúng tôi, anh ta thừa nhận,“Tôi luôn là một người khó ở khi sống chung. Có những lúc tôi chọn cách sống ích kỷ”. Clay gần như thể hiện ngay tức thì kiểu hành vi phá hoại và phạm pháp, bao gồm hầu hết các hành vi phạm tội khác nhau: trộm cắp, giả mạo, đốt phá, lạm dụng chất kích thích, buôn bán ma túy, ngược đãi động vật, hành hung, vi phạm giao thông, gây mất trật tự và hủy hoại tài sản. Anh ta cũng thừa nhận hành vi kích dục khi tiếp xúc thân thể với con của người bạn gái. Đôi khi, Clay chán nản đến mức suy nghĩ về cách thức để tự sát và cũng đủ tức giận đến mức suy nghĩ về việc giết người phụ nữ đã phá vỡ hôn ước giữa họ. Đối với vấn đề tự sát, Clay đảm bảo với tôi, “Tự sát là điều tôi không bao giờ làm. Tôi lo sợ về kiếp sau của mình”.
Clay tự nguyện chia sẻ, “Ý tưởng mà tôi nghĩ ra trở thành hiện thực”. Anh ta giải thích rằng anh ta hình thành ý tưởng về cách thức các tình huống cụ thể diễn ra, sau đó hành động trên cơ sở ý tưởng đó. Đây không phải là dấu hiệu của một quá trình suy nghĩ loạn thần mà là bằng chứng về những kỳ vọng không thực tế của Clay về việc mọi người sẽ làm bất cứ điều gì anh ta mong muốn. Mẹ anh ta nói với tôi, “Tất cả những gì nó quan tâm chỉ là chính bản thân mình. Thật tội nghiệp. Nó không thể thoát ra khỏi chính mình”.
Clay đã thể hiện các hình thái cực đoan của tất cả các hình mẫu được đưa ra trong cuốn sách này. Nếu anh ta không thích một công việc, một con người, một hoạt động hoặc điều gì đó liên quan đến việc nằm viện, anh ta sẽ tức giận và bỏ đi. Anh ta nói về Tổ chức Alcoholics Anonymous, “Tôi chỉ tức giận với A.A. Tôi không thích những gì mình nghe thấy. Tôi rời khỏi đó với cảm giác như đang uống rượu”. Anh ta tố cáo một chương trình điều trị ban ngày là “nhảm nhí” và “lãng phí thời gian một cách phù phiếm” vì những người tham gia tồi tệ hơn anh ta. Một điểm cộng là anh ta thấy nơi đây là “một nơi rất tốt để tán tỉnh”. Clay hòa đồng với mọi người miễn là họ làm theo ý muốn của anh ta. Nếu không, họ nhanh chóng trở thành đối thủ mà anh ta cảm thấy không có nghĩa vụ liên quan. Khi được hỏi suy nghĩ về việc cha mẹ vẫn hỗ trợ tài chính khi anh ta đã trưởng thành, Clay ung dung đáp,“Tôi chẳng hề bận tâm tới việc đó. Tôi đã thực sự cố gắng”. Vị hôn thê cũ của anh ta nói với tôi, trước khi hủy bỏ việc đính hôn, mối quan hệ của họ đã xấu đi vì Clay không đáp ứng nhu cầu tình cảm của cô ấy. Bị đánh đập trong một lần nổi giận của Clay, người phụ nữ trẻ này đã cảm thấy lo sợ khi trốn thoát khỏi mối quan hệ đó. “Tôi không có tình yêu như tôi đã từng có trước đây”, cô ấy nhận xét và nói thêm, “Anh ta nói rằng anh ta không thuộc về tôi. Anh ta chỉ sử dụng cơ thể của tôi. Tôi phải đi con đường của riêng tôi. Tôi sợ rằng anh ta sẽ trả thù vì anh ta muốn tiếp tục mối quan hệ đó”.
Clay thừa nhận cơn thịnh nộ là vấn đề lớn nhất của anh ta. Anh ta cho biết đôi khi chúng xảy ra nhiều lần trong ngày khiến anh ta kiệt sức. Sự tức giận của anh ta sẽ tăng lên đến mức khiến anh ta mơ tưởng về việc giết người. Anh ta nói về việc dừng lại ở một cửa hàng tạp hóa nơi anh ta nhìn thấy một nhân viên canh giữ nhà tù mà anh ta nhớ ra khi còn ngồi tù. Lái xe đến văn phòng của tôi, anh ta ngấu nghiến ý tưởng tra tấn và giết chết “tên khốn láu cá đó”.
Clay thường xuyên phàn nàn về cảm giác buồn chán. Một ngày nọ, anh ta tuyên bố,“Tôi chán. Tôi muốn làm điều gì đó phạm pháp”. Và vì vậy anh ta đã đi đến một khu vực nổi tiếng là hang ổ của gái mại dâm. Vào một số thời điểm khác, anh ta cảm thấy thất vọng và than thở, “Tôi mắc phải chứng bệnh này mà không có cách nào chữa khỏi. Nếu may mắn, tôi sẽ chết trong trại tâm thần hoặc nhà tù”. Anh ta cảm thấy “bị mắc kẹt trong sự tồn tại trống rỗng, vô nghĩa của chính mình”.
Clay thay đổi quan điểm của bản thân về giá trị của các loại dược phẩm. Thông thường, anh ta coi chúng là thứ vô giá trị, “không phải là câu trả lời cho vấn đề”. Thỉnh thoảng anh ta thừa nhận nó đã giúp anh ta ngủ được và làm dịu đi ý nghĩ giết người. Clay hết sức khó chịu với các tác dụng phụ của một số loại thuốc và khẳng định thật vớ vẩn khi kê đơn cho một “người nghiện ma túy”, một thuật ngữ mà anh áp dụng cho chính mình. Cuối cùng, Clay thừa nhận cần phải uống thuốc “vì yên bình của khu vực”. Lời thừa nhận này ám chỉ việc nhân viên quản chế yêu cầu anh ta phải tuân thủ các quyết định của bác sĩ tâm thần trong việc sử dụng các loại thuốc.
Bác sĩ tâm thần của Clay đã viết trong một báo cáo ngắn gọn rằng Clay “gây ra một mối nguy hiểm sâu sắc”.Ông ấy trích dẫn những thay đổi cực đoan trong tâm trạng và hành vi của Clay dường như xảy ra mà không hề báo trước. Ông ấy nói rằng Clay đã trải qua “giai đoạn hưng cảm” kèm theo những suy nghĩ hoành tráng và những giai đoạn trầm cảm đen tối dẫn đến ý nghĩ tự tử. Sau khi trải qua hàng chục giờ với Clay, tôi không đồng ý với đánh giá đó. Khi những kỳ vọng không thực tế của Clay không được thực hiện, đôi khi anh ta chán nản đến mức nghĩ rằng tốt nhất là không nên sống thêm chút nào nữa. Trong một số thời điểm khác, anh ta nghĩ rằng anh ta có thể hoàn thành bất kỳ công việc nào và là một thành công lớn. Và tất nhiên quan điểm đó cũng không thực tế.
Những người chống đối xã hội như Clay chuyển từ lạc quan không thể kiềm chế và cảm giác bất khả xâm phạm sang bi quan và tuyệt vọng hoàn toàn. Những người khác có thể nhận thấy những thay đổi về cách nhìn và cách cư xử của họ. Những thay đổi thường xuyên không biểu thị sự hiện diện của căn bệnh tâm thần, chẳng hạn như chẩn đoán phổ biến hiện nay là “rối loạn lưỡng cực”. Mức độ cao thấp xuất phát từ cảm giác quan trọng được phóng đại của tội phạm và sự đau khổ tột độ của anh ta khi những kỳ vọng phi thực tế không được thực hiện.
Công việc của tôi là giúp Clay nhận thức được những sai sót trong suy nghĩ và ghi nhớ những hậu quả trong quá khứ cũng như hiện tại của suy nghĩ đó. Người ta có thể phỏng đoán rằng một người đàn ông như Clay sẽ thờ ơ với hậu quả đã gây ra. Trải qua nhiều kết quả không hài lòng về hành vi của mình, Clay đã học được cách kiểm soát suy nghĩ và tâm trạng cực đoan đi kèm.
Clay rèn luyện về mặt tinh thần khi suy nghĩ về hành vi phạm tội, xem xét kết quả khắc nghiệt có thể xảy ra và sau đó ngăn chặn suy nghĩ đó. Khi thảo luận về suy nghĩ của mình, Clay rất thắng thắn và cụ thể. Ví dụ, anh ta thừa nhận, “Tôi thấy những đứa trẻ nhỏ hầu như không dùng tã và tôi nghĩ về việc quan hệ tình dục với chúng”. Về vị hôn thê cũ của mình, anh ta nói: “Tôi rất vui vì cô ấy phải sống trong nỗi sợ hãi và phải cảnh giác khi ngủ”. Anh ấy cũng đưa ra những suy nghĩ như “Tôi chỉ là một kẻ bỏ đi, một kẻ thất bại. Tôi sẽ như thế này trong suốt phần đời còn lại của mình”. Những tuyên bố như thế này báo hiệu sự nguy hiểm vì chúng phát sinh từ sự tự thương hại và tức giận. Clay thề rằng sẽ cố gắng sống như những người khác. Mặc dù khẳng định, “Tôi không muốn bị chỉ bảo phải làm gì”, tuy nhiên anh ta vẫn nhận công việc xếp sản phẩm lên kệ cho một cửa hàng.
Chúng tôi đã thảo luận về cách thức những thất bại trong việc ngăn chặn suy nghĩ và hành vi phạm tội của anh ta sẽ gây ra những kết quả khiến anh ta sợ hãi nhất – sống trong viện điều trị suốt đời, vô gia cư, không bạn bè, ngày càng tức giận và tuyệt vọng. Bác sĩ tâm thần của Clay trở nên tích cực hơn và ghi nhận, “Clay tích cực quan tâm đến việc kiểm soát cảm xúc giết người và tình dục để không làm tổn thương bất kỳ ai”.
Clay bắt đầu sống có trách nhiệm. Những thay đổi không hề diễn ra nhanh chóng. Anh ta đã có những xung đột cãi cọ trong công việc và sắp phải bỏ việc nhiều lần. Có những ngày anh ta phải vật lộn đấu tranh để bước ra khỏi giường. Anh ta học cách nói chuyện với bản thân theo hướng xây dựng để xây dựng tính kiên trì. Với cảm giác hài lòng, anh ta nói rằng đã gắn bó với công việc hơn một năm, trái ngược với hàng tá công việc mà anh ta đã đảm nhiệm trong suốt mười năm qua. Clay thốt lên, “Làm việc đã giúp tôi rất nhiều, tôi có thể thực hiện trong một tuần làm việc bốn mươi giờ và nhận được tiền lương”.
Clay nhận xét, “Tôi có một cách thức lôi cuốn về bản thân mình. Tôi bị ám ảnh người khác phải thích tôi”. Bề ngoài, anh ta có một tính cách hấp dẫn. Đây là một tính cách tiêu cực khi Clay dễ dàng thu hút những người mà anh ta thao túng và điều khiển, cuối cùng khiến họ xa lánh. Kết quả là anh ta lại cảm thấy trống rỗng và bực bội. Dù vẫn còn một số khuyết điểm, tuy nhiên Clay đã biết suy nghĩ nhiều hơn về kỳ vọng của mình đối với người khác khi anh ta học được cách đồng cảm thay vì thực hiện bất cứ điều gì anh ta mong muốn.
Đã có những tiến triển rõ ràng nhưng vẫn còn thất thường. Sau một lần mất ngủ, Clay bắt đầu nghiền ngẫm. Anh ta nói rằng bản thân cảm thấy hoàn toàn tốt đẹp khi mặt trời chiếu sáng và anh ta ở giữa mọi người. Tuy nhiên khi về nhà vào ban đêm, cảm thấy cô đơn và không được yêu thương, Clay tự hỏi bản thân, “Tất cả để làm gì?” Mặc dù tất cả các trụ cột hỗ trợ của anh ta vẫn có thể tiếp cận, tuy nhiên sự tiến bộ của Clay đã dần được sáng tỏ. Anh ta nhận được một biên bản vi phạm quá tốc độ và sau đó tiếp tục lái xe “để chạy trốn khỏi chính tôi”. Khi tôi gặp anh ta, Clay tuyên bố, “Tôi sẽ không bao giờ trở thành bất cứ thứ gì ngoài tôi bây giờ”. Bị “choáng nghợp bởi cái chết”, anh ta bắt đầu đọc cáo phó. Tự gọi mình là ký sinh trùng, Clay khẳng định: “Tôi không nghĩ mình phải làm việc”. Anh ta đặt câu hỏi về tầm quan trọng của bất kỳ công việc nào “nơi bạn phải vui vẻ dù cảm thấy chết tiệt” và cho biết đã sống cuộc sống không mấy có ích “vì bình yên của khu vực”. Clay đề cập đến việc trải qua “một vài cơn giông bão trong tâm trí tôi”, ám chỉ những cơn giận dữ dữ dội. Chúng tôi lại thảo luận về các lựa chọn của anh ta - tội phạm và hậu quả không thể tránh khỏi của nó, tự sát hay thay đổi. Dù cảm thấy chán nản, Clay không muốn kết thúc cuộc đời mình cũng như không muốn sống trong nhà tù. Anh ta nói rằng các cuộc gặp với nhân viên quản chế là một việc làm hữu ích, “Cô ấy đã đặt vấn đề. Tôi nghe rõ từng từ. Cô ấy rất giỏi trong những việc cô ấy làm”. Nhận ra rằng mình đã phải nỗ lực rất nhiều để tiến bộ, Clay ngạc nhiên về mức độ nhanh chóng của những kết quả anh ta đã gặt hái được có thể biến mất. Anh ta chỉ ra rằng bản thân đã lấy lại được cái nhìn của mình khi chia sẻ nhìn chung, anh ta vừa trải qua một trong những năm tháng đẹp nhất. Anh ta cho biết ngay cả người anh trai của anh ta cũng bị ấn tượng bởi một Clay “mới mẻ và tử tế”.
Clay nhận xét về một yếu tố cực kỳ quan trọng để tránh suy sụp tâm lý khi cảm thấy chán nản. Anh ta nói, “Tôi đã có những người mà tôi có thể tìm đến vào lúc nửa đêm. Có rất nhiều người thể hiện sự quan tâm thực sự; đó không chỉ là những gì tôi có thể làm cho họ”. Clay nói rằng điều đó không phải vì cha mẹ gắn bó với anh ta, “Tôi đã từng phải vào bệnh viện hoặc nhà tù bang. Anh và tôi có thể sẽ không bao giờ gặp nhau nữa. Có thể sau này tôi sẽ ở trên đường phố”. Với tinh thần lạc quan, Clay nhận xét, “Vẫn có điều gì đó tốt đẹp tồn tại dành cho tôi”. Anh ta đang đấu tranh để loại bỏ “những suy nghĩ xấu xa” ra khỏi tâm trí. “Tôi không để chúng làm khổ bản thân tôi”, anh ta khẳng định. Clay thừa nhận lời đe dọa kết án của tiểu bang nếu phạm tội khác đã giúp anh ta tránh khỏi rắc rối.
Điều tiếp tục khiến Clay khó chịu là ý tưởng trở thành một người bình thường. “Xã hội mong đợi tôi thể hiện mình là một người bình thường trong khi tôi không thể như vậy. Tôi vượt lên trên rất nhiều cái mức độ bình thường đó”. Sau đó, anh ta thể hiện nhận thức một cách rõ ràng, “Tôi đã có những cơ hội trong suốt cuộc đời mình nhưng tôi luôn tìm kiếm phần thưởng ngay tức thì. Cả cuộc đời tôi luôn đưa ra những lựa chọn tồi tệ”. Nhưng Clay không duy trì nhất quán quan điểm này. Anh ta tiếp tục tuyệt vọng và cho biết muốn từ bỏ”. Nhờ nỗ lực của nhân viên quản chế, Clay đã được nhận vào một trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần ở khu dân cư. Điều đáng ngạc nhiên là anh ta đánh giá tích cực cơ sở này, mô tả nó là “nơi các bệnh nhân nghĩ có tư duy sinh sống - không chỉ là một nhà kho” và so sánh nó với một gia đình có nhân viên chăm sóc. Clay có đủ điều kiện để tiến hành điều trị ban ngày và tiếp tục tiến bộ. Công việc của tôi với Clay chấm dứt vì anh ta vẫn tiếp tục tham gia chương trình điều trị ban ngày đó.
Nhiều năm sau, tôi biết được rằng Clay vẫn đang có một nhóm hỗ trợ đắc lực gồm các chuyên gia cũng như bạn bè. Mặc dù cha mẹ vẫn luôn hết mực hỗ trợ, tuy nhiên anh ta đã tự mình xoay xở cuộc sống. Anh ta không bị bắt giữ thêm lần nào nữa và các mối quan hệ của anh ta đã được cải thiện.
Việc quan trọng cần phải thực hiện là xác định nguồn gốc của trầm cảm. Thuốc chống trầm cảm sẽ không làm thay đổi những kỳ vọng phi thực tế của tội phạm. Đối với một người như Clay, lo lắng và trầm cảm có thể giảm đi nếu anh ta nhận ra lỗi tư duy của bản thân và áp dụng các biện pháp điều chỉnh. Không có viên thuốc và hình thức điều trị truyền thống nào có thể giải quyết hiệu quả cốt lõi trong tính cách tội phạm. Khi đã xác định được tính cách đó, quá trình điều trị đòi hỏi một đội ngũ tận tâm, có chuyên môn và đồng bộ để làm việc với người đó khi anh ta ở trong cộng đồng, tập trung vào vấn đề nổi bật nhất – “sai lầm trong suy nghĩ”. Một cam kết mạnh mẽ về nguồn lực là yếu tố cần thiết. Và, tất nhiên, không có gì đảm bảo chắc chắn thành công. Tuy nhiên, gần như chắc chắn rằng cái giá phải trả cho việc không nỗ lực sẽ rất bi thảm.
Huyền thoại về tội ác “khác với tính cách”
Một số người không có tiền án tiền sự đã thực hiện các hành vi phạm tội nghiêm trọng. Đó là trường hợp của Bernard Madoff, người đã biển thủ hàng triệu đô la từ các khách hàng trong quỹ đầu cơ của mình. Bạn có thể thường đọc được thông tin về những người có vẻ là người tốt nhưng lại thực hiện điều gì đó khủng khiếp một cách bất ngờ. Bạn bè, gia đình và đồng nghiệp mô tả về những con người này theo hướng tích cực. Những kẻ phạm tội này được biết đến là những người có thành tích trong sự nghiệp, người hàng xóm tốt, người đóng góp cho cộng đồng, tận tụy với nhà thờ và sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai gặp khó khăn. Có vẻ như đã xảy ra điều gì đó khiến họ “phạm lỗi” và phạm một tội ác “khác biệt với tính cách thông thường”.
Không thể thực hiện một hành vi phạm tội khác biệt với tính cách thông thường. Điều đó cũng giống như việc yêu cầu một tòa nhà phải bay lên; việc này không nằm trong bản chất vốn có của tòa nhà khi yêu cầu thực hiện như vậy. Bạn không thể trở thành người nào khác ngoài chính bạn. Một tội ác dường như khác với tính cách thông thường của kẻ phạm tội chỉ có thể giải thích thông qua nhận thức về bản chất thực sự của cá nhân đó. Thực tế, Madoff cũng là một kẻ ngoại tình, một kẻ lươn lẹo và quấy rối tình dục. Hành vi trộm cắp của anh ta đã kéo dài hàng thập kỷ trước khi suy thoái kinh tế vạch trần kế hoạch Ponzi khổng lồ của anh ta.
Tôi đã đánh giá nhiều bị cáo sở hữu danh tiếng tốt đẹp trước khi phạm tội nghiêm trọng. Mọi người nghĩ rằng họ biết rõ những kẻ phạm tội này nhưng không thể biết được điều gì đang ấp ủ trong đầu của chúng, đôi khi là trong nhiều năm liền. Trong một số trường hợp, những cá nhân này đã thực hiện một hành vi phạm tội khác nhưng đủ khôn khéo để không bị bắt, trong khi những người khác từ lâu đã mơ tưởng về một số hành vi phạm tội trước khi thực sự hành động. Không có gì đáng ngạc nhiên, khi những kẻ phạm tội “khác với tính cách thông thường” này cuối cùng cũng bị bắt vàphải chịu trách nhiệm, mục tiêu chính của chúng thường là giảm thiểu tội lỗi (và án tù) bằng cách nhấn mạnh hành vi gương mẫu trong quá khứ của bản thân.
Tại thời điểm tôi gặp kẻ phạm tội, hai cuộc đánh giá đang diễn ra. Tôi đang đánh giá anh ta, nhưng anh ta cũng đang đánh giá tôi. Tên tội phạm tìm cách lấy cảm tình của tôi bằng cách đưa ra các yếu tố giảm nhẹ cho những gì hắn đã làm. Bằng những chia sẻ về vấn đề bất ổn trong tinh thần theo loại bệnh này hay loại bệnh khác, anh ta sẽ phủ nhận hoặc giảm thiểu khả năng phạm tội của mình và hy vọng giảm thiểu hình phạt. Nếu anh ta bị rối loạn tâm thần thực sự nhưng chỉ trong một khoảng thời gian tạm thời thì đây có thể trở thành tâm điểm của quá trình điều trị và anh ta có thể tiến bộ hơn. Tuy nhiên, nhân cách tội phạm vẫn không bị ảnh hưởng, và việc gây thương tích nhiều hơn cho người khác là một kết quả chắc chắn xảy ra.
Bị cáo đó có khả năng tung ra một loạt các chiến thuật để ngăn cản tôi nắm bắt anh ta. Anh ta có thể kể ra những thứ mà anh ta nghĩ tôi muốn nghe. Anh ta có thể đổ lỗi cho người khác. Anh ta có thể hoàn toàn im lặng và từ chối hợp tác. Anh ta có thể bao phủ tôi trong một lớp sương mù mơ hồ khi trả lời các câu hỏi nhưng vẫn còn che giấu rất nhiều điều.
Đôi khi những hành vi vi phạm đơn lẻ này được coi là “tội ác của đam mê”. Người đó dường như mất kiểm soát và thực hiện một hành vi phạm tội đơn độc và không có kế hoạch. Những tội ác như vậy thường xuyên xảy ra trong các gia đình, như trong lúc tranh cãi nảy lửa, một người chồng lấy một món đồ gần đó và dùng nó làm vũ khí để giết Vợ mình. Theo dữ liệu thống kê, thủ phạm chưa từng là kẻ giết người trong quá khứ và không có khả năng giết người lần thứ hai.
Tuy nhiên, một kẻ thực hiện hành vi tội ác của đam mê và một kẻ sát nhân máu lạnh có tính toán thường có những trạng thái tâm lý giống nhau. Cáu giận, thiếu linh hoạt và thiếu kiên nhẫn, tất cả những tội phạm này đều đòi hỏi người khác phải làm theo ý mình. Chúng nổi cơn điên dù chỉ xảy ra những chuyện vô cùng nhỏ nhặt. Thay vì đối phó một cách tích cực với những tình huống khó chịu, chúng lại dồn nén những vấn đề của mình lại. Khi thất vọng hoặc chán nản, chúng tức giận đổ lỗi cho người khác. Với lời thề trả thù trong thâm tâm, những suy nghĩ đi vào tâm trí của chúng là làm thế nào để tiêu diệt một kẻ thù thực sự hoặc kẻ thù trong nhận thức. Một hành vi tội ác “khác với tính cách thông thường” có thể xảy ra sau một loạt các lời đe dọa hoặc hành hung nhưng đã được gia đình che đậy hoặc bỏ qua. Bất kể ngoại hình ra sao, khi một kẻ đã quen với bạo lực thì cuối cùng sẽ thực hiện hành vi giết người. Trong tâm trí của hung thủ, anh ta đã nhiều lần tiêu diệt nguồn gốc gây ra sự đau khổ của mình. Theo một nghĩa nào đó, người ta có thể nói anh ta đã được lập trình để giết vợ mình – không phải được lập trình bởi một ai đó, mà là bởi kiểu suy nghĩ theo thói quen của chính anh ta.
Vào tháng 12 năm 2012, Adam Lanza, 20 tuổi, đã giết chết 26 người, trong đó có 20 đứa trẻ là học sinh tại Trường Tiểu học Sandy Hook ở Newtown, Connecticut. Anh ta không có tiền án tiền sự. Một người bạn học cũ nói với một người phỏng vấn trên truyền hình rằng Lanza “không phải là một kẻ gây rối, không chống đối xã hội, không thể hiểu được tại sao anh ta lại có thể thực hiện hành vi bất ngờ như vậy”. Tuy nhiên, cơ quan điều tra phát hiện ra rằng, khi mới 10, Lanza đã viết “The Big Book of Granny”, một tập hợp các tập truyện rùng rợn trong đó “Granny” và con trai của bà mang theo một túi vũ khí tương tự như những thứ Lanza sử dụng trong vụ thảm sát Sandy Hook 10 sau. Đứa trẻ 10 mô tả Granny đe dọa bắn và giết những đứa trẻ trong lớp học của chúng. Một nhân vật, Dora the Berserker, tuyên bố: “Chúng ta hãy cùng làm tổn hại trẻ em”. Vì vậy, trong thời gian ít nhất một thập kỷ, Lanza đã có ý nghĩ giết trẻ em trước khi hành động.
Trong một vụ án mà tôi nắm rõ, trong quá trình đánh giá hung thủ, Nicholas, 27 tuổi, tôi thấy anh ta theo dõi một cô gái tuổi teen khi cô ấy xuống xe buýt của trường, sau đó theo cô ấy vào nhà và thực hiện một vụ cưỡng hiếp dã man. Sau khi theo dõi cô gái trong nhiều ngày liền, anh ta xác định cô gái ở một mình trước khi bố mẹ cô gái về nhà vào buổi tối. Những người quen biết Nicholas từ lâu đều nghĩ rằng không thể có chuyện anh ta nghĩ ra một tội ác như vậy. Luật sư của anh ta đã có những tài liệu đầy đủ về tính cách để chứng minh anh ta là người tận tâm, trung thực và luôn hoàn thành công việc như thế nào. Khi còn là một đứa trẻ, anh ta đã kéo chiếc xe kéo trẻ con qua khu phố để mang rau từ khu vườn của gia đình cho mọi người. Tuy nhiên, khi cảnh sát khám xét nhà, họ đã tìm thấy một đống các kịch bản gợi dục dưới dạng tài liệu, văn hóa phẩm và những hình ảnh đồ họa đồi trụy mà Nicholas dành nhiều năm để sáng tác. Những tưởng tượng chứa đầy sự tàn nhẫn và bạo lực khi anh ta hình dung ra hành vi cưỡng bức với nam giới và phụ nữ, trẻ em và thanh thiếu niên. Nicholas đặc biệt thích thú với ý tưởng trở thành người đầu tiên quan hệ tình dục với những cô gái tuổi teen chưa có kinh nghiệm. Người đàn ông trẻ tuổi này đã theo dõi những người phụ nữ mà anh ta làm việc cùng trong công việc buổi tối của mình. Anh ta ngồi trong ô tô bên ngoài nhà của họ, mơ tưởng và thủ dâm. Tuy nhiên, anh ta không có hành động gì cho đến khi theo dõi cô gái mà anh ta đã cưỡng hiếp. Tội ác mà Nicholas gây ra “hoàn toàn có trong tính cách”, nhưng không ai có thể biết được những suy nghĩ mà anh ta đã có trong nhiều năm liền.
Stella bị một nhân viên bảo vệ chặn lại khi cô rời khỏi một cửa hàng bách hóa với những bộ quần áo đắt tiền được giấu dưới áo khoác. Việc bắt giữ cô là một cú sốc rất lớn đối với mẹ, anh trai và ba người chị gái của cô. Mặc dù các thành viên trong gia đình thấy cô khó hòa đồng nhưng họ không bao giờ nghi ngờ cô là một tên trộm. Stella làm việc chăm chỉ và vô cùng tận tụy với người mẹ bị ung thư. Hóa ra, hành vi ăn cắp vặt chủ yếu do tính cách phạm tội. Trong nhiều năm liền, Stella đã thực hiện rất nhiều vụ trộm khác mà không bị bắt.
Công việc của tôi khi tiến hành đánh giá tâm lý là đặt hành vi phạm tội vào đúng bối cảnh để hiểu được những thứ dường như vô nghĩa nếu chỉ quan sát bề ngoài. Rất khó để hiểu rõ một người và việc đó chỉ có thể thực hiện theo thời gian. Mọi người đều có thể tưởng tượng ra những thách thức để Có thể hiểu tính cách của một cá nhân trong một thời gian ngắn dưới những hoàn cảnh không như lý tưởng. Người đó đã bị bắt và tôi có thể nhìn thấy anh ta trong tù. Vì không thể nhanh chóng tìm hiểu lý lịch, tính cách và tình trạng pháp lý của anh ta nên tôi thường dành nhiều giờ để phỏng vấn anh ta. Để nâng cao hiểu biết của tôi về cách thức hoạt động của những cá nhân này trong các khía cạnh khác nhau của cuộc sống, tôi đã phỏng vấn các thành viên gia đình, bạn bè, đồng nghiệp làm việc và cố vấn. Ngoài ra, tôi cũng xem xét hồ sợ việc làm, tài liệu tài chính, hồ sơ của cảnh sát, hồ sở trường học, và hồ sơ của bất kỳ quá trình điều trị sức khỏe tâm thần nào.
Dường như một người thực hiện hành vi phạm tội “khác với tính cách” là do anh ta bị “mắc bẫy”. Điều đó có nghĩa là anh ta phải chịu đựng căng thẳng dữ dội và đến mức cuối cùng là điểm đột phá. Hãy xem xét kỹ ý nghĩa của điều này. Hãy xem xét trường hợp một người đàn ông bị cho nghỉ việc trong thời gian toàn bộ công ty cắt giảm nhân lực. Tức giận trước sự bất công và tìm cách trả thù, anh ta lấy được một khẩu súng, quay trở lại nơi làm việc và bắn về phía mọi người. Phản ứng của một người trước nghịch cảnh sẽ phụ thuộc vào tính cách của người đó. Trong ví dụ này, các đồng nghiệp của hung thủ cũng từng bị sa thải đã không tìm cách trả thù dù họ có thể cũng bị đối xử bất công. Một số có thể trầm cảm và sống ẩn dật. Những người khác có thể trở nên nghiện rượu. Ngoài ra, một số người quyết tâm tìm kiếm trên Internet và đi khắp mọi nơi để tìm kiếm một công việc mới. Những sự kiện bất ngờ và bi thảm xảy ra. Câu hỏi quan trọng là người đó đối phó với những vấn đề đã xảy ra như thế nào. Chìa khóa để hiểu được hành vi của một người là nắm bắt tính cách của người đó. Thật không may, tính cách tội phạm của một số người có thể bị che giấu ngay cả với bạn bè thân thiết và các thành viên trong gia đình cho đến khi mọi thứ đã trở nên quá muộn.
Tội ác “vô nghĩa”
Vào tháng 8 năm 2012, một sinh viên Úc đã bị bắn chết khi đang chạy bộ ở thị trấn Duncan của Oklahoma. Các bản tin cho biết các nghi phạm thú nhận vụ giết người không quen biết nạn nhân và chọn anh ta một cách ngẫu nhiên. Lý do chúng đưa ra là do cảm thấy “chán nản”. Để giải tỏa cơn buồn chán, chúng truy đuổi anh ta bằng chiếc xe của chúng và bắn anh ta từ phía sau. Sau vụ nổ súng, mọi người cố gắng tìm hiểu xem những gì dường như là một tội ác vô nghĩa. Một số cho rằng nguyên nhân xuất phát từ động cơ mang tính chủng tộc nhưng không có đủ bằng chứng cho lời giải thích đó.
Làm sao sự buồn chán lại có thể giải thích cho hành vi giết một người hoàn toàn xa lạ? Nếu một người hiểu được hoạt động của bộ óc tội phạm thì có thể hiểu được rằng sự buồn chán thực sự có thể là động cơ. Đầu chương này, tôi đã đề cập đến việc Clay nói rằng anh ta muốn làm điều gì đó bất hợp pháp để giải tỏa nỗi buồn chán. Điều mà anh ta và những người như anh ta không thể dung thứ là sống trong những ràng buộc của luật pháp và xã hội. Tội ác là liều thuốc giải độc cho sự buồn chán. Như đã thảo luận trước đó, cảm giác phấn khích sẽ xuất hiện trong mọi giai đoạn phạm tội.
Những tội ác tưởng chừng như vô nghĩa lại có ý nghĩa nếu hiểu được tâm lý của kẻ phạm tội. Động Cơ thông thường đằng sau nhiều tội ác tưởng như vô nghĩa là cảm giác hồi hộp khi thực hiện những việc làm bị cấm. Thomas, 26 tuổi, từng đề cập đến những thứ anh ta nghĩ trong đầu khi còn là một thiếu niên trẻ tuổi: “Tôi nghĩ rằng tôi sẽ là một kẻ giết người hàng loạt”. Ngày càng bị thu hút bởi những kẻ giết người hàng loạt, anh ta nghĩ về “cách chúng giết người, thú vui, thậm chí là tệ nạn tình dục. Tôi thần tượng Charles Manson”. Thomas suy ngẫm về việc “được tôn thờ và bị người ta giết” sẽ tuyệt vời như thế nào. Anh ta nhận xét, “Tôi thích súng. Cảm giác cầm một khẩu súng trong tay thật quyền lực”. Mặc dù phải ngồi tù trước khi có thể giết chết bất cứ ai, tuy nhiên Thomas đã từng làm hại mọi người chỉ vì cảm giác hồi hộp. Anh ta nói rằng anh ta muốn “cố ý hủy hoại một mối quan hệ, phá nát mọi người, chọn họ, đưa họ vào những tình huống mà họ sẽ bị chối bỏ, nhắc nhở họ rằng họ là một kẻ tồi tệ”. Anh ta sẽ chọn ra một “mục tiêu dễ dàng chỉ để giải trí và khiến người đó đau khổ mà không cần khiêu khích. Thomas nhớ lại việc nhắm mục tiêu vào một cậu bé thậm chí không hề quen biết. “Hằng ngày tôi sẽ gặp cậu ta, lấy tiền của cậu ta, đánh đập và hành hạ cậu ta”.
Thomas không thể có quan niệm sống như những người có trách nhiệm. Tội ác là nguồn không khí nuôi dưỡng cuộc đời anh ta.
Vào ngày 2 tháng 4 năm 2014, tại Ft. Hood, Texas, Ivan Lopez đã giết chết 3 người và làm 16 người bị thương. Anh ta được cho là mắc chứng lo âu, trầm cảm và có thể là căng thẳng sau chấn thương. Sau vụ nổ súng này và mọi vụ nổ súng hàng loạt khác, có rất nhiều cuộc đối thoại nhức nhối và “giả sử”. Có dấu hiệu cảnh báo nào trong thời gian gần đây không? Người đó có từng được xác định là “có nguy cơ” thực hiện hành vi như vậy trước khi tai họa xảy ra hay không? Nếu thủ phạm từng được điều trị thì vấn đề nào vẫn chưa được giải quyết? Liệu kinh phí bổ sung cho các dịch vụ sức khỏe tâm thần có ngăn chặn được những thảm họa như vậy không? Có thể xác định những kẻ sát nhân tiềm tàng khi chúng còn là trẻ Con hay không?
Ở điểm này, chúng ta biết rằng thủ phạm thường không tiết lộ ý định phạm tội. Trong một số trường hợp, chúng không cung cấp các thông tin cụ thể. Không ai biết chúng sẽ tấn công khi nào hay ở đâu. Chúng ta có thể xác định những cá nhân có tiền sự đe dọa hoặc bạo lực người khác nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta có thể giam giữ họ theo luật pháp hiện hành, và càng không thể buộc họ phải đi điều trị chuyên sâu. Trong những trường hợp có thể buộc họ phải điều trị thì không có cách nào để đảm bảo sự hợp tác của họ. Lúc đầu, chúng ta phải thử cách tiếp cận ít hạn chế nhất, thường là điều trị ngoại trú. Nếu một kẻ có khả năng xả súng hàng loạt đang được điều trị thì tần suất có thể là một hoặc hai lần một tuần, tuy nhiên con số đó hoàn toàn không phù hợp. Không có gì đáng ngạc nhiên khi những tội phạm không phô bày hết bản thân trước những người lạ. Chúng triển khai các chiến thuật để trốn tránh khỏi đối thủ (đó là cách hầu hết bọn tội phạm sử dụng với các nhà trị liệu và cố vấn tâm lý), thường là bằng cách ru ngủ họ vào niềm tin rằng họ biết nhiều hơn so với thực tế. Những tội phạm dành cả cuộc đời để lừa dối người khác về con người thực sự của chúng. Một nhà trị liệu cũng chỉ là một người chúng cần phải chinh phục. Rất nhiều người “tốt nghiệp” khóa điều trị đã tiếp tục thực hiện những hành vi phạm tội ghê tởm.
Những kẻ lập dị, những kẻ cô độc và những kẻ đáng sợ sống trong xã hội tự do của chúng ta. Rất ít kẻ trong số đó trở thành tay súng hàng loạt.
Việc không thể xác định và xét xử họ được coi là mối đe dọa đối với người khác hoặc chính họ, tuy nhiên không có cách nào để đưa họ đi điều trị và đảm bảo họ sẽ duy trì quá trình điều trị đó. Tất cả những điều trên không có nghĩa là chúng ta nên buông tay và từ bỏ nỗ lực cải thiện các dịch vụ sức khỏe tâm thần. Nhưng điều đó có nghĩa những kỳ vọng của xã hội đối với các chuyên gia sức khỏe tâm thần cần phải thực tế. Trong khi chờ đợi, chúng ta phải chấp nhận rằng những kẻ mà chúng ta không thể xác định hoặc điều trị chuyên sâu sẽ xuất hiện và tàn phá cho đến khi luật pháp thay đổi và nền khoa học đạt được những tiến bộ.
Tội phạm “Rối loạn kiểm soát xung động”
Đối với một số nhà quan sát, dường như những kẻ phạm tội liên tục thực hiện hành vi phạm pháp là do họ đang chịu những tác động thúc đẩy mà họ không thể kiểm soát. Một đứa trẻ ăn cắp tiền của cha mẹ, bạn cùng lớp, hàng xóm, tại các cửa hàng và các công trường xây dựng. Dường như dù đi đầu cậu ta cũng sẽ lấy đi thứ gì đó không thuộc về mình. Cậu ta có thể bị coi là một kẻ cuồng ăn cắp vặt (kleptomaniac) vì dường như không thể chống lại các cảm giác thôi thúc hành vi ăn cắp. Nhưng đằng sau vẻ ngoài của sự bốc đồng không kiểm soát là một thực tế rõ ràng với thủ đoạn thành thạo và đầy tính toán của kẻ phạm tội. Dù ở bất cứ đâu, tên trộm thường xuyên tìm hiểu môi trường để tận dụng cơ hội. Anh ta không cần phải vạch ra một kế hoạch chi tiết cho mọi vụ trộm cắp. Anh ta suy nghĩ về hành vi trộm cắp của mình giống như việc mọi người lái một chiếc xe. Cả hai hành vi đều trở thành một thói quen, và đối với cả hai hành vi này, cảnh giác là điều rất cần thiết.
Những gì thuộc về thói quen không nhất thiết mang tính bắt buộc và nằm ngoài tầm kiểm soát của mỗi người. Nói rằng một người có thói quen làm điều gì đó không có nghĩa anh ta thiếu trách nhiệm về hành động của mình. Cũng giống như một người có thể lái xe trong điều kiện bằng giá, một tên trộm cũng có thể điều chỉnh hành vi ăn cắp để phù hợp với điều kiện hiện tại – hình thức giám sát tại khu vực đó, khả năng tiếp cận những món đồ, vị trí của lối thoát, số lượng người giữa vị trí của anh ta và lối thoát gần nhất. Đây là kiểu suy nghĩ có tính toán và không ép buộc. Nếu bị bắt, anh ta có thể khẳng định đã bị một nội lực không thể cưỡng lại thôi thúc hành vi ăn trộm. Bằng cách ném vụ việc vào phạm vi chuyên môn của nhà tâm lý học, anh ta hy vọng sẽ không phải chịu trách nhiệm về vụ việc.
Sandra là một chuyên gia trong lĩnh vực trộm cắp. Cô ta nói nửa đùa nửa thật rằng cô ta cũng có thể được gọi là “đại diện kinh doanh của khách hàng” do cô ta rất thành công trong việc nhận “đơn đặt hàng” từ “khách hàng”, tìm các mặt hàng với giá hời và sau đó “đáp ứng” những đơn hàng này bằng cách ăn cắp hàng hóa được yêu cầu và sau đó bán chúng. Cô ta đã luôn khéo léo để tránh bị phát hiện trong nhiều năm liền. Trong một lần ăn cắp, cô ta đã bất cẩn và cuối cùng bị bắt. Sandra trộm cắp thường xuyên đến mức một chuyên gia sức khỏe tâm thần có thể kết luận rằng cô ta đang gặp phải vấn đề rối loạn cưỡng bức. Điều đó hoàn toàn không phù hợp với trường hợp này. Thay vào đó, cô ta sở hữu những kỹ năng điêu luyện trong hành vi mà cô ta coi là “công việc” của mình.
Một người thường xuyên đi đốt phá có thể được coi là kẻ mắc phải chứng cuồng phóng hỏa (purorania), đặc biệt là khi không có những động cơ thông thường như trả thù hoặc ghen tuông. Giống như căn bệnh “cuồng ăn cắp vặt”, “cuồng phóng hỏa” cũng đề cập đến vấn đề không thể kiểm soát xung động. Tôi nhận thấy rằng một kẻ cuồng phóng hỏa là kẻ biết tính toán và kiểm soát rất nhiều hành vi anh ta thực hiện. Anh ta chọn thời gian và địa điểm để phóng hỏa, sau đó để phòng để tránh bị phát hiện. Khi châm lửa, anh ta nắm giữ sức mạnh to lớn đối với tính mạng và tài sản của con người. Anh ta có thể khủng bố một cộng đồng và gây ra thiệt hại to lớn. Sau đó, anh ta có thể tự mãn ngồi lại, tận hưởng chiến thắng khi một tòa nhà chìm trong biển lửa. Khi chứng kiến khung cảnh đội cứu hỏa vật lộn để khống chế ngọn lửa, anh ta chắc chắn mình sẽ không bị bắt. Một bài báo năm 2012 trên Journal of the American Academy of Psychiatry and the Laco cho biết, “Những người mắc chứng cuồng phóng hỏa được giảm nhẹ hình phạt thường tiếp tục thực hiện các hành vi xung động hoặc cưỡng chế khác (ví dụ như cờ bạc, lạm dụng chất kích thích). 3 Nhận xét này minh họa cho một luận điểm được đưa ra xuyên suốt cuốn sách này. Nếu một cá nhân có tính cách tội phạm ngừng thực hiện một hành vi phạm tội nào đó thì anh ta có thể sẽ tiếp tục thực hiện một số loại hành vi phạm tội khác.
Từ các buổi gặp mặt điều trị lâm sàng, tôi kết luận rằng cái gọi là những tên trộm cưỡng bức và những kẻ đốt phá chỉ đơn giản là những kẻ thích thú với những gì chúng đang làm. Chúng có khả năng kiểm soát hành vi của bản thân như kẻ cướp ngân hàng hoặc kẻ phạm tội đốt phá vì lợi nhuận. Bất kỳ hành vi phạm tội nào, dù tái diễn hoặc không, đều có thể bị coi là hành vi không bình thường vì nó bị xã hội cấm đoán và hầu hết mọi người không thực hiện hành vi đó. Nhưng điều này không tự động biến hành vi đó thành một dấu hiệu của bệnh tật hay miễn trách nhiệm cho kẻ vi phạm vì đằng sau những tội ác như vậy là một kẻ có chủ ý và hành động với nhận thức rõ ràng về hậu quả có thể xảy ra và thông tin này khiến anh ta tính toán nhiều hơn khi theo đuổi mục tiêu của mình.
Mặc dù một số kẻ phạm tội thích thú với các trò rượt đuổi, tuy nhiên chúng hết sức thận trọng để tránh bị bắt. Thông thường, chúng sẽ thành công, nhưng đôi khi ngay cả một kẻ chuyên nghiệp cũng có thể tự tin thái quá. Khi phạm nhân sai lầm trong việc đánh giá rủi ro hoặc tỏ ra hớ hênh, bác sĩ tâm thần hoặc nhà tâm lý học có thể kết luận anh ta thực sự muốn bị bắt, thay vì nhìn nhận kẻ phạm tội là một người quá tự tin và đã phạm sai lầm. Họ thậm chí có thể đi xa hơn và cho rằng hành vi của anh ta thể hiện một lời cầu cứu. Tôi chưa bao giờ thấy kết luận này phù hợp với những trường hợp như vậy.
Bệnh tâm thần trầm trọng
Cách thức biện hộ với lý do bị tâm thần hiếm khi được sử dụng và cũng hiếm khi thành công. (Idaho, Montana, Kansas và Utah đã bãi bỏ hình thức biện hộ này. Ở các tiểu bang này, ngoại trừ Kansas, một bị cáo có thể vẫn bị kết tội dù bị bệnh tâm thần.) Để thuyết phục các bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học và tòa án rằng anh ta bị tâm thần, tội phạm phải thỏa mãn một trong số các định nghĩa pháp lý về chứng bệnh tâm thần, tùy thuộc vào bài kiểm tra pháp lý được sử dụng trong một khu vực tài phán cụ thể. Anh ta có nhận thức được việc làm đúng-sai (Quy tắc M’Naghten 1843) không? Tội ác có phải là sản phẩm của một căn bệnh hay khiếm khuyết về tâm thần (Quy tắc Durham 1954)? Bị cáo có đủ năng lực cơ bản để đánh giá đúng mức độ phạm tội trong hành vi của bản thân hoặc đáp ứng các yêu cầu của pháp luật (Bộ luật Hình sự của Viện Luật pháp Hoa Kỳ năm 1972) không? 25 tiểu bang sử dụng M’Naghten, 20 tiểu bang và Quận Columbia sử dụng Bộ luật Hình sự của Viện Luật pháp Hoa Kỳ và chỉ New Hampshire sử dụng Quy tắc Durham. Ở một số tiểu bang, bị cáo có trách nhiệm chứng minh triệu chứng tâm thần của mình; trong khi đó ở một số nơi, việc chứng minh bị cáo có tâm thần hay không thuộc về trách nhiệm của tiểu bang.
Một người thực hiện hai hành vi phạm tội giống nhau trong một khoảng thời gian rất ngắn có thể bị kết tội ở một bang và có thể không bị kết tội ở một bang khác với lý do bị tâm thần, tùy thuộc vào tiêu chuẩn pháp lý. Trong vụ án Kier Sanders v. State Mississippi, một bị cáo được cho là mắc bệnh tâm thần khi giết ông bà và bị kết tội giết người vì đã giết một người khác dù anh ta đã bắn từng người một với cùng một loại vũ khí. 4 Thẩm phán tuyên án Sanders tù chung thân với điều khoản quy định nếu luật pháp thay đổi để cho phép anh ta được tha bổng thì Sanders sẽ được đưa đến bệnh viện tiểu bang.
Cũng giống như hành vi phạm tội được thực hiện bằng lý trí và có chủ ý thì âm mưu bào chữa bằng căn bệnh tâm thần cũng như vậy. Một người bị buộc tội có thể cố gắng làm giả hồ sơ bệnh tâm thần, sử dụng hành vi ở các mức độ từ tinh vi đến kỳ quái, tùy thuộc vào chiến thuật tính thuyết phục nhất theo phỏng đoán của anh ta. Anh ta có thể giả vờ như đang nghe được những giọng nói chỉ bảo anh ta. Anh ta có thể tuyên bố rằng bản thân hành động như một sứ giả của Đức Chúa Trời. Anh ta có thể ngụy tạo ảo tưởng về sự ngược đãi và khẳng định mọi người đang có âm mưu chống lại anh ta. Một hành động thể hiện ý đồ tự sát có thể giúp thực hiện những gì mà kẻ phạm tội mong muốn. Anh ta thông báo cho một người bạn cùng phòng giam biết khi nào anh ta sẽ treo cổ tự tử và yêu cầu một sĩ quan canh gác đến để cắt dây treo cổ và đưa anh ta xuống. Anh ta cho rằng nếu được đánh giá là có nguy cơ tự tử thì sẽ được chuyển đến bệnh viện. Tuyên bố bị mắc chứng mất trí nhớ là một chiến lược có thể cản trở những chuyên gia đánh giá và bồi thẩm đoàn.
Biểu hiện triệu chứng của bệnh tâm thần có thể hết sức rõ ràng ở trong tù, trong quá trình tố tụng tại phòng xử án hoặc tại bệnh viện mà tội phạm được đưa đến để theo dõi. Một kẻ sát nhân đã khiến quá trình tố tụng của tòa án phải tạm dừng khi từ chối ra khỏi phòng giam sau khi tạm dừng phiên tòa. Không có lời thuyết phục nào có thể lay chuyển anh ta. Thẩm phán sau đó ra lệnh cho các nhân viên cải tạo dùng vũ lực để đưa anh ta trở lại chỗ ngồi trong phòng xử án để anh ta có mặt tại phiên tòa của chính mình. Người đàn ông này từng rất minh mẫn và hợp tác khi ở trong tù và trong quá trình đánh giá tâm lý bản thân. Do đó, hành vi hiểu chiến của anh ta đã thể hiện bản chất con người của anh ta, dù luật sư bào chữa cố gắng lập luận rằng hành vi đó thể hiện minh chứng về dấu hiệu của bệnh tâm thần.
Tội phạm hiếm khi tin rằng anh ta bị bệnh tâm thần và có thể cảm thấy bị xúc phạm nếu ai đó gọi anh ta là kẻ điên. Nhưng anh ta sẵn sàng nghe theo bất cứ tên gọi nào nếu điều đó có thể giúp anh ta thoát khỏi một tội danh nào đó. Một số tội ác ghê tởm đến mức chúng có thể chỉ bắt nguồn từ một tâm trí không bình thường. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là tội ác ghê tởm hay kỳ quái như thế nào mà là liệu thủ phạm có nhận thức được hành vi của mình hay không (hoặc đáp ứng một quy định pháp lý nào đó liên quan đến căn bệnh tâm thần tại khu vực pháp lý nơi tội phạm xảy ra.)
Dan giết chết dì của mình bằng một cái bẫy và chặt đầu của bà ấy. Tội ác kinh khủng đến mức người ta nghĩ rằng thủ phạm đã bị bệnh tâm thần. Luật sư bào chữa đã đệ đơn bào chữa bằng căn bệnh tâm thần. Trước khi xảy ra án mạng, Dan, 24 tuổi, là một kẻ không hề xa lạ với những hành vi bạo lực. Anh ta thừa nhận mê vũ khí từ năm 12 tuổi. Tiền sử hành vi phạm tội của anh ta bắt đầu ngay từ giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên khi anh ta phá hủy tài sản trong nhà của gia đình, sử dụng ma túy bất hợp pháp, thực hiện hành vi tấn công và bạo lực gia đình. Liên quan đến vụ án mạng, Dan cho biết anh ta đang thủ dâm trong phòng thì nghe thấy tiếng dì đi lên cầu thang. Anh ta mặc quần lót vào, túm lấy một chiếc thắt lưng đón sẵn người dì trên cầu thang, quấn dây nịt quanh đầu người dì thật chặt rồi sau đó bóp cổ bà ấy. Nghĩ rằng người dì vẫn còn thở, Dan kéo bà ấy xuống tầng hầm và chặt đầu bà. Anh ta nói với tôi, “Tôi nghĩ nếu cắt đầu bà ấy thì không đời nào bà ấy có thể thở được nữa”. Khi bị cảnh sát lấy lời khai, Dan khai rằng cái chết của người phụ nữ kia là do ngẫu nhiên. Khi tôi hỏi liệu việc chặt đầu để chắc chắn bà ấy không còn thở có phải là một tai nạn hay không, anh ta trả lời: “Không”. Dan muốn chắc chắn rằng dì của mình không thể sống sót để cảnh sát triệu tập hay làm chứng trước tòa. Dan không có tiền sử bệnh tâm thần nhưng tuyên bố bị điên. Bồi thẩm đoàn tuyên anh ta phạm tội giết người cấp độ một.
Mắc bệnh tâm thần không có nghĩa là một người mất khả năng đưa ra lựa chọn hay mất khả năng phân biệt giữa đúng và sai. Tuy nhiên, một số trường hợp chắc chắn có thể gây nhầm lẫn. Ngay sau khi Norman chĩa súng vào một nhân viên giao dịch ngân hàng và trốn thoát cùng số tiền mặt cướp được, anh ta đã bị bắt và bị buộc tội cướp có vũ trang. Tòa án yêu cầu đánh giá để xác định trạng thái tinh thần của anh ta tại thời điểm phạm tội. Norman khẳng định “thần côn trùng” là cha anh ta đã ra lệnh cho anh ta đi cướp ngân hàng và anh ta đang tuân theo mệnh lệnh đó. Anh ta từng có tiền sử bệnh tâm thần với nhiều lần phải nhập viện điều trị.
Norman từng trải qua thời gian dài thất nghiệp nhưng vẫn có thể tự xoay xở nhờ sự giúp đỡ về mặt tài chính từ cha mẹ. Trước khi cướp ngân hàng, Norman đã cạn kiệt tiền tiêu và nợ nần chồng chất. Với vài trăm đô la, anh ta đến thành phố Atlantic, New Jersey, để đánh bạc. Anh ta thua hết số tiền nhưng vẫn đến đó và đặt cược số tiền ít ỏi còn lại. Lần này, anh ta may mắn hơn. Tuy nhiên, anh ta không sử dụng tiền thắng cược để trả nợ và những kẻ đòi nợ tiếp tục săn lùng anh ta. Anh ta nói rằng với thân phận con trai của thần côn trùng, anh ta đã tìm đến “cha” của mình để được hướng dẫn và chỉ bảo rằng anh ta có thể cải thiện tình hình bằng cách cướp ngân hàng. Anh ta đã sử dụng số tiền có được từ đánh bạc để mua một khẩu súng và thực hiện hành vi phạm tội.
Tôi không bao giờ có thể xác định được liệu Norman đã bịa đặt ra “thần côn trùng” để biện minh cho vụ án pháp lý của mình hay liệu “thần côn trùng” là biểu hiện của những đợt loạn thần không thường xuyên của anh ta. Khi tôi xem xét chuỗi sự kiện, rõ ràng là Norman đã đưa ra những lựa chọn có chủ ý ở những thời điểm quan trọng. Tội danh của anh ta liên quan đến việc cướp được số tiền mà anh ta rất cần. Norman lựa chọn địa điểm cho phép đánh bạc. Anh ta có thể mua vé xe buýt và tự mình đến đó rồi quay lại thành công. Bị thua hết tiền trong chuyến đi đầu tiên, Norman quyết định thử lại và thành công hơn. Anh ta có thể đã tiêu số tiền đó theo nhiều cách. Tuy nhiên, lựa chọn của anh ta là mua một khẩu súng để có được nhiều tiền hơn. Anh ta không đến cướp tiền tại một khu sân chơi hay của một người bán thịt mà đã đến một ngân hàng để thực hiện vụ cướp. Giống như Norman, một người có thể bị bệnh tâm thần nhưng vẫn duy trì được khả năng lập kế hoạch và thực hiện một hành vi phạm tội phức tạp.
Tôi từng phỏng vấn rất nhiều kẻ phạm tội tuyên bố rằng giọng nói đã hướng dẫn họ giết người. Rick khẳng định anh ta nghe thấy những tiếng nói chỉ đạo anh ta tự sát hoặc giết người khác. Tuy nhiên, trước khi thực sự giết một người nào đó, Rick đã dành hơn một thập kỷ để phớt lờ tiếng nói và không tuân theo mệnh lệnh của chúng. Anh ta không hề có ý định tự tử, cũng như không dính líu đến bất kỳ cuộc hỗn chiến nào. Lý do Rick đưa ra để giết một người bạn là những giọng nói nói với anh rằng người bạn đó dự định giết anh ta. Hóa ra anh ta và người bạn kia từng có nhiều mâu thuẫn gay gắt. Như vậy, vụ án mạng xảy ra trong bối cảnh một mối quan hệ đầy biến động. Rick thừa nhận trong quá trình giết người, anh ta hoàn toàn không nghe thấy giọng nói kia. Sau khi giết bạn của mình, ban đầu Rick đã bịa đặt một câu chuyện về việc bị cướp và bị đe dọa. Khi cảnh sát bắt được anh ta, Rick có đủ lý trí để tuân theo chỉ dẫn của họ và chấp nhận bị bắt giữ. Một người có thể bị ung thư và thủy đậu cùng một thời điểm, nhưng căn bệnh này không hề liên quan đến căn bệnh kia. Và như vậy, một người có thể mắc bệnh tâm thần nhưng vẫn biết phân biệt đúng sai và đưa ra những lựa chọn hợp lý.
Trong suốt ba tuần ở thời điểm mùa thu năm 2002, John Muhammad và Lee Boyd Malvo đã thực hiện một vụ khủng bố khu vực Washington, D.C., giết chết 10 người và làm bị thương 3 người khác. Malvo, mới 17 tuổi khi phạm tội, bị kết tội giết người vì bắn chết nhà phân tích của FBI Linda Franklin bên ngoài một cửa hàng ở Virginia. Các luật sư của cậu ta đã vào cuộc để bào chữa với lý do căn bệnh tâm thần. Họ cho rằng, với tư cách là một người cha, John Muhammad đã thống trị và truyền bá tư tưởng cho cậu bé Lee Malvo còn trẻ tuổi và dễ bị ảnh hưởng. Các chuyên gia bào chữa cho thấy Malvo đang mắc chứng “rối loạn phân ly”. Theo Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (APA), “Đặc điểm quan trọng [của chứng bệnh này]… là sự gián đoạn trong các chức năng thường được tích hợp của ý thức, trí nhớ, danh tính hoặc nhận thức”. 5 APA tuyên bố rằng chứng rối loạn này có thể tự biểu hiện ở những người đã “trải qua thời gian bị cưỡng bức mạnh mẽ và kéo dài”, chẳng hạn như xảy ra trong quá trình tẩy não.
Trọng tâm của lời bào chữa này là Malvo không còn là chính mình bởi vì cậu ta bị John Muhammad “đầy lôi cuốn nhưng ranh ma phù phép”. Tờ Washington Post tóm tắt nội dung của lời bào chữa là “cố gắng thuyết phục bồi thẩm đoàn rằng người cựu chiến binh trong Chiến tranh vùng Vịnh Ba Tư (tức là ông Muhammad) đã biến Malvo thành một thầy tu, một người bảo hộ cho kẻ giết người mất khả năng phán đoán sáng suốt và ý chí tự do khi cậu ta khuất phục trước sự kìm kẹp tâm lý của người bạn đồng hành lớn tuổi”. 6 Một chuyên gia về tôn giáo và một chuyên gia về trẻ em trong quân đội đã thay mặt Malvo làm chứng cho điều đó. Ngoài các luật sư của bị cáo, nhiều nhà phân tích và bình luận tin chắc rằng Malvo bị bệnh tâm thần. Câu chuyện trên trang bìa của tạp chí Nezosapeek ngày 6 tháng 11 năm 2002 có tựa đề “The Sick World of the Snipers” (tạm dịch: Thế giới đau đớn của lính bắn tỉa).” 7
Tôi đóng vai trò là chuyên gia phục vụ quá trình khởi tố trong suốt giai đoạn đánh giá sức khỏe tâm thần tại phiên tòa. Sự chứng nhận của tôi là nội dung được công khai. Tôi đã dành 34 giờ để phỏng vấn Lee Boyd Malvo và không hề cảm thấy đây là chàng thanh niên ngoan ngoãn, dễ bảo và từng bị một kẻ giết người dẫn dắt lạc lối. Trên thực tế, Malvo nói với tôi một cách không chắc chắn rằng anh ta “không phải là người nhạy cảm và không hề yếu đuối”. Khi còn là một cậu bé, Malvo có ý chí mạnh mẽ và dễ dàng nổi cáu khiến người khác phải sợ hãi. Anh ta kể cho tôi về việc dùng thùng rác để đánh một bạn học sau khi xác định cậu ta đã trộm bữa trưa của mình. Anh ta nhớ lại bản thân từng ước có một con dao để cắt đứt tay cậu bé đó. Trước khi gặp John Muhammad, Malvo đã trộm tiền của mẹ mình, liên tục trộm cắp và giết hơn chục con mèo hoang bằng súng cao su và vòng bi kim loại. Một nhà tâm lý học khác làm chứng cho vụ truy tố này nhận thấy Malvo đã thay đổi câu chuyện của mình để phù hợp với mô tả của luật sư rằng cậu ta là một cậu bé ngây thơ và nghèo túng, sẵn sàng được uốn nắn dạy dỗ. Tôi và một nhà tâm lý học khác đều thấy rõ rằng Lee Boyd Malvo háo hức ôm lấy Muhammad và có nhiều quan điểm chung với ông ta về thế giới. Bồi thẩm đoàn đã kết tội Lee Boyd Malvo tội giết người và tuyên án tù chung thân.[*]
[*] Tôi thảo luận chi tiết hơn về trường hợp này trong cuốn sách The Myth of the “Out of Character” Crine (tạm dịch: Câu chuyện về Tội ác “Khác với Tính cách”) của tôi.
TÔI ĐÃ BỊ mô tả là một người “không tin vào” lời biện hộ bằng căn bệnh tâm thần. Điều này không chính xác. Tôi chắc chắn nhận thấy những kẻ phạm tội đang giả điên để trốn tránh trách nhiệm, từ đó được đánh giá là bị tâm thần về mặt pháp lý và tránh được án phạt tù. Tuy nhiên, mọi trường hợp đều mới mẻ và công việc của tôi không phải được dẫn dắt bởi những gì tôi “tin tưởng” mà bởi bằng chứng. Trong vài năm qua, tôi từng gặp hai bị cáo đủ tiêu chuẩn để được đánh giá là bị tâm thần theo luật của Khối thịnh vượng chung Virginia. Trong một trường hợp, bồi thẩm đoàn không đồng ý và cho rằng bị cáo vẫn hoàn toàn bình thường. Trong trường hợp còn lại, tôi được Cơ quan tố tụng lựa chọn để đánh giá một người phụ nữ bị buộc tội hành hung cán bộ cảnh sát, lái xe ẩu và hủy hoại tài sản.
Một buổi sáng, Ariele thức giấc khi nghe thấy những giọng nói lớn tiếng tuyên bố rằng thế giới sắp kết thúc. Những giọng nói yêu cầu cô ấy đi mua sắm đồ dùng tạp hóa, những thứ cô ấy cần và không phải lo lắng về việc trả tiền. Khi đến cửa hàng, cô bất ngờ và bối rối khi thấy khách hàng vẫn thanh toán như mọi ngày. “Tôi rất buồn vì nghĩ rằng mọi thứ đều miễn phí, cô ấy nhớ lại. Ariele gặp phải một nhân viên cửa hàng mà cô cho là đang tiến về phía mình với vẻ ngoài đe dọa. Cô ấy đáp trả bằng cách xô ngã người phụ nữ đó, quật ngã cô ta và sau đó rời cửa hàng mà không cầm theo món đồ nào. Ariele nhìn thấy một xe tuần tra của cảnh sát kéo đến nhưng không nghi ngờ chiếc xe đó có liên quan gì đến cô. Cô ấy nhảy vào xe của mình và đi về nhà. Cảnh sát ghi nhận tốc độ lái xe của cô ấy lên đến 128km/h trong một khu vực bị ách tắc. Những lái xe phải tránh đường cho cô và người đi bộ sợ hãi đến cứng người trên đường đi dành cho họ. Còi báo động vang lên, một chiếc xe tuần tra đuổi theo cô. Ariele chỉ còn cách một đoạn đường ngắn trước khi cô tấp vào con hẻm dẫn đến căn hộ của mình. Cô nhớ đã nhìn thấy một chiếc xe cảnh sát trước mặt. Cô nhanh chóng giảm tốc độ nhưng sau đó vẫn lao vào chiếc xe. Cô nhớ các nhân viên cảnh sát yêu cầu cô ra khỏi xe nhưng cô không chấp hành hiệu lệnh. Cô ấy kể lại rằng bản thân cảm thấy sẽ không có gì gây hại nếu cô vẫn ngồi trong chiếc xe ô tô của mình. Cảnh sát cố gắng kéo cô ra ngoài nhưng vấp phải sự kháng cự. Họ đã dùng súng điện đối với Ariele, sau đó dùng chân lôi cô ra, còng tay và gọi xe cấp cứu.
Câu hỏi đặt ra là liệu người phụ nữ này có bị bệnh tâm thần hay không, và nếu đúng như vậy, liệu bệnh tâm thần có làm cô ấy suy yếu đến mức không còn biết đúng sai hay không. Theo báo cáo của cảnh sát, Ariele lái xe khéo léo, di chuyển ở tốc độ cao qua dòng xe cộ và đến địa điểm dự định mà không xảy ra sự cố – ít nhất là cho đến khi cô tông vào xe cảnh sát. Việc lái xe có chủ đích của cô ấy dường như cho thấy khả năng phán đoán của cô ấy không bị suy yếu quá mức. Tuy nhiên, cô ấy có thể thuộc lòng con đường đã đi vì từng lái xe từ nơi ở đến cửa hàng tạp hóa rất nhiều lần.
Tôi đã dành nhiều giờ để phỏng vấn Ariele, các thành viên trong gia đình cô ấy, bác sĩ tâm lý và nhân viên xã hội hiện tại cũng như xem xét bệnh án của cô ấy. Những tiếng nói bắt đầu làm phiền cô từ thời niên thiếu, nhưng cô không muốn ai biết về chúng. Khi còn trẻ tuổi, cô ấy đã thấy những giọng nói xuất hiện và biến mất theo tâm trạng thất thường của bản thân. Sau khi vừa tốt nghiệp trung học, cô ấy đã nhiều lần thất bại trong chuyện tình cảm. Do nghĩ rằng bản thân chỉ thu hút với “những người đàn ông tồi” nên Ariele đã cố tình tăng gần 45kg để “tôi sẽ không thu hút họ nữa”. Ariele định tự tử sau khi kết hôn chưa đầy nửa năm. Khi chồng cô phát hiện cô nhốt mình trong căn phòng ngủ của họ, anh ta đã gọi điện báo cảnh sát. Ariele nhớ lại, “Tôi muốn nằm trên chiếc giường của mình và chết một cách thanh thản”. Cô ấy phải nhập viện và điều trị sốc điện sau khi không có phản ứng gì trước những nỗ lực cứu chữa trước đó.
Sau khi ra viện, Ariele đã đảm nhiệm một loạt các công việc khác nhau, hoàn thành tốt từng công việc cho đến khi cô bắt đầu nghe thấy một số giọng nói và hành xử thất thường. Anh trai của Ariele nhận xét: “Cô ấy là người yêu thương và nhân hậu nhất khi cô ấy đang trong quá trình điều trị y tế. Khi không được điều trị y tế, việc ở gần cô ấy sẽ thật đáng sợ. Cô ấy trở thành một người mà bạn không hề quen biết”.
Ariele được các bác sĩ tâm thần điều trị và kế đơn thuốc, tuy nhiên cô ấy chỉ uống tùy theo cảm xúc của bản thân. Một vài tháng trước khi bị bắt, Cô ấy đã ngừng điều trị và không dùng bất kỳ loại thuốc nào được kê đơn. Bác sĩ tâm lý đánh giá cô “hoàn toàn bị tâm thần” trong lần cuối vị bác sĩ gặp cô ấy. Khi Ariele không duy trì các cuộc hẹn tiếp theo, bác sĩ đã cố gắng liên lạc với cô nhưng không thành công, sau đó gọi cho anh trai cô. Cô ấy đã đạt đến tình trạng trốn tránh mọi người, kể cả gia đình và ẩn mình trong căn hộ riêng. Cô nhớ từng nghe thấy “nhiều giọng nói, cả nam lẫn nữ, gần như là ma quỷ”. Ariele cho biết: “Tôi tưởng chúng có thật. Họ đến và nói chuyện với tôi cả ngày lẫn đêm”. Anh trai cô vô cùng hoảng hốt nên đã gọi điện báo cảnh sát. Tại trung tâm xử lý khủng hoảng, cô ấy đã gây ấn tượng với nhân viên tiếp nhận khi thể hiện bản thân đủ tỉnh táo để được ghi vào biên bản nhận xét rằng các câu trả lời của Ariele “logic, nhạy bén và hợp lý”. Do đó, cô ấy không đủ tiêu chuẩn để nhập viện. Ariele giải thích với tôi rằng cô ấy giữ bình tĩnh và tỉnh táo đủ lâu để vượt qua cuộc phỏng vấn bởi vì cô ấy sợ bị nhốt ở bệnh viện tâm thần trong suốt quãng đời còn lại.
Sau khi bị bắt, Ariele bị giam trong một trung tâm giam giữ dành cho người trưởng thành và cô ấy vẫn tiếp tục nghe thấy những giọng nói kia. Cô ấy nhớ lại: “Tôi chỉ trùm khăn lên đầu”. Cô từ chối nói chuyện với luật sư của mình và từ chối mẹ mình trong vài lần đầu tiên bà đến thăm. Cô ấy nhớ lại: “Tôi nghĩ mình không an toàn. Tôi vẫn nghe thấy giọng nói và nhìn thấy mọi thứ”.
Ariele được chuyển đến một bệnh viện cấp bang, ở đó cô ấy có thể được đánh giá 24/24 và được kê loại thuốc phù hợp. Cô ấy nhớ lại, “Nơi này thật tuyệt vời. Họ nói chuyện với tôi như một con người thực sự, không giống như tôi là một kẻ điên. Tôi không bị nhốt trong chiếc lồng và được nhận tất cả cả các loại thuốc men”. Khi là bệnh nhân tại bệnh viện, Ariele không muốn làm những điều điên rồ vì sợ rằng mình sẽ bị nhốt vô thời hạn. Vì nỗi sợ hãi này, cô ấy sẽ không có lý do gì để giả vờ mắc phải căn bệnh tâm thần.
Ariele không chỉ có tiền sử rối loạn tâm thần, mà tại thời điểm phạm tội, Ariele còn bối rối, vô tổ chức và không phản ứng đến mức bị cảnh sát lôi ra khỏi xe. Trong báo cáo với công tố viên, tôi nếu rõ, vào thời điểm phạm tội, Ariele đã mắc phải căn bệnh tâm thần đến mức không thể đánh giá được bản chất, tính cách và hậu quả trong hành động. Vụ án không được khởi tố. Ariele vẫn sống trong cộng đồng, được gia đình hỗ trợ và được các nhà cung cấp dịch vụ điều trị tâm thần theo dõi chặt chẽ.
Hình thức bào chữa bằng căn bệnh tâm thần vẫn còn gây tranh cãi. Có một số lưu ý dành cho những người thực hiện các đánh giá này. Một là phải mất nhiều giờ thăm dò để thâm nhập vào các bản tự khai của bị cáo và hiểu được quá trình suy nghĩ của anh ta. Thứ hai, không nên cho rằng vì một người bị loạn thần vào thời điểm đánh giá mà cho rằng anh ta bị loạn thần vào thời điểm phạm tội. Cuối cùng, ngay cả khi có thể chắc chắn rằng người đó bị bệnh tâm thần khi thực hiện hành vi phạm tội thì điều đó cũng không có nghĩa anh ta không thể phân biệt đúng sai.
Nhập viện điều trị căn bệnh tâm thần mang lại cho kẻ phạm tội một lời bào chữa giúp hắn có thể tiếp tục thực hiện nhiều hành vi phạm tội hơn. Mỗi lần điều trị tại cơ sở tâm thần đều giúp anh ta có thêm tài liệu chứng minh căn bệnh tâm thần đó. Bất cứ khi nào bị bắt, anh ta sẽ được coi như một phạm nhân với tình trạng tâm thần. Do đó, đối với một hành vi phạm tội mới, anh ta có thể bị đưa vào bệnh viện thêm một lần nữa chứ không phải nhà tù. Nếu anh ta nghĩ rằng có thể kiếm được một món hời lớn hơn, có thể là một cuộc sống nhẹ nhàng hơn trong bệnh viện thay vì trong nhà tù, anh ta sẽ tiếp tục ranh ma hơn những “bác sĩ tâm thần”.