Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 2

Lượt đọc: 384 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13
giam giữ

Vào giữa năm 1982, tại thời điểm ấn bản đầu tiên của cuốn sách này đang trong quá trình thực hiện, có tổng số 394.380 tù nhân đang bị giam giữ ở Mỹ. Đến cuối năm 2011, có tới 2.266.800 người trưởng thành bị giam giữ tại các nhà tù liên bang và tiểu bang hoặc nhà tù cấp hạt. 1 Ngoài ra, có 4.814.200 người đang trong thời gian thử thách hoặc tạm tha có điều kiện. Năm 2012, xấp xỉ 1/35 người trưởng thành ở Mỹ bị giam giữ, thử thách hoặc tạm tha có điều kiện.

Các nhà tù thực hiện bốn chức năng. Thứ nhất là răn đe: mọi người tuân theo pháp luật và không phạm tội vì họ không muốn mất tự do. Chức năng thứ hai là trừng phạt: xã hội muốn “đáp trả” và trừng phạt những kẻ đã phạm tội. Chức năng thứ ba là tước bỏ khả năng thực hiện: tội phạm không thể làm hại những công dân tuân thủ pháp luật nếu bị giam giữ. Cuối cùng, nhà tù tạo ra cơ hội hoàn lương. Đó là lý do tại sao hầu hết các hệ thống nhà tù sử dụng thuật ngữ “cải tạo” trong các tên gọi chính thức. Tuy nhiên, các nhà tù thường không góp phần cải tạo tội phạm và bạn sẽ thấy điều đó trong chương này.

Các phong trào cải cách nhà tù đang tăng nhanh cả về cường độ và phạm vi. Một lý do đưa ra là chi phí giam giữ tăng vọt. Người ta ước tính rằng chi phí nhà ở của một tù nhân trong nhà tù ở Thành phố New York là 167.000 đô la mỗi năm, bằng với chi phí giáo dục bốn năm đại học ở các trường Ivy League. Thời điểm cuối năm 2011, một năm học tại Đại học Princeton có mức phí 37.000 đô la, trong khi một năm bị giam giữ trong nhà tù bang New Jersey tiêu tốn 44.000 đô la. Những người chỉ trích các hoạt động tuyên án hiện tại cho rằng, với những bước tiến mới của công nghệ, có thể áp dụng hình phạt đối với những người phạm tội bất bạo động, rủi ro thấp mà không cần giam giữ cũng như không đe dọa đến sự an toàn của cộng đồng. Giám sát GPS và “vòng đeo chân” điện tử đã được sử dụng rộng rãi giúp thực hiện hoạt động giám sát chặt chẽ.

Các nhà cải cách cũng đang chú ý đến việc cải thiện điều kiện bên trong các cơ sở cải tạo. Vì số lượng tù nhân quá đông nên tòa án đã lệnh cho một số bang trả tự do cho các tù nhân trước thời hạn. Một trọng tâm khác trong nỗ lực cải cách là giải quyết tình trạng thường xuyên bị tấn công tình dục trong tù. Năm 2003, Đạo luật Xóa bỏ Hiếp dâm trong tù được thông qua với mục tiêu xóa bỏ nạn hiếp dâm trong các cơ sở cải tạo dành cho người trưởng thành và trẻ vị thành niên.” 2 Một lĩnh vực khác được các nhà hoạt động cải cách chỉ ra là áp dụng thời gian biệt giam kéo dài trong những nhà tù được gọi là supermax (viết tắt của “super maximum security” – tạm dịch là siêu an toàn). Những cơ sở này được thiết kế để giam giữ những kẻ phạm tội bạo lực và nguy hiểm nhất, và từng phải chịu chỉ trích vì vi phạm bản Tu chính án thứ Tám của Hiến pháp Mỹ quy định việc nghiêm cấm hình phạt tàn nhẫn và bất thường.

Một quan điểm sai lầm đã tồn tại trong nhiều thập kỷ là các nhà tù, nhà tạm giữ và trung tâm giam giữ trẻ vị thành niên là trường học cho tội phạm; rằng chúng biến mọi người thành những Con người tồi tệ hơn trước khi bị giam giữ. Nhà tù chỉ là nơi sinh sôi nảy nở cho tội phạm ở một mức độ nhất định khi chúng mở rộng liên kết và tìm chỗ dựa cho những kiểu suy nghĩ và hành vi chống đối xã hội. Mặc dù tội phạm có thể nghe thấy những cuộc trò chuyện thường xuyên về tội phạm, ma túy và tình dục, nhưng anh ta có quyền lựa chọn tham gia hoặc phớt lờ chúng. Anh ta không phải là nạn nhân không may bị bạn tù làm hư hỏng. Anh ta đã có những lựa chọn trong quá khứ và có quyền quyết định có nên tiếp tục cuộc sống phạm tội trong nhà tù hoặc khi trở lại với xã hội.

Một quan niệm sai lầm có liên quan là tội phạm bị giam giữ không thể thay đổi và tác động xấu từ văn hóa trong tù. Một trong những ấn phẩm của Hội thảo Tác động Gia đình tại Michigan có nêu, “Sự sống còn của xã hội liên quan đến các hành vi trốn tránh và lừa dối, gây hấn và bạo lực. Môi trường nhà tù không khuyến khích các hành vi cần thiết để trở thành một [người] có trách nhiệm hoặc thậm chí là một người trưởng thành biết quan tâm và có lòng trắc ẩn”. 3 Trong khi sự thật là hầu hết các tù nhân gần như không quan tâm đến sự thay đổi nên họ không can thiệp vào số ít những người muốn thay đổi. Tôi đã trò chuyện rất lâu với các từ nhân nói rằng họ sẽ dành thời gian phục vụ bản thân trong khi ở tù. Điều này có nghĩa là họ sẽ nỗ lực tự hoàn thiện bản thân để có thể sống trách nhiệm hơn, từ đó có một cuộc sống tốt đẹp hơn khi ra tù. Miễn là họ không hành động trong tù, vẫn hòa đồng và không tự đề cao bản thân hơn những người khác thì những tù nhân khác cũng không can thiệp.

Một phạm nhân đang thụ án về hành vi giết người nhận xét về tác động của nhà tù đối với tù nhân như sau: “Nhà tù có thể là trường học dạy bất cứ thứ gì bạn muốn học, cho dù đó là nghề nghiệp, chứng chỉ tốt nghiệp trung học GED, ngôn ngữ thứ hai hay tội phạm. Nó chứa đựng tất cả những gì về một con người, những gì họ chọn để tập trung vào nếu họ quyết định muốn tập trung. Nếu họ chọn con đường phạm tội thì sẽ không thiếu người hướng dẫn. Nhiều tù nhân tìm thấy người có thể giúp họ, cùng nói chuyện và tìm hiểu về tội phạm cũng như cùng nhau lên kế hoạch cho những hoạt động phạm tội trong tương lai. Mọi điều này đều nằm trong nỗ lực thực hiện một tội ác hoàn hảo mà không bị bắt và kiếm được nhiều tiền. Tôi biết những tù nhân đã dành ra hàng giờ mỗi ngày trong nhiều năm để tìm hiểu về những hoạt động hình sự học trong tương lai”. Tù nhân này không muốn tham gia vào những cuộc thảo luận đó. Thay vào đó, anh ta cần mẫn rèn luyện thể chất; đọc nhiều loại sách, bao gồm cả những cuốn sách về cải thiện bản thân, nghiên cứu tôn giáo; và tham gia các lớp học. Anh ta vẫn giữ các quan hệ dân sự với các tù nhân khác và hợp tác với các nhân viên nhà tù, nhưng chủ yếu giữ cho riêng mình.

Dù ở trong tù hay ngoài đường phố thì tội phạm đều có những suy nghĩ giống nhau. Một khi họ thích nghi với môi trường xung quanh, hầu hết đều quyết tâm thiết lập bản thân trong hệ thống phân cấp tù nhân. Các tù nhân có các phương pháp khác nhau để đạt được những gì họ muốn trong tù, giống như họ đã làm ở bên ngoài. Một số công khai chiến đấu riêng lẻ hoặc theo băng nhóm, thách thức các nhân viên mọi lúc mọi nơi và bất chấp các quy định một cách trắng trợn. Một tù nhân có thể đúc kết ra rằng các cuộc đối đầu trực tiếp với nhân viên hoặc bạn tù sẽ chẳng có tác dụng gì và kiềm chế mới thể hiện sự khôn ngoan. Tù nhân gương mẫu có thể là một diễn viên tài giỏi. Khinh thường mọi người từ quản giáo đến các sĩ quan cải huấn nhưng anh ta lại tâng bốc và chơi với họ. Bằng cách xây dựng các đồng minh, anh ta kỳ vọng cuộc sống sẽ dễ dàng hơn. Ngay cả những tù nhân cứng rắn nhất cũng có thể cho rằng - để được ghi nhận – điều quan trọng là cần lau dọn phòng giam, lau chùi sàn nhà mỗi sáng đến khi chúng bóng lên và làm việc siêng năng trong công việc tổ chức của mình.

Một tù nhân chưa bao giờ vi phạm trong những năm ngồi tù vì tội giết người cấp độ hai bày tỏ quan điểm phổ biến trong các tù nhân rằng, “Sự khinh miệt của tôi đối với các sĩ quan ngày một tăng dần, nó gần như không thể diễn tả được. Tôi thậm chí không coi họ là người. Thật khó để phân biệt giữa chúng tôi và họ nếu họ không mặc đồng phục. Họ là những tên tội phạm tham gia lực lượng trước khi có thể bị bắt. Tôi thực sự thấy mình tốt hơn nhiều người tôi gặp ở đây – tù nhân, lính canh và nhân viên. Thật khó để không nghĩ như vậy”.

Bố mẹ của một tù nhân khác yêu cầu tôi đánh giá đứa con trai 27 tuổi của họ, Devon, khi anh ta đang ở trong tù. Bố mẹ anh ta nghĩ rằng họ phát hiện ra mong muốn thay đổi thực sự của anh ta. Họ muốn biết liệu tôi có đồng ý với đánh giá của họ hay không, cũng như tìm cách giúp con trai họ trong thời gian cậu bé bị giam giữ và sau khi được thả. Không khó để hiểu tại sao bố mẹ Devon lại hy vọng như vậy. Từ những gì họ có thể nhận ra, Con trai họ đã có một thái độ mới đối với họ và đối với cuộc sống nói chung. Trong những lần đến thăm tù, họ đã nghe Devon nói về việc trở về nhà và bắt đầu lại cuộc sống dưới sự hướng dẫn của họ. Tuy nhiên, Devon lại trình bày với tôi một bức tranh hoàn toàn hỗn tạp. Anh ta tuyên bố muốn thay đổi và chỉ ra sự thật mình đã cư xử phải phép khi ở trong tù; không có báo cáo nào về việc vi phạm các quy tắc của anh ta. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói, rõ ràng ý tưởng thay đổi của anh ta là nhằm tuân thủ để tránh rắc rối với nhân viên nhưng vẫn làm bất cứ điều gì anh ta muốn.

Devon nói rằng anh ta “bị buộc tội” buôn bán ma túy và sở hữu một khẩu súng chưa đăng ký. Từ thời thơ ấu, anh ta đã tham gia vào các vụ trộm, vụ cướp lớn, phá hủy tài sản và sau đó nhiều lần vi phạm trong thời gian thử thách. Devon đặc biệt lạ thường khi hồi tưởng lại quá trình suy nghĩ của bản thân. Anh ta nói rõ ràng và chi tiết về thái độ của mình đối với người bạn cùng phòng giam. “Tôi nhìn thấy những điểm yếu và đe dọa lòng tự trọng của anh ta. Anh ta thừa cân và suốt ngày ăn. Tổi khiến anh ta cảm thấy bản thân béo phì và lười biếng. Tôi chế giễu bức ảnh bạn gái anh ta. Tôi dằn vặt anh ta. Tôi đái vào chăn của anh ta, nhổ nước bọt vào anh ta và đái vào cốc của anh ta. Tôi dùng dao lam cứa vào tay anh ta. Tôi đối xử tàn nhẫn với anh ta. Anh ta mong muốn được tôi chấp nhận. Khi anh ta ngày càng thân thiện với tôi thì tôi càng làm dụng quyền lực với anh ta. Anh ta rất khó chịu vì sự yếu đuối của mình và cách đi đứng nhu nhược khiến anh ta dễ dàng trở thành con mồi”. Devon, một người đàn ông da trắng, tiết lộ một khía cạnh khác trong tính cách của bản thân khi nói về thái độ đối với các tù nhân người Mỹ gốc Phi. “Tôi đã lấy con xúc xắc mà họ đánh bạc khi họ không chú ý và ném vào bồn vệ sinh rồi xả nước. Tôi coi thường người da đen và thường xuyên bị họ làm tức giận. Tôi rất khinh thường họ”. Devon tự hào là một kẻ thao túng bậc thầy và khoe khoang, “Tôi đã học cách tự mua vui cho bản thân mà không bị coi là kẻ gây rối. Tôi là chủ mưu của những rắc rối gây ra cho những người khác để mua vui cho bản thân. Tôi còn xúi giục người khác đi thực hiện hành vi đó”. Devon cố gắng thay đổi vừa đủ để tránh gặp rắc rối, trong khi vẫn tiếp tục thực hiện các hình thức phạm tội. Những người đại diện quản lý tại cơ sở phải giải quyết tình trạng hỗn loạn do Devon tạo ra mà không rõ nguồn gốc của nó.

Hành vi tốt sẽ được đền đáp xứng đáng bằng một địa vị đặc biệt hoặc đặc quyền nào đó và trong một số trường hợp, có thể là được ra từ sớm. Trong một số hệ thống, tù nhân có thể được công nhận là có “thời gian cải tạo tốt”. Nguyên tắc kết án Liên bang quy định giảm tới 15% thời gian thi hành án cho hành vi tốt. Một số bang thậm chí còn có các điều khoản phóng thích sớm hơn. Tù nhân có thể được giảm một ngày thụ án để đổi lại một số ngày nhất định có hành vi tốt. Nhưng hành vi tốt “bên trong các bức tường” không nhất thiết là dấu hiệu của hành vi tốt sau khi được thả. David Carpenter, “Kẻ giết người bên đường” ở California, được các nhân viên nhà tù tin tưởng đến mức hắn ta thậm chí còn điều hành các nhóm tư vấn. Một sĩ quan tạm tha dự đoán rằng những ngày sống ngoài vòng pháp luật của anh ta đã kết thúc. Anh ta bị giam giữ vì tội hành hung dã man trước khi được ân xá và sau đó giết hại những người đi bộ đường dài vô tội tại các công viên ở California.

Tội phạm tin rằng hình thức giam giữ là điều cuối cùng trong một chuỗi những bất công bắt đầu từ khi anh ta bị bắt. Trước đây, luật pháp và những quyền của người khác gần như chẳng có ý nghĩa gì, nhưng giờ đây, khi bị giam giữ, anh ta lại vô cùng quan tâm đến luật pháp trong việc khẳng định quyền của chính mình. Những tội phạm phải ngồi tù với các bản án dài hoặc án tử hình thường đưa ra nhiều lời bào chữa cho tình trạng khó khăn của bản thân: cảnh sát đã ra ngoài để bắt họ, những kẻ đồng phạm phản bội muốn được khoan hồng mới là thủ phạm thực sự, luật sư bào chữa của họ không đủ năng lực, thẩm phán thiên vị và các bồi thẩm viên đã chuẩn bị sẵn tinh thần trước khi họ xem xét đầy đủ bằng chứng.

Một thời gian dài sau khi thụ án, tội phạm có thể tìm cách thay đổi bản án hoặc xin giảm án. Một số tội phạm dành hàng giờ trong thư viện nhà tù để nghiền ngẫm sách luật và soạn đơn kháng cáo. Một số tội phạm chọn làm luật sư trong tù, tiến hành nghiên cứu pháp lý và chuẩn bị tài liệu cho bản thân và các tù nhân khác, đồng thời thu tiền, tài sản và những trợ giúp cá nhân như một khoản phí.

Sự khẳng định các quyền vẫn tiếp diễn trong suốt thời gian bị giam giữ và vượt xa khỏi mối bận tâm về các quy chế và thủ tục pháp lý. Khi tội phạm yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình, anh ta cố gắng hăm dọa các nhân viên, những người lo sợ xảy ra các vụ kiện tụng và bạo lực. Anh ta khẳng định quyền được phép tham gia một hoạt động nếu cảm thấy nó hấp dẫn, hoặc khẳng định quyền không tham gia nếu anh ta thấy nó khó chịu. Vào những thời điểm khác nhau, anh ta có thể đưa ra những quan điểm đối lập về cùng một vấn đề. Anh ta có thể yêu cầu điều trị tâm lý và đe dọa sẽ kiện để đạt được điều đó, hoặc anh ta có thể viện dẫn quyền từ chối điều trị.

Khi cánh cửa nhà tù lần đầu tiên khóa lại, một Số tội phạm nhất thời sợ hãi, hối hận và chán nản.

Những cảm xúc này không xa lạ gì; những tội phạm đôi khi có những cảm giác như vậy trên đường phố khi chúng mệt mỏi với việc phải lo lắng về những chuyện tồi tệ sẽ xảy ra hằng ngày hoặc khi chúng hối hận vì đã khiến những người quan tâm đến mình thất vọng. Khi ngồi sau song sắt, họ có nhiều thời gian để suy nghĩ. Hiện tại thật nghiệt ngã và tương lai thật ảm đạm. Một số đắm mình trong những lời cầu nguyện và đọc sách tôn giáo. Những người khác lại suy ngẫm về cách kết thúc mọi thứ. Tình trạng hỗn loạn và sợ hãi của những tội phạm này không kéo dài. Một người run sợ khi mới vào tù có thể trở lại như trước đây sau một thời gian - Vô cùng cứng rắn. Mặc dù ngay cả một số tội phạm dày dạn kinh nghiệm nhất khi mới ngồi tù cũng cảm thấy tuyệt vọng nhưng một số khác khi vào tù lại không thể hiện cảm xúc gì. Nếu một người phạm nhiều tội nhưng chưa bao giờ ngồi tù trước đó thì việc ngồi tù sẽ mang lại cho anh ta địa vị. Bởi vì đã gây dựng nên “tên tuổi” nên anh ta là một phần của các các liên minh lớn.

Hành vi của một tù nhân ban đầu có thể hướng đến những gì anh ta đã nghe về một cơ sở giam giữ trước khi đến đó. Các nhà tù có được tiếng tăm từ các “cựu sinh viên” của mình và những tội phạm khác nghe về cuộc sống tại một cơ sở giam giữ cụ thể. Một số cơ sở là những nơi an toàn tuyệt đối và khét tiếng là nơi kết thúc con đường cho những tội phạm không thể quản lý. Đây thường là những pháo đài ghê gớm với những hàng rào được bọc bằng nhiều lớp dây dao lam, tháp canh cao do lính canh có vũ trang giám sát, cổng điều khiển điện tử và giám sát bên trong bằng hệ thống camera giám sát. Tuy nhiên, các biện pháp an ninh phức tạp và tốn kém không ngăn được các tù nhân dễ thay đổi đâm chém, hãm hiếp, tham gia cuộc chiến giữa các băng đảng và bạo loạn. Ưu tiên cao nhất của một tù nhân là sống sót. Một tù nhân mới hiểu rằng anh ta phải chứng minh ngay từ đầu bản thân cũng cứng rắn như gã tiếp theo. Trong các cơ sở giam giữ những người phạm tội bạo lực, các nhân viên phải nỗ lực để ngăn chặn các tù nhân nắm quyền kiểm soát. Các tù nhân đôi khi giành chiến thắng và khiến các nhân viên bị đe dọa đến mức phải phụ thuộc vào chúng để duy trì trật tự.

Ở cực ngược lại là các cơ sở có mức độ an ninh tối thiểu, hay còn được gọi là các “trại” trong hệ thống liên bang. Các cơ sở này giam giữ những tội phạm ít nguy hiểm nhất. Một số cơ sở không có tháp canh, hàng rào bằng dây dao lam và giống với khuôn viên các trường đại học. Các tù nhân có thể mặc và giặt quần áo của riêng mình, tận hưởng những giờ thăm viếng tương đối tự do và có cơ hội tham gia nhiều lớp đào tạo mang tính học thuật hoặc dạy nghề. Các trại cũng tổ chức các môn thể thao trong nội bộ và các hoạt động xã hội do cộng đồng bảo trợ.

Các nhà tù “siêu an toàn” được xây dựng tại hơn 2/3 các bang. Một cơ sở giam giữ “siêu an toàn” liên bang ở Florence, Colorado, là nơi giam giữ những tù nhân nổi tiếng như kẻ khủng bố bom thư có biệt danh “Unabomber” Ted Kaczynski và kẻ đánh bom Tòa nhà Liên bang tại Oklahoma City, Terry Nichols, cũng như những kẻ khủng bố đã gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia. Các Cơ sở cải tạo “siêu an toàn” dành cho các tù nhân “tồi tệ nhất trong số những kẻ tồi tệ nhất” – những tù nhân nguy hiểm đến mức không thể giam giữ chung với những tù nhân thông thường trong các cơ sở cải tạo khác. Những tù nhân này thể hiện sự bạo lực trong xã hội và tiếp tục bạo lực khi bị giam giữ bằng những hành vi hành hung và thậm chí giết nhân viên và các tù nhân khác. Một số kích động bạo loạn hoặc là thủ lĩnh các băng đảng. Như đã đề cập, các nhà tù “siêu an toàn” đã trở thànhmục tiêu của các vụ kiện vì vi phạm bản Tu chính án thứ Tám. Các nguyên đơn cho rằng các tù nhân bị biệt giam thời gian dài và mất cảm giác nghiêm trọng trong một môi trường khắc nghiệt và gây ra những sang chấn tâm lý.

Ví dụ, Trent đang thụ án chung thân vì tội giết người cấp độ một. Trong thời gian bị giam giữ tại nhiều nhà tù khác nhau, anh ta đã sở hữu chồng chất hơn 50 báo cáo liên quan đến các hành vi, trong số đó có những vi phạm cực kỳ nghiêm trọng. Trent bị phát hiện sở hữu một chiếc cán được ghép từ một chiếc đinh và miếng gỗ. Có rất nhiều vụ việc trong đó anh ta tấn công các tù nhân, đấm, làm nghẹt thở, hất họ xuống đất và giẫm lên ho. Có thời điểm, anh ta đâm vào đầu một tù nhân và tiếp tục đánh cho đến khi hai tù nhân khác can ngăn. Trent thường xuyên lăng mạ các sĩ quan cải huấn. Có ngày, anh ta lau đuôi xe và ném tờ giấy về phía một vị đội phó. Trent hét vào mặt một nữ sĩ quan, “Cho tao ít cà phê đi, đồ chó chết. Nếu không thì đừng trách tao nhổ bọt vào mày đấy”. Cuối cùng, Trent bị đưa đến một nhà tù “siêu an toàn”. Anh ta đã soạn một bản tuyên bố dài dằng dặc cáo buộc vi phạm quy trình tố tụng để phản đối sự việc trên.

Trong thời gian thụ án chung thân vì tội giết người cấp độ một, cướp có vũ khí và hành hung, Rodney đã nhận hơn 24 báo cáo về hành vi vi phạm. Khi được yêu cầu lấy hết mọi thứ trong túi ra, anh ta từ chối và sau đó đánh vào mặt một sĩ quan rồi đe dọa sẽ “bắt” anh ta khi được thả ra. Anh ta cảm thấy phẫn nộ khi bị đưa ra một nơi tách biệt và hét lên, “Chúng mày đang kiểm soát tao chỉ vì tao đánh một thằng sĩ quan. Thế thì chúng mày sẽ làm được gì nếu tao đâm chết một thằng chó chết trong số chúng mày?” Khi đang đứng xếp hàng trong quán ăn tự phục vụ và nhìn chằm chằm vào một sĩ quan, Rodney “hạ thấp tay xuống háng anh ta và bắt đầu lắc dương vật và vùng bìu của anh ta” rồi cười. Anh ta nói với sĩ quan đó, “Nếu mày lại nói một lời chết tiệt nào nữa với tao nữa thì tao sẽ bắt mày ngay lập tức”. Tại một nhà tù khác, khi Rodney được đưa đến phòng biệt giam, anh ta tóm lấy một sĩ quan và bắt đầu hành hung. Rodney đã bị buộc tội cố tình hành hung vì sự việc trên. Trong một lần khác, anh ta bất ngờ tấn công một nhân viên bằng cách đấm anh ta. Sau đó, anh ta đe dọa sẽ giết viên người sĩ quan này sau khi ra tù. Rodney nhiều lần từ chối thực hiện những gì được yêu cầu và khủng bố cả nhân viên lẫn các tù nhân khác. Anh ta thông báo với một sĩ quan rằng anh ta phải có một phòng giam riêng và cảnh báo, “Anh cứ thử đưa ai đó vào phòng giam này xem, rồi tôi sẽ cho anh ta no đòn”. Một vi phạm nhỏ hơn, nhưng dù sao cũng là vi phạm, xảy ra khi anh ta lấy một cuốn sách luật từ thư viện mà không có sự cho phép, xé ra một trang, sau đó ghi tên anh ta nhằm thể hiện nó là của riêng anh ta.

Các tù nhân và nhân viên bớt lo sợ hơn nhiều khi những người kẻ như Trent và Rodney bị đưa đi khỏi cơ sở của họ. Trong một nhà tù “siêu an toàn”, những tù nhân như vậy phải gần như ở một mình cả ngày trong một phòng giam riêng. Khi đi tắm hoặc tập thể dục, họ thường bị xích chân, Còng tay và có ít nhất hai nhân viên đi cùng. Cũng giống như việc họ “giành được” con đường đi đến nhà tù “siêu an toàn” do hành vi bạo lực, cũng có một hệ thống các giai đoạn giúp họ tìm thấy lối thoát. Chương trình giáo dục và tự cải thiện luôn có sẵn cho những người muốn tham gia. Giáo sư Daniel Mears tại Đại học bang Florida đã trích dẫn cả “tác động không lường trước” tích cực và tiêu cực của các nhà tù “siêu an toàn”. 4 Một ví dụ về tác động tích cực là “cải thiện điều kiện sống và kết quả cho các tù nhân nói chung”; và mặt tiêu cực là tỉ lệ “bệnh tâm thần gia tăng”. Hiện tại, các nhà tù “siêu an toàn” vẫn là vấn đề bị chỉ trích và gây tranh cãi về mức độ hiệu quả trong việc đạt được mục tiêu của chúng.

TỘI PHẠM thường nhanh chóng phát hiện ra mối bất đồng giữa các nhân viên và khai thác nó. Trong nhiều cơ sở, những căng thẳng về chủng tộc diễn ra gay gắt. Hiểu rõ được điều này, tù nhân sẽ khơi gợi ra cuộc đua mà nó hoàn toàn không liên quan đến vấn đề nhưng phù hợp với anh ta. Anh ta rêu rao sự phân biệt đối xử để chuyển sự chú ý từ những việc làm sai trái sang việc xem xét liệu các nhân viên có thành kiến gì hay không. Anh ta sẽ can thiệp vào cuộc đua nếu anh ta mất đi một đặc quyền, bị nói chuyện gay gắt, bị yêu cầu làm điều gì đó anh ta không đồng ý, hoặc bị bắt vì vi phạm và sắp bị trừng phạt.

Trong tù, cũng giống như ngoài đường phố, việc có thể tin cậy ai vẫn chưa được giải đáp. Tội phạm không biết niềm tin là gì. Nếu họ sử dụng từ này và nói rằng họ “tin tưởng” ai đó, thì thường có nghĩa là người đó sẽ không phản bội họ. “Không chỉ điểm” là một mật mã giữa các tù nhân. Cái giá phải trả của việc chỉ điểm một tù nhân khác có thể là bị đánh đập hoặc cái chết. Mặc dù vậy, tù nhân nhận ra rằng mọi người đều sống vì bản thân và ngay cả người bạn thân nhất của anh ta cũng có thể trở thành người cung cấp thông tin để cứu lấy mạng sống của chính mình hoặc để có được đặc quyền. Mặc dù những người bị kết án đều có nhận thức chung về việc “không chỉ điểm” nhưng đặc tính chi phối trong nhà tù cũng giống như ở bên ngoài, “để mắt đến thằng nào thì tùy, nhưng trừ tao ra”. Trong một bài viết cách đây 34 năm trên tạp chí Corrections, Stephen Gettinger đã đưa ra một nhận xét vẫn còn nguyên giá trị. Ông ấy viết, “Một số quan sát viên nhà tù nói rằng các quy định cấm cung cấp thông tin trong bộ luật quản lý tù nhân được tôn trọng trong những hành vi vi phạm hơn là trong quá trình tuân thủ thực hiện. Việc mua bán thông tin cũng diễn ra phổ biến và cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của bất kỳ nhà tù nào, giống như việc nhận lấy thất bại vậy”. 5

Trong thời gian ngồi tù, tội phạm sẽ trải qua những thay đổi tâm lý. Có những giai đoạn trầm cảm sâu sắc, tương tự như giai đoạn khiến một số người choáng ngợp khi mới đến nơi này. Sau nhiều ngày, tuần và tháng trôi qua, cuộc sống trong tù khiến tù nhân cảm thấy khó chịu. Khi ở bên ngoài, tội phạm mong đợi một thế giới phù hợp với mình, và khi trong tù, hắn cũng như vậy.

Những lời phàn nàn của anh ta vang lên với sự phẫn nộ chính đáng khi anh ta phớt lờ thực tế rằng nơi anh ta đang ở chính là hậu quả từ chính những lựa chọn của bản thân.

Ngoài những lời phàn nàn, có thể có những hối tiếc thực sự. Trái ngược với sự ảm đạm trong nhà tù, các tù nhân thoáng thấy cuộc sống bên ngoài qua đài phát thanh, truyền hình, những lá thư, tạp chí định kỳ và những người đôi khi tới thăm. Họ có thể than thở về thực tế rằng họ đang già đi và cuộc sống đang trôi qua trước mắt. Họ có nhiều điều để hối tiếc - không chỉ là việc bị giam giữ mà còn là sự thờ ơ hoặc phản đối trước đây của họ đối với nhiều cơ hội để có một cuộc sống khác. Giờ đây, họ có rất nhiều thời gian để tự mình soi gương và ngẫm lại. Ernie nói rằng, anh ta đã chán ngấy cảnh ra vào tù và khiến gia đình bị tổn thương. Dù đồng tình với quan điểm cần phải xoay chuyển cuộc sống nhưng anh ta thú nhận những suy nghĩ khác đã liên tục ngăn cản anh ta. “Tôi nghĩ về việc giải quyết những vấn đề còn dang dở với những người vẫn nợ tiền tôi hoặc những người đã nói xấu tội. Tôi mường tượng về cách trừng phạt họ và tránh bị trừng phạt. Những mong muốn của tôi phần lớn là việc trả đũa và kiếm tiền bất hợp pháp. Trong khi đó, những cơn ác mộng với tôi là những rắc rối hoặc trốn tránh luật pháp”. Ernie nghĩ bản thân đã tìm ra giải pháp, “Hy vọng trong tương lai tôi có thể sử dụng các kỹ năng của mình trong một môi trường hợp pháp và chuyên nghiệp. Mặc dù muốn từ bỏ hành vi phạm tội nhưng tôi vẫn muốn thao túng, vạch ra âm mưu và lừa đảo. Giải pháp thay thế – làm việc chăm chỉ chỉ để vượt qua cuộc sống, thật quá sức và nhàm chán. Tôi thương lượng với chính mình về cách vượt qua tình cảnh chưa rõ ràng với rủi ro ở mức tối thiểu. Tôi không thể không biết rằng mình sẽ phải tham gia vào cuộc chiến nội tâm này trong suốt cuộc đời. Tôi tự hỏi hiện tại mình đang ở đâu nếu không gặp rắc rối với pháp luật”. Ernie từ chối tự vấn bản thân, làm những gì anh vẫn luôn làm và đổ lỗi cho những hoàn cảnh bao gồm cả những thứ do chính sự vô trách nhiệm của anh ta tạo ra. Anh ta khẳng định, “Nhà tù không phải là nơi dành cho người hối lỗi. Nó giống như một trường đại học dành cho tội phạm hơn”. Sau đó, anh ta chỉ trích bố mình vì “công việc của ông ấy đã tiêu tốn quá nhiều công sức. Lẽ ra ông ấy phải dạy tôi trở thành một người đàn ông”. Điểm mấu chốt là, bất kể có đổ lỗi cho ai thì Ernie vẫn thấy ý tưởng về một cuộc sống không phạm tội hoàn toàn đáng ghê tởm. Anh ta nhận xét, “Tôi bị choáng ngợp khi nghĩ đến việc ra tù và phải bắt đầu mọi thứ lại từ đầu”.

Một giải pháp để thay đổi là tự sát. Một số tội phạm có ý định tự tử trên đường phố khi mọi thứ không suôn sẻ. Khi bị giam giữ, một tù nhân có thể ngày càng chán nản vì cuộc sống vô nghĩa nhưng anh ta vẫn tiếp tục cáu giận ở một thế giới mà anh ta nghĩ sẽ không bao giờ tạo ra cơ hội bình đẳng. Một tù nhân đang có ý định tự tử cho biết, “Tôi sẽ không phải chịu đựng những điều tồi tệ nữa”.

Trong các nhà tù liên bang và tại các bang, có 185 tù nhân đã tự sát trong năm 2011. Trong thập kỷ trước đó, tỷ lệ tự tử của tù nhân trên toàn quốc là 15/100.000. (30 năm trước, tỷ lệ này cao gấp đôi con số đó.) 6 Những hành động tự sát nhằm tăng thêm hoàn cảnh bi kịch của tù nhân thường xuất hiện nhiều hơn so với những vụ tự sát thực tế. Một liều ma túy nặng nhưng không gây chết người, một nhát dao cắt cổ tay bằng một con dao tự chế thô sơ hoặc một hành động treo cổ tự tử non nớt sẽ buộc người khác phải chú ý. Tù nhân có thể sống trong một môi trường ít khắc nghiệt hơn, chẳng hạn như bệnh viện của nhà tù hoặc cơ sở tâm thần.

Tù nhân cảm thấy thất vọng có thể tìm đến sự cứu rỗi trong tôn giáo. Một số tội phạm nghiên cứu Kinh thánh hoặc kinh Koran và áp dụng các phần trong đó vào cuộc sống của chính họ. Họ đổ xô đến các lớp học tôn giáo và các nhóm thảo luận, tham gia đội hợp ca của nhà thờ, chia sẻ các chuyện và nghi thức tôn giáo, tham gia vào các chương trình tôn giáo khác. Một số tù nhân bỗng dâng trào nguồn cảm hứng tôn giáo và trở thành những người cải đạo theo một đức tin nhất định chỉ sau một đêm. Họ hăng hái truyền đạt những hiểu biết sâu sắc của mình cho người khác. Cuộc sống khuôn phép của những tù nhân này tràn ngập những điều về tôn giáo. Họ truyền vào tác phẩm nghệ thuật của mình những họa tiết tôn giáo. Thơ ca, văn chương và các tác phẩm khác vang lên với các chủ đề về tôn giáo. Một số tù nhân ít thể hiện công khai hơn về mối quan tâm của họ với tôn giáo thường “lùi về sau” và lặng lẽ dành hàng giờ để đọc và cầu nguyện.

Prison Fellowship có lẽ là tổ chức tôn giáo nổi tiếng nhất trong các nhà tù trên khắp thế giới. Nó được Chuck Colson, Cố vấn đặc biệt của Tổng thống Nixon, người đã phải ngồi tù sau Vụ bê bối Watergate, thành lập vào năm 1976. Khi ở trong tù, ông Colson đã trải qua sự thay đổi về tôn giáo. Trong năm 2012, Prison Fellowship hoạt động tại 334 nhà tù và theo báo cáo của tổ chức này, có 3.520 tù nhân đã quyết định dành cả đời đi theo Chúa Jesus. 7 Một ví dụ khác về chương trình tôn giáo mở rộng có thể thấy ở “chủng viện tại gia” tại nhà tù tiểu bang ở Angola, Louisiana. Những người tham gia có thể học lấy bằng cao đẳng liên kết về Mục vụ trong hai năm và bằng cử nhân về Thần học trong bốn năm. 8

Các nhân viên của nhà tù không thể biết liệu chứng trầm cảm, tâm linh hay những nỗ lực cải tạo là chính đáng hay liệu tội phạm có giở những thủ đoạn cũ hay không. Nếu thực sự diễn ra, các giai đoạn này có thể kéo dài hàng tháng. Các báo cáo mang tính cá nhân chứng tỏ sự cải thiện về mặt đạo đức trong tù đối với các tù nhân đang thực hành theo tôn giáo của họ. Đối với hầu hết tù nhân, đó là một giai đoạn. Khi giai đoạn này kết thúc, tội phạm trở lại với quan điểm cơ bản còn nguyên vẹn của anh ta.

Sự thu hút của tội phạm đối với hành vi phạm tội không nhất thiết giảm đi chỉ vì anh ta bị giam giữ. Bất chấp hạn chế về điều kiện xung quanh, anh ta vẫn lập kế hoạch, bàn bạc và tiếp tục tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp. Bất kỳ tác nhân kích thích bên ngoài nào, chẳng hạn như một chương trình tội phạm trên truyền hình, một cuốn tiểu thuyết trinh thám hoặc một câu chuyện tội ác khủng khiếp trên báo, đều tác động thêm đến tâm trí vốn đã bận bịu của anh ta - giống như các cuộc trò chuyện hằng ngày của anh ta với các tù nhân khác. Thông qua thư tín và những người tới thăm, tội phạm duy trì những mối quan hệ cũ đồng thời thiết lập những mối quan hệ mới trong tù. Đối với một số người, việc giam giữ đặt ra thách thức lớn hơn bao giờ hết đối với việc loại bỏ hành vi vi phạm. Trộm cắp diễn ra tràn lan trong các nhà tù. Nếu một người muốn tiếp tục sở hữu bất cứ thứ gì thì phải giữ nó trong người hoặc giao cho một nhân viên đáng tin cậy. Một tù nhân có thể bị bạn tù cùng phòng trộm đồ trong lúc ngủ, đi tắm hoặc bất cứ lúc nào lơi lỏng cảnh giác. Các tù nhân không chỉ ăn cắp của nhau mà còn cả đồ đạc cá nhân của những nhân viên quản lý cũng như thực phẩm và các vật dụng khác trong nhà tù.

Giống như hành vi xâm hại tình dục bên ngoài nhà tù, tội phạm có thể cố gắng làm điều tương tự khi bị giam giữ. Tình dục là một vũ khí mạnh mẽ để kiểm soát và ép buộc người khác. Hai tù nhân có thể thực hiện một giao dịch trong đó tình dục được trao đổi để lấy thức ăn, tài sản cá nhân hoặc tiền bạc. Mỗi tội phạm sẽ nhận được những gì mong muốn từ người kia và đổi lại phải từ bỏ một chút quyền lực. Nhưng quan hệ tình dục trong tù thường rất tàn bạo.

Mối đe dọa bị hiếp dâm có thể khiến các tù nhân kính nể và sợ hãi. Nhiều cặp mắt đảo dọc cơ thể của từng thanh niên mới vào tù, đặc biệt nếu anh ta có vóc dáng thanh mảnh và hình thể hấp dẫn. Vào ban đêm, một tù nhân mới có thể bị bao vây bởi một nhóm bạn tù, những kẻ đe dọa anh ta còn tồi tệ hơn nhiều so với bị hiếp dâm hoặc kê gian nếu anh ta chống cự hoặc thông báo cho người khác. Đó là một khu rừng, trong đó kẻ mạnh khuất phục kẻ yếu. Để được bảo vệ, một tù nhân có thể trở thành tay sai và nô lệ tình dục của một trong những tù nhân đáng sợ nhất.

Các nhân viên thường không chú ý hoặc phớt là hành vi hiếp dâm trong tù. Cho đến gần đây, vấn đề này cũng chỉ được coi như một rủi ro của cuộc sống trong tù, gần như diễn ra thường xuyên. Đạo luật Xóa bỏ Hiếp dâm trong từ năm 2003 bao gồm các quy định về số lượng nhân viên nhà tù cần thiết, các cách thức báo cáo hành vi lạm dụng tình dục một cách riêng tư và đào tạo nhân viên nhằm ngăn chặn lạm dụng tình dục. Trang web năm 2013 của Hiệp hội Cải huấn Hoa Kỳ chỉ ra rằng, “Ngăn chặn Hành vi Tình dục Vi phạm pháp luật” nằm trong số những hội thảo được yêu cầu nhiều nhất của tổ chức này. Bất chấp mọi sự chú ý dành cho vấn đề này, một bài báo năm 2012 trên tờ USA Today viết rằng, “gần 1/10 tù nhân cho biết đã bị các tù nhân khác, nhân viên hoặc cả hai đối tượng trên hiếp dâm hoặc tấn công tình dục”. 9

Cờ bạc là một lối sống trong các cơ sở cải tạo. Giống như tình dục, nó là phương tiện giúp tội phạm ép buộc người khác và phát huy bản thân. Cá cược được áp dụng trong các trò chơi bài, trò chơi trên bàn cờ, các sự kiện thể thao bên ngoài và gần như bất kỳ hoạt động nào chưa xác định rõ kết quả. Giống như trong các trò chơi con số hằng ngày do một nhân viên liên kết với trung tâm thành phố, cờ bạc cũng có thể được tổ chức. Ở hầu hết các cơ sở, các quy định nghiêm cấm tù nhân mang theo tiền. Tuy nhiên, vẫn có những tù nhân kiếm được nhiều tiền từ cờ bạc, từ người đến thăm hoặc bằng cách làm vệc cho các nhân viên ở đó. Nếu không có tiền mặt, bất kỳ thứ gì có giá trị đều có thể trở thành tiền tệ trong cá cược, bao gồm các vật dụng trong căng-tin, tài sản cá nhân hoặc ma túy. Nhiều cuộc chiến trong tù đã nổ ra vì không trả được nợ. Khi tù nhân thắng, anh ta có thể đòi trả số tiền cao hơn số tiền thực đặt cược. Thay vì yêu cầu trả hết số tiền ngay lập tức hoặc tính phí lãi suất cao với người thua cuộc, anh ta có thể hủy bỏ số nợ - giả sử con nợ là một nhân viên có thể nhắm mắt bỏ qua các vi phạm cụ thể hoặc giúp tù nhân được hưởng những đặc quyền.

Các Cơ sở cải tạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhằm ngăn chặn hàng lậu được đưa vào nhưng tội phạm luôn rất thông minh. Tiến hành rà soát trong toàn bộ cơ sở cải tạo có thể thu được nhiều mặt hàng lậu, đặc biệt là các vũ khí tự chế. Trong các ngành công nghiệp trong nhà tù, tù nhân tiếp xúc thường xuyên với các vật sắc nhọn, nặng và dễ vỡ, và chúng có thể biến những vật dụng đó thành vũ khí. Ngay cả khi không được tiếp cận những vật liệu như vậy, tù nhân vẫn có thể chế tạo vũ khí từ bất cứ thứ gì xung quanh. Một cây lau nhà có thể được biến thành một cây gậy. Trong khi lấy nước từ chậu rửa đổ đầy tràn phòng giam, một tù nhân vung bàn chải đánh răng và hét lên, “Tôi sẽ bắt một ai đó khi họ vào”. Một người khác đá vào chiếc bàn trong phòng nghỉ ngơi, làm gãy một chân của nó, sau đó đe dọa một cán bộ. Trong trường hợp khác, một tù nhân chế tạo ra một cây giáo từ cái cắt móng tay, một tờ báo cuộn lại và một chiếc bút bi.

Ma túy thường xuất hiện trôi nổi xung quanh các nhà tù và bệnh viện tâm thần giam giữ các tội phạm hình sự. Ma túy xuất hiện rất nhiều trong các nhà tù trên toàn quốc chứ không chỉ trong các hệ thống nhà tù rộng lớn của các bang lớn. Ma túy được chuyển đến các tù nhân thông qua các gói được bọc kín hoặc trong những thứ giống như tài liệu pháp lý không phải tuân theo các thủ tục bảo mật như thư tín thông thường. Một quả táo trông Vô hại có thể bị tiêm ma túy vào lõi. Một chiếc bánh sô cô la hấp dẫn có thể chứa ma túy được kết tụ giữa các lớp bánh. Lớp bột đường bao quanh viên kẹo có thể là heroin. Hoạt động thăm khám giữa tù nhân và người thăm thân tại nhiều cơ sở diễn ra bằng hình thức hai người nói chuyện với nhau bằng ống nghe điện thoại qua một lớp kính ngăn cách. Tuy nhiên, các cơ sở cho phép thăm thân trực tiếp có thể sẽ phải đối mặt với vấn đề ma túy. Một nụ hôn dài có thể không phải là biểu hiện của tình yêu mà là một phương tiện truyền dẫn những viên nhộng chứa ma túy. Các tù nhân trở về sau khi ra ngoài làm việc có thể mang theo ma túy từ ngoài vào bằng cách giấu chúng trong cơ thể. Các nhân viên nhà tù có thể mang hàng lậu từ bên ngoài vào. Một nhân viên nhận thấy anh ta có một thị trường lâu dài và một cách kiếm tiền dễ dàng. Thay vì bán trực tiếp cho tù nhân, nhân viên bán hàng xác định một người đáng tin cậy làm nhà phân phối và người sẽ che giấu nguồn cung. Mỗi lần hoàn thành trót lọt, nhà phân phối sẽ được trả công xứng đáng. Anh ta cũng lui về sau và sắp xếp cho các tù nhân khác thực sự muốn bán hàng. Mọi người đều nhận được một phần công và nhân viên vẫn được những người khác làm bình phong che đậy cho anh ta.

Xác định chắc chắn tần suất thông đồng của nhân viên với các tù nhân là điều không thể thực hiện. Trong khi hầu hết nhân viên trong các cơ sở cải tạo đều tận tâm và có trách nhiệm thì một số lại muốn làm việc hoặc gần gũi những tội phạm vì họ đồng cảm và cảm thấy chúng thú vị. Những cá nhân như vậy thích nghe các tù nhân kể về những chiến công của họ và đôi khi họ tham gia vào cuộc tranh luận không hồi kết về tội phạm, ma túy và tình dục. Những nhân viên như vậy ghét phải làm việc với những người già yếu hoặc cao tuổi bởi điều đó quá tẻ nhạt. Tội phạm bằng trực giác sẽ cảm nhận được những nhân viên nào tương đồng với mình và cẩn thận cân nhắc để xác định ai là người có thể thỏa hiệp. Tội phạm muốn có một đồng minh tiềm năng, người sẽ không giao nộp anh ta cho cảnh sát vì những hành vi vi phạm và sẽ giúp anh ta thoát khỏi rắc rối. Nếu những kỳ vọng như vậy không được đáp ứng, tức là tù nhân đã có Cơ sở khẳng định nhân viên đó không có khả năng bị tống tiền.

Các hoạt động băng đảng khiến điều kiện trong từ ngày càng không an toàn đối với những tù nhân nói chung. Theo một báo cáo đăng trên tờ Washington Times năm 2010, hoạt động ma túy liên quan đến băng đảng là nguyên nhân hàng đầu gây ra bạo lực trong tù. 10 Mặc dù được lén lút đưa vào nhưng sự xuất hiện của điện thoại di động đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động buôn bán ma túy. Các thủ lĩnh băng đảng có thể duy trì liên lạc bên ngoài nhà tù cũng như với các tù nhân khác để điều phối việc giao hàng và bán hàng. Trong năm 2009, tại các nhà tù ở California, có tới 5.000 điện thoại di động được lén lút đưa vào đã bị tịch thu. 11 Vấn đề băng đảng gây ra mối đe dọa đối với an ninh tại các cơ sở cải tạo lớn đến mức các cơ sở này bắt đầu thực hiện chính sách phân lập các tù nhân có những liên kết như vậy. Năm 2012, Ohio vạch ra một kế hoạch nhằm thiết lập một cấu trúc ba tầng với chín “cấp độ tự do”. 12 Các thành viên băng đảng sẽ bị phân lập trong các cơ sở có mức độ an ninh tối đa hoặc siêu tối đa nhưng sẽ được tự do nhiều hơn nếu có hạnh kiểm tốt và hoàn thành các chương trình hướng tới “hoạt động cải tạo”.

Một thủ lĩnh băng đảng trong tù, được biết đến với biệt danh “ông trùm”, đã gây dựng nên danh tiếng trên các con phố. Theo đúng nghĩa đen, anh ta là người kiểm soát tình hình hoặc ra lệnh cho cấp dưới, những người được mong đợi thực hiện theo mệnh lệnh. Cá nhân này biết rõ về cơ sở cải tạo và có thể được so sánh với vị tướng trong quân đội. Anh ta có tầm ảnh hưởng lớn đến các sự kiện cả trong và ngoài tù. Anh ta có thể ra lệnh tấn công hoặc giết ai đó bên trong cơ sở hoặc ngoài cộng đồng. Các thuộc hạ của anh ta phải tuân theo các mệnh lệnh ngay cả khi đã ra tù. Theo tờ ISA Today, sau vụ giết hại giám đốc hệ thống nhà tù bang Colorado năm 2013, thống đốc bang này đã mở một cuộc điều tra xem xét liệu các quan chức nhà nước khác có đang là mục tiêu của các băng đảng trong tù hay không. 13

Những ông trùm đã tạo dựng được quyền lực đến mức các nhân viên nhà tù có thể nhờ vào đó để duy trì trật tự. Các nhà chức trách chính phủ và nhân viên nhà tù ở các quốc gia khác đang đối mặt với các băng nhóm nắm quyền kiểm soát nhà tù đã thương lượng với những ông trùm này. Theo báo chí, các vụ giết người ở El Salvador đã giảm một nửa kể từ khi những ông trùm và các quan chức chính phủ tìm ra cách tiếp cận “có qua có lại”. Bằng cách cung cấp những chỗ ở tốt hơn trong tù và chấp thuận một số nhượng bộ khác cho các thủ lĩnh băng đảng, “một thỏa thuận mong manh” đã đạt được giữa đôi bên, trong đó những ông trùm sẽ chỉ thị cho “các thuộc hạ từ bỏ nhiệm vụ”. 14

Những điều trên đều nhằm nhấn mạnh quan điểm rằng tội phạm là tội phạm dù cho họ ở đâu. Dù ở trong tù thì những tính cách của họ vẫn như vậy. Điều có thể thay đổi là mức độ rủi ro khi thực hiện và các phương pháp hoạt động. Những người trốn tránh khỏi tội ác vẫn nhớ nó nhưng họ tự mãn nguyện với những tưởng tượng và cuộc trò chuyện về tội phạm.

Trái với quan niệm của nhiều người, hầu hết tội phạm đều có thể và thực sự học hỏi được kinh nghiệm. Nhưng đó lại không phải những gì xã hội muốn họ học. Ở trong tù, tội phạm có nhiều thời gian và cơ hội để rèn giũa các kỹ năng chuẩn bị cho những lần phạm tội trong tương lai và suy nghĩ về cách thức tránh những sai lầm trong quá khứ. Một số quyết tâm sau khi ra tù sẽ tránh gây chú ý, hạn chế bản thân xuống mức phạm các tội ít nghiêm trọng và từ bỏ các hoạt động mạo hiểm rủi ro nhất. Hoặc họ sẽ chủ mưu hành vi phạm tội nhưng vẫn “đứng sau hậu trường” thay vì tham gia trực tiếp. Những dự định như vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Một khi bước ra khỏi cánh cửa nhà tù, các tù nhân sẽ thèm muốn thú vui của cuộc sống trước đây. Trên thực tế, một số trở thành những tội phạm thành công hơn, đắm mình trong tội ác nhưng đủ khôn khéo để không bị bắt. Những người khác tránh bị bắt giữ trong một thời gian dài nhưng cuối cùng vẫn quay trở lại nhà tù. Một người tuyên bố rằng anh ta sẽ là “một tội phạm mức độ nhẹ” trong tương lai. Anh ta nói bản thân hài lòng với một số loại ma túy “nhẹ”, gặp gỡ gái mại dâm và cố gắng tránh đánh nhau trừ khi ai đó gây rối trước. Một năm sau, anh ta quay lại nhà tù vì tham gia một loạt vụ cướp có vũ trang. Một số tù nhân thậm chí lên kế hoạch cho hành vi phạm tội tiếp theo trước khi ra tù. Cánh cổng nhà tù gần như không khép lại trước khi họ mắc sai lầm, bị bắt và bị kết tội mới.

Người ta tin rằng tội phạm phát triển nhanh hơn cả hành vi phạm tội hoặc tình trạng “kiệt sức”. Lý thuyết kiệt sức có thể dựa trên thực tế là một số tội phạm lớn tuổi không còn bị bắt vì hành vi phạm tội trên đường phố và do đó họ không bị bắt lại vào tù. Trong cuốn sách Making Good: How ExConvicts Reform and Rebuild Their Lives (tạm dịch: Làm điều tốt đẹp: Cách các cựu tù nhân cải tổ và xây dựng lại cuộc sống), Shadd Maruna, giáo sư về tư pháp hình sự, đã nhận xét: “Rõ ràng một người có thể kiệt sức, cảm thấy bất hạnh nhất nhưng vẫn tiếp tục hành vi phạm tội”. 15 Đúng là khi một tội phạm đường phố già đi, người đó sẽ không còn nhanh nhẹn và không thể chạy nhanh như trước. Anh ta có thể đã khôn ngoan nhưng chỉ khía cạnh phải chịu ít hơn những rủi ro đáng kể và hành vi phạm tội có thể ít nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên tính cách tội phạm vẫn không thay đổi và mọi người vẫn phải chịu đựng những hành vi phạm tội của anh ta.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của stanton e. samenow