Đã có rất nhiều tranh cãi về vấn đề liệu có đáng bỏ tiền để giúp những tội phạm thay đổi hay không. Sự vỡ mộng về hoạt động “cải tạo” bắt đầu diễn ra trong những năm 1970 và đầu những năm 1980. Một đánh giá ảm đạm nổi tiếng về các chương trình cải tạo của nhà xã hội học Robert Martinson được công bố năm 1974 đã khiến nhiều người đi đến kết luận “Không có gì hiệu quả”. 1 Với nguồn kinh phí cho hoạt động cải tạo đang dần cạn kiệt, trọng tâm đã được chuyển sang hình thức trừng phạt. Mặc dù điều này khiến tội phạm bị giam giữ trong thời gian lâu hơn, tuy nhiên các thống kê đã chỉ ra khoảng bốn trong số mười người tiếp tục bị bắt giữ và tuyên án sau khi trở lại cộng đồng. Một số đánh giá còn đưa ra bức tranh thậm chí tồi tệ hơn. Với tỷ lệ tái phạm vẫn ở mức cao, đã đến lúc phải nhìn nhận lại các khả năng của hoạt động cải tạo. Có hai lý do chính dẫn đến mức độ kém hiệu quả trong các nỗ lực thực hiện hoạt động cải tạo. Thứ nhất liên quan đến việc đánh giá thấp mức độ khó khăn để tạo ra sự thay đổi lâu dài về tính cách. Sẽ vô cùng khó khăn khi phải làm việc với những tội phạm mà nhiều người trong số họ có chung quan điểm với một kẻ phạm tội từng tuyên bố, “Nếu bạn loại bỏ tội ác của tôi, bạn sẽ lấy đi cả thế giới của tôi”. Giống như anh ta, nhiều người phạm tội từ chối mọi cơ hội để thay đổi. Tuy nhiên, một lý do khác lý giải cho sự kém hiệu quả của các chương trình cải tạo là do cộng đồng tư pháp hình sự và cộng đồng nói chung tin rằng tội phạm có những nhu cầu giống như hầu hết mọi người nhưng anh ta không biết cách đáp ứng theo cách được xã hội chấp nhận. Họ không hiểu rằng tội phạm có suy nghĩ khác với những người có trách nhiệm. Họ sai lầm khi tin tưởng các chương trình hiệu quả trong việc giúp đỡ những người gặp các loại vấn đề khác sẽ đạt được kết quả tương tự như với tội phạm. Hàng triệu đô la được đổ vào vô số các chương trình giáo dục, dạy nghề, kỹ năng xã hội và bồi dưỡng nghệ thuật nhưng hầu hết trong số đó chưa được kiểm tra thực nghiệm về tính hiệu quả. Nói cách khác, chúng ta không có bằng chứng cho thấy các chương trình “cải tạo” chạy theo xu thế xã hội như yoga, làm vườn, quản lý tiền bạc, viết nhật ký, sản xuất kịch và sáng tác thơ ca mang lại hy vọng có thể thay đổi tâm trí của tội phạm.
Chính khái niệm về cải tạo tội phạm đã là một sai lầm. Nếu người ta tra từ “cải tạo” trong từ điển thì định nghĩa là “khôi phục lại khả năng cũ”. 2 Một kiến trúc sư hình dung ra kế hoạch cải tạo một nhà thờ cũ để khôi phục lại sự huy hoàng trước đây của nó. Một nạn nhân đột quỵ được “cải tạo” để giúp cô ấy phục hồi lại các chức năng trước đây. Không có gì để “cải tạo” hầu hết các tội phạm. Từ thời thơ ấu, họ đã không tuân theo những nguyên tắc cơ bản về cách sống có trách nhiệm trong xã hội. Phạm vi của nhiệm vụ thay đổi đòi hỏi phải giúp một tội phạm tự “đáp ứng đủ điều kiện”, điều này vượt quá phạm vi của hoạt động “cải tạo”. Giúp tội phạm trở thành một con người có trách nhiệm đòi hỏi một sự thay đổi sâu rộng trong suy nghĩ. Bất cứ thiếu sót nào xảy ra khi thực hiện mục tiêu đó cũng sẽ giống như đổ một loại nước sốt tuyệt hảo lên một miếng thịt ôi thiu bị cháy vậy.
Tư tưởng về hoạt động cải tạo chưa bao giờ bị từ bỏ hoàn toàn, ngay cả dưới thời các chính quyền tổng thống được biết đến là bảo thủ trong các vấn đề xã hội. Khi ngân sách liên bang và tiểu bang còn hạn chế, các tổ chức tư nhân và cộng đồng đã vào cuộc và cung cấp chương trình. Nước Mỹ vẫn hết sức miễn cưỡng khi cho rằng giới trẻ nước này thất bại cũng như loại bỏ bất kỳ thanh niên nào phạm tội không thể cải tạo. Trên thực tế, trọng tâm trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên là hoạt động cải tạo. Cục Tư pháp Người chưa thành niên bang California đã nêu rõ điều này trong câu đầu tiên của tuyên bố trên trang web: “Cục Tư pháp Người chưa thành niên cung cấp chương trình giáo dục và điều trị cho những người phạm tội trẻ tuổi tại California có lý lịch phạm tội nghiêm trọng nhất và có nhu cầu điều trị lớn nhất đến năm 25 tuổi”. 3
Niềm tin vào khả năng cải tạo những người phạm tội là người trưởng thành không mất đi ngay cả trong thời kỳ nguồn tài chính suy giảm và trước sự thờ ơ của công chúng. Hàng nghìn Cố vấn về cải tạo, nhân viên điều tra vấn đề xã hội, nhà giáo dục, giáo viên dạy nghề và chuyên gia sức khỏe tâm thần được các cơ sở cải tạo dành cho người trưởng thành tuyển dụng tự coi mình không chỉ đơn thuần là những người trông coi nhà tù. Hầu hết các nhà tù và cơ sở tâm thần dành cho tội phạm đều cung cấp nhiều chương trình khác nhau. Trong khi một số là các hoạt động khỏa lấp thời gian trống được thiết kế nhằm kiểm soát hiệu quả các tù nhân thì hầu hết các chương trình đều được tuyên bố giúp chuẩn bị cho tội phạm tái hòa nhập xã hội. Chúng ta cùng hãy cùng đi xem xét những gì hiện đang được thực hiện dưới danh nghĩa “cải tạo”.
Một phần quan trọng trong triết lý cải tạo là giúp các tù nhân có được các kỹ năng để có thể tham gia vào xã hội mà không cần phạm tội. Điều này dựa trên tiền đề sai lầm rằng mọi người phạm tội vì thiếu một số kỹ năng nhất định. Trong năm 2010, 10% bài thi GED (Chứng chỉ Tương đương tốt nghiệp trung học) ở Mỹ diễn ra tại các trung tâm cải tạo. 4 Gần 75.000 tù nhân tham gia bài kiểm tra và 75,1% đã vượt qua. Theo báo cáo của Cơ quan Kiểm tra GED, “sự thỏa mãn cá nhân” đã thôi thúc 63% số người bị giam giữ dự thi, trong khi 38% coi việc tìm kiếm một công việc tốt hơn là lý do để mong muốn đạt được chứng chỉ tương đương bằng tốt nghiệp trung học. Liên quan đến lý do thứ hai, các nghiên cứu gần đây chỉ ra rất ít người dự thi GED trong dân số nói chung tiếp tục có được bằng cấp cao hơn và nhìn chung, hầu hết đều không thành công hơn trong thị trường việc làm so với những người bỏ học không vượt qua kỳ thi. 5
Tỷ lệ vượt qua kỳ thi GED ở mức cao đang nói lên điều đó. Khi còn đi học, nhiều tội phạm bỏ qua những nỗ lực tận tâm của thầy cô. Với thời gian rảnh rỗi và ít phải làm gì khi bị giam giữ, các tù nhân khiến những người hướng dẫn ngạc nhiên với mức độ học tập nhanh chóng. Với một năm được hướng dẫn trong khi bị giam giữ, một tội phạm có thể đạt được nhiều hơn những gì đã có được trong suốt những năm đi học. Một số người chưa bao giờ đọc hết một cuốn sách trở thành những người ham đọc sách khi họ phát hiện ra đắm chìm vào một cuốn sách làm giảm bớt sự tẻ nhạt của cuộc sống trong tù. Một số phạm nhân có thể đăng ký các lớp đại học qua đường bưu điện. Trường Cao đẳng Goucher, Cao đẳng Bard, Đại học Wesleyan và Đại học Cornell nằm trong số các cơ sở đào tạo bậc học cao hơn có tuyển chọn cung cấp các khóa học lấy tín chỉ trong nhà tù.
Sở hữu bằng tốt nghiệp trung học hoặc chứng chỉ tương đương, hoặc bất kỳ thành tích học tập nào khác, chắc chắn là một điểm cộng và phản ánh việc sử dụng thời gian hiệu quả của một tù nhân. Cá nhân đó không chỉ có thể tìm kiếm các thông báo việc làm và các cơ hội khác, mà còn cả kỷ luật tự giác trong việc học đọc cũng như của bản thân.
Tuy nhiên, đọc sách và các thành tích học tập khác không làm thay đổi tính cách của tội phạm và cách suy nghĩ của cả cuộc đời. Kết quả của các chương trình xóa mù chữ có thể giúp những tội phạm biết đọc thay vì không biết chữ.
Đào tạo nghề vẫn là ưu tiên hàng đầu trong các Cơ sở cải tạo. Ý tưởng ở đây là nếu tội phạm tự trang bị cho mình một công việc lành nghề, anh ta sẽ có thể tự nuôi sống bản thân một cách hợp pháp, do đó ít có khả năng gây hại cho xã hội hơn. Các ngành công nghiệp trong nhà tù cung cấp các Cơ hội làm việc để kiếm tiền trong khi học nghề. Hiệp hội Công nghiệp Cải huấn Quốc gia mô tả những doanh nghiệp này là nơi cung cấp “kinh nghiệm làm việc thực tế cho các tù nhân, dạy họ các kỹ năng có thể áp dụng trong nhiều công việc và đạo đức làm việc để chuẩn bị tái hòa nhập và làm việc sau khi mãn hạn tù”. Các tù nhân sản xuất ra nhiều loại sản phẩm như đệm, đồ nội thất, bảng hiệu, đồ dùng vệ sinh và khung ảnh. Chương trình mang tính chất tự hỗ trợ và thu nhập sẽ được lấy từ việc bán những mặt hàng được sản xuất. Trang bị kỹ năng làm việc cho tội phạm là việc làm có ý nghĩa. Tuy nhiên, nhiều tội phạm từng có nghề nghiệp trước khi vào tù và vẫn phạm tội.
Kết quả cuối cùng của đào tạo nghề thường là tội phạm được trang bị các kỹ năng nghề nghiệp thay vì không. Hoạt động phạm tội vẫn còn đó. Chẳng hạn, một thợ mộc tay nghề cao nhưng nếu đến muộn, ăn cắp vặt, tính phí vật liệu quá cao hoặc không chịu trách nhiệm khi có vấn đề xảy ra thì có ích lợi gì? Và luôn có khả năng người phạm tội sẽ áp dụng các kỹ năng mới để tiếp cận các ngôi nhà hoặc cơ sở thương mại nhằm phạm nhiều tội hơn.
Một số cơ sở cải tạo trang bị cho những tù nhân các kỹ năng về quản lý tiền bạc. “Hiểu biết về tài chính” sẽ giúp người phạm tội không mắc nợ, chi tiêu có giới hạn, thanh toán hóa đơn đúng hạn, phát triển thói quen tiết kiệm và theo dõi các khoản chi tiêu. Nhiều tội phạm thấy không cần thiết phải lập kế hoạch chi tiêu. Nếu muốn một cái gì đó, họ coi mình có quyền và sẽ chiếm đoạt nó theo bất kỳ cách nào họ muốn. Mặc dù vạch ra kế hoạch dài hạn trong tương lai nhưng họ không thực hiện theo hướng có trách nhiệm. Đối với hầu hết tội phạm, dành quỹ cho hoạt động giáo dục của con cái hoặc thiết lập một danh mục đầu tư phòng khi về hưu là những ý tưởng đến từ hành tinh khác. Dạy tội phạm hiểu biết về tài chính cũng vô ích như việc cố gắng dạy Ebenezer Scrooge thành lập quỹ từ thiện. Nếu không có sự thay đổi căn bản trong cách suy nghĩ của tội phạm, nỗ lực như vậy ắt sẽ thất bại.
Hoạt động liên quan đến hướng dẫn trong quản lý tài chính là cung cấp sự tư vấn nghề nghiệp cho tội phạm. Nhiều tội phạm chưa bao giờ có được một nghề nghiệp. Một số có việc làm nhưng phải từ bỏ vì tiền án tiền sự. Trái với suy nghĩ của nhiều người, một bản án trọng tôi thường kéo theo nhiều điều hơn là chỉ mất quyền bầu cử. Các quốc gia thường cấm những người phạm tội nghiêm trọng làm việc trong một số công việc hoặc ngành nghề, hạn chế quyền tiếp cận với súng, buộc họ bồi thường các khoản hỗ trợ cộng đồng và hạn chế tuyển dụng vào Cơ quan nhà nước.
Đưa ra chỉ dẫn và đánh giá nghề nghiệp nhằm xác định khả năng và sở thích của tù nhân có thể đem lại tác dụng. Nhưng điều này không có nghĩa họ sẽ ngừng suy nghĩ như tội phạm hoặc thực tế trong công việc. Trong các cuộc trò chuyện với các tù nhân, tôi đã nhiều lần nghe những tội phạm khẳng định họ có ý định kinh doanh riêng vì họ ghét ý tưởng phải làm việc cho người khác. Xét theo bề ngoài, không có gì sai khi muốn trở thành một doanh nhân. Hãy hỏi tội phạm xem điều này cần kéo theo những gì và anh ta có thể sẽ nói với bạn rằng anh ta hình dung bản thân sẽ giàu lên và thuê những người thực hiện theo yêu cầu của bản thân. Anh ta cho rằng vì mình là người chịu trách nhiệm nên chắc chắn sẽ thành công. Anh ta đã vạch ra các khoản chi tiêu lợi nhuận trong đầu – mặc dù không hề biết khi thành lập một doanh nghiệp cần đòi hỏi những gì vốn hóa doanh nghiệp, sàng lọc nhân viên tiềm năng, giải quyết các vấn đề về nhân sự, xin giấy phép, đặt hàng nguồn cung cấp, tiếp thị sản phẩm,… Tội phạm đã quen với cuộc sống theo điều kiện của mình. Anh ta không giải quyết những bực bội, khó chịu và thất vọng phát sinh hằng ngày như trong bất kỳ doanh nghiệp hợp pháp nào theo hướng xây dựng. Nghề nghiệp cụ thể anh ta lựa chọn kém quan trọng hơn nhiều so với việc có được các mô hình tư duy cần thiết để thành công trong bất kỳ nỗ lực nào.
Trong các cơ sở cải tạo, nhiều loại chương trình dạy tù nhân về các mối quan hệ: cha mẹ-con cái, vợ-chồng, nhân viên-người giám sát,… Theo một báo cáo năm 2010, có 2,7 triệu trẻ em có cha hoặc mẹ bị giam giữ. 7 Không có gì ngạc nhiên khi các tù nhân được ghi nhận có năng lực yếu kém để trở thành những bậc cha mẹ có trách nhiệm. Bởi vì nhiều người đã có con với những người khác nên họ không sống với con cái của họ. Và do lối sống nên họ dành ít hoặc không có thời gian cho con cái.
Các chương trình giảng dạy đã được phát triển để giúp các tội phạm trở thành những bậc cha mẹ có trách nhiệm. Hội thảo Tác động từ Gia đình tại Michigan lưu ý, “Bởi vì nhiều người đàn ông trong tù có thể không thực sự biết cách trở thành những cha mẹ tốt nên các chương trình hướng dẫn trở thành một người cha có trách nhiệm nhất bao gồm giáo dục cha mẹ như một cấu thành cơ bản của chương trình này. 8 Chính quyền liên bang cung cấp các khoản tài trợ để dạy các kỹ năng làm cha mẹ. Một chương trình do liên bang tài trợ lưu ý, vì tội phạm không tin tưởng những người trong “cơ cấu chính quyền nhà tù” nên những người hướng dẫn được chọn trong số những người làm cha bị giam giữ đã tốt nghiệp khóa học trước và được đào tạo như những người lãnh đạo ngang hàng”. 9 Điều này dường như giống với việc yêu cầu bệnh nhân của các nha sĩ thực hiện công việc nha khoa. Người lãnh đạo ngang hàng bị giam giữ khó có thể đủ điều kiện để dạy tội phạm về các mối quan hệ trừ khi đã có những thay đổi đáng kể lâu dài trong cách suy nghĩ sai lầm của riêng mình. Một cá nhân tự cho mình là trung tâm, quá nhạy cảm, lừa dối, giả tạo, nhìn nhận thế giới ở những khía cạnh cực đoan sẽ không trở thành một người cha hoặc người mẹ đáng tin cậy biết nuôi dưỡng con cái. Làm thế nào để cha mẹ trở thành người giao tiếp hiệu quả nếu người đó không phát triển sự đồng cảm, hoàn thành các nghĩa vụ và đặt người khác lên trên lợi ích của bản thân? Dạy các kỹ năng làm cha mẹ vẫn sẽ là một nỗ lực vô ích trừ khi tội phạm có những thay đổi sâu rộng trong các lối suy nghĩ và hành vi đến hết đời. Nếu được hỏi, chắc chắn hầu hết tội phạm đều có thể đưa ra danh sách những phẩm chất đáng mơ ước của những bậc cha mẹ gương mẫu. Có một khoảng cách rất lớn giữa lời nói và hành động.
Các chương trình nghệ thuật được thiết kế nhằm khám phá và nuôi dưỡng tiềm năng sáng tạo của các tù nhân. Những người ủng hộ tin rằng những tội phạm tham gia sẽ nâng cao lòng tự trọng khi được trau dồi những tài năng chưa được phát hiện hoặc chưa phát triển. Hàng trăm chương trình hầu hết do tư nhân tài trợ đều nhằm giúp khơi nguồn cho các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn và diễn viên kịch. Một số chương trình sau thể hiện sự đa dạng của các hoạt động được cung cấp cho các tù nhân. Có một dàn nhạc đàn dây của phụ nữ tại Trung tâm Cải tạo Hiland Mountain ở Alaska. Dàn nhạc hiện đã hơn mười năm tuổi được cho là “thể hiện sức mạnh cải tạo và chuộc lỗi của âm nhạc trong cuộc sống của những phụ nữ trẻ đang đấu tranh tìm đường trở lại xã hội”. 10 Trong tám năm qua, Trung tâm Tư pháp Người chưa thành niên Denney tại bang Washington đã tổ chức một hội thảo thơ ca, trong đó nhiều tập thơ của những tù nhân tại đây đã được xuất bản. Một nhóm có tên gọi Cải tạo Thông qua Nghệ thuật (RTA) bắt đầu hoạt động khi viết và sản xuất một vở kịch tại nhà tù nổi tiếng Sing Sing. RTA là một doanh nghiệp thành công và đã mở rộng để điều hành một chương trình nghệ thuật sáng tạo trong năm CƠ SỞ cải tạo của bang New York. Trung tâm Anne Frank cung cấp một bản sao Anne Frank: The Diary of a Young Girl (tên tiếng Việt: Nhật ký Anne Frank) cho các tù nhân đồng ý viết về cuộc sống và suy nghĩ của chính họ, sau đó gửi lại bản viết đó cho Trung tâm để có thể xuất bản.
Chương trình Nghệ thuật trong tù (AIP) được thành lập năm 1995 và tiếp tục được duy trì nhờ sự trợ giúp của các tình nguyện viên và các khoản quyên góp tư nhân tại các cơ sở cải tạo dành cho người trưởng thành và trẻ vị thành niên ở Kansas.
AIP tuyên bố sứ mệnh của mình là “sử dụng nghệ thuật để truyền cảm hứng cho sự thay đổi tích cực ở những người bị giam giữ, giảm tỉ lệ tái phạm và tái kết nối những người từng phạm tội với cộng đồng”. 11 Các chương trình nghệ thuật thậm chí cũng được thành lập trong các cơ sở cải tạo “siêu an toàn”. Các tù nhân ở nhà tù Pelican Bay tại California và các sinh viên của Trường Sân khấu Thể chất Quốc tế Dell Arte đã hợp tác trong các dự án kịch, viết văn và âm nhạc. Các chương trình kiểm soát tù nhân theo hướng xây dựng luôn góp phần vào một môi trường thể chế tốt hơn. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào cho thấy việc trau dồi tính sáng tạo đồng nghĩa với loại bỏ đi hoạt động phạm tội.
Liệu pháp tâm lý cá nhân không được phổ biến rộng rãi trong các cơ sở cải tạo hoặc thậm chí trong các cơ sở tâm thần pháp y, nơi người phạm tội là bệnh nhân. Hoạt động điều trị cá nhân sẽ gây tốn kém nhưng vẫn được cung cấp ở một số trung tâm giam giữ trẻ vị thành niên. Các nhóm trị liệu trong nhà tù có nhiều hình thức khác nhau- từ các chương trình nghị sự được thiết lập chặt chẽ nhằm truyền đạt các kỹ năng đến các hình thức không có cấu trúc và truyền thống hơn để thực hiện thay đổi về tính cách. Một số nhóm dưới hình thức “cộng đồng trị liệu” giúp các tù nhân giải quyết các vấn đề hằng ngày trong cuộc sống khi bị giam giữ. Liệu pháp nhóm không chỉ ít tốn kém hơn so với điều trị cá nhân mà còn được nhiều chuyên gia sức khỏe tâm thần ưa dùng hơn vì áp lực từ tù nhân khác có thể là động lực mạnh mẽ để thay đổi. Ngoài ra, có lẽ việc lừa dối một nhóm sẽ khó hơn so với một nhà trị liệu cá nhân.
Một số nhà tâm lý học khẳng định chuyên môn của họ không đủ khả năng đóng góp vào một lĩnh vực rất cần đến các chuyên gia về thay đổi hành vi. Nhà tâm lý học Joel Dvoskin tại Trường Y thuộc Đại học Arizona cho biết, “Với tất cả những hiểu biết về tâm lý học… toàn bộ hệ thống tư pháp hình sự của chúng ta hầu hết đều làm sai. Có lẽ lĩnh vực quan trọng nhất về thay đổi hành vi ở Mỹ là tội phạm”. 12
Những người chỉ trích hệ thống tư pháp hình sự chỉ ra Mỹ là nước có tỉ lệ giam giữ tù nhân cao hơn bất kỳ quốc gia nào. Nhà tâm lý học Stephen Ragusea nhận xét tỷ lệ này tương đương với tổng số người cư trú ở Philadelphia, Columbus và Seattle, nói cách khác là xấp xỉ 1% dân số Mỹ. 13 Xét từ các góc độ chính trị, mọi người đều cho rằng giam giữ quá nhiều người phạm tội, đặc biệt nếu không mang tính bạo lực, là hết sức tốn kém và hạn chế không cần thiết. Những nỗ lực tìm kiếm các giải pháp thay thế hoạt động giam giữ đã tạo ra nhiều ý tưởng tăng thêm các dịch vụ giúp những người phạm tội sinh sống trong cộng đồng.
Kể từ cuối thế kỷ XIX, những người phạm tội thường trải qua thời gian thử thách thay vì bị giam giữ hoặc sau khi họ chấp hành một phần bản án. Năm 2012, có hơn 2 triệu người phạm tội tại Mỹ đang trong thời gian thử thách. Quá trình thử thách thực hiện giám sát các tù nhân và áp đặt các điều kiện nhất định, có thể bao gồm có việc làm, xét nghiệm ma túy, tiếp nhận tư vấn và lao động công ích. Trong nhiều cộng đồng, thời gian thử thách không có hiệu lực thực sự; nó gần như không gây bất tiện cho người phạm tội, chứ chưa nói đến trừng phạt. Một cuộc hẹn kéo dài nửa giờ cách tuần một lần (hoặc thậm chí ít thường xuyên hơn) hầu như không cung cấp đủ thời gian để một nhân viên giám sát thời gian thử thách vốn đã quá nhiều việc có thể hoàn thành thủ tục giấy tờ, chứ chưa nói đến tổ chức một cuộc thảo luận hiệu quả. Một số nhân viên giám sát thời gian thử thách phải phụ trách nhiều hồ sơ đến nỗi họ sẽ không thể nhận ra nhiều người nếu có gặp trên đường phố.
Hơn 12 tiểu bang cũng như hệ thống tư pháp hình sự liên bang đã bãi bỏ lệnh ân xá – trả tự do cho những người phạm tội trước khi chấp hành xong toàn bộ bản án. Những người chỉ trích hoạt động ân xá kêu gọi “sự trung thực khi tuyên án”. Họ cho rằng các bồi thẩm đoàn thường lúng túng vì không phải lúc nào cũng biết một người phạm tội sẽ thực sự thụ án trong bao lâu. Bồi thẩm đoàn có thể áp dụng bản án chung thân, nhưng chỉ biết sau đó rằng người đó đã được trả tự do sau một thời gian ngắn bởi hội đồng ân xá. Ngoài ra, các nạn nhân vẫn trong tình trạng lo lắng vì không bao giờ biết khi nào tội phạm có thể được thả ra. Những người chỉ trích hoạt động ân xá cho rằng các quyết định của hội đồng ân xá về thời điểm trả tự do cho người phạm tội gần như không có tính khoa học và thể hiện sự chuyển quyền. Sự bất mãn với việc ân xá được thể hiện bất cứ khi nào tù nhân được trả tự do sớm phạm phải những tội mới. Nhiều năm trước, những nỗ lực sử dụng liệu pháp tâm lý điều trị cho người phạm tội tại các cơ sở hỗn hợp như Bệnh viện Atascadero ở California và Viện Patuxent ở Patuxent, Maryland, đã bị ngừng lại sau khi những tù nhân phạm trong tội được thả ra đã thực hiện những hành vi phạm tội bạo lực, một vài trong số đó ban đầu vốn bị kết án chung thân.
Để giúp những người phạm tội đang trong thời gian thử thách hoặc trong thời gian hưởng án treo, nhiều trung tâm được thành lập tại các cộng đồng nhằm cung cấp nhiều loại dịch vụ khác nhau. Tờ San Francisco Chronicle đưa tin, trong năm 2013, một trung tâm tái hòa nhập đã mở ra các lớp học tổng hợp, các dịch vụ đào tạo nghề, các lớp học thi lấy chứng chỉ GED, hoạt động điều trị lạm dụng chất kích thích và cung cấp thông tin về nhà ở và việc làm. 14 Quản lý của hoạt động thử thách tại San Francisco, Wendy Still, cho rằng thành phố có tỉ lệ tù nhân thấp nhất kể từ những năm 1950 là kết quả của sự đầu tư vào Cục Quản chế. Cơ sở trị giá hai triệu đô la và cần thêm một triệu đô nữa mỗi năm để hoạt động.
Bồi thường cho nạn nhân hoặc lao động công ích - thường được gọi là “khôi phục công lý – có thể được tòa án ra lệnh như một điều kiện thử thách và hình thức thay thế cho việc thụ án. Các chương trình bồi thường có thể mang tính răn đe đối với một số người phạm tội, họ có thể làm việc trong nhiều tuần để bồi thường cho nạn nhân. Nhưng làm thế nào để một kẻ hiếp dâm hoặc một kẻ đốt phá khiến một thương gia mất đi nguồn sinh kế, có thể bồi thường? Và làm thế nào mà một phụ nữ biển thủ hàng trăm nghìn đô la từ ông chủ lại có thể bồi thường, đặc biệt là khi đang ngồi tù và sau đó bị cấm làm nhiều loại công việc vì phạm trọng tội? Đối với người tái phạm, hình phạt bồi thường có thể sẽ tác động ngược lại với những ý định ban đầu. Tội phạm hoàn toàn không coi nạn nhân là nạn nhân. Anh ta mới là nạn nhân vì đã bị bắt. Bồi thường cho nạn nhân thực sự có thể củng cố quan điểm vốn đã được nâng cao của tội phạm khi coi bản thân là một người tử tế do đó khiến anh ta phạm nhiều tội hơn.
Bồi thường có thể khiến nạn nhân tốt hơn và điều đó là xứng đáng. Thực tế không thể ngăn chặn hoặc “cải tạo” một người có thói quen phạm tội không phải là lý do để từ bỏ hoàn toàn hình phạt bồi thường. Tuy nhiên, hình phạt này vẫn gây tranh cãi về tính chọn lọc khi áp dụng. Những thiếu sót không nằm ở việc bồi thường - hoặc đối với vấn đề đó ở bất kỳ chương trình nào – mà nằm những kỳ vọng không thực tế của nhà tài trợ về khả năng thay đổi tội phạm. Giống như các chương trình về thể chế được mô tả ở trên, các chương trình cải tạo cộng đồng có thể giúp tội phạm có được những kỹ năng hoặc trả nợ cho xã hội nhưng không chứng minh được tác động tổng thể đối với lối sống của anh ta.
Các tổ chức cải tạo cộng đồng phải đối mặt với những thách thức lớn. Họ có công nghệ để theo dõi những người phạm tội trong thời gian thử thách và tạm tha, điều này giúp đạt được mục tiêu chính là bắt tội phạm chịu trách nhiệm và đảm bảo an toàn cho cộng đồng. Tuy nhiên, thay vì tiếp tục đưa ra các biện pháp giảm nhẹ và hời hợt, các trung tâm cải tạo cộng đồng phải triển khai các chương trình chuyên sâu được xem xét kỹ lưỡng nhằm trang bị những quan niệm mới giúp điều chỉnh các lối suy nghĩ và hành động suốt đời cho những người phạm tội phi bạo lực. Về lâu dài, điều này có thể ít tốn kém hơn nhiều so với việc xây dựng nhiều nhà tù hơn.
Trừ khi những kẻ phạm tội phải chịu mức án chung thân và không được ân xá, một điều hiếm khi xảy ra, nếu không thì chúng sẽ luôn luôn tự do làm hại tất cả chúng ta. Các nhân viên cải tạo cần thực hiện một công việc trong cơ sở và cộng đồng - đó là sửa sai. Tuy nhiên, những hoạt động cải tạo đang được thực hiện từ trước đến nay cũng không thể đem lại hiệu quả. Quan niệm “tái hòa nhập” tội phạm vào cộng đồng cũng là một sai lầm giống như việc cải tạo”. Nói về việc tái hòa nhập một người chưa từng bao giờ hòa nhập ngay từ đầu là một việc làm vô lý. Tội phạm từ lâu đã xa lánh cộng đồng và coi thường những người sống có trách nhiệm.
Một số người trong hệ thống tư pháp hình sự nói riêng và cộng đồng nói chung không chú ý tới câu hỏi cơ bản và dường như hiển nhiên: Nếu tội phạm từ bỏ hoạt động phạm tội, điều gì sẽ thay thế nó? Thay đổi đòi hỏi không chỉ giữ tay anh ta tránh xa khỏi tài sản của người khác hoặc kéo khóa quần anh ta. Nó đòi hỏi phải từ bỏ cả một lối sống.
Các chuyên gia về cải tạo nhận ra rằng tội phạm phải tìm ra các biện pháp thay thế cho hoạt động phạm tội. Một số đề xuất, anh ta có thể cảm thấy phấn khích khi tham gia các hoạt động thể chất khắc nghiệt như trượt tuyết, nhảy dù, leo núi đá hoặc leo núi để thay thế. Nếu sự thay đổi từ niềm hứng thú trái pháp luật thành niềm hứng thú hợp pháp có tác dụng thì điều đó sẽ cực kỳ hiệu quả và không tốn kém. Thật không may, giải pháp này vẫn còn nhiều thiếu sót. Thành thục trong những nỗ lực như vậy không giải quyết được vấn đề liên quan đến lối tư duy làm phát sinh hoạt động tội phạm.
Nhiều chương trình cải tạo đặt mục tiêu cung cấp “trải nghiệm thành công”, từ đó nâng cao lòng tự trọng của tội phạm. Robert W. Reasoner thuộc Hội đồng Quốc tế về Lòng tự trọng tuyên bố “lòng tự trọng thấp là lý do cơ bản dẫn đến các vấn đề như bắt nạt, lạm dụng ma túy và rượu, bỏ học, tội phạm,[và] bạo lực”. 15 Có thể hiểu rằng nhiều người nghĩ những người phạm tội chưa thành niên, tội phạm có lòng tự trọng thấp và những người như Reasoner, người đang giải quyết các chương trình giảng dạy ở trường học, ủng hộ các chương trình nhằm nâng cao nó. Rốt cuộc, nhiều người phạm tội chưa thành niên và trưởng thành dường như thất bại trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống - trường học, công việc, gia đình, cộng đồng và thậm chí phạm tội (vì họ đã bị bắt). Reasoner cho rằng sự ái kỷ “thực sự là một dạng của lòng tự trọng thấp” ở chỗ nó cố gắng “bù đắp cho cảm giác tự tôn mong manh tiềm ẩn bên trong”.
Thực tế tội phạm có chủ đích không thiếu lòng tự trọng hoặc coi mình là kẻ thất bại, ngay cả khi bị bắt vì phạm tội. Nếu thất bại ở trường học, nơi làm việc hoặc một nơi nào khác, đó là do sự lựa chọn của anh ta. Anh ta không phải là một người trầm lặng hay thần kinh cảm thấy lạc lõng và không thể làm bất cứ điều gì đúng đắn. Chính xác hơn thì anh ta tự cho mình là một người xuất chúng, vượt trội hơn những người khác. Nếu mọi người muốn khen ngợi khi anh ta có được những kỹ năng mới và tuân thủ những gì được yêu cầu thì điều đó tốt với anh ta. Mặc dù đang được khen ngợi vì thành công trong các chương trình xây dựng lòng tự trọng, anh ta vẫn có thể lên kế hoạch cho vụ cướp tiếp theo hoặc suy nghĩ về nơi tìm thấy loại heroin nguy hiểm nhất.
Đôi khi tội phạm tự thuyết phục bản thân rằng chìa khóa để trở thành một người có trách nhiệm là một cuộc sống không ma túy. Anh ta có thể tham gia hoạt động điều trị lạm dụng chất kích thích thường là do án lệnh của tòa. Các chương trình tự lực như Alcoholics Anonymous (A.A.) và Narcotics Anonymous gồm 12 bước, gặp mặt hàng ngày ở tất cả các loại địa điểm từ nhà thờ đến tàu du lịch. Các chương trình điều trị nội trú dài hạn giáo dục người tham gia về hành vi lạm dụng chất kích thích và cung cấp liệu pháp chuyên sâu. Tội phạm lạm dụng bất cứ thứ gì và có thể có động cơ kín đáo khi tham gia các chương trình về hành vi lạm dụng chất kích thích. Họ biết rằng nếu không sử dụng ma túy, họ có thể thành thục hơn trong các hoạt động phạm tội vì suy nghĩ sẽ sáng suốt hơn. Nếu tránh xa ma túy, anh ta không phải mạo hiểm đối phó với những nhân vật mờ ám, mua ma túy không nguyên chất hoặc lo lắng nếu sử dụng quá liều hay các tác dụng phụ không mong muốn. Tuy nhiên, kiêng khem mới chỉ là bước khởi đầu. A.A. nhận thấy thay đổi đòi hỏi không chỉ sự tỉnh táo, “Suy nghĩ bẩn thỉu là thuật ngữ được A.A. sử dụng để đề cập đến thực tế rằng một người tham gia A.A. có thể “say khan” ngay cả khi tỉnh táo. Điều đó nói lên rằng, dù đã bỏ rượu nhưng anh ta vẫn không trung thực, thích kiểm soát, tự cho mình là trung tâm và hay đổ lỗi cho người khác.
Một số chương trình được thiết kế nhằm thúc đẩy sự thay đổi ở người phạm tội một cách nhanh chóng và ít tốn kém. Chương trình “Scared Straight được ra mắt tại một nhà tù ở New Jersey trong những năm 1970 với mục đích đưa những phạm nhân trẻ tuổi đối mặt với những tù nhân trưởng thành, những người sẽ kể lại bằng ngôn ngữ hình ảnh về khoảng thời gian ngồi tù khó khăn như thế nào. Trong một báo cáo năm 2011, Bộ Tư pháp Mỹ tuyên bố,“Nhiều thập kỷ nghiên cứu chỉ ra cách tiếp cận này không những không hiệu quả mà còn có thể gây hại cho thanh thiếu niên”. 16 Một số nhà nghiên cứu nhận thấy “các chương trình như vậy thường làm gia tăng tội phạm” và vi phạm luật cấm thanh thiếu niên có liên quan đến tòa án tiếp xúc với các tù nhân trưởng thành.
Có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá sự thành công của các chương trình cải tạo. Đánh giá sự thay đổi có thể dựa trên những quan sát về hành vi hằng ngày của tội phạm trong cơ sở cải tạo. Một số tội phạm giống như những con tắc kè họa thích ứng nhanh chóng với môi trường xung quanh. Họ tuân thủ các quy tắc và tự nguyện tham gia các chương trình, thậm chí đôi khi với sự nhiệt tình nhằm tránh những rắc rối với các nhân viên. Một nhà quan sát có thể ấn tượng trước thái độ cư xử của tù nhân đến mức sẽ băn khoăn tại sao cần phải giam giữ người đó. Khi tội phạm bày tỏ ý định thay đổi nhưng trên thực tế chỉ tạm thời thích nghi với việc bị giam giữ thì thái độ và hành vi của anh ta sẽ xấu đi khi ra tù, nếu không phải là sớm hơn. Thích nghi thành công với một môi trường được kiểm soát gắt gao không thể đảm bảo một người sẽ đương đầu với những tình huống cấp bách và thách thức của cuộc sống bên ngoài nhà tù một cách có trách nhiệm.
Bradley thích nghi khá tốt với nhà tù cấp hạt. Là một tù nhân gương mẫu, anh ta chưa bao giờ bị ghi nhận về hành vi sai trái trong suốt nhiều tháng bị giam giữ. Tuy nhiên, đằng sau phong thái điềm đạm, tử tế của anh ta là một tâm trí không thể hiểu được lối sống thích nghi ở vẻ bề ngoài. Bradley tiết lộ một vấn đề riêng tư với tôi khi thú nhận rằng, “Tôi không hoàn toàn ở trạng thái muốn thay đổi. Tôi e là “nỗi bất hạnh nhất” sẽ đạt đến mức quá muộn để có thể thay đổi. Điều quan trọng nhất là đạt được những gì tôi muốn. Tôi đã có suy nghĩ này trong suốt cuộc đời. Cuối cùng thì tôi có thể lại phạm tội. Đó là tất cả những suy nghĩ của tôi vào một ngày nào đó – kiếm một khoản tiền nhỏ nhanh chóng và dễ dàng, đồng thời thỏa mãn bản thân và cho mọi người thấy tôi ‘tồi tệ’ như thế nào”.
“Tái phạm” là tiêu chí để theo dõi xem một người vi phạm có thay đổi hay không. Bộ Tư pháp Mỹ định nghĩa tái phạm là “các hành vi phạm tội dẫn đến việc bị bắt giữ trở lại, tái kết án hoặc trở lại nhà tù bất kể có hoặc không có bản án mới trong thời gian ba năm sau khi ra tù”. 17 Số liệu thống kê về việc bắt giữ không dựa trên các đánh giá chủ quan và có thể có được dễ dàng từ các nguồn chính thức. Tuy nhiên, số liệu thống kê không thể phản ánh cuộc sống hằng ngày của tội phạm cũng như không tiết lộ điều gì về tính chính trực, sự đáng tin cậy, khả năng ra quyết định đúng đắn hay cách đối xử với người khác. Số liệu thống kê về hành vi tái phạm chỉ cho biết liệu một người phạm tội có bất cẩn để bị bắt hay không và đó có thể chỉ là một phần nhỏ trong số các tội đã phạm phải. Nhà tâm lý học Stephen Brake chỉ ra rằng điều này đặc biệt đúng với những tội phạm tình dục và lưu ý, “Trong khoảng từ 64% đến 99% các vụ tấn công tình dục không bao giờ được các nạn nhân kể lại”. 18 Ông trích dẫn một báo cáo hết sức choáng váng của nhà tâm lý học Gene Abel, người phát hiện ra rằng, khi được đảm bảo giấu tên, “người trưởng thành phạm tội tình dục tiết lộ đã thực hiện trung bình 533 lần phạm tội trong khoảng thời gian 12 năm trước khi bị phát hiện”. Từ nghiên cứu của Tiến sĩ Brake có thể thấy, thời hạn ba năm để đánh giá hành vi tái phạm là quá ngắn. Ông trích dẫn các nghiên cứu cho thấy, theo cáo cáo của các nhà điều tra, sau 25 năm tỉ lệ tái phạm gia tăng theo thời gian, lên mức 39% đối với tội hiếp dâm và 52% đối với tội lạm dụng tình dục trẻ em.
Sự thất bại thảm hại của hoạt động cải tạo đã khiến công chúng hoài nghi liệu tội phạm có thể thay đổi hay không. Có hợp lý khi kết luận bản chất tội phạm được định sẵn như vậy không? Đây cũng là một quan niệm sai lầm. Có những thời điểm tội phạm dễ bị tổn thương, như khi cuộc sống không diễn ra như mong đợi, và anh ta phải tìm kiếm một giải pháp thay thế. Anh ta sẽ cảm thấy dễ tổn thương nhất khi mất đi thứ mà mình coi trọng, thường là sự tự do, hoặc có thể là bạn gái hay gia đình. Khi cánh cửa trại giam đóng sầm lại sau lưng, anh ta có thể bị tổn thương khi nhìn cuộc sống đang lặng lẽ trôi qua trước mặt và anh ta có nhiều thời gian để suy nghĩ. Trong những giai đoạn như vậy, việc cải thiện bản thân có thể có sức hấp dẫn mạnh mẽ nhất. Ngay cả khi không ở trong tù, anh ta cũng có thể chán nản bản thân, chán việc chạy trốn, lo lắng những điều tồi tệ sắp xảy ra và làm hại những người quan tâm đến mình.
Hoạt động cải tạo có thể bắt đầu thực hiện ở trong tù hoặc trong cộng đồng nhưng yếu tố cốt lỗi không phải là địa điểm mà là trạng thái tinh thần của tội phạm. Một tù nhân trung niên tại một trại giam tiểu bang đã nhắn nhủ tới những gì vẫn còn là thách thức đối với xã hội khi nói về cuộc đời bị lãng phí của anh ta. Đầu tiên, anh ta cho rằng các phương pháp hiện tại khó tiếp cận được những người như mình. Rồi anh ta tuyệt vọng vì có lẽ sẽ không thay đổi được gì. Anh ta chia sẻ, “Theo tôi, tâm trí con người luôn tự lặp lại, tiếp thu nhiều mánh khóe, sự tinh vi, kỹ thuật, tinh tế và khoa học hơn. Tôi chắc chắn một môi trường được kiểm soát với cách tiếp cận nhân văn, có đạo đức, nguyên tắc và can đảm, có thể truyền cảm hứng cho những người thấp kém nhất trở thành một bộ phận lao động hiệu quả của đất nước này”. Một tội phạm khác cho biết: “Tôi biết không dễ để thay đổi toàn bộ quan niệm và thói xấu của ai đó, nhưng tôi nhận thức được điều này. Với tôi, trở thành một công dân tuân thủ pháp luật sẽ là niềm vui lớn nhất”.
Hầu như không có gì thay đổi kể từ khi tôi viết về những diễn biến của hoạt động “cải tạo” năm 1984. Công chúng không chỉ thất vọng về hiệu quả của hoạt động cải tạo mà còn phẫn nộ khi phải bỏ ra rất nhiều tiền cho hoạt động giam giữ. Một bài báo năm 2014 trên FoxNews.com với tiêu đề: “Chi phí cho mỗi tù nhân tại các bang gấp bốn lần so với học phí của sinh viên” kêu gọi sự chú ý đến vấn đề tiếp tục kích động những chỉ trích đối với hệ thống tư pháp hình sự. Bài báo chỉ ra California chi khoảng 47.000 đô la cho mỗi tù nhân trong khi chỉ 9.000 đô la cho mỗi sinh viên. Nhiều năm trước, George Beto, giáo sư về tư pháp hình sự và cựu chủ tịch của Cục Cải tạo Texas, tuyên bố, “Hoạt động cải tạo là những hoạt động mang tính chất thời điểm không được ghi chép lại và đã tồn tại 150 năm”. Các biện pháp chỉ mang tính chất biểu tượng trong hoạt động cải tạo tiếp tục được triển khai trong những nỗ lực đôi khi điên cuồng nhưng thường không hiệu quả nhằm thực hiện điều gì đó thay vì không làm gì, đồng thời thực hiện càng nhanh và ít tốn kém càng tốt. Tôi đặt ra câu hỏi tương tự như 30 năm trước: Liệu xã hội có sử dụng hiệu quả các nguồn lực để giúp tội phạm trở nên có trách nhiệm hay không, hay sẽ tiếp tục ném hàng tỷ đô la vào những “kho chứa người” và lãng phí tiền của vào những giải pháp lẻ tẻ với chủ đích tốt nhưng không hợp lý và không phải là giải pháp thực sự?
Tất cả những nỗ lực nêu trên đều nhằm giúp người phạm tội chưa thành niên và trưởng thành cải thiện và có thể thay đổi. Nhưng thật vô ích khi xây dựng một ngôi nhà tốt trên nền móng đã mục nát. Hành vi là sản phẩm của tư duy. Chìa khóa của hoạt động cải tạo là nhằm giúp người phạm tội thay đổi suy nghĩ. Trong hai chương tiếp theo, chúng ta sẽ tiếp tục đi vào trọng tâm này.