Tâm Lý Học Tội Phạm Tập 2

Lượt đọc: 387 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
“cải tạo” hay tạo ra nhiều tội phạm hơn?

Bốn năm trước, tôi không hề biết gì về “tư duy tội phạm”. Tôi nghĩ những người phạm tội cũng giống như bất kỳ ai khác và tội ác chỉ là phản ứng trước những nghịch cảnh từ môi trường, cách nuôi dạy con yếu kém hoặc bệnh tâm thần. Tôi đã mở rộng tầm mắt khi chứng kiến Tiến sĩ Yochelson phỏng vấn những người coi phạm tội là lối sống của bản thân. Tôi thấy gần như không có điểm chung nào giữa cách nhìn cuộc sống của họ với những người tôi biết và hoàn toàn khác với những người tôi từng điều trị. Xét về bên ngoài, những gì họ muốn dường như giống với hầu hết mọi người – tình bạn, sự an toàn, tình yêu và một cách kiếm sống hợp pháp. Tôi nhận ra ngay cả khi tội phạm nói muốn những điều này, chúng vẫn sẽ thực hiện ý đồ theo cách hoàn toàn khác với những người có trách nhiệm. Hình ảnh về bản thân tội phạm được khẳng định dựa trên việc vượt qua và kiểm soát người khác thông qua sự lừa dối, đe dọa hoặc vũ lực. Họ sôi sục giận dữ trước một thế giới không mang lại những gì họ nghĩ sẽ có được và gạt bỏ nỗi sợ hãi về những hậu quả và lương tâm để làm bất cứ điều gì theo cách lạnh lùng nhất.

Kể từ khi ấn bản đầu tiên của cuốn sách Tân lý học tội phạm được xuất bản, tôi đã nhận được hàng trăm bức thư, e-mail và cuộc điện thoại từ những người thuộc mọi tầng lớp xã hội nói rằng cuốn sách giúp họ hiểu được điều gì đã cản trở và gây ra đau buồn cho họ trong nhiều năm qua. Các bậc cha mẹ kiệt sức vì quá trình tham vấn kéo dài và tốn kém với các chuyên gia sức khỏe tâm thần nói rằng cha mẹ phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của con cái, và họ cảm thấy nhẹ nhõm khi biết rằng họ không phải là nguyên nhân.

Những người tiếp xúc tội phạm hằng ngày trong công việc nhận thấy khái niệm “tâm trí tội phạm” vô cùng giá trị, đặc biệt khi họ đã quen với những “sai sót trong suy nghĩ” dẫn đến hành vi phạm tội. Hệ quy chiếu này giúp họ hiểu rõ hơn về những gì quan sát hằng ngày, từ đó hoàn thành công việc tốt hơn.

Các chuyên gia làm việc trong các cơ sở cải tạo và cộng đồng có người trưởng thành và người chưa thành niên phạm tội muốn tìm hiểu rõ hơn cách thức giúp tội phạm xác định những sai lầm trong tư duy, và họ đã tìm kiếm chỉ dẫn về cách làm thế nào để truyền đạt cách thức sửa sai cho nhóm đối tượng gai góc này. Gần 7.000 bộ đĩa DVD và sách bài tập nêu chi tiết một số khái niệm trong cuốn Tâm lý học tội phạm đã được các tổ chức liên bang và tiểu bang đặt hàng nhằm ủng hộ nỗ lực này. 1

Sau khi đọc các ấn bản trước của cuốn sách này, những người có mối quan hệ với những cá nhân mà họ không coi là “tội phạm” nhận ra rằng người mà họ tưởng biết tường tận về nhiều mặt hóa ra lại là một người xa lạ. Góc nhìn mới giúp những cá nhân này giải phóng bản thân khỏi những vướng mắc gây ra cảm giác bối rối, tội lỗi hay phải hứng chịu điều gì đó.

Và chính những tội phạm từng đọc cuốn Tâm lý học tội phạm hoặc tiếp xúc với chương trình giảng dạy bằng DVD của tôi cho biết, cuối cùng, họ đã hiểu được suy nghĩ của chính mình và điều này giúp cải thiện cuộc sống của họ.

CHƯƠNG TRÌNH NÀY bắt đầu vào năm 1961 và tôi bắt đầu tham gia từ năm 1970. Tiến sĩ Yochelson phát triển một cách tiếp cận với hoạtđộng “cải tạo” dựa trên những hiểu biết sâu sắc về tâm trí tội phạm. Những phát hiện và cách tiếp cận với sự thay đổi của ông đã được điều chỉnh và thực hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau, bao gồm một số bối cảnh ông có thể không lường trước, như các chương trình dựa trên đức tin và các cơ sở dành cho trẻ vị thành niên. Tiến sĩ Yochelson là người đi tiên phong trong cách tiếp cận về nhận thức mà hiện đang được coi là xu hướng chủ đạo. Tuy nhiên, không giống như tâm lý học nhận thức chính thống phương pháp của ông dựa trên hiểu biết về quá trình tư duy hàng ngày của tội phạm. Điều này đòi hỏi một phương pháp tiếp cận “hiện tượng luận” để hiểu biết thế giới theo quan điểm của tội phạm thay vì tập trung vào các yếu tố nguyên nhân chỉ mang tính lý thuyết và phỏng đoán. Khi hiểu được cách thức suy nghĩ của tội phạm, Tiến sĩ Yochelson và tôi có thể phát triển một chương trình nhằm giúp thay đổi suy nghĩ đó.

KHI MÔ TẢ quá trình thay đổi, tôi đề cập nhiều lần đến “tội phạm” mà không phân biệt mức độ nghiêm trọng của hoạt động phạm tội. Rõ ràng, không phải ai phạm tội cũng là tội phạm không thể cải tạo. Tuy nhiên, mọi loại tội phạm đều xuất phát từ cách thức tư duy. Chương trình được nêu trong chương trước đã được sửa đổi nhằm giúp những người trẻ tuổi và người trưởng thành chưa coi phạm tội là nghề nghiệp trở nên có trách nhiệm hơn. Tuy nhiên, chỉ cần một quá trình chuyên sâu thực sự là đủ để xây dựng tội phạm trở thành sự nghiệp.

Khi ông ấy bắt đầu một chương trình “cải tạo”, không tội phạm nào có thể biết trước bản thân sẽ được yêu cầu thay đổi những gì. Một số tội phạm sẽ từ chối mọi cơ hội cải tạo, trong khi một số cố gắng tự thay đổi, nhưng cuối cùng lại từ bỏ. Những tội phạm không chịu thay đổi vẫn là mối nguy hiểm với xã hội cũng như chính bản thân họ. Trong những trường hợp như vậy, chỉ có hai lựa chọn thay thế: giam giữ lâu dài trong các cơ sở nhân đạo hoặc được thả nhưng phải chịu giám sát chặt chẽ, tuy nhiên hình thức này hiện nay không còn tồn tại. Việc giám sát trước tiên sẽ yêu cầu phạm nhân phải thực hiện các buổi trình diện hàng tuần với cán bộ tòa án. Thứ hai, người cán bộ đó phải đến nhà và duy trì liên lạc chặt chẽ với một người đáng tin cậy biết rõ về người phạm tội. Người này có thể là vợ/chồng, cha mẹ, họ hàng khác hoặc ông chủ. Những tội phạm chấp hành tốt sẽ được tạo Cơ hội tham gia một chương trình chuyên sâu nhằm giúp thay đổi căn bản lối suy nghĩ và hành vi.

Thay đổi không chỉ đòi hỏi một người phạm tội không bị bắt giữ mà còn giảm đi ham muốn phạm tội. Những tội phạm như Leroy phải giải thích họ sử dụng tiền bạc và thời gian như thế nào. Họ không chỉ phải có được việc làm mà còn phải thiết lập các kiểu công việc ổn định. Những người có gia đình cần sẵn sàng giúp đỡ người khác và hỗ trợ lẫn nhau, và điều này cần được các thành viên trong gia đình xác nhận.

PHẦN QUAN TRỌNG NHẤT của quá trình thay đổi diễn ra trong cộng đồng. Thật là một giấc mơ viển vông khi thả một tội phạm ra khỏi nhà tù và mong đợi anh ta hành xử có trách nhiệm trong một thế giới xa lạ mà không kèm theo hướng dẫn nào. Điều đó giống như yêu cầu một học sinh lớp hai giải các phương trình đại số. Khi tội phạm được trả tự do, cần phải tiếp tục tăng cường giúp anh ta thay đổi trong cộng đồng. Đối với những người hoàn toàn không bị giam giữ, cần áp dụng thời gian thử thách”. Đó là, tội phạm có thể phải trải qua thời gian thử thách và tham gia vào một chương trình chuyên sâu để thay đổi. Nếu anh ta rời khỏi chương trình, tòa án sẽ quyết định xem liệu có nên tiếp tục thử thách trong các điều kiện khác hay hủy bỏ hoàn toàn quá trình thử thách.

Sự xuất hiện của công nghệ giúp theo dõi tội phạm trong cộng đồng hiệu quả hơn so với trước đây, do đó một nỗ lực cải tạo như vậy chứa đựng ít rủi ro hơn. Xã hội không cần trông cậy duy nhất vào thiện chí của tội phạm hoặc vào những nỗ lực giám sát có thể hiệu quả hoặc không. Công nghệ GPS có thể giúp định vị tương đối chính xác tội phạm đang ở đâu tại bất kỳ thời điểm nào.

Chương trình không đòi hỏi các loại phương tiện mới hoặc nguồn nhân lực lớn. Tuy nhiên, các nhân viên cần phải được đào tạo để làm quen với lối tư duy và hành vi của tội phạm. Để giúp tội phạm thay đổi không cần đến một nhóm các nhà tâm lý hoặc nhà tâm thần học. Các khái niệm và phương pháp vô cùng đơn giản và có thể truyền đạt cho những người không có bằng cấp chuyên môn cao nhưng có tâm huyết và chịu đựng được công việc gian khổ này. Những người được cung cấp các chương trình như vậy cần phải có trách nhiệm với chính bản thân. Không gì vô ích hơn việc một người vô trách nhiệm cố gắng dạy một người vô trách nhiệm khác cách trở thành người có trách nhiệm. Nói cách khác, phẩm chất của những người giúp tội phạm thay đổi cũng đóng vai trò quan trọng. Để đảm nhận công việc này, một người phải vững vàng, nhân ái và kiên nhẫn bởi người ta thường nói: Dục tốc bất đạt.

Cho dù làm việc trong nhà tù hay ngoài cộng đồng, người hướng dẫn tội phạm cần thể hiện lòng trắc ẩn không phải bằng những giọt nước mắt vì hoàn cảnh của anh ta mà bằng cách dành nhiều thời gian và nỗ lực cho công việc vô cùng quan trọng đối với cả xã hội và tội phạm.

Rủi ro lớn nhất khi làm việc với tội phạm có thể là nguy cơ bị hành hung. Một điều cũng hết sức nguy hại khi làm công việc này là nguy cơ cạn kiệt lòng nhiệt tình, cam kết và sự quan tâm một cách nhanh chóng. Khi đề cập đến từ “can kiệt” với những người dày dạn kinh nghiệm trong các Cơ sở cải tạo, họ sẽ hiểu bạn muốn nói gì. Ngày càng có nhiều thanh niên có lý tưởng và tận tâm đến các cơ sở cải tạo và háo hức làm một công việc tốt đẹp. Họ gần như phải đối mặt ngay lập tức với hàng loạt các trở ngại to lớn mà không được chuẩn bị kỹ lưỡng. Mặc dù thực tế những người họ gặp phải nằm trong số những đối tượng khó khăn nhất ở bất cứ đâu nhưng những cố vấn mới vào nghề này nghĩ rằng họ được kỳ vọng sẽ đạt được những gì mà cha mẹ, giáo viên, ông chủ, giới tu sĩ và những người khác đã thất bại trong nhiều năm. Một quan chức cấp cao trong cơ sở cải tạo mô tả sự tiến triển từ nhiệt tình đến tình trạng kiệt sức như sau. “Năm đầu tiên, người mới đến không thể thực hiện đủ những gì cần thiết cho một người phạm tội. Năm thứ hai, anh ta không thể thực hiện đủ những gì đối với một người phạm tội. Năm thứ ba, anh ta chẳng thèm quan tâm”. Yếu tố con người biến mất khi người lao động trở nên hoài nghi hoặc thờ ơ. Một số bỏ việc trong khi một số kiên trì và chịu đựng, chỉ đơn giản để sống qua ngày và nhận lương. Một số ít người tham gia và vẫn hy vọng đạt được điều gì đó xứng đáng.

Không thể ép buộc tội phạm thay đổi. Tự họ phải đạt đến một thời điểm nhất định trong cuộc sống khi cảm thấy chán nản bản thân và từ đó mong muốn thay đổi. Chỉ có ba con đường - phạm tội, tự sát hoặc thay đổi. Nhiều người phạm tội vẫn cố tin rằng có sự lựa chọn thứ tư - để tỏ ra có trách nhiệm trong khi thực hiện hành vi phạm tội. Tham gia một phần vào chương trình này tương tự như mang thai được ít tuần vậy. Đó không phải là một lựa chọn khả thi. Một người hoặc chấm dứt hoàn toàn hoạt động phạm tội hoặc không. Không có mức độ trung gian giữa hai mức độ đó. Hoạt động cải tạo tội phạm cũng giống với cách thức hoạt động của tổ chức Alcoholics Anonymous. Tổ chức này kêu gọi việc kiêng rượu hoàn toàn. Một ngụm rượu sẽ dẫn đến một cốc rượu, rồi thành chai, và theo thời gian sẽ trở lại trạng thái ban đầu. Với tội phạm cũng vậy. Nếu cho phép bản thân nói dối thì hành vi nói dối cuối cùng sẽ trở nên phổ biến. Nếu ăn cắp một vài dụng cụ ở nơi làm việc, anh ta sẽ sớm lừa dối hoặc ăn cắp của ông chủ bằng những cách khác. Những vi phạm nhẹ giống như một quả cầu tuyết lăn xuống dốc và kích thước của nó chỉ tăng lên mà thôi.

Một chương trình thay đổi hiệu quả cần tập trung hết trách nhiệm vào tội phạm, người có cơ hội và khả năng đưa ra những lựa chọn mới. Cách tiếp cận này không nhấn mạnh vào những gì xảy ra với tội phạm mà là những gì anh ta làm với người khác. Ví dụ, nếu bị ông chủ chỉ trích gay gắt, vậy anh ta đã làm gì khiến điều đó xảy ra? Nếu thực sự không làm gì thì phản ứng của anh ta giúp cải thiện hay làm cho tình hình tồi tệ hơn?

Các quyết định đưa ra không dành cho tội phạm. Mặc dù trọng tâm là quá trình ra quyết định nhưng mỗi quyết định cụ thể lại do cá nhân thực hiện. Cuối cùng, tội phạm cũng giống như những công dân tuân thủ pháp luật, đều lựa chọn một công việc và thăng tiến trong phạm vi khả năng và nỗ lực của bản thân. Nhiều cơ hội khác nhau sẽ luôn tồn tại trong những lựa chọn có trách nhiệm. Quá trình thay đổi đòi hỏi tội phạm phải đạt được các giá trị đạo đức tồn tại trong các nền văn minh trong suốt lịch sử. Mục tiêu của chương trình là dạy người phạm tội cách chung sống mà không làm hại người khác.

NHỮNG VẤN ĐỀ mà tôi đã đề cập đều không phải là điều mới mẻ: quyền lựa chọn, ý chí tự do, thiện và ác, phản ứng trước cám dỗ và sự thể hiện lòng dũng cảm hay hèn nhát khi đối mặt với nghịch cảnh. Những cuốn sách thiêng liêng của hầu hết các tôn giáo đều chứa đựng những lời khuyên không nên lừa dối, giận dữ và kiêu ngạo. Ngoài ra, trong Kinh Cựu ước có viết, “Khi con người suy nghĩ trong lòng thế nào, thì bản chất anh ta cũng vậy” (Châm ngôn 23:7). Chúng ta suy nghĩ bản thân thế nào thì sẽ là như vậy. Không thể giúp một người từ bỏ tội ác và sống có trách nhiệm nếu không giúp anh ta thay đổi những gì cơ bản nhất, đó chính là suy nghĩ.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của stanton e. samenow