Tâm Trí Tội Phạm

Lượt đọc: 455 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12
LỪA ĐẢO
NỮ SIÊU NHÂN
Image
Image

Mọi người đều rất phòng thí nghiệm vaccine gần Boston, và không ai ở đó làm việc chăm chỉ hơn cô ta. Cô ta luôn là người đến văn phòng lúc tờ mờ sáng và là người cuối cùng tắt đèn của phòng thí nghiệm mỗi đêm. Cô ta cũng không bao giờ nghỉ trưa và thường mang theo cả giấy tờ công việc khi đi nghỉ. Trên hết, một mặt cô ta đã nhận được bằng sau đại học chuyên ngành hóa học thông qua một chương trình bán thời gian tại Harvard. Như những gì chia sẻ với các đồng nghiệp, cô ta bị buộc thôi học chương trình cử nhân tại Harvard vài năm trước đó vì thiếu tiền và phải học nốt chương trình tại một trường công lập. Do đó, tấm bằng sau đại học tại Harvard mang lại cảm giác vô cùng ngọt ngào – đặc biệt là khi cô ta đã hoàn thành chương trình học trong thời gian kỷ lục, chỉ một năm. Để ăn mừng, phòng thí nghiệm đã tổ chức tiệc mừng cho cô ta với biểu ngữ “Xin chúc mừng, Annie!”

Điều quan trọng nhất ở đây là: tất cả chỉ là lừa bịp. Dookhan chưa bao giờ tham gia một lớp học nào ở Harvard, dù là hệ chính quy hay bất kỳ hệ nào khác. Thậm chí, Harvard cũng không cung cấp chương trình bán thời gian nào liên quan đến hóa học. Dookhan đã dựng lên toàn bộ câu chuyện này, như một mưu đồ để thăng tiến nhanh hơn tại công ty mà cô ta đang làm việc.

Thật không may cho cô ta, canh bạc này đã không thành công và công ty từ chối thăng chức cho cô ta. Quá tức giận, cô ta đã làm giả sơ yếu lý lịch của bản thân (xóa trường Harvard nhưng lại lừa rằng cô ta đã học được một nửa chương trình thạc sĩ ở một trường khác) và bắt đầu tìm kiếm một công việc mới vào năm 2003. Không lâu sau, cô ta nhận được lời đề nghị từ một phòng thí nghiệm của chính phủ ở gần đó, nơi tiến hành công tác kiểm tra các loại ma túy cho các vụ án tại tòa.

Cho đến thời điểm đó, Dookhan, một phụ nữ 25 tuổi, đã nói quá nhiều dối trá. Nhưng cô ta luôn tỏ ra liêm chính ở băng ghế phòng thí nghiệm: không có bằng chứng nào chứng minh cô ta vi phạm hay gian lận gì tại công ty vaccine. Thế nhưng điều đó sắp sửa thay đổi.

Image

Hầu hết mọi người phớt lờ các quy tắc luật lệ thì cũng đều lười biếng, nhưng Annie Dookhan thì không, cô ta luôn làm việc rất chăm chỉ.

Cô ta lớn lên ở Trinidad, nhập cư đến Boston cùng cha mẹ vào cuối những năm 1980, lúc chừng 11 tuổi. Sau đó, cô ta theo học tại trường Boston Latin danh tiếng và tham gia các cuộc thi chạy ở đó; cô ta thậm chí còn cố gắng tham gia môn chạy vượt rào dù chỉ cao chừng mét rưỡi. Cô ta thi đấu rất tệ ở môn thể thao này, nhưng huấn luyện viên vô cùng ngạc nhiên trước sự nhiệt huyết của cô ta.

Cô ta đạt điểm xuất sắc môn khoa học tại Boston Latin, sau đó tuyên bố bản thân đã tốt nghiệp loại xuất sắc tại ngôi trường này dù trường này không cấp bằng đó. Cô ta còn nói với mọi người rằng bố mẹ cô ta đều là bác sĩ. Những lời nói dối vặt này tiếp tục diễn ra ở trường đại học và sau đó là tại công ty vaccine và phòng thí nghiệm y dược của nhà nước, nơi cô ta tự tạo ra những danh hiệu phức tạp cho bản thân, như “giám sát viên thường trực chủ nghĩa khủng bố hóa học và sinh học” hay “đặc vụ hoạt động đặc biệt” của FBI.

Tuy nhiên, dù rất đáng ghét nhưng những lời nói dối của cô ta vẫn chưa làm hại ai tính đến thời điểm đó. Nhưng những lời nói dối nhỏ nhặt đó cứ thế lớn dần theo năm tháng và sớm tích lũy đủ sức mạnh để đẩy mọi chuyện theo chiều hướng đen tối.

Phòng thí nghiệm của Dookhan phân định các loại ma túy mà cảnh sát thu giữ trong các cuộc đột kích. Đôi khi đây là những bánh ma túy nguyên chất; đôi khi chúng là những gói nhỏ được trộn với bột nở hoặc sữa công thức trẻ em và chia thành những gói nhỏ trong túi bóng hoặc giấy thiếc vuông bán rong trên phố. Vì nhiều loại thuốc có đặc điểm bên ngoài giống nhau nên cảnh sát sẽ phải chuyển chúng đến phòng thí nghiệm để Dookhan và các đồng nghiệp của cô ta có thể xác định loại của ma túy thông qua một loạt các cuộc kiểm tra.

Vòng kiểm tra đầu tiên, được gọi là các xét nghiệm giả định, cho các nhà phân tích biết loại ma túy gốc mà họ đang xử lý. Một thử nghiệm liên quan đến việc thêm formaldehyde và axit sulfuric vào một loại bột không xác định. Nếu mẫu chuyển sang màu đỏ tím, đó là thuốc phiện; nếu nó chuyển sang màu cam cháy, đó là một chất amphetamine. Các hóa chất khác có thể làm thuốc chuyển sang màu xanh lục hoặc xanh lam.

Giả sử nhà hóa học có trong tay một loại thuốc phiện. Sau đó, họ sẽ tiến hành xét nghiệm khẳng định thứ hai để thu hẹp kết quả xuống một loại ma túy cụ thể. Xét nghiệm khẳng định bao gồm việc lấy một chút mẫu chưa xác định, hòa tan nó trong chất lỏng và thực hiện qua một số phân tích bên trong thiết bị chuyên dụng. Các mẫu thuốc phiện đã được xác định (ví dụ như morphin, heroin, fentanyl) được phân tích giống nhau trong cùng một lần thực hiện. Sau đó, thiết bị chuyên dụng sẽ tạo ra một số đồ thị – một loại mã vạch cho mỗi mẫu. Bằng cách so sánh mã vạch từ mẫu chưa được xác định với mã vạch từ các mẫu đã được xác định, các nhà hóa học có thể xác định chính xác loại thuốc có liên quan và thông báo cho cảnh sát.

Giống như các phòng thí nghiệm nghiên cứu ma túy trên toàn quốc, phòng thí nghiệm ở Boston ngập tràn các mẫu để kiểm tra. Đến năm 2003, lượt xếp hàng chờ xét nghiệm đã tăng lên vài nghìn mẫu phẩm; căn phòng bảo mật nơi họ lưu trữ các mẫu chưa được kiểm tra cuối cùng đã bị nhồi nhét nhiều đến mức việc đi lại bên trong rất nguy hiểm tính theo tiêu chuẩn an toàn. Nhưng với sự xuất hiện của Dookhan, mọi thứ bắt đầu khởi sắc. Cô ta nhanh chóng tự nhận mình không chỉ là nhà hóa học chăm chỉ nhất (là người đi làm đầu tiên, về nhà cuối cùng) mà còn là người nhanh nhẹn nhất. Trong năm đầu tiên làm việc, cô ta đã xử lý 9.239 mẫu thuốc – cao gấp 3 lần mức kiểm tra trung bình của 9 nhà hóa học khác và tương đương hơn một phần tư số mẫu phẩm của phòng thí nghiệm nói chung. Mọi người ở đó bắt đầu gọi cô ta là nữ siêu nhân, một lời khen ngợi khiến cô ta rất tự hào. Trong các email gửi tới các công tố viên mà cô ta đã làm việc cùng, cô ta khoe khoang về việc mình là người không thể thiếu trong phòng thí nghiệm.

Tuy nhiên, cô ta đã sử dụng lời khen ngợi này như một loại dầu dưỡng xoa dịu cơn đau của bản thân. Năm 2004, cô ta gặp một kỹ sư tại quê hương Trinidad và kết hôn với người đàn ông này. Không lâu sau, cô ta có thai. Nhưng cô ta không giữ được con vào lần mang thai đầu tiên này. (Sau đó cô ta bị sẩy thai thêm một lần nữa.) Mỗi lần mất con đều khiến cô ta suy sụp và gây căng thẳng lớn cho mối quan hệ mà cô ta đang có.

Thay vì dành thời gian nghỉ phép để nghỉ ngơi và tìm cách xử lý vấn đề mình đang gặp phải như sếp của cô ta động viên, Dookhan đã xóa tan nỗi đau bằng cách dành nhiều thời gian hơn ở băng ghế phòng thí nghiệm. “Tôi có sô cô la và công việc”, cô ta nói với sếp của mình, “và đó là cách giải quyết của tôi”. Một năm sau lần sẩy thai đầu tiên, cô ta đã đạt được năng suất làm việc thậm chí còn kinh khủng hơn trước, triển khai phân tích 11.232 mẫu, cao gần gấp đôi nhà hóa học đứng thứ 2 và gấp 4 lần mức trung bình của phòng thí nghiệm. Dookhan sau đó đã hạ sinh một cậu con trai khuyết tật, điều này khiến năng suất của cô ta bị chậm lại phần nào, nhưng cô ta vẫn tiếp tục lấy lòng các nhà hóa học đồng nghiệp của mình năm này qua năm khác. Trong khi hầu hết mọi người kiểm tra hai chục mẫu hơn một lúc thì Dookhan thường lấy 50 hoặc 60 mẫu và có lần lấy tới 119 mẫu.

Image

Nhà phân tích chất gây nghiện Annie Dookhan (Được sự cho phép của tờ Boston Herald).

Tuy nhiên, dần dần, các đồng nghiệp của cô ta bắt đầu nghi ngờ về tốc độ làm việc quá khủng khiếp này. Một số mối nghi ngờ trong số đó hoàn toàn có cơ sở thực tế. Làm thế quái nào mà một người lại có thể làm việc nhanh như vậy? Họ cũng bắt đầu lần ra các manh mối. Một đồng nghiệp từng bắt gặp Dookhan không kiểm chuẩn cân trước khi đo – một bước quan trọng để đảm bảo độ chính xác, vì sự khác biệt giữa 27,99 gam và 28,00 gam ma túy đồng nghĩa với sự chênh lệch vài năm tù. Các đồng nghiệp cũng nhận thấy rằng, dù tất cả các kiểm tra của Dookhan đều được lưu thông tin, song dường như cô ta chưa bao giờ sử dụng kính hiển vi của mình. Trong một mối nghi ngờ khác có liên quan, cô ta dường như không tạo ra số rác thải tương đương mức tiêu chuẩn. Trong một xét nghiệm, được gọi là xét nghiệm tinh thể, các nhà hóa học đã trộn một loại thuốc không xác định với một chất lỏng trên một lam kính. Tinh thể sẽ sớm hình thành. Các loại thuốc khác nhau tạo ra các tinh thể có hình dạng khác nhau mà các nhà hóa học xác định được dưới kính hiển vi. Mỗi xét nghiệm yêu cầu một lam kính sạch để tránh nhiễm bẩn, vì vậy dựa trên số lần xét nghiệm, các nhà hóa học nên vứt bỏ một số lam kính nhất định mỗi tháng. Dookhan thì không. Các đồng nghiệp nhìn vào thùng rác của cô ta và nhận thấy nó không hề có một chút rác nào bên trong.

Các đồng nghiệp của Dookhan đã có những nghi ngờ hoàn toàn đúng đắn. Dù không rõ chính xác thời điểm bắt đầu nhưng cô ta đã thực hiện hành vi gian lận quy mô lớn. Thay vì thực sự thực hiện các xét nghiệm, cô ta phỏng đoán các mẫu thử – nhìn lướt qua và đưa ra phán đoán về loại ma túy cần xét nghiệm.

Cô ta đã giải quyết vấn đề này bằng cách khai thác một lỗ hổng trong quy trình làm việc của phòng thí nghiệm. Vì được thực hiện theo chuỗi hành trình mẫu phẩm (CoC), tất cả các mẫu ma túy đều được kèm theo “phiếu kiểm soát” cho biết thời điểm thu giữ ma túy, cảnh sát giả định đó là ma túy gì... Đây là một quy trình chuẩn của cảnh sát. Vấn đề là, các nhà hóa học như Dookhan có quyền tiếp cận phiếu kiểm soát, do đó có thể biết những dự đoán của cảnh sát về loại ma túy. Cho phép các nhà hóa học xem thông tin này dù vì lý do gì đi nữa thì cũng là một ý tưởng tồi. Những nghi ngờ của cảnh sát chắc chắn sẽ làm các nhà hóa học xuất hiện thiên kiến, thúc đẩy họ đi đến những kết luận nhất định và rời xa các kết quả thực tế có khả năng khác. Tuy nhiên, Dookhan đã khai thác triệt để lỗ hổng này, sử dụng phỏng đoán của cảnh sát như toàn bộ “phân tích” của cô ta. Nếu họ nói đó là heroin, thì đó là heroin. Đỡ tốn công mất sức.

Công bằng mà nói, Dookhan luôn xét nghiệm những mẫu phẩm chưa được xác định, những mẫu phẩm thiếu thông tin thẻ kiểm soát dù có thể phỏng đoán một cách mù quáng. Cô ta cũng đã xét nghiệm khoảng 1/5 số mẫu tiếp nhận chỉ để chắc chắn về phỏng đoán của bản thân. Nhưng mặt khác, cô ta đã bỏ tất cả những quy trình hóa học rối rắm và rườm rà để duy trì thành tích của mình luôn ở mức cao. Tệ hại hơn nữa, sau đó cô ta sẽ ký các xác nhận tuyên bố rằng cô ta đã thực hiện các xét nghiệm và nộp chúng cho cảnh sát. Những tờ giấy xác nhận này được dùng làm bằng chứng trong các phiên tòa xét xử, vì vậy về cơ bản, cô ta đã tự thực hiện hành vi khai man trước tòa án hết lần này đến lần khác.

Trong nhiều vụ án, xác nhận của Dookhan từ phòng thí nghiệm không tạo ra sự khác biệt thực tế nào: Cảnh sát thường biết họ đã thu giữ được loại ma túy nào. Vì vậy, dù việc bỏ qua xét nghiệm vi phạm quyền được xử lý đúng thủ tục của nghi phạm, nhưng kết quả cuối cùng không có gì khác nhau. Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Và đây là thời điểm Dookhan đã lạc bước vào con đường thực sự tội lỗi.

Tại phòng thí nghiệm có hai vòng kiểm tra. Thường thì Dookhan sẽ phụ trách vòng đầu tiên và một nhà hóa học khác ở vòng thứ hai, và đôi khi ở vòng thứ hai vòng liên đến máy móc – sẽ mâu thuẫn với nhận định ban đầu của Dookhan. Trong những trường hợp này, họ sẽ phải kiểm tra lại. Nhưng thay vì tuyên bố bản thân đã phạm sai lầm, gây tổn hại đến danh tiếng, Dookhan sẽ lén tìm một mẫu ma túy nguyên chất mà cô ta đã xác định ban đầu và gửi mẫu đó đi kiểm tra lại. Tất nhiên, thiết bị sẽ đưa ra kết quả “chính xác”. Nói cách khác, cô ta bắt đầu làm giả bằng chứng để che giấu hành vi gian lận của chính mình.

Kết quả là những người vô tội đã phải vào tù. Một người đàn ông đã bị bắt khi mang theo inositol, một loại bột màu trắng được bán như một chất bổ sung năng lượng. Dookhan đã ghim ông ta vào tội mang theo cocaine. Trong một trường hợp khác, một tên nghiện ma túy đã cố gắng thực hiện một trò lừa đảo khá ngớ ngẩn và bán một mảnh hạt điều cho đồng bọn, nhưng kết quả xét nghiệm tuyên bố đó là ma túy đá. Kẻ nghiện ma túy mua “mảnh hạt điều” hóa ra là một cảnh sát chìm. Tuy nhiên, đó chỉ là hạt điều, không có vấn đề gì lớn. Người đàn ông sau đó sững sờ nhìn Dookhan tuyên thệ ngược lại trước tòa. “Tôi biết cô ta đang nói dối” về việc thực hiện các xét nghiệm, ông ta đã nói thế này sau đó: “Làm sao mà một mảnh hạt điều có thể biến thành ma túy đá được.”

Không phải mọi nghi phạm bị Dookhan làm giả xét nghiệm đều phải vào tù; những hành vi vi phạm quy định về ma túy mức độ thấp thường không bị tống giam. Tuy nhiên, tiền án về ma túy dẫn đến những hậu quả nằm ngoài cả án tù. Bạn có thể bị trục xuất, bị sa thải hoặc bị đuổi khỏi những căn nhà trợ cấp của chính phủ. Bạn có thể mất bằng lái xe hoặc bị tước quyền gặp con của mình. Nếu bạn xuất hiện trước tòa một lần nữa, bạn cũng sẽ là một người tái vi phạm.

Dookhan chưa bao giờ đưa ra lời giải thích thỏa đáng về lý do tại sao cô ta lại gây nguy hiểm đến tính mạng của rất nhiều người như vậy. Tuy nhiên, lời nói và hành động của cô ta cho thấy vài manh mối về lý do này. Đầu tiên, Dookhan có vẻ thích thú với việc hạ gục những kẻ giao dịch ma túy. Cô ta thường thân thiện thái quá với các công tố viên địa phương và viết cho họ những email nghiêm túc về việc tống những kẻ xấu “ra đường”. Một công tố viên đề nghị mua đồ uống cho cô ta tại một quầy bar đắt đỏ bậc nhất. Một người khác đã phải từ chức khi những email tán tỉnh của ông ta với Dookhan bị công khai. Có lần, cô ta đã hỏi lời khuyên của một công tố viên về việc liệu cô ta có nên đáp lại lời cầu xin giúp đỡ của một luật sư bào chữa hay không.

Dookhan cũng đang bị căng thẳng nghiêm trọng, mà theo một nghiên cứu tâm lý thì điều này có thể thôi thúc người bị căng thẳng thực hiện những hành vi không đúng quy trình và trái với đạo đức. Với lượng mẫu tồn xét nghiệm khổng lồ tại phòng thí nghiệm, mọi người ở đó phải đối mặt với áp lực rất lớn. Cùng với vấn đề này, Dookhan cũng bị sẩy thai nhiều lần và không hạnh phúc khi ở nhà; cô ta không có người thân nào ngoài cha mẹ mình, và sống gần ngay cả họ hàng bên nhà chồng, một việc không bao giờ dễ dàng. Không phải bào chữa, nhưng căng thẳng kéo dài có thể làm suy giảm sức chịu đựng tinh thần của chúng ta và hạn chế sự đồng cảm của chúng ta đối với người khác. Với tình trạng tinh thần rối bời lúc đó, Dookhan có thể dễ dàng phớt lờ nguy cơ cho rằng hành vi lừa đảo của cô ta đang hủy hoại cuộc sống của người khác. Đặc biệt là khi trò gian lận đó giành được những lời khen ngợi.

Một số người nói dối để thao túng người khác hoặc đạt được những lợi ích vật chất. Dookhan muốn giành được vinh quang khoa học – cô ta thích được gọi là nữ siêu nhân. Sếp cũ của cô ta tại phòng thí nghiệm vaccine cũng suy đoán rằng, việc cô ta là một người nhập cư và một phụ nữ da màu có thể đã đóng một vai trò nào đó. Vị sếp đó, một người da đen, từng nói, “Tôi hiểu cảm giác là một người thiểu số ở nước Mỹ. Tôi nghĩ trải nghiệm đó đã củng cố quyết tâm chứng tỏ rằng bản thân cũng là một người giỏi giang, hoặc thậm chí còn giỏi hơn người khác của cô ta.”

Thông thường, quyết tâm đó là một động lực lành mạnh, thúc đẩy mọi người đạt được nhiều thành tích hơn và phá bỏ những định kiến. Nhưng Dookhan không nhận được sự ngưỡng mộ mà bản thân mong muốn; cô ta theo đuổi vinh quang mà không có thành tựu cơ bản. Đây thực sự là một thất bại phổ biến ở những người gian lận khoa học. Thay vì kiến thức và những thành tựu khoa học thực chất, họ tìm kiếm giải thưởng và uy tín – những cái bẫy của khoa học. Đó chính là động cơ tạo ra vô vàn những công trình nghiên cứu gian lận, chẳng hạn như trong lĩnh vực quang học hay điểu học. Dookhan đã làm như vậy trong phòng thí nghiệm pháp y, nơi quyền tự do của mọi người đang bị đe dọa.

Đáng buồn thay, Dookhan không phải là cá nhân duy nhất. Trong những thập kỷ gần đây, hàng chục nhà khoa học pháp y khác, tại các phòng thí nghiệm trên khắp thế giới, đã bị vạch mặt là những kẻ lừa đảo và gây ra những sai lệch kết quả thực tế. Trên thực tế, đối với các nhà phê bình, trường hợp của Dookhan chỉ củng cố quan điểm rằng, bản thân khoa học pháp y chính là một thứ lừa đảo.

Image

Tại Mỹ, nguồn gốc của khoa học pháp y bắt nguồn từ vụ án giết Parkman trong Chương 4, khi các bác sĩ tại Trường Y Harvard sử dụng chuyên môn giải phẫu của họ để xác định hành vi phạm tội của John White Webster. Trong vài thập kỷ tiếp theo, khoa học pháp y mở rộng sang quá trình điều tra các hành vi cố ý gây hỏa hoạn, chuyển động đường đạn của các loại vũ khí và cái gọi là phân tích bề mặt – nghiên cứu về dấu vân tay, vết cắn, dấu chân, vết máu bắn ra, và những thứ tương tự. Vào giữa thế kỷ XX, khoa học pháp y đã có được vị trí vững chãi trong các tòa án, và được xem như một giải pháp thay thế hợp lý, khách quan cho những vấn đề về cảnh sát chuyên quyền và tham nhũng đã thống trị trước đó.

Thật không may – và tôi ghét phải làm thất vọng những bạn là người hâm mộ những vụ án giết người bí ẩn ngoài kia – rất nhiều hoạt động pháp y mang lại kết quả hữu ích trong điều kiện thuận lợi nhưng lại tạo ra những kết luận sai lầm trong điều kiện tệ hại. Trong một báo cáo đáng nguyền rủa từ năm 2009, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ đã vạch ra một số vấn đề nhức nhối trong ngành khoa học pháp y – bắt đầu với thực tế là hầu hết các lĩnh vực trong đó đều thiếu cơ sở khoa học. Thay vì dựa trên xét nghiệm và phân tích, chúng chỉ đơn thuần là một tập hợp các linh cảm đúc kết được từ các thuật ngữ khoa học. Do đó, các chuyên gia pháp y khác nhau thường đưa ra những kết luận hoàn toàn khác nhau với cùng một mẫu phẩm. Tệ nhất là một chuyên gia đôi khi cũng đưa ra những kết luận cực kỳ khác nhau cho cùng một mẫu phẩm vào những thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào việc bạn nghĩ nghi phạm có tội hay vô tội – bằng chứng mạnh mẽ cho thấy thiên kiến chi phối phân tích.

Cô ta cũng bị chỉ trích không kém vì thiếu khiêm tốn. Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy điều khiển các tác giả khoa học trở nên gàn dở là xu hướng họ rào đón mọi thứ; họ luôn đánh giá cao các tuyên bố của mình và bác bỏ những lựa chọn thay thế, ngay cả khi bằng chứng được đưa ra có vẻ mạnh mẽ. Ngược lại, nhiều chuyên gia pháp y – đặc biệt là khi làm chứng trước tòa – nói sai sự thật về những điều không có căn cứ. Họ tuyên bố mình có thể khớp các sợi tóc hoặc vết cắn với ai đó kèm độ chính xác tuyệt đối và có thể thực hiện điều đó trong mọi thời điểm. Họ tỏa ra thứ hào quang mang tên không thể sai lầm [*] , và làm lu mờ bất kỳ câu hỏi nào thách thức quyền hạn của họ.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải nói rõ ràng rằng không phải tất cả ngành khoa học pháp y đều là rác rưởi. Độc chất học và bệnh lý học rất vững chắc, và báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ chỉ ra rằng, phân tích DNA nói riêng đạt được kết quả đáng tin cậy. Những lĩnh vực này có nền tảng nghiêm ngặt và dựa trên các xét nghiệm có căn cứ; và trong trường hợp phân tích DNA, nó có thể liên kết một cách đáng tin cậy các mẫu sinh học cụ thể (ví dụ: máu hoặc tinh dịch) với các cá thể cụ thể. Các nhà phân tích DNA cũng thường xuyên thừa nhận sự không chắc chắn bằng cách gắn các xác suất vào kết quả của họ. Nhưng hầu hết các lĩnh vực pháp y không đáp ứng các nguyên tắc cơ bản này.

Kể từ báo cáo của Viện Hàn lâm, các lĩnh vực phân tích dấu vân tay và đường đạn của vũ khí bắt đầu cải thiện các quy trình cẩu thả của mình và chuyển sang giá trị pháp lý về mặt khoa học. Và nếu những chuyển viên phân tích bằng chứng một cách chính xác và thể hiện một chút khiêm tốn – thì ngay cả khoa học pháp y nhiều vết nhơ cũng có thể tìm thấy một vị trí vững chãi trong công việc của cảnh sát hiện đại bằng cách gia tăng sức nặng cho lời khai khác nói riêng cũng như vụ án tổng thể nói chung. Cho đến khi điều này xảy ra thì các bị cáo vẫn sẽ tiếp tục khiến nhiều người đau khổ. Theo ước tính, “bằng chứng pháp y không chính xác hoặc gây hiểu lầm” góp phần vào một phần tư tổng số án oan sai ở Mỹ và một số ngành pháp y thậm chí còn chiếm tỷ lệ cao hơn. Trong một nghiên cứu, FBI kết luận rằng, trong 90% các vụ án liên quan đến những mẫu tóc rất nhỏ đều có những lời khai “sai sự thật” trước tòa.

Phân tích ma túy pháp y thì sao? Về mặt giá trị pháp lý, nó gần với khía cạnh DNA trong các vụ việc. Các xét nghiệm ma túy đáng tin cậy và có thể lặp lại, chúng là một bằng chứng vững chắc của một vụ án hình sự nếu được thực hiện đúng cách.

Image

Sự suy đồi của Dookhan bắt đầu từ một lời nói dối nhưng tình cờ lại đúng. Năm 2001, cảnh sát Boston bắt giữ một người đàn ông tên là Luis Melendez-Diaz vì giao dịch ma túy bên ngoài một cửa hàng Kmart và tống cổ hắn lên một chiếc xe đi tuần của cảnh sát. Trên đường đi, cảnh sát thấy Melendez-Diaz nhấp nhổm ở ghế sau. Nghi ngờ, họ đã tiến hành khám xét chỗ ngồi của hắn sau khi làm thủ tục tạm giam và tìm thấy một số túi cocaine mà hắn mang theo người được nhét vào một khe phía sau ghế nhằm tẩu tán chúng.

Cảnh sát đã tình cờ gửi mẫu phẩm đến chính phòng thí nghiệm nơi Dookhan là người phụ trách xét nghiệm. Theo những thông tin thu được, các mẫu phẩm đã được xử lý đúng cách, không có bất kỳ vấn đề bất thường nào xảy ra. Nhà hóa học phụ trách đã ký ba giấy chứng nhận đó là cocaine, và bằng chứng này đã kết tội Melendez-Diaz. Nói chung, một vụ án dễ dàng.

Các luật sư của Melendez-Diaz đưa ra một tranh luận mới lạ. Tu chính án thứ sáu của Hiến pháp tuyên bố rằng, “bị cáo sẽ được hưởng quyền... được đối chất với các nhân chứng chống lại anh ta” trước tòa. Theo truyền thống, các nhân chứng là những người đã thực sự tận mắt chứng kiến tội ác. Nhưng các luật sư của Melendez-Diaz lập luận rằng, các nhà phân tích pháp y cũng phải trực tiếp làm chứng. Trong trường hợp này, bởi nhà hóa học trong phòng thí nghiệm chỉ nộp các giấy chứng nhận thay vì xuất hiện trước tòa, nên các luật sư đã lập luận loại bỏ tuyên án.

Sau những kháng cáo, vụ án được chuyển lên Tòa án Tối cao vào năm 2009. Trong phán quyết có tỷ lệ 5-4, bất chấp sự bất đồng thường xảy ra tại tòa án, Tòa án Tối cao cho rằng các luật sư của Melendez-Diaz đã đúng: các nhà phân tích khoa học phải ra làm chứng trước tòa để bị cáo có cơ hội phản biện lại họ. Quyền đối chất với các nhân chứng là điều cần thiết để thể hiện một phiên tòa công bằng, Scalia lưu ý, và do đó các nhà phân tích phải xuất hiện tại tòa “ngay cả khi họ có sự nhạy bén về mặt khoa học như Marie Curie và sự chân thật của Mẹ Theresa.” Nhưng Scalia cũng ngờ rằng, không phải ai trong phòng thí nghiệm ma túy đều là Madame Curie hay Mẹ Theresa. Theo ông, một số nhà phân tích không đủ năng lực hoặc thậm chí là những kẻ nói dối, và trong trường hợp đó, “chìa khóa của quá trình kiểm tra chéo” sẽ vạch trần họ. Ông cũng có thể đã nghĩ đến Annie Dookhan khi đưa ra quyết định của mình.

Giờ đây, có những tranh biện tích cực (và theo tôi là thuyết phục) chống lại phán quyết này. Tuy nhiên, kết quả là các nhà phân tích ma túy pháp y như Dookhan phải ra tòa để làm chứng thường xuyên trong tương lai.

Vậy liệu việc kiểm tra chéo có vạch trần Dookhan như Scalia dự đoán hay không? Gần như không. Cô ta tiếp tục khai man trước tòa. Dookhan đã làm chứng 150 lần, lần nào cũng tuyên thệ, và trong cả 150 vụ, cô ta đều không bị phát hiện. Việc kiểm tra chéo được ca ngợi là “tuyệt phẩm” đã không thể phát hiện ra hành vi gian lận nghiêm trọng nhất trong lịch sử khoa học pháp y.

Tuy nhiên, yêu cầu làm chứng đã giúp vạch trần Dookhan một cách khá vòng vo. Dù cô ta và các nhà phân tích khác hiếm khi dành quá 20 phút ở bục làm chứng song họ thường phải lãng phí cả buổi sáng hoặc buổi chiều tại tòa án để ngồi dưới hàng ghế và chờ đợi. Mỗi giờ ở tòa án là một giờ mà Dookhan không thể làm việc ở phòng thí nghiệm. Kết quả là, số lượng xét nghiệm của cô ta giảm mạnh. Sau khi phán quyết của Melendez-Diaz được đưa ra, cô ta đã dành 92 giờ để làm chứng trong 6 tháng cuối năm 2009, và chỉ thực hiện xét nghiệm được 6.321 mẫu trong năm đó. Con số của các nhà phân tích khác cũng giảm xuống, trung bình khoảng 2.000 xét nghiệm.

Nhưng đây chính là vấn đề. Trong năm tiếp theo, số lượng xét nghiệm của các nhà hóa học khác vẫn ở mức thấp. Dookhan thì không. Năm 2010, cô ta đã dành 202 giờ để làm chứng trước tòa, nhưng cũng tuyên bố đã xử lý 10.933 mẫu – gấp 5 lần mức trung bình phòng thí nghiệm và cao gần bằng mức đỉnh điểm trước vụ Melendez-Diaz.

Đây là thời điểm mà các nhà hóa học đồng nghiệp của cô ta thực sự nghi ngờ và bắt đầu theo dõi thời gian Dookhan dành ở trên kính hiển vi và thùng rác của cô ta. Trong khoảng thời gian này, Dookhan cũng bị bắt gặp bỏ qua các kiểm tra hiệu chuẩn quan trọng trên các thiết bị khác nhau, có lẽ là để tiết kiệm thời gian. Tệ hơn nữa, cô ta bị bắt quả tang giả mạo chữ ký của đồng nghiệp khác trên một số thủ tục giấy tờ, nhằm che đậy sự thật rằng cô ta đã bỏ qua các bước theo quy định. Thật vậy, một số đồng nghiệp sau đó đã tự hỏi rằng, liệu có phải cô ta chủ động để lộ việc làm sai trái của mình hay những vi phạm của cô ta quá rõ ràng.

Cuối cùng, một nhà hóa học đã báo cáo vụ việc của Dookhan lên cấp trên. Vị sếp đó đã gạt bỏ cáo buộc nọ trước sự thất vọng của nhân viên. Anh ta cho rằng có thể đôi khi Dookhan hơi vội vàng, nhưng cô ta đã phải chịu quá nhiều căng thẳng ở nhà, điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng phán đoán của cô ta. Bên cạnh đó, với những yêu cầu làm chứng trước tòa, lượng công việc tồn đọng ngày càng lớn hơn và phòng thí nghiệm không thể để mất nữ siêu nhân của họ lúc này. Nhà hóa học này cũng đã báo cáo mối ngờ vực của mình với hiệp hội khoa học địa phương, nhưng ông ta chẳng thể làm gì. Luật sư của hiệp hội này được cho là đã yêu cầu ông ta rút lại báo cáo, kẻo ông ta sẽ hủy hoại sự nghiệp của một nhà khoa học nữ trẻ tuổi. Tóm lại, cả lãnh đạo và hiệp hội khoa học đều cho qua vụ Dookhan.

Tuy nhiên, giờ đây, Dookhan đã phải đối mặt với những lời buộc tội chính thức chống lại cô ta. Một sai lầm cẩu thả sẽ chính thức chấm dứt sự nghiệp của cô ta.

Như đã đề cập, phòng thí nghiệm có một chiếc két lớn mà một người có thể đi vừa chứa các mẫu phẩm ma túy chờ thử nghiệm và có các quy trình nghiêm ngặt về việc nhập và xuất mẫu. Khi ngày càng tạo dựng được vị thế, Dookhan bắt đầu lấy mẫu ra mà không thèm ký tên, một hành vi vi phạm các quy tắc chuỗi quy trình mẫu phẩm. Cuối cùng cô ta bị bắt vào một ngày tháng 6 năm 2011 với 90 mẫu không có chữ ký. Cô ta cố gắng che đậy sai lầm của mình bằng cách giả mạo tên viết tắt của đồng nghiệp trong sổ theo dõi. Thật không may, đồng nghiệp đã không có mặt tại phòng thí nghiệm vào ngày được đề cập. Khi đối diện với cuốn sổ ghi chép và được hỏi rằng cô ta có vi phạm các quy tắc hay không, Dookhan đã trả lời rằng: “Tôi có thể hiểu tại sao anh lại nghĩ như vậy.”

Ngay cả khi đó, các sếp của Dookhan cũng không phạt cô ta. Thực ra, họ còn làm đủ mọi cách để che đậy hành vi vi phạm chuỗi quy trình mẫu phẩm. Tuy nhiên, vào tháng 12, văn phòng thống đốc Massachusetts nhận được thông tin về vi phạm và đã giao tổng thanh tra của bang phụ trách điều tra. Trong quá trình điều tra, một số hoạt động lỏng lẻo khác tại phòng thí nghiệm được đưa ra ánh sáng, bao gồm vấn đề an ninh yếu kém và đào tạo không đầy đủ cho các nhà hóa học mới. (Các cuộc điều tra sau đó thậm chí còn phát hiện ra nhiều vấn đề đáng báo động hơn, bao gồm cả những viên ma túy thất lạc từ những vụ án cũ vương vãi khắp phòng thí nghiệm. Người ta cũng phát hiện ra vài ống nghiệm trong ngăn kéo bàn của một giám sát viên; có ống được dán nhãn năm 1983.) Đến mùa hè năm 2012, cơ quan cảnh sát của bang đã nắm quyền kiểm soát phòng thí nghiệm do lo sợ về tính đúng đắn của bằng chứng. Hai ngày sau khi tiếp quản, các nhà hóa học đồng nghiệp của Dookhan đã chuyển những nghi ngờ của họ về cô ta tới những người giám sát mới của họ.

Đến lúc này, Dookhan đã bị sa thải khỏi vị trí tại phòng thí nghiệm do mức độ nghiêm trọng của các hành vi vi phạm trong chuỗi xét nghiệm mẫu phẩm. Nhưng cô ta vẫn chưa phải đối mặt với bất kỳ hậu quả nào cho hành vi tự đưa ra phán đoán hàng chục nghìn mẫu phẩm cho đến khi có hai thám tử gõ cửa nhà cô ta vào cuối tháng 8 năm 2012.

Họ ngồi trong phòng khách nhà Dookhan để trò chuyện với cô, song ban đầu cô ta phủ nhận mọi thứ. Nhưng các thám tử đã chuẩn bị sẵn sàng mọi tình huống, và họ đặt các cuốn sổ ghi chép và các báo cáo hiệu chuẩn giả mạo trước mặt cô ta. Lúc này, Dookhan nói, “Tôi đã hoàn thành công việc, chỉ là không đúng cách thôi. Tôi không tuân theo các quy trình, và sai sót nằm ở đó”. Nói cách khác, cô ta thừa nhận đã vi phạm một số quy tắc kỹ thuật, nhưng tuyên bố rằng các kết quả khoa học vẫn chuẩn xác.

Giữa buổi thẩm vấn, chồng của Dookhan về nhà và kéo cô ta vào một căn phòng khác. Ông ta hỏi cô ta có cần luật sư không, và cô ta đảm bảo với người chồng rằng mọi thứ đều ổn – lại là một lời nói dối khác. Sau đó cô ta quay lại phòng khách và tiếp tục.

Khi các thám tử hỏi rằng liệu có phải cô ta chỉ đưa ra các phỏng đoán mà không thực sự xét nghiệm hay không, Dookhan lại một lần nữa cho thấy sự giả dối của mình. “Anh nghĩ thuật ngữ đó có nghĩa là gì?”, cô ta vặc lại. Khi họ giải thích, cô ta phủ nhận: “Tôi sẽ không bao giờ giả mạo kết quả thử nghiệm bởi điều đó ảnh hưởng đến mạng sống của một ai đó.” Các thám tử đã đáp lại với nhiều bằng chứng hơn. Như đã đề cập, đôi khi Dookhan đã đoán một mẫu phẩm là ma túy, chẳng hạn như cocaine, chỉ để thấy một xét nghiệm bằng máy sau đó cho thấy nó là heroin hoặc một chất khác. Trong trường hợp đó, cô ta sẽ lén lấy một ít cocaine từ một mẫu phẩm khác và gửi lại để xét nghiệm, từ đó “xác nhận” kết luận đầu tiên của mình. Chà, trong một số trường hợp, các thám tử đã tìm lại mẫu ban đầu để kiểm tra lại – và xác định đó là heroin. Đó là bằng chứng cho thấy cô ta đã giả mạo kết quả.

Dookhan đã sớm rơi lệ ngay sau đó. Cô ta đã cố tìm cách giảm nhẹ hành vi gian lận của mình, nhấn mạnh rằng bản thân chỉ đưa ra phỏng đoán có vài lần. Khi các thám tử gây thêm sức ép, cuối cùng cô ta phải đầu hàng. “Tôi đã làm rối tung mọi việc,” cô ta nói. “Tôi đã làm ra mọi điều tồi tệ.”

Dookhan cuối cùng đã thú nhận tội lỗi, với 27 tội danh khai man, giả mạo bằng chứng và cản trở quá trình thực hiện công lý. Lời thú tội của cô ta cũng khiến toàn bộ hệ thống luật pháp của Massachusetts rơi vào tình trạng hỗn loạn. Vì Dookhan không thể nhớ được những mẫu nào là phỏng đoán, mẫu nào được kiểm tra chuẩn xác, nên tất cả 36.000 mẫu phẩm do cô ta phụ trách xét nghiệm trong suốt sự nghiệp của mình giờ đây đều bị nghi ngờ. Cơ quan lập pháp tiểu bang đã phải chi 30 triệu đô la để đối phó với sự cố kinh hoàng này; một nhóm vận động pháp lý ước tính sẽ mất 16 trợ lý luật sư làm việc nguyên năm chỉ để thông báo đến tất cả những người bị ảnh hưởng, nhẹ nhàng hơn nhiều so với việc đưa họ ra tòa. Các kháng cáo bắt đầu đổ về tới tấp và cuối cùng các tòa án Massachusetts đã lật lại 21.587 bản án, một quyết định lớn nhất trong lịch sử Mỹ.

Image

Nhà phân tích ma túy Annie Dookhan sau khi bị bắt vì một trong những vụ gian lận lớn nhất trong lịch sử khoa học. Khi bị bắt, cô ta đã òa khóc, “Tôi đã làm rối tung mọi việc. Tôi đã làm ra những điều tồi tệ.” (Được sự cho phép của Boston Herald.)

Việc cô ta bị bắt hẳn phải là sự trả thù ngọt ngào cho những người như viên cảnh sát hạt điều nọ, những người biết nữ siêu nhân của phòng thí nghiệm đã luôn gian lận. Nhưng ở đây còn có những vấn đề khác nữa.

Dù bạn cảm nhận thế nào về cuộc chiến chống ma túy không hồi kết ở Mỹ – và tất cả những người “khá vô tội” bị bắt trong các vụ án liên quan — thì ít nhất có vài người trong 21.587 bị cáo đó là tội phạm bạo lực. Nhờ Dookhan, họ bất ngờ được tự do. Ít nhất 600 người bị kết án đã được tha bổng hoặc bác bỏ cáo buộc, và 84 người trong số họ đã ngay lập tức quay lại con đường cũ và phạm nhiều tội ác hơn. Một trong số họ đã giết người trong một phi vụ buôn bán ma túy ở phía nam. Một người khác đã bị bắt vì tội danh liên quan đến vũ khí nóng. Khi bị bắt, anh ta cười: “Tôi vừa được ra tù nhờ Annie Dookhan. Tôi yêu người phụ nữ đó.”

Vào tháng 11 năm 2013, một thẩm phán đã tuyên án Dookhan từ 3 đến 5 năm tù. Để bạn dễ hình dung, tôi đưa ra ví dụ sau: mua bán 28g heroin sẽ phải nhận bản án 7 năm tù giam. Khi nhìn vào quy mô hành vi sai phạm của cô ta, một bản án quá nhẹ nhàng như thế khiến nhiều người thất vọng. “Bạn ra về với cảm giác bản án này hoàn toàn không thỏa đáng”, một nhà lập pháp tiểu bang cho biết. “Ba đến năm năm hoàn toàn không đủ”. Thật vậy, Dookhan thậm chí đã không thụ án đủ ba năm, bước ra khỏi nhà tù như một phụ nữ tự do vào tháng 4 năm 2016.

Image

Annie Dookhan không phải là nhà khoa học pháp y duy nhất bị bắt vì có hành vi sai trái. Trong 20 năm qua, những vụ bê bối tương tự đã xảy ra ở Florida, Minnesota, Montana, New Jersey, New York, Bắc Carolina, Oklahoma, Oregon, Nam Carolina, Texas và Tây Virginia. Đáng buồn thay, chuỗi sự cố bao gồm việc làm sai lệch hoặc che giấu bằng chứng pháp y trong ít nhất ba vụ án đưa ra phán quyết tử hình.

Không đủ năng lực cũng là một vấn đề hiện hữu nhức nhối. Các phòng thí nghiệm hình sự đã bị bắt quả tang để bằng chứng dưới những mái nhà dột nát hoặc trong những hành lang không an toàn. Một phòng thí nghiệm được điều hành bởi các sĩ quan cảnh sát, những người được đào tạo hầu hết về khoa học thông qua Wikipedia. Thật đáng ngạc nhiên, Massachusetts đã rung động lần hai ngay sau khi Dookhan bị bắt. Một nhà hóa học trong phòng thí nghiệm Amherst của bang đã bị bắt gặp đang sử dụng các mẫu phẩm meth, cocaine, ketamine và thuốc lắc tại nơi làm việc và có biểu hiện phê ma túy khi đang thực hiện các thí nghiệm. Cô ta cũng sử dụng ma túy đá trong phòng tắm của tòa án trước khi bước ra làm chứng.

Tuy nhiên, hành vi gian lận của Dookhan nổi bật hơn cả vì sự táo bạo và phạm vi của nó. Ở một khía cạnh nào đó, thật khó tin là cô ta đã có thể trốn tránh tội ác của mình trong thời gian lâu như vậy. Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh khác thì điều này không có gì đáng ngạc nhiên cả. Văn hóa của chúng ta đặt các nhà khoa học lên bậc cao danh vọng: Chúng ta luôn muốn nghĩ rằng ngoài kia có những người coi trọng tính trung thực và sự thật hơn tất cả mọi thứ. Chúng ta muốn tin tưởng họ, và các nhà khoa học bị các đồng nghiệp của họ lừa bịp như bất kỳ ai. Hãy nhớ rằng, những người giám sát của Dookhan đã nhận được những cảnh báo về cô ta, nhưng họ đã trì hoãn đưa ra những hành động hợp lý. Trên thực tế, các nhà ảo thuật chuyên nghiệp đã nói rằng các nhà khoa học thường dễ bị lừa hơn những người bình thường, bởi họ tự tin quá mức vào trí thông minh và sự khách quan của chính mình. Những Dookhan của thế giới chỉ đơn giản là biết cách tận dụng sự thật này.

Chắc chắn rằng đại đa số các nhà khoa học đáng được chúng ta tin tưởng. Nhưng bất kể bạn nhìn nhận từ góc độ nào, gian lận khoa học không phải là hiếm. Hàng trăm bài báo khoa học bị thu hồi mỗi năm, và dù rất khó nắm bắt các con số chính xác, nhưng một nửa trong số đó đã bị rút lại do gian lận hoặc hành vi sai trái khác. Ngay cả những nhà khoa học có tên tuổi cũng vi phạm. Một lần nữa, thật không công bằng khi lên án những người trong quá khứ vì không đáp ứng được các tiêu chuẩn ngày nay, nhưng các nhà sử học đã ghi chép lại rằng Galileo, Newton, Bernoulli, Dalton, Mendel, và những người khác đều thao túng các thí nghiệm và/hoặc giả mạo dữ liệu theo những cách có thể khiến họ bị sa thải từ bất kỳ phòng thí nghiệm tự trọng nào ngày nay.

Gian lận và các hành vi sai trái khác làm xói mòn lòng tin của công chúng và làm băng hoại tài sản lớn nhất của khoa học – danh tiếng. Thật không may, khi xã hội của chúng ta trở nên giàu công nghệ kỹ thuật và khoa học hơn, những vấn đề này sẽ ngày càng trở nên tệ hại: những liên doanh khoa học mới thú vị cũng sẽ tạo ra những cơ hội mới để thực hiện những việc làm sai trái khác nhau. Nhưng không phải là không có cơ hội thay đổi. Như chúng ta sẽ thấy trong phần kết luận, có rất nhiều cách đã được chứng minh là sẽ giúp chúng ta hạn chế và cắt giảm tình trạng lạm dụng như vậy.

« Lùi
Tiến »