Tôi đeo balô của Mắt Bò lên vai rồi bước lên ván trượt. Darla không hề nhúc nhích.
“Chúng ta phải đi thôi.” Tôi nói.
Darla vuốt ve con thỏ.
“Đi ván trượt vào rồi cầm lấy cây gậy trượt của cậu.”
Chẳng có phản ứng gì.
“Thôi nào, Darla, chúng ta phải nhanh đi thôi. Ở đây không còn chỗ trú chân cho chúng ta nữa.” Giờ có lẽ đã là giữa buổi sáng, và tôi bắt đầu cảm thấy nóng ruột. Tôi không biết tại sao. Căn nhà cháy, xác chết của Mắt Bò, tôi muốn trốn tránh xa khỏi nơi này càng xa càng tốt.
Nhưng Darla cứ ngồi ỳ ra.
Tôi chỉ muốn hét thật to vào mặt cô ấy, nhưng vẫn phải hạ giọng nói thật nhỏ nhẹ. “Bước lên ván trượt của cậu đi mà, Darla.”
Cuối cùng cô ấy cũng chịu nhúc nhích. Chuyển con thỏ sang một tay, Darla từ từ cúi xuống cài giày vào ván trượt.
“Giờ thì cầm lấy đôi gậy trượt của cậu.” Tôi chìa tay định bế hộ con thỏ nhưng cô ấy gạt phắt đi, hai tay ôm khư khư lấy nó. Tôi đành từ bỏ ý định và đưa cây gậy trượt cho cô ấy. Darla cầm cả hai cái bằng một tay, tay còn lại vẫn ôm chặt con thỏ trước ngực.
Tôi thở dài, trượt lên phía trước. Đi được khoảng chúc mét, tôi quay lại nhìn và thấy Darla vẫn chưa hề di chuyển một bước nào.
“Đi nào, Darla. Đi thôi!” Tôi gào lên.
Cô ấy lầm lũi lê từng bước về phía tôi.
Tốc độ di chuyển của chúng tôi phải nói là như rùa bò. Darla vẫn nhất quyết chỉ đi bằng một tay. Có hai lần, thấy con thỏ không chịu nằm yên, cô ấy lập tức quẳng luôn hai cây gậy xuống đất và dùng hai tay ôm lấy con thỏ. Sau lần thứ hai, tôi quyết định dừng lại nhặt chúng lên và đeo ra đằng sau balô của mình.
Như vậy, chúng tôi đã di chuyển nhanh hơn được một chút. Ít nhất giờ con thỏ không còn kéo chúng tôi đi chậm lại nữa. Với hai tay rãnh rỗi ôm con thỏ, Darla đã có thể bắt nó nằm im. Tuy nhiên nhanh hơn không có nghĩa đỡ vất vả hơn. Thiếu gậy trượt, Darla không thể giữ thăng bằng hay lấy đà để trượt. Và tôi vẫn phải dừng lại hết lần này đến lần khác để chờ cô ấy.
Tôi không thể tiếp tục đi như thế này. Tôi rất thông cảm với Darla. Cùng một lúc cô ấy mất đi mẹ, mất nhà, mất tất cả mọi thứ cô ấy xây dựng nên, và mất đi cả đàn thỏ. Tôi nghĩ mình có thể phần nào hiểu được cảm giác của cô ấy. Vào thời điểm đó tôi cũng chỉ muốn dừng lại, cuộn tròn vào một góc và để cho ai đó chăm sóc cho mình. Mặc dù vậy, mặc dù rất muốn chạy trốn khỏi hiện thực đau đớn ấy, và để cho thời gian chữa lành mọi vết thương lòng, nhưng hơn tất thảy, tôi muốn được sống. Darla và tôi sẽ khó lòng sống sót nếu chúng tôi vẫn cứ di chuyển với tốc độ rùa bò thế này. Vì thế, khi chúng tôi đi đến ngã ba đường, nơi tôi dự định đi về hướng Đông, tôi đã rẽ sang hướng Nam đi về phía thị trấn Worthington. Darla đi theo tôi như một cái máy.
Đi được vài dặm thì chúng tôi trượt xuống một cái thung lũng nhỏ. Bên dưới cây cầu ở chân thung lũng, nước trên dòng suối đã bắt đầu chảy trở lại, cuốn trôi lớp tro bụi ở hai bên bờ, để lộ một dải thực vật héo úa màu vàng.
Tôi dừng lại, dựa lưng vào thành cầu rồi cúi xuống mở balô lấy thức ăn cho bữa trưa. “Chúng ta có thể để con thỏ lại ở đây.” Tôi quay sang nói với Darla. “Ở đây có nước. Có cây cỏ cho nó ăn. Nó sẽ không sao đâu.” Tôi nói vậy nhưng không tin là như vậy. Đằng nào con thỏ này cũng sẽ chết. Nếu đi cùng Darla, sớm muộn gì nó cũng sẽ vào bụng cô ấy, khi mà không còn gì để ăn. Còn nếu ở lại đây, nó sẽ đói đến chết bởi vì cây cối quanh đây chẳng cây nào trông có vẻ còn sống, mà nếu có cũng chẳng đủ nuôi một con chuột, chứ đừng nói là một con thỏ. Tôi chỉ hi vọng rằng cô ấy bỏ nó ở lại đây để chúng tôi có thể đi nhanh hơn.
“Không” Giọng Darla lạnh tanh.
Thôi thì ít ra cô ấy cũng đã chịu mở miệng. Suốt mấy tiếng, kể từ sau khi rời trang trại đến giờ cô ấy chưa hề nói với tôi một lời nào. Tôi đưa cho cô ấy một miếng thịt thỏ hun khói. Cho bữa trưa.
Cô ấy một tay cầm miếng thịt, một tay ôm con thỏ, ngồi xuống bên cạnh tôi trên thành cầu và ăn. Con thỏ ngửi ngửi miếng thịt rồi nhăn mũi, vì nó ngửi thấy mùi đồng loại chăng?
Sau khi ăn xong, Darla thò một tay vào balô bốc ra một nắm bột ngô cho con thỏ ngu ngốc kia ăn.
“Cậu đang làm cái quái gì thế?” Tôi quát lên. “Chúng ta cần thức ăn!”
Darla lờ đi như không nghe thấy lời quát tháo của tôi. Tôi cằn nhằn thêm vài câu rồi bỏ cuộc, giờ mắng cô ấy cũng chỉ như mắng một khúc gỗ. Tôi tưởng bọn thỏ không chịu ăn ngô, thế mà giờ nó đang vục mặt vào tay Darla ăn lấy ăn để. Chắc là đói quá không kén cá chọn canh được nữa. Tôi đóng balô, đứng dậy đi về hướng Worthington.
Đi được chừng nửa dặm thì tôi cảm thấy tội lỗi với Darla nên dừng lại và đợi. Vừa đợi tôi vừa nhớ lại chuyến đi tới Worthington lần trước của chúng tôi, mới chỉ một ngày trước đó. Ở nhiều đoạn đường khuất gió, mặt đường vẫn còn in nguyên dấu ván trượt của tôi và dấu chân đi bên cạnh của Darla ở chiều đi và hai dấu ván trượt ở chiều về.
Chuyến đi đó khác hẳn với chuyến đi này: Darla trượt xuống đồi trên cùng một ván trượt với tôi, ôm tôi từ đằng sau, cùng nhau lăn xuống triền đồi và chơi trò ném tro với nhau.
Một lúc sau, Darla cũng bắt kịp tôi. Trên đoạn quãng đường còn lại tới Worthington, tôi luôn chú ý không để mình vượt trước cô ấy quá 10 mét.
Sắc vàng yếu ớt trên bầu trời dần chuyển sang sắc xám của chạng vạng khi chúng tôi trượt vào Worthington. Mặc dù hôm nay cả hai đứa đều di chuyển bằng ván trượt nhưng tốc độ chậm hơn nhiều so với ngày hôm qua, với tôi trên ván trượt còn Darla cuốc bộ bên cạnh.
Tôi dẫn Darla đi xuyên qua thị trấn, tới ngôi trường tôi nhìn thấy ngày hôm qua, trường Thánh Paul. Tro bụi trên mái nhà được hất xuống thành đống xung quanh tòa nhà và dọc hai bên con đường dẫn tới cửa chính đang đóng im ỉm, khóa trái từ bên trong. Tôi đập cửa nhưng không thấy ai trả lời. Liệu chúng tôi có đến đúng chỗ không? Tôi nhớ mấy người hôm qua tôi gặp đều nói ngôi trường này mở cửa cho mọi người mà.
Tôi ra hiệu cho Darla đi theo mình vòng qua cánh cửa kế bên phòng Thể dục xem sao. Cửa không khóa. Tôi cố gắng rũ sạch bụi trên quần áo rồi cởi ván trượt đi vào bên trong.
Phòng Thể dục ở đây không rộng được như ở trường Cedar Falls, nhưng quang cảnh bên trong cũng không kén phần lộn xộn, nếu không muốn nói là hơn. Một người phụ nữ lớn tuổi đang ngồi sau cái bàn kê cạnh cửa ra vào, và một cái đèn chạy bằng pin. Sàn phòng tập được trải la liệt đủ các loại vật liệu để làm giường. từ chiếc giường đa năng futon, đi-văng bọc da, ghế sô-pha, đến những chiếc giường đơn, vài tấm đệm… thậm chí còn có cả một cái ghế kì dị hình trái tim. Chúng được ngăn cách bằng những tấm rèm tự chế từ vải và dây thừng. Nhưng giờ chúng đang được kéo gọn hết về một bên để đón ánh sáng vào trong phòng.
Có ít nhất phải đến 80 cái giường nhưng hầu như không thấy người đâu, người trừ người phụ nữ vừa rồi và một cặp vợ chồng đang nằm nghỉ trưa trên đi-văng, cùng một nhóm trẻ con đang ngồi chơi trên sàn.
Không ai để ý tới sự xuất hiện của tôi. Người phụ nữ ngồi ở sau bàn đang chúi mũi vào tờ giấy in dòng chữ to đùng: công việc hằng ngày.
“Cháu chào bà.” Tôi bước tới chào, làm bà ấy thiếu điều nhảy dựng khỏi bàn vì bất ngờ.
Bà ấy mở ngăn kéo và thò tay vào bên trong. Tôi nghe thấy tiếng kim loại cạch một cái, và tay bà ấy vẫn để nguyên trong ngăn bàn. Tôi giơ hai tay lên, lòng bàn tay hướng về phía trước.
“Cháu xin lỗi đã làm bà giật mình.” Tôi nói.
“Cậu làm ta thót cả tim, chàng trai trẻ ạ. Larry sẽ chết với ta.”
Tôi chẳng hiểu bà ấy nói cái gì, nhưng không buồn hỏi lại. “Darla và cháu đang không có chỗ để ở, và bọn cháu nghe nói có thể tới đây tá túc…”
Bà ấy rút tay khỏi ngăn kéo và quay sang nhìn Darla đang đứng cạnh tôi. “Darla Edmunds? Nghe mọi người nói hôm qua cháu vào thị trấn, và thấy bảo tình hình hai mẹ con cháu vẫn ổn cơ mà.”
Darla quay mặt đi.
“Đúng thế ạ.” Tôi vội đỡ lời. “Mọi chuyện vẫn ổn cho tới ngày hôm qua. Nhưng giờ thì mẹ Darla mất rồi, và bạn ấy không còn chỗ nào để ở. Cháu muốn hỏi xem mọi người có thể cho bạn ấy ở lại đây một thời gian được không.”
“Gloria chết rồi à? Cho ta chia buồn với cháu nhé. Mà làm sao cô ấy chết?”
“Bị cướp ạ. Nhưng bọn chúng cũng chết rồi. Bị Darla và cháu giết. Có điều chúng đã thiêu rụi…”
Một anh chàng đô con hớt hải chạy từ phòng thay đồ. “Xin lỗi bà Nance. Tôi nghĩ do ăn toàn ngô nên tôi bị táo bón…”
Bà ấy trừng mắt nhìn anh chàng kia và mở cuốn sổ có dòng chữ “Bảo vệ”, cắm cúi viết tên “Larry Boyle” vào cái cột đánh dấu X. Anh Larry mặt ỉu xìu đi ra cửa. Sau đó, bà Nance quay lại nói với tôi “Tất nhiên là cả hai đứa có thể ở lại đây. Nhưng sẽ phải làm việc, ai cũng phải làm một cái gì đó. Nghe nói Darla là phù thủy bậc thầy về máy móc. Có một nhóm chuyên đi gỡ các bộ phận của cối xay gió cũ về để sạc pin. Cháu thấy có hợp với mình không Darla?”
Darla không trả lời.
“Có ạ, cháu thấy được đấy ạ.” Tôi vội đỡ lời thay.
Bà Nance cau mày nhưng vẫn đánh dấu tên Darla vào sổ. “Còn tên cháu là gì, chàng trai trẻ?”
“Alex ạ.”
“Cháu có đặc biệt giỏi việc gì không?”
“Cũng không hẳn ạ.”
“Thế thì ra làm đồng nhé, đi đào ngô. Trông cháu có vẻ cũng có sức khỏe.”
“Nếu có thể thì cháu xin phép ngày mai đi luôn ạ. Gia đình cháu đang ở Warren, Illinois. Cháu muốn đi tìm họ.”
Darla quay sang nhìn tôi với một biểu cảm mà tôi không biết nên phải hiểu như thế nào.
“Dọc đất nước bây giờ loạn lắm, tình trạng vô chính phủ khắp nơi.” Bà Nance nói. “Thế cháu định vượt sông Mississippi ở khúc nào? Nghe nói đang có bạo loạn ở Dubuque.”
“Vâng, cháu cũng biết sơ sơ về tình trạng vô chính phủ hiện nay. Và cháu chưa nghĩ tới chuyện vượt sông ở đâu.”
“Thế trước đây cháu ở đâu?”
Tôi không muốn nhắc lại chuyện cũ nên cố gắng trả lời ngắn gọn nhất có thể. Nhưng bà Nance cứ liên tục hỏi hết câu này đến câu khác, cuối cùng tôi đành kể hết ngọn ngành mọi chuyện cho bà nghe. Từ chuyện tường phòng tôi sập ở Cedar Falls, đến chuyện ba tên cướp xông vào nhà chú Darren và chú Joe, và hành trình xuyên Đông Bắc Iowa của tôi. Nghe tôi kể xong, bà Nance lắc đầu “Câu chuyện của cháu ly kỳ thật đấy, chàng trai trẻ. Cháu cứ nghỉ lại đây đêm nay và ăn tối cùng mọi người. Ta cũng muốn cho cháu mang theo ít đồ ăn đi đường nhưng ở đây nhiều miệng ăn quá mà lương thực lại có hạn.”
“Không sao đâu ạ, cháu hiểu mà. Cảm ơn bà.” Tôi đáp lại.
“Nghe nói chính phủ đã thành lập Cơ quan Ứng phó Khẩn cấp Liên bang ở bang Illinois. Biết đâu cháu lại tìm được sự trợ giúp ở đó. Chứ ở đầu bên này sông Mississippi vẫn chưa thấy chính phủ có động thái gì. Mặc dù ta hiểu rằng mấy tay chính trị gia ở Washington cho rằng đây là khu vực thảm họa và không thể phục hồi.” Bà Nance bật cười, giọng đầy đau khổ.
* * *
Bữa tối hôm ấy, chúng tôi ăn món cháo ngô loãng. Sau khi trời tối, tất cả mọi người đều tập trung về căng-tin trường. Có khoảng 70 người đang sống ở trong trường. Người nào người nấy lấm lem tro bụi và bùn đất, họ đã ở ngoài đồng đào ngô nguyên cả ngày.
Darla ôm theo con thỏ dở hơi kia vào căng-tin trong ánh mắt ngạc nhiên của một số người, còn lại là những người khác quá mệt mỏi nên chẳng buồn để ý. Tôi nhìn thấy cô ấy lén múc hai thìa đầy cháo đút cho con thỏ. May mà không ai nhìn thấy chứ không thì rắc rối to. Chỗ cháo đó chia cho mọi người còn chẳng đủ ăn, huống hồ gì còn phải chia thêm cho một con thỏ mà đáng ra thịt của nó có thể làm thành một bữa ngon.
Tất nhiên là những cái giường tốt đều đã có chủ. Một ông già gầy hom hem nằm thu lu trên chiếc đi-văng bọc da, một bà mẹ cùng ba đứa con nhỏ chen chúc trên chiếc giường futon… Darla và tôi kiếm được hai cái đệm đơn gần cửa phòng tập.
Darla mặc nguyên quần áo như thế ôm con thỏ nằm phịch xuống đệm, chăn cũng chẳng buồn kéo. Tôi chỉ mong con thỏ ngu ngốc kia tự bỏ đi lúc nửa đêm.
Tôi cởi áo ngoài, giày và quần dài ra rồi chui vào trong chăn. Hình ảnh cô bé ăn trộm bánh quy hồi ở Cedar Falls vụt hiện lên trong đầu tôi. Tôi kéo balô lên trên đệm và ôm vào lòng.
“Chúc cậu ngủ ngon, Darla.”
Không một lời đáp lại.
