Khúc Trí Thịnh há hốc miệng, hết nhìn Long Sương Nguyệt Chi, rồi lại nhìn sang chiếc quan tài đặt trong đại điện, không do dự nữa: “Phụ vương, vậy thì bắt đầu đi! Sau khi nhị ca sống lại, hy vọng người tuân thủ lời hứa, để chúng con rời đi!”.
“Đương nhiên! Đương nhiên!” Khúc Văn Thái mừng rỡ: “Ta còn phái đại tướng quân đích thân đưa các con đi đến Qua Châu. Lão tam, Chiếc bình của vua Đại Vệ đang ở đâu?”.
Khúc Trí Thịnh thở dài một tiếng: “Con lập tức đi lấy nó!”.
Hắn nắm tay Long Sương Nguyệt Chi định rời đi, nhưng Chu Quý đột nhiên thấp giọng nói: “Tam hoàng tử, vẫn là mời công chúa ở lại nơi này chờ đi!”.
Long Sương Nguyệt Chi giận dữ nhìn ông ta, hung hăng hất tay Khúc Trí Thịnh ra. Khúc Trí Thịnh không nói gì, quyến luyến nhìn nàng mãi không thôi, sau đó mới xoay người rời khỏi từ đường.
Mọi người cùng đợi trong đại điện, không một ai nói chuyện, tất cả đều lặng im. Khúc Văn Thái khẽ vuốt ve thi thể của Khúc Đức Dũng, bi thương khôn xiết.
Không lâu sau, Khúc Trí Thịnh mang Chiếc bình của vua Đại Vệ tới. Chiếc bình đó rất nặng, được khiêng bởi hai túc vệ, đặt ở chính giữa đại điện. Việc khiến cho Huyền Trang bất ngờ là, cùng đi với Khúc Trí Thịnh, còn có A Thuật.
Sau khi Huyền Trang đến chỗ ở của Vương Huyền Sách, A Thuật liền tự mình bỏ đi, nói là đi tìm người Túc Đặc hay Tát Mã Nhĩ Hãn mình quen biết. Mọi chuyện chuyển biến phức tạp, Huyền Trang cũng quên mất cậu. Thấy A Thuật trở về, Huyền Trang có phần an tâm, thấp giọng hỏi: “A Thuật, sao con lại tới đây?”.
“Sư phụ!” A Thuật vui mừng khấp khởi: “Cuối cùng con cũng tìm thấy ngài rồi. Con vẫn luôn đợi ngài tại nơi ở, nhưng mãi không thấy ngài quay về. Thấy sắc trời cũng muộn rồi, con liền đến cung của tam hoàng tử tìm, đúng lúc gặp tam hoàng lử, mới biết là ngài đang ở đây”.
“Đứa trẻ ngoan!” Huyền Trang xoa đầu của cậu.
Lúc này, Khúc Văn Thái kéo Huyền Trang, thấp giọng nói: “Đại sư, có thể bắt đầu rồi”.
Trong lòng Huyền Trang căng thẳng, ánh mắt của tất cả mọi người đều dồn cả vào Chiếc bình của vua Đại Vệ, phía trên được phủ tơ lụa màu đen. Khúc Trí Thịnh vén nó lên, ánh sáng yêu mị từ Chiếc bình của vua Đại Vệ chiếu vào trong mắt của tất cả mọi người.
Thời khắc này, tất cả mọi người đều tạm ngừng thở.
Thời khắc này, gió cũng ngừng thổi, mặt trời không có ánh sáng, chiếc bình dường như là thủ phạm cướp đoạt mất màu sắc của trời và đất.
Thời khắc này, bên tai mơ hồ có tiếng thần quỷ gào khóc, dường như có vô số linh hồn đang quỳ mọp xuống và vái lạy trước nó…
Thời khắc này, tại tiểu viện của một hộ nông dân bình thường bên trong vương thành, tấm thẻ gỗ trong tay Vương Huyền Sách bị bẻ gãy. Hắn cúi đầu nhìn văn tự trên tấm thẻ gỗ, thở dài nói: “Tây Vực đến lúc rơi vào cảnh máu lửa rồi!”.
Thời khắc này, tại khách điếm sang trọng nhất trong vương thành, Mạc Hạ Đốt đang dùng dao bạc cắt thịt cừu nướng, ông ta đột nhiên nổi giận, dùng dao găm cắm vào trong thịt cừu, hét lớn một tiếng: “Người đâu!”.
Một tên Phụ ly binh đi vào, chắp tay hành lễ: “Đại thiết!”.
Mạt Hạ Đốt quát tháo ra lệnh: “Điều động toàn bộ Phụ ly binh, bao vây vương cung cho ta!”.
“Vâng!”
Chỉ một lát sau, toàn bộ khách điếm trở nên hỗn loạn, kỵ binh Đột Quyết là một trong những quân đội hùng mạnh nhất của thời đại này, mỗi cá nhân đều có tư chất cao đến độ khó lòng tìm được đối thủ tương xứng, có đủ khả năng chống lại họ. Mạc Hạ Đốt hạ lệnh một tiếng, một nghìn tên Phụ ly binh bắt đầu mặc áo giáp, đeo yên cho chiến mã, chuẩn bị đao, cung tên và khí giới.
Mạc Hạ Đốt ngậm một miếng thịt cừu trong miệng, trên tay cầm dao bạc, sải bước đi ra khỏi khách điếm dưới vòng vây của đám Phụ ly binh. Chủ sự Lễ bộ của Cao Xương vừa nhìn thấy dáng điệu bất thường này, liền trưng ra bộ mặt tươi tắn, vội vội vàng vàng nghênh đón: “Đại thiết, ngài có phân phó gì, cứ trực tiếp chỉ thị cho tại hạ là được rồi, hà có phải điều động binh lực chứ?”.
Mạc Hạ Đốt liếc xéo ông ta, ra lệnh: “Há mồm!”.
Chủ sự vô cùng kinh ngạc, nhưng vẫn ngoan ngoãn há miệng. Mạc Hạ Đốt nhét miếng thịt cừu vào trong miệng của ông ta, con dao trên tay cắm vào cổ họng của ông ta. Người chủ sự kia trợn to hai mắt, ôm cổ họng, máu tươi trào ra.
Mạc Hạ Đốt đá ông ta ngã xuống, quát lên: “Xuất phát!”.
Phụ ly binh nhao nhao bước lên chiến mã, giống như vừa uống rượu mạnh, sự dã man và hăng hái lập tức được biểu lộ rõ ràng. Mỗi người cầm trong tay một bó đuốc, phóng ngựa lao như điên trên đường. Trong bóng tối, bọn họ vừa giống như một con rồng lửa khổng lồ, lại vừa giống như một cơn cuồng phong quét qua con đường chật hẹp.
°°°
Tại từ đường vương cung, nghi lễ đang được tiến hành.
Đám người Khúc Văn Thái, Huyền Trang, Long Sương Nguyệt Chi và Chu Quý đứng ở một bên. Sắc mặt của mỗi người đều ngưng trọng, thậm chí còn mang theo nỗi sợ hãi mơ hồ. Khúc Trí Thịnh đứng bên cạnh Chiếc bình của vua Đại Vệ, vuốt ve thân bình, chậm rãi nói: “Hãy mang nhị ca ra đây!”.
Không chờ Khúc Văn Thái phân phó, Chu Quý vội vàng dẫn mấy tiểu thái giám đi tới, mở nắp quan tài ra. Lúc này vẫn đang đặt linh cữu, nắp quan tài còn chưa đóng đinh, mấy tiểu thái giám giẫm lên ghế, cúi người xuống, nhấc thi thể của Khúc Đức Dũng ra, đặt trên một tấm ván gỗ ở giữa đại sảnh.
Khúc Đức Dũng mới chết được ba ngày, lúc này lại đang là mùa đông giá rét, nước đóng thành băng, cơ thể mặc dù cứng đờ, nhưng gương mặt vẫn rất sinh động. Khi hắn tự sát, phần ngực có cắm một thanh đoản đao, sau đó được vương phi rút ra, phần ngực lưu lại một vết dao thật sâu, máu tươi thấm ướt quần áo, giờ đây đã hóa thành màu đỏ đậm.
Khúc Văn Thái nhìn thi thể của Khúc Đức Dũng, không kìm được mà nước mắt giàn giụa, ông ta lau mắt, tràn ngập kỳ vọng. Đúng lúc này, một tên túc vệ vội vội vàng vàng chạy vào, nói gì đó bên tai ông ta. Khúc Văn Thái cười lạnh: “Biết rồi, những chuyện này tạm thời giao cho đại tướng quân dí!”.
Túc vệ đáp lại một tiếng, khom người lui ra ngoài. Khúc Văn Thái thấy Khúc Trí Thịnh vẫn còn chần chừ, không nhịn được nói: “Lão tam, nhanh lên đi, đại quân của Mạc Hạ Đốt đã bao vây vương cung rồi, càng kéo dài thời gian, con và Sương Nguyệt Chi càng không thể đi được nữa!”.
Khúc Trí Thịnh sợ hết hồn, lập tức không do dự nữa, từ bên hông rút ra một con dao ngắn, cắt ngón tay của mình. Máu tươi đầm đìa, hắn để vết thương lên miệng bình, máu tươi nhỏ xuống, ngay lập tức bị lớp phong ấn bằng thiếc ở miệng bình hấp thụ, theo hoa văn hình ngôi sao sáu cánh của vua Đại Vệ thấm vào trong bình. Ngôi sao sáu cánh của vua Đại Vệ ngậm máu tươi, dường như nó vô cùng sung sướng, mọi người tựa hồ như nghe thấy được âm thanh ừng ực, người nào người nấy đều thấy lạnh toát cả sống lưng.
Một lúc sau, trên thân bình trống không đột nhiên tuôn ra huyết quang, chiếc bình giống như đang sống lại, tia máu hiện đầy phía bên ngoài của thân bình, nhìn giống như mạch máu của cơ thể người, và dường như vẫn đang di chuyển bành trướng thêm. Toàn bộ Chiếc bình của vua Đại Vệ lúc này nhìn giống như một trái tim mới bị móc ra, vẫn còn đập mạnh, bừng bừng sức sống!
Huyền Trang nhìn thấy dị tượng này, ánh mắt liền liếc về phía Chu Quý. Chu Quý cũng ngây người nhìn, trong mắt tràn đầy sự sợ hãi, hồn bay phách lạc.
“A-tạp Mã-nạp, xuất hiện đi! Ta cần ngươi!” Khúc Trí Thịnh lớn tiếng kêu gọi.
Vừa dứt lời, chỉ thấy thân bình bỗng nhiên bắt đầu bốc khói, khói mờ mù mịt như một sinh vật sống xoay xung quanh chiếc bình. Chỉ chốc lát sau, khói mù càng ngày càng đậm, toàn bộ chiếc bình đều bị bao bọc trong đó. Khói mù chậm rãi bốc lên, xông thẳng lên bảy thước, tạo thành một đám mây hình nấm khổng lồ trước mắt mọi người. Đám mây này biến hóa không ngừng, dường như trong đó đang ẩn nấp một sinh vật sống lăn lộn, vô dùng quỷ dị.
“Hoàng tử của ta, A-tạp Mã-nạp xin kính chào ngài!” Trong khói mù đột nhiên vang lên một giọng nói trầm lắng.
°°°
Gót sắt ầm vang, mặt đất rung động.
Các Phụ ly thiết kỵ của Mạc Hạ Đốt chạy băng băng theo đường lớn đến trước cổng vương cung, cùng với một tiếng ra lệnh, người ngựa di chuyển, phân thành hai bên, bao vây chặt cổng vương cung.
Mạc Hạ Đốt cưỡi ngựa đến trước cửa cung, hét lớn một tiếng: “Khúc Văn Thái, ra đây gặp ta!”.
Tiếng trống chấn động chợt vang lên trên tường cung. Tiếng trống làm chấn động lòng người, cùng với nó là những bó đuốc lập lòe trên tường cung, binh lính đông nghịt tràn ra, người nào người nấy giương cung lắp tên, nhắm chuẩn xuống dưới tường. Đại tướng quân Trương Hùng đứng trên tường cung, chắp tay hướng xuống phía dưới: “Đại thiết Mạc Hạ Đốt, ngài có ý gì vậy? Tại sao lại dẫn binh xâm phạm vương cung của bọn ta?”.
Mạc Hạ Đốt cảm thấy rất bất ngờ, cười khà khà: “Thì ra là Trương Hùng! Các ngươi cũng có sự chuẩn bị sao? Rất tốt, rất tốt! Ta đỡ phải phí lời. Trương Hùng, gọi Khúc Văn Thái ra đây gặp ta!”.
Trương Hùng cười: “Đại thiết, quốc vương Cao Xương đang bị bệnh, việc này ngài cũng biết, lúc này ngài ấy đang an dưỡng, không tiện để gặp khách. Hơn nữa, ngài mang theo đại binh đến bao vây vương cung, nếu như bệ hạ bị kinh sợ, thì nên làm thế nào cho phải đây?”.
“Nói láo!” Mạc Hạ Đốt chửi ầm lên: “Tưởng lão tử không biết chắc? Lão già Khúc Văn Thái đó bây giờ đang dùng Chiếc bình của vua Đại Vệ kia! Khốn khiếp! Ta có ngầm bắn ý với lão ta mãi rồi, chẳng lẽ lão ta chỉ nghe mà không hiểu à? Ta muốn Chiếc bình của vua Đại Vệ, nghe hiểu chưa?”.
Trương Hùng tỏ ra vô cùng kinh ngạc: “Đại thiết, ngài muốn chiếc bình, thì hãy đi tìm tam hoàng tử ấy! Vương cung của Cao Xương không giống như lều lớn của Khả hãn Thống Diệp Hộ, không phải nơi ngài muốn đến thì đến đâu! Hà tất phải mang theo nhiều binh mã như vậy chứ?”.
“Trương Hùng! Hay lắm, hay lắm, hay lắm!” Mạc Hạ Đốt không thể kìm nổi cơn giận: “Ngươi đang vòng vo với ta đúng không? Nói cho ngươi biết, lão tử chỉ nói đến đây thôi, Khúc Văn Thái dám dùng Chiếc bình của vua Đại Vệ để ước điều ước cuối cùng, thả ma quỷ ra ngoài, ta nhất định dẫn đầu thiết kỵ binh đến san bằng vương thành Cao Xương của hắn!”.
Trương Hùng cũng giận tím mặt, mạnh mẽ đập vào vách tường: “Mạc Hạ Đốt! Ngài chớ có khinh người quá đáng! Chiếc bình của vua Đại Vệ là đồ của nhà ngài sao? Cao Xương chúng ta thân là nước lệ thuộc của Tây Đột Quyết, mấy chục năm nay có năm nào là không nộp thuế cho Hãn đình? Cao Xương chúng ta nộp thuế cho Đột Quyết của ngài, còn phía bên Đột Quyết của ngài phải bảo vệ chúng ta, đây là quy tắc chắc như sắt của Tây Vực. Giờ đây ngài nhìn thấy nhà chúng ta có trọng bảo, liền dẫn binh tới cướp, ngài có để quy tắc của thảo nguyên vào trong mắt không vậy? Ngài có đặt Khả hãn Thống Diệp Hộ vào trong mắt không hả?”.
Mạc Hạ Đốt ngẩn người, đột nhiên bật cười: “Ha ha ha, Trương Hùng, ngươi đúng là trung thành và tận tâm với Khúc Văn Thái. Lão tử lại hỏi ngươi, đợi đến khi lão ta làm cho Khúc Đức Dũng sống lại, dựa vào mối quan hệ của ngươi và Khúc Đức Dũng, Cao Xương này có còn là nơi cho ngươi đặt chân không?”.
Trong mắt Trương Hùng thoáng hiện sự bi thương, nhưng sắc mặt vẫn không thay đổi: “Đây là việc nhà của Cao Xương bọn ta, không liên can đến ngài. Đại thiết, Chiếc bình của vua Đại Vệ tuyệt đối không thể giao cho ngài, xin hãy nhanh chóng lui binh đi! Chỉ dựa vào đội ngũ này của ngài, không đủ để đánh chiếm vương cung đâu!”.
“Vậy sao? Nhưng lão tử lại muốn thử xem thế nào!” Mạc Hạ Đốt quát lớn: “Người đâu, đẩy gỗ phá cổng!”.
Phụ ly binh sớm đã có sự chuẩn bị, trên hai chiếc xe lớn có chở một khúc gỗ to bằng một người ôm, đang chậm rãi đẩy về phía cửa cung. Đẩy gỗ phá cổng cũng không phải là Phụ ly binh, mà là một số dân chúng và thương nhân bị bắt ở gần đây. Những người này vừa khóc lóc kêu gào, vừa dốc sức đẩy dưới roi da của Phụ ly binh.
Sắc mặt của Trương Hùng vẫn không biến đổi, ông ta vẫy tay, trên đầu tường vang lên tiếng kèn u u u, cùng với tiếng kèn lệnh vang lên, phố lớn ngõ nhỏ trong vương thành truyền tới những tiếng rung động ầm ầm. Mạc Hạ Đốt ngạc nhiên, chỉ thấy ánh đuốc lập lòe, vô số kỵ binh lao tới, trên nóc nhà ở khắp nơi đều có cung tiễn thủ đã giương cung lắp tên, nhắm chuẩn vào bọn họ.
Mạc Hạ Đốt giận dữ: “Đúng là con hổ của Tây Vực, ta quá xem thường các ngươi rồi! Trương Hùng, ta ở chỗ này, có bản lĩnh thì hãy bắn chết ta đi, bằng không, vương cung này, ta nhất định sẽ phá vỡ nó! Người đâu, phá cổng cho ta!”.
Khúc Trí Thịnh thất thần nhìn làn khói mù trước mắt, chậm rãi nói: “A-tạp Mã-nạp, ta muốn ước điều ước thứ ba với ngươi”.
Khói mù cuồn cuộn, vang lên tiếng cười to ầm ầm, dường như vô cùng vui sướng: “Hoàng tử kính mến, ngài là người giữ chữ tín nhất trên trời dưới đất này. Ta chờ ngày hôm nay đã lâu lắm rồi. Nói đi, hoàng tử, hãy nói ra điều ước của ngài!”.
Khúc Trí Thịnh bắt đầu đấu tranh tư tưởng lần cuối cùng, thần sắc biến đổi liên tục trên mặt, mọi người đều căng thẳng nhìn chằm chằm vào hắn. Khúc Văn Thái trên trán đổ mồ hôi, cơ thể run rẩy. Huyền Trang thì điềm tĩnh chăm chú nhìn Khúc Văn Thái. Khúc Văn Thái cảm nhận được ánh mắt của ngài, khẽ gật đầu với ngài, rồi mới thả lỏng đôi chút.
“Làm cho nhị ca của ta sống lại đi, việc này ngươi có thể làm được chứ?” cuối cùng Khúc Trí Thịnh cũng nói ra câu này.
“Ha ha ha ha!” A-tạp Mã-nạp cười nói: “Hoàng tử, ta đã nói rồi, ta có bản lĩnh thần thông, trên trời dưới đất này không gì là không thể. Khiến cho người chết sống lại là việc đơn giản nhất”.
“Thật sao?” Khúc Trí Thịnh lặng yên nhìn thi thể trên mặt đất, rồi lại liếc nhìn Khúc Văn Thái, kiên quyết nói: “Vậy ngươi hãy làm cho nhị ca của ta sống lại đi! Phụ vương của ta rất nhớ huynh ấy! Mọi người cũng cần huynh ấy… không cần ta…”. Nói xong lời sau cùng, hắn có chút xót xa.
“Hoàng tử, ngài nghĩ kỹ chưa?” A-tạp Mã-nạp nói: “Đây là điều ước cuối cùng của ngài. Sau khi người chết sống lại, ngài phải lập tức mở phong ấn thiếc này, thả ta ra ngoài!”.
“Nghĩ kỹ rồi!” Khúc Trí Thịnh mặt không biến sắc: “Ta lập tức thả ngươi ra!”.
Ma quỷ không nói thêm gì nữa, khói mù cuồn cuộn dữ dội hơn. Ngay vào lúc này, trước mắt mọi người đột nhiên lóe lên tia sáng, trong làn khói mù đó chợt bắn ra mấy cột khói to bằng ngón tay, nhanh như chớp, lặng im không một tiếng động lao vút vào những nơi như mắt, mũi, miệng và vết thương trên thi thể của Khúc Đức Dũng.
Khoảnh khắc này, cảnh tượng quỷ dị đến cực điểm. Năm cột khói như năm cái xúc tu dài, mặc dù là khói mù, nhưng lại giống như đang ngưng kết thành vật thật, phải một hồi lâu sau, chỗ kết nối của xúc tu và khói mù mới bắt đầu nhạt dần, chậm rãi đứt rời, năm xúc tu cũng biến mất trong không khí.
“A-tạp Mã-nạp, xảy ra chuyện gì vậy?” Khúc Trí Thịnh kinh ngạc hỏi.
Thế nhưng A-tạp Mã-nạp không trả lời nữa, khói mù bao phủ Chiếc bình của vua Đại Vệ cũng từ từ loãng ra rồi tiêu tan. Trong đại điện phục hồi lại dáng vẻ bình thường. Mọi người đưa mắt nhìn nhau, giống như vừa trải qua một cơn ác mộng quỷ dị.
Khúc Văn Thái vội vàng xông tới bên cạnh thi thể của Khúc Đức Dũng, nhẹ nhàng kêu gọi: “Đức Dũng! Đức Dũng!”.
Tất cả mọi người đều nín thở tập trung tư tưởng, tim như ngừng đập, lặng yên nhìn sự biến hóa của thi thể. Qua một hồi lâu, A Thuật đột nhiên kêu to lên: “Ngài ấy cử động rồi, đầu ngón tay cử động rồi…”.
°°°
Ở cổng vương cung lúc này dường như biến thành địa ngục chốn nhân gian.
Người của Mạc Hạ Đốt đã phá vỡ cổng thành, nhưng Trương Hùng vẫn không hạ lệnh bắn tên. Suy cho cùng, Mạc Hạ Đốt thân phận đặc thù, nếu như làm ông ta bị thương, cho dù là vì nguyên nhân gì, Cao Xương cũng khó mà chịu đựng nổi lửa giận của người Đột Quyết. Bởi vậy mà ngay cả kỵ binh của Cao Xương cũng chưa được điều động, mới chỉ giương cung lắp tên canh giữ bốn phía, hình thành vòng bao vây đối với Phụ ly binh.
Mạc Hạ Đốt cực kỳ vô lại, thấy Trương Hùng không dám bắn tên, dứt khoát tự mình chạy đến đứng ở cổng thành, mệnh lệnh đẩy khúc gỗ vào. Trương Hùng vẫn không hạ lệnh, chỉ lạnh lùng nhìn xem. Cổng thành của Cao Xương có dày đến đâu, cũng không chống cự nổi sự va đập của gỗ. Sau mười mấy lần đập, cổng thành vỡ tan, Phụ ly binh đồng loạt reo hò.
Thế nhưng đúng lúc Phụ ly binh thúc giục vó ngựa, định xông vào trong vương cung, bọn họ bỗng nhiên phát hiện ra, trong cổng tò vò của cổng thành đã dựng lên mấy lớp chướng ngại vật và hàng rào. Vô số binh sĩ cầm trường thương đang núp ở phía sau hàng rào, bày thế trận chờ quân địch. Mỗi người cầm khiên lớn trong tay để phòng vệ!
“Chỉ một chút bản lĩnh này thôi sao?” Mạc Hạ Đốt cười ha ha, ra lệnh tấn công.
Thế nhưng tất cả những việc diễn ra tiếp theo khiến cho ông ta phải trợn mắt há mồm. Gai nhọn từ những chướng ngại vật kia hướng ra ngoài, khiến cho Phụ ly binh phải kìm ngựa lại. Các Phụ ly binh phía trước nhảy xuống khỏi lưng ngựa bắt đầu xê dịch hàng rào, không ngờ lại bị các binh sĩ Cao Xương cầm trường thương đâm lên, một tiến một lùi, chỉ nghe thấy tiếng lưỡi thép đâm vào da thịt phập phập, các Phụ ly binh lớn tiếng kêu thảm thiết, nhao nhao ngã xuống đất.
Lúc này Phụ ly binh mới tỉnh ngộ, đối phương không dám giết Mạc Hạ Đốt, chứ không phải không dám giết mình, liền rối rít rút cung tiễn ra bắt đầu bắn cung. Các binh lính Cao Xương giơ khiên ra chống đỡ, trong tiếng vang leng keng liên tục không ngớt, hầu hết các đầu mũi tên đều rơi vào khoảng không. Mạc Hạ Đốt giận dữ, ra lệnh tiến công. Hai bên lập tức triển khai một trận đánh giáp lá cà vô cùng oanh liệt ở cổng tò vò.
Phụ ly binh tinh nhuệ hơn túc vệ của Cao Xương, nhân số cũng nhiều hơn, thế nhưng Trương Hùng phát huy điểm mạnh và tránh điểm yếu, lựa chọn một cổng tò vò chật hẹp làm nơi chém giết, ưu thế đông người không phát huy tác dụng, chiến sĩ có tinh nhuệ đến mấy khi ở chiến trường tập trung như vậy, cũng không tránh được những cây giáo dày đặc như rừng rậm. Chỉ vỏn vẹn hơn một trăm túc vệ lại có thể ngăn chặn trên một nghìn Phụ ly binh ở bên ngoài vương cung!
“Giết! Giết! Giết cho ta!” Mạc Hạ Đốt tức đến nỗi tròng mắt đỏ lên, lớn tiếng thúc giục.
Phụ ly binh cũng tức giận đỏ mắt, không ít người thúc ngựa chạy như điên, đến phía trước chướng ngại vật, phóng ngựa nhảy lên, cả người cả ngựa đều bị chướng ngại vật xuyên qua. Với sự tấn công theo phương thức tự sát này, suýt chút nữa là phá vỡ được lớp phòng ngự của dàn binh lực trường thương và hộ thuẫn của Cao Xương. Song túc vệ của Cao Xương có thể nói là được huấn luyện vô cùng nghiêm túc, lớp này hy sinh thì lại có lớp khác xông lên, chém giết Phụ ly binh. Không đến một nén nhang, tầng tầng lớp lớp trong cổng tò vò đều là thi thể của người và ngựa, gần như xếp chồng cao bằng một người bình thường.
Mạc Hạ Đốt nổi cơn tam bành, nhưng lại không có cách nào. Lúc này, Trương Hùng đột nhiên cười ha ha: “Mạc Hạ Đốt Thiết, nói cho ngài một tin tốt, điều ước cuối cùng với Chiếc bình của vua Đại Vệ vừa kết thúc, nhị hoàng tử nhà ta cũng sống lại rồi đó!”
Mạc Hạ Đốt lập tức ngây ra như phỗng, các binh sĩ đang chém giết kia cũng kinh ngạc đến ngây người, giống như sóng biển bị ngưng kết. Cả màn đêm rơi vào sự tĩnh lặng, chỉ còn ánh đuốc chập chờn run rẩy trong gió.
°°°
Trong từ đường ở vương cung, tất cả mọi người đều bị bao phủ bởi sự chấn động và sợ hãi trong linh hồn. Đến Khúc Văn Thái cũng bị việc người chết sống lại làm cho khiếp sợ, kinh hãi nhìn thi thể của Khúc Đức Dũng mà không nhào tới. So với cảm giác vui sướng mất mà có lại, thì sự hoảng sợ khó tin mới là thứ khiến cho toàn thân ông ta run rẩy.
Người duy nhất bình tĩnh chỉ có Huyền Trang, thiên tâm vững vàng của ngài sau khi trải qua sự chấn động trong thời gian ngắn, rất nhanh liền có thể lấy lại sự bình tĩnh, trong miệng tụng niệm ‘Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh’: “Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Này Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế. Này Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt!”.
Tiếng Huyền Trang tụng kinh càng lúc càng lớn, toàn bộ đại điện vang vọng tiếng Phạn hùng hồn thần bí. Tinh thần của mọi người lúc này mới ổn định trở lại. Sau đó, toàn bộ cánh tay của Khúc Đức Dũng đã bắt đầu động đậy, mí mắt cũng bắt đầu giật giật, dường như muốn mở mắt, nhưng lại bị quỷ quái đến từ chốn u minh cưỡng ép đè lại.
Trong đại điện lạnh giá, nhưng người nào cũng mồ hôi nhễ nhại, ngay cả Khúc Văn Thái trong lòng vui sướng nhất cũng không dám tiến lên. Tiếng hát tụng của Huyền Trang càng ngày càng gấp: “Này Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới. Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết…”.
Chữ “chết” vừa thốt ra, chỉ thấy cơ thể của Khúc Đức Dũng đột nhiên nẩy lên, miệng há ra, phun ra một ngụm máu đen, rồi lập tức ngã vật xuống ván gỗ, không nhúc nhích nữa.
Mọi người không nén nổi liền phát ra tiếng hét kinh hãi, Huyền Trang mắt điếc tai ngơ, chỉ tụng niệm kinh văn. Khúc Văn Thái không nhịn được nữa, xông lên ôm lấy bả vai Khúc Đức Dũng lắc lắc: “Đức Dũng! Đức Dũng…!”.
Mọi người lại thét lên kinh hãi, chỉ thấy Khúc Đức Dũng từ từ mở mắt ra, ánh mắt tán loạn, dáng vẻ giống như hồn phách vẫn chưa quay về. Nhưng như vậy cũng đủ khiến cho Khúc Văn Thái vừa mừng vừa sợ, nước mắt giàn giụa, giọng nói của ông ta run rẩy, khóc nức nở: “Đức Dũng! Con sống lại rồi! Đức Dũng! Đức Dũng!”.
Khúc Văn Thái nghẹn ngào khóc lóc, cảm giác vui mừng mất đi rồi có lại cơ hồ khiến cho ông ta không biết nên bày tỏ tâm tình của mình như thế nào. Đúng lúc này, lại chợt nghe thấy Khúc Trí Thịnh kêu lên sợ hãi: “Phụ vương, cẩn thận…”.
Khúc Văn Thái kinh ngạc nhìn hắn, nhưng lại thấy mọi người đều hoảng sợ nhìn phía sau lưng mình. Ông ta vừa quay đầu lại, lập tức sợ hết hồn. Thì ra Khúc Đức Dũng chẳng biết từ lúc nào đã ngồi dậy, tròng mắt đỏ tươi tỏa ra sát khí, hai tay giữ chặt lấy cổ của Khúc Văn Thái!
Khúc Văn Thái lập tức trợn to hai mắt, hô hấp khó khăn. Khúc Đức Dũng mặt mũi méo mó, tròng mắt đỏ như máu, trong miệng phát ra âm thanh ô ô, hai cánh tay tựa như gang thép ra sức bóp chặt lấy cổ Khúc Văn Thái. Khúc Trí Thịnh la hét xông lên, Chu Quý, Huyền Trang, Long Sương Nguyệt Chi thậm chí cả A Thuật cũng chạy tới, người thì ôm chân, người thì tách cánh tay ra, dốc sức cứu Khúc Văn Thái. Cũng không biết Khúc Đức Dũng này rốt cuộc có nhiều sức lực đến đâu, mà mấy người không thể kìm chế được hắn.
Cho đến khi Khúc Đức Dũng hét lớn một tiếng, hai tay run lên, mọi người bị đánh bật ra ngoài, thì lúc này Khúc Văn Thái mới được buông cổ ra, tránh được một kiếp.
Mọi người đều bị ngã mạnh, người nào người nấy không đứng dậy nổi. Các túc vệ bên ngoài cửa cảm thấy không ổn, tất cả đều lao đến, bao vây Khúc Đức Dũng. Khúc Văn Thái vội vã gào to lên: “Cút! Cút! Không được làm nó bị thương…!”.
Các túc vệ ngơ ngác nhìn nhau, đành phải nghe lời lui ra, nhưng cũng không dám đi xa, gươm tuốt vỏ, nỏ giương dây ngay trước cửa ra vào, trận địa sẵn sàng đón quân địch.
Sau khi Khúc Đức Dũng ném mọi người ra, hắn lảo đảo đứng lên, trên mặt vẫn là vẻ nhăn nhó như cũ, dường như đang phải chịu sự đau đớn cực độ, thế nhưng lại không biết phái làm gì, tròng mắt đờ đẫn quét nhìn từng người, thần sắc thẫn thờ.
Khúc Văn Thái vừa sợ vừa giận, hỏi Khúc Trí Thịnh: “Lão tam, đây là chuyện gì vậy?”.
Khúc Trí Thịnh đang ốm Long Sương Chi Nguyệt kiểm tra thân thể của nàng, nghe thấy lời chất vấn của phụ vương, cũng vô cùng mù mờ: “Con… Con không biết nữa! Nếu không để con tìm A-tạp Mã-nạp hỏi xem thế nào?”.
“Con hỏi đi! Hỏi mau!” Khúc Văn Thái luôn miệng thúc giục.
Khúc Trí Thịnh đến bên cạnh Chiếc bình của vua Đại Vệ, gõ vào thân bình: “A-tạp Mã-nạp, ra đây, ra đây!”
Chiếc bình của vua Đại Vệ không có bất kỳ động tĩnh gì, Khúc Trí Thịnh không hiểu: “Chẳng lẽ còn muốn uống máu?”.
Khúc Văn Thái sải bước đi tới, đưa cho hắn một con dao găm. Khúc Trí Thịnh nhận lấy, cắt ngón tay, máu tươi nhỏ vào hình ngôi sao sáu cánh Của vua Đại Vệ trên miệng bình, máu tươi nhanh chóng được nó hút lấy. Thân bình lại nổi lên huyết quang, hoa văn quỷ dị như mạch máu trên cơ thể con người bắt đầu lấp lánh tỏa ra ánh sáng như màu máu, thế nhưng khói mù lại không bốc lên.
Khúc Trí Thịnh gọi: “A-tạp Mã-nạp, ra đây! Rốt cuộc có chuyện gì vậy? Nhị ca của ta bị làm sao thế?”.
Chiếc bình của vua Đại Vệ vẫn không nhúc nhích, không có một chút thay đổi nào.
Mọi người đưa mắt nhìn nhau, Khúc Trí Thịnh liếc mắt nhìn phụ vương.
Chu Quý nói: “Tam hoàng tử, ngài hỏi như vậy có được tính là điều ước thứ tư không?”.
“Hả?” Khúc Trí Thịnh gãi gãi đầu: “Có tính sao? Thảo nào nó không để ý đến ta”.
“Nghĩ ra thì”, Chu Quý nói: “Có lẽ nhị hoàng tử vừa mới sống lại, phải cần một khoảng thời gian mới thích ứng được! Bệ hạ, sự việc kỳ lạ như vậy, lão nô không thể nói rõ”.
Lúc này, Khúc Đức Dũng đang mù mờ đứng đó, tựa như một cái xác không hồn. Khúc Văn Thái âu sầu nhìn Khúc Đức Dũng, trên mặt lộ ra một chút vui mừng: “Bỏ đi, bỏ đi, tốt xấu gì người cũng coi như đã sống lại rồi. Chỉ cần người sống lại, cho dù thế nào, bổn vương cũng có thể mời danh y đến khám và chữa trị, dù thế nào cũng có thể chữa khỏi cho nó. Đức Dũng, tới đây, về nhà với phụ vương!”.
Ông ta đang định đi tới, chỉ nghe thấy trên đỉnh đầu vang lên tiếng ầm ầm, nóc từ đường đột nhiên bị vỡ ra thành một lỗ lớn. Nóc nhà ở Cao Xương đều được trát bằng đất sét trộn cát, tương đối rắn chắc. Đột nhiên bị vỡ ra, vô số miếng đất vỡ ào ào rớt xuống. Khúc Văn Thái cơ thể có bệnh, đi lại không được linh hoạt, Chu Quý nhanh tay nhanh mắt, liền ôm lấy ông ta, bảo vệ ở phía sau. Những mảnh đất vỡ rơi xuống đập đầy đầu đầy mặt Khúc Đức Dũng, nhưng hắn chỉ ngây người ngẩng đầu lên nhìn, không biết phải phản ứng thế nào.
Mọi người còn chưa kịp hoàn hồn, liền thấy trong cái lỗ bị vỡ đó, có một bóng người rơi vèo xuống, vừa vặn rơi xuống trước mặt Khúc Đức Dũng. Người này đầu đầy tóc bạc, mặc cung trang lộng lẫy mà dơ bẩn, không ngờ lại là Vũ Văn vương phi!
Huyền Trang phủi đất vỡ trên mặt, không khỏi cười khổ, sự táo bạo của vị vương phi này, ngài cũng được lĩnh giáo sâu sắc rồi. Không ngờ sau khi bị nhốt ở hậu cung mấy ngày, vẫn không thay đổi chút nào.
“Tiện nhân!” Khúc Ván Thái giận dữ.
Thế nhưng Vương phi căn bản không thèm để ý đến ông ta, thấy Khúc Đúc Dũng sống lại, trên khuôn mặt phờ phạc là niềm vui mừng khôn xiết, ôm lấy Khúc Đức Dũng: “Đức Dũng! Đức Dũng!”.
Lúc này, túc vệ ở phía ngoài rối rít vây quanh, muốn bắt vương phi lại. Khúc Văn Thái không ngừng cười lạnh, vẫy tay để bọn họ lui ra, chờ đợi cảnh tượng vương phi bị Khúc Đức Dũng bóp chết. Nhưng không ngờ Khúc Đức Dũng lại hiền như khúc gỗ liếc nhìn nàng ta, trên mặt lộ ra thần sắc kỳ quái, giống như đau khổ, lại tựa như tranh đấu, ngơ ngác nói: “Ngọc Ba…!”.
Đây đúng là bao nhà vui vẻ bấy nhà sầu, trong khi Khúc Văn Thái kinh ngạc đến ngây người, vương phi lại mừng rỡ, ôm lấy hắn kêu lên: “Đức Dũng, ngươi sống lại rồi! Thật tốt quá! Thật tốt quá!”.
Khúc Đức Dũng chỉ ngây người nhìn nàng ta, lẩm bẩm: “Ngọc Ba… Ngọc Ba…”.
Vương phi cũng nhìn ra điều bất thường, nghiêng đầu hỏi Khúc Văn Thái: “Rốt cuộc chàng có chuyện gì vậy? Các người đã làm gì chàng?”.
“Nói láo! Sau khi sống lại nó liền có bộ dạng này!” Khúc Văn Thái vừa vui vừa hận, quát to: “Buông nó ra! Người đâu, bắt lại cho ta!”.
Túc vệ ở xung quanh bao vây vương phi và Khúc Đức Dũng, định bụng xông lên. Vương phi cười lạnh một tiếng, liền rút con dao nhỏ để ngang trên cổ của Khúc Đức Dũng: “Khúc Văn Thái, đừng có ép ta nữa. Bằng không nếu phải chết, ta và Khúc Đức Dũng cùng chết!”.
Khúc Văn Thái giật nảy người: “Ngươi… Bỏ xuống! Mau bỏ dao xuống!”.
Vương phi cười thảm một tiếng: “Bọn ta coi như đã sống đủ ở trên đời này rồi, cũng sống chán rồi, có thể cùng chết với Đức Dũng, cũng là phúc phận của ta”.
“Đừng, đừng, đừng!” Khúc Văn Thái hoảng hốt: “Ngươi mau bỏ dao xuống đi, có gì từ từ nói chuyện!”
“Bảo bọn họ tản ra!” Vương phi nghiêm nghị quát lên: “Ta muốn đưa Đức Dũng đi!”
“Ngươi… ngươi mang nó đi đâu?” Khúc Văn Thái hỏi.
“Ta còn nơi nào để đi nữa đây?” vương phi cười một tiếng thê lương: “Cố quốc diệt vong rồi, gia tộc tan rồi, tình cảm phu thê đã đoạn tuyệt, vương cung cô đơn lạnh lẽo này, chính là nơi táng thân của ta! Trên đời này, sẽ chỉ có Đức Dũng ở bên ta. Khúc Văn Thái, kêu người của ngươi tản ra, ta muốn đưa Đức Dũng về hậu cung!”.
“Há…” Khúc Văn Thái lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, tuy rằng không muốn, nhưng không dám chọc giận vương phi vào lúc này, liền xua tay với đám túc vệ: “Tản ra, thả cho bọn họ đi!”.
Vương phi dẫn Khúc Đức Dũng tràn đầy sự phòng bị đi ra ngoài. Khúc Văn Thái lớn tiếng nói: “Ngọc Ba, nếu như ngươi dám đưa Đức Dũng rời đi, thì ta tuyệt đối giết không tha!”.
Vương phi cũng không thèm quan tâm, dẫn theo Khúc Đức Dũng nghênh ngang rời đi. Khúc Văn Thái thất tha thất thểu đuổi theo, nhìn theo bóng lưng của hai người, mệt mỏi khoát khoát tay, các túc vệ rối rít đi tới.
Không ai ngờ được sẽ xảy ra biến cố như vậy, đều có chút lúng túng. Thế nhưng đối với Khúc Trí Thịnh, hắn hoàn toàn không để chuyện này ở trong lòng, thấy Khúc Văn Thái hình như muôn đi theo, hắn vội vàng gọi: “Phụ vương, còn con thì sao? Khi nào thì người để con và Sương Nguyệt Chi rời đi?”.
Khúc Văn Thái ngẩn người, xoay người lại, vẻ mặt phức tạp nhìn hắn, khẽ thở dài: “Lão tam, muốn đi, thì con cứ đi đi!”.
Khúc Trí Thịnh mừng khôn kể xiết, kéo tay Long Sương Nguyệt Chi, hai người cùng nhau quỳ xuống: “Nhi tử khấu biệt phụ vương!”.
“Đi đi! Đi đi! Cao Xương sắp bị diệt tới nơi! Hãy giữ lại một dòng huyết mạch cho họ Khúc ta đi!” Khúc Văn Thái cực kỳ mệt mỏi nói: “Lão tam, lúc này Mạc Hạ Đốt đã bao vây vương cung, con không có cách nào đi ra từ cửa chính, để Chu Quý dẫn con đi ra ngoài từ giếng mương đi!”.
Khúc Trí Thịnh khấu đầu mấy cái thật mạnh, rồi cùng Long Sương Nguyệt Chi đứng lên.
Khúc Văn Thái lại dặn dò: “Chu Quý à, vàng bạc của cải trong vương cung, có thể mang theo bao nhiêu thì mang đi bấy nhiêu! Đủ để lão tam tiêu dùng cả đời này, nó không biết làm ruộng, cũng không biết buôn bán, chỉ sợ đến Đại Đường, đến chức quan bình thường cũng không làm được. Ngươi hãy sắp xếp một chút cho nó đi!”.
“Vâng, lão nô đã biết” vành mắt của Chu Quý cũng đỏ lên rồi.
“Ôi!” Khúc Văn Thái dịu dàng nhìn đứa con này: “Chu Quý, ngươi là người nhà mẹ đẻ của lão tam, muốn đi cùng nó, thì cùng đi đi! Dù sao cũng có người chăm sóc nó!”.
Chu Quý khóc lớn, nói: “Bệ hạ, phần mộ của công chúa vẫn còn ở nơi này, lão nô đời này phải chết ở Cao Xương!”.
Công chúa mà ông ta nói, chính là mẫu thân của Khúc Trí Thịnh, vương phi thứ hai của Khúc Văn Thái. Khúc Văn Thái trong lòng cũng không mấy dễ chịu: “Tùy ngươi vậy!".