Họ đoán không lầm, Huyền Trang thực sự là bị lạc trong hệ thống giếng mương dưới lòng đất!
Sau khi rơi từ trên quán rượu xuống, Huyền Trang bị ngã đến độ xây xẩm mặt mày, rồi lại bị nữ tặc kia quẳng lên lưng ngựa, còn dùng dây thừng trói chân tay ngài, đặt ngài nằm ngang trên lưng ngựa. Suốt một đường ngựa phi như bay, tròng trành xóc nảy, ruột gan của ngài gần như muốn nôn hết ra bên ngoài, mệt tới độ không nói được câu nào.
Khi gió lớn nổi lên, Huyền Trang cũng nhắm chặt hai mắt lại, nhưng ngài cảm nhận được nữ tặc kia đã túm mình cùng nhảy xuống khỏi lưng ngựa, đặt ngài đứng thẳng, để cho ngài tự mình bước đi. Trong cát bụi, hai mắt không dám mở mắt ra, Huyền Trang chỉ có thể đi về phía trước dưới sự thúc giục của nữ tặc kia. Không ngờ vừa đi được vài bước, dưới chân lại chẳng có gì, mặt đất đột nhiên lún xuống, đến cả hô lên một tiếng kinh hãi cũng không kịp, ngài lập tức rơi xuống một cái giếng đứng tối om. Lúc này, dưới chân ngài vẫn còn cảm giác đang giẫm lên trên nền đất, không ngờ sau khi rơi xuống thêm khoảng một trượng, mặt đất kia đột nhiên lại nghiêng trượt về một bên thành giếng. Chân Huyền Trang không có chỗ nào để dựa vào, nên bị cuốn trượt theo, rơi xuống dưới.
Lần này rơi xuống, trời đất đảo điên, tưởng chừng như không có điểm cuối, Huyền Trang còn tưởng rằng mình sẽ cứ thế mà rơi xuống địa ngục, không ngờ rằng đột nhiên lại nghe thấy tiếng nước chảy ào ào, cơ thể rơi xuống một cái đệm mềm, bọt nước xung quanh bắn tung tóe. Huyền Trang vô cùng ngạc nhiên, lúc này mới mở mắt ra, nhưng xung quanh vẫn tối om, thông qua ánh mặt trời xuyên qua miệng giếng trên đỉnh đầu, ngài mới lờ mờ nhìn thấy, thực không ngờ mình lại đang nằm trên một chiếc thuyền da dê thả nổi trên sông! Chiếc thuyền da dê này neo đậu bập bềnh trên mặt nước, bị dòng nước xô đẩy tròng trành.
Đang nhìn thì đột nhiên trên đỉnh đầu ngài tối sầm, nữ tặc kia cũng nhảy xuống, Huyền Trang vô cùng sợ hãi, lập tức tránh sang một bên, nữ tặc kia ngã xuống ngay bên cạnh ngài. Sau đó, nàng ta lần mò trên thành giếng một lúc, mò được một sợi dây xích, gắng sức mà kéo, nắp giếng lại lặng lẽ khép lại như cũ, giếng mương dưới lòng đất lại quay về trạng thái tối như hũ nút.
“Nữ thí chủ, tại sao lại bắt cóc bần tăng?” Huyền Trang nhỏ giọng hỏi.
Nữ tặc kia không trả lời, chỉ móc ra một cây đuốc từ trong chiếc thuyền da dê, dùng diêm châm lửa, cắm ở phía trước của chiếc thuyền, ánh sáng yếu ớt của ngọn đuốc soi chiếu được phạm vi mấy thước xung quanh thuyền. Bất thình lình có ánh dao lóe lên, nàng ta vung dao chặt đứt dây thừng buộc thuyền, con thuyền nhỏ nảy lên một cái thật mạnh, dưới sự đưa đẩy của dòng nước, vùn vụt lao đi, Huyền Trang ngã nhào vào lòng thuyền, nhưng nữ tặc kia thì lại ngồi vững vàng như không.
Dưới sự chiếu rọi của ánh đuốc, chiếc thuyền nhỏ như con ngựa mất cương, điên cuồng lao băng băng trong bóng tối. Lúc cao lúc thấp, lúc đụng bên trái, lúc đụng bên phải, hai người ngồi trên thuyền cũng bị rung lắc thê thảm, thiếu điều muốn ngã khỏi thuyền. Nếu không phải là chiếc thuyền này được làm từ những túi da thì đã sớm bị lực va đập làm vỡ tan thành muôn mảnh rồi.
Nữ tặc nọ chuyên tâm lái thuyền, mặt nạ vàng lấp lánh phát sáng dưới ánh đuốc, toàn thân toát lên vẻ lạnh lùng nghiêm nghị tới cực độ, tuyệt không hề để ý tới Huyền Trang một chút nào.
Dòng sông dưới lòng đất này bắt nguồn từ Thiên Sơn, mức nước chênh lệch so với mặt nước biển lớn, thế nước chảy rất xiết, chiếc thuyền da dê bị cuốn trong dòng nước, giống như một chiếc hồ lô nửa chìm nửa nổi, bị xô quật liên tiếp suốt một lúc lâu. May mắn là khoảng thời gian một nén nhang sau đó, nước sông bắt đầu theo lạch phân nhánh, chiếc thuyền da dê bị đẩy cọ vào thành giếng, tốc độ mới dần chậm lại.
Huyền Trang vẫn chưa hết sợ hãi. Bốn phía đen ngòm, âm u lạnh lẽo, tiếng nước ù ù quanh quẩn bên trong đường hầm, đem đến cho người ta cảm giác sợ hãi đến mức ngạt thở. Trong miệng Huyền Trang nhẩm đọc “Bát Nhã Tâm Kinh”, giờ thì ngài có thể lờ mờ nhận định được rằng bản thân đã rơi xuống giếng mương, hệ thống giếng mương này lúc trước là một con mương chính được dẫn từ chân núi Thiên Sơn, sau khi dẫn tới khu tưới tiêu, bắt đầu phân nhánh, và có xuất hiện nhiều những cái giếng đứng để thông gió.
“Đại sư, lần này thực sự đắc tội với ngài, nếu có điểm nào không phải, vẫn xin đại sư bỏ qua cho.” Đến chỗ nước sông chảy chậm lại, nữ tặc kia mới dám thở phào nhẹ nhõm, rồi đột ngột cất lời. Giọng nói êm tai dễ nghe, pha lẫn chút hơi khàn khàn.
Huyền Trang cười khổ: “A Di Đà Phật! Có rất nhiều người đều từng nói với bần tăng những lời tương tự như này, nhưng bọn họ nên làm gì thì vẫn làm thôi, nữ thí chủ cũng không cần khách khí”.
Nữ tặc trầm mặc trong giây lát: “Nghe giọng của đại sư thì hình như vẫn còn oán trách ta? Lần này ta vì đại kế trong lòng, cũng không thể làm khác được. Hơn nữa với trí tuệ của đại sư, cũng nên đoán được rồi, ta không hề muốn giết ngài, bằng không chẳng cần tốn sức tốn thì giờ mà bắt cóc ngài tới đây”.
Huyền Trang lại đồng tình với những lời này, bèn gật đầu: “Đúng vậy, muốn giết bần tăng thực sự rất dễ dàng, trong thành Giao Hà mặc dù có đại tướng quân bảo vệ, nhưng một mũi tên nhọn từ xa là có thể lấy mạng bần tăng rồi. Thí chủ đập vỡ quán rượu, lại lợi dụng giếng mương dưới đất, thực sự là phiền phức hơn nhiều”.
“Đại sư là một người thông tuệ”, nữ tặc thản nhiên đáp lời.
“Bần tăng là một người hồ đồ”, Huyền Trang cũng thản nhiên nói, “Đến tận bây giờ, cũng không hiểu thí chủ bắt bần tăng tới đây, rốt cuộc là muốn làm gì”.
Nữ tặc không trả lời, trầm mặc trong giây lát, rồi nói: “Thật là một hòa thượng hiếu kỳ, thân đang ở trong hiểm cảnh, không hỏi sống chết, lại hỏi nguyên do. Đại sư, người không sợ chết sao?”.
“Bần tăng đương nhiên là sợ chết rồi”, Huyền Trang kinh ngạc, “bần tăng sợ tu hành chưa thể viên mãn mà đã chết, không thể gặp Như Lai. Có điều con mương tối đen như mực này, cũng là con đường mà bần tăng phải lặn lội để tới Linh Sơn, chết có thể gặp Phật. Vì vậy lại không sợ nữa!”.
“Vì chấp niệm trong lòng, mà vứt bỏ sinh tử. Đại sư và ta đều là những người ngu xuẩn!” Nữ tặc thở dài thườn thượt, “mà sự ngu xuẩn của đại sư còn hơn xa ta, lúc này rồi mà vẫn có thể nói những lời như vậy”.
“Bần tăng lần này tới Linh Sơn, thứ mà bần tăng muốn phá chính là chấp niệm trong lòng.” Huyền Trang nói, “Vậy thì nữ thí chủ, chấp niệm của thí chủ lại là gì vậy?”.
Nữ tử không nói nữa, chuyên tâm lái thuyền, lại vòng qua một ngã ba, lúc này mới trả lời: “Ta sẽ để cho ngài biết!”.
Trên đường hai người trầm mặc không nói, Huyền Trang không biết lai lịch của người này, cũng không biết nàng ta muốn dẫn mình đến nơi nào, chỉ có thể thuận theo dòng nước mà trôi nổi trên chiếc thuyền da dê. Mương ngầm dưới đất khúc khuỷu chằng chịt, ngài chỉ có thể phán đoán là họ đang đi về phía nam, bởi vì dòng nước dưới chân càng lúc càng chảy chậm hơn. Cũng không biết đã đi được bao xa, trên đỉnh đầu xuất hiện một miệng giếng thông gió, cứ cách trăm trượng lại có một miệng giếng, thông thẳng với mặt đất, ánh mặt trời chiếu xuống theo miệng giếng, mặc dù không cách nào chiếu thẳng vào trong mương tối được, nhưng cũng không cần phải châm lại ngọn đuốc nữa.
Xem ra đã là hoàng hôn rồi. Huyền Trang âm thầm suy tính, thật không ngờ hai người ở trong mương ngầm này cũng được hai canh giờ rồi.
Đến bên một đường hầm, nữ tặc kia dẫn Huyền Trang nhảy xuống khỏi con thuyền nhỏ, dùng đoản đao cắt đứt dây thừng trên cánh tay ngài, rồi vươn tay nói: “Đến rồi, mời đại sư.”
Huyền Trang nhìn xung quanh một chút, lại thấy bên trái là một đường hầm rộng rãi, cao chừng ba thước so với mặt nước, hoàn toàn khô ráo. Bọn họ leo lên đường hầm, đi về phía trước hơn mười trượng, đường hầm đột nhiên mở rộng ra, tạo thành một sảnh lớn rộng rãi. Trong sảnh rất u ám, bốn vách tường cắm đầy đuốc, trên mặt đất cũng đứng đầy người, phải có đến hơn trăm người, đều là những thanh niên trai tráng tuổi còn trẻ. Ánh mắt của họ lạnh như băng, dưới sự chiếu rọi của ánh đuốc còn ánh lên tia sáng quỷ dị, tất cả đều đang nhìn ngài chăm chú.
Hai bên sảnh đào thêm ra hơn mười hang động lớn nhỏ, bên trong chất chồng loại vật tư, đa số đều dùng bao vải dầu để đựng. Một gian trong số đó, không ngờ lại chất chồng khoảng mấy trăm cây thương dài!
Huyền Trang vô cùng kinh hãi, ngài quan sát kỹ hơn, phát hiện ra một gian khác đang chất đống những thanh đao thẳng, lưỡi đao sáng loáng, dùng vải bố quấn lại một cách sơ sài, đến mũi đao cũng để lộ ra ngoài. Các gian còn lại có giáp trụ, cung tiễn…
“A Di Đà Phật…” Huyền Trang nhìn chằm chằm vào nữ tặc kia, “các người muốn mưu phản sao?”.
Nữ tử bật cười, trực tiếp đi thẳng vào trong hang động phía trong cùng của đại sảnh, làm tư thế mời: “Đại sư, mời!”.
Những người khác cũng lui về các hang còn lại để nghỉ ngơi, chỉ còn chừa lại hai người tay cầm đao, đứng canh chừng ở cửa hang động. Huyền Trang đành miễn cưỡng bấm bụng theo vào trong, diện tích bên trong không mấy rộng rãi, chỉ có một chiếc giường kiểu người Hồ cùng một tấm thảm để ngồi mà thôi. Nữ tử kia mời Huyền Trang ngồi xuống, nấu trà cho ngài, lại đem ra một cái bánh vừng của người Hồ, bánh Tất La và bánh nang chay, nói: “Đại sư vẫn là nên dùng cơm trước đi, ở thành Giao Hà nhất định chưa ăn no. Thức ăn đạm bạc không so được với quán rượu, ngài ăn tạm trước một ít để khôi phục sức lực đi”.
“Không phải là ăn chưa no, mà là đã nôn hết ra khi ở trên lưng ngựa rồi”, Huyền Trang mỉm cười.
Lúc này lại có một ông lão gầy gò bước vào, cúi người thật thấp hành lễ với nữ tặc kia: “Bái kiến…”.
Nữ tặc cắt ngang lời ông lão: “Tiết tiên sinh, người cùng dùng cơm với đại sư Huyền Trang đi, ta còn có việc phải làm”.
Tiết tiên sinh cung kính nói: “Dạ!”.
“Nhớ là không được để đại sư chịu uất ức, nhưng cũng không được để ngài ấy chạy mất.” Nữ tử kia dặn dò xong, cũng không chào Huyền Trang một tiếng, lập tức xoay người rời đi. Huyền Trang nhìn chằm chằm nàng ta, suy nghĩ sâu xa.
°°°
“Đại sư, mời dùng cơm!” Tiết tiên sinh ngồi xuống đối diện với Huyền Trang, đẩy đồ ăn tới.
Huyền Trang chắp tay cảm tạ, ngài đói mềm người ra rồi, sau đó dùng tay bẻ một miếng bánh Tất La chậm rãi nhai kỹ.
Loại bánh Tất La này là bánh Hồ có nhân, rất thịnh hành ở Trường An, ở đó còn có cửa hàng chuyên bán bánh Tất La. Tiết tiên sinh liếc trộm ngài một cái, trong mắt lánh lên nỗi niềm tưởng nhớ: “Năm đó ở thị trấn phía tây Trường An, có một quán tên gọi là ‘Y Quan Gia Danh Thực’, đầu bếp chính họ Hàn, hắn làm bánh Tất La nhân anh đào, màu sắc thịt quả anh đào trong nhân bánh sau khi nướng chín vẫn không hề thay đổi, hồng nhuận làm lay động lòng người”.
“Quán đó vẫn còn”, Huyền Trang gật đầu: “Nghe nói Hàn Ước đã qua đời, bần tăng không có duyên được thưởng thức”.
“Đúng vậy!” Tiết tiên sinh nói: “Từ khi lão phu bị trục xuất ra khỏi Lũng Tây[88], thời gian trôi nhanh như nước chảy thuận dòng, thoắt cái đã mười hai năm rồi! Cho dù Hàn Ước chưa chết, ta cũng không thể thưởng thức món bánh ấy được nữa!”.
Mười hai năm trước là năm Vũ Đức nguyên niên. Huyền Trang vừa nhấm nuốt bánh Tất La, vừa chậm rãi nói: “Vũ Đức nguyên niên bị trục xuất khỏi Lũng Tây, ừm, ông là người tộc Tây Tần Bá Vương. Qua lời nói của ông, họ và tuổi tác, ta đoán ông hẳn phải là họ hàng của Tiết Cử đúng không?”.
Tây Tần Bá Vương, tức một trong những danh hiệu của Tiết Cử khi xưng hùng xưng bá thời cuối nhà Tùy. “Cựu Đường Thư - Tiết Cử truyện” miêu tả hắn là: ‘Dung mạo hoa lệ, hung hãn thiện xạ, kiêu võ tuyệt luân’. Năm Đại Nghiệp thứ ba mươi hắn khởi binh, chiếm cứ Lũng Tây, tự xưng là Tây Tần Bá Vương, sau lại xưng đế, đóng đô ở Thiên Thủy. Phụ tử một nhà Tiết Cử và Tiết Nhân Cảo là đối thủ dũng mãnh nhất mà Lý Uyên, Lý Thế Dân gặp phải ở thời kỳ đầu. Phụ tử họ Lý liên tục chiến bại, tám đại tổng quản của quân Đường đều đại bại thua thảm, đến các danh tướng như Mộ Dung La Hâu, Lý An Viễn, Lưu Hoằng Cơ đều bị bắt làm tù binh. Mãi đến khi Tiết Cử qua đời, Lý Thế Dân thân chinh, mới đánh bại được Tiết Nhân Cảo ở Thiển Thủy Nguyên[89]. Tiết Nhân Cảo sau khi đầu hàng, bị Lý Thế Dân áp giải về Trường An, cùng xử tử với mấy mươi thuộc cấp, từ đó quân Đường bình định Lũng Tây.
Tiết tiên sinh kinh ngạc nhìn ngài: “Đại sư quả nhiên cao minh. Lão phu là biểu đệ của Vũ Đế, thúc thúc của Nhân Cảo”.
Vũ Đế là thụy hiệu của Tiết Cử sau khi chết, có điều sau khi hắn chết còn chưa kịp an táng thì Tiết Nhân Cảo đã bị Lý Thế Dân tiêu diệt rồi, nên tên thụy này không được lưu truyền rộng rãi. Huyền Trang gật đầu: “Hoàng đế Đại Đường sau khi bình định Lũng Tây, liền thẳng tay đàn áp dòng tộc họ Tiết, chắc hẳn ông chính là người khi đó đã dẫn đầu tộc nhân vượt qua sa mạc Mạc Hạ Diên, lánh nạn tới Cao Xương phải không?”.
Tiết tiên sinh lắc đầu, nói: “Đầu tiên chúng tôi đến nhờ cậy Đông Đột Quyết, sau đó xuôi xuống phía nam, chạy đến nhờ cậy Cát La Lộc, sau đó lại nhờ người Sa Đà che chở, cuối cùng tới Y Ngô. Bọn họ gọi chúng tôi là tội nhân tàn đảng Tùy Tần, sợ đắc tội với Đại Đường, liền tiến hành trục xuất chúng tôi, chúng tôi chỉ đành tìm đến Cao Xương. Khi rời khỏi Lũng Tây, tổng cộng có một ngàn chín trăm sáu mươi ba người, hiện nay chỉ còn có tám trăm bảy mươi sáu người”.
Ông ta nói rất bình tĩnh, nhưng dường như Huyền Trang lại thấy được một đám người lưu vong lăn lộn suốt mười hai năm trên đại mạc và thảo nguyên, tình cảnh thảm hại vất vả mưu sinh ở vùng Bắc địa và Tây Vực.
“Hoàng đế Đại Đường nhân từ, các người tuy là hậu nhân của dòng họ Tiết, nhưng ngài ấy cũng không đối xử hà khắc với những người vô tội như các người, việc gì phải lưu vong vạn dặm, chịu đủ khổ sở như vậy chứ?” Huyền Trang thở dài.
Tiết tiên sinh cười kiêu ngạo: “Người đời cho rằng Vũ Đế và Nhân Cảo dũng mãnh hung hãn, tàn bạo hiếu sát, nhưng bọn họ không hiểu sự kiêu ngạo của dòng tộc họ Tiết chúng tôi! Mưu quốc bất thành, thì liền lặn lội tha hương, chứ không bằng lòng thoi thóp, giữ chút hơi tàn mà kiếm cơm ăn dưới chân của kẻ chiến thắng”.
Huyền Trang lắc đầu không thôi: “Ông đến Cao Xương, thì vẫn là nhờ người khác che chở. Bần tăng hiểu được tâm tư của ông, ông không phải muốn phát động nổi loạn, đoạt lấy giang sơn nhà họ Khúc. Các người là người Hán, cảm thấy Cao Xương này nếu đã là quốc gia của người Hán, chỉ cần có thể giành lấy, việc thống trị theo đó mà trở nên dễ dàng hơn. Nhưng họ Khúc cũng xưng vương suốt hơn một trăm hai mươi năm nay, đã đi sâu vào lòng người, ông là dòng họ ngoại lai, chẳng những hào môn quý tộc ở Cao Xương không đồng tình, mà đến cả những nước xung quanh cũng tuyệt đối không cho phép một người lai lịch bất minh lên nắm giữ Cao Xương”.
“Đại sư chỉ bảo rất phải, nhưng mà lão phu vẫn muốn thử xem sao”, Tiết tiên sinh bình thản nói. Vị Tiết tiên sinh này cực kỳ bình tĩnh, so với phụ tử Tiết Cử khí phách hào hùng, quả thật là không giống như người một nhà.
Huyền Trang suy nghĩ một chút, rồi cười nói: “Nếu ông đã nắm chắc như vậy, hẳn người che chở cho ông ở Cao Xương phải có thân phận bất phàm, chính là vị nữ thí chủ đeo mặt nạ vàng kia sao? Nàng ta rốt cuộc là ai?”.
“Không thể nói được!” Tiết tiên sinh mỉm cười, rót một cốc trà, thành khẩn nói: “Đại sư chí hướng cao xa, Cao Xương đối với ngài mà nói, chẳng qua chỉ là một bụi cỏ trên vạn dặm đường, ngài việc gì phải nhúng tay vào chuyện thị phi này chứ? Tiểu thư cũng có dặn dò, chỉ cần ngài không làm hỏng đại sự của chúng tôi, đợi sau khi thành công, đương nhiên sẽ thả ngài ra để ngài tiếp tục lên đường Tây du. Nơi này mặc dù ẩn sâu dưới lòng đất, nhưng mấy chuyện như quần áo và thức ăn cũng không cần phải lo lắng, đại sư cứ nghỉ ngơi vài ngày đi!”.
Huyền Trang gật đầu, không nói lời nào, yên lặng dùng bữa. Tiết tiên sinh sắp xếp cho ngài ngủ trên một chiếc giường nhỏ, đích thân canh chừng bên cạnh ngài. Huyền Trang cũng không để tâm mà bình thản ngả lưng say giấc.
Không biết ngủ được bao lâu, nhưng ngài đã ngủ rất thoải mái. Trong lúc đang say ngủ, bên ngoài đột nhiên truyền tới những tiếng bước chân, Huyền Trang mở mắt, một người cầm đao vội vã chạy vào, nhỏ giọng nói: “Tiết tiên sinh, vừa bắt được hai người!”.
Tiết tiên sinh cũng tỉnh dậy, ông ta xoa hai gò má, duỗi người một cái lười biếng, nhìn chằm chằm vào Huyền Trang: “Đại sư ngồi tạm đây một chút, lão phu đi xem xem thế nào!”. Rồi lập tức đi ra ngoài.
Huyền Trang đứng dậy đi theo ra ngoài, đến cửa hang động, lại bị hai thủ vệ chặn lại nên ngài chỉ đành đứng ở trong hang động nhìn xung quanh. Chỉ nhìn thấy trong đại sảnh có một đám người kéo tới, nhao nhao ầm ĩ, vừa kéo vừa lôi dẫn hai người theo, là một nam tử trẻ tuổi, còn có một đứa trẻ chừng tám chín tuổi!
Huyền Trang vô cùng kinh ngạc, hô lên: “Tam hoàng tử, A Thuật…!”.
Hóa ra hai người này lại là Khúc Trí Thịnh và A Thuật!
°°°
Đêm qua, sau khi bọn họ tìm thấy miệng của giếng thông gió thì không dám xuống ngay mà canh giữ ở đó. Mãi cho đến giờ Thìn, Chu Quý mới sai tâm phúc của mình cưỡi ngựa nhanh chóng đem bản đồ giếng mương và một chiếc thuyền da dê nhỏ tới cho hai người. Có lẽ Chu Quý biết mạch nước ngầm trong mương giếng chảy rất xiết, lo Khúc Trí Thịnh gặp chuyện không hay, mới phí hết tâm sức làm một chiếc thuyền da dê có thể chui qua nắp giếng.
Khúc Trí Thịnh thấy Chu Quý không tới, không khỏi tức giận: “Công công sao lại không đến?”.
Gã sai vặt kia vội vàng quỳ xuống: “Khởi bẩm tam hoàng tử, hôm nay bệ hạ truyền chỉ, nói sứ giả Yên Kỳ sắp tới vương thành, phải ở vương cung thiết yến, lệnh cho đại tổng quản sắp xếp ổn thỏa. Đại tổng quản nói, ngài ấy lo lắng chuyện bản thân âm thầm giúp tam hoàng tử làm việc bị bệ hạ biết được, chuyện sống chết của bản thân ngài ấy chỉ là chuyện nhỏ, nhưng nếu khiến bệ hạ cảm thấy bất mãn với ngài, ngài ấy có chết trăm lần cũng không đền hết tội. Vì vậy mới không tiện đích thân tới đây”.
Khúc Trí Thịnh cũng hiểu nỗi khổ tâm của Chu Quý, bèn bảo gã sai vặt kia quay về. Hắn và A Thuật cùng nghĩ cách cạy nắp giếng ra, bên trong là ruột giếng đen ngòm. Lúc tới đây bọn họ có mang theo dây thừng, nên đã nghĩ ra cách buộc chặt dây thừng vào một hòn đá lớn rồi cuốn chiếc thuyền da dê vào để thả xuống trước, sau đó Khúc Trí Thịnh trèo xuống theo dây thừng, cố định lại chiếc thuyền da dê, cắm một cây đuốc lên trên mũi thuyền, lúc sau A Thuật cũng xuống tới nơi.
Cuộc phiêu lưu dưới lòng đất của họ cũng giống hệt như Huyền Trang, vừa cắt đứt dây thừng, chiếc thuyền nhỏ liền bị dòng nước cuốn trôi, lao đi vùn vụt. Hai người đồng thời kêu lên sợ hãi, dưới ánh đuốc, con thuyền da dê phi băng băng theo dòng nước, trình độ lái thuyền của hai người không bì được với nữ tặc đeo mặt nạ kia, bị quăng tới mức lăn lộn ngã ngửa, suýt rơi thẳng xuống sông.
Chính trong dòng nước chảy xiết đó, hai người đã dựa vào dòng chảy và ngã ba, phân tích nơi mà Huyền Trang có thể đến. Tấm bản đồ giếng mương này là thứ được hộ bộ giấu kín, đánh dấu cực kỳ tỉ mỉ, những con mương trên mặt đất, những con mương ngầm dưới lòng đất, đều dùng những nét vẽ khác nhau. Đến chiều dài, chiều rộng của con mương, cũng dùng những đường nét thô, mảnh để chú thích rõ ràng.
Lấy những con mương trên mặt đất làm tọa độ, hệ thống thủy lợi của thành Cao Xương từ Thiên Sơn chảy xuống dưới, từ bắc tới nam có một con mương chính, chính là mương Mãn Thủy, con mương này chảy xuyên qua vương thành Cao Xương, chảy thẳng tới mười dặm phía nam vương thành mới biến mất trong sa mạc. Giếng mương chính dưới lòng đất chảy song song với mương Mãn Thủy, bởi vậy con mương bí mật này cũng được gọi là mương Mãn Thủy.
Nhánh mương ở tận cùng phía bắc của con mương chính, tên gọi là mương Du Thụ, là một con mương chảy ngang theo hướng đông tây, xuống tiếp phía nam chính là giếng mương Hồ Ma, là một con mương nghiêng theo hướng đông bắc - tây nam.
Lấy giếng mương Hồ Ma làm ranh giới, chính là tiến vào khu vực giếng mương dày đặc.
“Ta đoán rằng ả nữ tặc kia có lẽ đã đưa đại sư vào vương thành, vậy thì ả ta nhất định từ giếng mương Hồ Ma chèo về phía nam và khúc mương nhánh”, A Thuật nhìn tấm bản đồ giếng mương, phân tích.
“Tại sao lại như vậy?” Khúc Trí Thịnh không hiểu: “Nàng ta rõ ràng có thể thuận theo mương Mãn Thủy tiến thẳng vào vương thành mà! Tại sao lại phải đi đường vòng thế chứ?”.
“Bởi vì sau khi tiến vào vương Thành, mương Mãn Thủy cứ cách trăm trượng lại xuất hiện một giếng thông gió, vào lúc hoàng hôn, người trong thành đều tới giếng mương để gánh nước. Bất cứ lúc nào cũng có thể có người nhìn thấy bọn họ, nữ tặc kia liệu có ngốc như ngài nghĩ không?”
Nghe xong suy luận của cậu bé, Khúc Trí Thịnh liên tiếp gật đầu: “A Thuật, ngoại trừ Sương Nguyệt Chi ra, ngươi chính là người thông minh nhất trên thế gian này”.
A Thuật tức đến muốn nổ phổi, không thèm để ý đến hắn nữa, tiếp tục phân tích: “Ngài xem dòng nước này, mãi cho đến khi bị hai con mương lớn là Du Thụ và Hồ Ma phân luồng, thế nước mới chậm lại. Vậy thì khả năng cao nhất là ả ta sẽ tìm được cơ hội lên bờ ở con mương ngầm tiếp theo”.
Khúc Trí Thịnh cầm ngọn đuốc tra bản đồ hệ thống thủy lợi rồi gật đầu nói: “Rất có khả năng con mương tiếp theo là mương chảy ngang, tên là mương Hoàng. Ngươi nhìn chỗ giao nhau của mương Hoàng với mương Mãn Thủy, vì để có thể dẫn nước, vừa hay có một bức thành giếng lồi ra… Chậm thôi, chậm thôi, đừng đụng lên…”
Bức thành giếng lồi ra kia vừa hay đang chặn ở phía trước của chiếc thuyền da dê, mắt thấy sắp đâm đầu vào nhau rồi, Khúc Trí Thịnh hồn phi phách tán, gắng sức chống mái chèo, mới hung hiểm tránh được, bình thản tiến vào mương Hoàng.
Hai người đều thở phào một hơi. A Thuật cũng tán đồng: “Mương Hoàng và mương Trương đều có khả năng, nhưng mà muốn vào thành, con đường nhanh và tiện nhất… Ồ, là mương Thạch Gia, ả ta sẽ thuận theo con mương này mà rẽ hướng về phía nam. Tam hoàng tử, quẹo vào!”.
Khúc Trí Thịnh chèo thuyền, quẹo vào mương Thạch Gia. Đi vào chưa lâu, mương Thạch Gia lại phân nhánh, một nhánh trong số đó hướng về phía đông, tên gọi là mương Thất Môn Cốc, là đường mương cung cấp nước chủ yếu của hệ thống tưới tiêu vùng phía đông. Con mương chính chảy trực tiếp xuống phía nam, tiến vào vương thành Cao Xương.
Lúc này đã là sáng sớm ngày hôm sau, trên đỉnh đầu cứ cách trăm trượng lại có một giếng thông gió, trong giếng mương, dưới ánh mặt trời chiếu rọi, tỏa ra những sóng ánh sáng lăn tăn. Thế nước đã chậm lại, đi thuyền hơi chậm, nên hai người liền vứt bỏ thuyền và leo lên gò đất ở hai bên, đi men theo mương nước để tìm kiếm. Vào đến nội thành liền càng khó phán đoán, giếng mương lại càng dày đặc hơn, gần như là thông qua mỗi một sân nhà của mỗi hộ gia đình trong thành, bởi vì nước ăn trong thành, ngoại trừ múc từ giếng lên, thì chính là lấy trực tiếp từ giếng thông gió, múc nước trong giếng mương. Mà chi phí đào giếng không phải gia đình bình thường có thể chấp nhận được, cho nên gần như là tất cả các hộ gia đình đều lấy nước từ giếng mương.
Khi hai người đang phiền não, lại phát hiện ra một đầu mối mới - Trên gò đất hai bên giếng mương, phát hiện ra một loạt những dấu chân ướt sũng!
“Đây là dấu chân của đại sư!” A Thuật mừng rỡ nói.
Khúc Trí Thịnh lắc đầu: “Giếng mương trong thành thường xuyên có người xuống, rất nhiều căn phòng dưới lòng đất của nhà người ta đều được xây dựng bên giếng mương, mùa hè nóng nực, vào trong giếng mương để hóng mát”.
A Thuật “hừ” một tiếng: “Lúc này là mùa rét, làm gì có ai vào hóng mát chứ? Huống chi từ dấu chân có thể đoán chừng tổng cộng có hơn hai mươi người, đại sư nếu đã bị người ta bắt cóc thì đối phương nhất định có không ít người phối hợp hành động. Ta cảm thấy đây chính là dấu chân của đại sư”.
A Thuật dương dương đắc ý nhìn Khúc Trí Thịnh, không ngờ Khúc Trí Thịnh lại mặt mày hớn hở: “A Thuật, thật ra ta cũng nghĩ như vậy. Được rồi, chúng ta lần theo dấu chân đi!”.
A Thuật tức không nói nên lời, chuyện này rõ ràng là do cậu nghĩ ra mà!
Lần theo dấu chân đi về phía trước, đúng lúc dấu chân mờ gần như không thấy đâu nữa, phía trước lại có một dòng mương ngầm. Khúc Trí Thịnh kinh ngạc: “Sao trong thành lại có mương ngầm thế này nhỉ? Sao lại không có giếng thông gió chứ?”“
A Thuật cũng lắc đầu, hai người thắp một cây đuốc, lội bước xuống mương kia. Không ngờ mới đi được vài bước lại gặp được một cái cửa lưới sắt. Song sắt trên cánh cửa phải to bằng nắm tay trẻ con, được hàn cực kỳ chắc chắn. Hai người dùng sức bẻ rồi lay cũng không hề suy suyển. Xem tình hình này, cầm đao ra chém cũng chưa chắc có thể chém đứt được.
Đang lúc chán nản, họ cũng không ngờ là tiếng vang kia lại kinh động tới thủ vệ bên trong. Ngay lập tức có bốn, năm tên thủ vệ cầm cung tên chạy tới kiểm tra. Hai người không ngờ dưới đây lại có thủ vệ, không khỏi hốt hoảng, xoay người muốn chạy trốn. Một mũi tên vèo cái cắm phập vào thành giếng, hai người ngoan ngoãn dừng lại - đường hầm này thẳng tắp, không có gì che chắn. Chỉ cần đám thủ vệ kia hứng lên thì một mũi tên thôi cũng đủ để lấy mạng của bọn họ rồi!
Lúc này hai người mới biết được mình đã xông vào hang ổ của một thế lực hắc ám. Tuy không biết thân phận của đám dư đảng Tuỳ Tần này của Tiết tiên sinh, nhưng cũng biết lúc này bản thân đang trong tình thế lành ít dữ nhiều. Có điều vẫn còn chút niềm vui nho nhỏ, cuối cùng họ cũng gặp được Huyền Trang.
“Đại sư!” Khúc Trí Thịnh và A Thuật nhìn thấy Huyền Trang thì vô cùng mừng rỡ, muốn chạy tới nhưng lại bị đám dư đảng kia ngăn lại.
Huyền Trang kinh ngạc hỏi: “Sao hai người cũng bị bắt vậy?”.
Khúc Trí Thịnh cười khổ, kể lại quá trình đi tìm Huyền Trang, tìm thấy miệng giếng trên sa mạc, Huyền Trang tự trách bản thân mãi: “Bần tăng cảm thấy thực hổ thẹn, đã làm liên luỵ tới tam hoàng tử”. Ngài dịu dàng nhìn A Thuật: “Cũng khiến con phải chịu khổ rồi.”
“Sư phụ!” Viền mắt A Thuật ửng đỏ: “Từ lúc không nhìn thấy sư phụ, con… nếu như không tìm thấy sư phụ, con nguyện không bao giờ quay lại Tát Mã Nhĩ Hãn!”.
“Hừ!” Huyền Trang còn chưa kịp nói gì, Tiết tiên sinh cười lạnh: “Lần này đúng là bắt được con cá lớn, tam hoàng tử, nghe nói sứ đoàn Yên Kỳ đã tới Giao Hà, chuẩn bị tới vương thành đàm phán cùng Khúc Văn Thái. Nếu lúc này lão phu giao ngươi ra, không biết ai trong hai người là phụ vương ngươi với Long Đột Kỵ Chi có thể cho lão phu nhiều lợi ích hơn đây?”.
“Long Đột Kỵ Chi cũng tới rồi?” Khúc Trí Thịnh kinh hãi.
Tiết tiên sinh gật đầu: “Lần này Long Đột Kỵ Chi tự mình dẫn đầu tiến vào Cao Xương, tới để nghênh đón công chúa Yên Kỳ về nước”.
“Nằm mơ đi!” Đôi mắt Khúc Trí Thịnh đỏ sọc lên ngay lập tức, hét lên đầy giận dữ: “Ai dám đưa Sương Nguyệt Chi về nước, ta nhất định sẽ giết chết hắn”.
Tiết tiên sinh giật mình, bật cười nói: “Chiếc bình của vua Đại Vệ không nằm trong tay ngươi, ngươi muốn diệt người khác như thế nào? Tam hoàng tử, ngươi đừng quên bây giờ ngươi đang là tù binh của ta đấy”.
“Ngươi không tin có thể thử xem” Khúc Trí Thịnh ngạo nghễ nói: “Nếu đã lập khế ước với ác ma trong bình, bất kể ta đang ở đâu nó cũng phải thực hiện lời hứa”.
Tiết tiên sinh cười: “Phải vậy không? Đúng là lão phu không tin”.
Đúng lúc này, Tiết tiên sinh bỗng dưng trợn to hai mắt, nét mặt vặn vẹo, trên mặt tràn ngập sợ hãi. Mọi người còn đang cảm thấy khó hiểu, quay đầu nhìn lại thì kinh hãi vô cùng. Không biết vì sao mà một tên thủ vệ ngoài cửa đột nhiên che cổ mình lại, tròng mắt chảy máu tựa như sắp rớt ra ngoài, cổ họng có những tiếng kêu cục cục, rồi bất thình lình ngã lăn ra đất. Một tên thủ vệ khác đánh bạo sờ vào tên kia, rồi hốt hoảng la lên: “Tiết tiên sinh, hắn… hắn chết rồi!”.
Mọi người còn chưa kịp phản ứng lại thì tên thủ vệ này cũng đột nhiên trợn to hai mắt, tròng mắt như muốn rơi ra ngoài, không nói thêm lời nào, gục chết ngay tại chỗ.
Tất cả mọi người đều choáng váng, ngơ ngác nhìn, không biết nên làm thế nào. Huyền Trang là người đầu tiên phản ứng lại, ngài đột nhiên xông ra ngoài, hai gã canh gác không kịp phòng bị, cây đao trong tay cũng không biết nên chém xuống hay không. Chỉ một tích tắc do dự ấy, Huyền Trang đã chạy tới trước mặt hai người kia, đẩy bọn họ: “Đi mau!”.
A Thuật nhạy bén, kéo theo Khúc Trí Thịnh chạy vào đường hầm, Huyền Trang theo sát phía sau, ba người nhanh chân chạy như điên. Vừa tiến vào trong một đường hầm đã thấy có mấy gã lưu vong Tùy Tần đang đứng phía trước, nhìn thấy bọn họ, chúng liền hô to rồi chạy lại.
“Chạy sang bên kia” Huyền Trang vội vàng chỉ sang một ngã rẽ khác.
Ba người lại chạy theo hướng bên kia, vừa đến cửa đường hầm, bên phía đối diện cũng có mấy gã đang đánh úp tới. Ba người hết cách, đành chạy loạn trong hầm như ruồi không đầu. Đám dân lưu vong Tùy Tần xung quanh ùn ùn vây lại, mắt thấy sắp bị vây kín…
Đúng lúc này, đột nhiên A Thuật chạy sang phía bên kia đường hầm, Huyền Trang hốt hoảng: “A Thuật, về mau, bên đó có người!”.
A Thuật chạy đến cửa đường hầm, ngó vào tìm tòi, mặt lộ vẻ vui mừng: “Sư phụ, bên này không có ai! Mau vào đây!”.
Khúc Trí Thịnh và Huyền Trang ngây người, đường hầm này bọn họ vừa đi ngang qua, rõ ràng ở cuối có hai gã đứng canh. Nhưng không kịp nghĩ nhiều, hai người vội theo A Thuật chạy tới cửa đường hầm kia, vừa nhìn thấy cảnh tượng trong đây thì nghẹn họng trân trối.
Cửa đường hầm này vừa có kẻ đứng gác! Nhưng giờ thì đúng là không có người, bởi hai gã lính canh tại đây không biết đã chết từ khi nào, tròng mắt như muốn rơi ra, nét mặt đáng sợ, tình trạng lúc chết giống y hệt hai người trong phòng lúc nãy.
“À ha!” Khúc Trí Thịnh mừng rỡ: “Đại sư, con quỷ trong Chiếc bình của vua Đại Vệ đang bảo vệ ta!”.
A Thuật khinh bỉ: “Ngài gọi nó, nó có đáp lại sao?”.
Khúc Trí Thịnh trừng mắt lại, Huyền Trang thúc giục: “Hiện giờ không phải lúc để tranh luận, đi mau!”.
A Thuật chạy phía trước, hai người chạy theo phía sau. A Thuật chạy vào một ngã rẽ, rồi về báo: “Sư phụ, bên này có người!”.
Sau đó, cậu lại chạy sang bên kia tìm tòi: “Sư phụ! Mau lên đi, bên này không có người!”.
Ba người cùng chạy sang đường hầm bên kia mới biết được, không có người trong lời của A Thuật tức là không có người sống, bởi vì trên mặt đất đang có mấy cái xác người gục chết!
Cả ba đều cảm thấy rất kỳ lạ, dường như ma thần A-tạp Mã-nạp trong Chiếc bình của vua Đại Vệ đang âm thầm theo sát, dọn đường cho bọn họ chạy trốn. Cứ thế, thân hình bé nhỏ của A Thuật chạy trước dò đường, nơi ba người đi qua, đám dân lưu vong kia đều trở thành những cái xác không hồn, không có chút trở ngại nào.
Lúc này đã chẳng còn tên nào dám đuổi theo.
Tại nơi mà đám người Huyền Trang không nhìn thấy, Tiết tiên sinh đang đứng ngẩn ngơ trước một cái xác, trên mặt là nỗi sợ hãi khôn xiết, đám dân lưu vong Tùy Tần cũng im lặng không nói một lời, nhưng toàn thân ai nấy đều không ngừng run rẩy.
Giọng nói của Tiết tiên sinh khàn khàn: “Các ngươi… thấy rõ không?”.
Gã bên cạnh run lẩy bẩy mãi một lúc sau mới lầm bầm trả lời: “Thấy rõ… Ma quỷ… hắn không phải là người… Là ma quỷ…”.
°°°
Ba người chạy như điên dưới giếng mương tối đen, lúc này trên tay họ không có đuốc, chỉ đành chân cao chân thấp mò mẫm những ngã rẽ ngang dọc đan xen dưới lòng đất tìm đường ra.
Cảm thấy đã thoát khỏi sự đuổi bắt của đám dân lưu vong, bọn họ mới dừng lại thở hổn hển, ngồi bệt trên mặt đất thở không ra hơi.
Nghỉ ngơi một lúc, Huyền Trang hỏi: “Tam hoàng tử, tại sao chuyện này lại kỳ quái như vậy, đám canh gác cứ từng người từng người gục chết? Chẳng lẽ đúng là ma lực từ Chiếc bình của vua Đại Vệ gây ra sao?”.
Khúc Trí Thịnh dương dương đắc ý: “Đương nhiên, ta là chủ nhân của nó, trước khi tâm nguyện được thực hiện, nó chắc chắn sẽ giúp ta”.
Huyền Trang nhíu mày suy nghĩ sâu xa: “Vậy tại sao lần này ngài không ước nguyện nó đã tự nguyện ra tay rồi?”.
Khúc Trí Thịnh nghẹn họng: “Cái này thì… có lẽ Chiếc bình của vua Đại Vệ đó nghĩ không thể để ta chết tại đây chăng?”.
Huyền Trang cười khổ, sau đó ngài lại hỏi hai người những chuyện vừa trải qua dưới này. A Thuật kể lại từ lúc Long Sương Nguyệt Chi mang bọn họ đi nghe trộm nghị sự trong vương cung Cao Xương, sau đó Chu Quý chỉ ra bí mật giếng mương như thế nào. Lúc này Huyền Trang mới biết việc mình mất tích một ngày một đêm đã khiến cho cục diện chính trị ở Cao Xương rung chuyển.
Tâm trạng Huyền Trang nặng nề: “Công chúa thật biết tính kế. Kế hoạch của nàng ấy một mắt xích lại nối một mắt xích khác, lúc trước bần tăng còn tưởng việc bắt cóc chỉ đơn giản là để ngăn ta tham dự vào. Không ngờ một hòn đá trúng hai con chim, phía sau còn có hậu chiêu, chỉ nửa khắc đã khiến Cao Xương rơi vào hỗn loạn”.
A Thuật gật đầu: “Lợi dụng đại sư, công chúa đã đánh vỡ thế cân bằng quyền lực của Cao Xương”.
Hai người nói chuyện toàn nội dung như đánh đố khiến Khúc Trí Thịnh tò mò không chịu nổi: “Đại sư, A Thuật, hai người đang nói chuyện gì thế? Hai người nói công chúa là công chúa nào?”.
Huyền Trang ngẫm nghĩ, thở dài: “Tam hoàng tử, có một số việc, bần tăng cũng không biết nên nói với ngài như nào nữa. Bần tăng hỏi ngài trước, nhị ca của ngài có muốn ngồi lên vị trí quốc vương Cao Xương này không?”.
“Tất nhiên là muốn!” Khúc Trí Thịnh gật đầu: “Điều này cả triều đều biết, đến cả phụ vương cũng hiểu rất rõ việc này”.
“Vậy nhị ca của ngài trong trường hợp nào mới được lên làm quốc vương?” Huyền Trang hỏi.
Khúc Trí Thịnh ngẫm nghĩ, lắc đầu: “Cái này khó! Đại ca là thế tử, cả đời này nhị ca chỉ nhìn mà không làm được gì thôi”.
A Thuật cười lạnh: “Sao lại không được? Lý Kiến Thành của Đại Đường cũng là thái tử đó thôi”.
Khúc Trí Thịnh câm nín: “Ngươi… ý ngươi là nhị ca ta muốn mưu phản?”.
“Chẳng lẽ không phải?” A Thuật nói.
Khúc Trí Thịnh á khẩu không trả lời được, cuối cùng bất đắc dĩ gật đầu: “Nếu phụ vương băng hà, chỉ sợ đại ca không áp chế được nhị ca, sớm muộn gì hai người họ cũng dẫn binh gặp nhau trên chiến trường”.
Huyền Trang nói: “Vậy nếu bệ hạ còn sống, tam hoàng tử, nhị ca ngài muốn mưu phản, vậy thì đầu tiên phải giải quyết cái gì?”.
Khúc Trí Thịnh nghĩ tiếp: “Xử lý đại ca! Hai người bọn họ cũng ngấm ngầm đấu đá suốt mấy năm nay rồi”.
“Xử lý xong đại ca ngài rồi còn cần giải quyết thêm ai nữa không?” Huyền Trang hỏi tiếp.
Khúc Trí Thịnh suy nghĩ một lúc lâu, nét mặt rầu rầu, mắt bất chợt sáng lên: “Xử lý đại tướng quân Trương Hùng! Đại tướng quân nắm binh quyền trong tay, lại có quan hệ tốt với đại ca, nếu không giải quyết Trương Hùng, nhị ca ta không dám mưu phản”.
“Không sai!” A Thuật khen ngợi: “Tam hoàng tử, ngài thông minh quá!”.
Khúc Trí Thịnh lập tức trở nên vui vẻ.
Huyền Trang nói: “Thế nên, tam hoàng tử, mong ngài nghĩ lại. Nếu có một người phụ nữ che mặt, bắt cóc ta trong thành Giao Hà, dưới sự bảo vệ của đại tướng quân, liền gây ra hậu quả gì?”.
Thật ra Khúc Trí Thịnh là người rất thông minh, hiểu ra ngay lập tức: “Ta hiểu rồi! Đại ca là thế tử, còn là quận công Giao Hà, thành Giao Hà trên danh nghĩa là do huynh ấy quản lý. Ngài bị bắt cóc ở thành Giao Hà, chẳng những đại tướng quân phải chịu trách nhiệm trực tiếp mà ngay cả đại ca cũng không thể thoát khỏi liên quan”.
“Tam hoàng tử nói đúng, một hòn đá trúng hai con chim.” Huyền Trang thở dài: “Chỉ vì bần tăng, trong cuộc thiết triều hôm qua đại tướng quân bị cướp đoạt quân quyền, quyền lực ở Cao Xương mất đi khống chế, tạo cơ hội tốt nhất cho nhị hoàng tử, khiến Cao Xương rơi vào trong chiến loạn. Đây chính là mưu kế của người phụ nữ kia”.
“Đại sư, ngài nhắc đến người phụ nữ kia… nàng ta là ai?” Khúc Trí Thịnh kinh hãi. A Thuật muốn nói cái gì đó nhưng bị Huyền Trang ngăn lại.
“Tam hoàng tử!” Huyền Trang cười nói: “Nếu bần tăng nói cho ngài biết, người phụ nữ đó là công chúa Long Sương, ngài nghĩ sao?”.
“Đại sư, xin ngài đừng nói bừa!” Khúc Trí Thịnh nghiêm túc lắc đầu: “Sương Nguyệt Chi không làm ra việc này đâu. Chúng ta chỉ mong ngày đêm được ở bên nhau, vì sao nàng lại muốn bắt cóc ngài, khiến Cao Xương ta phải rung chuyển?”.
“Đúng vậy!” Huyền Trang không muốn nói gì nữa, cảm khái: “Nàng bắt cóc bần tăng làm chi?”.
Gương mặt Khúc Trí Thịnh đỏ lên, vô cùng khuất nhục. Giữa bọn họ như có một tầng ngăn cách, tất cả không nói gì, chỉ yên lặng đi về phía trước.
Đi về phía trước không xa, cuối cùng ba người cũng thấy miệng giếng thông gió trên đỉnh đầu, nhưng thành giếng cao tới tận hai ba trượng, không có cách gì trèo lên. Dưới giếng mương tuy có vài cây nho mọc rủ xuống, nhưng chúng không chịu được trọng lượng của một người, không thể bám vào mà trèo lên trên được, đành phải tìm một miệng giếng khác thấp hơn. Đúng lúc này, Tiết tiên sinh mang theo đám lưu dân đuổi tới, trong giếng mương thẳng tắp này, liếc mắt một cái là có thể thấy bọn họ. Chúng lập tức hò hét, chạy theo đuổi giết, nhưng hình như chúng đang sợ, tốc độ cũng không nhanh lắm.
“Đi mau!” Huyền Trang hét lên một tiếng, ba người bắt đầu chạy như bay theo sườn đất men theo hai bên giếng mương.
Quành qua một mương ngang, lập tức thấy một cái giếng thông gió khá thấp cách đó không xa, cách mặt đất tầm tám thước. Tuy rằng vẫn cao hơn chiều cao của một người lớn, nhưng Huyền Trang có một biện pháp, ngài nhỏ giọng nói: “Tam hoàng tử, bần tăng dẫn bọn họ rời đi, ngài và A Thuật mau tới vương cung báo cáo cho bệ hạ!”.
“Đại sư…!” Khúc Trí Thịnh vừa định phản đối, Huyền Trang đã ngồi xổm xuống đất: “Tam hoàng tử, Tiết tiên sinh chịu sự ủy thác của người khác, ông ta không thể giết bần tăng, ngài mau đi đi!”.
Khúc Trí Thịnh bất đắc dĩ, đành phải đạp lên vai Huyền Trang, Huyền Trang đứng thẳng người, đẩy hắn lên. Khúc Trí Thịnh đưa tay bám lấy mặt đất bên miệng giếng, bò lên. Huyền Trang lại ngồi xổm xuống, kêu A Thuật cũng trèo lên.
A Thuật kiên quyết không đi lên: “Sư phụ, con đi rồi ngài dưới này một mình phải làm sao bây giờ? Con muốn ở cùng ngài!”.
“A Thuật….” Huyền Trang đang muốn giảng đạo lý lại thấy đám người Tiết tiên sinh đuổi đến cách đó không xa, vội vàng lôi A Thuật xoay người chạy đi.
Khúc Trí Thịnh chờ để kéo A Thuật lên, thấy hai người họ kéo nhau chạy, còn chưa kịp phản ứng lại đã thấy đám người Tiết tiên sinh đuổi tới. Khúc Trí Thịnh vội vàng né sang một bên mới không bị Tiết tiên sinh phát hiện.
Hắn nhìn xung quanh một vòng, đây là hậu viện của một hộ dân nào đó, trong sân trồng đầy nho. Lúc này đang là mùa đông, dây nho chẳng còn lá, khô không khốc. Trời lạnh, hậu viện cũng chẳng có ai tới, hắn vội vàng bước đến cửa sau, lặng lẽ mở cửa, bước ra đường cái.
Vốn Khúc Trí Thịnh không biết chỗ này là đâu, không ngờ mới bước vài bước, rẽ qua một con phố đã tới đầu bắc của đường cái bắc nam trong vương thành, cách vương cung chỉ có một dặm.
Khúc Trí Thịnh hoảng sợ thất sắc, xem ra đám lưu dân này muốn gây bất lợi cho Cao Xương thật. Tấn công vương thành từ một nơi gần như vậy, thật khó lòng phòng bị. Có một điều càng khiến người ta lo lắng chính là, không ai biết những chiếc giếng ngầm này có thông tới vương cung không! Xem ra giếng ngầm vốn được cố ý để lại cho người Cao Xương uống nước và tưới tắm hoa màu, nhưng chẳng ngờ cũng lưu lại tai họa ngầm.
Hắn bước trên đường lớn, lại nhận thấy trên phố có chút khác thường. Tuy vẫn có thương lữ tụ tập, cò kè mặc cả, tranh cãi kịch liệt, nhưng ở mỗi đầu phố lại có không ít thủ vệ. Khúc Trí Thịnh có chút nghi hoặc, lại không dám chậm trễ, hắn bèn mua một chiếc mũ che mặt đội lên, che khuất gương mặt mình, rồi đi về phía vương thành. Đường không xa, chẳng mấy chốc đã tới cửa cung, trên hai sườn tường thành cao lớn, quân lính Cao Xương đứng dàn hàng, võ trang hạng nặng, thủ vệ nghiêm ngặt. Lòng hắn không khỏi trầm xuống, bước tới trước cửa một cửa hàng đồ da, hỏi chủ tiệm: “Xin hỏi vị đại thúc này, vì sao hôm nay xung quanh vương thành lại có nhiều binh lính đến vậy? Có chuyện gì xảy ra sao?”.
Chủ tiệm kia cũng là người Cao Xương, liếc mắt nhìn về phía cửa cung một cái, thở dài: “Hôm nay quốc vương Yên Kỳ dẫn theo sứ đoàn tiến vào vương thành, nghe nói là muốn đòi công chúa Yên Kỳ về. Ôi, chỉ sợ một lời nói ra không hợp tai, hai nước sẽ khai chiến thôi”.
Lúc này Khúc Trí Thịnh mới bừng tỉnh đại ngộ, chủ tiệm kia vẻ mặt sầu lo: “Chiến loạn xảy ra, Con đường Tơ lụa bị chặn lại. Đại Đường và Đột Quyết đánh nhau thì thôi, mấy nước nhỏ chúng ta không can thiệp được. Nhưng những nước nhỏ nằm ven Con đường Tơ lụa như chúng ta còn đánh giết lẫn nhau, đến khi Con đường Tơ lụa bị phá hủy, tất cả đều nước mất nhà tan, tội gì phải vậy!”.
Khúc Trí Thịnh không khỏi ngượng ngùng, cuộc chiến này không phải vì hắn mà diễn ra sao?
Dù biết nội tình, hắn cũng không dám xông thẳng vào cửa cung, đành phải lén vòng sang cửa hông hậu cung. Trong vương cung Cao Xương không có nhiều thái giám cung nữ, mỗi lần tổ chức yến hội trọng đại đều phải điều tạm nhân lực từ trong quán rượu và các nhà quý tộc quanh đó. Hôm nay vì chiêu đãi sứ đoàn Yên Kỳ, cửa sau này người đến người đi, nguyên liệu nấu ăn rồi than củi, bát đũa, rượu nho cứ chuyển vào trong cung cuồn cuộn không ngừng.
Hắn lén lút đi theo dòng người hòng trà trộn vào, vương cung Tây Vực vốn không kiểm tra nghiêm ngặt như ở Trung Nguyên. Đặc biệt là với tình trạng rối ren khó quản như ngày hôm nay, không ngờ hắn lại vào trong được thật.
Khúc Trí Thịnh biết sự tình khẩn cấp, cần phải báo lại cho Khúc Văn Thái. Nhưng hắn lo cho Long Sương Nguyệt Chi, vội chạy về cung mình trước, vừa vào cửa đã gọi to: “Sương Nguyệt Chi, Sương Nguyệt Chi!”.
Lúc này, Long Sương Nguyệt Chi đang ở trong đại điện ra lệnh cho mấy cung nữ tâm phúc. Lần này Long Đột Kỵ Chi tự mình tới vương thành Cao Xương, tuy nàng đã sắp xếp mọi thứ thỏa đáng nhưng vẫn vô cùng lo lắng.
“Ngươi lập tức đi gặp phụ vương, nói với người, cứ làm theo kế hoạch!” Long Sương Nguyệt Chi suy nghĩ một chút: “Nhưng thái độ phải kịch liệt vào, không phải lo bọn người Cao Xương sẽ nổi cáu”.
Một cung nữ gật đầu đáp ứng.
“Nói thêm cho phụ vương biết, ngàn vạn lần đừng tham gia vào phân tranh giữa người Cao Xương.” Long Sương Nguyệt Chi lại dặn dò: “Nói tóm lại, bất kể ai lên nắm quyền ở Cao Xương, chúng ta chỉ cần một thứ: Con đường Tơ lụa”.
Đúng lúc này, tiếng Khúc Trí Thịnh gọi truyền đến, Long Sương Nguyệt Chi giật mình, lộ ra vẻ mặt vui mừng: “A Di Đà Phật! Tên ngốc này, cuối cùng cũng bình an trở về!”. Nói xong, vội vàng nhấc váy từ đại điện chạy ra, nháy mắt trên mặt đã vương đầy nước mắt, nhào vào trong lòng hắn: “Tam lang! Tam lang! Chàng chạy đi đâu một đêm vậy? Làm thiếp cả đêm không ngủ!”.
“Là lỗi của ta, ta sai rồi!” Khúc Trí Thịnh luôn mồm nói xin lỗi, sau đó nói: “Sương Nguyệt Chi, nàng nghe ta nói. Có khả năng nhị ca sẽ tạo phản, nàng tìm chỗ tránh đi. Đi đến từ đường vương cung đi”.
Long Sương Nguyệt Chi sửng sốt.
“Ta phải đi nói cho phụ vương biết đã!” Hắn dặn dò xong, xoay người muốn đi. Long Sương Nguyệt Chi cắn răng, trong mắt hiện lên một tia sáng quỷ dị, đột nhiên giáng một đòn vào sau cổ hắn.
Khúc Trí Thịnh không tin được là Long Sương Nguyệt Chi lại động thủ với mình, vừa lộ ra nét mặt kinh ngạc, trước mắt đã tối sầm, cả người ngã quỵ xuống.
Chú Thích
[88] Lũng Tây là một huyện thuộc địa cấp thị Định Tây, tỉnh Cam Túc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
[89] Nay là đông bắc Trường Vũ, Thiểm Tây.