Các nghệ sĩ Trung Hoa và Paris tranh giành phục vụ Khắc hãn.
EDWARD GIBBON*
VÀO MỘT NGÀY LỄ nhà thờ mùa đông năm 1287-1288, Vua Edward I của Anh đứng dậy từ ngai vàng để vinh danh Rabban Bar Sawma, vị sứ giả mới đến của Hoàng đế Nguyên Mông Hốt Tất Liệt. Khi đặt chân tới triều đình vị vua Anh, Rabban Bar Sawma có lẽ đã đi xa hơn bất kỳ sứ giả chính thức nào trong lịch sử: hành trình vòng vèo trên đất liền của ông dài khoảng bảy ngàn dặm, từ kinh đô Nguyên Mông qua các thành phố Trung Đông lớn rồi tới các thủ đô châu Âu. Vua Edward đứng trước sứ giả không phải để tuyên bố phục tùng vị hãn Mông Cổ, mà để nhận bánh mì từ tay sứ giả Mông Cổ theo lễ ban phước thánh thể. Vì những sứ giả đầu tiên từ châu Âu tới Mông Cổ đều là thầy tu, Hãn Hốt Tất Liệt chọn Rabban Bar Sawma bởi ông không chỉ là một người Mông Cổ trung thành, mà còn là một thầy tu Ki-tô giáo, dù theo dòng Assyria.
Nhiệm vụ của Rabban Bar Sawma vốn là một cuộc hành hương từ kinh đô của Hốt Tất Liệt tới Jerusalem, nhưng sau khi tới Baghdad, đấng bề trên yêu cầu ông tới châu Âu vào năm 1287. Bên cạnh các cuộc viếng thăm Y Nhi Hãn ở Ba Tư, Hoàng đế Andronikos II Palaiologos xứ Byzantine ở Constantinopolis, Hồng y Đoàn ở Rome và vua Pháp Philip IV, Rabban Bar Sawma lên đường tới triều đình vua Edward, điểm xa nhất của cuộc hành trình. Ông chuyển thư và quà tặng tới các vua chúa trên đường, và ở lại mỗi nơi vài tuần tới vài tháng trước khi tiếp tục lên đường. Ông dành thời gian ngắm cảnh và gặp gỡ các học giả, chính trị gia và quan chức nhà thờ để kể cho họ về Khắc hãn nhà Nguyên, vua dưới quyền Y Nhi Hãn, và ước vọng cháy bỏng được thiết lập quan hệ hòa bình với thế giới của họ. Trên đường về Rome, Giáo hoàng Nicholas IV mời Rabban Bar Sawma dự lễ nhà thờ bằng tiếng của ông; và sau đó, vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá năm 1288, Giáo hoàng mừng Lễ và đích thân làm lễ ban thánh thể cho sứ giả Mông Cổ.
Các vua chúa châu Âu đón tiếp Rabban Bar Sawma nồng hậu trong triều đình, nhưng trước đó nhiều sứ giả đã được cử đi nhưng chính thức bị cả nhà thờ và triều đình phớt lờ. Ngay từ năm 1247, khi Hãn Quý Do còn tại vị, Matthew Paris đã ghi lại chuyến thăm triều đình Pháp của các sứ thần Mông Cổ. Mùa hè năm sau đó, “hai sứ giả tới từ Tartar, do quân vương của chúng gửi tới gặp giáo hoàng.” Song trong những chuyến thăm đầu tiên, quan chức châu Âu dường như không muốn để lộ thông tin về Mông Cổ. Paris viết rằng “không ai ở Curia* biết vì sao chúng tới, các giáo sĩ, công chứng viên và cả những người thân cận với giáo hoàng cũng không biết.” Năm 1269 khi hai anh em nhà Polo Maffeo và Nicolo trở về từ chuyến đi tới châu Âu, họ mang theo lời đề nghị từ Hốt Tất Liệt tới Giáo hoàng, đề nghị ngài gửi tới Mông Cổ một trăm thầy tu để họ chia sẻ hiểu biết với triều đình Mông Cổ.
Vì cả Đế chế Mông Cổ đều cực kỳ nhấn mạnh tự do tôn giáo, Rabban Bar Sawma rất ngạc nhiên khi ông tới châu Âu và thấy rằng chỉ có một tôn giáo được khoan thứ. Ông thấy lạ lùng nhất là việc các thủ lĩnh tôn giáo nắm rất nhiều quyền lực chính trị với quốc gia cũng như các quyền lực bình thường hơn với đời sống hằng ngày của thường dân. Là một người theo đạo Ki-tô, ông rất vui khi thấy vị trí độc tôn của tôn giáo của mình, nhưng nó trái ngược hoàn toàn với Đế chế Mông Cổ nơi nhiều tôn giáo cùng tồn tại nhưng buộc phải đặt nhu cầu của đế quốc lên trên của họ.
Dù chuyến viếng thăm của ông được biết tới rộng rãi và được cả châu Âu tiếp đón thân tình, Rabban Bar Sawma không thành công hơn những sứ giả bị phớt lờ trước; ông không đạt được hiệp ước gì với bất kỳ vua chúa hay các quan chức tôn giáo châu Âu nào. Thành công duy nhất là giáo hoàng đã cam kết sẽ gửi giáo viên tới triều đình Mông Cổ, bởi Hốt Tất Liệt đã nhiều lần đề nghị. Thất bại trong nhiệm vụ ngoại giao này, Rabban Bar Sawma trở về triều đình Y Nhi Hãn ở Ba Tư và ghi lại các sự kiện trong chuyến đi của ông. Chúng sau này được sao chép lại bằng tiếng Syria cổ trong cuốn Lịch sử cuộc đời và các chuyến đi của Rabban Swama, sứ giả và toàn quyền của các hãn Mông Cổ tới các vua châu Âu. Chuyến đi của Rabban Bar Sawma, đặc biệt là việc ông thực hiện lễ ban thánh thể cho vua Anh và đích thân nhận lễ ban thánh thể từ tay Giáo hoàng, cho thấy người Mông Cổ đã thay đổi thế giới nhiều thế nào trong vòng năm mươi năm sau khi họ xâm lược châu Âu. Các nền văn minh vốn từng là những thế giới tách biệt không biết tới nhau giờ đã thành một hệ thống liên lạc, giao thương, công nghệ và chính trị xuyên lục địa đơn nhất.
Thay vì cử đi các chiến binh trên lưng ngựa và các cỗ máy công thành đáng gờm, Mông Cổ giờ đây phái đi các thầy tu, học giả và sứ giả khiêm nhường. Thời đại quân Mông Cổ chinh phạt đã chấm dứt, nhưng kỷ nguyên Thái bình Mông Cổ chỉ mới bắt đầu. Để công nhận những thay đổi quan trọng đã mở rộng hòa bình và thịnh vượng trên trường quốc tế, các học giả phương Tây sau này gọi thế kỷ mười bốn là Pax Mongolica hay Pax Tatarica. Các hãn Mông Cổ giờ đây nỗ lực dùng ngoại giao và thương mại hòa bình để tạo ra các mối quan hệ tương ứng mà họ không làm được bằng vũ lực. Bằng một cách khác, người Mông Cổ tiếp tục theo đuổi mục tiêu thống nhất mọi dân tộc dưới Thanh thiên Vĩnh hằng.
Mông Cổ mang tới ảnh hưởng về mặt thương mại xa hơn nhiều so với những gì quân đội họ đạt được, và bước chuyển từ Đế chế Mông Cổ sang Tập đoàn Mông Cổ diễn ra dưới triều Hốt Tất Liệt. Xuyên suốt thế kỷ mười ba và đầu thế kỷ mười bốn, Mông Cổ duy trì các con đường buôn bán khắp đế quốc và đặt các kho hàng cách nhau mỗi hai mươi tới ba mươi dặm. Các trạm dừng cung cấp động vật thồ hàng cũng như hướng dẫn viên dẫn các lái buôn qua vùng địa hình hiểm trở. Marco Polo đã ở lại triều đình Nguyên Mông khi Bar Sawma đang trên đường tới châu Âu, và ông thường xuyên dùng các trạm nghỉ của người Mông Cổ trên đường đi. Với lời lẽ có phần phấn khích hơn là chuẩn xác, ông miêu tả những trạm dừng chân này không chỉ “đẹp đẽ” và “tráng lệ,” mà còn có “lụa tấm và mọi thứ xa hoa dành cho đấng vua chúa.” Để khuyến khích buôn bán trên những tuyến đường này, chính quyền Mông Cổ phát hành một hình thức sơ khai kết hợp hộ chiếu và thẻ tín dụng. Paiza của người Mông Cổ là một tấm thẻ bằng vàng, bạc hoặc gỗ lớn hơn tay người, dùng để đeo trên cổ hoặc gắn lên quần áo. Tùy thuộc vào loại vật liệu và biểu tượng như hổ hay chim cắt, những người không biết chữ có thể xác định được tầm quan trọng của vị khách lữ hành và cung cấp dịch vụ phù hợp. Paiza cho phép người đeo nó đi lại trong đế quốc và được đảm bảo an toàn, nơi ăn chốn ở, phương tiện đi lại, và miễn trừ sưu thuế địa phương.
Việc mở rộng và duy trì các tuyến đường giao thương không sinh ra từ một cam kết về mặt tư tưởng của người Mông Cổ đối với thương mại và liên lạc. Trên thực tế, nó bắt nguồn từ hệ thống chia sẻ đã ăn sâu bén rễ, gọi là khubi, trong tổ chức bộ lạc Mông Cổ mà Thành Cát Tư Hãn đã chính thức hóa. Các trẻ em mồ côi và goá phụ, cũng như quân lính, được hưởng một phần phù hợp số chiến lợi phẩm; tương tự, mỗi thành viên Hoàng tộc cũng được nhận một phần của cải từ mỗi vùng trong đế quốc. Thay vì nhận lương như các quan lại ngoại quốc, các quan lại cấp cao người Mông Cổ nhận phần vật phẩm, và bán đi hay trao đổi phần lớn số đó trên thị trường để lấy tiền hay các mặt hàng khác. Là người trị vì Y Nhi Hãn Quốc ở Ba Tư, Húc Liệt Ngột vẫn còn hai mươi lăm ngàn hộ dân làm lụa ở Trung Hoa nơi Hốt Tất Liệt cai trị. Húc Liệt Ngột cũng sở hữu các thung lũng Tây Tạng, và có quyền nhận một phần lông thú và chim ưng ở vùng thảo nguyên phía bắc, và tất nhiên, ông cũng có đồng cỏ, ngựa và người của riêng mình trên quê hương Mông Cổ nữa. Mỗi nhánh hoàng tộc Mông Cổ cũng yêu cầu được chia phần phù hợp các nhà chiêm tinh học, thầy thuốc, thợ dệt, thợ mỏ và người nhào lộn.
Hốt Tất Liệt sở hữu trang trại ở Ba Tư và Iraq, cũng như nhiều bầy lạc đà, ngựa, cừu và dê. Một nhóm giáo sĩ đi tới mọi vùng trong đế quốc để kiểm tra hàng hóa ở một nơi và ưa soát sổ sách ở nơi khác. Người Mông Cổ ở Ba Tư cung cấp gia vị, thép, trang sức, ngọc trai và vải vóc cho thân tộc ở Trung Hoa, còn triều đình Mông Cổ ở Trung Hoa lại gửi gốm và thuốc thang với Ba Tư. Để đổi lại việc thu thập và vận chuyển hàng hóa, người Mông Cổ ở Trung Hoa giữ lại khoảng ba phần tư sản phẩm đầu ra, nhưng họ vẫn xuất đi một lượng đáng kể cho các họ hàng ở nơi khác. Hãn Hốt Tất Liệt nhận về người thông dịch và thầy thuốc Ba Tư cũng như khoảng một vạn lính Nga để chiếm phần đất phía bắc kinh đô. Người Nga định cư lại đây, và vẫn được nhắc tới trong ghi chép chính thức của Trung Hoa cho tới lần cuối vào năm 1339.
Dù có bất đồng chính trị giữa các nhánh gia tộc về vị trí Khắc hãn, hệ thống kinh tế và thương mại vẫn tiếp tục hoạt động với chỉ vài đợt ngắt quãng ngắn vì giao tranh lẻ tẻ. Đôi lúc, ngay cả giữa chiến trận, hai bên vẫn cho phép trao đổi các phần chia lời này. Hải Đô, cháu trai của Hãn Oa Khoát Đài và là người cai trị vùng thảo nguyên trung tâm, thường xuyên nổi dậy chống lại Hốt Tất Liệt. Song Hải Đô cũng sở hữu nhiều nghệ nhân và nông dân quanh thành phố Nam Kinh. Giữa các trận đánh Hốt Tất Liệt, Hải Đô sẽ nhận hàng hóa từ Nam Kinh, và có lẽ để đổi lại, cũng cho phép Hốt Tất Liệt thu thập phần ngựa và các món hàng khác từ các bộ lạc thảo nguyên. Việc chia Đế chế Mông Cổ thành bốn khu vực hành chính lớn – Trung Hoa, Mogulistan, Ba Tư và Nga – không làm giảm nhu cầu hàng hóa từ các vùng khác, nếu không muốn nói là khiến việc gìn giữ hệ thống chia phần cũ còn cần thiết hơn. Nếu một hãn từ chối chia phần cho các thành viên khác trong gia đình, họ cũng sẽ từ chối gửi ông phần từ lãnh thổ của họ. Lợi ích tài chính chung vượt lên trên tranh chấp chính trị.
Sự luân chuyển hàng hóa liên tục dần biến đường hành quân của Mông Cổ thành đường giao thương. Nhờ các ortoo hay yam liên tục được mở rộng, tin tức, người và hàng hóa có thể được chở bằng ngựa hay xe kéo lạc đà từ Mông Cổ tới Việt Nam hay từ Triều Tiên tới Ba Tư. Khi hàng hóa luân chuyển ngày càng nhiều, triều đình Mông Cổ tìm kiếm những đường đi nhanh và dễ dàng hơn các lối đi truyền thống. Vì mục tiêu này, năm 1281, Hốt Tất Liệt mở cuộc thám hiểm lớn để khám phá và vẽ bản đồ thượng nguồn sông Hoàng Hà, được người Mông Cổ gọi là Hắc Hà. Học giả dùng các thông tin này để vẽ bản đồ chi tiết con sông. Cuộc thám hiểm mở ra đường di từ Trung Hoa tới Tây Tạng, nhờ đó người Mông Cổ có thể thêm Tây Tạng và vùng Himalaya vào hệ thống bưu tín Mông Cổ. Các đường liên kết mới này chủ yếu kết nối Tây Tạng – về cả giao thương, tôn giáo và chính trị – với phần còn lại của Trung Hoa.
Trong các chiến dịch quân sự, quan lại Mông Cổ chủ tâm tìm cách tìm kiếm và lấy các bản đồ, atlas, và các công trình địa lý khác tìm thấy trong doanh trại và thành phố của địch. Trong thời Hốt Tất Liệt, các học giả tổng hợp kiến thức địa lý của người Trung Hoa, Ả-rập và Hy Lạp để làm ra tấm bản đồ phức tạp nhất được biết đến thời đó. Chịu ảnh hưởng của các nhà địa lý Ả-rập mà Hốt Tất Liệt thu nạp, đặc biệt là Jamal al-Din, các nghệ nhân làm ra các quả địa cầu cho Hốt Tất Liệt vào năm 1267. Chúng thể hiện châu Âu, châu Phi cũng như châu Á và các đảo Thái Bình Dương lân cận.
Dù ban đầu buôn bán phụ thuộc vào các con đường xây cho mục đích quân sự, chẳng mấy chốc ai cũng nhận thấy rằng mặc dù các đội quân di chuyển nhanh nhất bằng ngựa trên đất liền, khối lượng hàng hóa lớn lại dễ vận chuyển nhất qua đường thủy. Mông Cổ mở rộng và kéo dài Đại Vận Hà vốn đã kết nối sông Hoàng Hà và Trường Giang để vận chuyển thóc và các sản phẩm nông nghiệp khác xa và hiệu quả hơn tới các quận phía bắc. Áp dụng công nghệ và máy móc Trung Hoa vào các môi trường mới, họ xây dựng các thủy công trình xuyên suốt lãnh thổ. Ở Vân Nam, Trung thư tỉnh cho xây mười hai đập nước và bể chứa nước cùng kênh đào. Chúng vẫn còn tồn tại tới ngày nay.
Cuộc xâm lược Nhật Bản và Java không thành đã dạy cho Mông Cổ nhiều về kỹ thuật đóng tàu, và khi nỗ lực quân sự thất bại, họ dùng những kiến thức này để theo đuổi mục đích giao thương hòa bình. Hãn Hốt Tất Liệt đưa ra quyết định chiến lược là cho vận chuyển lương thực trong đế quốc chủ yếu bằng tàu bởi ông nhận ra vận chuyển bằng đường thủy có chi phí thấp và hiệu quả hơn vì nó phụ thuộc vào gió và dòng chảy, còn vận chuyển bằng đường bộ chậm hơn nhiều bởi nó phụ thuộc vào sức người và các con vật cần liên tục được cho ăn. Những năm đầu tiên, Mông Cổ vận chuyển khoảng 3.000 tấn bằng tàu, nhưng tới năm 1329, con số này đã lên tới 210.000 tấn. Marco Polo, người đi tàu từ Trung Hoa tới Ba Tư để trở về nhà, đã miêu tả tàu Nguyên Mông là các con thuyền mành bốn buồm lớn, có thể chứa tới ba trăm thủy thủ và có tới sáu mươi khoang cho thương nhân mang theo nhiều loại hàng hóa khác nhau. Theo Ibn Battuta*, một vài con tàu còn chở cả cây mọc trong chậu gỗ làm nguồn thức ăn tươi cho thủy thủ. Hãn Hốt Tất Liệt khuyến khích xây các tàu ra biển lớn hơn nữa để chở hàng hóa cồng kềnh, cũng như các cảng phục vụ chúng. Họ cải tiến ứng dụng của la bàn để định hướng và học cách làm ra các biểu đồ hải lý chuẩn xác hơn. Đường từ cảng Tuyền Châu ở Nam Trung Hoa tới Hormuz ở vịnh Ba Tư trở thành mạch biển chính nối vùng Viễn Đông với Trung Đông, và được Marco Polo, Ibn Battuta cũng như nhiều người khác sử dụng.
Trên đường đi, các con tàu cũng cập các bến cảng tại Việt Nam, Java, Ceylon và Ấn Độ, cũng như ở mọi nơi các đại diện Mông Cổ tìm thấy các mặt hàng mới như đường, ngà voi, quế và bông – vốn không dễ sản xuất tại quê hương. Từ vịnh Ba Tư, tàu đi tiếp tới các khu vực nằm ngoài ảnh hưởng của Mông Cổ để thực hiện buôn bán đều đặn với nhiều hàng hóa đa dạng hơn nữa từ bán đảo Ả-rập, Ai Cập và Somali. Vua chúa và thương nhân ở những nơi này không tuân theo hệ thống chia phần như với hàng hóa Mông Cổ; thay vào đó, quan lại Mông Cổ thiết lập quan hệ buôn bán lâu dài với họ. Được Mông Cổ bảo hộ, các nước chư hầu trở thành những đối thủ kinh tế đáng gờm như chính quân Mông Cổ trên chiến trường, và họ bắt đầu chiếm lĩnh thị trường vùng Ấn Độ Dương.
Để mở rộng việc buôn bán tới những vùng bên ngoài tầm ảnh hưởng chính trị, Mông Cổ khuyến khích dân các nước chư hầu, đặc biệt là người Nam Trung Hoa, di cư để mở trạm buôn bán ở các cảng nước ngoài. Xuyên suốt triều đại Nguyên Mông, hàng ngàn người Trung Hoa đã rời bỏ quê hương và lên tàu tới định cư ở vùng ven biển của Việt Nam, Campuchia, bán đảo Mã Lai, đảo Borneo, Java và Sumatra. Họ chủ yếu làm trong ngành vận chuyển đường thủy, buôn bán và giao thương dọc theo các con sông chảy tới cảng, nhưng dần dần cùng mở rộng sang cả các ngành nghề khác.
Để tiếp cận thị trường Âu châu trực tiếp hơn mà không cần phải đi vòng qua các nước Hồi giáo phía nam, Mông Cổ khuyến khích người nước ngoài mở các trạm buôn bán ở rìa đế quốc dọc theo Biển Đen. Dù ban đầu quân Mông Cổ đã tấn công các trạm buôn ở đây từ năm 1226 dưới thời Thành Cát Tư Hãn, họ cho phép người Genoa mở một trạm buôn ở cảng Kaffa ở Crimea, và sau này là một trạm nữa ở Tana. Để bảo vệ các trạm này trên đất liền và trên biển, Mông Cổ săn đuổi cướp biển và kẻ cắp. Trong cuốn Pratica della mercatura [Thuật tiếp thị], một cuốn sổ tay thương mại xuất bản năm 1340, thương nhân người Florence Francesco Balducci Pegolotti nhấn mạnh rằng đường tới Mông Cổ Trung Hoa “tuyệt đối an toàn, cả ngày lẫn đêm.”
Việc mở các đường buôn bán mới, cùng với sự phá hủy ngành chế tạo ở Ba Tư và Iraq khi quân Mông Cổ xâm lược, đã mở ra các cơ hội mới cho ngành chế tạo Trung Hoa. Cuộc chinh phục Trung Hoa trôi chảy hơn các chiến dịch quân sự ở Trung Đông, và Hốt Tất Liệt thúc đẩy sự mở rộng hàng hóa Trung Hoa truyền thống vào các thị trường này, cũng như đưa công nghệ của đạo Hồi và Ấn Độ vào ứng dụng rộng rãi tại Trung Hoa. Nhờ các phần chia, các thành viên hoàng gia Nguyên Mông kiểm soát phần lớn sản xuất trong lục địa Á-Âu, nhưng họ cần tầng lớp thương nhân vận chuyển và bán những món hàng này. Người Mông Cổ từ những chiến binh đã trở thành các cổ đông, nhưng họ không có kỹ năng hay thể hiện mong muốn tự trở thành nhà buôn.
Việc giới thượng lưu Mông Cổ can thiệp sâu vào giao thương khác hẳn với truyền thống. Từ Trung Hoa tới châu Âu, giới quý tộc thường coi việc buôn bán là không đàng hoàng, bẩn thỉu, và thường là cả vô đạo đức; cùng với lối buôn bán thủ công, nó được coi là quá thấp kém với người có quyền và kẻ sùng tín. Hơn nữa, nền kinh tế lý tưởng tại châu Âu phong kiến thời kỳ này không chỉ đơn giản là mỗi đất nước nên có khả năng tự cung tự cấp, mà mỗi lãnh địa cũng cần cố gắng tự chu cấp trong khả năng có thể. Các hàng hóa rời khỏi lãnh địa không nên được dùng để đổi lấy các mặt hàng khác cho nông nô sống trên lãnh địa, mà để mua trang sức, thánh tích và các món hàng xa xỉ khác cho gia đình quý tộc hay nhà thờ. Các lãnh chúa phong kiến nên để nông dân tự giải quyết các nhu cầu của họ – tự sản xuất lương thực, trồng cây lấy gỗ, làm công cụ và dệt quần áo – và buôn bán ít nhất có thể. Trong hệ thống phong kiến, phụ thuộc và hàng hóa từ bên ngoài ám chỉ một sự thất bại bên trong.
Các vương quốc Trung Hoa truyền thống bị giới hạn buôn bán suốt nhiều thế kỷ. Việc xây dựng tường thành ở biên giới là một cách hạn chế buôn bán và giữ của cải của quốc gia nguyên vẹn bên trong các bức tường, theo đúng nghĩa đen. Với vua chúa, bán đi hàng hóa cũng có nghĩa là cống nạp cho các nước láng giềng, và họ tránh làm việc này nhiều nhất có thể. Mông Cổ đánh thẳng vào định kiến văn hóa Trung Hoa cho rằng thương nhân chỉ hơn kẻ cắp một bậc bằng cách nâng vị thế xã hội của họ lên trên mọi tôn giáo và ngành nghề, chỉ đứng sau quan lại. Họ cũng tiếp tục hạ thấp các học giả Khổng giáo từ vị trí cao nhất trong xã hội Trung Hoa truyền thống xuống bậc thứ chín, xếp sau gái làng chơi nhưng cao hơn người ăn xin.
Từ thời Thành Cát Tư Hãn, người Mông Cổ đã nhận ra có những mặt hàng bị cho là bình thường ở một nơi thì lại kỳ lạ và có thể bán được ở một nơi khác. Những thập niên cuối thế kỷ mười ba là lúc mở ra một cuộc tìm kiếm gần như điên cuồng các mặt hàng mới có thể bán được ở đâu đó trong mạng lưới buôn bán ngày càng mở rộng, hay một cách tiếp thị mới cho các mặt hàng cũ. Chắc hẳn mọi vật phẩm, từ thuốc nhuộm, giấy và thuốc tới quả hồ trăn, pháo hoa hay thuốc độc đều có người mua tiềm năng, và quan lại Mông Cổ dường như nhất quyết muốn tìm ra người mua đó có thể là ai và ở đâu. Nhằm đáp ứng nhu cầu của một thị trường rộng khắp, các xưởng của người Mông Cổ ở Trung Hoa cuối cùng không chỉ sản xuất các mặt hàng thủ công Trung Hoa truyền thống như gốm hay lụa cho thị trường toàn cầu, mà còn thêm cả những vật phẩm hoàn toàn mới dành riêng cho các thị trường chuyên biệt, như sản xuất hình ảnh Đức mẹ đồng trinh và Chúa hài đồng khảm ngà voi để xuất khẩu tới châu Âu.
Nhờ khuyến khích buôn bán, nhiều loại vải mới đã được làm ra bằng cách lấy sản vật địa phương và tìm thị trường nước ngoài để bán chúng. Nguồn gốc các loại vải này trong nhiều trường hợp vẫn còn thể hiện trong nguồn gốc tên gọi của chúng. Một loại lụa đặc biệt mượt và bóng được phương Tây gọi là satin (vải sa-tanh), bắt nguồn từ tên gọi của cảng Tuyền Châu (Zaytun trong tiếng Ả-rập), nơi Marco Polo lên đường trở về châu Âu. Một loại vải trang trí rất công phu được gọi là lụa damask từ tên gọi thành phố Damascus, nơi phần lớn hàng hóa từ Y Nhi Hãn Quốc đi qua trên đường tới châu Âu. Marco Polo nhắc tới một loại vải cao cấp tinh xảo được dệt ở Mosul, và nó được gọi là mouslin trong tiếng Pháp cổ và rồi muslin trong tiếng Anh.
Ngay cả những vật phẩm nhỏ nhặt nhất cũng có thể mang lại lợi nhuận lớn, ví dụ như khi ngành giao thương mới khiến việc chơi bài phát tán nhanh chóng bởi thương nhân và quân lính thấy loại trò chơi nhẹ và dễ mang theo này là cách giết thời gian mới lạ và rất giải trí. So với các đồ vật cồng kềnh cần để chơi cờ vua hay các trò chơi bàn cờ khác, mọi người lính hay người cưỡi lạc đà nào cũng có thể mang theo một bộ bài. Thị trường mới này kích thích nhu cầu sản xuất bài nhanh và rẻ hơn, và giải pháp cho quá trình này chính là in chúng từ các khối chạm khắc thường dùng để in văn tự tôn giáo. Thị trường bài lớn hơn thánh kinh nhiều.
Phần lớn các đế quốc chinh phạt trong lịch sử đều buộc những kẻ bị chinh phục phải theo nền văn minh của mình. Người La Mã áp đặt tiếng Latin, các vị thần và sở thích rượu vang, dầu ô-liu, cũng như nền nông nghiệp lúa mạch ở cả những nơi chúng không mọc được. Các thành phố La Mã từ Ephesus ở Thổ Nhĩ Kỳ tới Cologne ở Đức đều có thiết kế đô thị và phong cách kiến trúc tương tự nhau, từ chợ và bể tắm tới những chi tiết nhỏ nhất trên cột nhà và khung cửa. Trong các thời kỳ khác, người Anh xây các toà nhà kiểu Tudor ở Mumbai, Hà Lan xây cối xay gió ở vùng biển Caribe, Tây Ban Nha xây các thánh đường và quảng trường theo phong cách riêng của họ từ Mexico tới Argentina, và Mỹ xây các khu dân cư đặc trưng từ Panama tới Ả-rập Xê-Út. Chỉ bằng cách nghiên cứu những gì còn sót lại tại một nơi, các nhà khảo cổ học có thể lần theo sự phát triển của các đế quốc Hindu, Aztec, Mali, Inca, hay Ả-rập.
Trong khi đó, người Mông Cổ chỉ bước rất khẽ trong thế giới họ chinh phạt. Họ không đem tới phong cách kiến trúc đặc trưng nào. Họ cũng không muốn áp đặt ngôn ngữ và tôn giáo lên những kẻ hàng phục bởi trong hầu hết trường hợp, họ cấm kẻ ngoại quốc học tiếng Mông Cổ. Người Mông Cổ không ép trồng một giống cây lạ hay đặt ra thay đổi lớn lên đời sống chung của dân chúng.
Tài giỏi trong việc di chuyển rất nhiều người và ứng dụng công nghệ mới phục vụ chiến tranh, người Mông Cổ tiếp tục những tục lệ này trong thời Thái bình Mông Cổ và áp dụng những tôn chỉ lưu động của xã hội du canh du cư tới những khía cạnh rất bảo thủ của đời sống và văn hóa. Quân đội Mông Cổ thu thập các nhà dịch thuật, ghi chép, thầy thuốc, nhà thiên văn học và toán học để chia ra cho các gia đình như cách họ chia nhạc công, đầu bếp, thợ mỏ vàng, người nhào lộn và họa sĩ. Quan lại chia những người lao động trí óc này cùng với các nghệ nhân khác, thú vật và các hàng hóa khác để đi xe kéo hoặc đường biển tới các gia đình.
Các đế quốc truyền thống tích tụ tài sản trong một thành phố duy nhất. Mọi con đường đều dẫn tới kinh đô, và cái tốt đẹp nhất của mọi thứ đều ở đó. Vì một nơi lại quá chiếm ưu thế trong đế quốc tới vậy nên tên các thành phố như Rome hay Babylon cuối cùng lại trở thành tên gọi của cả đế quốc. Đế chế Mông Cổ chưa bao giờ có chỉ một thành phố lớn duy nhất, và bên trong đế quốc hàng hóa và người dân liên tục di chuyển khắp mọi nơi.
Năm 1261, Hãn Hốt Tất Liệt mở Ty Khuyến nông do tám vị quan đứng đầu để tìm cách cải thiện đời sống nông dân và sản lượng của họ. Không chỉ cải thiện việc trồng trọt, cơ quan này cũng có trách nhiệm bảo vệ và đẩy mạnh sức khỏe của nông dân. Chính sách đối đãi nông dân này thể hiện thái độ rất khác của một chính quyền vốn có quan điểm bắt nguồn từ lối sống du mục Mông Cổ truyền thống và không quan tâm nhiều tới tầng lớp nông dân hay các vấn đề nông nghiệp. Trước khi Mông Cổ chiếm Trung Hoa, phần lớn nông dân trong cùng một vùng trồng các giống cây như nhau; các giống cây khác nhau ở các vùng khác nhau, nhưng giống nhau trong cùng một vùng. Mông Cổ khuyến khích nông dân trồng các giống cây phù hợp với khí hậu, loại đất và chu kỳ thoát nước. Sự thay đổi này giúp tăng tính đa dạng cây trồng trong một vùng cũng như tăng năng suất. Chính quyền Mông Cổ cũng khuyến khích đưa các giống cây truyền thống ở Trung Hoa như chè và lúa tới những vùng đất mới, cụ thể là Ba Tư và Trung Đông. Mông Cổ tìm kiếm các công cụ tốt hơn, nhờ đó loại cây tam giác tân tiến hơn đã được mang từ Trung Hoa tới Đông Nam Á.
Ngay khi Mông Cổ chiếm được Ba Tư, họ đã lập một cơ quan để khuyến khích và cải thiện nông nghiệp tại đây. Sau hàng ngàn năm cày cấy, đất trồng đã bị xói mòn và năng suất suy giảm. Để giải quyết vấn đề này, Mông Cổ cho nhập khẩu rất nhiều hạt giống từ Trung Hoa, và khi cần, cả mầm, cành và cả cây để trồng trong các trạm nông nghiệp mới thành lập để thích nghi với khí hậu và đất trồng Trung Đông. Họ mang tới các giống lúa và kê mới, cũng như cây ăn quả và củ. Ấn Độ, Trung Hoa và Ba Tư vốn đã trồng một số giống cam quýt trước người Mông Cổ, nhưng chính người Mông Cổ đã luân chuyển và lai tạo các giống cây để đa dạng hóa trong mỗi vùng. Gần Quảng Châu ở phía nam Trung Hoa, chính quyền Mông Cổ cho trồng một vườn tám trăm cây chanh nhập khẩu từ lãnh thổ của họ ở Trung Đông. Ở Tabriz tại Ba Tư, họ cũng cho trồng nhiều rặng giống cây chanh và họ cam quýt khác nhau nhập khẩu theo hướng ngược lại – từ Trung Hoa tới Trung Đông. Họ cấy ngày càng nhiều giống đậu, đậu Hà Lan, nho, đậu lăng, quả hạch, cà rốt, củ cải, dưa và các loại rau lấy lá, và từ đó họ phát triển các giống cây và cây lai mới. Bên cạnh cây lương thực cho người và động vật, chính quyền Mông Cổ cũng luôn quan tâm tới các loại bông và cây trồng làm vải khác, cũng như các vật liệu khác để làm dây thừng, thuốc nhuộm, dầu, mực và thuốc.
Vì ngành dệt vải có lợi nhuận cao và kích thích buôn bán với nước ngoài, chính quyền Mông Cổ đặc biệt chú tâm tới các loại len họ sản xuất từ bầy gia súc của mình cũng như lụa, bông và các loại sợi do nông dân làm ra khác. Để kích thích trồng cây bông, họ mở Ty Thu nhận Bông gạo vào năm 1289, và cho người tới các tỉnh mới chiếm được ở bờ biển Đông Nam và dọc theo sông Trường Giang. Cơ quan này nghĩ ra các phương pháp để trồng bông ở các vùng trồng lúa mạch phương Bắc, khuyến khích các kỹ thuật dệt và chế tác tốt hơn. Dù lụa vẫn danh giá hơn ở cả trong và ngoài Trung Hoa, cây bông vẫn trở thành giống cây lấy sợi có giá trị cao. Cải tiến ở một lĩnh vực có thể mang tới nhiều thay đổi khác. Các giống cây trồng mới cần các phương pháp cày, gieo hạt, tưới tiêu, cắt tỉa, rào, thu hoạch, đập, nghiền, vận chuyển, bảo quản, ủ, chưng cất và nấu. Các kỹ thuật mới hoặc được sửa đổi đòi hỏi sử dụng các công cụ và phương tiện mới, những thứ mà cũng cần kỹ thuật sản xuất mới.
Mông Cổ biến văn hóa thành thứ vận chuyển được. Chỉ trao đổi hàng hóa thì không đủ, bởi để sử dụng nhiều sản phẩm mới cần có cả một hệ thống kiến thức đi kèm. Ví dụ, thuốc thang không phải là món hàng có lời nếu không có đủ kiến thức về cách dùng. Vì vậy, triều đình Mông Cổ đưa thầy thuốc Ba Tư và Ả-rập tới Trung Hoa, và thầy thuốc Trung Hoa tới Trung Đông. Mọi loại kiến thức đều mang tới cơ hội buôn bán mới. Rõ ràng người Trung Hoa có hiểu biết ưu việt về dược và các hình thức điều trị khác thường như châm cứu hay đốt ngải trên da. Tuy nhiên, các thầy thuốc Hồi giáo lại hiểu biết chuyên sâu hơn về phẫu thuật, nhưng nhờ việc khám nghiệm các phạm nhân bị hành hình, người Trung Hoa lại biết nhiều hơn về nội tạng và hệ tuần hoàn. Để khuyến khích trao đổi hiểu biết y học, nhà Nguyên cho mở bệnh viện và các viện đào tạo ở Trung Hoa với các thầy thuốc từ Ấn Độ và Trung Đông cũng như Trung Hoa. Hốt Tất Liệt lập ra một bộ nghiên cứu y học phương Tây do một học giả Ki-tô giáo đứng đầu.
Người Mông Cổ lập ra một Dưỡng Tế Viện gần Tabriz, vừa là bệnh viện, nơi nghiên cứu cũng như cơ sở đào tạo về y thuật của cả phương Đông và phương Tây. Ở vùng lãnh thổ của người Mông Cổ ở Ba Tư, vào năm 1313, Rashid al-Din xuất bản cuốn sách đầu tiên được biết tới bên ngoài Trung Hoa về y học Trung Hoa, đính kèm hình minh họa được vẽ tại Trung Hoa. Thuật châm cứu không trở nên phổ biến tại Trung Đông bởi theo giá trị Hồi giáo, nó đòi hỏi quá nhiều tiếp xúc cơ thể khi cắm kim trên người. Trong khi đó, thuật đoán mạch lại rất được Trung Đông và người theo đạo Hồi ở Ấn Độ ưa chuộng bởi thầy thuốc chỉ cần chạm vào cổ tay bệnh nhân để chẩn bệnh và điều trị.. Dùng phương pháp mới này, các thầy thuốc có thể trị bệnh cho bệnh nhân nữ mà không xúc phạm danh dự gia đình họ.
Chỉ vài năm sau khi lên ngôi thống nhất Trung Hoa, Hốt Tất Liệt mở Thái Sử Viện và một cơ quan in ấn để sản xuất nhiều loại lịch và lịch thư số lượng lớn. Nếu một vị vua có Thiên Mệnh trị vì dân chúng, ông phải có khả năng định giờ, đoán chu kỳ trăng, sự đổi mùa, và có lẽ quan trọng hơn cả để giữ thanh thế và ý kiến dân chúng, nhật và nguyệt thực. Tuy nhiên, các vua chúa Nguyên Mông lại gặp một vấn đề lớn hơn nhiều với lịch của họ. Một đế quốc truyền thống chỉ có một triều đình và kinh đô chỉ cần một loại lịch, và các loại lịch khác ở các nước khác không quan trọng lắm. Song, trong Đế chế Mông Cổ nhiều người lãnh đạo, các kinh đô cách nhau rất xa, vậy nên cần phải phối hợp chúng để quản lý sự di chuyển của các đội quân lớn và số lượng hàng hóa khổng lồ. Đông Á sử dụng hệ mười hai con giáp tuần hoàn, trong khi người Hồi giáo dùng lịch trăng với số năm tăng dần tính từ khi tôn giáo của họ ra đời. Năm mới của người Ba Tư bắt đầu vào xuân phân. Một số sự kiện được đánh dấu dựa theo sự chuyển động của các hành tinh, nhất là sao Hỏa và sao Kim, hay theo các vì sao. Người châu Âu dùng lịch dương, trừ với các ngày lễ tôn giáo như Mùa chay, Lễ Phục sinh và Lễ Hiển linh được tính theo âm lịch. Ngay cả các giáo phái Ki-tô giáo cũng bất đồng về thời điểm của các sự kiện này, do vậy dù đã liên tục được điều chỉnh, các lịch của họ cũng không trùng khớp nhau.
Khi Đế chế Mông Cổ có được nhờ chinh phạt mở rộng hơn nữa thành một đế quốc thông thương, việc có một hệ lịch vận hành trơn tru, hoạt động theo cùng một nguyên lý xuyên suốt cả đế quốc trở nên ngày càng quan trọng. Để sắp xếp các hoạt động cũng như điều tiết đời sống xã hội ở những nơi có cách đánh dấu thời gian khác nhau như vậy, gần như ngay khi chinh phục được một vùng mới, người Mông Cổ dựng các đài quan sát để đo lường chuẩn xác chuyển động của các hành tinh và vì sao vì mục đích thực tiễn và tôn giáo. Một cái được xây ngay gần Tabriz, nhưng Trung Hoa rộng lớn cần nhiều đài quan sát khắp mọi nơi. Triều đình ban lệnh cụ thể cho quan lại Nguyên Mông yêu cầu tìm kiếm các nhà thiên văn học và các dụng cụ thiên văn ở những vùng đất mới chiếm được. Húc Liệt Ngột phái nhiều nhà thiên văn học bị bắt ở các thành phố Ba Tư và Ả-rập về quê hương Mông Cổ. Trong số này có Jamal ad-Din, một trong những nhà thiên văn xuất chúng nhất thời kỳ này; ông đem theo bản vẽ các dụng cụ thiên văn lớn và các phương pháp đo lường khoa học mới Trung Hoa chưa biết tới.
Mông Cổ cần xử lý và ghi lại một số lượng rất lớn thông tin số học và điều tra số dân, số động vật và toà nhà, ở một quy mô vượt xa các nền văn minh trước đó. Mỗi năm họ phải ghi lại sổ sách các mặt hàng gửi đi và nhận lại, cũng như việc đi lại của gia súc, quân lính và các lái buôn. Các loại hình nông nghiệp mới, nhu cầu thiên văn học, hệ thống điều tra dân số và vô số các vấn đề hành chính khác thách thức hiểu biết và khả năng số học của thời kỳ này. Chúng đòi hỏi cách tiếp cận việc xử lý số liệu mới. Để tính toán nhanh chóng và hiệu quả, các quan lại làm việc cho triều Nguyên sử dụng bảng tính để tính các tổng lớn mà không cần suy nghĩ quá nhiều như khi tính nhẩm hay viết ra.
Vốn rất tỉ mỉ về các số liệu và với hàng trăm triệu người dân sống khắp nơi trong đế chế, Mông Cổ tìm kiếm các phương pháp đơn giản hơn, cách tắt và cách tính các con số ngày càng lớn và xử lý chúng trong các chuỗi ngày càng phức tạp. Khối lượng tính toán lớn đòi hỏi cách lưu trữ thông tin mới bằng việc lập các biểu đồ phức tạp và phối hợp hệ thống số dùng ở các nước khác nhau. Chính quyền Mông Cổ nhận thấy cả toán học châu Âu và Trung Hoa đều quá đơn giản và không thực tiễn, nhưng họ thu nhận nhiều cải tiến hữu ích từ toán học Ả-rập và Ấn Độ. Các thành phố của đế quốc Khwarizm từng là một trung tâm toán học đặc biệt quan trọng; từ tiếng Anh algorithm (thuật toán) bắt nguồn từ al Khwarizm. Mông Cổ đem kiến thức của các cải tiến này tới khắp nơi trong đế quốc. Họ nhanh chóng nhận thấy những bất lợi của việc dùng cột số hay xếp số theo cách của số Ả-rập, và đưa vào sử dụng số không, số âm và đại số ở Trung Hoa.
Không chỉ số và lịch, mà ở nhiều cấp độ, khác với trước đây, bản thân đời sống ở các vùng khác nhau trong đế quốc cũng cần phải được phối hợp. Tầm quan trọng của việc viết sử không cho phép mỗi nền văn minh tự giải quyết theo cách riêng và theo truyền thống văn học của họ. Để kiểm soát cách dân chúng nhìn nhận họ, Mông Cổ phải đảm bảo tiêu chuẩn viết sử mỗi vùng ăn nhập với sử Mông Cổ. Lịch sử không chỉ là một cách ghi lại thông tin; nó là công cụ chính thống hóa tầng lớp thống trị và lan truyền tin tức về các cuộc chinh phục và thành tựu vĩ đại. Với người Mông Cổ, lịch sử cũng là công cụ quan trọng để học về các nước khác và cai trị chúng hiệu quả hơn. Hãn Hốt Tất Liệt mở Quốc Sử Viện vào những năm 1260. Theo tục lệ Trung Hoa, ông yêu cầu tổng hợp toàn bộ lịch sử các vương quốc Nữ Chân và Khiết Đan cũng như của nhà Tống. Đây có lẽ là công trình lịch sử lớn nhất từng được đưa ra và mất gần tám mươi năm – tới những năm 1340 – để hoàn thành. Ở Ba Tư, Y Nhi Hãn Gazan ra lệnh cho Rashid al-Din, người kế nhiệm Juvaini, viết cuốn lịch sử thế giới đầu tiên. Rashid al-Din sắp xếp một nhiệm vụ quy mô lớn đòi hỏi nhiều học giả và nhà dịch thuật để ghi lại lịch sử Trung Hoa, người Turk và người Frank – cách người Mông Cổ gọi người châu Âu.
Khối lượng thông tin trong Đế chế Mông Cổ yêu cầu cách phổ biến mới. Các nhà chép sử không còn đủ sức chép tay mọi thông tin cần được viết ra. Họ biên soạn các ghi chép, viết thư, và gửi tin tới người cần nhận, nhưng họ không có thời gian sao chép sách hướng dẫn nông nghiệp, luận thuyết y học, atlas, hay bảng thiên văn. Thông tin cần phải được xuất ra với số lượng lớn để truyền bá trên diện rộng. Để thực hiện việc này, người Mông Cổ một lần nữa lại trông cậy vào công nghệ – vào in ấn.
Mông Cổ áp dụng công nghệ in từ rất sớm. Bên cạnh các bản in được Thoát Liệt Ca Na bảo trợ dưới thời chồng bà trị vì, từ năm 1236 Oa Khoát Đài đã ra lệnh thành lập nhiều xưởng in ở lãnh thổ của Mông Cổ ở phía bắc Trung Hoa. Công nghệ in bằng các con chữ di chuyển được có lẽ đã ra đời ở Trung Hoa từ giữa thế kỷ mười hai, nhưng chính người Mông Cổ mới áp dụng nó trên quy mô lớn và khai thác tiềm năng của nó để phục vụ việc quản lý đất nước. Thay vì in với hàng ngàn chữ cái như người Trung Hoa, Mông Cổ dùng bảng chữ cái với các chữ được sử dụng lặp lại nhiều lần. Dưới thời Nguyên Mông, các thợ in khắc ra nhiều bản sao của mỗi chữ cái rồi sắp xếp chúng thành các từ cần in. Mỗi lần muốn in một trang mới, thay vì phải khắc cả ván bản, thợ in chỉ cần xếp các chữ cái đã khắc thành chuỗi ký tự đúng, dùng chúng, rồi đợi tới khi có lượt in mới thì sắp xếp lại rồi tái sử dụng chúng.
Trình độ đọc viết chung tăng lên dưới triều Nguyên, và các tác phẩm văn học cũng tăng tương ứng. Năm 1269, Hốt Tất Liệt cho mở một cơ quan in ấn để truyền bá các quyết định của triều đình rộng rãi hơn trong dân chúng, và cũng khuyến khích các nhóm ngoài triều đình in ấn trên diện rộng, bao gồm sách tôn giáo và văn học bên cạnh ấn phẩm triều đình. Số lượng sách in tăng chóng mặt tới mức giá chúng giảm liên tục dưới triều Nguyên. Các xưởng in khắp Đế chế Mông Cổ bắt đầu in sách nông nghiệp, niên giám, thánh kinh, sách luật, sách sử, luận thuyết y học, các thuyết toán mới, bài hát, và thơ ca bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau.
Dù là trong chính sách khoan dung tôn giáo, làm ra bảng chữ cái chung, mở trạm nghỉ, chơi trò chơi, hay in niên giám, tiền giấy hay biểu đồ thiên văn, vua chúa Nguyên Mông luôn thể hiện một chủ nghĩa phổ quát. Vì họ không có hệ thống nào của riêng mình để áp đặt lên dân chúng, họ sẵn lòng thu nhận và kết hợp các hệ thống của mọi nơi khác. Không có liên hệ văn hóa sâu sắc với những vùng này, họ đặt ra các giải pháp thực tiễn thay vì lý thuyết. Họ tìm kiếm những gì hiệu quả nhất; và khi tìm ra, họ đưa chúng tới những nước khác. Họ không phải lo lắng xem liệu kiến thức thiên văn của họ có phù hợp với giáo huấn trong Kinh Thánh không, liệu cách viết của họ có tuân theo các nguyên tắc do quan lại Trung Hoa đặt ra không, hoặc các imam Hồi giáo có không đồng tình với cách in và vẽ của họ. Người Mông Cổ có quyền – ít nhất là trong lúc này – để đặt ra các hệ thống công nghệ, nông nghiệp và tri thức mới thay thế các ý thích hay định kiến của bất kỳ nền văn minh nào, và qua đó phá vỡ độc quyền tư tưởng của giới tinh hoa địa phương.
Khi chinh phục đế quốc của mình, người Mông Cổ không chỉ cách mạng hóa chiến tranh, họ còn tạo ra hạt nhân cho một nền văn hóa và hệ thống toàn cầu đồng nhất. Nền văn hóa toàn cầu này tiếp tục phát triển suốt một thời gian dài sau khi triều đại Nguyên Mông sụp đổ, và nhờ sự phát triển liên tục trong các thế kỷ sau này, nó trở thành nền tảng cho hệ thống thế giới hiện đại, nhấn mạnh vào những điều Mông Cổ coi trọng như giao thương tự do, liên lạc rộng mở, chia sẻ tri thức, chính trị tách rời với tôn giáo, các tôn giáo song song tồn tại, luật quốc tế và sự miễn trừ ngoại giao.
Dù chưa bao giờ bị Mông Cổ cai trị, về nhiều mặt, châu Âu thu lợi nhiều nhất từ hệ thống toàn cầu của họ. Châu Âu nhận được mọi lợi ích về buôn bán, chuyển giao công nghệ, và sự Thức tỉnh Toàn cầu mà không phải trả giá cho các cuộc chinh phạt của Mông Cổ. Quân Mông Cổ đã tiêu diệt các hiệp sĩ ở Hungary và Đức, nhưng họ không tàn phá hay chiếm đóng các thành phố. Người châu Âu, vốn đã bị tách rời khỏi dòng chảy chính của văn minh từ khi La Mã sụp đổ, say sưa tiếp nhận các tri thức mới, vận phục trang mới, nghe nhạc mới, ăn các món ăn mới, và tận hưởng chất lượng cuộc sống tăng nhanh chóng về hầu như mọi mặt.
Người châu Âu nhanh chóng quên đi những lời nhận xét hoảng loạn của các nhà chép sử đã viết về cuộc xâm lược của Mông Cổ năm 1240 như Matthew Paris hay Thomas xứ Spalato. Trong thế kỷ sau đó, với châu Âu, người Mông Cổ đại diện cho hàng hóa xa xỉ và của hiếm sang trọng. Từ Tartar không còn ám chỉ nỗi kinh hoàng tột độ; thay vào đó, các nhà văn người Ý Dante và Boccaccio* và người Anh Chaucer dùng cụm từ Panni Tartarici, “Vải Tartar” hay “sa-tanh Tartar” để chỉ loại vải tốt nhất thế giới. Khi vua Anh Edward III ra lệnh may 150 nịt bít tất cho các Hiệp sĩ Cấp tước Ga-tơ* ông yêu cầu chúng phải có màu xanh lam tartar. Những từ ngữ này hiển nhiên không phải về vải hay thuốc nhuộm do Mông Cổ làm, mà là những thứ họ bán hay bắt nguồn từ lãnh thổ của họ.
Các cải tiến công nghệ liên tục tới châu Âu. Các ngành nghề đòi hỏi nhiều sức lao động nhất như khai mỏ, xay xát hay luyện kim vốn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào sức người và động vật, nhưng chúng nhanh chóng được cơ động hóa nhờ khai thác sức nước và gió. Công nghệ cải thiện lò luyện sắt cũng được chuyển giao tới châu Âu từ châu Á qua đường buôn bán của Mông Cổ, nhờ đó các thợ rèn có thể đạt được nhiệt độ cao hơn và tăng chất lượng kim loại – một vật liệu ngày càng quan trọng trong kỷ nguyên công nghệ cao mới này. Ở châu Âu, nhờ Mông Cổ Thức tỉnh Toàn cầu, các thợ mộc ngày càng ít dùng rìu đẽo mà ứng dụng các dụng cụ chuyên biệt với chức năng riêng để làm việc nhanh và hiệu quả hơn; các thợ xây dùng cần cẩu và máy trục mới. Các giống cây mới nhanh chóng lan ra: chúng đòi hỏi ít công sức nuôi trồng hay chế biến sau nuôi trồng; cà rốt, củ cải, cải xoong, kiều mạch và củ cần trở nên phổ biến trong các bữa ăn. Việc nấu ăn mất nhiều công sức cũng được cải thiện nhờ cơ khí hóa giúp quay xiên thịt dễ dàng hơn. Các công cụ, máy móc và dụng cụ cơ khí mới giúp xây mọi thứ nhanh chóng và chất lượng tốt hơn, từ tàu thủy và bến tàu tới nhà kho và kênh đào, giống như trước đây công nghệ chiến tranh được cải thiện của Mông Cổ giúp đập tan và phá hủy nhanh hơn với đại bác và thuốc nổ tân tiến.
Những việc đơn giản như chuẩn bị một văn bản dài một trang trên giấy thuộc hay giấy da đòi hỏi công sức của nhiều nhân công có trình độ. Bên cạnh những người nuôi cừu, việc giết và lột da cũng rất quan trọng để làm ra loại giấy viết có chất lượng nên cần một nhóm người lột da giỏi. Trong nhiều tuần liền, tấm da phải được rửa sạch và cạo sạch lông bên ngoài và thịt bên trong, nhúng vào các bể hóa chất, căng trên khung và điều chỉnh liên tục, phơi nắng, làm ướt và phơi khô theo một trình tự cố định, cạo lông, và sau cùng là cắt thành miếng có kích thước phù hợp. Để đóng các trang này thành sách, một loạt các nghề khác lại tham gia để làm mực, sao chép chữ, minh họa, vẽ màu, và đóng gáy da – một bước đã lại đi qua nhiều công xưởng khác.
Dùng giấy thay da thuộc là một phát minh của người Trung Hoa đã được châu Âu biết tới nhưng ít khi sử dụng trước thời Mông Cổ. Nó đòi hỏi người làm phải có nhiều kỹ năng hơn nhưng tốn ít bước hơn, nên nhìn chung trong cả quá trình sẽ tốn ít năng lượng và công sức hơn. Người làm giấy nấu giẻ cũ xé vụn và các vật liệu sợi khác, nhúng khung vào chum để bọc lớp sợi ở ngoài, cho tiếp xúc với chất hóa học, rồi phơi khô.
Nhu cầu giấy tăng cùng với sự phổ biến của in ấn. Một trong công việc tốn công sức nhất trong xã hội trung đại là sao chép bản thảo và văn bản, vốn được làm bằng tay trong các tu viện kiêm nhà máy sách nơi các nhà chép sử tỉ mẩn làm việc cả ngày trong phòng sao chép. Bên cạnh chi phí cho các bữa ăn đạm bạc và sinh hoạt cơ bản, công việc này không được trả công và tiền thu được dùng cho các việc khác trong nhà thờ. Johannes Gutenberg hoàn thành việc chuyển đổi sau khi in ra hai trăm cuốn Kinh Thánh vào năm 1455, và bắt đầu cuộc cách mạng in ấn và thông tin ở phương Tây. Công nghệ mới biến ngành sách tương đối nhỏ hẹp thành một trong những lực lượng hùng mạnh nhất trong đời sống công cộng. Nó kích thích sự hồi sinh của văn học Hy Lạp cổ điển, sự phát triển ngôn ngữ viết của các tiếng địa phương và của chủ nghĩa dân tộc, sự bùng nổ Cải cách Tin Lành, sự ra đời của khoa học, và gần như mọi khía cạnh của đời sống và tri thức từ nông nghiệp tới động vật học.
Những ý tưởng của người Mông Cổ đã khơi gợi nhiêu khả năng mới trong tư tưởng châu Âu. Các tri thức mới, từ du ký của Marco Polo tới các biểu đồ sao chi tiết của Ulugh Beg cho thấy nhiều hiểu biết cổ điển của họ không đúng, và đồng thời mở ra con đường khám phá tri thức mới. Bởi Đế chế Mông Cổ dựa phần nhiều vào các ý tưởng mới và các cách tổ chức đời sống công cộng hơn là chỉ công nghệ, những ý tưởng này đã kích thích các ý tưởng và thử nghiệm mới ở châu Âu. Các nguyên tắc chung ở Đế chế Mông Cổ – tiền giấy, quốc gia lên trên nhà thờ, tự do tôn giáo, miễn trừ ngoại giao và luật quốc tế – là các ý tưởng giờ đây được coi trọng.
Ngay từ năm 1620, nhà khoa học Anh Francis Bacon đã nhận ra ảnh hưởng mà sự thay đổi của công nghệ đang tác động lên châu Âu. Ông coi in ấn, thuốc súng và la bàn là ba phát minh công nghệ nền tảng của thế giới hiện đại. Dù chúng “không được người cổ đại biết tới… ba đồ vật này đã thay đổi vẻ ngoài và tình trạng của cả thế giới; trước tiên là văn học, rồi chiến tranh, và sau cùng là định hướng.” Quan trọng hơn cả chính những phát minh này, từ chúng “vô số thay đổi đã sinh ra.” Công nhận tầm quan trọng của chúng, ông viết rằng “không đế quốc, giáo phái, hay vì tinh tú nào có sức mạnh và ảnh hưởng tới đời sống con người hơn những khám phá cơ học này.” Cả ba đều đã được truyền bá tới phương Tây vào thời kỳ Đế chế Mông Cổ.
Nhờ ảnh hưởng rộng khắp của giấy và in ấn, thuốc súng và vũ khí, và la bàn định hướng cùng các trang thiết bị hàng hải khác, châu Âu đã trải qua một thời kỳ Phục hưng theo đúng nghĩa đen, nhưng không phải thế giới Hy Lạp và La Mã cổ đại đã hồi sinh: đó là Đế chế Mông Cổ, được người châu Âu đem về và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu và văn hóa của họ.
Tháng Năm năm 1288, sau cuộc gặp Rabban Bar Sawma rồi nhận thư và quà của triều đình nhà Nguyên, Giáo hoàng Nicholas IV ban sắc lệnh cho xây dựng một nhà thờ chính toà mới ở Assisi cho dòng Phan Sinh của ông. Là Giáo hoàng Phan Sinh đầu tiên, Nicholas IV cùng những tín đồ khác có lẽ muốn đánh dấu sự trưởng thành của dòng tu của họ. Vì vậy, họ muốn những hình ảnh không chỉ tuyên bố vị trí mới của họ mà còn nhấn mạnh vào tầm quan trọng của các thành tựu dòng tu đã đạt được. Ở châu Âu, các tín đồ Phan Sinh có quan hệ thân thiết nhất với nhà Nguyên Mông. Cùng nhiều người khác, các tu sĩ trong đoàn sứ giả của Plano di Carpini, sứ giả đầu tiên tới Mông Cổ khi Quý Do được bầu làm Khắc hãn, và Wiliam xứ Rubruck, người tới thăm khi Hãn Mông Kha lên ngôi, đều theo dòng Phan Sinh. Các họa sĩ vay mượn các chủ đề và kỹ thuật của mỹ thuật Trung Hoa và Ba Tư do người Mông Cổ đem tới, có lẽ là từ chính những món quà của Rabban Bar Swama.
Các bức tranh đều bắt nguồn từ tác phẩm của Giotto di Bondone và các đồ đệ của ông, và chúng bắt nguồn từ một bộ tranh vẽ trong tu viện Phan Sinh ở Assisi. Dù các bức tranh tường trong nhà thờ minh họa những sự kiện trong cuộc đời chúa Jesus hơn một ngàn năm trước khi Đế chế Mông Cổ ra đời, hay của Thánh Francis, diễn ra chỉ ngay trước khi tiếp xúc với người Mông Cổ, các họa sĩ vẽ rất nhiều người là người Mông Cổ hay mặc trang phục và vải vóc Mông Cổ: “Trên các bức tranh tường, cuộc đời Thánh Francis được bọc trong nhung lụa theo đúng nghĩa đen – gần như mọi cảnh đều vẽ các loại vải hoặc nói lên câu chuyện, hoặc phủ trên các vệt cỏ tưởng tượng.” Bên cạnh lụa đơn thuần, họ cũng vẽ cả các tấm vải gấm thêu kim tuyến mà người Mông Cổ thích và dâng cho Giáo hoàng và vua chúa làm quà. Các họa sĩ đặt người Mông Cổ trong nhiều bức tranh Ki-tô giáo với quần áo, mũ đội và cung tên đặc trưng. Ngựa bắt đầu xuất hiện theo phong cách mỹ thuật Trung Hoa nhờ ảnh hưởng từ giao thương của người Mông Cổ. Các bức tranh cũng thể hiện ảnh hưởng châu Á rõ ràng khi vẽ vách đá và cây gồ ghề. Mỹ thuật châu Âu vốn phẳng và đơn chiều suốt thời Trung Cổ, đã sản sinh một loại hình lai mới không hẳn châu Âu hay châu Á; nó là một trường phái có chiều sâu, ánh sáng, vải vóc và ngựa mà sau này được gọi là nghệ thuật Phục hưng.
Khi đứng một mình, các hình ảnh này có lẽ chỉ cho thấy những họa sĩ đã nhận thấy sự đa dạng của khuôn mặt người trên thế giới, nhưng trong một tranh vẽ Áo choàng của Chúa Jesus năm 1306 ở Padua, tấm áo choàng không chỉ được làm theo kiểu và bằng vải Mông Cổ, mà phần diềm vàng cũng được vẽ bằng chữ Mông Cổ từ bộ chữ Phagspa do Hốt Tất Liệt đặt ra. Cũng trong nhà thờ đó, tội Ngoại tình mang hình ảnh một phụ nữ đội mũ bảo hộ làm từ ruột cây phơi khô – loại mũ mà Hốt Tất Liệt ưa thích. Các nhà tiên tri trong Kinh Cựu ước được vẽ đang cầm những cuộn giấy mở ra các dòng chữ Mông Cổ dài nhưng không thể đọc được. Những ám chỉ trực tiếp tới chữ viết và phục trang của triều Hốt Tất Liệt cho thấy một mối liên hệ không thể chối cãi giữa mỹ thuật Phục hưng Ý và Đế chế Mông Cổ.
Tương tự như việc các gương mặt và chữ viết Mông Cổ bắt đầu xuất hiện trong mỹ thuật Phục hưng châu Âu, những tư tưởng Mông Cổ cũng bắt đầu được nhắc tới trong các tác phẩm văn học và triết lý của thời kỳ này. Tính khiêu khích của các tư tưởng và chính sách Mông Cổ chắc chắn đã xuất hiện trong tác phẩm viết năm 1440 của giáo sĩ người Đức Nicholas xứ Cusa – tiểu luận Về sự ngu dốt của tri thức của ông có thể được xem đã mở đầu thời Phục hưng châu Âu. Ông đã làm việc với nhà thờ ở Constantinopolis trước khi nó rơi vào tay người Ottoman, và như các tác phẩm của ông sau đó tiết lộ, ông biết rõ các tư tưởng của nền văn minh Ba Tư, Ả-rập và Mông Cổ. Năm 1433, ông viết tiểu luận dài Về hòa bình của đức tin, trong đó nhắc tới những đoạn hội thoại tưởng tượng giữa đại diện mười bảy quốc gia và tôn giáo về cách tốt nhất để mang lại hòa bình và thấu hiểu toàn cầu. Tác giả thể hiện vốn hiểu biết không hề hời hợt về tư tưởng tôn giáo của Mông Cổ khi ông dẫn lời đại diện Tatar miêu tả đất nước mình là “một nhóm người đông đúc và đơn giản, thờ phụng một vị chúa trời hơn tất thảy, và bất ngờ trước số lượng nghi lễ mà những người cùng thờ phụng vị Chúa trời đó có. Họ khinh thường tục lệ khiến một số tín đồ Ki-tô giáo và tất cả người Ả-rập và Do Thái bị cắt bao quy đầu, những người khác bị khắc dấu lên lông mày, những người khác nữa lại bị rửa tội.” Ông cũng nhắc tới việc người Mông Cổ thấy các tục lệ và giáo lý của Ki-tô giáo rất khó hiểu, đặc biệt là “trong các hình thức hiến tế có hiến tế của đạo Ki-tô, tức là họ ban bánh mì và rượu vang và nói đó là thân thể và máu của Chúa. Họ ăn và uống những thứ hiến tế này sau lễ dâng bánh – quả là đáng ghê tởm. Họ ăn cái họ thờ.”
Nhân vật Tatar giả tưởng này nhắc lại chính xác những lời Hãn Mông Kha đã nói với sứ giả Pháp khi ông phê phán sự thù địch nguy hiểm giữa các tôn giáo trên thế giới: “Nghe theo lời dạy bảo của Chúa là đúng đắn. Nhưng người Do Thái nói họ nhận được những lời răn này từ Moses, người Ả-rập từ nhà tiên tri Mohammed, và người Ki-tô giáo từ chúa Jesus. Và có lẽ cũng có các quốc gia khác tôn sùng các nhà tiên tri của họ và nhận các giáo lý linh thiêng từ tay những nhà tiên tri ấy. Do vậy, làm sao chúng ta có thể đồng thuận được?” Câu trả lời của người Mông Cổ là sự hòa hợp tôn giáo cơ bản chỉ có thể đạt được khi tất cả các tôn giáo đều dưới quyền nhà nước.
Chuyến viếng thăm của các sứ giả Mông Cổ như Rabban Bar Sawma cho người châu Âu một cái nhìn hoàn toàn khác về những người Mông Cổ xa xôi và khác lạ. Không còn cảm thấy bị họ đe doạ, người châu Âu bắt đầu nhìn thấy ở đế quốc của Thành Cát Tư Hãn một lối sống khác đáng tò mò, khác với xã hội của chính họ. Nếu các nhà văn dùng người Hồi giáo để đại diện cho mọi thứ họ khinh thường, thì các câu chuyện về Mông Cổ lại tràn ngập các hình ảnh lãng mạn về một thế giới tốt đẹp hơn, theo cách nào đó là một xã hội hoàn mỹ tới không tưởng. Hình ảnh về sự vĩ đại của Mông Cổ thể hiện rõ nhất vào năm 1390 nhờ Geoffrey Chaucer. Ông đã đi Ý và Pháp nhiều vì mục đích ngoại giao, và có cái nhìn quốc tế hơn nhiều độc giả của mình. Trong Những câu chuyện xứ Canterbury, cuốn sách tiếng Anh đầu tiên, truyện về địa chủ kể lại một câu chuyện lãng mạn hoang đường về cuộc đời và những chuyến phiêu lưu của Thành Cát Tư Hãn.
Vị vua cao quý này mang tên Thành Cát Tư Hãn,
Trong thời ngài danh tiếng lẫy lừng
Tới mức không nơi đâu ở bất cứ vùng nào
Lại có vị chúa tể xuất chúng về mọi mặt như vậy.
Ngài chẳng thiếu gì mà một vị vua cần có.
Trong môn phái mà ngài được sinh ra
Ngài giữ vững luật lệ mà mình đã thề.
Và do vậy ngài cứng cỏi, thông thái và giàu sang,
Và dâng thương và công bằng, người người đều yêu mến;
Lời ngài xoa dịu, vô hại và đáng kính,
Lòng can trường vững vàng như cột trụ;
Trẻ trung, khỏe khoắn và mạnh mẽ, trong vòng tay thì đầy khao khát
Như mọi đàn ông chưa vợ trong gia tộc ngài.
Ngài công bằng và may mắn,
Và luôn chăm sóc cho hoàng cung cẩn thận
Người như ngài không nơi đâu lại có
Vị vua cao quý này, người Tartar Thành Cát Tư Hãn.