Thành Cát Tư Hãn Và Sự Hình Thành Thế Giới Hiện Đại

Lượt đọc: 1112 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
đế chế ảo ảnh

Khi Christopher Columbus lên tàu rời Tây Ban Nha vào năm 1492, ông đang hướng tới Cathay* vùng đất của Thành Cát Tư Hãn.

DAVID MORGA

NĂM 1332, nỗi hoang mang, hoảng loạn và đau đớn bùng phát bên trong các cung điện nghỉ dưỡng ở Thượng Đô, kinh đô mùa hè của nhà Nguyên. Cả hoàng tộc ở lại đó dù mùa hè đã qua từ lâu, và dù rất nỗ lực giữ kín bí mật về cuộc khủng hoảng, ai cũng nhận ra rằng các nhà trị vì Mông Cổ đang vướng vào một cuộc hỗn loạn lớn tới mức có thể đe doạ sự tồn vong của triều đại. Thông tin còn lại tới ngày nay chỉ cho ta những lời kể rối rắm về những gì đã xảy ra, nhưng có vẻ ngôi vị Khắc hãn chuyển giao liên tục từ anh sang em và từ cha sang con giữa một loạt các cuộc ám sát, biến mất và những cái chết không lý giải được. Từ năm 1328 tới năm 1332, ít nhất bốn thành viên Hoàng tộc đã lên ngôi, trong đó một người, Hãn Y Lân Chất Ban bảy tuổi, chỉ trị vì vỏn vẹn hai tháng trong năm 1332. Tất cả chìm đắm trong lo sợ. Trong hoàng gia, tất cả mọi người từ trẻ tới già, từ nô tì thấp hèn nhất tới Khắc hãn, đều có nguy cơ chịu cái chết thê thảm.

Bên ngoài kinh đô, không khí hoảng loạn hoang mang cũng lan tràn khắp nơi, nhưng mối đe doạ không tới từ giặc ngoại xâm hay quân bạo động. Nỗi sợ bắt nguồn từ một thứ hiểm độc và bí ẩn hơn nhiều, nhưng hệ quả nó mang tới thì rõ ràng khắp mọi nơi – bệnh dịch hạch. Một người có thể vẫn khỏe mạnh và buổi sáng, nhưng đột nhiên sốt cao, rồi run rẩy, nôn mửa và tiêu chảy. Cơ thể những người mới đây còn năng động và cường tráng đột nhiên bí ẩn khuỵu xuống rồi dần tan biến trước mắt những người thân hoảng sợ. Máu bắt đầu rỉ ra dưới lớp da khiến da biến màu, hình thành bướu, rồi máu và mủ rỉ xuống háng. Những cái bướu này, sau này được gọi là buboes (hạch) theo từ chỉ háng trong tiếng Hy Lạp, dần hình thành cả dưới nách và cổ, và từ đó sinh ra tên gọi y học “dịch hạch” cho căn bệnh này. Hạch khi quá lớn sẽ vỡ ra. Cơ thể thiếu oxy và máu khô lại dưới da khiến người bệnh có vẻ như chuyển màu đen; vì triệu chứng này, bệnh còn được gọi là Cái chết Đen. Chỉ sau vài ngày đau đớn cùng cực, bệnh nhân sẽ qua đời. Trong vài trường hợp, bệnh tấn công phổi thay vì hạch bạch huyết, và bệnh nhân chết chìm khi không khí trong phổi đầy máu và bọt. Khi chết, họ ho, hắt xì và thở dốc, làm lây bệnh cho những người xung quanh.

Theo những nguồn tư liệu có lý nhất nhưng không hoàn toàn được kiểm chứng, bệnh dịch này bắt nguồn từ phía nam Trung Hoa, và các chiến sĩ Mông Cổ đem theo nó về phía bắc. Vi khuẩn dịch hạch sống trong ruồi, chúng đậu trên chuột đi trong các chuyến hàng thực phẩm hay các cống phẩm khác từ miền Nam. Dù thông thường ruồi không lây bệnh cho người và tránh xa mùi ngựa, chúng sống trong các bao thóc, quần áo và những nơi khác gần người để chờ cơ hội đậu lên họ. Một khi những con ruồi mang mầm bệnh tới sa mạc Gobi, chúng dễ dàng tìm được nơi trú ẩn mới trong hang macmôt và đàn thú gặm nhấm, và vẫn tồn tại ở đó tới bây giờ. Trên vùng thảo nguyên Mông Cổ rộng rãi, bệnh dịch vẫn hiểm độc như vậy, song không nguy hiểm bằng nhờ môi trường ít dân cư. Ngay cả ngày nay, vào mùa hè, một số ít người vẫn chết vì dịch hạch, nhưng nhờ số dân ít ỏi sống giữa nhiều ngựa và không có nhiều ruồi trong nhà người Mông Cổ nên bệnh không bùng phát thành dịch. Trong khi đó, trong các khu vực thành thị đông đúc ở Trung Hoa và ở các khu thành thị khác sau này, căn bệnh tìm thấy môi trường sống hoàn hảo bởi chuột ở đây đã sống gần người rất lâu nên không ai nghĩ chúng là mầm mống gây bệnh.

Năm 1331, các nhà chép sử ghi lại rằng 90% dân chúng tỉnh Hồ Bắc đã chết. Tới năm 1351, khoảng một nửa tới hai phần ba dân số Trung Hoa đã chết vì bệnh dịch hạch. Đầu thế kỷ mười ba, dân số nước này ở khoảng 123 triệu người, nhưng tới cuối thế kỷ mười bốn đã giảm xuống chỉ còn 65 triệu người.

Trung Hoa là trung tâm sản xuất của Hệ thống Thế giới Mông Cổ, và cùng với dòng chảy hàng hóa đổ ra khỏi Trung Hoa, bệnh dịch cũng đi theo dường như đồng thời theo mọi hướng. Bằng chứng khảo cổ học ở các ngôi mộ gần trạm buôn bán cho thấy tới năm 1338, bệnh dịch hạch đi từ Trung Hoa qua dãy núi Thiên Sơn và càn quét một cộng đồng buôn bán theo đạo Ki-tô gần hồ Issyk Kul ở Kyrgyzstan. Dịch hạch là bệnh dịch của giao thương. Những con đường và xe kéo Mông Cổ kết nối thế giới Á-Âu trong thế kỷ mười ba và mười bốn không chỉ chở lụa và gia vị. Đường sá và trạm dừng chân người Mông Cổ dựng lên cho các lái buôn cũng là nơi luân chuyển ruồi và bệnh dịch. Cùng với vải vóc xa xỉ, gia vị lạ lẫm, và trang sức sang trọng, các xe kéo chở theo loài ruồi truyền dịch hạch từ trại này tới trại khác, làng này tới làng khác, thành phố này tới thành phố khác, và châu lục này tới châu lục khác. Nếu dịch hạch tàn phá một trạm nghỉ quan trọng trên đường qua núi hay chặn một lối di bảng qua sa mạc, nó có khả năng cô lập cả một khu vực rộng lớn trong đế quốc bao la.

Dịch hạch tới kinh đô Sarai của Kim Trướng Hãn Quốc ở hạ lưu sông Volga vào năm 1345. Vào lúc này, Hãn Kipchak Yanibeg đang chuẩn bị bao vây cảng Kaffa thuộc Crimea (Feodosija thuộc Ucraina ngày nay), một trạm buôn bán do lái buôn Genoa lập ra chủ yếu để xuất khẩu nô lệ Nga sang Ai Cập. Đôi lúc người Mông Cổ hợp tác với những kẻ buôn nô lệ người Ý, và lúc khác lại đàn áp hoạt động của họ. Người Mông Cổ đã nhiều lần đóng trạm buôn bán và trục xuất người Genoa, nhưng cuối cùng luôn nhân nhượng và cho họ trở lại. Để tự bảo vệ mình khỏi quân Mông Cổ và đảm bảo an toàn khi vận chuyển nô lệ, người Genoa xây một bức tường thành bảo vệ vững chãi bao quanh thành phố và một bức tường thứ hai bên trong để bảo vệ trung tâm trạm buôn bán.

Khi dịch hạch bùng phát trong quân đội Mông Cổ, Yanibeg buộc phải ngừng vây thành và rút quân, nhưng bệnh đã truyền từ doanh trại Mông Cổ tới bến cảng lân cận. Theo một báo cáo của châu Âu, Yanibeg cho ném xác bệnh nhân qua tường thành vào trong thành phố, và dù người Genoa cố thủ tiêu xác bằng cách ném họ xuống biển, dịch lại lan tràn. Dù được kể lại nhiều lần, câu chuyện này không dựa trên lời kể nhân chứng; nguồn tư liệu duy nhất là từ tài liệu của một luật sư tên Gabriele de Mussis làm việc gần Genoa ở thị trấn Piacenza. Ông lại nói rằng mình đã nghe chuyện này từ các thủy thủ. Vì các xác chết không thể thở để truyền bệnh cho mục tiêu theo cách thông thường, họ cần phải mang ruồi sống trên mình để lây bệnh cho thành phố. Câu chuyện khá đáng ngờ, không phải bởi quân Mông Cổ không sẵn lòng truyền bệnh theo cách đó, mà bởi có lẽ chiến lược này không chắc sẽ thành công.

Dù con người có muốn hay không, dịch hạch vẫn đã đang lan rộng và sẽ còn tiếp diễn. Khi người Genoa và các người tị nạn khác lên thuyền bỏ chạy khỏi cảng, họ mang theo bệnh tới Constantinopolis, từ đó nó dễ dàng lan tới Cairo ở Ai Cập và Messina ở Sicilia. Nếu thành phố là ngôi nhà lý tưởng cho bệnh dịch, môi trường khép kín trên tàu lại là nơi ủ bệnh lý tưởng, bởi ở đó người, chuột và ruồi cùng chung sống mà không có ngựa hay lửa – hai thứ ruồi kỵ nhất. Không còn bị giới hạn bởi tốc độ di chuyển chậm chạp trên các con đường buôn bán, nơi căn bệnh phải đợi đúng xe kéo hay chuyến hàng, dịch hạch lan tràn với tốc độ của gió căng buồm. Năm 1348, nó tàn phá các thành phố ở Ý, và tới tháng Sáu năm đó đã tới Anh. Tới mùa đông năm 1330, dịch hạch đã vượt biển Bắc Đại Tây Dương từ quần đảo Faroe qua Iceland tới Greenland. Nó có thể đã giết 60% dân số Iceland, và có lẽ là yếu tố chính yếu duy nhất dẫn tới sự diệt vong của người Viking đang suy tàn ở Greenland.

Trong vòng sáu mươi năm từ năm 1340 tới năm 1400, theo một số ước tính, dân số châu Phi giảm từ 80 triệu người xuống 68 triệu người, và châu Á từ 238 triệu người xuống 201 triệu người. Dân số toàn cầu – tính cả châu Mỹ, nơi chỉ bị dịch hạch tấn công hai thế kỷ sau – giảm từ khoảng 450 triệu người xuống tầm 350-375 triệu người, tức ít nhất 75 triệu người đã chết, hay hơn một triệu người chết mỗi năm trong giai đoạn còn lại của thế kỷ mười bốn. Khi thu thập được nhiều bằng chứng hơn, các nghiên cứu tiếp tục đẩy số thương vong lên cao hơn. Dân số châu Âu giảm từ khoảng 75 triệu người xuống 52 triệu người. Với số người chết lên tới khoảng 25 triệu, thương vong ở riêng châu Âu tương đương với số người chết trên toàn thế giới vì bệnh AIDS trong thế kỷ hai mươi. Song với châu Âu thế kỷ mười bốn, con số này bằng khoảng một phần ba tới một nửa tổng dân số. Trong khi đó, sau sức tàn phá kinh hoàng của Thế chiến II ở châu Âu, Anh mất gần 1% dân số, và Pháp – nơi chiến trận diễn ra kịch liệt – mất 1,5% dân số. Đức mất 9,1%. Nạn đói trên diện rộng đẩy tỉ lệ thương vong do Thế chiến II ở Ba Lan và Ucraina lên 19%, nhưng ngay cả con số này cũng thấp hơn nhiều tỉ lệ do dịch hạch gây ra vào thế kỷ mười bốn.

Dịch hạch tiêu diệt hoàn toàn dân số của một số vùng, trong khi một số thành phố khác lại gần như không làm sao. Một trong số ít những biện pháp hiệu quả được thành phố Milan áp dụng. Ngay khi một nhà có người mắc dịch hạch, chính quyền nhanh chóng khoá chặt căn nhà đó lại, nhốt tất cả mọi người – người ốm và người khỏe, cả bạn bè và người hầu – ở bên trong. Các thành phố khác thử một số cách ít hiệu quả hơn, như rung chuông hay cấm rung chuông. Nhưng dù có bùng phát hay không, dịch hạch vĩnh viễn thay đổi đời sống ở mọi nơi trên châu lục. Nó phá hủy trật tự xã hội vốn chi phối châu Âu từ khi La Mã sụp đổ, khiến cả châu lục nằm trong tình trạng hỗn loạn nguy hiểm. Cư dân thành thị cũng dễ mắc bệnh hơn, vậy nên tầng lớp có giáo dục và nghệ nhân có tay nghề cũng không còn. Trong và ngoài thành phố, môi trường khép kín và nhiễm bẩn của các tu viện và nữ tu viện tạo cơ hội hoàn hảo để bệnh dịch giết tất cả mọi người, một thảm kịch mà chế độ tu ở châu Âu nói riêng, và nhà thờ Công giáo La Mã nói chung, không bao giờ khắc phục được. Những ngôi làng đông dân cũng phải đối mặt với mối nguy tương tự, cũng như những người sống trong các lâu đài và lãnh địa.

Ảnh hưởng xã hội của dịch hạch được ghi chép lại rõ ràng nhất ở Florence, nơi dịch bùng phát vào năm 1348, trong ghi chép của Giovanni Boccaccio, một trong những người có nhiều bạn bè thân thiết và họ hàng qua đời vì nhiễm bệnh. Trong cuốn Mười ngày, mười tiểu thư trẻ và mười người đàn ông tìm cách chạy trốn bệnh dịch và trốn trong một biệt thự vùng quê và giết thời gian bằng việc kể chuyện. Trong thế giới Boccaccio miêu tả, chồng bỏ vợ, mẹ bỏ con chỉ để trốn dịch. Số người chết nhiều tới nỗi các thầy tu không có thời gian hành lễ và thợ đào mộ không thể lo cho mọi xác chết, nên xác bị ném vào các mồ chôn tập thể hay để cho chó và lợn ăn. “Quyền lực đáng kính của luật pháp – của người và thánh thần – bị hạ thấp và hoàn toàn biến mất.” Chính quyền “không thể thực hiện bất cứ quyền hành nào; ai cũng được tự do làm điều họ cho là đúng.”

Dù không hiểu được nguyên nhân thật sự của dịch hạch hay cách truyền bệnh, người dân vẫn nhanh chóng nhận thấy nó có liên quan mật thiết với việc buôn bán và dòng người ra vào thành phố. Các ghi chép của Boccaccio, Petrarch và những người khác vào thời đó cho thấy hai phản ứng chính với dịch hạch là bỏ thành phố nếu có thể, hoặc ít nhất là cấm người ngoài vào thành. Cả hai cách đều lập tức chặn đứng việc buôn bán, liên lạc và đi lại. Chính quyền địa phương khắp châu Âu đưa ra luật dịch hạch để ngăn cản dịch lây lan và kiểm soát phản ứng của dân chúng. Năm 1348, thành phố nhỏ Pistoia ở Toscana cấm người tới từ những vùng nhiễm bệnh, cấm nhập khẩu mọi loại vải đã qua sử dụng, và cấm bán hoa quả hay giết động vật có thể gây mùi chết chóc, bởi họ nghi ngờ đây có thể là nguyên do khiến bệnh lây lan. Tương tự, họ cấm ngành thuộc da, và do vậy việc buôn bán đồ da cũng đình trệ. Cư dân quay trở lại từ những nơi khác chỉ có thể mang hành lý tương đương khoảng mười ba cân. Không ai được gửi quà cho nhà có người chết vì dịch hạch hay tới thăm họ, và không ai được mua quần áo mới.

Các phái đoàn và thư từ ngoại giao ngừng hoạt động. Không còn hệ thống vận chuyển Mông Cổ, nhà thờ Công giáo không giữ liên lạc với các nhóm truyền giáo ở Trung Hoa. Người dân khắp mọi nơi sợ hãi và đổ tội cho người nước ngoài đã mang dịch tới, đe doạ hơn nữa giao thương quốc tế. Ở châu Âu, dân Ki-tô giáo lại một lần nữa quy trách nhiệm cho người Do Thái, bởi họ có liên đới nhiều tới việc buôn bán và với phương Đông – nguồn cơn của bệnh dịch. Một số người Do Thái bị nhốt trong nhà và thiêu sống, – số khác bị đưa ra ngoài và tra tấn trên giá cho tới khi thú tội. Dù Giáo hoàng Clement VI vào tháng Bảy năm 1348 đã ban sắc lệnh bảo vệ người Do Thái và yêu cầu các con chiên dừng việc ngược đãi, chiến dịch chống lại họ vẫn dâng cao. Vào ngày Valentine năm 1349, chính quyền Strasbourg đưa hai ngàn người Do Thái tới nghĩa địa Do Thái bên ngoài thành phố để thiêu sống tập thể. Một số người Do Thái được cho phép tự cứu mình khi họ thú tội và cải sang đạo Ki-tô, và vài trẻ em bị buộc cải đạo. Hơn một ngàn người bỏ mạng trong sáu ngày, thời gian cần thiết để thiêu sống tất cả họ, và cả thành phố cấm sự hiện diện của bất kỳ người Do Thái nào. Hết thành phố này tới thành phố khác bắt đầu tục lệ thiêu người Do Thái ở nơi công cộng để đẩy lùi dịch hạch. Theo những lời kể khoa trương của một nhà chép sử, giữa tháng Mười một năm 1348 và tháng Chín năm 1349, tất cả người Do Thái từ Cologne tới Áo đều đã bị thiêu chết. Ở những vùng Ki-tô giáo ở Tây Ban Nha, người dân cũng ngược đãi người Hồi giáo theo cách tương tự, đẩy nhiều người trong số họ tới lánh nạn ở Granada và Maroc.

Dịch hạch không chỉ cô lập châu Âu, nó còn chia cắt Mông Cổ khỏi Ba Tư, chia cắt Nga khỏi Trung Hoa và Mông Cổ. Triều đình Mông Cổ ở Ba Tư không thể lấy hàng từ các vùng đất và công xưởng họ sở hữu ở Trung Hoa. Hoàng tộc ở Trung Hoa không thể lấy hàng từ Nga hay Ba Tư. Khi các nhóm bị cô lập, hệ thống sở hữu đan cài sụp đổ. Dịch hạch đã tàn phá đất nước, làm người sống suy đồi, và khi cắt đứt buôn bán và cống nạp, làm Hoàng gia Mông Cổ mất nguồn hỗ trợ chính. Suốt gần một thế kỷ, người Mông Cổ đã lợi dụng lợi ích vật chất chung để vượt qua các đường ranh chính trị chia cắt họ. Ngay cả khi hi sinh sự đoàn kết chính trị, họ vẫn giữ được một đế chế thống nhất về vẫn hóa và giao thương. Khi dịch hạch tấn công, trung tâm không thể chống chọi, và cả hệ thống phức tạp sụp đổ. Đế chế Mông Cổ phụ thuộc và dòng chảy nhanh chóng và liên tục của người, hàng hóa và thông tin khắp nơi trong đế chế rộng lớn. Không có những liên kết này thì chẳng có đế chế nào cả.

Là những kẻ chinh phạt ngoại bang, Mông Cổ vốn được dân chúng nhân nhượng dù đông hơn có khi gấp một ngàn lần, bởi họ tiếp tục mang tới dòng chảy buôn bán lớn ngay cả khi quyền lực của quân đội không còn. Sau dịch hạch, khi cả việc buôn bán lẫn viện trợ quân sự từ những người Mông Cổ khác đều khó xảy ra, mỗi nhánh Hoàng tộc của Thành Cát Tư Hãn phải tự xoay xở trong một môi trường ngày càng khó đoán định và có thể dễ dàng trở nên thù địch. Thiếu cả hai lợi thế sức mạnh quân sự và lợi nhuận buôn bán, người Mông Cổ ở Nga, Trung Á, Ba Tư và Trung Đông tìm những phương tiện quyền lực và uy tín mới bằng cách kết hôn với dân chúng và cố tình đồng hóa về mặt ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa. Chính quyền Mông Cổ xóa bỏ những gì còn sót lại của Thần giáo, Phật giáo và Ki-tô giáo trong gia đình và củng cố niềm tin vào Hồi giáo bởi đó là tôn giáo chính của người dân, hay trong trường hợp của nhà Kim Trướng ở Nga, đó là tôn giáo của quân đội người Turk giúp họ tại vị.

Khi các thành viên khác của Hoàng gia Mông Cổ liên kết với những phe phái tôn giáo trong dân chúng, khoảng cách giữa các dòng dõi hoàng tộc lại càng xa. Khi nhà Kim Trướng ở Nga cải sang Hồi giáo, trước khi anh em họ của họ ở Iraq và Iran cũng cải đạo, họ liên minh với Ai Cập chống lại nhà Y Nhi. Sau đó, khi triều đình Y Nhi Hãn Quốc cải sang Hồi giáo, họ đổi qua lại giữa hai dòng Sunni và Shiite tùy theo điều kiện chính trị. Dưới thời Oljeitu – người Shiite sùng đạo nhất – một làn sóng ngược đãi các nhóm thiểu số như các Phật tử và người Do Thái đã diễn ra. Những nguyên lý chung trong đế quốc của Thành Cát Tư Hãn biến mất như làn khói.

Khi cải sang đạo Hồi, người Mông Cổ ở Trung Đông có vẻ như đang noi gương Hốt Tất Liệt. Ông đã giành quyền lực ở Trung Hoa bằng cách ra vẻ là người Trung Hoa. Nhưng hậu duệ của Hốt Tất Liệt ở Trung Hoa không thể tuân theo, hay có lẽ thậm chí không thể hiểu được, sự tài tình sắc sảo trong phương pháp của ông. Thay vì tiếp tục giống người Trung Hoa hơn nữa, chính quyền Mông Cổ tăng cường đàn áp và tự cô lập. Trong thời kỳ hỗn loạn này, một vài thành viên trong triều đình Mông Cổ nói rằng Thành Cát Tư Hãn xuất hiện trong giấc mơ của họ để yêu cầu đặt ra nhiều biện pháp nghiêm ngặt mới để đàn áp người Trung Hoa hơn nữa. Quan lại trong triều quyết định họ đã để người Trung Hoa quá tự do và người Mông Cổ đã du nhập quá nhiều văn hóa Trung Hoa vào đời sống. Thay vì tiếp tục đồng hóa vào văn hóa Trung Hoa, họ nhấn mạnh danh tính ngoại bang của mình và tách biệt bản thân hơn nữa khỏi ngôn ngữ, tôn giáo, văn hóa và kết hôn với người Trung Hoa. Ngày càng hoang tưởng, triều đình Mông Cổ ra lệnh tịch thu không chỉ mọi vũ khí của người Trung Hoa, mà cả các dụng cụ nông nghiệp bằng sắt, và giới hạn việc sử dụng dao. Họ cấm người Trung Hoa dùng ngựa, và lo ngại việc truyền mật thư, họ dừng mọi buổi biểu diễn kinh kịch và tục kể chuyện truyền thống và các buổi tụ tập công khai và riêng tư. Trước các biện pháp quá khích như vậy, dân chúng Trung Hoa ngày càng bất mãn, nghi ngờ và sợ hãi những người Mông Cổ trị vì. Tin đồn lan truyền rằng người Mông Cổ thủ tiêu rất nhiều trẻ em Trung Hoa, hay họ có kế hoạch giết tất cả những người mang họ Trung Hoa.

Nhằm nỗ lực trở nên khác người Trung Hoa nhất có thể, Mông Cổ bãi bỏ biện pháp công bình truyền thống với các tôn giáo, mà ngày càng ưu tiên và biệt đãi Phật giáo, nhất là nhánh Phật giáo Tây Tạng vốn rất trái ngược với tư tưởng Khổng giáo của người Trung Hoa. Không thể trực tiếp phê phán triều đình, người Trung Hoa chuyển sang căm ghét những người ngoại quốc giúp người Mông Cổ điều hành đế quốc. Đặc biệt các nhà sư Phật giáo Tây Tạng trở thành đối tượng bị căm ghét, bởi dân thường trên con đường người Mông Cổ mới mở tới Tây Tạng có trách nhiệm không chỉ cung cấp đồ ăn, nơi ở và phương tiện di chuyển cho các nhà sư, mà còn phải mang vác đồ cho họ. Các nhà sư thường mang vũ khí và có tai tiếng ngược đãi những người phục vụ họ. Tổng Chế Viện cực lực bảo vệ các nhà sư trong các phiên xử và cho họ nhiều đặc quyền. Có lúc họ tìm cách thi hành luật chặt tay những ai đánh nhà sư, hay ai lăng mạ hoặc sỉ nhục nhà sư, nếu bị buộc tội, sẽ bị cắt lưỡi. Chính quyền Mông Cổ sau này bãi bỏ các luật này bởi chúng đi ngược lại luật Mông Cổ, trong đó cấm lấy việc cắt xẻo cơ thể làm hình phạt.

Ngày càng xa cách dân chúng và không thể đưa ra các biện pháp hiệu quả ngăn chặn dịch hạch, các hãn Mông Cổ ở Trung Hoa trông cậy vào tâm linh của các nhà sư Tây Tạng. Các nhà sư khuyên họ nên quay lưng khỏi thế giới bên ngoài đầy các vấn đề hão huyền của xã hội, và thực hiện các hành động cứu vớt linh hồn họ. Các nhà sư thuyết phục hoàng gia rằng thả một tù nhân sẽ giúp họ tích đức cho vận mệnh kiếp sau, và các sư nhanh chóng biến đây thành một việc hái ra tiền. Một trong những nghi lễ kỳ lạ là một nhà sư trong triều mặc hoàng bào của Hoàng hậu thể đang thả chim trong lồng.

Giới sư Tây Tạng khuyến khích các hình thức tu mới theo nghi lễ Tantra, theo đó con đường khai sáng phải thông qua tình dục. Phong trào này không chỉ thúc đẩy mỹ thuật tính dục, mà còn khuyến khích hoàng gia tham gia các điệu nhảy gợi tình phức tạp và các nghi thức xoay quanh việc chính Khắc hãn tích cực tham gia trước con mắt soi xét của các Lạt Ma. Lời đồn về tính đồi truỵ và bí mật của các nghi lễ càng làm người Trung Hoa hoang mang và nghi ngờ, họ nghĩ rằng các lạt ma Tây Tạng đang hiến tế người giữa triều đình để kéo dài tuổi thọ vị hãn và bảo toàn đế chế dần suy tàn của ông ta.

Trong lúc các vua chúa Mông Cổ ở Trung Hoa tập trung vào thể hiện tâm linh và tính dục thì xã hội bên ngoài tường thành Tử Cấm Thành trong kinh đô sụp đổ. Triệu chứng rõ ràng nhất có lẽ là khi chính quyền Mông Cổ không còn có thể kiểm soát hệ thống tiền tệ mà họ rất nỗ lực tạo ra. Các nguyên lý để nền kinh tế sử dụng tiền giấy ngày càng phức tạp và khó đoán hơn các quan lại dự tính, và hệ thống dần vuột khỏi tầm kiểm soát. Chỉ cần triều đình thể hiện dấu hiệu nhỏ nhất của một điểm yếu, niềm tin vào hệ thống tiền tệ sụt giảm và khiến nó mất giá, trong khi đó giá đồng và bạc ngày càng tăng. Lạm phát tăng cao tới mức năm 1356 tiền giấy đã mất giá hoàn toàn.

Nhà Nguyên sụp đổ rất nhanh chóng ở Ba Tư và Trung Hoa – lần lượt vào các năm 1335 và 1368. Người Mông Cổ ở Y Nhi Hãn Quốc biến mất, hoặc bị giết hoặc trở thành một phần dân chúng. Ở Trung Hoa, Khắc hãn Thoát Cổ Tư Thiếp Mộc Nhi và khoảng sáu vạn người Mông Cổ đã trốn thoát quân khởi nghĩa nhà Minh, nhưng họ vẫn bỏ lại khoảng bốn mươi vạn người hoặc bị người Trung Hoa bắt và giết, hoặc hòa vào dân chúng. Những người tìm được đường về Mông Cổ quay về với lối sống chăn thả gia súc du canh du cư, hồ như toàn bộ giai đoạn ở Trung Hoa từ năm 1211 tới năm 1368 chỉ là một cuộc nghỉ kéo dài ở doanh trại mùa hè phía nam. Kim Trướng Hãn Quốc ở Nga phân rã thành nhiều nhóm người nhỏ ngày càng mất quyền lực suốt bốn thế kỷ. Trong suốt thời gian dài đó, người Mông Cổ và các đồng minh người Turk hợp nhất thành nhiều tộc người Turk – Mông có danh tính khác nhau và khác với xã hội Slav.

Sau khi lật đổ nhà Nguyên, triều đình nhà Minh đắc thắng ra lệnh cấm người Trung Hoa mặc trang phục Mông Cổ, đặt tên Mông Cổ cho con, hay theo các tập quán ngoại lai khác. Nhằm hồi phục các nguyên tắc trị quốc và sinh hoạt của Trung Hoa, nhà Minh loại bỏ có hệ thống nhiều chính sách và thể chế của nhà Nguyên. Họ trục xuất các thương nhân Do Thái, Ki-tô giáo và Hồi giáo được nhà Nguyên khuyến khích định cư ở Trung Hoa, và tấn công trực diện vào hệ thống giao thương của nhà Nguyên khi bãi bỏ hoàn toàn đồng tiền giấy đang suy yếu và quay lại dùng kim loại. Họ bãi bỏ Phật giáo Lạt Ma Tây Tạng được nhà Nguyên bảo trợ, mà thay vào đó là các tư tưởng và truyền thống Đạo giáo và Khổng giáo. Sau khi nỗ lực hồi sinh hệ thống buôn bán của nhà Nguyên nhưng không thành, họ đốt tàu thuyền, cấm người Trung Hoa ra nước ngoài, và sử dụng một phần lớn tổng thu nhập quốc dân để xây những bức tường lớn nhằm cấm cửa người nước ngoài và khoá người Trung Hoa bên trong. Khi làm vậy, triều đình Trung Hoa mới đã đẩy hàng ngàn người dân của họ vào cảnh mắc kẹt ở các bến cảng Đông Nam Á.

Để ngăn ngừa mối đe doạ bị Mông Cổ tái xâm lược, nhà Minh ban đầu dời kinh đô về Nam Kinh ở phía nam, một nơi mang tính Trung Hoa hơn, nhưng thái độ và hành động của dân chúng cho thấy việc trị vì một nước Trung Hoa thống nhất phải gắn liền với kinh đô phía bắc, vậy nên nhà Minh lại phải dời đô về kinh đô nhà Nguyên cũ ở Khanbalik. Họ cố gắng cải tổ kinh thành, phá bỏ lớp vỏ Mông Cổ và cho xây lại một Tử Cấm Thành mới theo phong cách của riêng mình. Trừ một số ít ngoại lệ, kinh đô này vẫn tồn tại với nhiều tên gọi khác nhíu, và Bắc Kinh tới nay vẫn là thủ đô của Trung Hoa, và biến giới Trung Hoa vẫn khá giống như dưới thời nhà Nguyên.

Lần lượt ở các quốc gia khác, khởi nghĩa dân chúng đánh đuổi người Mông Cổ, và tầng lớp thượng lưu địa phương lên nắm quyền. Triều Tiên, Nga và Trung Hoa quay về dưới tay các triều đại bản địa, còn các vùng lãnh thổ Hồi giáo trải qua một thời kỳ chuyển giao phức tạp hơn. Thay vì lại do người Ả-rập – các thương nhân, người trung gian, chủ nhà băng, người chở hàng và các người kéo xe đã kết nối châu Âu với châu Á – một nền văn hóa lai kết hợp hệ thống quân sự Thổ – Mông với thể chế luật pháp Hồi giáo và văn hóa truyền thống Ba Tư đã ra đời. Phía đông thế giới Hồi giáo đã tìm được tự do văn hóa mới nơi họ vẫn có thể là người Hồi giáo mà không bị người Ả-rập đàn áp, bởi họ sẽ không bao giờ để chúng giành lại quyền lực. Những triều đại mới như Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ, Safavid ở Ba Tư, và Mogul ở Ấn Độ – cũng được gọi là các đế quốc Thuốc Súng – phụ thuộc nhiều vào những cải tiến vũ khí của Mông Cổ, một tổ chức quân sự dựa trên cả kỵ binh và bộ binh có vũ khí, cũng như việc sử dụng súng ống để đánh kẻ thù ngoại bang, và có lẽ quan trọng hơn, để khẳng định quyền lực trong nước với dân chúng đa sắc tộc.

Bất chấp dịch hạch và sự sụp đổ của hệ thống giao thương, những cuộc khởi nghĩa, và sự tan rã của Đế chế Mông Cổ, thì thậm chí quân khởi nghĩa cũng ngần ngại không muốn quên lãng đế quốc cũ hoàn toàn, triều đại mới vẫn dựa vào các dấu hiệu và ảo ảnh của hệ thống cũ để hợp pháp hóa quyền lực của họ. Lớp vỏ bọc của Đế chế Mông Cổ vẫn ở đó rất lâu sau khi phần cấu trúc bên trong đã sụp đổ và người Mông Cổ đã biến mất.

Sau khi thanh lọc mọi ảnh hưởng của Mông Cổ trong đời sống người dân, nhà Minh mất rất nhiều công sức tìm kiếm ấn triện của nhà Nguyên, và vẫn tiếp tục dùng tiếng Mông Cổ trong ngoại giao để giữ liên kết với quá khứ. Tới tận cuộc chinh phạt Constantinopolis của nhà Ottoman vào năm 1453, triều đình Trung Hoa vẫn gửi thư bằng tiếng Mông Cổ. Tương tự, những người Mãn Thanh lật đổ nhà Minh vào năm 1644 cũng cố tình kết hôn với hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn để có thể tuyên bố họ là hậu duệ của ông về cả huyết thống và tinh thần.

Ở giữa Trung Á, hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn tiếp tục trị vì ở vùng đất mang tên gọi Mogulistan – tên tiếng Ba Tư của lãnh thổ Mông Cổ. Tới cuối thế kỷ mười bốn, đất đai Mông Cổ ở Trung Á đã rơi vào tay Thiếp Mộc Nhi, còn gọi là Tamerlane, tức “Timur Què,” một chiến binh người Turk tự xưng là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, dù có rất ít chứng cứ. Ông nỗ lực hồi sinh Đế chế Mông Cổ và đã chinh phục được một phần khá lớn lãnh thổ cũ từ Ấn Độ tới Địa Trung Hải. Nhằm liên đới bản thân với Thành Cát Tư Hãn, Thiếp Mộc Nhi bảo trợ cho một số cuốn sách có liên kết hai người. Để đảm bảo dòng dõi của ông có dòng máu của Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ, gia đình ông kết hôn với một số hậu duệ đích thực của Thành Cát Tư Hãn. Dù Thủ hiến Thiếp Mộc Nhi rất nỗ lực khôi phục Đế chế Mông Cổ, ông không tuân theo đường lối của Thành Cát Tư Hãn. Ông giết người không cần lý do và dường như luôn tìm thấy một niềm vui bệnh hoạn khi tra tấn và làm nhục tù nhân của mình. Khi ông bắt được sultan của vương quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ, ông ép ông ta phải xem các vợ và con gái mình khỏa thân phục vụ bữa tối – và cả nhu cầu tình dục, và theo một số ghi chép – cho mình. Người ta nói rằng Thiếp Mộc Nhi đóng yên cương lên người vị sultan như với súc vật, bắt ông ta kéo xe ngựa rồi mang ra phô bày trong lồng.

Vì Thiếp Mộc Nhi tự xưng là người Mông Cổ, và đúng là con rể hợp pháp trong hoàng tộc của Thành Cát Tư Hãn, cùng với hành vi của những người Mông Cổ trước đây, các hành vi của ông ta đương nhiên bị đan cài vào trong tâm trí của những người đã từng bị cả hai cai trị. Người Mông Cổ chẳng khác nhau là mấy. Khi Thiếp Mộc Nhi sung sướng tra tấn công khai hay chất đầu người chết thành tháp bên ngoài các thành phố bại trận, người ta tin rằng ông ta đang tiếp tục các truyền thống của người Mông Cổ. Các hành vi của Thiếp Mộc Nhi bị nhầm là cũng của Thành Cát Tư Hãn.

Các hậu duệ của Thiếp Mộc Nhi được sử sách biết tới là người Mogul ở Ấn Độ. Babur, người sáng lập triều đại mới này vào năm 1519, là con cháu đời thứ mười ba của Sát Hợp Đài, con trai thứ hai của Thành Cát Tư Hãn. Đế quốc Mogul đạt đến đỉnh cao dưới thời cháu trai của Babar là vua Akbar, người cai trị từ năm 1556 tới năm 1608. Ông có tài trị quốc cũng như hiểu rõ giá trị của việc giao thương như Thành Cát Tư Hãn. Ông bãi bỏ thuế jizya áp lên người không theo đạo Hồi rất bị căm ghét. Akbar tổ chức kỵ binh theo truyền thống đơn vị thập phân của Mông Cổ (tới tối đa năm ngàn lính) và thiết lập hệ thống quan lại dựa trên tài năng. Giống như khi người Mông Cổ biến Trung Hoa thành trung tâm sản xuất và giao thương năng suất nhất thời kỳ đó, người Mogul cũng biến Ấn Độ thành quốc gia sản xuất và giao thương lớn nhất thế giới, cũng như nâng cao vị thế phụ nữ – điều trái ngược với truyền thống của cả Hồi giáo và Ấn Độ giáo. Ông duy trì cách nhìn nhận tôn giáo phổ quát và cố gắng gộp mọi tôn giáo thành một Đức tin Linh thiêng, Din-i-Illah, với một Chúa trời trên Thiên đường và một hoàng đế trên Trái đất.

Bởi có rất nhiều dế quốc cố gắng níu kéo ảo ảnh của Đế chê Mông Cổ về mọi mặt, từ chính trị tới nghệ thuật, công chúng dường như nhất quyết không tin rằng nó không còn nữa. Không nơi đâu niềm tin vào sự tồn tại của đế chế lại mạnh mẽ hay quan trọng hơn ở châu Âu, nơi mà vào năm 1492, hơn một thế kỷ sau khi vị hãn cuối cùng trị vì Trung Hoa, Christopher Colombus thuyết phục hai quân chủ Isabella và Ferdinand rằng ông có thể tái lập liên lạc qua đường biển và hồi sinh tuyến đường giao thương đã mất với triều đình Mông Cổ của Khắc hãn. Sau khi hệ thống liên lạc với người Mông Cổ tan rã, người châu Âu không biết rằng đế quốc đã sụp đổ và Khắc hãn đã bị soán ngôi. Do vậy, Columbus khẳng định rằng dù người Hồi giáo đã chặn con đường bộ từ châu Âu tới triều Nguyên, ông có thể đi tàu về phía tây từ châu Âu qua Đại dương Thế giới và đi tới miền đất Marco Polo đã miêu tả.

Columbus lên đường đi tìm người Mông Cổ, mang theo một bản sao những chuyến đi của Marco Polo với nhiều ghi chú và quan sát để chuẩn bị cho việc tiếp kiến triều đình. Với Columbus, Marco Polo không chỉ là nguồn cảm hứng, mà còn là một hướng dẫn viên đích thực. Khi tới Cuba sau khi đi qua nhiều đảo nhỏ hơn, Columbus nghĩ rằng ông đang ở rìa vương quốc của Khắc hãn và sẽ sớm tìm ra vương quốc Cathay của Mông Cổ. Columbus tin rằng vùng đất của vị hãn chỉ cách một chút về phương bắc, nơi ngày nay ta biết là lục địa Hoa Kỳ. Vì ông không tìm được đất nước của Khắc hãn Mông Cổ, ông nhận định rằng những người dân ông gặp hẳn là láng giềng phía nam của người Mông Cổ ở Ấn Độ. Do vậy, Columbus gọi những người thổ dân châu Mỹ là Anh-điêng, và đây vẫn là tên gọi của họ cho tới ngày nay.

Nếu những tác gia và nhà thám hiểm thời Phục hưng công khai ngưỡng mộ Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ, thì Triết học Khai sáng ở châu Âu thế kỷ mười tám sản sinh ra một tinh thần bài Á ngày càng mạnh, và tập trung đặc biệt vào người Mông Cổ như biểu tượng của mọi điều xấu xa hay khiếm khuyết trên lục địa rộng lớn này. Ngay từ năm 1748, triết gia người Pháp Montesquieu đã mở đường trong khái luận Bàn về tinh thần pháp luật, trong đó ông tỏ thái độ khinh thường người châu Á và coi người Mông Cổ là nguồn cơn cho các phẩm chất đáng ghê tởm của họ. Ông gọi người Mông Cổ là “những kẻ lập dị nhất trên Trái đất.” Ông miêu tả họ vừa là những tên nô lệ hèn hạ vừa là những ông chủ độc ác. Ông quy trách nhiệm mọi cuộc tấn công lên các nền văn minh lớn từ Hy Lạp cổ đại tới Ba Tư cho họ: “Chúng đã phá hủy châu Á, từ Ấn Độ tới tận Địa Trung Hải; và biến mọi đất nước ở phía đông Ba Tư thành hoang mạc.” Montesquieu ca ngợi nguồn gốc bộ lạc của người châu Âu là dấu hiệu của nền dân chủ, nhưng lại khinh rẻ các bộ lạc châu Á: “Những tên Tartar, những kẻ đã phá hủy Đế chế Hy Lạp, thiết lập ở những nơi chúng chiếm được chế độ nô lệ và chuyên quyền: người Goth*, sau khi trấn áp Đế chế La Mã, đã lập ra chế độ quân chủ và tự do.” Dựa trên lịch sử này, ông nhanh chóng phủ nhận mọi nền văn minh châu Á: “Một tinh thần nô lệ ngự trị châu Á và chưa bao giờ họ rũ bỏ được nó, và không đâu trong lịch sử nước này ta có thể tìm được một đoạn văn bày tỏ sự tự do trong tinh thần; ở đó ta sẽ không thể thấy gì ngoài sự nô lệ quá mức.”

Thành Cát Tư Hãn trở thành tâm điểm để công kích. Voltaire viết một vở kịch phỏng theo vở tạp kịch triều Nguyên Triệu thị cô nhi (Con côi nhà họ Triệu) của Kỷ Quân Tường. Để phục vụ mục đích chính trị và xã hội của riêng mình, ông thay thế nhân vật vua Pháp bằng Thành Cát Tư Hãn, ở đấy được miêu tả là kẻ phản diện ngu dốt và độc ác. Vở kịch được ông đặt tên là Con côi Trung Hoa, và ra mắt trên sân khấu kịch Paris vào năm 1755 trong lúc Voltaire đang ẩn dật an toàn ở Thụy Sĩ. “Ta đã giới hạn kế hoạch của mình trong thời điểm kỷ nguyên Thành Cát Tư Hãn mở ra,” ông giải thích. “Ta muốn miếu ta cách hành xử của người Tartar và Trung Hoa: những sự kiện hấp dẫn nhất chẳng là gì nếu nó không khắc họa được lối hành xử; và bức tranh này, một trong những bí mật lớn nhất của mỹ thuật, sẽ chẳng hơn gì một trò tiêu khiển vô bổ nếu nó không khơi gợi được những suy nghĩ về danh dự và phẩm giá.” Voltaire miêu tả Thành Cát Tư Hãn là “Vua của các vị vua, Thành Cát Tư Hãn hung hăng / Kẻ làm tan hoang các đồng ruộng màu mỡ của châu Á.” Ông gọi Thành Cát Tư Hãn là “một tên lính Scythia hoang dại sinh ra trong gươm đao / Và rèn luyện trong máu đổ.” Trong lịch sử do Voltaire viết lại, các chiến binh Mông Cổ chỉ là “đám con man rợ của phường cướp bóc, chúng sống trong lều, trên xe ngựa, và trên ruộng đồng.” Chúng “căm ghét nghệ thuật, tập quán và luật lệ của ta, và do vậy muốn thay đổi tất thảy, muốn biến đế quốc huy hoàng này thành một hoang mạc rộng lớn như của chúng.”

Đức tính duy nhất của Thành Cát Tư Hãn trong vở kịch của Voltaire là việc ông miễn cưỡng thừa nhận đạo đức ưu việt của những người có giáo dục hơn. Voltaire dẫn lời Thành Cát Tư Hãn như sau: “Càng quan sát nhiều, ta càng ngưỡng mộ những kẻ phi thường này, vĩ đại cả về nghệ thuật và chiến đấu, cả về học thức và hành vi; những vị vua của họ dựa vào tri thức mà có được mọi quyền lực.” Thành Cát Tư Hãn kết thúc vở kịch bằng câu hỏi: “… ta giành được gì từ những thắng lợi của mình, từ những vòng nguyệt quế tội lỗi vấy máu”? Voltaire đáp: “… những giọt nước mắt, tiếng thở dài, lời nguyền rủa của nhân loại.” Bằng những từ ngữ này, chính Voltaire đã mở đầu cho làn sóng nguyền rủa người Mông Cổ của thời hiện đại.

Dù khắc họa Thành Cát Tư Hãn rất tiêu cực, mục tiêu chính của Voltaire là vua Pháp, nhưng ông không dám chỉ trích trực tiếp. Thay vào đó, ông dùng người Mông Cổ làm đại diện cho tất cả những gì xấu xa để miêu tả nước Pháp của mình. Những nhà văn khác nhanh chóng bắt chước cách dùng người Mông Cổ làm biểu tượng cho mọi điều xấu xa trên thế giới, và người Mông Cổ trở thành nạn nhân của một cuộc tấn công khoa học và văn học trường kỳ. Lời chỉ trích mới xuất hiện ẩn ý trong tác phẩm của nhà thơ và nhà soạn kịch người Ý Giovanni Casti. Ông đã sống một thời gian dài trong triều đình Hapsburg và sau này trong triều đình của Catherine Đại đế ở Nga. Không dám trực tiếp chỉ trích những vị vua chúa đang bảo trợ cho mình, ông dùng hình ảnh người Mông Cổ làm kẻ phản diện trong Poema Tartaro và trong vở opera năm 1778 Hốt Tất Liệt, Khắc hãn của người Tartar do Antonio Salieri, đối thủ của Wolfgang Mozart trong triều Hapsburg, soạn nhạc. Nhận ra những ý tưởng nguy hiểm tiềm tàng trong vở kịch, Hoàng đế La Mã Thần thánh cấm vở opera vì sợ rằng nó sẽ kích động các phần tử nổi loạn.

Tuy nhiên, cơ sở lý giải nguy hiểm nhất cho sự thấp kém của người châu Á không tới từ các nhà triết học hay họa sĩ châu Âu, mà từ các nhà khoa học, những nhà trí thức sinh ra từ Kỷ nguyên Khai sáng. Giữa thế kỷ mười tám, nhà tự nhiên học người Pháp Bá tước xứ Buffon viết cuốn bách khoa toàn thư lịch sử tự nhiên đầu tiên, trong đó ông miêu tả trên phương diện khoa học các nhóm người chính, với người Mông Cổ là nhóm quan trọng nhất ở châu Á. Dường như lời miêu tả của ông lại lặp lại lối viết hoảng loạn của Matthew Paris và Thomas xứ spalato hơn năm trăm năm trước. “Môi to và dày, có nhiều khe nứt ngang,” Buffon viết. “Lưỡi dài, dày và thô. Mũi nhỏ. Da có sắc vàng xỉn nhẹ, thiếu đàn hồi, có vẻ quá lớn so với cơ thể.” Ông nói rằng phụ nữ Tartar “cũng biến dạng như nam giới.” Văn hóa của họ với ông có vẻ cũng xấu xí như gương mặt: “Phần lớn các bộ lạc này đều xa lạ với tôn giáo, đạo đức và phép tắc. Chúng ăn cướp thành nghề.” Được dịch từ tiếng Pháp sang các ngôn ngữ châu Âu chính khác, tác phẩm của ông trở thành nguồn thông tin chủ chốt trong thế kỷ mười tám và mười chín.

Các nhà khoa học châu Âu tìm cách phân loại mọi thứ, từ các giống chó và ngựa tới giống hoa hồng và bồ công anh. Nhà động vật học người Đức Friedrich Blumenbach, Giáo sư y khoa tại Đại học Gottingen từ năm 1776 tới năm 1835, đã phân loại người theo động vật học dựa trên so sánh giải phẫu, đặc biệt là về sắc da, màu tóc và mắt, dạng hộp sọ, và các đặc điểm gương mặt như hình dạng và kích thước mũi, má, mồi. Theo nghiên cứu của ông, loài người theo tự nhiên gồm ba chủng tộc chính tương ứng với châu Phi, châu Á và châu Âu, và hai nhóm phụ ít quan trọng hơn Mỹ và Malay. Theo lý thuyết người châu Á bắt nguồn từ Mông Cổ, ông gọi tất cả là người Mongoloid. Các nhà khoa học châu Âu nhanh chóng đồng tình với lý thuyết này và biến nó thành chân lý khoa học.

Hẳn nhiên, cách phân loại này cũng ám chỉ cấp bậc tiến hóa của các chủng tộc, như nhà khoa học người Scotland Robert Chambers đã nói trong cuốn sách bán chạy năm 1844 của ông, Vestiges of the Natural History of Creation [Dấu tích lịch sử kiến tạo tự nhiên]. Ông giải thích: “Những đặc tính nổi trội của các chủng tộc người chỉ đơn giản là đại diện cho các giai đoạn phát triển của chủng tộc da trắng tối ưu nhất.” Nếu so sánh với người da trắng, “người Mông Cổ là một đứa trẻ sơ sinh mới ra đời.”

Những nhà thuyết học này nhanh chóng thấy rằng chủng tộc Mongoloid có quan hệ gần gũi với đười ươi. Hai bên không chỉ tương đồng về nét mặt, mà còn cả dáng điệu. Người châu Á cũng như đười ươi đều ngồi khoanh chân trong tư thế “Mông Cổ” hay “Đức Phật.” Dần dần, nhóm Mongoloid mở rộng ra, bao gồm cả thổ dân châu Mỹ, người Eskimo, người “phía bắc Trung Hoa, nam Trung Hoa, Tây Tạng, thổ dân nam Trung Hoa, Mông Cổ, vài nhóm người Turk, người Thông Cổ Tư*, Triều Tiên, Nhật Bản, và người Á cổ*.

Một khi đã được đặt ra và được khoa học Tây phương chấp nhận rộng rãi, hệ thống phân loại người Mongoloid gợi ra những lối vận dụng mới. Dựa trên miêu tả cơ thể trẻ bị thiểu năng trí tuệ có nét mặt châu Á, các nhà khoa học thời này thấy rằng chúng hẳn cũng thuộc chủng tộc Mongoloid. Robert Chambers là người đầu tiên ghi chép mối liên hệ giữa trẻ thiểu năng và “chủng tộc Mongoloid” trong nghiên cứu của ông năm 1844. Ông cho rằng căn bệnh có liên quan tới loạn luân: “Cha mẹ có quan hệ huyết thống quá gần thường sinh ra con thuộc chủng tộc Mongoloid – tức là những người sau khi trưởng thành vẫn là một dạng trẻ con.” Năm 1867, Tiến sĩ John Langdon Haydon Down, Giám sát Trại tâm thần cho Người đần độn Earlswood ở Surrey, Anh quốc, đã định hình hệ thống phân loại mới trong bài “Những quan sát về phân loại sắc tộc của người trì độn,” in trong Tạp chí Khoa học Tâm thần của Anh. Các nhà khoa học gợi ý rằng nguyên nhân của chứng bệnh Mongoloid, bên cạnh loạn luân và các hành vi lệch lạc khác, còn là do chế độ ăn uống không đầy đủ, tâm trạng lo âu của người mẹ, sử dụng quá nhiều nước hoa, người cha nghiện rượu, và tinh trùng hai đầu.

Để tìm kiếm lời giải thích lịch sử trực tiếp hơn vì sao những đứa trẻ này lại có đặc tính cơ thể của người châu Á, các nhà khoa học tìm ra một mối liên hệ sinh học cụ thể ở cuộc xâm lược châu Âu của người Mông Cổ vào thế kỷ mười ba. Theo lời giải thích mới này, qua thời gian, các bộ lạc đạo tặc người Hung, Avar và Mông Cổ đã ảnh hưởng tới gene di truyền ở châu Âu khi họ được cho là đã hãm hiếp phụ nữ da trắng. Con cháu mang những gene này thỉnh thoảng lại bùng phát ở thời hiện đại, khi những phụ nữ châu Âu có vẻ “bình thường” sinh ra đứa trẻ liên quan tới người Mông Cổ. Con trai của Tiến sĩ Down phát triển lý thuyết của cha mình khi tiết lộ rằng trong nghiên cứu y học của ông, ông thấy rằng những người đần độn này có nguồn gốc từ một dạng sơ khai hơn của người Mông Cổ, và nên được coi là người sơ khai, chứ không phải là người.”

Trong cuốn sách nổi tiếng năm 1924, The Mongol in Our Midst [Người Mông Cổ giữa chúng ta], nhà vật lý học người Anh Francis G. Crookshank dễ dàng vừa gọi người Mongoloid là một chủng tộc vừa là một nhóm tâm thần. “Dấu hiệu bệnh Mongoloid” theo ông gồm dái tai nhỏ, hậu môn nhô ra, và bộ phận sinh dục nhỏ ở cả nam và nữ. Kết luận rõ ràng của mối liên kết giữa trẻ thiểu năng với một chủng tộc khác này là những đứa trẻ này không thuộc về cộng đồng hay thậm chí cả gia đình đã sinh ra chúng. Như Crookshank giải thích, những cá thể này “là một chủng tộc khác. Dù thế nào đi chăng nữa, họ không hẳn giống như những người đàn ông và phụ nữ xung quanh. Họ thật sự là “người Mông Cổ ở xứ khác.” Bởi theo các bác sĩ và quan chức, những đứa trẻ này khác chủng tộc với cha mẹ, chúng nên bị thải loại. Trẻ em thiểu năng chỉ là ví dụ cực đoan của hiện tượng “Tính Mông Cổ (hay Tính Đười ươi) di truyền” phổ biến hơn. Theo thuyết này, người Mông Cổ da trắng phải chịu trách nhiệm cho không chỉ bệnh thiểu năng, mà còn cả tội lỗi và tinh thần nhu nhược ở phương Tây. Theo thuyết này, người Do Thái đặc biệt chịu nhiều ảnh hưởng của Mông Cổ bởi họ đã giao phối với người Khazar và các bộ lạc thảo nguyên khác, rồi mang dấu ấn di truyền xuống cấp đó theo tới khắp châu Âu.

Trong các thuyết tiến hóa về chủng tộc và bệnh thiểu năng, cộng đồng khoa học tích cực cung cấp các chứng cứ có vẻ khách quan về cái mà những kẻ mị dân chính trị và chủ toà soạn của thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi gọi là Hiểm họa Da vàng. Bởi nhiều quốc gia Đông Á không muốn tiếp thu văn minh Tây phương, các nước thực dân châu Âu kịch liệt công kích họ. Dù nỗi sợ Hiểm họa Da vàng áp dụng với mọi đối tượng như người Philippines và Triều Tiên, nó tập trung vào hai mối nguy lớn: Trung Hoa và Nhật Bản. Bởi Nhật Bản công nghiệp hóa và xây dựng một quân đội lớn, còn Trung Hoa tiếp tục kháng lại nỗ lực thuộc địa hóa và cưỡng ép cải sang Ki-tô giáo, người châu Á trong mắt công chúng phương Tây trở thành kẻ địch.

Suốt thế kỷ mười chín, nỗi sợ châu Á dâng cao tại châu Âu; điều này có thể thấy rõ trong bài thơ mà nhà thơ biểu tượng người Nga Vladimir Sergeevich Soloviev viết vào năm 1894, mang cái tên đơn giản “Mông Cổ hóa mọi nơi.” Mối đe doạ từ Trung Hoa và Nhật Bản đối với các giá trị của văn minh hiện đại theo ông cũng tương tự như thời Thành Cát Tư Hãn, khi “từ phía đông một nhóm người xa lạ” tấn công và phá hủy văn minh. Giờ đấy điều này lại tái diễn: “Một bầy bộ lạc mới thức tỉnh chuẩn bị tấn công lần nữa. Từ dãy Altay tới bờ biển Mã Lai / các thủ lĩnh đảo phía đông / đã triệu tập các đội quân / tới các bức tường bại trận của Trung Hoa. / Đông như châu chấu / và cũng khát máu như vậy, / được một thế lực siêu nhiên che chắn / các bộ lạc đi về phương Bắc.” Chẳng mấy chốc “những dải cờ tả tơi của các ngươi” sẽ bị “lũ trẻ da vàng truyền tay nhau như đồ chơi,” ông cảnh báo người đọc. “Mông Cổ hóa mọi nơi! Cái tên gớm ghiếc.”

Sau thời kỳ Phục hưng và Đế chế Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn đã bị hạ xuống bậc thấp nhất trong lịch sử nhân loại. Khi có được sức mạnh thuộc địa mới tìm thấy và tự ban cho mình nhiệm vụ cai trị thế giới, châu Âu hiện đại không có chỗ cho các nhà chinh phạt châu Á. Các nhà thuộc địa Ki-tô giáo và chính uỷ Cộng sản đều tìm cách giải cứu người châu Á khỏi di sản của chế độ độc tài man rợ và sự tàn độc khát máu của Thành Cát Tư Hãn và bè lũ Mông Cổ của ông ta. Việc coi người Mông Cổ là nguồn gốc của mọi vấn đề ở châu Á, và do đó là lý do để châu Âu chinh phạt mọi nơi từ Nhật Bản tới Ấn Độ, đã phát triển thành một chủ đề cốt yếu trong tư tưởng chiếm đóng và thuộc địa hóa của châu Âu. Những điều tàn độc được cho là do Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ gây ra trở thành một phần cái cớ cho các nhà thuộc địa văn minh người Anh, Nga và Pháp cai trị.

Để trực tiếp chống chọi với các nhà khoa học và chính trị châu Âu, nạn nhân của tư tưởng này, những nhà trí thức và hoạt động châu Á tìm thấy ở Thành Cát Tư Hãn một vị anh hùng mới. Khắp châu Á, từ Ấn Độ tới Nhật Bản, một thế hệ mới những người châu Á thế kỷ hai mươi muốn tự giải phóng khỏi ách thống trị châu Âu tìm thấy từ Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ cảm hứng, bởi họ là những nhà chinh phạt châu Á vĩ đại nhất trong lịch sử và tương phản rõ ràng với học thuyết Âu châu. Một phần bởi vì người châu Âu, kể cả người Nga, đã công kích kịch liệt và bác bỏ hoàn toàn ký ức về Thành Cát Tư Hãn và vai trò của ông trong lịch sử thế giới, ngày càng nhiều nhà hoạt động chính trị châu Á dựa vào ông để dẫn đường tìm cách chống lại sức mạnh và các hệ giá trị phương Tây.

Một trong những người đầu tiên đánh giá lại Thành Cát Tư Hãn là một ứng cử viên ít ai ngờ tới: nhà vận động hòa bình Jawaharlal Nehru, cha đẻ của Ấn Độ độc lập. Giao thừa năm 1931, khi ông bị biệt giam thì nhận được tin chính quyền thuộc địa Anh vừa bắt giữ vợ ông và giam trong một nhà lao khác, và theo báo chí bà đã bị ngược đãi. Biết rằng cô con gái mười ba tuổi Indira – người sau này trở thành thủ tướng Ấn Độ – sẽ rất sợ hãi và đau buồn, nhất là khi cô bé chỉ được gặp cha mẹ hai tuần một lần, Nehru bắt đầu viết một chuỗi các bức thư dài để giải thích lịch sử cho con gái nhằm phản kháng những gì cô bé học trong trường thuộc địa. Suốt ba năm sau đó, ông ngày ngày viết những lá thư dài ba tới năm trang; trong chúng, dù được giáo dục kiểu Tây, ông cố gắng thấu hiểu vị trí đất nước Ấn Độ và lục địa châu Á của mình trong lịch sử thế giới. Đấy là cách để ông “mơ về quá khứ, và tìm đường làm tương lai vĩ đại hơn quá khứ.” Trong lá thư đầu tiên ông viết cho con gái: “Sẽ thật ngớ ngẩn nếu không nhận ra sự vĩ đại của châu Âu. Nhưng cũng thật ngớ ngẩn như vậy nếu quên mất sự vĩ đại của châu Á.”

Với tư cách là một người dân và học giả châu Á, một trong những nhiệm vụ trí thức của ông là cố gắng hiểu được vai trò lịch sử của Thành Cát Tư Hãn, người đã bị châu Âu lợi dụng để dựng nên hình ảnh châu Á khắc nghiệt. Ngược lại, Nehru miêu tả Thành Cát Tư Hãn là một phần cuộc đấu tranh xa xưa giữa người châu Á và ách thống trị châu Âu. Khi nhắc tới sự xuất hiện đột ngột của người Mông Cổ trên trường thế giới, ông viết “ta có thể dễ dàng tưởng tượng ra thế giới Á-Âu đã sửng sốt thể nào trước sự bùng nổ như núi lửa này. Nó gần như là một thảm họa thiên nhiên lớn, như một trận động đất mà loài người đành bất lực. Những người du mục từ Mông Cổ này, cả đàn ông đàn bà đều khỏe mạnh, quen chịu gian khổ và sống trong những căn lều trên thảo nguyên Bắc Á mênh mông. Nhưng họ sẽ không giành được sức mạnh và sự khổ luyện nếu không có một nhà lãnh đạo là một người vô cùng xuất chúng.” Sau đó Nehru miêu tả Thành Cát Tư Hãn là “một người đàn ông trung niên cảnh giác và cẩn trọng, và mọi việc lớn ông làm đều đã được suy nghĩ và chuẩn bị thấu đáo.”

Nehru nhận ra rằng dù người Mông Cổ không sống trong thành phố, họ vẫn gây dựng nên một nền văn minh rực rỡ. “Tất nhiên, họ không biết nhiều thứ nghệ thuật thị thành, nhưng họ đã phát triển một lối sống phù hợp với thế giới của họ, và tạo ra một tổ chức phức tạp.” Nehru công nhận tuy có số lượng ít ỏi, nhưng họ đã “giành được những thắng lợi vĩ đại trên chiến trường” nhờ “kỷ luật và tổ chức. Và trên hết là nhờ tài chỉ huy tài tình của Thành Cát Tư Hãn.” Như Chaucer từng nói, Nehru kết luận rằng “Không nghi ngờ gì nữa, Thành Cát Tư Hãn là thiên tài quân sự và nhà cầm đầu vĩ đại nhất trong lịch sử.” So sánh trực tiếp với những nhà chinh phạt châu Âu vĩ đại nhất, ông viết “Alexander và Caesar trông thật nhỏ bé trước ông ta.” Thế nhưng dù có tài năng quân sự như vậy, ông lại muốn có quan hệ hòa bình với thế giới: “Ông muốn kết hợp văn minh với cuộc sống du mục. Nhưng điều này đã và vẫn không thể.” Vị Hãn Mông Cổ tin vào “đạo luật bất biến mãi mãi, và không ai có thể bất tuân. Ngay cả hoàng đế cũng phải tuân theo nó.” Nehru sau đó đưa ra nhận xét cá nhân: “Cha có lẽ đã cho con nhiều chi tiết và thông tin về Thành Cát Tư Hãn hơn mức cần thiết. Nhưng cha rất hứng thú với ông ta.”

Khi phương Tây ngày càng sợ hãi Hiểm họa Da vàng, người châu Á ngày càng nghiên cứu kỹ khái niệm Mông Cổ hóa mọi nơi như một khả năng để tìm ra một danh tính chung cho mình. Nếu họ có thể cùng đoàn kết như thời Đế chế Mông Cổ, họ có thể cùng nhau chống lại thế lực ngày càng mạnh của các nước phương Tây. Lý thuyết này cho người châu Á một con đường vượt lên trên lòng yêu nước và cùng hợp tác vì mục đích chung. Ở vùng Nội Mông, tinh thần mới này đã tạo ra một loại lịch tạm thời dựa trên năm 1206, năm Thành Cát Tư Hãn lập ra quốc gia Mông Cổ, là Năm 1, Theo loại lịch Mông Cổ mới này, năm 1937 trở thành Năm Thành Cát Tư Hãn 731.

Đặc biệt, ở Nhật Bản, nơi người dân dần coi mình là thủ lĩnh châu Á vào nửa đầu thế kỷ hai mươi, nhưng cũng cần phân biệt với châu Âu, chủ nghĩa Mông Cổ hóa mọi nơi đặc biệt thu hút. Trong cuộc đua làm thủ lĩnh châu Á, hình ảnh Thành Cát Tư Hãn trở thành một phần thưởng giá trị. Ai giành được quyền kiểm soát thân thể, miếu thờ, hay quê hương ông sẽ có quyền kiểm soát di sản, và do vậy, cả vùng đất mà ông từng cai trị. Vài học giả Nhật Bản lan truyền câu chuyện Thành Cát Tư Hãn thật ra là một chiến binh samurai rời quê hương sau một cuộc tranh đấu quyền lực và trú ẩn cùng các người du mục trên thảo nguyên, rồi dẫn họ đi chinh phục thế giới.

Những năm trước Thế chiến II, trớ trêu thay Thành Cát Tư Hãn đã trở thành một chủ đề quan trọng không chỉ trong tuyên truyền và tư tưởng mà cả về thuật quân sự thực tiễn. Người Xô-viết, Nhật và Đức đều thúc đẩy việc giải mã, dịch thuật và giải nghĩa cuốn Bí sử mới tìm được với hi vọng nó sẽ cung cấp chìa khoá hữu ích để tiết lộ các chiến thuật Mông Cổ để giúp họ chiến thắng Trung Hoa và Nga.

Xe tăng ra đời vào thế kỷ hai mươi một lần nữa giúp kết hợp cả kỵ binh và pháo binh thành một đơn vị quân sự, việc chưa từng khả thi kể từ sau thời các cung thủ Mông Cổ. Các bộ óc quân sự của mọi quốc gia nhìn vào những mô hình Mông Cổ trước đây để tìm gợi ý cách giao chiến trong thời chiến tranh xe tăng hiện đại. Người Đức tìm được lối áp dụng hiệu quả nhất trong chiến thuật Blitzkrieg, phỏng theo cách quân Mông Cổ đột ngột xuất hiện với một quân đội di động phóng qua chiến trường, khiến kẻ địch bất ngờ và mất phương hướng. Nhằm hiểu được chính xác hơn các chiến thuật của Mông Cổ, họ bắt đầu dịch Bí sử sang tiếng Đức. Erich Haenisch, Giáo sư xã hội học thuộc Đại học Friedrich Wilhelm ở Berlin, đã chuẩn bị một bản dịch tiếng Đức. Haenisch tới Mông Cổ tìm kiếm bản gốc tiếng Mông Cổ của Bí sử nhưng thất bại. Từ bản in tiếng Trung – Mông Cổ, ông đã làm được bản dịch và từ điển. Hoàn cảnh thiếu hụt do chiến tranh làm chậm trễ việc in ấn, tới năm 1941 chỉ một số ít được in ra, nhưng kể cả khi đó, khó khăn trong việc vận chuyển làm chậm việc phát hành. Các thùng sách vẫn nằm lại ở Leipzig tới năm 1943, khi chúng bị đốt cháy trong một đợt rải bom của quân Đồng minh. Bí mật của lịch sử vẫn là bí mật với quân Đức Quốc xã.

Trong lúc quân đội Đức nghiên cứu về Mông Cổ, Xô-viết cũng đang làm việc tương tự. Stalin bị ám ảnh với việc làm sao để hiểu được hai nhà chinh phạt châu Á – Thành Cát Tư Hãn và Thiếp Mộc Nhi, vậy nên ông đã khai quật mộ Thiếp Mộc Nhi, và cử nhiều đoàn quân sự bất thành tới khu vực Burkhan Khaldun để tìm hài cốt Thành Cát Tư Hãn. Các học giả khác bận rộn với việc dịch thuật và một số cách diễn giải lịch sử Mông Cổ rất kỳ lạ, chẳng hạn như góc và sức mạnh của mặt trời chiếu lên mặt đất ở Mông Cổ khác với các vùng khác trên thế giới. Kết hợp cả phần kỳ quặc và nghiêm túc, Xô-viết làm theo phiên bản chiến lược Mông Cổ của riêng họ trong Thế chiến II. Họ phỏng theo các chiến thuật Tốc Bất Đài dùng để đánh bại người Nga trên sông Kalka năm 1223 ở quy mô lớn hơn: quân Xô-viết lừa quân Đức vào sâu trong lãnh thổ Nga cho tới khi chúng bị phân tán trên một diện tích lớn, rồi quân Nga bắt đầu phản công và hạ từng người một.

Năm 1944, giữa những diễn biến cực điểm vang dội cuối cùng của Thế chiến II, Sayid Alim Khan, nguyên emir Bukhara và hậu duệ cầm quyền cuối cùng của Thành Cát Tư Hãn, lặng lẽ qua đời ở Kabul, Afghanistan sau gần một phần tư thế kỷ lưu vong khỏi thành phố ông cai trị thời trẻ. Vị emir mang dòng dõi của Truật Xích và Kim Trướng đã sống lâu hơn các nhánh khác của gia đình. Năm 1857, quân đội Anh truất ngôi hoàng đế Moghul cuối cùng của Ấn Độ Bahadur Shah II, và năm sau đó đày ông tới Myanmar để họ có thể chuyển giao tước hiệu của ông cho Nữ hoàng Victoria, người trở thành Nữ hoàng Ấn Độ vào năm 1877.

Khi Alim Khan của triều đại Manghit lên ngôi emir Bukhara vào năm 1910, Nga đã cai quản quê hương ông được hai thế hệ, và ông giống một vị vua bù nhìn được nuông chiều hơn là tổ tiên ông những thế kỷ trước. 731 năm sau buổi hốt lý đài đầu tiên bên bờ Hồ Xanh cạnh Núi Hình Tim Đen năm 1189, một nhóm người rất khác biệt, cũng tự gọi là hốt lý đài nhưng là các đại biểu Đảng Cộng sản Bukhara, đã gặp mặt để phế truất hậu duệ cuối cùng của ông.

Vào tuần cuối cùng tháng Tám năm đó, ông chạy trốn khỏi Bukhara, và sau một nỗ lực ngắn ngủi để kêu gọi nổi dậy ở Tajikistan, ông trú ẩn dưới sự bảo hộ của Anh quốc tại Afghanistan và sống ở đó tới hết phần đời còn lại. Khi vị emir rời đi, lực lượng Bolshevik do Mikhail Vasilyevich Frunze tấn công thành cổ Bukhara – chính là pháo đài mà đúng bảy thế kỷ trước đây, Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn đã dẫn Mông Cổ tới chiến thắng đầu tiên ở Trung Á. Ngày 2 tháng Chín năm 1920, Frunze báo cáo với Lenin rằng “hôm nay, pháo đài Bukhara cũ đã bị chiếm sau một cuộc tấn công hùng hậu của đơn vị Hồng quân và Bukhara.” Ông nói thêm đầy hoa mỹ: “Sự bạo tàn và chuyên chế đã biến mất, lá cờ đỏ cách mạng đang bay phất phới trên Registan*”

Xuyên suốt phần lớn thế kỷ hai mươi, Nga và Trung Quốc giữ hòa ước chia đôi vùng đất quê hương của Thành Cát Tư Hãn: Trung Quốc sở hữu Nội Mông, phần phía nam sa mạc Gobi, và Liên Xô nắm Ngoại Mông, phía bắc sa mạc Gobi. Liên Xô biến Mông Cổ thành khu vực đệm bỏ trống ngăn cách Liên Xô và Trung Quốc. Giống như Anh đã xử tử các con trai và cháu trai của hoàng đế Mogul Ấn Độ cuối cùng vào thế kỷ mười chín, đã có những cuộc thanh trừng các hậu duệ cuối cùng được biết tới của Thành Cát Tư Hãn còn lại ở Mông Cổ vào thế kỷ hai mươi: bắt cả gia đình diễu hành vào trong rừng để bị bắn và chôn trong hố không đánh dấu, đày họ tới các trại cải tạo lao động tại Siberia, nơi họ phải lao động tới chết, hay chỉ đơn giản là khiến họ biến mất một cách bí ẩn vào màn đêm lịch sử.

Tháng Tư năm 1964, tờ báo chính thống Pravda đưa ra lời cảnh báo nghiêm khắc chống lại việc “đặt kẻ man rợ khát máu Thành Cát Tư Hãn lên bệ đài như một nhân vật lịch sử cấp tiến.” Trung Quốc phản pháo, nói rằng Nga nên trân trọng người Mông Cổ hơn vì nhờ họ xâm lược Nga nên người Nga mới có cơ hội “biết tới một nền văn hóa cao hơn.” Dù người Mông Cổ có cảm thấy bị xúc phạm tới đâu khi Nga công kích vị anh hùng của họ, họ vẫn một mực trung thành với Nga.

Những vụ bức hại sau đó ở Mông Cổ đã phá hủy hoàn toàn một thế hệ các nhà ngôn ngữ học, sử học, khảo cổ học, và các học giả khác chuyên về cái vấn đề chỉ liên đới chút ít tới Thành Cát Tư Hãn hay Đế chế Mông Cổ. Ở nơi nào đó vào những năm 1960, tám thế kỷ sau khi Thành Cát Tư Hãn ra đời, sulde của ông, Dải cờ thiêng mà ông đã mang theo qua lục địa Á-Âu, đã biến mất khỏi nơi chính quyền lưu giữ. Từ cuộc thanh trừng này, không ai nhìn thấy hay nhắc tới sulde của Thành Cát Tư Hãn nữa. Nhiều học giả cho rằng chính quyền đã phá hủy nó như hành động xấu xa cuối cùng đối với linh hồn ông. Song những người khác vẫn hi vọng có lẽ sulde chỉ bị quên lãng trong một căn hầm bụi bặm hay căn phòng đóng gạch kín nào đó, và có thể ngày nào đó sẽ có người mang nó ra để dẫn dắt và truyền cảm hứng cho người Mông Cổ một lần nữa.

« Lùi
Tiến »