NĂM 1937, linh hồn Thành Cát Tư Hãn đã biến mất khỏi tu viện Phật giáo ở miền trung Mông Cổ, bên dòng Nguyệt Giang dưới chân dãy núi Shankh ảm đạm, nơi nó được các Lạt Ma trung thành bảo vệ và thờ phụng suốt nhiều thế kỷ. Suốt thập niên 1930, khoảng ba vạn người Mông Cổ đã chết trong một chuỗi các chiến dịch đàn áp văn hóa và tôn giáo bản địa của Liên Xô. Binh lính tàn phá tu viện, lần lượt từng nơi một, bắn sư sãi, cưỡng bức nữ tu, đập vỡ vật thờ, cướp bóc thư viện, đốt kinh sách, và san bằng các đền thờ. Nghe nói có người đã bí mật giải cứu hiện thân của linh hồn Thành Cát Tư Hãn khỏi Tu viện Shankh và đưa đi cất giữ ở thủ đô Ulaanbaatar, rồi biến mất hẳn ở đó.
Qua hàng trăm năm, trên những thảo nguyên mênh mang sôi động vùng Trung Á, một chiến binh kiêm người chăn gia súc mang theo mình một Dải cờ thiêng, gọi là sulde, được làm từ lông các con ngựa giống tốt nhất của mình và buộc vào cán một cây giáo, ngay dưới phần lưỡi giáo. Mỗi khi dựng trại, chiến binh sẽ cắm dải cờ này ngoài cửa lều để tuyên bố danh tính và làm vật bảo hộ vĩnh viễn. Dải cờ thiêng luôn được cắm ngoài trời, dưới Thanh thiên Vĩnh hằng mà người Mông Cổ tôn thờ. Khi những sợi lông bay trong ngọn gió thảo nguyên không ngừng nghỉ, chúng thu năng lượng của gió, của bầu trời, của mặt trời, và dải cờ truyền năng lượng này từ thiên nhiên tới người chiến binh. Ngọn gió lùa qua sợi lông ngựa thôi thúc những ước mơ của người chiến binh và cổ vũ anh ta theo đuổi định mệnh của mình. Sợi lông ngựa phất phơ trong gió ra hiệu cho anh ta luôn luôn tiến lên phía trước, đẩy anh ta khỏi chốn cũ để tìm đến những nơi mới, đến những đồng cỏ tốt hơn, tìm kiếm những cơ hội và thử thách mới, để tự tay kiến tạo nên số phận cho đời mình trong thế giới này. Mối liên kết giữa một người với Dải cờ thiêng của anh ta chặt chẽ đến mức người ta nói rằng khi người ấy chết đi, linh hồn chiến binh vĩnh viễn nằm lại trong búi lông ngựa đó. Khi người chiến binh còn sống, dải cờ lông ngựa mang theo số phận của anh ta; sau khi chết, nó hóa thân thành linh hồn của anh ta. Thể xác nhanh chóng bị bỏ lại với tự nhiên, nhưng linh hồn còn sống mãi trong búi lông ngựa để tiếp tục truyền cảm hứng cho những thế hệ tương lai.
Thành Cát Tư Hãn có một dải cờ từ lông ngựa trắng để dùng trong thời bình, và một từ lông ngựa đen để dẫn lối trong chiến trận. Dải cờ trắng đã sớm biến mất khỏi lịch sử, song dải cờ đen vẫn tồn tại để lưu giữ linh hồn ông. Nhiều thế kỷ sau khi ông mất, người dân Mông Cổ vẫn thờ phụng dải cờ nơi linh hồn ông yên nghỉ. Vào thế kỷ mười sáu, một hậu duệ của ông, Lạt Ma Zanabazar, đã xây dựng tu viện với mục tiêu đặc biệt là treo và bảo vệ dải cờ này. Dù mưa dông hay bão tuyết, ngoại xâm hay nội chiến, hơn một ngàn vị sư theo Hoàng Mạo phái của Phật giáo Tây Tạng đã canh giữ dải cờ này với niềm vinh dự lớn lao, nhưng ngay cả họ cũng chẳng phải đối thủ của nền chính trị toàn trị thế kỷ hai mươi. Các nhà sư đã bị sát hại, và Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn biến mất.
Định mệnh không trao số phận cho Thành Cát Tư Hãn; tự tay ông đã viết nên số phận mình. Khó lòng nghĩ đến chuyện ông có đủ ngựa để tết được một Dải cờ thiêng, chứ đừng nói là còn theo dải cờ đó đi khắp thế giới. Cậu bé mà sau này trở thành Thành Cát Tư Hãn lớn lên trong một thế giới đầy rẫy bạo lực giữa các bộ lạc, bao gồm giết chóc, bắt cóc và nô lệ. Là con trai một gia đình bị ruồng bỏ tới chết giữa thảo nguyên, cả tuổi thơ ông có lẽ chỉ gặp vài trăm người, và không được giáo dục đàng hoàng. Từ bối cảnh khắc nghiệt này, ông học được – chi tiết đến kinh hoàng – mọi cung bậc cảm xúc của con người: ham muốn, tham vọng và sự tàn bạo. Khi còn là một đứa trẻ, ông đã giết người anh cùng mẹ khác cha của mình, bị bộ lạc thù địch bắt làm nố lệ, và rồi trốn thoát được.
Sống trong hoàn cảnh khủng khiếp như vậy, cậu bé đã thể hiện bản năng sinh tồn và tự bảo toàn mạng sống, song không bộc lộ nhiều hứa hẹn về những thành tựu mà sau này ông đạt được. Lúc còn bé, ông sợ chó và rất dễ khóc. Em trai ông khỏe hơn, bắn cung và đấu vật cũng hơn ông; người anh cùng mẹ khác cha thường sai bảo và trêu chọc ông. Thế nhưng, từ xuất thân hèn kém như vậy – thường xuyên phải chịu đói, chịu nhục, bị bắt cóc và làm nô lệ – ông bắt đầu chặng đường dài vươn tới quyền lực. Trước khi tới tuổi dậy thì, ông đã có được hai mối quan hệ quan trọng nhất đời mình. Ông thề kết nghĩa và trung thành vĩnh viễn với một cậu bé hơn ông ít tuổi, người trở thành bạn thân nhất của ông thời niên thiếu, và kẻ thù lớn nhất khi cả hai trưởng thành; và ông tìm thấy cô gái mà ông yêu thương suốt đời, người ông chọn làm mẹ của mọi hoàng đế sau này. Tuổi trẻ của Thành Cát Tư Hãn chứa đựng cả tình bạn và sự thù địch – sự giằng xé này kéo dài xuyên suốt cả cuộc đời, và trở thành nét quyết định tính cách của ông. Những câu hỏi đẩy dằn vặt về tình yêu và tình phụ tử sinh ra từ dưới một tấm chăn đắp chung hay trong ánh lửa chập chờn của bếp sưởi gia đình, đã được phóng chiếu lên sấn khấu rộng lớn của lịch sử thế giới. Mục tiêu, ước nguyện, và nỗi sợ của cá nhân ông bao trùm cả địa cầu.
Từ năm này qua năm khác, ông dần đánh bại hết những người quyền lực hơn mình, cho tới khi chinh phục được mọi bộ lạc trên thảo nguyên Mông Cổ. Ở tuổi năm mươi, khi phần lớn những nhà chinh phục vĩ đại đã bỏ những năm tháng chinh chiến lại đằng sau, Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn lại vẫy gọi ông rời khỏi quê hương xa xôi để đối đầu với đội quân của các dân tộc văn minh, những kẻ đã sách nhiễu và nô dịch các bộ lạc du mục suốt nhiều thế kỷ. Trong những năm còn lại của cuộc đời, ông đi theo Dải cờ thiêng ấy tới những thắng lợi liên tiếp, vượt qua sa mạc Gobi* và sông Hoàng Hà, tới các vương quốc ở Trung Hoa, qua miền đất Trung Á của người Turk và Ba Tư, và vượt các dãy núi của Afghanistan tới sông Ấn.
Trong các cuộc chinh phạt nối tiếp nhau, quân Mông Cổ biến chiến tranh thành một sự kiện xuyên lục địa với giao tranh diễn ra trên nhiều mặt trận trải dài nhiều ngàn dặm. Kỹ thuật chiến đấu sáng tạo của Thành Cát Tư Hãn biến các hiệp sĩ giáp sắt nặng nề của châu Âu trung cổ thành thứ lỗi thời, và thay thế họ bằng kỵ binh có kỷ luật di chuyển thành từng nhóm phối hợp. Thay vì lệ thuộc vào những công sự phòng thủ, ông tận dụng tài tình tốc độ và sự bất ngờ trên chiến trường, cũng như hoàn thiện công thành chiến đến mức chấm dứt luôn thời đại của các thành phố có tường bao. Thành Cát Tư Hãn không chỉ dạy quân của ông chinh chiến ở những khoảng cách không tưởng, mà còn hướng dẫn họ duy trì chiến dịch của mình qua nhiều năm, nhiều thập niên, và cuối cùng, qua hơn ba thế hệ chiến đấu không ngừng nghỉ.
Trong vòng hai mươi lăm năm, quân đội Mông Cổ đã chiếm được nhiều đất và người hơn người La Mã trong suốt bốn trăm năm. Thành Cát Tư Hãn, cùng với các con và cháu của mình, đã hạ gục những nền văn minh đông dân nhất của thế kỷ mười ba. Dù tính theo số lượng người bại trận, tổng số quốc gia bị thôn tính, hay tổng diện tích đất bị chiếm đóng, Thành Cát Tư Hãn đều đã chinh phục nhiều hơn gấp bội so với bất kỳ người nào khác trong lịch sử. Vó ngựa quân Mông Cổ đã làm toé nước mọi sông hồ từ Thái Bình Dương tới Địa Trung Hải. Khi cực thịnh, đế quốc này bao trùm một khu vực trải khắp 11 tới 12 triệu dặm vuông liên tiếp, bằng diện tích châu Phi và lớn hơn nhiều Bắc Mỹ – bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Mexico, Trung Mỹ và vùng đảo Caribe hợp lại. Nó trải từ lãnh nguyên Siberia tuyết phủ tới đồng bằng nhiệt đới Ấn Độ, từ cánh đồng lúa gạo Việt Nam tới cánh đồng lúa mì Hungary, từ bán đảo Triều Tiên tới bán đảo Balkan. Phần lớn con người ngày nay sống ở các nước từng bị quân Mông Cổ xâm chiếm; trên bản đồ hiện đại, cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn bao gồm ba mươi quốc gia với hơn ba tỉ dân. Khía cạnh bất ngờ nhất của thành tựu này là toàn bộ bộ lạc Mông Cổ dưới trướng ông chỉ vỏn vẹn khoảng một triệu người, ít hơn số nhân công của nhiều công ty ngày nay. Từ một triệu người này, ông tuyển ra không tới mười vạn lính – dễ dàng chứa được trong các sân vận động lớn của thời hiện đại.
Nói theo kiểu Mỹ, thành tựu của Thành Cát Tư Hãn có thể hiểu theo cách là nước Mỹ, thay vì được sáng lập bởi một nhóm thương nhân có học và chủ đồn điền giàu có, thì lại là do một tên nô lệ không biết chữ, chỉ nhờ nhân cách, sức lôi cuốn, và quyết tâm, đã giải phóng Hoa Kỳ khỏi sự cai trị của ngoại bang, đoàn kết dân chúng, tạo ra bảng chữ cái, viết hiến pháp, đề ra tự do tôn giáo toàn diện, sáng tạo ra hệ thống chiến tranh kiểu mới, đưa quân đội hành quân từ Canada tới Brazil, và mở đường thông thương trong một khu vực thương mại tự do xuyên suốt nhiều châu lục. Trên mọi cấp độ và từ mọi phương diện, quy mô và phạm vi của những thành tựu của Thành Cát Tư Hãn thách thức các giới hạn của trí tưởng tượng và mọi phương pháp lý giải hàn lâm.
Khi kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn tràn qua thế kỷ mười ba, ông đã vẽ lại ranh giới của thế giới. Công trình của ông không phải bằng đá, mà là bằng các quốc gia. Không bằng lòng với một số lượng lớn các tiểu vương quốc, ông hợp nhất nhiều nước nhỏ thành các nước lớn hơn. Ở Đông Âu, quân Mông Cổ thống nhất một tá các tiểu vương quốc Slav và thành phố thành một nước Nga rộng lớn. Ở Đông Á, qua ba thế hệ, họ tạo ra Trung Hoa bằng cách đan lại với nhau những tàn tích của nhà Tống ở phía nam với vùng đất của người Nữ Chân* ở Mãn Châu, Tây Tạng ở phía tây, Tây Hạ* tiếp giáp sa mạc Gobi, và đất của người Duy Ngô Nhĩ* ở phía đông Turkistan*. Khi người Mông Cổ mở rộng khu vực cai trị, họ tạo ra những quốc gia như Triều Tiên và Ấn Độ. Những nước này vẫn tồn tại tới ngày nay, với đường biên giới gần như không thay đổi từ khi được người Mông Cổ tạo ra.
Đế chế của Thành Cát Tư Hãn liên kết và hợp nhất các nền văn minh quanh ông thành một trật tự thế giới mới. Khi ông chào đời năm 1162, Cựu Thế giới là một chuỗi các nền văn minh địa phương hoàn toàn không biết gì về các nền văn minh khác ngoài những nước láng giềng gần gũi nhất. Không ai ở Trung Hoa biết tới châu Âu, cũng như không ai ở châu Âu từng nghe tới Trung Hoa, và theo như hiểu biết thời bấy giờ, chưa có ai từng đi lại giữa hai nơi đó cả. Tới khi qua đời năm 1227, ông đã kết nối hai nơi này bằng những mối liên lạc ngoại giao và thương mại bền vững tới bây giờ.
Bằng cách đập vỡ hệ thống phong kiến coi trọng quyền lợi quý tộc và xuất thân, ông đã xây dựng một hệ thống mới và độc đáo dựa trên năng lực cá nhân, lòng trung thành và thành tích. Ông tập hợp những thị trấn buôn bán rời rạc và trì trệ dọc theo Con đường Tơ lụa và sắp xếp chúng thành khu vực thương mại tự do lớn nhất lịch sử. Ông cắt giảm thuế cho tất cả mọi người, và bỏ hẳn sưu thuế với bác sĩ, thầy dạy học, thầy tu và các cơ sở giáo dục. Ông thực hiện điều tra dân số đều đặn, và tạo ra hệ thống thư tín quốc tế đầu tiên. Đế chế của ông không tích trữ của cải và kho báu; trái lại, ông phân phát rộng rãi của cải thu được trong chiến đấu để chúng có thể quay lại thông thương. Ông thiết lập một bộ luật quốc tế và tuyên bố luật Thanh thiên Vĩnh hằng tối cao với mọi người dân. Vào thời điểm hầu hết vua chúa đều đặt mình lên trên pháp luật, Thành Cát Tư Hãn cương quyết rằng trước pháp luật vua chúa cũng chịu trách nhiệm bình đẳng như người chăn gia súc hèn kém nhất. Ông công nhận tự do tôn giáo trong lãnh địa của mình, cho dù ông đòi hỏi lòng trung thành tuyệt đối từ mọi thần dân đã hàng phục, bất kể họ theo tôn giáo nào. Ông tin vào pháp quyền và bãi bỏ việc tra tấn, nhưng ông thực hiện các chiến dịch lớn để tìm và giết những kẻ lục lâm thảo khấu và thích khách. Ông không chấp nhận giữ con tin và, thay vào đó, thiết lập tập tục hoàn toàn mới là miễn trừ ngoại giao với mọi sứ thần và sứ giả, bao gồm cả những người đến từ các quốc gia thù địch đang chiến tranh với ông.
Thành Cát Tư Hãn để lại cho đế chế của ông một nền tảng vững chãi tới mức nó tiếp tục lớn mạnh trong vòng 150 năm sau đó. Sau đó, trong hàng trăm năm sau khi đế quốc ấy sụp đổ, hậu duệ của ông tiếp tục cai trị nhiều đế quốc nhỏ và quốc gia lớn, từ Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ, tới Trung Hoa và Ba Tư. Họ có nhiều tước hiệu khác nhau, như hãn, hoàng đế, sultan, vua, shah, emir và Đạt Lai Lạt Ma*. Di sản đế chế này còn được hậu duệ của ông cai trị suốt bảy thế kỷ. Nhiều người Mogul đứng đầu Ấn Độ tới năm 1857, khi người Anh phế bỏ Hoàng đế Bahadur Shah II và chặt đầu hai con trai và cháu trai ngài. Hậu duệ tại vị cuối cùng của Thành Cát Tư Hãn, Alim Khan, emir của Bukhara, tiếp tục cầm quyền ở Uzbekistan tới khi bị làn sóng Cách mạng Nga dâng cao lật đổ năm 1920.
Trong lịch sử, hầu hết các nhà chinh phục đều phải chịu cái chết sớm và bi thảm. Ở tuổi ba mươi ba, Alexander Đại Đế qua đời một cách bí hiểm ở Babylon, trong khi những kẻ phục tùng ông sát hại cả gia đình ông và chia chác đất đai. Julius Caesar bị những người cùng dòng dõi quý tộc với ông và đồng minh cũ đâm tới chết trong phòng của Viện Nguyên lão La Mã. Sau khi phải nhìn thấy mọi chiến tích chinh phục của mình bị hủy hoại và đảo ngược, Napoleon, cô độc và cay đắng, một mình đối diện với cái chết khi bị biệt giam ở một trong những hòn đảo xa xôi cách trở nhất hành tinh. Thế nhưng, Thành Cát Tư Hãn, khi đó đã gần bảy mươi tuổi, đã mất trên chiếc giường cắm trại của mình, giữa vòng vây đầy yêu thương của gia đình, thân tín, và quân lính trung thành sẵn sàng mạo hiểm tính mạng theo lệnh của ông. Mùa hè năm 1227, trong chiến dịch chống lại Tây Hạ ở thượng lưu sông Hoàng Hà, Thành Cát Tư Hãn đã qua đời – hay, theo cách nói của người Mông Cổ, những người cấm kị việc nhắc tới chết chóc hay bệnh tật, ông đã “lên thiên đường.” Nhiều năm sau cái chết của ông, lý do ông mất vẫn không được tiết lộ, dẫn đến nhiều lời đồn đoán mà sau này trở thành truyền thuyết, để rồi theo dòng chảy thời gian biến thành sự thật lịch sử. Plano di Carpini, sứ giả cháu Âu đầu tiên tới Mông Cổ, ghi lại rằng Thành Cát Tư Hãn chết vì bị sét đánh. Marco Polo, nhà thám hiểm đã có nhiều chuyến đi khắp Đế chế Mông Cổ dưới thời Hốt Tất Liệt – cháu của Thành Cát Tư Hãn, kể lại rằng ông qua đời sau khi bị tên đâm trúng đầu gối. Một số người cho rằng kẻ thù không rõ danh tính đã đầu độc ông. Có nguồn lại khẳng định ông đã chết vì phép thuật của vua Tây Hạ khi đang giao chiến. Một câu chuyện được những kẻ chỉ trích ông lan truyền nói rằng khi bị ông bắt giữ, hoàng hậu Tây Hạ đã đưa một vật lạ vào vùng kín nhằm kéo đứt bộ phận sinh dục của Thành Cát Tư Hãn khi quan hệ với bà, và ông đã chết trong đau đởn cùng cực.
Trái ngược với những câu chuyện về cái chết của ông, việc Thành Cát Tư Hãn chết trong căn lều ger của người du mục, về cơ bản là tương tự như nơi ông ra đời, cho thấy thành công của ông trong việc bảo tồn lối sống truyền thống của dân tộc mình; song, bất ngờ là bằng cách bảo tồn lối sống của mình, ông đã thay đổi xã hội loài người. Quân lính của Thành Cát Tư Hãn hộ tống thi thể vị hãn của họ về quê hương Mông Cổ để bí mật chôn cất. Sau khi chết, ông được những người theo hầu an táng vô danh trên mảnh đất quê hương, không lăng tẩm, đền đài, kim tự tháp, hay thậm chí là cả một tấm bia nhỏ đánh dấu nơi ông nằm lại. Theo tín ngưỡng Mông Cổ, thân thể người chết nên được để trong yên bình, không cần lăng mộ, vì linh hồn họ không còn đó nữa mà sẽ sống tiếp trong Dải cờ thiêng. Khi được mai táng, Thành Cát Tư Hãn thẩm lặng biến mất vào cõi thinh không mênh mang của miền đất Mông Cổ quê hương. Không ai biết nơi an nghỉ cuối cùng của ông ở đâu, song bởi không có nguồn tư liệu xác thực nhiều người đã tự tay viết nên lịch sử và thêm thắt nhiều chi tiết kịch tính. Một câu chuyện thường được nhắc lại là trong chuyến hành trình dài bốn mươi ngày, quân lính trong đoàn đưa tang ông đã giết toàn bộ người và thú vật mà họ gặp trên đường, và sau đám tang bí mật, tám trăm kỵ binh đã cưỡi ngựa giẫm lên khu vực chôn cất nhiều lần để che giấu nơi đặt mộ. Sau đó, theo lời kể đầy sáng tạo này, những kỵ binh này đã lại bị giết bởi một toán lính khác nhằm đảm bảo họ không thể chỉ điểm nơi này; và rồi những người lính này lại bị một nhóm chiến binh khác giết.
Sau khi ông được chôn cất bí mật ở quê nhà, quân lính cho phong toả cả khu vực rộng vài trăm dặm vuông này. Không ai có thể vào trừ người nhà Thành Cát Tư Hãn và một nhóm chiến bính tinh nhuệ đóng quân ở đó nhằm hạ sát mọi kẻ xâm nhập. Trong gần tám trăm năm, khu vực này – gọi là Ikh Khorig, vùng Đại Cấm địa nằm sâu trong lòng châu Á – luôn đóng cửa im lìm. Mọi bí mật về đế chế của Thành Cát Tư Hãn dường như đã bị khoá lại trong quê hương thần bí của ông. Rất lâu sau khi Đế chế Mông Cổ sụp đổ, và khi một phần nước Mông Cổ đã bị ngoại bang xâm chiếm, người Mông Cổ vẫn ngăn cản bất kỳ ai đặt chân vào vùng đất linh thiêng của tổ tiên họ. Dù người Mông Cổ cuối cùng đã cải sang đạo Phật, những người nối ngôi Thành Cát Tư Hãn vẫn không cho phép các nhà sư xây điện thờ, tu viện, hay đài tưởng niệm để đánh dấu mộ của ông.
Vào thế kỷ hai mươi, để đảm bảo nơi sinh và mất của Thành Cát Tư Hãn không trở thành địa điểm tập kết của các nhà dân tộc học, những người đứng đầu Liên Xô đã canh gác nơi đây rất cẩn mật. Thay vì Đại Cấm địa hay bất kỳ tên gọi lịch sử nào có thể gợi nhắc tới Thành Cát Tư Hãn, Liên Xô đặt cho nơi đây cái tên hành chính Khu vực Hạn chế Cao. Về mặt hành chính, họ tách biệt nơi này với các tỉnh lân cận và đặt nó dưới sự kiểm soát trực tiếp của chính quyền trung ương – vốn chịu sự điều khiển nghiêm ngặt của Moskva. Hơn nữa, Khu vực Hạn chế Cao rộng một triệu hecta này còn được bao quanh bởi một Khu vực Hạn chế cũng lớn tương tự. Để ngăn chặn việc đi lại, chính quyền không xây dựng đường sá và cầu cống ở đây. Giữa Khu vực Hạn chế và thủ đô Ulaanbaatar, Liên Xô duy trì một căn cứ không quân MiG cực kỳ kiên cố, và khả nâng cao là cả một nhà kho chứa vũ khí hạt nhân. Một căn cứ xe tăng Liên Xô lớn chặn lối vào khu vực cấm, và quân đội Nga sử dụng nơi này để luyện tập sử dụng pháo và diễn tập xe tăng.
Người Mông Cổ không tạo ra đột phá về kỹ thuật, không sáng lập ra tôn giáo mới, viết rất ít sách và kịch, và không để lại cho thế giới giống cây trồng hay phương pháp nông nghiệp nào mới. Thợ thủ công của họ không biết dệt vải, đúc kim loại, làm gốm, hay thậm chí nướng bánh mì. Họ không làm ra đồ gốm hay sứ, không vẽ tranh, và không xây công trình kiến trúc nào. Ấy vậy mà, nhờ liên tiếp chinh phục các nền văn hóa, quân đội của họ đã thu thập và truyền lại những kỹ năng này từ nền văn minh này tới nền văn minh khác.
Công trình cố định duy nhất mà Thành Cát Tư Hãn xây dựng là những cây cầu. Dù ông cự tuyệt việc xây lâu đài, thành trì, thành phố, hay tường thành, vì phải di chuyển khắp nơi, có lẽ ông đã xây nhiều cầu hơn bất kỳ người lãnh đạo nào khác trong lịch sử. Ông bắc cầu qua hàng trăm sông suối để giúp quân đội và hàng hóa lưu thông dễ hơn. Người Mông Cổ chủ đích mở cửa thế giới để đến với một ngành buôn bán mới, không chỉ về hàng hóa, mà còn về tư tưởng và kiến thức. Người Mông Cổ đưa thợ mỏ người German tới Trung Hoa, và bác sĩ Trung Hoa tới Ba Tư. Những lần thuyên chuyển có khi có ý nghĩa to lớn, cũng có lúc không đáng kể. Họ truyền bá việc dùng thảm tới mọi nơi họ đặt chân tới, mang chanh và cà rốt từ Ba Tư tới Trung Hoa trồng, đem mì sợi, bài Tây và trà từ Trung Hoa tới phương Tây. Họ đưa một người thợ rèn từ Paris tới thảo nguyên Mông Cổ khô cằn để xây đài phun nước, tuyển một quý tộc Anh quốc làm phiên dịch trong quân đội, và mang tục lấy dấu vân tay của người Hoa tới Ba Tư. Họ cấp tiền xây dựng nhà thờ Ki-tô giáo ở Trung Hoa, đền và tháp Phật giáo ở Ba Tư, và trường kinh Koran Hồi giáo ở Nga. Quân Mông Cổ càn quét khắp thế giới với tư cách là những kẻ chinh phạt, nhưng cũng là những người chuyên chở văn hóa độc nhất vô nhị của nền văn minh.
Những người Mông Cổ kế thừa đế chế của Thành Cát Tư Hãn đã cương quyết nỗ lực luân chuyển vật phẩm và hàng hóa, cũng như kết hợp chúng để tạo ra những sản phẩm hoàn toàn mới và các phát minh chưa từng có. Khi những thợ lành nghề từ Trung Hoa, Ba Tư và châu Âu kết hợp thuốc súng của Trung Hoa với súng phun lửa của người Hồi giáo và áp dụng kỹ thuật đúc chuông của châu Âu, họ đã chế tạo được súng thần công, một trật tự tiến bộ khoa học kỹ thuật hoàn toàn mới. Từ súng lục tới tên lửa, một phần lớn của kho vũ khí hiện đại đều bắt nguồn từ đây. Dù mỗi vật dụng đều ít nhiều quan trọng, chúng chỉ có ảnh hưởng lớn nhờ cách người Mông Cổ chọn lựa và kết hợp các kỹ thuật để làm ra các sản phẩm lai ghép lạ thường.
Người Mông Cổ luôn bền bỉ thể hiện tấm lòng nhiệt huyết với chủ nghĩa quốc tế qua những nỗ lực chính trị, kinh tế và tri thức của họ. Họ không chỉ đơn giản có tham vọng thống trị thế giới, mà còn muốn thiết lập một trật tự toàn cầu dựa trên tự do thông thương, một bộ luật quốc tế đơn nhất, và một bảng chữ cái phổ quát có thể dùng để viết mọi ngôn ngữ. Hốt Tất Liệt, cháu trai của Thành Cát Tư Hãn, cho lưu hành một đơn vị tiền giấy để dùng khắp mọi nơi, và dự định mở trường tiểu học để phổ cập giáo dục phổ thông cho trẻ em để mọi người dân đều biết chữ. Người Mông Cổ hoàn thiện và kết hợp các loại lịch để làm ra lịch vạn niên chính xác hơn các loại lịch trước đó, và tài trợ để làm ra những tấm bản đồ bao quát nhất thời ấy. Người Mông Cổ khuyến khích lái buôn đi đường đất liền tới đế quốc của họ, và gửi nhà thám hiểm vượt đất liền và biển khơi tới những nơi xa xôi như châu Phi để mở rộng phạm vi thương mại và ngoại giao.
Ở gần như mọi quốc gia mà người Mông Cổ đặt chân tới, sự tàn phá ban đầu cùng cơn sốc bị một bộ lạc xa lạ và man rợ chinh phục nhanh chóng nhường đường cho tăng trưởng chưa từng thấy trong trao đổi văn hóa, mở rộng thông thương, và tiến bộ trong văn minh. Ở châu Âu, quân Mông Cổ tàn sát tầng lớp hiệp sĩ quý tộc của châu lục này, nhưng, thất vọng vì sự nghèo đói của khu vực so với các nước Trung Hoa và Hồi giáo, đã rời đi mà không buồn chiếm đóng thành phố, cướp bóc đất nước, hay sáp nhập chúng vào đế chế đang ngày càng lớn mạnh. Sau cùng, châu Âu chịu thương vong ít nhất, song lại có được mọi lợi thế từ các đầu mối liên lạc là các thương nhân như gia đình Polo ở Vénice, và các sứ giả trao đổi giữa các vị hãn Mông Cổ và giáo hoàng cũng như vua của châu Âu. Những kỹ thuật, kiến thức và của cải mới này đã bắt đầu thời kỳ Phục hưng, giúp châu Âu tìm lại một phần nền văn hóa xưa kia, nhưng quan trọng hơn, thời kỳ này đã tiếp nhận các kỹ thuật in ấn, vũ khí, la bàn và bàn tính từ phương Đông. Như nhà khoa học người Anh Roger Bacon ở thế kỷ mười ba đã nhận xét, người Mông Cổ thành công không chỉ nhờ chiến thuật ưu việt, mà “họ đã thành công bằng phương pháp khoa học.” Dù người Mông Cổ “hiếu chiến,” họ đã tiến xa đến vậy vì “họ đã dành thời gian cho các phương châm triết học.”
Gần như mọi khía cạnh của đời sống Âu châu – công nghệ, chiến tranh, phục trang, buôn bán, ẩm thực, nghệ thuật, vân học và âm nhạc – đều thay đổi dưới thời Phục hưng vì chịu ảnh hưởng của Mông Cổ. Bên cạnh những hình thức giao chiến mới, máy móc mới, và món ăn mới, ngay cả những yếu tố tầm thường nhất của đời sống hằng ngày cũng thay đổi vì người châu Âu đổi sang dùng vải Mông Cổ, mặc quần và áo khoác thay vì áo chẽn và áo choàng, dùng cây vĩ để chơi nhạc cụ thay vì gảy ngón tay, và vẽ tranh theo phong cách mới. Người châu Âu còn học câu cảm thán hurray của người Mông Cổ để khuyến khích lòng can đảm và cổ vũ lẫn nhau.
Với nhiều thành tựu như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi Geoffrey Chaucer*, nhà thơ Anh ngữ đầu tiên, đã dành câu chuyện dài nhất trong cuốn Những câu chuyện xứ Canterbury cho nhà chinh phục người Á Thành Cát Tư Hãn. Ông viết về Thành Cát Tư Hãn và các chiến công của ông với lòng ngưỡng mộ không che giấu. Thế nhưng trên thực tế, chúng ta lại bất ngờ khi biết rằng người Mông Cổ, những người bị phần còn lại của thế giới ngày nay xem như bọn man rợ khát máu chính hiệu, lại được các học giả thời Phục hưng nhận xét như vậy. Chân dung người Mông Cổ được Chaucer hay Bacon vẽ nên khác xa những hình ảnh ta biết từ những cuốn sách hay bộ phim sau này khắc họa Thành Cát Tư Hãn và đội quân của ông như đám người tàn bạo thèm khát vàng bạc châu báu, phụ nữ và máu.
Dù sau này có rất nhiều hình ảnh và tranh vẽ Thành Cát Tư Hãn, khi còn sống ông không có một bức chân dung nào. Không như các nhà chinh phạt khác, Thành Cát Tư Hãn không bao giờ cho phép ai vẽ chân dung, đúc tượng, hay khắc tên hay hình ảnh ông lên đồng xu, và những gì người đương thời miêu tả về ông thường gây tò mò nhiều hơn là dựa trên thực tế. Xin trích lời một ca khúc Mông Cổ hiện đại về Thành Cát Tư Hãn, “chúng con tưởng tượng hình ảnh người nhưng tâm trí chúng con trống rỗng.”
Vì không có chân dung hay ghi chép nào của người Mông Cổ về Thành Cát Tư Hãn, thế giới được tự do tưởng tượng về ông như ý muốn. Không ai dám vẽ hình ông cho tới nửa thế kỷ sau khi ông mất, và sau đó mỗi nền văn hóa lại có một hình ảnh riêng về ông. Trong con mắt người Trung Hoa, đó là một ông bác già với chòm râu thưa và đôi mắt trống rỗng, tựa như một nhà hiền triết lơ đãng hơn là người chiến binh Mông Cổ dũng mãnh. Với một nhà tiểu họa Ba Tư, ông giống một vị sultan người Turk đang ngự toạ trên ngai vàng. Người châu Âu miêu tả ông như một tên man rợ với gương mặt hung dữ và đôi mắt ác độc trừng trừng, xấu xa tới từng chi tiết.
Sự bí hiểm của người Mông Cổ để lại một nhiệm vụ rất khó khăn cho các nhà sử học tương lai muốn viết về Thành Cát Tư Hãn và đế quốc của ông. Có rất ít thông tin để các nhà viết tiểu sử và sử gia có thể dựa vào và tường thuật. Họ biết trình tự thời gian của các thành phố bị chinh phục và quân đội bị đánh bại, nhưng lại rất ít thông tin xác thực về nguồn gốc, con người, động cơ, hay đời sống riêng tư của ông. Qua nhiều thế kỷ, có nhiều lời đồn vô căn cứ rằng ngay sau khi ông qua đời, thông tin về những khía cạnh trên trong cuộc đời của Thành Cát Tư Hãn đã được một người thân cận với ông viết trong một tài liệu bí mật. Các học giả người Hoa và Ba Tư nhắc tới sự tồn tại của tài liệu bí ẩn này, và nhiều học giả tuyên bố đã nhìn thấy tài liệu này vào thời cực thịnh của Đế chế Mông Cổ. Gần một thế kỷ sau cái chết của Thành Cát Tư Hãn, sử gia Ba Tư Rashid al-Din miêu tả tài liệu này là một “sử ký chân thực” viết bằng “tục ngữ và ký tự Mông Cổ.” Nhưng ông cảnh báo rằng nó được canh giữ trong ngân khố, “cất kín và che giấu khỏi con mắt người ngoài.” Ông nhấn mạnh rằng “không ai có khả năng hiểu và xâm nhập” tài liệu Mông Cổ này “có được cơ hội.” Sau khi Đế chế Mông Cổ sụp đổ, phần lớn các dấu vết về tài liệu bí mật này dường như đã biến mất, và theo thời gian, nhiều học giả xuất sắc nhất tin rằng tài liệu này chưa bao giờ tồn tại, mà chỉ là một trong nhiều huyền thoại khác về Thành Cát Tư Hãn.
Tương tự như cách các họa sĩ giàu trí tưởng tượng của các nước khác nhau vẽ ông khác nhau, các học giả cũng vậy. Từ Triều Tiên tới Armenia, họ sáng tác ra đủ các huyền thoại và chuyện hoang đường về cuộc đời của Thành Cát Tư Hãn. Vì không có thông tin xác thực, họ bộc lộ sự sợ hãi và nỗi ám ảnh của mình qua những câu chuyện này. Qua năm tháng, các học giả đánh giá những tội ác và sự hung hãn của những người như Alexander, Caesar, Charlemagne hay Napoleon cùng với những thành tựu hay nhiệm vụ đặc biệt của họ với lịch sử. Tuy nhiên, với Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ, các thành tựu của họ rơi vào quên lãng, trong khi những gì được cho là tội lỗi và sự bạo tàn của họ thì lại bị phóng đại lên. Thành Cát Tư Hãn trở thành khuôn mẫu của một kẻ tàn bạo, tên mọi rợ khát máu, kẻ chinh phạt nhẫn tâm lấy việc hủy diệt làm thú vui. Thành Cát Tư Hãn và đội quân Mông Cổ của ông trở thành những bức tranh biếm họa một chiều, biểu tượng của mọi thứ nằm ngoài biên giới của sự văn minh.
Tới thời kỳ Khai sáng, vào cuối thế kỷ mười tám, hình ảnh đáng sợ này xuất hiện trong Con côi Trung Hoa, vở kịch của Voltaire viết về cuộc xâm lược Trung Hoa của Thành Cát Tư Hãn: Người ta gọi ông là vua của các vị vua, Thành Cát Tư Hãn hung hãng, người tàn phá những cánh đồng châu Á phì nhiêu.” Trái ngược với lời Chaucer ca ngợi về ông, Voltaire miêu tả Thành Cát Tư Hãn là “kẻ độc tài hủy diệt… kẻ tự đắc… cưỡi lên cổ các nhà vua,” nhưng “không hơn gì một tên lính Scythia hoang dại sinh ra trong vũ khí và rèn luyện để đổi lấy máu” (Màn I, cảnh I). Voltaire khắc họa Thành Cát Tư Hãn là kẻ khinh bỉ những giá trị ưu tú của thế giới văn minh xung quanh ông, vì vậy nên đã hãm hiếp phụ nữ văn minh và hủy diệt những gì ông không hiểu để thỏa mãn lòng khát khao man rợ tầm thường.
Có nhiều tên gọi bộ lạc của Thành Cát Tư Hãn – Tartar, Tatar, Mughal, Mogul, Moal, Mongol – nhưng tên gọi nào cũng đi kèm một lời nguyền đáng kinh sợ. Khi những nhà khoa học thế kỷ mười chín muốn chỉ ra sự thấp kém của người châu Á và thổ dân châu Mỹ, họ phân loại những người này là Mongoloid. Khi các bác sĩ muốn giải thích vì sao những người mẹ thuộc chủng tộc da trắng ưu việt lại có thể sinh ra con bị đần độn, các đặc tính trên khuôn mặt đứa trẻ cho thấy “rõ ràng” tổ tiên đứa trẻ đã có người bị quân Mông Cổ hãm hiếp. Những đứa trẻ bệnh tật này hoàn toàn không phải người da trắng; chúng thuộc chủng tộc Mongoloid. Khi các nhà tư bản khoe khoang tài sản và thể hiện các giá trị phi dân chủ hay phi quân bình, họ bị gọi là các mogul, nghĩa là người Mông Cổ trong tiếng Ba Tư.
Rốt cuộc, người Mông Cổ trở thành tấm bình phong cho những thất bại và khiếm khuyết của các quốc gia khác. Nga không thể bắt kịp công nghệ của phương Tây hay sức mạnh quân sự của Nhật Bản là do “cái ách Mông Cổ” mà Thành Cát Tư Hãn đã ép họ phải đeo. Ba Tư tụt hậu so với các nước láng giềng bởi quân Mông Cổ đã phá hủy hệ thống tưới tiêu của họ. Trung Hoa chậm tiến hơn Nhật Bản và châu Âu vì các bạo chúa người Mãn và Mông Cổ đã bóc lột và đàn áp họ. Ấn Độ không thể chống lại thực dân Anh do đế quốc Mogul đã quá tham lam. Vào thế kỷ hai mươi, các chính trị gia Ả-rập còn quả quyết với những người theo mình rằng người Hồi giáo đúng ra đã có thể sáng chế ra bom nguyên tử trước người Mỹ, nếu như quân Mông Cổ không đốt trụi những thư viện tráng lệ và san phẳng thành phố của họ. Khi phiến quân Taliban bị bom và tên lửa của Mỹ lật đổ ở Afghanistan năm 2002, họ đã đặt lính Mỹ xâm lược ngang hàng với quân Mông Cổ, và do vậy, để trả thù, đã tàn sát hàng ngàn người Hazara, những hậu duệ của người Mông Cổ đã sống ở Afghanistan suốt tám thế kỷ. Tương tự, vào năm sau đó, trong một trong những bài diễn thuyết cuối cùng tới người Iraq, nhà độc tài Saddam Hussein cũng đã buộc tội người Mông Cổ khi Hoa Kỳ xâm lược Iraq và lật đổ ông ta.
Giữa những luận điệu chính trị, giả khoa học, và trí tưởng tượng của giới học thuật, sự thật về Thành Cát Tư Hãn dường như đã bị chôn vùi, không còn dấu tích gì với đời sau. Quê hương ông, nơi ông giành được quyền lực, tới thế kỷ hai mươi vẫn bị phong toả với thế giới bên ngoài, tương tự như điều mà những người chiến binh đã làm trong hàng trăm năm trước đó. Những tài liệu gốc của người Mông Cổ, được gọi là Bí sử người Mông Cổ, không chỉ là bí mật mà cũng đã biến mất, rơi vào quên lãng một cách bí ẩn hơn cả lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn.
Vào thế kỷ hai mươi, đã xảy ra hai bước tiến dẫn đến cơ hội không ai ngờ tới để vén màn một số bí ẩn và sửa chữa một phần ghi chép về Thành Cát Tư Hãn. Bước tiến đầu tiên là việc giải mã các văn tự có chứa phần lịch sử đã mất quý giá về Thành Cát Tư Hãn. Bất chấp những định kiến và nhận định sai lầm về người Mông Cổ, vài học giả qua hàng trăm năm đã ghi lại những lần tiếp cận với văn tự Mông Cổ trong truyền thuyết về cuộc đời Thành Cát Tư Hãn này. Cũng giống như động vật quý hiếm hay các loài chim quý được cho là đã tuyệt chủng, những lời đồn đoán này gây nghi ngờ nhiều hơn là có tính học thuật. Cuối cùng, vào thế kỷ mười chín, một bản sao chép văn tự này bằng tiếng Trung đã được tìm thấy ở Bắc Kinh. Các học giả có thể dễ dàng đọc các ký tự, nhưng từ ngữ lại vô nghĩa vì chúng đã được ghi lại bằng một ngôn ngữ sử dụng ký tự tiếng Trung để biểu thị âm thanh của tiếng Mông Cổ thế kỷ mười ba. Các học giả chỉ có thể đọc phần tóm tắt ngắn bằng tiếng Trung đi kèm mỗi chương, trong đó chứa đựng những gợi ý rất hấp dẫn về nội dung của chúng; nhưng ngoài phần đó ra, văn tự này không thể giải nghĩa được. Vì những bí ẩn bao quanh, văn tự này được các học giả gọi là Bí sử người Mông Cổ, cái tên còn tồn tại cho tới ngày nay.
Trong phần lớn thế kỷ hai mươi, việc giải mã Bí sử ở Mông Cổ có thể gây nguy hiểm tới tính mạng. Chính quyền ngăn cuốn sách rơi vào tay dân thường và học giả vì lo ngại họ có thể bị ảnh hưởng sai trái từ quan điểm cổ hủ, phi khoa học của văn tự này. Song một phong trào học thuật ngầm đã dấy lên xung quanh Bí sử. Trong những trại du mục trên thảo nguyên, câu chuyện lịch sử mới phát hiện được truyền tai từ người này sang người khác, trại này sang trại khác. Cuối cùng họ cũng có được một lịch sử được kể từ quan điểm người Mông Cổ. Người Mông Cổ không chỉ là những kẻ man rợ phá hoại những nền văn minh ưu việt quanh mình. Với họ, những gì Bí sử tiết lộ dường như đến từ chính Thành Cát Tư Hãn, người đã trở lại với thần dân của mình để mang tới hi vọng và cảm hứng. Sau hơn bảy thế kỷ im lặng, cuối cùng, họ cũng đã có thể nghe thấy lời ngài.
Dù bị chính quyền kiểm soát, người Mông Cổ đã thể hiện quyết tâm không để mất những lời này nữa. Trong một khoảnh khắc ngắn ngủi sự giải phóng của đời sống chính trị sau cái chết của Stalin năm 1953 và việc Mông Cổ gia nhập Liên Hợp Quốc năm 1961 đã khiến người Mông Cổ dũng cảm hơn, và cảm thấy được tự do tìm lại lịch sử của mình. Năm 1962, nước này đã chuẩn bị một bộ tem để kỷ niệm tám trăm năm ngày sinh của Thành Cát Tư Hãn. Tomor-ochir, thành viên có vị trí cao thứ hai trong chính phủ, cho dựng một tượng đài xi măng để đánh dấu nơi sinh của Thành Cát Tư Hãn ven sông Onon, đồng thời tài trợ cho một cuộc hội thảo giữa các học giả để đánh giá các mặt tốt và xấu của Đế chế Mông Cổ trong lịch sử. Cả bộ tem và đường vẽ đơn giản trên tượng đài thể hiện hình ảnh sulde đã mất của Thành Cát Tư Hãn, Dải cờ thiêng làm từ lông ngựa đã dẫn ông đi chinh phạt và là nơi linh hồn ông nằm lại.
Thế nhưng, sau gần tám thế kỷ, ý nghĩa tình cảm của sulde với người Mông Cổ và một số nhóm người họ đã chinh phục vẫn sâu sắc tới mức người Nga coi hình ảnh của nó trên con tem là sự trở lại của chủ nghĩa dân tộc và nguy cơ bạo động. Lo sợ rằng nước vệ tinh của mình sẽ theo đuổi con đường giành độc lập, hay tệ hơn là đứng về phía người hàng xóm còn lại của họ – Trung Hoa, cựu đồng minh nay đã trở thành kẻ thù – Liên Xô đã đáp trả bằng một cơn phẫn nộ phi lý. Tại Mông Cổ, chính quyền đàn áp bộ tem và các học giả. Vì mắc tội phản nghịch là đã thể hiện cái các quan chức của Đảng gọi là “xu hướng lý tưởng hóa vai trò của Thành Cát Tư Hãn,” Tomor-ochir đã bị cách chức, giam cầm trong nước, và cuối cùng bị chém chết bằng rìu. Sau khi thanh lọc nội bộ, chính quyền tập trung vào tác phẩm của các học giả Mông Cổ, những người bị gọi là “thành phần chống đảng,” “gián điệp Trung Hoa,” “kẻ phá hoại,” hay “côn trùng gây hại.” Trong chiến dịch chống chủ nghĩa dân tộc sau đó, chính quyền đã bỏ tù nhà khảo cổ học Perlee trong điều kiện rất khắc nghiệt chỉ vì ông từng là thầy giáo của Tomor-ochir và đã bí mật nghiên cứu lịch sử Đế chế Mông Cổ. Các giáo viên, nhà sử học, họa sĩ, nhà thơ và ca sĩ đều gặp nguy hiểm nếu họ có bất kỳ liên hệ gì với lịch sử của thời Thành Cát Tư Hãn. Vài người trong số họ đã bị chính quyền bí mật xử tử. Những học giả khác mất công việc, và cùng với gia đình bị trục xuất khỏi nhà giữa khí hậu Mông Cổ khắc nghiệt. Họ cũng không được chăm sóc y tế, và nhiều người bị buộc phải cuốc bộ tới địa điểm lưu đày nằm ở nhiều nơi giữa vùng đất Mông Cổ rộng lớn.
Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn đã biến mất hoàn toàn sau thời kỳ này, và có lẽ đã bị chính quyền Liên Xô tiêu hủy để trừng phạt người Mông Cổ. Nhưng dù bị đàn áp tàn bạo, hay có khi chính nhờ vậy, nhiều học giả Mông Cổ đã mạo hiểm tính mạng để tự bắt đầu nghiên cứu Bí sử, nhằm tìm kiếm một cách hiểu đúng đắn về quá khứ bị bôi nhọ và xuyên tạc của họ.
Bên ngoài Mông Cổ, học giả từ nhiều nước, đặc biệt là Nga, Đức, Pháp, và Hungary, đã nỗ lực giải mã văn tự này và dịch nó sang ngôn ngữ hiện đại. Vì không thể tiếp cận các nguồn tài liệu của Mông Cổ, họ đã làm việc trong điều kiện cực kỳ khó khăn. Trong những năm 1970, từng chương một đã xuất hiện bằng tiếng Mông Cổ và tiếng Anh dưới sự giám sát và phân tích cẩn thận của Igor de Rachewiltz, một học giả người Australia tâm huyết với tiếng Mông Cổ cổ. Đồng thời, học giả người Mỹ Francis Woodman Cleaves cũng đã độc lập chuẩn bị một bản dịch tỉ mỉ, riêng biệt được Harvard University Press xuất bản năm 1982. Song để hiểu được văn tự, chỉ giải mã và dịch thôi thì chưa đủ. Ngay cả trong bản dịch, văn tự vẫn rất khó hiểu vì chúng rõ ràng đã được viết cho một nhóm kín trong hoàng gia Mông Cổ, những người được cho là có vốn hiểu biết sâu sắc không chỉ về văn hóa của người Mông Cổ thế kỷ mười ba mà còn cả về địa lý vùng đất của mình. Khi không có phân tích thực địa chi tiết về nơi các sự kiện diễn ra, việc tiếp cận bối cảnh lịch sử và ý nghĩa tiểu sử của văn tự gần như là bất khả.
Bước tiến lớn thứ hai bất ngờ xảy ra vào năm 1990 khi Liên Xô tan rã, kết thúc thời kỳ chiếm đóng Mông Cổ. Liên Xô rút quân, máy bay và xe tăng đều rời đi. Thế giới Mông Cổ ở Nội Á cuối cùng cũng đã mở cửa với người ngoài. Dần dần một số người đã dám đặt chân vào khu vực cấm địa. Các thợ săn Mông Cổ lẻn vào để săn bắt trong các thung lũng nhiều thú săn, những người phiêu lưu mạo hiểm đi bộ vào. Trong những năm 1990, nhiều nhóm người nước ngoài được trang bị công nghệ đã tới để tìm kiếm lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn và gia đình ông; dù đã có nhiều khám phá thú vị, họ vẫn không thể đạt được mục tiêu cuối cùng của mình.
Ban đầu, tôi thực hiện nghiên cứu với mục đích tìm hiểu vai trò của người dân bộ lạc trong lịch sử giao thương thế giới và Con đường Tơ lụa kết nối Trung Hoa, Trung Đông, và châu Ẩu. Tôi tới thăm các địa điểm khảo cổ, thư viện, và gặp mặt với các học giả dọc theo con đường từ Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh qua Trung Á tới Cung điện Topkapi ở Istanbul. Từ năm 1990 với chuyến đi đầu tiên tới Buryatia, quận Mông Cổ ở Siberia, tôi lần theo dấu vết của người Mông Cổ qua Nga, Trung Hoa, Mông Cổ, Uzbekistan, Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan, và Turkmenistan. Tôi dành một mùa hè để đi theo con đường di cư cổ đại mà các bộ lạc người Turk đã đi, xuất phát từ quê hương Mông Cổ để lan rộng ra tới tận Bosnia ở Địa Trung Hải. Sau đó tôi khoanh vùng đế quốc cổ bằng con đường biển ước tính của Marco Polo từ Nam Trung Hoa tới Việt Nam, qua Eo biển Malacca tới Ấn Độ, các nước Ả-rập của vùng Vịnh Ba Tư, và cuối cùng tới Venice.
Chuyến đi dài đã cung cấp rất nhiều thông tin nhưng không nhiều hiểu biết như tôi đã hi vọng. Dù vậy, tôi đã nghĩ rằng nghiên cứu của tôi đã gần kết thúc khi tôi tới Mông Cổ năm 1998, tin rằng đây sẽ là chuyến đi cuối cùng ngắn ngủi để hoàn chỉnh dự án với một số thông tin cơ bản về thời trẻ của Thành Cát Tư Hãn. Cuối cùng nó kéo dài tới năm năm với nghiên cứu sâu rộng hơn cả tôi tưởng tượng. Tôi nhận ra người Mông Cổ rất sung sướng khi được tự do sau hàng trăm năm bị nước ngoài điều khiển, và phần nhiều niềm vui đó được dành để tôn vinh ông tổ của họ, Thành Cát Tư Hãn. Dù tên tuổi ông đã bị thương mại hóa nhanh chóng trên chai rượu vodka, thanh sôcôla và xì gà, và nhiều bài hát đã ra đời để tưởng nhớ ông, ông vẫn đang mất tích với vai trò là một nhân vật lịch sử. Không chỉ có linh hồn ông biến mất khỏi tu viện, mà gương mặt thật sự của ông cũng mất tích trong lịch sử của họ cũng như trong lịch sử của chúng ta. Ông là ai?
Một cách hoàn toàn tình cờ, tôi tới Mông Cổ đúng lúc những câu hỏi này đột nhiên có thể giải đáp được. Lần đầu tiên trong gần tám thế kỷ, vùng cấm địa thời thơ ấu và nơi chôn cất ông được mở cửa cùng lúc với văn tự Bí sử bị mã hóa cuối cùng cũng được giải mã. Chỉ một học giả thì không thể làm được nhiệm vụ này, nhưng khi hợp tác với một nhóm với lai lịch khác nhau, chúng tôi đã có thể bắt đầu tìm ra câu trả lời.
Là một nhà nhân học văn hóa, tôi phối hợp chặt chẽ với nhà khảo cổ học Kh. Lkhagvasuren, người có thể tiếp cận với nhiều thông tin được thu thập bởi Tiến sĩ Kh. Perlee, thầy giáo và cố vấn của ông, và nhà khảo cổ học nổi bật nhất Mông Cổ trong thế kỷ hai mươi. Dần dà, qua Lkhagvasuren, tôi gặp các nhà nghiên cứu khác, những người đã dành nhiều năm làm việc trong bí mật và gần như luôn một mình với những nghiên cứu họ không bao giờ có thể viết ra hay xuất bản. Giáo sư O. Purev, Đảng viên Đảng Cộng sản, đã dùng vị trí nghiên cứu lịch sử Đảng chính thức của mình để nghiên cứu tục thầy cúng của người Mông Cổ và dùng hiểu biết này làm chỉ dẫn để diễn giải các ý nghĩa ẩn sau Bí sử. Đại tá Kh. Shagdar của quân đội Mông Cổ tận dụng vị trí của ông ở Moskva để so sánh miêu tả về các chiến thuật và chiến thắng của Thành Cát Tư Hãn trong Bí sử với trong kho lưu trữ quân sự Nga. Nhà chính trị học người Mông Cổ, D. Bold-Erdene, đã phân tích các kỹ thuật chính trị Thành Cát Tư Hãn sử dụng để giành lấy và đạt được quyền lực. Những nghiên cứu sâu rộng và chi tiết nhất đã được thực hành bởi nhà địa lý học O. Sukhbaatar, người đã đi cả triệu kilomet xuyên Mông Cổ để tìm kiếm lịch sử của Thành Cát Tư Hãn.
Nhóm chúng tôi bắt đầu làm việc với nhau. Chúng tôi so sánh những tài liệu cơ bản và thứ cấp quan trọng nhất từ hơn một chục ngôn ngữ với các câu chuyện trong Bí sử. Chúng tôi khom người trên những tấm bản đồ và tranh luận về ý nghĩa chính xác của các tài liệu khác nhau và các phân tích từ rất xưa. Không nằm ngoài dự đoán, chúng tôi tìm thấy những điểm chênh lệch lớn và nhiều mâu thuẫn khó có thể dung hòa. Tôi nhanh chóng nhận thấy Sukhbaatar là người hiểu mọi thứ theo nghĩa đen, một nhà kinh nghiệm luận cực đoan tin rằng mọi câu chữ trong Bí sử đều đúng, và ông tìm cách chứng minh điều đó bằng các chứng cứ khoa học. Nhưng Purev lại tin rằng trong lịch sử không có gì nên được hiểu bằng nghĩa gốc. Theo ông, Thành Cát Tư Hãn là thầy pháp vĩ đại nhất trong lịch sử, và văn tự là bản ghi lại những bí ẩn được kể lại, theo cách biểu tượng, con đường mà ông vươn tới vị trí đó. Nếu được mở khoá, nó sẽ một lần nữa cho biết cách thức một thầy pháp thống trị và điều khiển thế giới.
Ngay từ đầu khi bắt đầu cùng làm việc, chúng tôi đã hiểu rõ rằng mình không thể sàng lọc các ý tưởng và cách giải nghĩa mâu thuẫn mà không tìm kiếm những nơi các sự kiện này đã diễn ra. Bài kiểm tra cuối cùng về độ chính xác của mỗi văn bản khi chúng được trải ra trên nền đất của nơi những sự kiện này được cho là đã xảy ra. Sách có thể nói dối, nhưng nơi chốn thì không bao giờ. Một cái nhìn tổng quát nhanh chóng và mất nhiều công sức qua các địa điểm chính trả lời một số câu hỏi nhưng lại gợi ra nhiều thắc mắc khác. Chúng tôi nhận ra rằng không những chúng tôi phải tới đúng nơi, mà để hiểu được các sự kiện ở đó, chúng tôi còn phải ở đó vào đúng điều kiện thời tiết. Chúng tôi quay lại một nơi nhiều lần vào những mùa khác nhau trong năm. Những địa điểm này nằm rải rác khắp hàng ngàn dặm vuông, nhưng khu vực quan trọng với nghiên cứu của chúng tôi nằm ở vùng đất bí ẩn không thể tới được đã đóng cửa từ sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời. Vì cuộc đời du mục của Thành Cát Tư Hãn, nghiên cứu của chúng tôi trở thành một dự án rong ruổi, một dạng khảo cổ sự di chuyển thay vì các địa điểm.
Các hình ảnh từ vệ tinh cho thấy vùng đất Mông Cổ không có đường đi, nhưng lại có hàng ngàn đường mòn đan xen nhau khắp thảo nguyên dường như về mọi hướng, xuyên qua sa mạc Gobi, qua các ngọn núi; song chúng đều dừng lại ở rìa Ikh Khorig, vùng cấm địa. Đường vào quê hương Thành Cát Tư Hãn đòi hỏi phải đi qua vùng đệm từng do Liên Xô chiếm đóng và củng cố để ngăn không ai bước vào. Khi chạy khỏi Mông Cổ, quân Liên Xô để lại một khung cảnh phi thực đầy các hố pháo với xác kim loại của xe tăng, xe tải hỏng, máy bay bị tháo tung, vỏ pháo đã qua sử dụng, và bom xịt nằm rải rác. Những làn hơi lạ lan toả trong không khí, và các đợt sương mù dị thường tới rồi đi. Các công trình điêu khắc bằng kim loại méo mó cao vài tầng lầu – tàn tích kỳ lạ của những cấu trúc không rõ mục đích. Các toà nhà đổ nát, từng là nơi chứa thiết bị điện tử bí mật, giờ nằm trơ trọi giữa các đụn cát thấm đẫm dầu, không chút sức sống. Thiết bị từ các chương trình vũ khí cũ nằm bỏ không dọc thảo nguyên sứt sẹo. Hàng loạt ao nước đen bí hiểm chứa các hóa chất không xác định lấp lánh kỳ quái dưới ánh mặt trời chói chang. Những mảnh vụn đen đúa không rõ nguồn gốc trôi nổi trong chất lỏng ứ đọng này, và xương động vật, xác khô, các mẩu lông và nhúm lông vũ đọng lại ở mép vũng. Ở bên kia nghĩa địa kinh hoàng của thế kỷ hai mươi này – trong sự tương phản sắc nét nhất có thể tưởng tượng được – là quê hương nguyên sơ, đóng kín của Thành Cát Tư Hãn: hàng trăm dặm rừng nguyên sinh, núi, thung lũng sông, và thảo nguyên.
Bước vào Khu vực Hạn chế Cao không chỉ là một bước lùi về quá khứ, mà còn là cơ hội để khám phá thế giới của Thành Cát Tư Hãn gần đúng như những gì ông để lại. Khu vực này đã sống sót như một hòn đảo mất tích bị bao quanh, nhưng lại được bảo vệ, bởi những hậu quả kinh hoàng nhất của công nghệ thế kỷ hai mươi. Bị cản trở bởi cây đổ, bụi rậm, và những tảng đá lớn, phần lớn nơi này không thể thâm nhập được, và lính gác chỉ thỉnh thoảng tuần tra những phần còn lại trong suốt tám thế kỷ vừa rồi. Khu vực cấm địa này là một tượng đài sống dành cho Thành Cát Tư Hãn; chúng tôi vừa đi qua nơi này vừa tưởng như bất kỳ lúc nào ông cũng có thể phi ngựa bên sông hay qua dãy núi để đóng trại ở những nơi ông yêu quý, bắn tên vào một con linh dương đang bỏ chạy, đào một hố câu cá trên lớp băng che phủ sông Onon, hay quỳ xuống và cầu nguyện ở Burkhan Khaldun, ngọn núi thần che chở ông từ lúc còn sống tới cả khi đã qua đời.
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi tiếp cận Ikh Khorig như các thám tử tiếp cận hiện trường một vụ án mới. Sử dụng Bí sử người Mông Cổ làm hướng dẫn chính, chúng tôi di chuyển qua vùng đồng bằng và khảo sát khung cảnh nguyên sinh từ nhiều đồi và gò đất nhỏ. Trên thảo nguyên rộng quang đãng xa những dấu mốc rõ ràng như núi, sông hay hồ, chúng tôi phụ thuộc nhiều vào những người chăn gia súc đã thuần thục việc định hướng qua đồng cỏ như thủy thủ vượt đại dương. Một nhóm liên tục thay đổi gồm các học sinh, học giả, người chăn gia súc và kỵ sĩ Mông Cổ cùng đi với chúng tôi, và họ tập trung tranh luận về việc trả lời những câu hỏi mà tôi đang nghiên cứu. Những nhận định và câu trả lời của họ luôn tốt hơn của tôi, và họ hỏi những điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Họ biết cách nghĩ của người chăn gia súc, và dù đang ở đất lạ, họ dễ dàng xác định tổ tiên họ đã đóng trại ở đâu, hay đã đi theo hướng nào. Họ nhanh chóng nhận ra những nơi có quá nhiều muỗi vào mùa hè hay quá thoáng gió cho mùa đông để dựng trại. Quan trọng hơn, họ sẵn sàng thử nghiệm các ý tưởng, ví dụ như phi ngựa từ điểm này sang điểm khác để tính thời gian, hay so sánh tiếng vang của vó ngựa trên đất và sỏi của nơi này so với nơi khác. Họ biết độ dày cần thiết của băng để có thể cưỡi ngựa qua sông, khi nào nên đi bộ qua, và khi nào nên phá băng và lội qua làn nước lạnh.
Một số tên địa danh ở Mông Cổ mang tính chất miêu tả, cho phép chúng tôi diễn giải chúng theo tiếng Mông Cổ và dễ dàng áp dụng vào quang cảnh xung quanh mình. Văn tự kể rằng đầu tiên Thành Cát Tư Hãn trở thành trưởng bộ lạc ở Hồ Khokh cạnh Núi Khara Jirugen, nghĩa là Hồ Xanh cạnh Núi Hình Tim Đen. Danh tính nơi này đã được lưu giữ suốt nhiều thế kỷ và có thể dễ dàng tìm thấy bởi bất cứ ai. Một số tên gọi khác liên quan tới nơi ông sinh ra, như Đồi Vú hay Hồ Lá Lách thì khó khăn hơn, vì không ai chắc chắn những cái tên trên miêu tả đặc điểm hình dáng của nơi này hay một sự kiện đã diễn ra ở đây, cũng như bởi hình dạng của hồ và sông có thể đã thay đổi sau tám thế kỷ ở vùng đất khô cằn và bị gió xói mòn này.
Dần dà, chúng tôi ráp nối câu chuyện lại hết mức có thể với những bằng chứng có trong tay. Bằng cách tìm lại những nơi chốn từ thời thơ ấu của Thành Cát Tư Hãn và lần theo đường đi của các sự kiện khắp vùng đất, chúng tôi đã có thể trực tiếp sửa lại một số quan niệm sai lầm về cuộc đời ông. Ví dụ, dù chúng tôi có tranh cãi về danh tính chính xác của mô đất dọc sông Onon nơi ông chào đời, rõ ràng con sông với cây cối rậm rạp và nhiều đầm lầy khác xa vùng thảo nguyên bao la, nơi cư trú của phần lớn dân du mục và cũng là nơi hầu hết các sử gia cho rằng Thành Cát Tư Hãn đã lớn lên. Sự khác biệt này nhấn mạnh sự khác nhau giữa ông và những người du mục khác, và làm sáng tỏ vì sao Bí sử nhắc tới săn bắn nhiều hơn là chăn gia súc trong thời thơ ấu của Thành Cát Tư Hãn. Cảnh quan nơi đây liên kết những năm đầu đời của Thành Cát Tư Hãn chặt chẽ hơn với văn hóa Siberia, nơi Bí sử coi là nguồn gốc của người Mông Cổ, chứ không phải với các bộ lạc người Turk ở vùng đồng bằng. Từ đó, thông tin này ảnh hưởng lớn tới cách chúng ta hiểu các phương pháp thực địa của Thành Cát Tư Hãn, và vì sao ông coi những người dân đối địch như động vật để chăn, còn những người lính đối địch là thú để săn bắn.
Nhóm của chúng tôi đi thực địa suốt năm năm, ở rất nhiều điều kiện và tình huống khác nhau. Nhiệt độ chênh lệch tới hơn 80°C – từ hơn 38°C ở những dải đất không bóng râm tới âm 46°C, chưa kể hơi lạnh từ những cơn gió dữ dội, trên thảo nguyên Khorkhonag tháng Một năm 2001. Chúng tôi trải qua các rủi ro và cơ hội thường thấy khi đi lại ở các khu vực kiểu này. Xe của chúng tôi bị mắc kẹt trong tuyết vào mùa đông, bùn vào mùa xuân, và cát vào mùa hè; có cái còn bị lũ chớp cuốn trôi. Có những lúc trại của chúng tôi bị gió và tuyết hay những cơn nhậu say phá hỏng. Chúng tôi tận hưởng sự hào phóng tuyệt vời của nguồn sữa và thịt không ngừng trong những mùa hè cuối cùng của thế kỷ hai mươi. Nhưng vào những năm đầu tiên của thế kỷ hiện nay, chúng tôi cũng đã trải qua những năm tồi tệ nhất của nạn đói của động vật, gọi là zud, khi ngựa và bò Tây Tạng lăn ra chết theo đúng nghĩa đen quanh chúng tôi, và động vật đủ mọi kích thước chết đông cứng giữa đêm tối.
Nhưng trong công việc, chúng tôi chưa từng trải qua một giây phút nghi ngờ hay hiểm nguy nào. So với những khó khăn trong đời sống thường nhật của những người chăn gia súc và thợ săn định cư ở các khu vực này, những gì chúng tôi gặp phải chỉ là chuyện rất nhỏ. Một vấn đề ngoài dự tính mà ban đầu tưởng chừng như là phiền phức thì cuối cùng lại luôn dạy tôi một bài học mới về vùng đất hay con người nơi đây. Từ việc đi trên lưng ngựa gần năm mươi dặm một ngày, tôi học được rằng mười lăm feet lụa buộc chặt quanh hông giúp giữ nội tạng tại chỗ và chống buồn nôn. Tôi cũng học được tầm quan trọng của việc mang sữa chua khô theo mình trong những chuyến đi dài như vậy khi không có thời gian dừng lại và nấu ăn, cũng như tính thực tiễn của áo choàng dày kiểu Mông Cổ, gọi là deel, khi cưỡi trên yên ngựa làm từ gỗ. Một lần gặp sói gần ngọn núi linh thiêng Burkhan Khaidun là điềm tốt trong mắt những bạn đồng hành của chúng tôi chứ không phải mối nguy, và vô số lần đi lạc hay hỏng xe dạy những bài học mới về phương hướng, tìm đường, và kiên nhẫn chờ đợi tới khi có người đi qua. Hết lần này tới lần khác, tôi học được rằng người Mông Cổ thấu hiểu sâu sắc thế giới của họ như thế nào, và tôi có thể tin tưởng tuyệt đối vào nhận định sáng suốt, sức khỏe, và lòng nhiệt tình giúp đỡ của họ.
Cuốn sách này giới thiệu những điểm nổi bật trong các phát hiện của chúng tôi mà không kể lại thêm những tiểu tiết về thời tiết, thức ăn, ký sinh trùng, và bệnh tật đã gặp phải, hay về cá tính của những nhà nghiên cứu và người dân chúng tôi gặp trên đường. Trọng tâm vẫn là nhiệm vụ công việc của chúng tôi: để hiểu được Thành Cát Tư Hãn và ảnh hưởng của ông tới lịch sử thế giới.
Phần đầu của cuốn sách kể lại câu chuyện Thành Cát Tư Hãn vươn tới quyền lực trên thảo nguyên và những thế lực đã định hình cuộc đời và tính cách của ông từ khi sinh ra vào năm 1162 tới khi thống nhất tất cả các bộ lạc và thành lập nhà nước Mông Cổ năm 1206. Phần thứ hai đi theo bước tiến của người Mông cổ vào sân khấu lịch sử qua cuộc Thế chiến Mông Cổ kéo dài năm thập niên (1211-1261), cho tới khi các cháu trai của Thành Cát Tư Hãn rơi vào cảnh huynh đệ tương tàn. Phần thứ ba nghiên cứu thế kỷ hòa bình và sự Thức tỉnh Toàn cầu đã tạo nền móng cho các thể chế chính trị, thương mại, và quân sự trong xã hội hiện đại của chúng ta.