Quốc gia! Quốc gia là gì? Người Tatar! và Hung! và Trung Hoa!
Như côn trùng chúng bò thành bầy.
Nhà sử học cố gắng làm chúng đáng nhớ trong vô vọng.
Vì sự thèm khát của một người nên mới có nhiều người như vậy.
Chính các cá nhân đã làm đầy thế giới này.
HENRY DAVID THOREAU,
nhật ký ngày 1 tháng Năm, 1851
.jpg)
.
- 1 -
CỤC MÁU ĐÔNG
Đôi mắt ông rực lửa và gương mặt ngời sáng.
BÍ SỬ NGƯỜI MÔNG CỔ
NGƯỜI MÔNG CỔ đã chinh phục hàng ngàn thành phố, nhưng lịch sử chỉ nhắc tên những nơi Thành Cát Tư Hãn đã hạ cố đặt chân tới. Thường thì khi đã nắm chắc chiến thắng trong tay, ông cùng quần thần sẽ rút tới một đồn trại xa xôi và dễ chịu hơn, trong lúc quân lính hoàn thành nốt nhiệm vụ của mình. Vào một ngày tháng Ba năm Canh Thìn 1220, kẻ chinh phạt người Mông Cổ này đã phá vỡ thói quen kỳ lạ ấy khi dẫn kỵ binh vào trung tâm thành phố mới bị chiếm Bukhara, một trong những thành phố quan trọng nhất của sultan xứ Khwarizm, nay thuộc Uzbekistan. Dù không phải là kinh thành hay thành phố thương mại lớn, nhưng Bukhara vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của thế giới Hồi giáo, được tôn vinh là Bukhara Danh giá, trung tâm của lòng mộ đạo, và được mệnh danh là “vật trang hoàng và niềm hân hoan của mọi tín đồ Hồi giáo.” Hiểu rõ ý nghĩa tuyên truyền của việc chinh phạt và tiến vào thành phố, Thành Cát Tư Hãn đắc thắng cưỡi ngựa qua cổng thành, qua các căn nhà gỗ và quầy hàng, tới những toà nhà được xây bằng các phiến đá lớn xếp chồng lên nhau ở trung tâm thành phố.
Ông đặt chân vào Bukhara sau thắng lợi của cuộc đột kích có lẽ là táo bạo nhất trong lịch sử quân sự. Một cánh quân của ông đã đi tuyến đường thẳng từ Mông Cổ tới để tấn công trực diện các thành phố vùng biên giới của sultan; trong khi đó, ông bí mật đưa một đạo quân khác vượt qua một chặng đường dài hơn và chưa từng thấy trong chiến trận – hai ngàn dặm toàn sa mạc, núi, và đồng hoang – thâm nhập sâu vào phía sau chiến tuyến địch, nơi ít ai ngờ tới nhất. Ngay cả các thương nhân lữ hành cũng tránh xa Kyzyl Kum*, sa mạc Cát Đỏ huyền thoại, và chọn cách đi đường vòng xa hơn hàng trăm dặm. Tất nhiên, đây chính là lý do Thành Cát Tư Hãn quyết định tấn công từ hướng đó. Nhờ kết bạn với dân du mục địa phương, ông đã có thể dẫn quân băng qua hoang mạc toàn đá và cát bằng con đường trước đó không ai biết tới.
Thành phố Bukhara mà ông nhắm tới nằm ở trung tâm một ốc đảo xanh tươi vắt qua một nhánh của sông Amu Darya. Đây chủ yếu là nơi sinh sống của người Tajik và Ba Tư, nhưng lại chịu sự cai trị của bộ lạc Turk thuộc đế quốc Khwarizm mới thành lập – một trong nhiều đế quốc tồn tại ngắn ngủi của thời kỳ này. Vị sultan của Khwarizm đã mắc phải sai lầm chết người là gây thù chuốc oán với Thành Cát Tư Hãn: ông ta đã cướp bóc một đoàn thương nhân lữ hành Mông Cổ, và làm biến dạng khuôn mặt của các sứ thẩn Mông Cổ tới để thương thảo buôn bán hòa bình. Tuy đã gần sáu mươi tuổi, nhưng khi nghe tin người của mình bị tấn công, Thành Cát Tư Hãn đã lập tức triệu tập đội quân có kỷ luật và dày dạn kinh nghiệm trận mạc của mình lên lưng ngựa một lần nữa và lên đường chinh chiến.
Trái ngược với hầu hết những đội quân lớn trong lịch sử, quân Mông Cổ hành quân mà không có quân Tương. Họ chờ tới những tháng lạnh nhất để vượt sa mạc, nhờ vậy người và ngựa cần ít nước hơn. Mùa này cũng có sương giúp kích thích nhiều loại cỏ mọc – vừa làm thức ăn cho ngựa, vừa thu hút thú săn làm thức ăn cho lính. Thay vì mang theo những cỗ máy công thành di chuyển chậm chạp và các trang thiết bị nặng nề, quân Mông Cổ đưa theo một nhóm thợ để đi được nhanh hơn và có thể chế tạo mọi thứ cần thiết ngay tại chỗ từ các nguyên vật liệu sẵn có. Sau khi quân Mông Cổ vượt qua sa mạc mênh mông, họ đã chặt những cái cây đầu tiên được tìm thấy để làm thang, vũ khí công thành và các dụng cụ khác dùng cho cuộc tấn công.
Khi lính tiền trạm phát hiện ra khu dân cư nhỏ đầu tiên sau khi rời sa mạc, đội quân lập tức chuyển từ di chuyển nhanh sang hành quân chậm rãi, nặng nề, như thể họ là thương nhân tới để buôn bán chứ không phải là chiến binh thần tốc trên đường tiến công. Phải tới khi đạo quân này bình thản đi tới tận cổng thị trấn thì cư dân ở đó mới nhận ra họ là ai và lên tiếng báo động.
Sau khi bất ngờ xuất hiện từ sa mạc, Thành Cát Tư Hãn không vội vàng tấn công Bukhara ngay. Ông biết rằng quân tiếp viện không thể để các thành phố biên giới bị quân đội của ông tấn công; do vậy ông có thời gian tận dụng sự bất ngờ để chơi trò thao túng một cách tàn nhẫn nỗi sợ hãi và niềm hi vọng trong dân chúng. Mục tiêu của các chiến thuật kiểu này rất đơn giản và luôn giống nhau: doạ quân địch phải đầu hàng trước khi giao tranh thật sự bắt đầu. Bằng cách trước hết chiếm các thị trấn nhỏ lân cận, quân đội Thành Cát Tư Hãn đã buộc nhiều người dân địa phương phải bỏ chạy tới Bukhara lánh nạn, khiến thành phố vừa đông đúc vừa khiếp sợ hơn. Nhờ tấn công sâu phía sau chiến tuyến địch, quân Mông Cổ lập tức gieo rắc sự tàn phá và nỗi kinh hoàng lên toàn vương quốc. Như cách mô tả của nhà chép sử người Ba Tư là Ata-Malik Juvaini, khi người dân thấy miền quê xung quanh họ “tràn ngập kỵ binh, và không khí đen như màn đêm vì bụi từ vó ngựa, nỗi sợ hãi và hoảng loạn đã bao trùm lên họ, sự khiếp sợ và kinh hoàng đã thắng thế.” Để chuẩn bị cho cuộc tấn công mang tính tâm lý vào một thành phố, Thành Cát Tư Hãn bắt đầu bằng hai ví dụ về những gì đang chờ đón người dân. Ông đưa ra các điều khoản đầu hàng rộng rãi cho những người dân ở ngoại thành, những ai chấp thuận và theo người Mông Cổ sẽ được khoan hồng. Theo lời nhà chép sử Ba Tư, “những ai chấp nhận và phục tùng chúng sẽ thoát khỏi nỗi kinh hoàng và sự sỉ nhục mà sự bạo tàn của chúng đem lại.” Ai từ chối sẽ bị đối xử đặc biệt hà khắc, vì quân Mông Cổ để tù binh đi trước họ làm bia đỡ đạn cho cuộc tấn công kế tiếp.
Chiến thuật này đã kinh động quân Turk trấn giữ Bukhara. Chỉ để lại khoảng năm trăm người để bảo vệ thành lũy Bukhara, phần còn lại của hai vạn quân lính đã bỏ chạy vì tin rằng vẫn còn thời gian trước khi phần lớn quân Mông Cổ tới nơi. Bằng việc bỏ pháo đài và chạy trốn rải rác, họ đã rơi vào bẫy của Thành Cát Tư Hãn; và quân Mông Cổ, vốn đã đóng quân sẵn để đợi quân lính tẩu thoát, đánh hạ họ một cách gần như là thong thả.
Dân chúng Bukhara đầu hàng và mở cổng thành, nhưng một toán quán nhỏ vẫn cố chấp ở lại trong thành lũy, với hi vọng những bức tường lớn sẽ giúp họ cố thủ trước mọi cuộc vây hãm. Để đánh giá cục diện kỹ lưỡng hơn, Thành Cát Tư Hãn đưa ra quyết định chưa từng có là đặt chân vào thành phố. Một trong những việc đầu tiên ông làm khi tới trung tâm của Bukhara, hay khi chấp nhận bất kỳ ai đầu hàng, là gọi người dân mang cỏ khô cho ngựa của mình. Cho lính và ngựa Mông Cổ ăn được xem là dấu hiệu phục tùng của kẻ quy hàng; hơn nữa, khi nhận thức ăn và cỏ khô, Thành Cát Tư Hãn cho thấy ông bằng lòng coi người dân là chư hầu nằm dưới sự bảo vệ của nước Mông Cổ, và họ phải nghe lệnh của ông.
Chúng ta có một tài liệu miêu tả Thành Cát Tư Hãn trong khoảng thời gian ông chinh phục Trung Á, khi đã chừng sáu mươi tuổi. Nhà chép sử Ba Tư là Minhaj al-Siraj Juzjani, người có cái nhìn về người Mông Cổ ít thiện cảm hơn nhiều so với nhà chép sử Juvaini, đã mô tả ông là “người đàn ông cao ráo, tráng kiện, cơ thể khỏe khoắn, tóc thưa thớt và đã chuyển bạc, với cặp mắt mèo đầy năng lượng, sự tinh anh, thiên tư, và thông hiểu, đáng kinh ngạc, một kẻ giết người tàn bạo, công bằng, quyết đoán, kẻ đánh bại quân thù, can đảm, dã man, và độc ác.” Do khả năng lạ thường là hủy hoại các thành phố và đánh bại kẻ địch đông hơn quân của ông nhiều lần, nhà chép sử này còn tuyên bố Thành Cát Tư Hãn “tinh thông ma thuật và thuật lừa dối, và là bạn của nhiều loài quỷ dữ.”
Các nhân chứng nói rằng khi tới trung tâm Bukhara, Thành Cát Tư Hãn đi tới toà thánh đường Hồi giáo lớn và hỏi rằng, vì đây là toà nhà lớn nhất thành phố, liệu nó có phải là nơi ở của sultan. Khi được cho biết đây là nhà của Chúa trời, không phải của sultan, ông không nói gì cả. Với người Mông Cổ, Chúa trời duy nhất là Thanh thiên Vĩnh hằng trải dài khắp đường chân trời theo cả bốn phương. Chúa trời đứng đầu cả Trái đất; ngài không thể bị nhốt trong một căn nhà đá như tù nhân hay thú vật trong lồng; và từ ngữ của ngài cũng không thể bị nắm bắt và giới hạn bên trong một cuốn sách như người dân thành phố nói. Chính Thành Cát Tư Hãn cũng thường cảm thấy sự hiện diện và nghe thấy tiếng của Chúa trời nói chuyện trực tiếp với ông giữa vùng núi mênh mông của quê hương, và nhờ nghe theo lời ngài, ông đã chinh phục được những thành phố vĩ đại và các quốc gia rộng lớn.
Thành Cát Tư Hãn xuống ngựa để bước vào toà thánh đường lớn. Được biết đây là lần duy nhất trong cả cuộc đời ông đặt chân vào một thánh đường Hồi giáo. Khi vào, ông ra lệnh cho các học giả và thầy tu cho ngựa ăn, giải thoát họ khỏi các hiểm nguy sau nay và đặt họ dưới sự bảo hộ của ông, tương tự như những người hành đạo khác ông chinh phục được. Sau đó, ông triệu tập 280 người giàu nhất thành phố tới thánh đường. Dù chưa có nhiều trải nghiệm sau các bức tường thành phố, ông vẫn hiểu rõ cách hoạt động của cảm xúc và tâm lý con người. Trước đám đông trong thánh đường, ông bước vài bước lên các bậc giảng đàn, rồi quay lại nhìn tầng lớp thượng lưu của Bukhara. Qua người thông dịch, ông khiển trách họ nghiêm khắc vì những tội lỗi và hành vi sai trái của sultan và của họ. Những thất bại này không phải do người dân, mà “chính những người quyền lực trong các ngươi mới là kẻ phạm tội. Nếu các ngươi không phạm những tội này, Chúa trời đã không dùng ta để trừng phạt các ngươi.” Sau đó ông giao mỗi một người giàu có cho một lính Mông Cổ, để đi cùng họ tới thu thập tài sản. Ông bảo những tù nhân giàu có của mình đừng mất công chỉ ra của cải trên mặt đất làm gì; người Mông Cổ có thể tự tìm ra chúng. Ông chỉ muốn họ dẫn đường tới những kho báu được chôn giấu mà thôi.
Sau khi bắt đầu vơ vét toàn thành phố một cách có hệ thống, Thành Cát Tư Hãn chuyển sang tấn công quân lính người Turk vẫn cố chấp khoá mình trong thành lũy của Bukhara. Tuy không quen thuộc với lính Mông Cổ, người dân ở các ốc đảo thành thị ở Trung Á như Bukhara hay Samarkand đã gặp nhiều đội quân man di đến và đi qua nhiều thế kỷ. Các nhóm quân bộ lạc trước đây, dù gan dạ hay kỷ luật đến đâu, cũng chưa bao giờ là mối đe doạ nghiêm trọng vì chừng nào quân đội thành thị còn có thức ăn và nước uống, thì họ có thể cầm cự vô thời hạn phía sau những bức tường lớn của pháo đài. Về gần như mọi mặt, đúng ra quân Mông Cổ không thể bì được với quân đội tinh nhuệ của Bukhara. Tuy nhìn chung cung của quân Mông Cổ rất tốt, nhưng mỗi người lính có trách nhiệm tự làm hoặc tìm cung của riêng mình, và chất lượng tay nghề thì không đồng đều. Tương tự, quân lính Mông Cổ được hợp thành từ tất cả đàn ông trong bộ lạc, những người được đào tạo nhờ lớn lên từ công việc chăn gia súc gian khổ; và tuy dạn dày sương gió, có kỷ luật cao, và hết mình với nhiệm vụ, nhưng họ thiếu sự tuyển chọn và quá trình đào tạo chuyên nghiệp của quân phòng thủ Bukhara. Yếu tố thuận lợi nhất với quân lính cố thủ phía sau bức tường lớn của pháo đài là từ trước tới nay, chưa từng có đội quân bộ lạc nào thuần thục các kỹ thuật phức tạp của chiến tranh vây hãm, song Thành Cát Tư Hãn đã khiến họ phải kinh ngạc.
Cuộc tiến công được thiết kế để phô trương sức mạnh phi thường, với khán giả không phải là những người dân Bukhara đã thần phục, mà là đạo quân vẫn còn ở phương xa và dân chúng Samarkand, thành phố kế tiếp trong cuộc hành quân của ông. Quân xâm lược Mông Cổ tích lũy những dụng cụ công thành họ mới đóng – các loại máy lăng và máy bắn không chỉ ném ra đá và lửa như những quân đội vây hãm khác đã làm suốt hàng thế kỷ, mà còn cả vạc chất lỏng sôi, thiết bị nổ, và vật liệu cháy. Họ điều khiển các cung tên vĩ đại trên bánh xe, và những toán quân lớn đẩy vào các ngọn tháp di động có thang rút để họ có thể bắn quân thủ thành từ trên đó. Song song với việc tấn công trên không, các thợ mỏ tiến hành đào đất để bào mòn tường thành. Trong cuộc biểu dương lực lượng đáng gờm cả trên không, đường bộ, và dưới lòng đất này, Thành Cát Tư Hãn gia tăng sức ép tâm lý bằng cách ép các tù nhân, nhiều người trong đó là chiến hữu đã bị bắt của những người vẫn còn trong cố đô, phải chạy lên trước tới khi thân xác họ lấp đầy chiến hào, trở thành thành lũy sống để những tù nhân khác đẩy các cỗ máy chiến tranh qua.
Người Mông Cổ biết bố trí và sử dụng vũ khí từ các nền văn hóa khác nhau mà họ đã tiếp xúc, và nhờ những kiến thức tích lũy được này, họ tạo ra một kho vũ khí toàn cầu có thể thích ứng với mọi tình huống. Với các vũ khí cháy nổ, họ thử nghiệm các loại binh khí sơ khai mà sau này sẽ trở thành súng cối và đại bác. Theo miêu tả của Juvaini, chúng ta thấy sự bối rối của các nhân chứng khi kể lại chính xác những gì đã diễn ra xung quanh họ. Ông mô tả cuộc tấn công của quân Mông Cổ “giống như một cái lò cháy đỏ do mấy chiếc gậy cứng ném từ ngoài vào trong các khe hở, các tia lửa từ lòng của lò bắn ra không trung.” Quân đội của Thành Cát Tư Hãn kết hợp sự mãnh liệt và tốc độ của chiến binh thảo nguyên với trình độ kỹ thuật tinh vi cao cấp nhất của nền văn minh Trung Hoa. Thành Cát Tư Hãn vừa sử dụng đội kỵ binh thần tốc và tinh nhuệ của ông để đối đầu với bộ binh trên đất liên của quân địch, vừa vô hiệu hóa sức mạnh bảo vệ của tường thành với công nghệ đánh bom mới sử dụng hỏa lực và những cỗ máy phá hủy chưa từng thấy để xuyên qua thành và khủng bố lính phòng thủ. Khi lửa và sự chết chóc dội xuống những người còn trong cố đô, các chiến binh của sultan – theo lời của Juvaini – nhanh chóng “chìm trong biển hủy diệt.”
Thành Cát Tư Hãn biết rằng chiến tranh không phải là một cuộc thi thể thao hay một trận đấu đơn thuần giữa các đối thủ; nó là sự ràng buộc hoàn toàn của một nhóm người chống lại một nhóm người khác. Vinh quang không dành cho những người tuân thủ luật lệ; nó tới với ai làm ra luật lệ và buộc kẻ địch phải tuân theo. Thắng lợi không thể dở dang. Nó phải hoàn chỉnh, tuyệt đối, và không thể chối cãi – không thì nó chẳng là gì cả. Trong chiến trận, điều này có nghĩa là các yếu tố khủng bố và bất ngờ có thể được sử dụng tùy ý. Trong thời bình, nó có nghĩa là một số các điều lệ cơ bản nhưng vững chắc phải luôn được tuân thủ để tạo lòng trung thành trong dân chúng. Phản kháng sẽ dẫn đến cái chết, tận trung sẽ được an toàn.
Cuộc tấn công Bukhara của ông được tính là thành công, không chỉ vì người dân của thành phố đó đầu hàng, mà bởi khi tin tức về chiến dịch của người Mông Cổ tới kinh thành Sumarkand, quân đội ở đó cũng đã hàng phục. Sultan tháo chạy khỏi vương quốc của mình, và lực lượng Mông Cổ tiến bước. Bản thân Thành Cát Tư Hãn dẫn nhóm quân chính vượt núi Afghanistan tới sông Ấn, trong lúc một phân đội khác vòng qua biển Caspi, vượt dãy Kavkaz tới vùng đồng bằng Nga. Trong đúng bảy trăm năm, từ ngày ấy của năm 1220 tới năm 1920, khi quân Xô-viết tiến vào, hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn đã cai trị thành phố Bukhara với tư cách là các hãn và emir, một trong những triều đại gia tộc kéo dài nhất trong lịch sử.
Năng lực điều khiển con người và kỹ thuật của Thành Cát Tư Hãn là đại diện cho kiến thức thực tiễn của hơn bốn thập kỷ chinh chiến gần như liên tục. Trong cuộc đời ông không có một khoảnh khắc cốt yếu nào mà ông đột nhiên có được tài năng chiến trận thiên phú, khả năng thu phục lòng trung thành của những người theo mình, hay kĩ năng tổ chức trên quy mô toàn cầu chưa từng có. Những điều này không bắt nguồn từ sự giác ngộ thần thánh hay trường lớp chính thống nào, mà từ một vòng quay bền bỉ của sự tiếp thu thực tiễn, thử nghiệm thích nghi, và liên tục cải thiện nhờ trí óc kỷ luật và ý chí tập trung độc đáo của ông. Sự nghiệp chiến đấu của ông bắt đầu rất lâu trước khi phần lớn binh sĩ của ông ở Bukhara được sinh ra, và trong mọi trận chiến ông đều học được thêm điều gì đó mới. Sau mỗi tranh chấp, ông có thêm nhiều người theo hầu và các kỹ thuật chiến đấu khác. Trong mỗi cuộc giao tranh, ông kết hợp các ý tưởng mới thành một tổ hợp liên tục thay đổi các thủ thuật, chiến thuật, và vũ khí quân sự. Ông không bao giờ đánh một trận chiến hai lần.
Câu chuyện về cậu bé được định để trở thành nhà chinh phạt vĩ đại nhất thế giới bắt đầu sáu thập niên trước khi người Mông Cổ chiếm được Bukhara, ở một trong những nơi hẻo lánh nhất lục địa Á-Âu mênh mông, gần biên giới giữa Mông Cổ và Siberia ngày nay. Theo truyền thuyết, người Mông Cổ bắt nguồn từ khu rừng trên núi nơi Sói Xanh-Xám kết đôi với Hươu Cái Đỏ Xinh Đẹp bên bờ một cái hồ lớn. Vì người Mông Cổ đóng cửa nơi này tuyệt đối với người ngoài khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, chúng ta không có miêu tả mang tính lịch sử nào về nơi này. Những con sông và ngọn núi ở đây gần như vô danh trong văn học sử, và ngay cả các bản đồ hiện đại cũng đưa ra các tên gọi mâu thuẫn với đặc điểm của chúng, với vô vàn cách đánh vần khác nhau.
Lãnh thổ của các bộ lạc Mông Cổ chỉ chiếm một phần nhỏ ở phía bắc đất nước Mông Cổ ngày nay. Phần lớn quốc gia này hiện nay trải dọc theo một cao nguyên cao ở Bắc-Trung Á, vượt ra khỏi tầm ảnh hưởng của các ngọn gió ẩm từ Thái Bình Dương mang nước tới vùng đồng bằng ven biển màu mỡ của các nền văn minh nông nghiệp châu Á. Ngược lại, các ngọn gió thổi tới cao nguyên Mông Cổ chủ yếu tới từ vùng Bắc Cực phía tây bắc. Những ngọn gió này để lại hơi ẩm ít ỏi mà chúng mang theo tại các ngọn núi phía bắc, để vùng phía nam của đất nước này khô cằn, một khu vực địa hình gọi là govi, hay Gobi với người nước ngoài. Giữa sa mạc Gobi khắc nghiệt và vùng núi có lượng mưa tương đối ở phía bắc là các vạt thảo nguyên bao la xanh mướt vào mùa hè nếu có mưa. Đây là nơi những người chăn gia súc di chuyển dọc theo vào mùa hè để tìm cỏ.
Dù chỉ cao ba ngàn mét trên mực nước biển, dãy núi Khentii ở Mông Cổ bao gồm một số ngọn núi cổ nhất thế giới. Khác với dãy núi trẻ Himalaya gập ghềnh, nơi phải có đồ nghề leo núi mới lên được, dãy núi cổ Khentii sau hàng triệu năm bào mòn đã bằng phẳng tới mức người và ngựa vào mùa hè có thể lên hầu hết các đỉnh núi mà không gặp quá nhiều khó khăn. Các đầm lầy nằm rải rác bên dãy núi; vào mùa đông dài, chúng đông lại thành một khối đặc. Những vết lõm sâu hơn ở sườn núi tích trữ tuyết và nước; khi đông tới chúng đông lại giống như băng hà, nhưng vào mùa hè ngắn ngủi, chúng trở thành những chiếc hồ màu xanh cô-ban tuyệt đẹp. Vào mùa xuân, băng và tuyết tan tràn vào hồ và chảy xuống núi, tạo thành chuỗi các con sông nhỏ đổ vào thảo nguyên. Vào những mùa hè đẹp nhất, chúng lấp lánh với những ngọn cỏ xanh như ngọc bích, nhưng những lúc tồi tệ nhất có thể có màu nâu cháy suốt nhiều năm liền.
Những con sông chảy ra từ dãy núi Khentii nhỏ và đóng băng phần lớn thời gian trong năm – kể cả tháng Năm, khi lớp băng thường đủ dày để chịu một nhóm ngựa có người cưỡi, và thỉnh thoảng là cả một chiếc jeep chở người. Các thảo nguyên rộng và dài trải dọc theo những con sông nhỏ này đóng vai trò như đường cao tốc cho người Mông Cổ tới nhiều nơi trên lục địa Á-Âu. Các nhánh từ đồng cỏ này vươn về phía tây tới tận Hungary và Bulgaria ở Đông Âu. Về phía đông, chúng chạm tới Mãn Châu và đáng lẽ đã tới tận Thái Bình Dương nếu không bị một dãy núi mỏng bên bờ biển chặn và chia cắt với bán đảo Triều Tiên, ở phía tây sa mạc Gobi, đồng cỏ từ từ trở lại và hợp vào với trái tim của châu Á, kết nối với những đồng bằng nông nghiệp rộng lớn của sông Hoàng Hà.
Dù địa hình dốc thoải, thời tiết có thể rất dữ dội và đột ngột biến chuyển. Đây là vùng đất của các thái cực rõ ràng, nơi con người và súc vật của họ luôn phải đối mặt với các thử thách của thời tiết. Người Mông Cổ nói rằng ta có thể trải qua cả bốn mùa trong một ngày trên dãy Khentii. Ngay cả vào tháng Năm, một con ngựa có thể chìm sâu trong tuyết tới mức khó có thể ngóc đầu lên được.
Trên mảnh đất này, vùng đất bên dòng Onon, cậu bé được định sẵn để trở thành Thành Cát Tư Hãn đã chào đời. Đối lập với vẻ đẹp tự nhiên của nơi này, phần lịch sử liên quan đến con người của nó vốn đã là các cuộc giao tranh và gian khổ từ rất lâu trước khi ông sinh ra vào mùa xuân 1162 – năm Ngọ theo âm lịch. Trên một ngọn đồi trọc nhỏ hẻo lánh nhìn xuống sông Onon xa xôi, cô gái trẻ bị bắt cóc Ha Nguyệt Luân vật lộn để sinh ra ông, đứa con đầu lòng của cô. Bị bao vây bởi những người cô không quen biết, Ha Nguyệt Luân lâm bồn rất xa gia đình đã nuôi nấng cô và thế giới mà cô biết. Nơi này không phải nhà cô, và người đàn ông tuyên bố cô là vợ mình không phải là người cô đã cưới.
Chỉ một thời gian ngắn trước đó, số phận cô đã rất khác; cô đã là vợ của một chiến binh trẻ tuổi khác, Chiledu của tộc Miệt Nhi Khất. Anh đã tới vùng thảo nguyên phía đông để tìm và tán tỉnh cô từ tộc Oát Lặc Hốt Nột, bộ tộc nổi tiếng vì những người phụ nữ xinh dẹp. Theo truyền thống vùng thảo nguyên, anh phải tặng sính lễ và làm công cho cha mẹ cô nhiều năm, trước khi đưa cô về làm dâu bộ lạc của mình.
Khi dã kết hôn, hai người một mình bắt đầu chuyến đi kéo dài nhiều tuần về quê anh. Theo Bí sử, cô ngồi trên chiếc xe kéo đen nhỏ do bò hoặc bò Tây Tạng kéo, và người chồng đầy tự hào của cô đi bên cạnh chiếc xe kéo trên con ngựa nâu xám của anh. Ha Nguyệt Luân có lẽ chỉ mới mười sáu tuổi.
Họ dễ dàng đi qua thảo nguyên, theo dòng chảy của sông Onon, và rồi chuẩn bị tới rặng núi chia cắt họ với vùng đất của người Miệt Nhi Khất. Chỉ vài ngày đi khó khăn nữa thôi trước khi họ xuống tới vùng cỏ màu mỡ của tộc Miệt Nhi Khất. Cô dâu trẻ ngồi trước chiếc xe kéo đen nhỏ, không biết tới nhóm kỵ binh sắp ập lên cô, một cuộc tấn công bạo lực không chỉ vĩnh viễn thay đổi cuộc đời cô, mà còn thay đổi cả tiến trình lịch sử.
Từ một điểm không ai thấy trên đỉnh vách đá gần đó, một người đơn độc cưỡi ngựa đi săn với con chim cắt của hắn nhìn xuống Ha Nguyệt Luân và Chiledu. Ha Nguyệt Luân và cái xe kéo hứa hẹn là con mồi ngon hơn những gì anh ta có thể bắt được với con chim của mình.
Tránh khỏi tầm mắt của cặp đôi mới cưới, tên thợ săn quay về trại tìm hai anh trai của hắn. Vì quá nghèo, không đủ tiền cho sính lễ cần thiết để kết hôn với một người vợ như Ha Nguyệt Luân, và có lẽ không muốn phải làm công lấy vợ theo truyền thống cho cha mẹ cô, tên thợ săn chọn cách phổ biến thứ nhì trên thảo nguyên để lấy vợ: bắt cóc. Ba anh em lên đường săn đuổi những con mồi đang chẳng hay biết gì. Khi chúng ập xuống cặp đôi, Chiledu lập tức cưỡi ngựa ra xa để đánh lạc hướng sự chú ý của chúng khỏi chiếc xe kéo, và đúng như dự đoán, chúng đuổi theo anh. Anh nỗ lực trong vô vọng để cắt đuôi chúng bằng cách đi vòng quanh chân núi để quay về với cô dâu của mình, nhưng ngay cả khi đó Ha Nguyệt Luân đã biết rằng chồng cô không lừa được những kẻ tấn công trên đất của chúng, và rằng chúng sẽ sớm trở lại. Dù chỉ là một thiếu nữ, cô quyết định rằng để chồng cô có một cơ hội sống, cô phải ở lại và đầu hàng bọn bắt cóc. Nếu cô bỏ chạy với Chiledu trên một con ngựa, họ sẽ bị bắt và anh sẽ bị giết. Nhưng nếu anh bỏ trốn một mình, chúng sẽ chỉ bắt cô.
Cuốn Bí sử kể lại rằng để thuyết phục chồng mình hợp tác với kế hoạch của cô, cô nói với anh rằng, “Nếu anh sống, sẽ có các cô gái dành cho anh ở mọi nơi và trên mọi chiếc xe kéo. Anh có thể lấy một người phụ nữ khác làm vợ, và anh có thể gọi cô ấy là Ha Nguyệt Luân thay cho em.” Rồi Ha Nguyệt Luân nhanh chóng cởi tấm áo khoác của mình ra và ra lệnh cho người chồng mới của cô “nhanh chóng chạy đi.” Cô ném chiếc áo khoác vào mặt anh như một cử chỉ ly biệt và nói, “Cầm theo cái này để anh có thể có mùi hương của em theo mình.”
Mùi hương có một vị trí sâu sắc và quan trọng trong văn hóa thảo nguyên. Nếu người dân các nền văn hóa khác ôm hoặc hôn nhau khi gặp mặt hoặc rời đi, dân du mục thảo nguyên ngửi mùi của nhau – một cử chỉ tương tự như hôn lên má. Ngửi mùi mang theo những ý nghĩa tinh thần sâu nặng ở các mức độ khác nhau, từ gia đình giữa cha mẹ với con cái tới cái hít gợi tình giữa những cặp tình nhân. Hơi thở và mùi cơ thể của riêng mỗi người được xem là một phần linh hồn họ. Khi ném chiếc áo khoác của mình cho chồng, Ha Nguyệt Luân đã đưa cho anh một tín vật quan trọng gợi nhớ về tình yêu của cô.
Sau ngày đó, cuộc đời trước mắt Ha Nguyệt Luân sẽ rất dài và đầy biến động, nhưng đúng là định mệnh không cho phép cô gặp lại mối tình đầu của mình. Trên đường chạy trốn những kẻ bắt cóc vợ mình, Chiledu giữ chặt tấm áo khoác của cô trên mặt và quay lại nhìn cô nhiều tới mức các bím tóc đen dài của anh quất qua lại như roi giữa ngực và vai anh. Khi nhìn thấy chồng mình phi ngựa qua đèo và vĩnh viễn trượt khỏi tầm mắt cô, Ha Nguyệt Luân trút ra hết mọi cảm xúc trong lòng. Theo Bí sử tiếng gào của cô lớn tới mức “cô làm sông Onon dậy sóng” và “rung chuyển cánh rừng và thung lũng.”
Kẻ bắt cô và người được định để trở thành chồng mới của cô là Dã Tốc Cai, thuộc một tộc nhỏ và tầm thường mà sau này được gọi là người Mông Cổ, nhưng tại thời điểm này hắn chỉ là thành viên của bộ tộc Bột Nhi Chỉ Cân, phải phục tùng những người họ hàng Thái Xích Ô hùng mạnh hơn. Với Ha Nguyệt Luân, điều đáng lo hơn cả địa vị của kẻ bắt cô là việc anh ta đã có một người vợ hay vợ lẽ tên Tốc Xích Cát Lặc, và có một con trai với cô ấy. Ha Nguyệt Luân sẽ phải đấu tranh để giành vị trí trong gia đình. Nếu cô may mắn, hai người phụ nữ có lẽ đã sống trong hai ger riêng biệt, loại nhà lều có mái vòm làm bằng vải dạ buộc quanh khung lưới, nhưng ngay cả nếu không sống cùng ger, hằng ngày họ cũng phải sống gần nhau.
Ha Nguyệt Luân lớn lên ở vùng thảo nguyên rộng rãi, nơi từ bất kỳ hướng nào cũng có thể nhìn thấy đất đai mênh mông, và là nơi hàng đàn đông đúc ngựa, bò sữa, cừu, và dê ăn cỏ và được vỗ béo vào mùa hè. Cô đã quen với chế độ ăn nhiều thịt và sữa rất ngậy và phong phú do cuộc sống trên thảo nguyên mang lại. Ngược lại, bộ lạc nhỏ của người chồng mới của cố bám trụ ở rìa phía bắc của thế giới chăn gia súc, nơi các thảo nguyên tiếp giáp với các ngọn núi rậm rạp cây cối, thiếu đồng cỏ để nuôi các đàn gia súc lớn. Giờ cô phải ăn loại thức ăn khó ăn hơn của thợ săn: sóc macmôt, chuột, chim, cá, và thỉnh thoảng có thêm dê hay linh dương. Giữa các bộ lạc thảo nguyên, lịch sử người Mông Cổ không hề lâu đời và huy hoàng. Họ bị coi là những kẻ bới rác, tranh giành các con mồi nhỏ với loài sói, và khi có cơ hội thì trộm thú vật và phụ nữ từ những người chăn gia súc trên thảo nguyên. Với họ, Ha Nguyệt Luân chỉ được xếp hơn tài sản cướp được một chút.
Theo câu chuyện hay được thuật lại, đứa con đầu lòng của Ha Nguyệt Luân được cho là đã vật lộn để tới với thế giới này khi trong bàn tay phải đang nắm chặt một vật gì đó bí ẩn và mang điềm gở. Một cách nhẹ nhàng, nhưng đầy lo lắng, người mẹ trẻ cậy dần từng ngón tay của cậu bé ra, và tìm thấy một cục máu đông đen lớn bằng một đốt ngón tay. Từ đâu đó trong dạ con ấm áp của mẹ mình, cậu bé này đã nắm lấy cục máu và đem nó từ thế giới đó tới đây. Một cô gái trẻ người non dạ, không biết chữ, và cô đơn cùng cực đã nghĩ gì về dấu hiệu lạ lùng này trong bàn tay con trai mình? Hơn tám thế kỷ sau, ta vẫn đang vất vả tìm câu trả lời cho đúng những thắc mắc cô có về con trai mình. Cục máu đông đó đại diện cho một lời tiên tri hay lời nguyền? Nó dự báo điểm tốt hay xấu? Cô nên cảm thấy tự hào hay lo lắng? Hi vọng hay sợ hãi?
Vào thế kỷ mười hai, đúng như đặc trưng của dân du canh du cư, hàng chục bộ tộc và bộ lạc trên thảo nguyên sống thành các nhóm không cố định. Trong số các bộ lạc trên thảo nguyên, những người họ hàng gần gũi nhất với người Mông Cổ là người Tatar và Khiết Đan ở phía đông, xa hơn nữa là người Mãn Châu, và các tộc người Turk ở Trung Á về phía tây. Ba nhóm dân tộc này có chung di sản văn hóa và ngôn ngữ với một vài bộ lạc ở Siberia, nơi có lẽ là nguồn gốc của tất cả các bộ lạc này. Cư ngụ ở giữa người Tatar và các bộ lạc người Turk, người Mông Cổ thường bị người ngoài nhầm lẫn với các bộ lạc này và đôi khi được gọi là người Turk Xanh hay người Tatar Đen. Thuộc nhóm ngôn ngữ Altay, được gọi theo tên dãy núi Altay ở tây Mông Cổ, ngôn ngữ của họ có chút tương đồng với tiếng Nhật và Hàn Quốc, nhưng khác hẳn tiếng Trung và các thứ tiếng có thanh điệu khác ở châu Á.
Dù các bộ lạc người Turk và người Tatar đã hợp nhất thành nhiều liên minh bộ lạc, người Mông Cổ lại chia tách thành nhiều tộc nhỏ do tộc trưởng, hay hãn, đứng đầu, và đại khái dựa trên quan hệ huyết thống. Bản thân người Mông Cổ tự nhận mình khác biệt với các nhóm người Turk và Tatar. Cả ngày đó và bây giờ, họ luôn tuyên bố mình là con cháu trực hệ của người Hung, những người đã lập ra đế quốc đầu tiên trên vùng thảo nguyên cao vào thế kỷ thứ ba. Hun trong tiếng Mông Cổ nghĩa là con người, và họ gọi tổ tiên người Hung của mình là Hun-nu, người của mặt trời. Vào hai thế kỷ thứ tư và thứ năm, người Hung phân tán từ vùng thảo nguyên Mông Cổ để chinh phục các quốc gia từ Ấn Độ tới La Mã, nhưng các bộ tộc đã không thể giữ liên lạc với nhau và đã nhanh chóng bị đồng hóa với các nền văn hóa họ chinh phục được.
Một thời gian ngắn sau khi bắt cóc Ha Nguyệt Luân, Dã Tốc Cai mở chiến dịch chống lại người Tatar và giết một chiến binh tên Thiết Mộc Chân Ngột Cách. Trở về ngay sau khi con trai chào đời, ông đặt tên cậu bé là Thiết Mộc Chân. Vì cả cuộc đời người sống trên thảo nguyên chỉ gắn với một cái tên, việc chọn tên rất giàu ý nghĩa biểu tượng ở nhiều mức độ khác nhau; cái tên truyền cho đứa trẻ tính cách, số phận, và định mệnh của nó. Việc đặt tên là Thiết Mộc Chân có thể là để nhấn mạnh mối quan hệ đối địch vẫn tồn tại giữa người Mông Cổ và người Tatar, nhưng đã có nhiều tranh cãi, cả hoang đường và hàn lâm, xung quanh ý nghĩa chính xác của cái tên Thiết Mộc Chân, cũng như điều mà cha ông muốn truyền cho ông. Gợi ý rõ ràng nhất cho ý nghĩa mà cha ông dự định đến từ tập quán đặt tên các đứa trẻ dựa theo một từ gốc chung của người Mông Cổ. Trong bốn người con ra đời sau Thiết Mộc Chân, con trai nhỏ nhất của Ha Nguyệt Luân tên là Thiết Mộc Cách, người con út và cũng là con gái duy nhất được đặt tên là Thiết Mộc Luân. Cả ba cái tên đều có vẻ có chung gốc là động từ thiết mộc (temul), trong tiếng Mông Cổ có nghĩa là vội vàng, được truyền cảm hứng, có suy nghĩ sáng tạo, và thậm chí là có ý tưởng hoang đường. Một sinh viên Mông Cổ giải thích cho tôi rằng ví dụ tiêu biểu nhất cho từ này là “ánh mắt con ngựa khi nó phi tới nơi mà nó muốn, không màng tới ý muốn của người cưỡi.”
*
Dù vùng đất Mông Cổ là một thế giới biệt lập, các bộ lạc sống ở đây không hoàn toàn nằm ngoài dòng chảy của các sự kiện trên thế giới. Suốt nhiều thế kỷ trước khi Thành Cát Tư Hãn ra đời, các nền văn minh Trung Hoa, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, và Ki-tô giáo đã len lỏi vào quê hương người Mông Cổ; song phần lớn văn hóa của họ không thể thích nghi được với môi trường khắc nghiệt của vùng thảo nguyên trên cao. Các bộ lạc du canh du cư có mối quan hệ xa nhưng phức tạp về mặt giao thương, tôn giáo, và quân sự với các thể chế quốc gia thay đổi liên tục của Trung Hoa và Trung Á. Sống ở miền bắc xa xôi, nhìn chung người Mông Cổ nằm ngoài các tuyến đường giao thương mà sau này được gọi là Con đường Tơ lụa nằm ở phía nam sa mạc Gobi, và kết nối một cách bền bỉ, dù rải rác, Trung Hoa với thế giới Hồi giáo. Tuy vậy, số hàng hóa len lỏi tới phương bắc vẫn đủ để người Mông Cổ biết tới các kho báu ở phía nam.Với dân du mục, buôn bán với láng giềng cũng như giao chiến với họ là hai phần có quan hệ mật thiết trong nhịp điệu của đời sống hằng năm, cũng quen thuộc và đoán trước được như việc chăm sóc động vật non vào mùa xuân, tìm đồng cỏ vào mùa hè, hay sấy khô thịt và các chế phẩm từ sữa vào mùa thu. Mùa đông dài và lạnh lẽo là mùa săn bắn. Đàn ông rời gia đình thành các đoàn nhỏ, lang thang trên núi và đi xuyên rừng nhằm bắt thỏ, sói, chồn zibelin, nai sừng xám, sơn dương, cừu argali, lợn rừng, gấu, cáo, và rái cá. Thỉnh thoảng cả cộng đồng cùng tham gia săn bắn, cùng bao quanh một khu vực lớn nhất có thể và dụ con mồi tới một điểm giết trung tâm. Các con vật không chỉ cung cấp thịt, da, và lông, mà còn cả sừng, ngà, răng, và xương để dân du mục chế tác thành các loại công cụ, vũ khí, và đồ trang trí, và nội tạng phơi khô dùng làm thuốc. Rừng cũng cung cấp các vật phẩm khác để buôn bán và phục vụ đời sống hằng ngày, bao gồm săn các loài chim được mang khỏi tổ từ khi mới sinh.
Dân du mục bán lâm sản từ nhà này sang nhà khác, ger này sang ger khác về hướng nam, trong khi các sản phẩm chế tạo như kim loại và vải dệt từ từ tiến về hướng bắc từ các trung tâm thông thương phía nam sa mạc Gobi. Người Mông Cổ sống sót ở rìa cực bắc của thế giới này, ngay tại nơi thảo nguyên và rừng Siberia phía bắc giao nhau. Họ sống nhờ săn bắn trong rừng cũng nhiều như chăn gia súc trên thảo nguyên, và là điển hình cho các đặc trưng cực đoan nhất của cả hai nhóm này. Họ bấu víu vào phần đuôi mỏng manh đã sờn của các sợi chỉ giao thương kết nối vùng lãnh nguyên và thảo nguyên phương bắc với những cánh đồng nông nghiệp và công xưởng phía nam. Hàng hóa tới phía bắc ít ỏi tới nỗi người ta nói rằng với người Mông Cổ, ai sở hữu một cặp bàn đạp yên ngựa bằng sắt được xem là vị chúa tể tối thượng.
Có những năm việc săn bắn không tốt, và vào mùa đông người dân đói sớm, mà lại không có nguồn lâm sản để trao đổi. Vào những năm đó, người Mông Cổ vẫn tổ chức các đội săn bắn. Song thay vì đi về phía bắc để vào rừng săn thú vật, họ đi khắp thảo nguyên để săn người. Nếu người Mông Cổ không có gì để buôn bán, họ cướp bóc những người chăn gia súc họ tìm thấy trên thảo nguyên hay trong các thung lũng hẻo lánh. Những kẻ tấn công áp dụng chiến thuật tiếp cận nạn nhân tương tự như với thú vật, và từ dấu hiệu tấn công đầu tiên, các nạn nhân thường bỏ chạy, để lại phần lớn gia súc, đồ đạc trong nhà, và bất kỳ thứ gì khác kẻ tấn công muốn. Vì mục tiêu tấn công là để giành được vật phẩm, những kẻ tấn công thường chỉ cướp các ger và thu thập gia súc, chứ không đuổi theo những người đang chạy trốn. Vì bọn cướp muốn của cải, thương vong trong các tranh chấp kiểu này thường không cao. Phụ nữ trẻ bị bắt cóc làm vợ, còn các bé trai thì trở thành nô lệ. Phụ nữ lớn tuổi hơn và trẻ nhỏ thường được bỏ qua, và đàn ông ở độ tuổi đánh nhau thường bỏ trốn trước tiên trên những con ngựa nhanh và khỏe nhất, vì họ có khả năng bị giết cao nhất và nguồn sống trong tương lai của cả nhóm phụ thuộc vào họ.
Nếu những người đàn ông bỏ trốn kịp kêu gọi đồng minh, họ sẽ cùng đuổi theo những kẻ tấn công để cố lần theo dấu chúng và đòi lại tài sản. Nếu không thể, những thành viên bộ lạc thua cuộc thu thập hết mức có thể các con vật không bị bắt, và tổ chức lại cuộc sống trong lúc lên kế hoạch phản công ở một thời điểm thuận lợi hơn.
Với người Mông Cổ, việc đánh nhau giống như một hệ thống cướp bóc luân hồi hơn là chiến tranh thật sự hay thậm chí thù hằn truyền kiếp. Trả thù thường được dùng để làm cớ tấn công, nhưng nó hiếm khi là động cơ thật sự. Thắng lợi trong chiến đấu mang tới danh tiếng cho người chiến thắng dựa trên số của cải anh ta mang về và chia sẻ cho gia đình và bạn bè; việc giao chiến không xoay quanh hào quang trừu tượng về danh dự trên chiến trường. Những chiến binh chiến thắng thể hiện niềm tự hào với những kẻ địch họ giết và ghi nhớ chúng, nhưng họ không phô trương bằng cách thu thập đầu hay da đầu, hay những cách đánh dấu hoặc biểu tượng khác để đại diện cho số người chết trận. Chỉ của cải mới quan trọng, chứ không phải việc giết chóc.
Săn bắn, giao thương, chăn gia súc, và đánh nhau tạo thành một mạng lưới liền mạch các hoạt động sống còn của các bộ lạc Mông Cổ sơ khai. Từ lúc có thể cưỡi ngựa, tất cả nam giới đều bắt đầu học các kỹ năng cần cho các hoạt động này, và không một gia đình nào có thể chỉ sống dựa vào một hoạt động. Việc cướp bóc đi theo một quy luật địa lý bắt đầu từ phía bắc. Các bộ lạc phía nam có khoảng cách gần nhất đến các thành phố buôn bán trên Con đường Tơ lụa luôn có nhiều hàng hóa hơn các bộ lạc xa xôi phía bắc. Đàn ông phía nam có các vũ khí tốt nhất, và để đánh bại họ, đàn ông phía bắc phải di chuyển nhanh hơn, suy nghĩ sáng suốt hơn, và chiến đấu khỏe hơn. Từ từ nhưng bền bỉ, quy luật buôn bán và cướp bóc luân phiên này cung cấp một dòng chảy hàng dệt may và kim loại về phương bắc, nơi thời tiết luôn xấu hơn, cỏ thưa thớt hơn, và đàn ông cộc cằn và bạo lực hơn.
*
Có rất ít thông tin còn sót lại về những năm tháng đầu đời của Thiết Mộc Chân, và chúng không cho thấy rằng ông được cha quý trọng. Một lần cha ông-vô tình bỏ ông lại khi họ chuyển tới một trại khác. Tộc Thái Xích Ô tìm thấy ông, và thủ lĩnh của họ, Thoát Lý, vị Hãn Béo, đưa ông vào nhà mình và nuôi ông một thời gian. Sau này, khi Thiết Mộc Chân trở nên hùng mạnh, Thoát Lý khoe rằng ông đã đào tạo Thiết Mộc Chân với sự chú ý cẩn thận và kỷ luật thương yêu như một con ngựa non, bảo vật quý giá nhất của một người chăn gia súc. Không rõ chi tiết và trình tự các sự kiện như thế nào, nhưng sau cùng cậu bé và gia đình đã đoàn tụ, hoặc là vì vị Hãn Béo trả đứa trẻ cho họ hoặc vì gia đình gia nhập trại của ông.Chương tiếp theo ta biết trong cuộc đời Thiết Mộc Chân xảy ra khi cha ông đưa ông đi tìm vợ khi mới chín tuổi theo cách tính của người Mông Cổ, hay tám tuổi theo phương Tây. Dã Tốc Cai và Thiết Mộc Chân đi một mình nhằm tìm kiếm gia đình Ha Nguyệt Luân ở phía đông, bởi có thể Ha Nguyệt Luân muốn con trai mình cưới một người phụ nữ cùng bộ lạc, hay ít nhất là biết gia đình nhà ngoại. Tuy nhiên, hơn cả ý muốn của Ha Nguyệt Luân, dường như Dã Tốc Cai muốn thoát khỏi cậu bé. Có lẽ người cha đã nhận thấy cuộc tranh đấu sắp nổ ra giữa Thiết Mộc Chân với Biệt Khắc Thiếp Nhi, đứa con trai lớn hơn một chút với người vợ Tốc Xích Cát Lặc. Anh ta đưa Thiết Mộc Chân đi từ khi còn nhỏ, có lẽ là để tránh những rắc rối có thể xảy đến cho gia đình nhỏ nếu cuộc ganh đua bùng nổ toàn diện.
Chỉ có một con ngựa dư để tặng cho cha mẹ của con dâu tương lai, Dã Tốc Cai cần tìm một gia đình đồng ý để Thiết Mộc Chân lao động trong nhiều năm, và đổi lại họ sẽ gả con gái mình cho cậu bé. Với Thiết Mộc Chân, chuyến đi này có lẽ là lần đầu tiên cậu đi xa khỏi quê hương bên sông Onon của mình. Ở đất lạ rất dễ lạc, và người lữ hành phải đối mặt cùng lúc với ba mối đe doạ: thú hoang, thời tiết khắc nghiệt, và nguy hiểm hơn hết – con người. Sau cùng, cha ông không buồn đưa ông tới tận nơi ở của gia đình Ha Nguyệt Luân. Trên dường, họ ở cùng với một gia đình có con gái tên Bột Nhi Thiếp, lớn hơn Thiết Mộc Chân một chút. Hai đứa trẻ có vẻ quý nhau, và hai ông bố đồng ý cho chúng hứa hôn. Trong thời gian học việc, hay làm công làm rể, Thiết Mộc Chân được trông đợi sẽ sống và làm việc dưới sự bảo vệ của gia đình vợ. Cặp đôi đính ước sẽ ngày càng thân thiết. Vì con gái thường lớn hơn con trai vài tuổi, như trong trường hợp của Bột Nhi Thiếp và Thiết Mộc Chân, cô bé sẽ bắt đầu hướng dẫn cậu gần gũi về tình dục vào thời điểm và với tốc độ phù hợp với cả hai người.
Trên con đường dài về nhà một mình sau khi để Thiết Mộc Chân lại, Dã Tốc Cai tình cờ đi qua một trại nơi người Tatar đang mở yến tiệc ăn mừng. Cuốn Bí sử giải thích rằng anh ta muốn dự tiệc, nhưng lại biết rằng mình không thể để lộ danh tính là người tám năm trước trong chiến đấu đã giết Thiết Mộc Chân Ngột Cách, người cùng tộc với họ. Dù đã cố gắng che giấu, ai đó được cho là đã nhận ra và bí mật đầu độc Dã Tốc Cai. Chất độc phát tác, song Dã Tốc Cai vẫn rời đi, trở về trại của gia đình và tại đó lập tức cho người đi tìm và đưa Thiết Mộc Chân quay lại. Cậu bé phải để Bột Nhi Thiếp lại và tức tốc chạy về bên người cha đang hấp hối.
Tới lúc cậu quay về trại của gia đình thì cha cậu đã qua đời. Dã Tốc Cai để lại hai người vợ và bảy người con chưa tới mười tuổi. Vào thời điểm đó, cả gia đình vẫn sống ven sông Onon với tộc Thái Xích Ô. Suốt ba thế hệ, tộc Thái Xích Ô đã chi phối tộc Bột Nhĩ Chỉ Cân của Dã Tốc Cai. Không có Dã Tốc Cai để giúp họ đánh nhau và săn bắn, người Thái Xích Ô quyết định rằng họ không cần hai người vợ goá và bảy đứa con nhỏ của anh ta. Với môi trường sông Onon khắc nghiệt, bộ tộc không thể nuôi ăn thêm chín người nữa.
Theo truyền thống của thảo nguyên, đáng ra một trong các anh em của Dã Tốc Cai, những người đã giúp bắt cóc Ha Nguyệt Luân, phải lấy bà làm vợ. Theo hệ thống kết hôn của người Mông Cổ, thậm chí một trong những con trai của Dã Tốc Cai với người vợ Tốc Xích Cát Lặc cũng có thể làm chồng Ha Nguyệt Luân, nếu chúng đủ lớn để nuôi sống gia đình. Phụ nữ Mông Cổ thường cưới đàn ông nhỏ hơn nhiều tuổi trong gia đình người chồng đã mất, bởi nó cho người đàn ông trẻ cơ hội để có một người vợ có kinh nghiệm mà không cần phải trả gia đình người vợ sính lễ cầu kỳ hay lao động làm rể trong nhiều năm. Tuy vẫn còn trẻ, có lẽ chỉ chừng hai mươi lăm tuổi, nhưng Ha Nguyệt Luân đã có quá nhiều con để một người đàn ông có thể nuôi. Và vì là một người vợ bị bắt cóc ở xa quê hương, ai muốn lấy cô sẽ không có được tài sản thừa kế hay quan hệ gia đình thuận lợi.
Goá chồng và không có ai khác muốn lấy, Ha Nguyệt Luân giờ đây không còn thuộc gia đình này nữa, và do vậy không ai có trách nhiệm phải giúp đỡ cô. Ha Nguyệt Luân nhận được lời nhắn rằng mình không còn là người của tộc nữa theo cách người Mông Cổ luôn dùng làm biểu tượng cho các mối quan hệ – qua thức ăn. Vào mùa xuân, khi hai người phụ nữ già – vợ goá của một vị hãn đã mất – lập bàn cỗ hằng năm để tưởng nhớ tổ tiên của gia đình, họ đã không báo cho Ha Nguyệt Luân, qua đó không chỉ cắt nguồn thức ăn mà cả vai trò thành viên trong gia đình. Cô và gia đình do đó phải tự kiếm ăn và bảo vệ bản thân. Khi cả tộc chuẩn bị di chuyển xuống hạ lưu sông Onon tới vùng đất mùa hè, họ dự định bỏ Ha Nguyệt Luân và con cái của cô lại.
Theo Bí sử, khi bộ tộc rời đi và bỏ rơi hai người phụ nữ cùng bảy đứa trẻ, chỉ có một ông già từ một gia đình cấp thấp trong tộc to tiếng phản đối việc họ làm. Điều xảy ra sau đó có lẽ đã để lại ấn tượng sâu sắc với Thiết Mộc Chân: một trong những người Thái Xích Ô đang rời đi hét trả rằng ông lão không có quyền phê phán họ, rồi quay ngược lại và dùng giáo đâm chết ông. Khi nhìn thấy cảnh này, cậu bé Thiết Mộc Chân, khi đó chưa đầy mười tuổi, được cho là đã chạy tới để cố giúp người đàn ông đang hấp hối; bất lực, cậu chỉ có thể khóc vì uất ức và tức giận.
Ha Nguyệt Luân đã tỏ ra rất sáng suốt lúc bị bắt cóc một thập niên trước; và giờ, khi sóng gió lại ập tới, tinh thần quyết đoán và sự mạnh mẽ của cô vẫn bộc lộ rõ. Cô nỗ lực một cách khiêu khích và dữ dội lần cuối để khiến tộc Thái Xích Ô thấy nhục nhã mà giữ gia đình bà lại. Khi cả tộc rời trại, cô lấy Dải cờ thiêng của người chồng đã mất ra, lên ngựa, và đuổi theo họ. Giơ Dải cờ thiêng cao quá đầu và mạnh mẽ vẫy nó giữa không trung, cô phi ngựa quanh những kẻ đang bỏ đi. Việc Ha Nguyệt Luân vẫy dải cờ của người chồng quá cố không chỉ là đang vẫy biểu tượng của anh ta, mà còn là giương chính linh hồn anh ta ra trước mắt những người cùng tộc đang bỏ rơi họ. Chúng đúng là đã thấy nhục nhã trước sự hiện diện của linh hồn anh ta và lo sợ sẽ bị các thế lực siêu nhiên trả thù, nên đã tạm thời quay về trại. Sau đó, đợi khi đêm đến, chúng lẻn đi từng người một và mang theo hết súc vật, gần như buộc hai người vợ goá và bảy đứa con phải chết trong mùa đông.
Nhưng gia đình họ đã không chết. Bằng nỗ lực phi thường, Ha Nguyệt Luân đã cứu sống họ – không sót một ai. Như Bí sử kể lại, cô đã che tóc lại, gài váy lên, và chạy dọc sông bất kể ngày đêm để nuôi năm đứa con thiếu ăn của mình. Cô tìm thấy hoa quả nhỏ, và dùng nhánh cây bách xù để đào rễ cây cỏ mọc ven sông. Để giúp cả nhà kiếm ăn, Thiết Mộc Chân chế ra tên gỗ với mũi tên làm bằng xương được mài sắc để săn chuột trên thảo nguyên, và uốn cong mũi kim khâu của mẹ làm lưỡi câu cá. Khi các cậu bé trưởng thành hơn, chúng săn được con mồi lớn hơn. Theo lời nhà kể chuyện người Ba Tư Juvaini, người đã tới Mông Cổ năm mươi năm sau và là một trong những người đầu tiên viết về cuộc đời Thiết Mộc Chân, gia đình ông mặc trang phục “làm từ da chó và chuột, và thức ăn của họ là thịt của những con này và những thứ đã chết khác.” Dù có thật sự chính xác hay không, lời miêu tả cũng đã cho thấy một cuộc vật lộn cô độc và tuyệt vọng của những con người bị xã hội bỏ rơi đang trên bờ vực chết đói, sống nửa giống các tộc khác quanh họ nửa như động vật. Trên miền đất nơi đời sống luôn khắc nghiệt, họ đã rơi xuống đáy của cuộc sống thảo nguyên.
Làm thế nào mà một đứa trẻ ngoài lề xã hội từ địa vị thấp kém như vậy có thể trở thành vị Khắc hãn của Mông Cổ? Lật qua câu chuyện về những năm tháng thành niên của Thiết Mộc Chân trong Bí sử, ta tìm thấy những gợi ý cốt yếu về vai trò quan trọng của những sự kiện đầu đời đau thương này với việc hình thành tính cách, và sau này là với con đường tiến tới quyền lực. Những bi kịch gia đình dường như đã khắc sâu trong con người ông quyết tâm chống lại cấu trúc tầng lớp nghiêm ngặt của vùng thảo nguyên, tự làm nên số phận của mình, và dựa vào đồng minh thân tín, thay vì gia đình hay bộ lạc, làm nền tảng hỗ trợ chính.
Mối quan hệ thiết yếu đầu tiên ông có là với một cậu bé lớn hơn tên Trát Mộc Hợp. Gia đình cậu nhiều lần cắm trại gần trại của nhà Thiết Mộc Chân bên bờ sông Onon, và cậu có họ hàng xa với tộc của cha của Thiết Mộc Chân vì là người của tộc Trát Đạt Lan. Theo quan niệm của văn hóa Mông Cổ, huyết thống đứng trên mọi nguyên tắc xã hội khác. Những ai nằm ngoài mạng lưới họ hàng thì mặc định là kẻ thù, và họ hàng càng gần thì ràng buộc càng mạnh mẽ. Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp chỉ là họ hàng xa, nhưng chúng muốn được gần gũi hơn, được trở thành huynh đệ. Khi còn nhỏ, Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp đã thề kết nghĩa huynh đệ trọn đời, trở thành anh em ruột theo truyền thống Mông Cổ. Câu chuyện về tình bạn định mệnh này, và những biến cố then chốt trong những năm đầu cuộc đời ông, đã hé lộ nhiều chi tiết quan trọng về khả năng phi thường của Thiết Mộc Chân để vượt lên nghịch cảnh, tập hợp những nguồn lực ông cần để cuối cùng dẹp yên cảnh chiến loạn giữa các bộ lạc, điều thống trị vùng thảo nguyên này.
Tình bạn giữa Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp hình thành khi chúng cùng săn bắn, câu cá, và chơi các trò chơi trẻ con được dạy để cải thiện kỹ năng thường ngày. Trẻ em Mông Cổ, cả trai và gái, lớn lên trên lưng ngựa. Từ khi còn rất nhỏ, chúng đã học cưỡi ngựa với cha mẹ hoặc anh chị cho tới vài năm sau, khi chúng tự bám vững được và cưỡi một minh. Thông thường, trẻ con bốn tuổi đã thành thạo cưỡi ngựa không yên cương, và sau cùng là làm thế nào để đứng trên lưng ngựa. Khi đứng trên lưng ngựa, chúng thường đấu thương để xem ai có thể đánh ngã người còn lại. Lúc chân đủ dài để với tới bàn đạp, chúng cũng được dạy để bắn tên và quăng thòng lọng từ trên ngựa. Lấy mục tiêu là các bao da treo trên đầu gậy cho gió thổi, lũ trẻ tập bắn từ các khoảng cách và tốc độ phi ngựa khác nhau. Các trò chơi này đem tới những kỹ năng vô giá cho thuật cưỡi ngựa sau này.
Một trong các trò chơi khác là chơi đốt xương, một loại xúc xắc làm từ xương mắt cá của con cừu. Mỗi cậu bé mang theo mình một bộ bốn đốt xương như vậy, và dùng chúng để tiên đoán tương lai, giải quyết tranh chấp, hay đơn giản là chơi cho vui. Không chỉ vậy, Trát Mộc Hợp và Thiết Mộc Chân còn chơi một trò mạo hiểm hơn trên sông băng, na ná trò bi đá trên băng. Dù cuốn Bí sử không nhắc tới việc sử dụng ván trượt, một vị khách châu Âu một thế kỷ sau viết rằng thợ săn trong vùng thường buộc xương vào bàn chân để đua ngang qua hồ và sông băng, để thi đấu cũng như đuổi theo thú vật.
Những kỹ năng này đem lại lợi thế rất lớn cho người Mông Cổ bởi, khác với hầu hết mọi đội quân khác, quân Mông Cổ dễ dàng cưỡi ngựa và thậm chí là giao chiến trên sông hồ đóng bàng. Các dòng sông băng bảo vệ người châu Âu khỏi quân xâm lược, như sông Volga và Danube, trở thành đường cao tốc với người Mông Cổ, cho phép họ cưỡi ngựa thẳng tới tường thành vào mùa người châu Âu không sẵn sàng chiến đấu nhất.
Phần lớn tuổi trẻ của mình, Thiết Mộc Chân miệt mài làm việc để giúp gia đình sống sót. Những trò chơi Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp chơi trên sông Onon là thú vui duy nhất được biết đến và nhắc tới trong các nguồn tư liệu về cuộc sống của cậu bé, người sau này sẽ trở thành nhà chinh phục vĩ đại. Lần đầu Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp thề trung thành với nhau là khi Thiết Mộc Chân khoảng mười một tuổi. Hai cậu bé trao đổi đồ chơi làm biểu tượng cho lời thề. Trát Mộc Hợp tặng Thiết Mộc Chân một đốt xương hoẵng đực, còn Thiết Mộc Chân cho Trát Mộc Hợp vật khảm có kèm miếng đồng thau nhỏ, một kho báu quý giá chắc hắn tới từ một nơi rất xa. Một năm sau đó, họ đưa cho nhau đầu mũi tên, món quà của người trưởng thành. Trát Mộc Hợp lấy hai mảnh sừng ngựa non và khoan một lỗ giữa chúng, làm thành đầu tên huýt gió cho Thiết Mộc Chân; đổi lại, Thiết Mộc Chân tặng Trát Mộc Hợp một đầu tên tao nhã làm từ cây trắc bá. Như các thợ săn đã làm suốt nhiều thế hệ, Thiết Mộc Chân từ lâu đã học được cách dùng mũi tên huýt gió để bí mật truyền tin qua các âm thanh mà người ngoài thường bỏ qua, hay đơn giản là không thể giải mã được.
Trong lễ tuyên thệ lần hai, các cậu bé thường nuốt một ít máu của nhau nhằm trao đổi một phần linh hồn mình. Trong trường hợp của Trát Mộc Hợp và Thiết Mộc Chân, cuốn Bí sử trích lời Trát Mộc Hợp rằng hai người họ đã nói với nhau những lời không thể nào quên và cùng ăn một loại thức ăn không tên “không tiêu hóa được.” Với lời thề này, hai cậu bé trở thành các anda, mối liên kết được xem là mạnh hơn cả anh em ruột, vì các anda đã tự chọn sự ràng buộc cho mình. Trát Mộc Hợp là anda duy nhất Thiết Mộc Chân có trong đời mình.
Mùa đông kế tiếp, tộc của Trát Mộc Hợp không trở lại, và hai cậu bé bị chia cắt trong những năm sau đó. Song mối liên kết thuở thiếu thời này sau này sẽ trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực cũng như vật cản lớn trên con đường Thiết Mộc Chân vươn tới quyền lực.
*
Trái ngược với tình bạn thân thiết với Trát Mộc Hợp, Thiết Mộc Chân ở nhà phải chịu đựng người anh cùng cha khác mẹ Biệt Khắc Thiếp Nhi, người thỉnh thoảng lại dùng quyền lực ức hiếp cậu, và sự thù dịch giữa hai anh em ngày càng nghiêm trọng khi họ dần trưởng thành. Hệ thống thứ bậc chặt chẽ đóng vai trò quyết định trong đời sống gia đình người Mông Cổ, cả ngày xưa và bây giờ. Ngày ngày phải đối mặt với rất nhiều hiểm nguy từ cả thú săn và thời tiết, người Mông Cổ thiết lập một hệ thống yêu cầu trẻ em phải tuyệt đối nghe lời cha mẹ. Khi người cha vắng mặt, dù trong vài giờ hay cả vài tháng, con trai trưởng sẽ tiếp nhận vai trò đó. Anh cả có quyền điều khiển mọi hoạt động, giao cho họ bất kỳ nhiệm vụ nào, lấy và cho cái gì cậu muốn. Cậu có quyền kiểm soát họ tuyệt đối.Biệt Khắc Thiếp Nhi lớn hơn Thiết Mộc Chân một chút, và sau khi cha họ bị giết, cậu dần dần thể hiện quyền lực dành riêng cho người đàn ông lớn tuổi nhất. Trong một câu chuyện chỉ được kể trong Bí sử, nỗi phẫn nộ của Thiết Mộc Chân bùng nổ vì một sự việc nhìn thoáng qua có vẻ khá vụn vặt. Dường như Biệt Khắc Thiếp Nhi đã lấy đi con sơn ca mà Thiết Mộc Chân bắn hạ. Biệt Khắc Thiếp Nhi có lẽ đã lấy nó chỉ để tái khẳng định vị trí đứng đầu gia đình của mình; nếu vậy, đáng ra cậu không nên dùng quyền lực của mình để ra oai với Thiết Mộc Chân. Không lâu sau đó, Thiết Mộc Chân và em ruột kế Cáp Tát Nhi ngồi câu cá cùng với hai anh em cùng cha khác mẹ Biệt Khắc Thiếp Nhi và Biệt Lặc Cổ Đài trên sông Onon. Thiết Mộc Chân câu được một con cá nhỏ, nhưng bị hai anh em kia cướp mất. Tức giận và thất vọng, Thiết Mộc Chân và Cáp Tát Nhi chạy tới mách với Ha Nguyệt Luân. Tuy nhiên, thay vì bênh con mình, bà lại đứng về phía Biệt Khắc Thiếp Nhi, nói rằng bọn trẻ nên lo lắng về kẻ địch, những người Thái Xích Ô đã bỏ rơi họ, chứ không phải đánh nhau với anh mình.
Việc Ha Nguyệt Luân đứng về phía Biệt Khắc Thiếp Nhi báo trước một tương lai mà Thiết Mộc Chân không thể chấp nhận. Là con trai trưởng, Biệt Khắc Thiếp Nhi không những có thể điều khiển mọi hành vi của em cậu, mà còn có nhiều đặc quyền, bao gồm việc được ân ái với những người vợ của người cha đã mất, trừ mẹ ruột mình. Là vợ goá không tái hôn với anh em của chồng, người chồng kế của Ha Nguyệt Luân rất có thể sẽ là Biệt Khắc Thiếp Nhi, vì cậu là con trai của chồng bà với người vợ khác.
Vào khoảnh khắc mà căng thẳng gia đình lên tới tột độ và có thể bùng nổ, Ha Nguyệt Luân giận dữ nhắc lại cho các con mình câu chuyện về nàng Alan Xinh đẹp, tổ mẫu của người Mông Cổ. Sau khi chồng mất và để lại bà với cậu con trai nuôi, bà đã sinh thêm nhiều con trai nữa. Ẩn ý của câu chuyện có vẻ khá rõ ràng; Ha Nguyệt Luân sẽ chấp nhận kết hôn với Biệt Khắc Thiếp Nhi khi cậu đủ tuổi, qua đó đưa cậu thành người chủ gia đình về mọi mặt. Tuy nhiên, Thiết Mộc Chân quyết định rằng cậu không thể chịu đựng viễn cảnh như vậy với Biệt Khắc Thiếp Nhi. Sau cuộc tranh cãi nảy lửa với mẹ về Biệt Khắc Thiếp Nhi, Thiết Mộc Chân ném tấm thảm da thuộc trước cửa sang một bên – một hành vi rất xúc phạm trong văn hóa Mông Cổ – và tức giận bỏ đi cùng với em trai Cáp Tát Nhi.
Hai anh em tìm thấy Biệt Khắc Thiếp Nhi ngồi im lặng trên một gò đá nhỏ nhìn xuống thảo nguyên, và cẩn trọng tiếp cận cậu ta qua lớp cỏ. Thiết Mộc Chân bảo Cáp Tát Nhi – tay bắn giỏi nhất cả nhà – đi vòng ra phía trước gò, còn bản thân cậu leo lên từ phía sau. Họ rón rén lẻn tới chỗ Biệt Khắc Thiếp Nhi, như thể đang theo dõi một con hươu nằm nghỉ hay linh dương gặm cỏ. Khi đã đủ gần để dễ dàng tấn công, hai cậu nhẹ nhàng đặt tên vào cung, rồi đột nhiên giương cung và đứng lên từ bãi cỏ. Biệt Khắc Thiếp Nhi không bỏ chạy, cậu ta thậm chí không cố gắng tự vệ; cậu ta không buồn thể hiện nỗi sợ trước mặt các em mình. Quở trách họ bằng chính những từ ngữ mẹ hai cậu đã dùng, rằng kẻ thù thật sự của họ là tộc Thái Xích Ô, cậu được cho là đã nói rằng, “Anh không phải là lông mi trong mắt hay vật cản trong miệng các em. Không có anh, các em sẽ chẳng có ai đồng hành ngoài cái bóng của chính mình.” Cậu ngồi yên, bắt tréo chân trong lúc hai em trai tiến lại gần. Hiểu rõ số phận sắp tới, Biệt Khắc Thiếp Nhi vẫn từ chối giao chiến. Trái lại, cậu chỉ yêu cầu một điều cuối cùng, rằng họ tha mạng cho em trai ruột cậu, Biệt Lặc Cổ Đài.
Vẫn giữ khoảng cách với người anh, Thiết Mộc Chân và Cáp Tát Nhi nhắm thẳng tên vào Biệt Khắc Thiếp Nhi, Thiết Mộc Chân từ phía sau, còn Cáp Tát Nhi từ đằng trước. Thay vì tới gần và có nguy cơ bị máu dây bẩn, họ bỏ đi và để người anh chết một mình. Tác giả của Bí sử không nói liệu cậu chết nhanh chóng hay từ từ chảy máu tới chết. Theo truyền thống Mông Cổ, nhắc tới máu hay chết chóc là việc cấm kỵ, nhưng lần sát hại này quan trọng với cuộc đời Thiết Mộc Chân tới mức nó được ghi lại rất chi tiết.
Khi Thiết Mộc Chân và Cáp Tát Nhi trở về nhà, chuyện được kể lại là Ha Nguyệt Luân đã lập tức đoán được từ vẻ mặt hai cậu bé việc họ đã làm, và la mắng Thiết Mộc Chân: “Đồ phá hoại! Đồ phá hoại! Mày chui ra từ cái bụng ấm nóng của tao mà tay nắm chặt một cục máu đông.” Rồi bà quay sang khiển trách Cáp Tát Nhi: “Và mày thì như con chó hoang tự gặm chính nhau thai của mình.” Cơn giận dữ la hét của bà với Thiết Mộc Chân là một trong những đoạn độc thoại dài nhất Bí sử, và bà liên tục xúc phạm con, so sánh chúng với thú vật – “như con báo săn mồi, con sư tử điên dại, như loài quái vật nuốt sống con mồi.” Sau cùng, khi đã hết sức, bà nhắc lại lời cảnh báo của Biệt Khắc Thiếp Nhi như thể nó là một lời nguyền: “Giờ thì mày sẽ chẳng có ai đồng hành ngoài cái bóng của mình nữa.”
Ngay từ lúc còn nhỏ như vậy, Thiết Mộc Chân đã chơi trò chơi sinh tử, không chỉ vì danh dự hay thanh thế, mà để giành chiến thắng. Cậu theo dõi anh mình như thể đang săn một con mồi, cũng như sau này chứng tỏ mình là bậc kỳ tài trong việc chuyển đổi kỹ năng săn bắn thành sách lược chiến tranh. Để Cáp Tát Nhi – tay cung tốt hơn – ở phía trước còn mình ở phía sau, cậu cũng đã thể hiện tài chiến thuật nhạy bén. Như con ngựa luôn phải dẫn đầu mọi cuộc đua, Thiết Mộc Chân kiên quyết rằng cậu sẽ chỉ huy, chứ không nghe lệnh người khác. Để giành được vị trí đứng đầu này, ông chứng minh bản thân sẵn sàng vi phạm tục lệ, chống đối lại mẹ, và giết bất kỳ ai cản đường mình, kể cả người thân trong gia đình.
Tuy việc giết Biệt Khắc Thiếp Nhi đã giúp Thiết Mộc Chân thoát khỏi sự kìm kẹp của anh mình, nhưng cậu đã làm một điều cấm kỵ và do vậy đẩy gia đình mình vào nhiều hiểm nguy hơn nữa. Họ cần phải lập tức rời khỏi vùng đó, và họ đã làm vậy. Theo truyền thống Mông Cổ, họ để xác Biệt Khắc Thiếp Nhi thối rữa ngoài trời, và tránh trở lại vị trí đó chừng nào còn sót lại dấu vết của cậu. Như Biệt Khắc Thiếp Nhi và Ha Nguyệt Luân đã cảnh báo, giờ Thiết Mộc Chân không còn người bảo hộ hay đồng minh, và chẳng mấy chốc cậu sẽ bị săn đuổi. Cậu là chủ gia đình, nhưng cậu cũng lại gặp nguy hiểm vì là kẻ phản bội.
Tới lúc này, gia đình của Ha Nguyệt Luân là một nhóm người bị xã hội ruồng bỏ, nhưng không phải tội phạm. Việc giết Biệt Khắc Thiếp Nhi đã thay đổi tất cả, và bất kỳ ai nếu muốn sẽ đều có cớ để tìm giết họ. Tộc Thái Xích Ô coi mình là dòng dõi quý tộc vùng sông Onon, và đã phái một toán lính đi trừng phạt Thiết Mộc Chân vì đã giết chóc trên lãnh thổ của họ, và cũng để ngăn chặn những gì cậu có thể sẽ làm. Không chốn dung thân trên thảo nguyên rộng mở, Thiết Mộc Chân định ẩn náu ở vùng núi, nhưng những kẻ truy đuổi vẫn bắt được cậu. Người Thái Xích Ô đưa cậu về trại chính của họ, và để khiến cậu nhụt chí, họ gông cổ cậu lại với một thứ giống như ách trâu bò. Cậu có thể đi lại được nhưng tay lại bị cùm nên không thể tự ăn uống mà phải nhờ người giúp. Mỗi ngày có một gia đình nhận trách nhiệm canh gác và chăm sóc cậu.
Trong tộc Thái Xích Ô có nhiều hộ gia đình thuộc dòng dõi thấp kém hơn và các tù binh chiến tranh. Những người này làm người hầu ở đây, và Thiết Mộc Chân bị giao cho những gia đình này với tư cách tù nhân. Nếu người Thái Xích Ô luôn tỏ vẻ khinh miệt cậu, cậu lại tìm thấy niềm an ủi và sự cảm thông ở những gia đình này khi họ đưa cậu vào ger của mình mỗi đêm. Khuất khỏi tầm mắt của những người đứng đầu tộc, họ không những chia sẻ thức ăn với cậu, mà như một sự kiện được Bí sử nhấn mạnh, một người phụ nữ già đã dịu dàng chăm sóc các vết thương rỉ máu trên cổ cậu do bị gông cắt vào. Những đứa trẻ trong gia đình cũng thuyết phục cha chúng bất tuân lệnh mà bỏ gông của cậu ra khi đêm tới, để Thiết Mộc Chân ngủ ngon hơn.
Câu chuyện Thiết Mộc Chân thoát khỏi hoàn cảnh không thể chịu đựng này càng là minh chứng rõ ràng hơn cho tính cách của cậu, điều định hình nên con đường vươn tới quyền lực của cậu sau này. Một ngày, khi người Thái Xích Ô nhậu say, còn Thiết Mộc Chân bị sai chăm sóc một cậu bé yếu ớt và chậm phát triển, cậu đột nhiên xoay mạnh cái gông khiến nó đập vào đầu cậu bé kia và làm cậu bất tỉnh. Thay vì đối mặt với cái chết gần như chắc chắn nếu cậu bỏ chạy trên thảo nguyên với chiếc gông trên cổ, cậu trốn sau bụi cỏ dại tại một con sông gần đó. Sau khi cuộc tìm kiếm cậu bắt đầu, chẳng mấy chốc cậu đã bị người cha của gia đình đã đối xử tử tế với cậu tìm ra. Thay vì rung chuông báo động, ông bảo cậu hãy trốn đi khi đêm đến. Khi trời tối, Thiết Mộc Chân rời khỏi con sông, nhưng lại không bỏ chạy. Cậu từ từ đi tới ger của người đàn ông già và bước vào, khiến gia đình ông vừa sợ hãi vừa gặp nguy hiểm. Nhưng dù tính mạng họ đang bị đe doạ, những người chủ nhà vẫn bỏ gông của cậu ra và đốt nó. Ngày hôm sau, họ giấu Thiết Mộc Chân trong một đống len trong lúc người Thái Xích Ô tiếp tục tìm kiếm cậu. Đêm đó, họ tiễn cậu đi, và dù bản thân rất nghèo khó, họ nấu một con cừu và cho cậu một con ngựa; nhờ đó cậu đã tránh được những người săn tìm mình trên con đường dài quay lại căn trại xa xôi và biệt lập của mẹ cậu.
Để một gia đình nghèo mạo hiểm tính mạng giúp cậu và cho cậu những thứ quý giá như vậy, Thiết Mộc Chân hẳn phải có điều gì hấp dẫn hay kỹ năng đặc biệt. Đồng thời, gia đình nghèo hèn này cũng đã gây ấn tượng với cậu. Người Thái Xích Ô, người họ hàng thân thiết của cậu, từng bỏ rơi gia đình cậu tới chết và giờ dường như rất muốn giết cậu. Còn gia đình này, dù không có chút máu mủ ruột rà, lại sẵn lòng mạo hiểm mạng sống của mình vì cậu. Sự kiện này có vẻ đã hằn sâu trong cậu không chỉ lòng nghi ngờ với những người có chức tước, mà còn cả niềm tin rằng có những người dù không cùng tộc với cậu thì vẫn có thể tin tưởng được như là người trong nhà. Sau này, ông đánh giá người khác dựa trên cách họ hành xử với ông chứ không theo mối quan hệ họ hàng, một khái niệm hoàn toàn mới trong xã hội thảo nguyên.
Theo điển tích và các nguồn tư liệu từ Mông Cổ, Thiết Mộc Chân chỉ bị bắt làm nô lệ trong giai đoạn ngắn ngủi này, nhưng một nhà chép sử đương thời đã viết rằng Thiết Mộc Chân phải làm nô lệ hơn mười năm. Cậu có thể đã bị bắt nhiều lần, hoặc sự việc này kéo dài lâu hơn nhiều so với những gì được viết trong Bí sử. Một số học giả nghi ngờ rằng vì bị bắt làm nô lệ lâu như vậy nên mới có rất ít thông tin chi tiết về thời thơ ấu của ông. Những năm sau này, thời kỳ làm nô lệ sẽ là một nỗi nhục với Thành Cát Tư Hãn, nhưng quan trọng hơn, nó còn là mối nguy vô cùng lớn với con cháu của những gia đình đã bắt ông làm nô dịch. Gần như tất cả những người liên quan tới sự việc này đều có lý do để giữ yên lặng về mối liên kết đó, và việc rút ngắn nó lại phù hợp với tinh thần của người Mông Cổ là chỉ nhắc sơ qua về chuyện xấu, còn luôn nhấn mạnh tính anh hùng của cuộc đào thoát.
Năm 1178, Thiết Mộc Chân tròn mười sáu tuổi. Cậu chưa từng gặp lại người vợ chưa cưới của mình, Bột Nhi Thiếp, từ khi cha cậu mất bảy năm về trước, nhưng cậu có đủ lòng tin để lên đường tìm cô một lần nữa. Cùng đi với người em cùng cha khác mẹ còn sống của mình, Biệt Lặc Cổ Đài, cậu đi xuôi dòng sông Kherlen để tìm gia đình cô. Khi họ tìm thấy ger của cha cô, Dei-sechen, Thiết Mộc Chân vui mừng phát hiện ra Bột Nhi Thiếp vẫn đợi mình, dù ở tuổi mười bảy hoặc mười tám cô đã gần qua tuổi lấy chồng. Dei-sechen biết về những rắc rối của Thiết Mộc Chân với tộc Thái Xích Ô, nhưng vẫn chấp thuận cuộc hôn nhân.
Thiết Mộc Chân và Biệt Lặc Cổ Đài lên dường về nhà cùng Bột Nhi Thiếp. Theo phong tục, tân nương phải mang theo bộ trang phục làm lễ cho cha mẹ chú rể khi cô tới sống cùng họ. Với dân du mục, quà cáp lớn không khả dụng, nhưng trang phục chất lượng cao vừa đem lại thanh thế vừa có chức năng thực tế đáng giá. Bột Nhi Thiếp mang theo chiếc áo khoác lam từ loại lông đáng giá nhất trên thảo nguyên, lông của chồn zibelin đen. Thông thường, Thiết Mộc Chân sẽ tặng món quà này cho cha mình, nhưng vì không còn cha, cậu thấy rằng chiếc áo khoác có thể còn có giá trị lớn hơn nữa. Cậu quyết định dùng chiếc áo lông chồn để khơi dậy tình bạn với một người bạn cũ của cha, qua đó tạo một mối liên minh có thể ít nhiều mang lại an toàn cho gia đình mới của cậu.
Người đàn ông tên là Thoát Lý, thường được biết đến là Vương Hãn, thuộc tộc Khắc Liệt sống trên những vùng thảo nguyên xa hoa nhất vùng trung Mông Cổ, giữa sông Orkhon và rừng thông rụng lá Hắc Lâm ven sông Tuul. Không như các họ hàng và bộ lạc nhỏ lẻ của người Mông Cổ, người Khắc Liệt hợp thành một liên minh bộ tộc hùng mạnh gồm nhiều tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của một vị hãn. Vùng thảo nguyên rộng lớn phía bắc sa mạc Gobi nằm dưới quyền kiểm soát của ba bộ lạc lớn. Vùng trung tâm do Vương Hãn và tộc Khắc Liệt của ông chỉ huy, phía tây do tộc Nãi Man của Hãn Tayang chiếm lĩnh, và người Tatar do Hãn Altan lãnh đạo thống trị miền đông vì là nước chư hầu của người Nữ Chân ở Bắc Trung Hoa. Những người đứng đầu ba tộc này tạo rồi lại hủy liên minh, và giao chiến với các tộc nhỏ hơn ven biên giới nhằm liên tục chiêu mộ họ vào các chiến dịch chống lại kẻ thù quan trọng hơn. Do vậy, cha của Thiết Mộc Chân, Dã Tốc Cai, không có quan hệ huyết thống với người Khắc Liệt, nhưng lại đã từng là anda của Vương Hãn và đã cùng ông chống lại nhiều kẻ dịch. Mối tương giao giữa hai người không chỉ đơn thuần là giữa người bảo trợ và chư hầu, bởi khi còn khá trẻ, Dã Tốc Cai đã giúp Vương Hãn lật đổ bác ông, Cổ Nhi Hãn hay Người Thống trị Tối cao, để trở thành Hãn của người Khắc Liệt. Hơn nữa, họ đã cùng nhau đánh lại người Miệt Nhi Khất, và khi Thiết Mộc Chân sinh ra thì đã trở thành đồng minh, khi Dã Tốc Cai đang mở chiến dịch chống lại người Tatar.
Theo văn hóa thảo nguyên, các công việc chính trị được tiến hành qua môi quan hệ họ hàng của người nam. Để trở thành đồng minh, đàn ông phải thuộc cùng một gia đình, do đó mọi quan hệ đồng minh giữa những người đàn ông không chung huyết thống cần phải được chuyển đổi thành quan hệ họ hàng kết nghĩa hay tượng trưng. Bởi vậy, vì cha của Thiết Mộc Chân và vị thủ lĩnh người Khắc Liệt tương lai đã là anh em kết nghĩa với tư cách là các anda, ông sẽ công nhận Thiết Mộc Chân là con trai mình và do đó sẽ bảo vệ cậu. Với phần lớn nam giới trên thảo nguyên, các mối quan hệ thân tộc tượng trưng kiểu này chỉ phụ cho những quan hệ huyết thống thật sự, nhưng với Thiết Mộc Chân, quan hệ thân tộc giả tưởng như thế này hữu ích hơn quan hệ huyết thống nhiều.
Người Khắc Liệt cùng người Nãi Man ở phía tây không chỉ đại diện cho các đơn vị chính trị lớn hơn, mà còn là các nền văn hóa phát triển hơn, có liên kết, dù chưa chắc chắn, với các mạng lưới buôn bán và tôn giáo ở Trung Á, vì họ đã được các nhà truyền đạo thuộc Giáo hội phương Đông Assyria cải đạo theo Ki-tô giáo nhiều thế kỷ trước. Vi người du mục không có nhà thờ hay tu viện, nhánh bộ lạc của Ki-tô giáo nhận mình là con cháu của Thánh To-ma Tông đồ và dựa vào các thầy tu vãng lai. Họ hành đạo trong các nơi tôn nghiêm đặt trong các ger, và không nhấn mạnh giáo lý hay một đức tin cứng nhắc nào, thay vào đó tin vào một cách diễn giải Kinh Thánh khác, kết hợp với chăm sóc y tế thường thức. Chúa Jesus được người du mục đặc biệt quan tâm vì ngài biết chữa lành người bệnh và vượt qua cái chết. Là người phàm duy nhất đã chiến thắng tử thần, Chúa Jesus được xem là thầy pháp quan trọng và quyền năng, và cây thánh giá được tôn thờ làm biểu tượng cho tứ phương của thế giới. Là những người chăn thả gia súc, các bộ lạc trên thảo nguyên dễ chấp nhận các tập quán chăn gia súc và đức tin mà các tộc người Do Thái thể hiện trong Kinh Thánh. Có lẽ trên hết, người theo Ki-tô giáo ăn thịt chứ không chay trường như người theo đạo Phật; và trái ngược với người đạo Hồi luôn kiêng khem, người theo Ki-tô giáo không chỉ thích uống rượu, mà còn coi đó là một phần bắt buộc của nghi lễ thờ phụng.
Để cô dâu của mình, Bột Nhi Thiếp, ở lại với mẹ cậu trong ger của họ, Thiết Mộc Chân lên đường cùng hai em trai Cáp Tát Nhi và Biệt Lặc Cổ Đài để mang chiếc áo khoác tới cho vị Vương Hãn theo Ki-tô giáo. Ông nhiệt thành chấp nhận món quà, qua đó ra dấu rằng theo một cách nào đó ông coi mình là dượng của các cậu bé. Vị Hãn đề nghị để Thiết Mộc Chân làm thủ lĩnh địa phương quản lý các chiến binh trẻ khác, nhưng Thiết Mộc Chân đã từ chối, như một cách thể hiện rằng cậu không muốn tuân thủ hệ thống truyền thống. Thay vào đó, dường như cậu chỉ muốn gia đình cậu được nằm dưới sự bảo hộ của Vương Hãn, và khi đã đảm bảo được điều đó, cậu và các anh em mình lên đường quay về nơi cắm trại của mình bên sông Kherlen. Tại đó, chàng tân lang mong muốn tận hưởng quãng thời gian với vợ và gia đình mà cậu phải trải qua gian khổ mới có được.
Giờ đây, khi mọi thành viên trong gia đình đều đã đủ lớn để lao động theo một cách nào đó, những gian truân đầu đời của Thiết Mộc Chân hẳn có vẻ đã lùi xa cậu cũng như gia đình cậu. Bên cạnh các em mình, gia đình của Thiết Mộc Chân còn có thêm hai nam thanh niên nữa. Boorchu gia nhập sau một cuộc gặp gỡ tình cờ khi Thiết Mộc Chân đang theo dấu vài con ngựa bị mất trộm; Jelme có vẻ đã được cha cậu giao cho Thiết Mộc Chân, mặc dù cuốn Bí sử không giải thích tại sao. Với hai thành viên mới này, trại giờ có bảy chàng thanh niên để săn bắn và bảo vệ cả nhóm. Cùng với Bột Nhi Thiếp, vợ của cậu, gia đình của Thiết Mộc Chân còn có em gái cậu và ba người phụ nữ lớn tuổi hơn: mẹ cậu, Ha Nguyệt Luân, bà chủ của gia đình, cũng như Tốc Xích Cát Lặc, mẹ của em trai cùng cha khác mẹ Biệt Lặc Cổ Đài, và một người phụ nữ nữa không rõ gốc gác chung sống với họ.
Theo Bí sử, Thiết Mộc Chân đúng ra chỉ có mong muốn đơn giản là làm người đứng đầu bộ tộc nhỏ bé này, song thế giới đầy rẫy chiến tranh và trả đũa giữa các bộ lạc xung quanh họ không cho phép một cuộc song êm đềm như vậy. Suốt hàng thế kỷ, trải qua vô vàn thế hệ, các bộ lạc thảo nguyên luôn săn đuổi nhau một cách tàn nhẫn. Ký ức về những cuộc tấn công trong quá khứ luôn còn lại. Nếu một gia đình trong bộ lạc bị thương, bộ lạc đó sẽ được phép trả đũa, và đó sẽ là cái cớ cho một cuộc tấn công kể cả khi nhiều năm đã trôi qua. Dù cố gắng tự cô lập tới đâu, chẳng nhóm nào như của Thiết Mộc Chân có thể được miễn trừ, hay được bỏ qua, trong thế giới binh biến trường kỳ này.
Sau tất cả những gì gia đình cậu đã phải trải qua, giờ đây, sau mười tám năm, người Miệt Nhi Khất, những người đã bị cướp mất Ha Nguyệt Luân, quyết định trả thù cho sự xúc phạm này. Người Miệt Nhi Khất tới không phải nhằm giành lại Ha Nguyệt Luân, người goá phụ già đã phải rất vất vả để nuôi lớn năm đứa con, mà là để tìm Bột Nhi Thiếp, người vợ trẻ của Thiết Mộc Chân, để trả giá cho việc Ha Nguyệt Luân bị bắt cóc. Mối liên minh mà Thiết Mộc Chân đã sáng suốt thiết lập với Vương Hân đóng vai trò quyết định trong cách cậu ứng phó với tình huống này, và những thử thách với người Miệt Nhi Khất là cuộc đấu quyết định dẫn cậu vào con đường tới sự vĩ đại.