Thành Cát Tư Hãn Và Sự Hình Thành Thế Giới Hiện Đại

Lượt đọc: 1095 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
câu chuyện ba con sông

Dải cờ vận mệnh của Thành Cát Tư Hãn được giương lên,

và họ tiến về phía trước.

ATA-MALIK JUVAINI,

Thành Cát Tư Hãn: Lịch sử người chinh phục thế giới

MỘT BUỔI SÁNG SỚM khi cả gia đình còn đang say ngủ trong ger của họ trên một thảo nguyên biệt lập vùng thượng lưu sông Kherlen, một toán người Miệt Nhi Khất lao tới tấn công họ. Người phụ nữ già được gia đình tiếp nhận đang ngả đầu trên nền đất, nhưng như thường thấy ở phụ nữ đã lớn tuổi, trước khi mặt trời lên bà ngủ không yên. Khi đàn ngựa tới gần, bà nghe thấy âm vang tiếng vó ngựa trên nền đất. Bừng tỉnh, bà hét lên để báo động đánh thức những người khác. Bảy chàng trai bật dậy, vội vàng đi giày và lao lên đàn ngựa đang nhẩn nha gần đó. Thiết Mộc Chân bỏ chạy cùng sáu người anh em, mẹ và em gái, để lại vợ mình, mẹ kế Tốc Xích Cát Lặc, và người phụ nữ đã cứu tất cả bọn họ. Trong thế giới bộ lạc gian truân, nơi cuộc sống hằng ngày chỉ cách thảm kịch và sự diệt vong một gang tấc, các quy tắc hành xử hiệp nghĩa không có nghĩa lý gì cả. Khi phải quyết định chớp nhoáng trên nguyên tắc quân bình, bỏ lại ba người phụ nữ làm phần thưởng ít nhất sẽ cầm chân những kẻ tấn công đủ lâu để những người còn lại có thời gian chạy thoát. Với nhóm chạy trốn của Thiết Mộc Chân, họ không thể nương náu trong vùng thảo nguyên mở; họ sẽ phải phi ngựa thật nhanh để tới được vùng núi an toàn phía bắc.

Khi những kẻ tấn công tới ger, Thiết Mộc Chân cùng đoàn của mình đã phi ngựa vào màn đêm của buổi sáng sớm, nhưng chúng đã nhanh chóng tìm thấy Bột Nhi Thiếp trốn trong một cái xe bò kéo mà người phụ nữ già đang kéo đi. Vào những ngày tuyệt vọng sau đó khi người Miệt Nhi Khất lùng sục quanh đó, Thiết Mộc Chân liên tục di chuyển, lẩn trốn trên các sườn và khe núi um tùm của núi Burkhan Khaldun. Cuối cùng, người Miệt Nhi Khất từ bỏ việc tìm kiếm và đi về hướng tây bắc, quay về nhà họ ở con sông Selenge xa xôi, một nhánh của hồ Baikal ở Siberia. Lo ngại rằng chúng rút quân chỉ để lừa cậu ra mặt, Thiết Mộc Chân phái Biệt Lặc Cổ Đài và hai người bạn của họ, Boorchu và Jelme, theo dấu những kẻ bắt cóc trong ba ngày để đảm bảo chúng không bất ngờ quay vòng lại.

Trong lúc trốn trong rừng trên núi Burkhan Khaldun, Thiết Mộc Chân đối mặt với quyết định trọng đại của cuộc đời mình: cần làm gì với việc vợ cậu bị bắt cóc. Cậu có thể chọn từ bỏ hi vọng giành lại Bột Nhi Thiếp, và đó chắc chắn là điều được trông đợi, vì nhóm người nhỏ của cậu không thể đánh bại người Miệt Nhi Khất hùng mạnh hơn. Khi đến lúc, Thiết Mộc Chân sẽ có thể tìm một người vợ khác, nhưng cậu sẽ phải bắt cóc cô ấy như cha cậu đã làm với mẹ cậu, bởi không gia đình nào sẽ sẵn lòng trao con gái mình cho một kẻ đã để mất vợ mình vào tay kẻ mạnh hơn.

Trước đây, Thiết Mộc Chân dựa vào sự nhanh trí của mình để chiến đấu hay thoát thân, song đó là những quyết định bột phát trước hiểm nguy hay cơ hội bất chợt. Bây giờ cậu phải suy nghĩ cẩn trọng và lên một kế hoạch hành động có ảnh hưởng tới cả cuộc đời mình. Cậu phải tự chọn lấy định mệnh của mình. Tin rằng mình vừa được ngọn núi nơi cậu đang trốn bảo hộ, Thiết Mộc Chân gửi lời cầu nguyện tới thần núi. Không như các bộ lạc thảo nguyên khác đã tiếp nhận truyền thống có thánh kinh và thầy tu của Phật giáo, Hồi giáo, hay Ki-tô giáo, người Mông Cổ vẫn theo thuyết duy linh, tôn thờ các linh hồn quanh họ. Họ thờ phụng Thanh thiên Vĩnh hằng, Ánh dương Hoàng kim, và rất nhiều sức mạnh tâm linh của tự nhiên. Người Mông Cổ chia thế giới thiên nhiên làm hai phần, trời và đất. Tương tự như việc linh hồn con người không nằm trong phần thể xác cố định mà ở các tinh tuý luân chuyển trong máu, hơi thở và mùi hương, linh hồn của đất cũng nằm trong dòng nước chảy không ngừng. Sông chảy qua đất giống như máu chảy trong người, và ngọn núi này chính là nơi ba con sông bắt đầu. Là ngọn núi cao nhất, Burkhan Khaldun, nghĩa là “Linh Sơn,” là Hãn của khu vực này, và là địa điểm trên mặt đất gần gũi nhất với Thanh thiên Vĩnh hằng. Và là nguồn của ba con sông, Burkhan Khaldun cũng là trái tim linh thiêng của thế giới Mông Cổ.

Bí sử thuật lại rằng Thiết Mộc Chân, cảm kích vì đã thoát khỏi cái chết dưới tay người Miệt Nhi Khất, trước tiên đã gửi lời cảm ơn tới ngọn núi đã bảo vệ cậu và tới mặt trời đi ngang qua bầu trời. Cậu đặc biệt biết ơn người phụ nữ già bị bắt đã cứu những người khác với đôi tai như chồn của mình. Để cảm ơn những linh hồn quanh mình, theo tập quán Mông Cổ, cậu rắc sữa vào không khí và lên nền đất. Cậu tháo thắt lưng quanh chiếc áo choàng của mình và đeo lên cổ. Thường chỉ có nam giới đeo thắt lưng, và đây là đặc trưng nhận dạng của một người đàn ông Mông Cổ. Việc Thiết Mộc Chân tháo thắt lưng như vậy tức là trút bỏ sức mạnh, hoàn toàn bất lực trước những vị thần quanh cậu. Sau đó cậu bỏ mũ, đặt bàn tay lên ngực, và quỳ xuống nền đất chín lần để lạy mặt trời và ngọn núi linh.

Với các bộ lạc trên thảo nguyên, quyền lực chính trị thế tục không thể tách rời khỏi quyền lực siêu nhiên vì cả hai đều bắt nguồn từ Thanh thiên Vĩnh hằng. Để thành cồng và chiến thắng kẻ khác, một người trước tiên phải được ban quyền lực siêu nhiên từ thế giới linh hồn. Để được Dải cờ thiêng dẫn dắt tới thắng lợi và quyền lực, Dải cờ trước hết phải thấm đẫm quyền lực siêu nhiên. Ba ngày Thiết Mộc Chân cầu nguyện trong khi ẩn thân trên núi Burkhan Khaldun đánh dấu sự bắt đầu của một mối quan hệ tâm linh lâu dài và thân thiết của cậu với ngọn núi này, và với sự bảo hộ đặc biệt mà cậu tin rằng bắt nguồn từ ngọn núi. Ngọn núi này là cội nguồn sức mạnh của cậu.

Thay vì đơn thuần là cho cậu sức mạnh, dường như Burkhan Khaldun đầu tiên phải thử cậu với một lựa chọn khó khăn. Mỗi con sông chảy ra từ ngọn núi cho cậu một phương án hành động. Cậu có thể quay về vùng đông nam, hạ lưu sông Kherlen, nơi cậu sống trên thảo nguyên, nhưng dù cậu có thu được bao nhiêu gia súc hay vợ đi nữa, cậu sẽ luôn có nguy cơ mất hết tất cả nếu người Miệt Nhi Khất hay bất kỳ ai khác tấn công. Sông Onon, nơi cậu sinh ra, chảy về hướng đông bắc và là một chọn lựa khác. Bởi nó chảy qua vùng đất rậm rạp cây cối và hẻo lánh hơn sông Kherlen, sông Onon là nơi ẩn náu tốt hơn, nhưng ít đồng cỏ cho gia súc. Cuộc sống trên dòng Onon sẽ an toàn, nhưng thiếu sự sung túc và danh dự. Lựa chọn thứ ba là đi theo dòng Tuul chảy về tây nam, để nhờ Vương Hãn, người cậu đã tặng chiếc áo khoác lông chồn đen, giúp đỡ. Vào thời điểm đó, Thiết Mộc Chân đã từ chối lời đề nghị làm thủ lĩnh dưới quyền Vương Hãn. Giờ đây, chỉ một năm sau, khi cuộc sống cậu chọn lựa cho mình đã sụp đổ khi người Miệt Nhi Khất tấn công, Thiết Mộc Chân dường như vẫn chần chừ không muốn lao vào cuộc giao tranh cốt nhục tương tàn giữa các hãn, nhưng có vẻ đây là cách duy nhất để cậu giành lại vợ mình.

Dù đã cố gắng sống một cuộc sống yên bình, cách xa cảnh chiến loạn thường trực trên thảo nguyên, cuộc tấn công của người Miệt Nhi Khất đã dạy Thiết Mộc Chân rằng cuộc sống đó đơn giản chỉ là mộng tưởng. Nếu cậu không muốn sống cả đời làm kẻ nghèo hèn ngoài rìa xã hội, luôn nằm trong tay những kẻ muốn tấn công trại của mình, giờ cậu phải chiến dấu giành lấy vị trí của mình trên hệ thống thứ bậc của các chiến binh thảo nguyên; cậu phải tham gia trò chơi chiến trận triền miên khắc nghiệt mà cậu đã luôn tránh xa.

Bên cạnh các vấn đề chính trị, thứ bậc, và quyền lực tâm linh, Thiết Mộc Chân còn thể hiện cậu nhớ Bột Nhi Thiếp nhiều thế nào. Cô là người duy nhất đã đem hạnh phúc tới cuộc đời ngắn ngủi ngập tràn bi kịch của cậu. Dù đàn ông Mông Cổ thường ít bộc lộ cảm xúc ở bên ngoài, nhất là trước mặt những người đàn ông khác, Thiết Mộc Chân đã công nhận một cách đầy xúc động tình yêu của cậu dành cho Bột Nhi Thiếp và nỗi đau khi không có nàng ở bên. Cậu kêu than rằng những kẻ tấn công không những đã khiến chiếc giường cậu nằm vắng bóng người, chúng còn đã cắt mở lồng ngực cậu, làm trái tim cậu tan nát.

Thiết Mộc Chân chọn giao chiến. Cậu sẽ tìm được vợ mình, dù có phải chết. Sau ba ngày gian khổ suy tính, cầu nguyện và lên kế hoạch trên núi, Thiết Mộc Chân lần xuống theo sông Tuul để tìm trại của Vương Hãn và xin viện trợ. Nhưng cậu sẽ không làm vậy với tư cách là kẻ cô độc ngoài lề xã hội, mà là cậu con trai đã mang cho Vương Hãn chiếc áo khoác lông chồn quý giá và tuyên bố trung thành với ông.

Khi Thiết Mộc Chân tìm thấy Vương Hãn và giải thích rằng cậu muốn tấn công người Miệt Nhi Khất, vị hãn già lập tức đồng ý giúp đỡ. Nếu không muốn lâm trận, ông có thể dễ dàng từ chối và thay vào đó cho Thiết Mộc Chân một cô vợ khác từ trong số những người phụ nữ trong trại của ông. Tuy nhiên, Vương Hãn có một mối tư thù đã lâu với người Miệt Nhi Khất, và đề nghị của Thiết Mộc Chân cho ông một cái cớ để tấn công và cướp bóc họ một lần nữa.

Vương Hãn cũng gửi Thiết Mộc Chân đi tìm thêm viện quân từ một người đồng minh Mông Cổ trẻ đang lên của các vị hãn. Người này đã chứng tỏ mình là chiến binh tinh nhuệ và thu hút khá đông đảo người theo hầu. Chàng trai này không ai khác chính là anda của Thiết Mộc Chân, Trát Mộc Hợp của tộc Trát Đạt Lan. Trát Mộc Hợp nhanh chóng thuận theo lời triệu tập từ Hãn của cậu để giúp đỡ người em kết nghĩa chống lại người Miệt Nhi Khất. Họ cùng nhau tạo thành một đội quân trên thảo nguyên lý tưởng, với Vương Hãn dẫn dắt Tả quân (phía tây), và Trát Mộc Hợp đứng đầu Hữu quân (phía đông). Đội quân của Vương Hãn và Trát Mộc Hợp cùng nhóm nhỏ của Thiết Mộc Chân tập trung ở đầu nguồn sông Onon gần Burkhan Khaldun. Từ đó, họ sẽ vượt núi và xuống vùng thảo nguyên dọc sông Selenge thuộc lãnh thổ của người Miệt Nhi Khất, theo hướng hồ Baikal.

Thiết Mộc Chân đã sống sót qua nhiều trắc trở trong cuộc đời ngắn ngủi của cậu mà không phải tham gia một cuộc tấn công thật sự nào. Trong trận đánh này, cậu đã chứng tỏ khả năng của mình, dù trận đánh thật ra giống một cuộc tháo chạy tán loạn hơn. Vài người Miệt Nhi Khất trên đường đi săn đêm đã nhìn thấy đội quân tiến công, và vội vàng quay về báo động người của họ, chỉ sớm hơn những kỵ sĩ xâm lược một chút. Người Miệt Nhi Khất vội vàng tháo thân về hạ lưu, và nỗi hoảng loạn bao trùm cả trại. Khi quân tấn công bắt đầu cướp bóc trại của người Miệt Nhi Khất, người ta kể lại rằng Thiết Mộc Chân đã chạy khắp các trại và gọi tên Bột Nhi Thiếp, song bản thân Bột Nhi Thiếp đã bị gả cho một chiến binh Miệt Nhi Khất lớn tuổi hơn, và đã bị cho lên một chiếc xe kéo rời khỏi trận chiến. Nàng không biết những kẻ tấn công ngôi nhà mới của mình là ai và không muốn bị bắt cóc một lần nữa; chẳng có lý do gì để nàng nghĩ rằng cuộc tấn công diễn ra để giải cứu mình.

Bí sử miêu tả chi tiết rằng đột nhiên, giữa cảnh loạn lạc bao quanh nàng, Bột Nhi Thiếp chợt nghe thấy tiếng ai đó gọi tên mình và nhận ra đó là giọng của Thiết Mộc Chân. Nàng nhảy ra từ chiếc xe kéo, chạy xuyên màn đêm tới nơi phát ra giọng nói. Thiết Mộc Chân hoảng loạn quay người liên tục trên yên ngựa, cố gắng nhìn trong đêm tối trong lúc liên tục gọi tên cô. Cậu trở nên tuyệt vọng tới nỗi không nhận ra cô khi cô chạy về hướng mình, và khi cố giật cương ngựa từ tay cậu, cậu suýt tấn công trước khi nhận ra cô, để rồi hai người “lao vào lòng nhau,” ôm nhau thắm thiết.

Dù không cứu được hai người phụ nữ còn lại, Thiết Mộc Chân đã giành lại được vợ mình, và đó là điều quan trọng duy nhất. Cậu đã gây cho người Miệt Nhi Khất nỗi đau tương tự những gì chúng đã làm với cậu, và giờ cậu đã sẵn sàng quay về nhà. Bí sử ghi lại lời nói của cậu với quân tấn công như sau, “Ta đã khiến ngực chúng trống rỗng… Và ta đã khiến giường chúng trống trải… Và ta đã đặt dấu chấm hết cho những người đàn ông cùng hậu duệ của chúng… Và ta đã hãm hiếp những kẻ còn ở lại… Đám người Miệt Nhi Khất giờ đã rải rác như vậy rồi, ta hãy lui quân thôi.”

*

Sau thắng lợi quyết định trước người Miệt Nhi Khất và cuộc đoàn tụ đầy xúc động của Bột Nhi Thiếp với Thiết Mộc Chân, đôi uyên ương chưa đầy hai mươi tuổi mới tái ngộ có lẽ đã hi vọng sẽ được sống hạnh phúc bên nhau, ít nhất là trong một khoảng thời gian. Nhưng như thường thấy trong cuộc sống, giải pháp cho một vấn đề lại có thể gây ra một vấn đề khác. Thiết Mộc Chân phát hiện ra Bột Nhi Thiếp có thai. Thay vì miêu tả hạnh phúc tột cùng của cặp đôi khi được đoàn tụ, Bí sử hoàn toàn không đề cập gì tới Bột Nhi Thiếp và khoảng thời gian họ chung sống khi cô mang thai. Sự im lặng này vang vọng trong bối cảnh chính trị Mông Cổ suốt một thế kỷ sau đó, khi người ta tranh luận rằng ai là cha của đứa con đầu lòng của Bột Nhi Thiếp. Cô sinh ra cậu bé vào năm 1179, và Thiết Mộc Chân đặt tên cậu là Truật Xích, có nghĩa là “khách viếng thăm.” Nhiều học giả tin rằng đấy là bằng chứng chứng tỏ Thiết Mộc Chân không tin cậu bé là con mình, nhưng ông cũng có thể đã đặt tên đó để đánh dấu rằng họ đều là khách của bộ tộc Trát Mộc Hợp khi cậu bé ra đời.

Trong thời gian này, Bí sử thuật lại chi tiết mối quan hệ đồng minh mới được nối lại giữa Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp. Sau màn giải cứu Bột Nhi Thiếp đầy kịch tính, Thiết Mộc Chân quyết định sáp nhập trại nhỏ của mình với nhóm những người đi theo Trát Mộc Hợp đông đảo hơn. Thiết Mộc Chân dẫn nhóm mình tới trại của Trát Mộc Hợp ở một miền đất màu mỡ rộng lớn tên là thung lũng Khorkhonag, nằm giữa sông Onon của tổ tiên Thiết Mộc Chân và sông Kherlen.

Lần thứ ba trong tuổi trẻ của mình, Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp thề nguyền huynh đệ. Lần này, họ thực hiện lời thề với tư cách là hai người đàn ông trưởng thành, trong một buổi lễ công khai với nhân chứng là những người đi theo họ. Họ đứng trước một cái cây trên rìa mỏm đá, và trao cho nhau khăn thắt lưng vàng và ngựa khỏe. Khi trao đổi phục trang, họ đã chia sẻ mùi hương cơ thể cho nhau, tức là chia sẻ tinh chất linh hồn họ với người còn lại; và đặc biệt khăn thắt lưng là biểu tượng cho tính cách đàn ông của họ. Họ công khai thề “sẽ yêu quý lẫn nhau” và hòa hai cuộc đời làm một, không bao giờ bỏ rơi nhau. Ăn mừng lời thề của mình với một bữa yến tiệc say sưa, Thiết Mộc Chân công khai tượng trưng tình huynh đệ của họ bằng việc ngủ riêng với nhau dưới một tấm chăn, giống như anh em đích thực cùng lớn lên chia sẻ một tấm chăn.

Khi di chuyển cả nhóm của mình ra khỏi tấm bảo hộ của ngọn núi vào vùng thảo nguyên rộng mở cùng Trát Mộc Hợp, Thiết Mộc Chân đã đánh đổi cuộc sống của một thợ săn để trở thành người chăn gia súc. Dù cả cuộc đời ông rất dam mê săn bắn, từ lúc này trở đi gia đình của Thiết Mộc Chân không bao giờ phải phụ thuộc vào đó như nguồn sống duy nhất để tồn tại, mà có thể tận hưởng tiêu chuẩn sống cao hơn với nguồn thịt và chế phẩm từ sữa ổn định khi nằm trong đoàn của Trát Mộc Hợp. Thiết Mộc Chân phải học hỏi nhiều từ người của Trát Mộc Hợp về lối sống chăn gia súc, nơi các lề thói vững chắc chi phối mọi khía cạnh của đời sống quanh năm, và các kiến thức chuyên sâu về động vật xoay quanh việc quản lý bò sữa, bò Tây tạng, ngựa, dê, cừu và lạc đà. Người Mông Cổ gọi sáu con vật này là Năm Cái Mõm, vi họ tính chung bò Tây Tạng với bò sữa. Mỗi loài đều cung cấp các nguyên vật liệu cần thiết cho đời sống bên cạnh thức ăn; loài ngựa được xem là quý tộc trong giới này, vì chúng chỉ được dùng để cưỡi.

Tất nhiên, vì các bộ tộc ở đây liên tục giao tranh, tham gia cùng Trát Mộc Hợp cũng tức là chấp nhận cuộc sống của một chiến binh thảo nguyên, một vai trò Thiết Mộc Chân sẽ thực hiện xuất sắc. Mối quan hệ anda của họ cho Thiết Mộc Chân một vị trí đặc biệt trong hệ thống thứ bậc nói chung, nên cậu đã không gia nhập như một người đi theo thông thường, và trong một năm rưỡi, như Bí sử kể, Thiết Mộc Chân dường như hài lòng với việc đi theo và học hỏi từ Trát Mộc Hợp. Nhưng có lẽ với chàng trai trẻ, người đã giết anh trai cùng cha khác mẹ của mình chứ không để bị lấn lướt, sự sắp xếp như vậy chắc chắn sẽ trở nên khó chịu, và các tập quán thứ bậc tầng lớp xưa cũ trên thảo nguyên cũng có tác động trong trường hợp này.

Theo thứ bậc họ hàng, mỗi dòng họ được gọi là một xương. Những họ gần nhất không được phép kết hôn với nhau, và được gọi là xương trắng. Họ hàng xa hơn được phép kết hôn và gọi là dòng họ xương đen. Vì đều có họ hàng với nhau, các dòng họ này đều nhận một ai đó quan trọng làm tổ tiên, nhưng sức mạnh của lời tuyên bố này còn phụ thuộc vào khả năng họ nhấn mạnh nó. Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp là anh em họ xa, nhưng thuộc các xương khác nhau, vì họ có chung tổ mẫu nhưng là con của hai người chồng khác nhau. Trát Mộc Hợp là hậu duệ của người chồng đầu tiên, một người chăn gia súc trên thảo nguyên. Thiết Mộc Chân là hậu duệ của một người thợ săn rừng tương truyền được gọi là Bodonchar ngu ngốc, người đã bắt cóc tổ mẫu sau khi giết chồng bà. Theo phả hệ này, Trát Mộc Hợp có thể nói rằng vì cậu là hậu duệ của con trai cả và là con của một người đàn ông trên thảo nguyên, dòng dõi của cậu cao quý hơn. Những câu chuyện như vậy được sử dụng trong xã hội thảo nguyên để nhấn mạnh mối liên kết khi cần, nhưng cũng có thể làm cớ gây thù oán, và trong mối quan hệ của Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp, câu chuyện họ hàng của họ đi theo cả hai hướng. Huyết thống không chỉ là điều quyết định mối quan hộ, mà quan trọng hơn nó là phương tiện biểu đạt chính để mọi người thiết lập, điều chỉnh, và nhấn mạnh tuyên bố xã hội của họ.

Chừng nào Thiết Mộc Chân còn nằm trong nhóm của Trát Mộc Hợp, gia đình của Trát Mộc Hợp còn được xếp là xương trắng, và Thiết Mộc Chân là một phần họ hàng xương đen xa. Chỉ khi cậu tự lập một nhóm riêng với cậu và dòng họ của mình ở trung tâm thì cậu mới có thể được xem là xương trắng. Nhiều tháng sau khi Thiết Mộc Chân đi theo Trát Mộc Hợp, Bí sử kể lại rằng Trát Mộc Hợp bắt đầu đối xử với Thiết Mộc Chân như với em trai thay vì là anda, đồng thời nhấn mạnh rằng bộ tộc của Trát Mộc Hợp là con cháu của con cả của tổ tiên chung của họ. Như đã thấy với các người thân khác, Thiết Mộc Chân không chấp nhận bị coi là kẻ yếu thế trong thời gian dài, và chẳng mấy chốc không thể chịu được hoàn cảnh này.

Bí sử viết rằng vào giữa tháng Năm năm 1181, Trát Mộc Hợp kêu gọi hạ trại mùa đông và đi tới vùng đồng cỏ mùa hạ xa xôi hơn. Như thường lệ, Trát Mộc Hợp và Thiết Mộc Chân cùng cưỡi ngựa cạnh nhau trước đoàn dài những người đi theo và gia súc. Nhưng hôm đó Trát Mộc Hợp quyết định rằng cậu không muốn chia sẻ vị trí lãnh đạo với Thiết Mộc Chân nữa. Có lẽ Trát Mộc Hợp nhận ra rằng Thiết Mộc Chân đã trở nên rất thân thiết với các thành viên khác của bộ tộc, hay có khi chỉ là cậu đã chán ngán sự hiện diện của Thiết Mộc Chân. Trát Mộc Hợp nói với Thiết Mộc Chân rằng cậu sẽ tự dẫn ngựa và trại tới vùng núi, còn Thiết Mộc Chân nên đưa đàn cừu và dê kém danh giá hơn tới dựng một trại khác ở ven sông. Xương trắng Trát Mộc Hợp dường như đang khẳng định vị thế của người chân ngựa và coi Thiết Mộc Chân là cậu bé chăn cừu xương đen.

Theo Bí sử, khi Thiết Mộc Chân nhận lệnh, cậu lùi lại tới nơi gia đình và động vật của cậu đang đi ở cuối đoàn, và hỏi ý kiến Ha Nguyệt Luân. Cậu có vẻ bối rối và không biết phải trả lời thế nào. Tuy nhiên, khi nghe Thiết Mộc Chân kể lại tình cảnh với mẹ, Bột Nhi Thiếp ngắt lời và giận dữ cương quyết rằng chồng cô phải cắt đứt với Trát Mộc Hợp, và họ cùng bất kỳ ai muốn đi theo sẽ tự đi riêng. Sau đó cùng ngày, khi Trát Mộc Hợp tạm dừng dựng trại nghỉ qua đêm, Thiết Mộc Chân cùng đoàn tùy tùng nhỏ bí mật đào thoát và đi cả đêm để cách xa Trát Mộc Hợp nhất có thể, đề phòng cậu đuổi theo họ. Không rõ là theo kế hoạch hay tùy hứng, nhiều người đi theo Trát Mộc Hợp đã cùng bỏ trốn với Thiết Mộc Chân, tất nhiên là đem theo cả gia súc của họ theo. Dù bộ tộc đã bị tách ra như vậy, Trát Mộc Hợp đã không đuổi theo họ.

Mâu thuẫn giữa hai chàng trai trẻ vào đêm đầu hè năm 1181 đó mở ra hai thập niên giao tranh, bởi cả Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp đều thăng tiến, trở thành hai chiến binh Mông Cổ hàng đầu và hai kẻ thù không đội trời chung. Sau khi tách khỏi Trát Mộc Hợp, năm mười chín tuổi, Thiết Mộc Chân dường như đã quyết định sẽ tự mình trở thành một chiến binh lãnh đạo, tập hợp đạo quân của riêng mình và tạo dựng nền tảng quyền lực, và sau này quyết tâm trở thành hãn, người lãnh đạo và hợp nhất bộ lạc Mông Cổ rối ren. Trên con đường theo đuổi mục tiêu này, đối thủ chính của cậu sẽ là Trát Mộc Hợp, và mối thù giữa họ sẽ dần đưa cả Mông Cổ vào một cuộc nội chiến. Trong suốt một phần tư thập niên kế tiếp, hai kẻ thù trộm thú vật và phụ nữ từ tay nhau, cướp bóc và giết người của nhau, và đấu tranh để xem sau cùng ai sẽ là người thống lĩnh Mông Cổ.

*

Những năm sau đó, Trát Mộc Hợp và Thiết Mộc Chân đều thu phục được một số lượng gia đình và bộ tộc Mông Cổ bằng các mối liên minh ngắn hạn và lòng trung thành thực dụng; song cả hai đều không thể thống nhất các dòng họ thành một bộ lạc đơn nhất như người Khắc Liệt, Tatar, hay Nãi Man hùng mạnh hơn. Theo người Mông Cổ truyền miệng, đã có thời họ được thống nhất dưới sự lãnh dạo của một vị hãn duy nhất; nhưng từ vài thế hệ gần đây, không có ai làm được việc đó. Vào mùa hè năm Ất Dậu 1189, tám năm sau khi tách khỏi Trát Mộc Hợp, Thiết Mộc Chân, khi đó hai mươi bảy tuổi, quyết định thử giành danh hiệu hãn, thủ lĩnh người Mông Cổ. Ông hi vọng rằng việc có được tước hiệu này sẽ giúp thu hút được những người đi theo Trát Mộc Hợp, từ đó tự hợp thức hóa vị trí của mình. Nếu không, chí ít nó cũng có thể châm ngòi cho cuộc chiến cuối cùng giữa hai người và dẫn tới một giải pháp chung cuộc cho mối quan hệ thù địch này.

Ông triệu tập những người theo mình tới thảo nguyên cạnh Hồ Xanh ở chân Núi Hình Tim Đen, và mở ở đó một hội đồng truyền thống gọi là hốt lý đài. Các gia đình, dòng họ và bộ tộc chỉ đơn giản bầu bằng cách có mặt. Sự hiện diện của họ chứng tỏ họ công khai ủng hộ Thiết Mộc Chân làm hãn; không xuất hiện nghĩa là bỏ phiếu chống. Chỉ cần có được số người tối thiểu là sẽ chiến thắng. Vào một dịp như vậy, thường sẽ có một danh sách được viết ra và ghi nhớ để xác nhận bầu cử, nhưng không có bản kiểm phiếu nào tồn tại tới ngày nay – có lẽ đã không có nhiều người tới. Nhiều, thậm chí là phần lớn, các dòng họ trên thảo nguyên có lẽ vẫn ủng hộ Trát Mộc Hợp.

Bộ lạc của Thiết Mộc Chân, giờ bao gồm gia đình, một nhóm bạn trung thành, và nhiều gia đình rải rác, khá nhỏ so với các bộ lạc khác, và ông vẫn còn là chư hầu của Vương Hãn. Để thể hiện rằng chức vị mới của ông không nhằm đe doạ Vương Hãn, Thiết Mộc Chân gửi sứ giả tới vị lãnh đạo Khắc Liệt để tái khẳng định lòng trung thành và mong được ban phước. Sứ thần của Thiết Mộc Chân giải thích cẩn thận rằng ông chỉ muốn thống nhất các bộ tộc Mông Cổ rải rác, và họ sẽ nằm dưới quyền lãnh đạo của Vương Hãn và tộc Khắc Liệt. Vương Hãn chấp thuận và dường như không bận tâm nhiều tới việc người Mông Cổ thống nhất, chừng nào họ vẫn còn trung thành. Vương Hãn đảm bảo người Mông Cổ dưới quyền ông bị chia rẽ. Bằng cách khuyến khích tham vọng của hai chàng trai trẻ, Vương Hãn đặt cả hai vào vị trí đối chọi nhau để ngăn cản họ trở nên hùng mạnh, và giữ họ dưới quyền kiểm soát của ông với tư cách là hãn của người Khắc Liệt.

Đã nhận được sự ủng hộ cần thiết để làm hãn của một nhóm nhỏ, Thiết Mộc Chân bắt đầu quá trình căn bản để xây dựng cấu trúc quyền lực mới trong bộ lạc của mình, dựa trên các bài học từ thuở thiếu thời. Hệ thống các ger của trưởng bộ lạc với nhiệm vụ làm trung tâm bộ lạc hay quần thần của thủ lĩnh được gọi là ordu, hay horde. Với phần lớn các bộ lạc trên thảo nguyên, ordu của hãn gồm các họ hàng, như một dạng quý tộc quản lý và lãnh đạo bộ lạc. Song Thiết Mộc Chân lại giao khoảng một tá trách nhiệm khác nhau cho nhiều người của mình căn cứ theo khả năng và lòng trung thành của mỗi người, chứ không quan tâm tới huyết thống. Ông dành các vị trí cao nhất – phó tướng của mình – cho hai người đi theo mình đầu tiên, Boorchu và Jelme, những người đã thể hiện lòng kiên trung với ông suốt hơn một thập niên. Vị hãn Thiết Mộc Chân thể hiện khả năng quyết đoán, đánh giá tài năng của một người và giao cho họ nhiệm vụ chuẩn xác dựa trên khả năng của họ thay vì dòng dõi.

Những vị trí đầu tiên được giao cho những người thân tín làm đầu bếp, một công việc chủ yếu gồm giết động vật, làm thịt, và vận chuyển các vạc lớn để luộc chúng, nhưng cũng là việc được Thiết Mộc Chân coi là hàng phòng thủ đầu tiên, bởi ông sợ bị đầu độc giống cha minh. Những người khác trở thành cung thủ, và nhiều người được giao trách nhiệm canh gác gia súc, công việc thường rất xa trại chính. Ông để cậu em trai to khỏe Cáp Tát Nhi làm một trong những chiến binh bảo vệ trại, và người em cùng cha khác mẹ Biệt Lặc Cổ Đài có trách nhiệm canh gác số lượng ngựa thiến đông đảo gần trại để làm ngựa cưỡi. Ông cũng tạo dựng một nhóm lính gác tinh nhuệ gồm 150 chiến binh: 70 lính gác ngày và 80 lính gác đêm luôn vây quanh trại. Dưới quyền Thiết Mộc Chân, bộ máy quản lý của bộ lạc Mông Cổ mới thành lập này trở thành phần mở rộng của gia đình Thiết Mộc Chân.

Dù Thiết Mộc Chân đã thành công trong việc được công nhận là hãn và lập ra bộ máy hành chính của riêng mình, Trát Mộc Hợp vẫn chỉ huy người của mình, cương quyết từ chối công nhận Thiết Mộc Chân là hãn của tất cả bộ tộc Mông Cổ. Với Trát Mộc Hợp và các dòng họ xương trắng quý tộc, Thiết Mộc Chân chỉ là một thằng nhóc xấc xược miệng còn hôi sữa được lũ xương đen tôn sùng, nhưng cần được dạy một bài học để biết chỗ đứng của mình. Năm 1190, chỉ một năm sau cuộc bầu cử của Thiết Mộc Chân, Trát Mộc Hợp lấy việc một người họ hàng của ông bị người của Thiết Mộc Chân giết trong một vụ cướp súc vật làm cớ để triệu tập tất cả người của ông ra trận. Mỗi phe tập hợp một đội quân, có lẽ chỉ khoảng vài trăm người mỗi bên, nhưng vào lúc này ước tính về số lượng chỉ mang tính phỏng đoán. Trong trận chiến sau đó, quân của Trát Mộc Hợp đã đánh cho quân của Thiết Mộc Chân chạy tan tác khắp thảo nguyên. Để đề phòng họ tập hợp chống lại ông, Trát Mộc Hợp liền thực hiện một trong những hành vi trả thù tàn nhẫn nhất từng thấy trên thảo nguyên. Đầu tiên, ông cắt hạ thủ cấp một trong những tướng lĩnh bị bắt và buộc cái đầu vào đuôi ngựa. Sự đổ máu và lăng nhục thủ cấp, bộ phận cơ thể linh thiêng nhất, đã làm nhơ bẩn tâm hồn của người chết, và buộc nó vào bộ phận bẩn thỉu nhất của con ngựa làm nhục cả gia đình anh ta.

Tương truyền rằng sau đó Trát Mộc Hợp luộc sống bảy mươi tù nhân nam thanh niên trong vạc sôi. Cách chết này phá hủy tâm hồn họ và bởi vậy triệt tiêu họ hoàn toàn. Bởi bảy là con số xui xẻo với người Mông Cổ, câu chuyện bảy mươi cái vạc này có thể chỉ là thêm thắt cho thêm phần kịch tính, nhưng Bí sử viết rõ rằng dù thật sự đã làm gì khi chiến thắng, Trát Mộc Hợp cũng đã làm mọi người kinh sợ, và làm tổn hại hình ảnh của ông. Việc Trát Mộc Hợp vô cớ tàn bạo như vậy càng nhấn mạnh khoảng cách giữa hệ thống dòng dõi quý tộc cũ dựa trên quyền lực thừa kế và hệ thống dòng dõi thuộc tầng lớp thấp bị chèn ép căn cứ theo năng lực và lòng trung thành. Sự kiện này là bước ngoặt quyết định với Thiết Mộc Chân; ông thua trận nhưng đã giành được sự ủng hộ và thông cảm của người Mông Cổ, những người ngày càng sợ hãi sự độc ác của Trát Mộc Hợp. Binh lính của Thiết Mộc Chân đã bị phân tán, nhưng họ sẽ dần tái hợp dưới trướng vị hãn trẻ này.

*

Mối thù địch của ông với Trát Mộc Hợp vẫn chưa tới hồi kết, nhưng năm 1195, khi Thiết Mộc Chân ba mươi ba tuổi, một cơ hội không ngờ tới để tấn công ngoại bang và cướp bóc xuất hiện. Nó sẽ giúp ông cải thiện uy tín quân sự và quyền lực kinh tế trong mắt người Mông Cổ. Những thủ lĩnh người Nữ Chân văn minh ở Cathay phía nam sa mạc Gobi thường xuyên can thiệp vào chính trị trên thảo nguyên để giữ các bộ lạc giao chiến với nhau và qua đó không đủ mạnh để đe doạ quyền lực của họ. Dù vốn là đồng minh của người Tatar, người Nữ Chân lo ngại rằng người Tatar đang trở nên quá mạnh, và họ xúi giục Vương Hãn lập quân tấn công họ. Vương Hãn một lần nữa nhờ Thiết Mộc Chân giúp đỡ, nhanh chóng lập đồng minh với Hoàng Hãn Nữ Chân để phối hợp tấn công và cướp bóc bộ lạc Tatar giàu có.

Mùa đông năm 1196, thủ lĩnh Khắc Liệt Vương Hãn và Thiết Mộc Chân cùng người của ông cùng lên đường chống lại người Tatar; cuộc tấn công của họ, được tiến hành với cùng các chiến thuật thường thấy trên thảo nguyên, nhưng ở quy mô lớn hơn, nhanh chóng mang đến thắng lợi dễ dàng. Thiết Mộc Chân bị ấn tượng mạnh với các chiến lợi phẩm xa xỉ. Vì ở gần vương quốc Nữ Chân và các sản phẩm tinh vi của đế quốc Trung Hoa, người Tatar sở hữu nhiều thương phẩm hơn các bộ lạc khác trên thảo nguyên. Trong số những món họ giành được, Bí sử nhắc tới ấn tượng của người Mông Cổ với một cái nôi nạm bạc và được phủ bởi một tấm chăn lụa thêu chỉ vàng và ngọc trai. Ngay cả trẻ em Tatar cũng mặc quần áo làm từ vải sa-tanh thêu chỉ vàng; một cậu bé đeo nhẫn vàng trên mũi và hai bên tai. Người Mông Cổ rách rưới chưa từng thấy ai mặc những thứ xa hoa như vậy, chứ đừng nói là trẻ em.

Thiết Mộc Chân thấy rõ cách vương quốc Nữ Chân hùng mạnh dùng bộ lạc biên giới này để đấu với bộ lạc khác. Năm nay, họ có thể với người Tatar chống người Khắc Liệt, nhưng năm tới sẽ là với người Khắc Liệt và Mông Cổ chống người Tatar. Hôm nay là đồng minh, ngày mai có thể là kẻ địch, như chuyện đã xảy ra với Trát Mộc Hợp, và một bộ lạc bị chinh phục hôm nay sẽ phải bị chinh phục lần nữa và lần nữa trong một vòng tròn chiến tranh và mâu thuẫn không bao giờ chấm dứt. Không chiến thắng nào là quyết định, không hòa bình nào là vĩnh viễn. Bài học này sau này sẽ có ảnh hưởng lớn tới thế giới mới được Thiết Mộc Chân thiết lập từ bãi hỗn chiến này, nhưng vào lúc này những thăng trầm của riêng cuộc chiến này đã mang tới số lượng chiến lợi phẩm chưa từng thấy cho người của ông, và cải thiện vị thế của ông với họ.

Thiết Mộc Chân vẫn còn cuộc đấu tranh với Trát Mộc Hợp nhằm giành quyền kiểm soát người Mông Cổ trước mặt. Số của cải cướp được của người Tatar thu hút nhiều người theo ông hơn; giờ ông bắt đầu có nhiều quyền lực hơn so với các dòng họ Mông Cổ khác và bắt đầu xâm lấn lãnh thổ của họ. Ông không thể đi vào khu vực của những bộ lạc lớn, nhưng có thể chiếm những bộ lạc nhỏ hơn như người Jurkin, một dòng họ Mông Cổ nhỏ nằm giáp phía nam nhóm của Thiết Mộc Chân dọc sông Kherlen.

Khi Thiết Mộc Chân đồng ý đánh người Tatar, cậu đã nhờ những người họ hàng Nữ Chân giúp, và ban đầu họ đã chấp thuận đi cùng cậu. Nhưng khi Thiết Mộc Chân chuẩn bị lên đường ra trận, ông chờ người Nữ Chân sáu ngày, và họ không bao giờ tới. Tương tự như với hốt lý đài, xuất hiện nghĩa là bỏ phiếu ủng hộ, không tới cùng đánh trận tức là bỏ phiếu không tin tưởng vào người chỉ huy trận chiến – trong trường hợp này là Thiết Mộc Chân. Quan hệ giữa người Nữ Chân và người của Thiết Mộc Chân vốn đã căng thẳng. Giống như hầu hết mọi người quanh họ, dòng họ Nữ Chân danh giá hơn dòng họ của Thiết Mộc Chân, và họ thường đối xử với Thiết Mộc Chân và người của ông với vẻ khinh miệt. Một câu chuyện thú vị trong Bí sử tiết lộ nguồn gốc quan hệ thù địch giữa hai bên.

Thiết Mộc Chân đã mời người Nữ Chân dự một buổi yến tiệc một thời gian ngắn trước khi ra trận đánh người Tatar, nhưng một vụ ẩu đả hỗn loạn xảy ra khi em trai cùng cha khác mẹ của Thiết Mộc Chân đã bị xúc phạm một cách đặc biệt nhục nhã. Biệt Lặc Cổ Đài chịu trách nhiệm canh gác ngựa cho cả tộc của Thiết Mộc Chân, và cậu đứng gác chúng khi buổi tiệc diễn ra. Khi một người đàn ông có vẻ là từ tộc Nữ Chân định ăn trộm một con ngựa, Biệt Lặc Cổ Đài đuổi theo hắn ta, nhưng bị một người Nữ Chân khác được gọi là Đô vật Buri chặn đường. Để thể hiện rằng cậu sẵn sàng đánh nhau với Buri, Biệt Lặc Cổ Đài kéo nửa trên phục trang xuống, để trần phần lớn nửa thân trên. Thay vì vật nhau với Biệt Lặc Cổ Đài như thông lệ khi những người ngang hàng có mâu thuẫn, Buri tỏ vẻ khinh thường Biệt Lặc Cổ Đài như với kẻ hèn kém hơn bằng cách rút gươm chém ngang vai cậu. Làm máu đổ theo cách này, kể cả nếu chỉ là một vết cắt nhỏ, là sự xúc phạm nghiêm trọng. Khi biết chuyện gì đang xảy ra ở ngoài với lũ ngựa, các vị khách say xỉn bắt đầu đánh lẫn nhau. Như thông lệ, họ dự tiệc mà không đem theo vũ khí; nên các vị khách bắt đầu ném đĩa thức ăn vào nhau, và đánh nhau bằng thanh dầm vốn được dùng để khuấy sữa ngựa cái lên men, thứ đã được uống rất nhiều ở bữa tiệc.

Người Nữ Chân không chỉ không cùng tham chiến chống người Tatar cùng Thiết Mộc Chân, họ còn tranh thủ việc ông vắng mặt để cướp trại của ông, giết mười người rồi cướp phục trang và tài sản còn lại của những người này. Nên khi Thiết Mộc Chân bắt đầu mở rộng địa bàn sau thắng lợi trước người Tatar, người Nữ Chân là đối tượng công kích đầu tiên của ông. Ông mở chiến dịch chống lại họ vào năm 1197, và để minh chứng cho kỹ năng chinh chiến và chỉ huy được rèn giũa của mình, ông dễ dàng đánh bại họ. Tại thời điểm này, Thiết Mộc Chân đặt ra thay đổi căn bản thứ hai trong phong cách lãnh đạo – lần đầu tiên là khi ông giao các vị trí trọng yếu cho đồng minh trung thành trong đoàn thay vì thành viên gia đình – điều đánh dấu con đường tiến tới quyền lực của ông.

Trong suốt lịch sử chiến tranh thảo nguyên, một bộ lạc bại trận sẽ bị cướp, vài thành viên bị bắt làm tù nhân, và những người còn lại bị bỏ lại. Những bộ lạc thua trận thường tái hợp và phản công, hoặc tan rã và gia nhập các bộ lạc thù địch. Tuy nhiên, khi đánh bại người Nữ Chân, Thiết Mộc Chân tuân theo một chính sách cấp tiến mới cho thấy khát vọng thay đổi căn bản vòng xoay tấn công và phản công, hay các mối quan hệ đồng minh liên tục được thiết lập và phá vỡ. Ông mở một buổi hốt lý đài với những người theo mình để lập phiên toà công khai xử các nhà lãnh đạo quý tộc Nữ Chân vì tội không thực hiện lời hứa tham chiến với ông, mà thay vào đó lại cướp trại khi ông vắng mặt. Họ bị tuyên có tội và bị xử tử để làm gương về giá trị của lòng trung thành với đồng minh, và cũng là lời cảnh tỉnh rõ ràng với các quý tộc của mọi dòng họ rằng họ sẽ không còn được đối xử ưu đãi nữa. Sau đó ông làm một việc chưa từng thấy, đó là chiếm đất của người Nữ Chân và chia những thành viên còn lại vào nhà của người trong bộ tộc ông. Dù vài người trong cả hai tộc có vẻ đã coi việc này nghĩa là bắt người Nữ Chân làm nô lệ, như thường thấy trên thảo nguyên, theo lời kể trong Bí sử; Thiết Mộc Chân nhận họ vào bộ lạc mình không phải để làm nô lệ, mà như thành viên có vị trí đàng hoàng trong bộ lạc. Ông tượng trưng hành động này bằng cách nhận một cậu bé Nữ Chân mồ côi làm con nuôi và giới thiệu cậu cho Ha Nguyệt Luân để bà nuôi trong ger của mình, không phải để làm nô lệ mà là như con trai bà. Khi để mẹ mình nhận cậu bé Nữ Chân làm con, giống như ông đã từng nhận nuôi những đứa trẻ từ các tộc bại trận Miệt Nhi Khất, Thái Xích Ô và Tatar, Thiết Mộc Chân đã nhận những cậu bé này làm em trai. Dù việc nhận nuôi này là vì lý do tình cảm hay chính trị, Thiết Mộc Chân cũng đã thể hiện nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng mang tính biểu tượng và lợi ích thực tiễn của việc đoàn kết người của mình qua huyết thống tượng trưng này. Giống như cách ông nhận những đứa trẻ này vào gia đình mình, ông nhận những người bị bắt vào bộ lạc ông với khả năng rằng họ sẽ cùng góp phần công bằng vào các cuộc chinh phục trong tương lai cũng như thành công của quân đội ông.

Trong động thái cuối cùng để thể hiện quyền lực mới, Thiết Mộc Chân kết thúc sự kiện với người Nữ Chân bằng một bữa yến tiệc dành cho cả người Mông Cổ thắng trận và những người họ hàng mới của họ. Trong bữa tiệc, ông triệu tập Đô vật Buri, người đã chém Biệt Lặc Cổ Đài vào bữa tiệc năm trước, và yêu cầu một trận đấu vật giữa hai người đàn ông. Chưa có ai từng đánh bại Buri, nhưng vì sợ hãi cơn thịnh nộ của Thiết Mộc Chân, hắn nhường để Biệt Lặc Cổ Đài thắng. Thông thường, trận đấu sẽ dừng ở đây, nhưng dường như Thiết Mộc Chân và Biệt Lặc Cổ Đài đã lên kế hoạch khác. Biệt Lặc Cổ Đài túm lấy vai Buri và cưỡi lên mông hắn như cưỡi ngựa, và khi nhận được tín hiệu từ Thiết Mộc Chân, cậu liền thúc đầu gối vào lưng Buri và bẻ gãy tủy sống của hắn. Sau đó Biệt Lặc Cổ Đài kéo cái xác liệt của Buri ra ngoài trại và để hắn chết cô độc ở đó.

Thiết Mộc Chân đã loại bỏ tất cả thủ lĩnh Nữ chân. Thông điệp gửi tới các bộ lạc họ hàng của họ rất rõ ràng. Những người trung thành với Thiết Mộc Chân sẽ được trọng thưởng và đối xử tốt. Những kẻ tấn công ông sẽ không được dung thứ.

Sau khi đánh bại người Nữ Chân, ông dẫn người của mình xuôi dòng Kherlen xuống lãnh địa của họ. Thiết Mộc Chân đặt trại chính mới gần nơi sông Tsenker nhỏ hơn hợp vào sông Kherlen. Sau này, nơi này trở thành thủ phủ của ông, gọi là Avarga, nhưng lúc này, nó chỉ là một cái trại hẻo lánh. Vùng đất giữa hai con sông được gọi là aral, nghĩa là “đảo” trong tiếng Mông Cổ. Vì hòn đảo giữa sống Tsenker và Kherlen có đồng cỏ mênh mông, họ gọi nơi này là Khodoe Aral, trong tiếng Mông Cổ hiện đại nghĩa là “Đảo nông thôn,” nhưng trong tiếng Mông Cổ xưa mang nghĩa “Đảo cằn cỗi,” và tên gọi này rất phù hợp với vùng đất biệt lập nằm giữa đồng cỏ lớn không một bóng cây này.

Dù Avarga có cằn cỗi thế nào, trên quy mô lớn nó vẫn là lãnh địa lý tưởng cho một người chăn gia súc trên thảo nguyên. Người chăn gia súc muốn có ger hướng về phía nam để đón ánh nắng và nhiệt từ mặt trời hướng nam qua cửa vào, cũng như để ngăn cản gió lạnh phía bắc xâm nhập. Họ muốn quay mặt về nước, nhưng không quá gần nước. Khoảng cách đi bộ ba mươi phút tới sông dường như là vừa đủ để tránh cho chất thải của con người làm ô nhiễm sông. Khoảng cách đó cũng là lớp chắn bảo vệ khỏi côn trùng mùa hè và lũ chớp thỉnh thoảng dội vào các đồng bằng ven sông. Bên cạnh những lợi thế này, Avarga vẫn gần nơi Thiết Mộc Chân sinh ra và ngọn núi thiêng Burkhan Khaldun. Ngọn núi này mọc cách đó 290 km, ở thượng nguồn sông Kherlen. Avarga có tất cả những điều này, và nó là căn cứ hoạt động của Thiết Mộc Chân từ năm 1197 tới cuối cuộc đời.

*

Mặc dù những người đi theo Thiết Mộc Chân sống cuộc sống thịnh vượng trong suốt bốn năm sau đó ở nơi ở mới, và bộ lạc của ông ngày càng đông đúc, Trát Mộc Hợp từ chối công nhận vị trí lãnh đạo của ông, và dần trở thành người tập hợp các bộ lạc quý tộc không thích các thay đổi của lối sống truyền thống mà Thiết Mộc Chân đem lại. Năm Tân Dậu 1201, với sự ủng hộ của họ, Trát Mộc Hợp thử sức giành lấy vị trí thủ lĩnh của toàn bộ người Mông Cổ. Nhằm thách thức cả Thiết Mộc Chân và Vương Hãn, Trát Mộc Hợp tổ chức buổi hốt lý đài để nhận lấy tước hiệu cổ xưa quý giá Cổ Nhi Hãn, có nghĩa là thủ lĩnh của mọi thủ lĩnh hay hãn của mọi hãn. Người của ông lập lời thề trung thành mới, và để hợp thức hóa lời thề, họ chặt một đôi ngựa đực và ngựa cái thành từng mảnh để hiến tế.

Trát Mộc Hợp chọn tước hiệu lâu đời này không chỉ vì nó cổ; động cơ trực tiếp của ông xấu xa hơn thế. Vị hãn cuối cùng mang tước hiệu Cổ Nhi Hãn là bác của Vương Hãn. Ông đã lãnh đạo người Khắc Liệt tới khi Vương Hãn nổi dậy, giết chết ông cùng các huynh đệ. Cha của Thiết Mộc Chân, Dã Tốc Cai, trở thành đồng minh của Vương Hãn trong cuộc nổi dậy này. Chọn tước hiệu này nghĩa là Trát Mộc Hợp đang công khai thách thức quyền lực của Vương Hãn cũng như thuộc hạ của ông, Thiết Mộc Chân.

Nếu Trát Mộc Hợp thắng cuộc chiến này, ông sẽ trở thành thủ lĩnh tối cao của thảo nguyên Trung Á. Phe ông có những bộ tộc quan trọng và quyền quý như người Thái Xích Ô, những người từng làm chủ gia đình của Thiết Mộc Chân và bắt ông làm nô lệ khi còn nhỏ. Cuộc đấu tranh dần hình thành giữa hai phe người Mông Cổ không chỉ báo trước một chuỗi trận đánh nhằm cướp bóc và bắt tù nhân; nó còn là trận chiến sống còn giữa Trát Mộc Hợp và. Thiết Mộc Chân để thống lĩnh tất cả người Mông Cổ. Là người bảo trợ cho Thiết Mộc Chân, Vương Hãn tập trung lực lượng và thân chinh xuất quân chống lại Trát Mộc Hợp.

Mục đích chính của những trận đánh này không bao giờ là để thật sự đánh trận, mà là dùng lực lượng lấn át bên kia khiến chúng sợ hãi mà bỏ chạy. Để gây ra nỗi sợ này, các chiến binh trên thảo nguyên dựa vào nhiều thủ thuật. Một trong số đó là treo Dải cờ thiêng của các thủ lĩnh phe đối lập và tổ tiên của họ. Trước trận chiến, các chiến binh hiến tế súc vật trước Dải cờ thiêng để cúng linh hồn dẫn đường và tổ tiên của họ. Những sự kiện kịch tính như vậy gây xúc động và gia tăng căng thẳng. Dòng họ của một bên không dễ ra trận nếu họ hàng bên kia giương Dải cờ thiêng của tổ tiên chung của hai bên. Đó chẳng khác gì tấn công ông của chính họ.

Sự tuyên truyền trước trận chiến cũng có phần của các thầy pháp với trống và những vật dụng hành lễ của họ. Trước trận chiến, các thầy pháp hai bên tiên đoán tương lai bằng cách đọc những vết nứt trên xương vai cừu. Sự hiện diện của thầy pháp cho thấy ông đã tiên đoán vinh quang cho bên mình, và sức mạnh của lời tiên tri phụ thuộc vào uy tín về việc đoán bên thắng trước đó của ông. Thiết Mộc Chân vốn đã thu hút được một số thầy pháp báo mộng cho ông, trong đó một người tên Teb Tengeri, người sau này sẽ đóng vai trò quan trọng. Các thầy pháp góp phần vào sự kiện bằng cách leo lên một mũi đất để đánh trống và gõ các hòn đá thần để kêu gọi các linh hồn giúp đỡ và điều khiển thời tiết. Mục tiêu là để dụ dỗ các chiến binh phe kia đào ngũ sang bên hùng mạnh hơn, hoặc bỏ trốn.

Khi Trát Mộc Hợp ra quân chống lại người Khắc Liệt, lợi thế về quân số rõ ràng nghiêng về Vương Hãn và Thiết Mộc Chân. Lợi thế tâm lý mà đoàn thầy pháp của Thiết Mộc Chân mang lại càng củng cố vị thế của cậu, nhất là sau một trận bão lớn đầy sấm chớp mà cả hai bên đều cho là do các thầy pháp. Nhiều người của Trát Mộc Hợp đã sợ hãi bỏ chạy, buộc ông phải lui quân. Lính của Vương Hãn đuổi theo Trát Mộc Hợp và binh đoàn chính của ông, và Vương Hãn ra lệnh cho Thiết Mộc Chân đuổi theo người Thái Xích Ô lúc này đang chạy về hướng sông Onon, nơi Thiết Mộc Chân đã lớn lên và quen thuộc.

Khi Thiết Mộc Chân đuổi kịp người Thái Xích Ô, đánh bại họ lại khó hơn ông tưởng. Kiểu đánh trận trên thảo nguyên bao gồm chủ yếu là bắn tên vào nhau từ trên lưng ngựa hay từ các vị trí cố định sau các tảng đá – hay như ở vùng sông Onon nhiều cây cối thì là sau các khiên chắn gỗ sơ sài. Khi giao tranh, các chiến binh thảo nguyên cố tránh bị dây máu, nên họ ít khi đánh cận chiến một đối một. Hơi thở hay mùi của kẻ thù mang theo một phần tâm hồn chúng, nên các chiến binh cũng cố tránh việc bị dơ bẩn khi ngửi mùi kẻ thù. Phe tấn công phi ngựa tràn xuống kẻ địch, nhanh chóng bắn tên, rồi quay ngược lại trong lúc vẫn tiếp tục bắn tên và bỏ chạy. Đôi lúc phe phòng thủ ra trận với những cây gậy dài dùng để đẩy kẻ địch ngã ngựa, rồi bắn chúng khi chúng lảo đảo đứng dậy.

Quân của Thiết Mộc Chân và Thái Xích Ô đánh nhau suốt cả ngày mà không bên nào tỏ rõ lợi thế, dù lực lượng của Thiết Mộc Chân có vẻ đã khiến kẻ địch lo sợ thất bại hơn. Theo Bí sử, vào cuối ngày, Thiết Mộc Chân bị trúng tên ở cổ. Khi tối đến, hai phe hạ vũ khí và dựng trại gần nhau trên cùng khu đất mà họ đã giao chiến cả ngày. Dù điều này nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng khi ở gần nhau vào ban đêm, họ có thể giám sát nhau kỹ hơn và tránh bị đột kích.

Tuy vết thương của Thiết Mộc Chân không sâu, nhưng ông đã bất tỉnh sau khi mặt trời lặn. Những vết thương như vậy có nguy cơ nhiễm trùng cao, hoặc có thể trong mũi tên có tẩm độc. Jelme, thân tín trung thành của ông, và cũng là phó chỉ huy, ở bên cạnh ông cả buổi tối và hút máu ra khỏi vết thương. Nhổ máu xuống đất là xúc phạm đất, nên Jelme đã nuốt máu. Bên cạnh lý do tôn giáo, giấu máu đi cũng có ý nghĩa thực tế là để kẻ địch không thấy ông mất máu nhiều thế nào. Chỉ khi Jelme quá no không thể nuốt thêm nữa, và máu bắt đầu nhỏ xuống từ miệng cậu, thì cậu mới nhổ máu xuống đất.

Sau nửa đêm, Thiết Mộc Chân tỉnh lại một lúc và muốn uống airak, sữa ngựa cái lên men. Vì họ cắm trại trên chiến trường, Jelme chỉ có một chút nước, nhưng cậu biết rằng người Thái Xích Ô có nhiều xe chở đồ tiếp tế ở giữa trại của họ, được quây thành một vòng tròn phòng vệ. Cậu lột quần áo ra, lẻn sang bên kia chiến trường, và đi bộ trần truồng giữa kẻ địch để tìm airak. Với người Mông Cổ, khỏa thân nơi công cộng là nỗi nhục lớn, và nếu một người Thái Xích Ô thấy cậu đi lại trong trại trần truồng giữa đêm, chúng có lẽ sẽ chỉ đoán là một người của họ dậy đi vệ sinh. Để lịch sự, chúng sẽ quay đi để tránh khiến đồng đội xấu hổ. Nếu chúng nhìn kỹ và nhận ra cậu, Jelme định sẽ nhận là cậu vừa bị những người Mông Cổ đồng đội lột hết quần áo và làm nhục, và đã trốn sang bên người Thái Xích Ô. Chúng chắc sẽ tin cậu vì không một chiến binh Mông Cổ kiêu hãnh nào lại cố ý để bị bắt trong khi không có quần áo.

Người Thái Xích Ô đã không thức dậy, và dù Jelme không tìm thấy airak, cậu đã tìm thấy và lấy một xô sữa đông lên men. Cậu mang sữa đông về, trộn nó với nước, và cho Thiết Mộc Chân ăn suốt đêm. Khi trời sáng, Thiết Mộc Chân trở nên tỉnh táo, và nhìn thấy vũng máu quanh ông và người bạn đồng hành đang cởi trần; ông bối rối hỏi chuyện gì đã xảy ra. Khi nghe chuyện lúc đêm, ông cảm thấy không thoải mái khi nhìn thấy máu của mình ở trên nền đất gần mình như vậy và đã hỏi, “Cậu không nhổ nó ở chỗ nào khác được sao?” Dù có vẻ vô ơn, nhưng Thiết Mộc Chân không bao giờ quên rằng Jelme đã cứu ông khỏi tay người Thái Xích Ô, và sau này ông tin tưởng phó thác cho Jelme một số trận chiến quan trọng nhất trong các cuộc chinh phục của người Mông Cổ.

Câu chuyện về vết thương ở cổ là điển hình cho tài năng gây dựng lòng trung thành của Thiết Mộc Chân. Dù các bộ lạc trên thảo nguyên ở thời ông đổi phe trong những cuộc khiêu khích nhỏ nhất, và quân lính có thể bỏ rơi thủ lĩnh, không một vị tướng nào của Thiết Mộc Chân bỏ rơi ông trong suốt sáu thập niên ông làm chiến binh. Đồng thời, Thiết Mộc Chân không bao giờ trừng phạt hay làm hại tướng của mình. Trong số các vị vua và nhà chinh phục vĩ đại trong lịch sử, lòng tận trung như vậy là có một không hai.

Người Thái Xích Ô không biết Thiết Mộc Chân bị thương, và giữa đêm nhiều người trong số chúng đã bắt đầu lẻn ra khỏi chiến trường. Tới sáng hôm sau, phần lớn quân lính đã bỏ trốn, và Thiết Mộc Chân sai quân đuổi theo. Như đã làm với người Nữ Chân trước đó, Thiết Mộc Chân giết phần lớn các thủ lĩnh nhưng nhận những người còn lại làm người của mình. Sau chừng ba mươi năm bị người Thái Xích Ô bắt lần đầu, cầm tù và phải đeo gông, ông trọng thưởng gia đình đã giúp ông chạy trốn, giải thoát họ khỏi cảnh nô lệ.

Trong khi Thiết Mộc Chân đánh bại người Thái Xích Ô, Trát Mộc Hợp đã chạy thoát khỏi quân lính của Vương Hãn. Dù Trát Mộc Hợp đã mất người Thái Xích Ô, vẫn còn nhiều bộ tộc khác trung thành với ông, và khi chạy trốn tới vùng thảo nguyên xa xôi hơn, ông cũng sẽ tìm được những đồng minh mới cho đại nghiệp của mình. Trận chiến cuối cùng giữa ông và Thiết Mộc Chân vẫn còn ở trước mắt.

*

Năm Nhâm Tuất 1202, một năm sau khi Thiết Mộc Chân đánh bại người Thái Xích Ô, Vương Hãn lệnh cho Thiết Mộc Chân tham gia một chiến dịch khác để cướp bóc người Tatar ở phía đông, trong lúc ông, giờ đã cao tuổi, mở một chiến dịch gần quê nhà để chống lại người Miệt Nhi Khất.

Trong trận đánh chống người Tatar, Thiết Mộc Chân tiếp tục đưa ra một loạt thay đổi cấp tiến với các luật lệ cố hữu trên thảo nguyên, và các thay đổi này vấp phải sự phản đối của một số những người theo ông cũng như các dòng họ quý tộc, nhưng đồng thời cũng củng cố lòng trung thành mà nhiều người khác dành cho ông. Họ là những người thuộc dòng dõi thấp kém hơn, và đã có cuộc sống tốt hơn nhờ những cải cách và của cải ông phân phát. Sau hàng loạt cuộc tấn công, Thiết Mộc Chân đã nhận ra rằng việc vội vã cướp của từ ger của quân thua trận ngăn cản chiến thắng toàn vẹn hơn. Thay vì đuổi theo lính của các trại bị cướp, phe tấn công thường để họ trốn thoát và thay vào đó tập trung vào cướp bóc các trại ngay lập tức. Chiến thuật này cho phép nhiều lính thua trận bỏ trốn và sau đó quay lại phản công. Vậy nên trong đợt tấn công người Tatar lần thứ hai này, Thiết Mộc Chân quyết định ra lệnh rằng việc cướp của sẽ chỉ xảy ra sau khi đã hoàn toàn đánh bại người Tatar; sau đó nó sẽ diễn ra có tổ chức hơn – toàn bộ chiến lợi phẩm sẽ do ông kiểm soát và sau dó phân phát cho người của mình theo cách ông thấy phù hợp. Ông phân phát chiến lợi phẩm tương tự như cách thợ săn thường chia con mồi sau khi cùng săn bắn.

Một thay đổi khác là việc ông ra lệnh rằng mỗi goá phụ và trẻ em có cha bị giết trong trận đánh sẽ được nhận phần tương đương một người lính. Dù ông làm vậy vì nhớ tới hoàn cảnh của mẹ mình khi cha ông bị người Tatar giết hay vì mục đích chính trị, nó cũng đã có hiệu quả sâu sắc. Chính sách này không chỉ đảm bảo rằng những người nghèo nhất bộ lạc sẽ ủng hộ ông, mà còn gây dựng lòng trung thành, vì lính của ông biết rằng kể cả nếu họ chết, gia đình họ vẫn sẽ được ông chăm sóc.

Sau khi đánh lạc hướng người Tatar, một vài người của Thiết Mộc Chân phớt lờ lệnh cấm cướp bóc riêng lẻ, và ông cho thấy mình nghiêm túc với cải cách này như thế nào bằng cách đề ra hình phạt cứng rắn nhưng thích đáng. Ông thu hồi toàn bộ tài sản của những người này và không cho họ nhận chiến lợi phẩm từ cuộc chiến. Khi kiểm soát việc phân phát mọi vật phẩm cướp được, ông một lần nữa đã vi phạm luật lệ truyền thống của các dòng họ quý tộc do ông chỉ huy, đó là để những dòng họ này phân phát chúng cho người của mình. Tính cấp tiến của các cải cách đã khiến nhiều người trong số họ tức giận, và lúc này vài người đã rời ông để gia nhập lực lượng của Trát Mộc Hợp, làm gia tăng hơn nữa khoảng cách giữa giới quý tộc cao quý và người chăn gia súc tầm thường. Một lần nữa, ông cho thấy rằng thay vì dựa vào mối quan hệ họ hàng và truyền thống, các thành viên bộ lạc có thể trông cậy vào Thiết Mộc Chân để được giúp đỡ trực tiếp; với biện pháp này, ông đã thâu tóm quyền lực lãnh đạo về tay mình, đồng thời củng cố sự tận tâm trong lòng người dân.

Dù gặp phải bất đồng từ một số ít người Mông Cổ, hệ thống mới của Thiết Mộc Chân đã lập tức có hiệu quả. Nhờ lùi việc cướp bóc tới cuối chiến dịch, đội quân của ông thu được số của cải và súc vật nhiều chưa từng thấy. Nhưng hệ thống tài sản mới cũng tạo ra một vấn đề mới; người Mông Cổ không chỉ đánh bại người Tatar, mà còn bắt được gần như toàn bộ quân lính và tất cả dân thường.

Theo các hệ tư tưởng truyền thống trên thảo nguyên, bất kỳ ai bên ngoài mạng lưới họ hàng đều là kẻ thù, và sẽ luôn là kẻ thù trừ phi bằng cách nào đó trở thành thành viên của gia đình qua nhận nuôi hoặc kết hôn. Thiết Mộc Chân muốn kết thúc vòng giao tranh không hồi kết giữa các tộc, và ông muốn giải quyết người Tatar giống như cách ông đã làm với người Nữ Chân và Thái Xích Ô – giết những kẻ đứng đầu, nhận những người sống sót và toàn bộ của cải cùng gia súc vào tộc. Dù chính sách này đã có hiệu quả với các bộ tộc vài trăm người, bộ lạc Tatar có đến hàng ngàn người. Với một sự thay đổi xã hội lớn như vậy, ông cần sự ủng hộ hoàn toàn từ người của mình, và để giành được sự ủng hộ đó, ông mở một buổi hốt lý đài gồm các chiến binh thắng trận.

Các thành viên hốt lý đài đồng ý với kế hoạch, quyết định sẽ giết những người đàn ông Tatar cao hơn đinh chốt trục xe kéo. Đây không chỉ là thước đo tuổi trưởng thành, và còn là biểu tượng của một đất nước, giống như cách người ta thường coi tàu thủy là biểu tượng quốc gia. Một lần nữa, để bù lại việc giết chóc, Thiết Mộc Chân muốn những người Tatar còn sống hoàn toàn trở thành thành viên của bộ lạc ông, chứ không phải nô lệ. Để nhấn mạnh điều này, ông không những nhận nuôi một đứa trẻ Tatar khác cho mẹ mình, mà còn khuyến khích kết hôn khác tộc. Cho tới lúc này, ông chỉ có một người vợ chính thức là Bột Nhi Thiếp, người đã sinh cho ông bốn cậu con trai và một số lượng con gái còn chưa xác định, nhưng giờ ông lấy Dã Tốc Cai và chị gái là bà Yesui, thuộc dòng dõi quý tộc Tatar, làm vợ lẽ. Người Tatar có danh tiếng hơn người Mông Cổ nhiều lần, và sau trận chiến này, người Mông Cổ tiếp nhận rất nhiều người Tatar, nhiều người trong đó sau này đã có chức vị và tầm ảnh hưởng lớn trong Đế chế Mông Cổ. Bởi vậy cái tên Tatar trở nên đồng nghĩa, và có khi được biết tới rộng hơn, với tên gọi Mongol (Mông Cổ). Điều này đã gây ra không ít nhầm lẫn trong suốt nhiều thế kỷ.

Tuy nhiên, việc kết hôn ngoại tộc và nhận nuôi không đủ để giúp Thiết Mộc Chân đạt được mục tiêu sáp nhập hai nhóm lớn thành một tộc người. Nếu các nhóm họ hàng được phép giữ nguyên vẹn, thì cả bộ tộc lớn rồi sẽ tan rã. Bởi vậy, năm 1203, một năm sau khi chinh phục người Tatar, Thiết Mộc Chân đặt ra một cải cách khác, thậm chí còn cấp tiến hơn, với quân đội và bộ lạc Mông Cổ.

Ông tổ chức quân lính thành các đội mười người gọi là arban, và họ sẽ là anh em của nhau. Dù nguồn gốc bộ lạc hay huyết thống của họ là gì, họ được ra lệnh phải sống và đánh nhau với lòng trung thành như của anh em ruột thịt; để khẳng định hoàn toàn quan hệ huyết thống này, không ai trong số họ được phép bỏ rơi những người khác nếu họ bị bắt trong chiến đấu. Như mọi anh em khác, người lớn tuổi nhất có quyền lãnh đạo chủ chốt, nhưng họ cũng có thể chọn ra người khác giữ vị trí này.

Mười đội hợp thành một đoàn một trăm người, gọi là zagun. Một người trong số đó được bầu làm thủ lĩnh. Và như các gia đình lớn hợp lại thành dòng họ, mười đoàn người Mông Cổ hợp thành một đạo quân một ngàn người, gọi là mingan. Mười mingan hợp thành đội quân tumen một vạn người. Chỉ huy của các tumen do Thiết Mộc Chân tuyển chọn, vì ông biết các phẩm chất cần có của người nắm vai trò này. Ông cho phép cha và con trai và anh em và anh em họ ở cùng nhau khi hợp lý, nhưng bằng việc buộc họ gia nhập các đơn vị mới mà không được rời bỏ hay thay đổi, nếu không sẽ bị tử hình, ông đã phá vỡ quyền lực của các dòng họ, bộ tộc, bộ lạc, và đặc tính tộc người của hệ thống cũ. Vào thời điểm tái tổ chức, ông được cho là đã có chín mươi lăm mingan – đơn vị của một ngàn người, nhưng vì một số đơn vị không có đủ người, tổng số quân có thể chỉ là khoảng tám vạn.

Qua quân đội, toàn bộ bộ lạc Mông Cổ hợp thành một. Dưới hệ thống mới này, mọi thành viên bộ lạc – bất kể tuổi tác hay giới tính – đều phải ít nhiều thực hiện nghĩa vụ cộng đồng. Nếu họ không thể nhập ngũ, họ phải tham gia làm việc tương đương với một ngày công mỗi tuần trong các dự án công cộng và phục vụ hãn. Công việc bao gồm chăm sóc gia súc của quân lính, gom phân làm chất đốt, nấu ăn, làm da thuộc, sửa vũ khí, hay thậm chí là hát và phục vụ giải trí quân lính. Trong tổ chức mới, mọi người đều thuộc cùng một xương. Cậu bé Thiết Mộc Chân, người đã bị chối bỏ nhiều lần vì nguồn gốc thấp kém, giờ đã phá bỏ khác biệt giữa xương trắng và xương đen. Mọi người theo ông bây giờ là một tộc người thống nhất.

Có rất nhiều suy đoán lịch sử vì sao Thiết Mộc Chân lại tổ chức người của ông theo hệ số mười. Một vài bộ lạc Turk cũng tổ chức quân đội thành các đơn vị mười người, và Thiết Mộc Chân có thể đã mượn điều này từ họ. Tuy nhiên, Thiết Mộc Chân không chỉ sử dụng hệ thống này như một chiến thuật, mà còn biến nó thành cấu trúc cố định cho toàn xã hội.

Thiết Mộc Chân đưa ra chiến lược khá giống với nhà làm luật người Athens là Cleisthenes gần hai ngàn năm trước đó, dù không có cơ sở tin rằng ông từng nghe tới chi tiết lịch sử này. Nhằm dẹp yên các mối thù và giao tranh truyền thống ở Athens, Cleisthenes xóa bỏ các bộ lạc và chỉ định lại tất cả mọi người vào các đơn vị mười người, thay đổi một thành phố bộ lạc thành một thành bang sau này phát triển thành cường quốc quân sự, thương mại, nghệ thuật và tri thức lớn mạnh nhất bờ đông Địa Trung Hải. Một cải cách tương tự với người Mông Cổ ở vùng thảo nguyên Trung Á trên thực tế sẽ còn mang tới kết quả đáng ngạc nhiên hơn nữa.

Sau khi tái tổ chức quân đội, Thiết Mộc Chân đặt ra một cải cách nữa, thoạt nhìn có vẻ nhỏ hơn. Song song với trại chính ở Avarga bên sông Kherlen, ông quyết định mở một vùng lãnh thổ khép kín là quê hương của bộ lạc Mông Cổ ở thượng nguồn các con sông Onon, Kherlen và Tuul quanh ngọn núi thiêng Burkhan Khaldun, nơi ông đã ẩn nấp khỏi người Miệt Nhi Khất. “Không ai được dựng trại ở đầu nguồn Ba Con Sông,” ông ra lệnh. Sau lệnh đó, quê hương người Mông Cổ cấm người ngoài xâm nhập trừ hoàng tộc. Họ được chôn cất ở đây suốt hai thế kỷ, và quay lại đây khi có lễ nghi của dòng họ và các buổi họp gia đình kín, không có người ngoài. Người Mông Cổ luôn coi những ngọn núi bắt nguồn ba con sông là quê hương họ, nhưng với bộ luật mới này, nó trở thành trung tâm tâm linh bí mật của Đế chế Mông Cổ sau này. Vùng đất xung quanh Burkhan Khaldun giờ chính thức trở nên linh thiêng trong hệ vũ trụ của người Mông Cổ. Nó không chỉ là trung tâm Trái đất, mà còn là trung tâm của vũ trụ.

Thay vì dùng một tên gọi dân tộc hay bộ lạc duy nhất, Thiết Mộc Chân dần gọi người của mình là Người Tường Da Thuộc, ý nói tới vật liệu họ dùng làm ger. Việc sử dụng tên gọi này sau khi đánh bại người Tatar có lẽ là dấu hiệu đầu tiên của tham vọng muốn thống nhất toàn bộ thảo nguyên của ông.

Với thắng lợi và việc hợp nhất với người Tatar hùng mạnh, cũng như với các bộ lạc nhỏ hơn Thái Xích Ô và Nữ Chân, Thiết Mộc Chân đã đạt được thanh thế đáng kể trong thế giới thảo nguyên, một mức độ quyền lực mà Vương Hãn, thủ lĩnh của ông, không ngờ tới. Ngay cả trong lúc Thiết Mộc Chân củng cố quyền lực khi dân số tăng lên đột ngột, ông phải đối mặt với một thử thách lớn khác – bài kiểm tra quyết định với hệ thống mới của ông. Bước đi tiếp theo của ông sẽ khiến kẻ thù truyền kiếp Trát Mộc Hợp liên minh với Vương Hãn – người cha theo lệ tục của ông, để chiến đấu với sức mạnh và thanh danh ngày càng lớn của Thiết Mộc Chân.

« Lùi
Tiến »