Thành Cát Tư Hãn Và Sự Hình Thành Thế Giới Hiện Đại

Lượt đọc: 1097 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
chiến tranh giữa các hãn

ATA-MALIK JUVAINI,

Thành Cát Tư Hãn: Lịch sử người chinh phục thế giới

AI CŨNG NHẬN RA rằng Vương Hãn đã đi tới gần cuối sự nghiệp, nhưng không ai biết ai sẽ kế tục ông. Sau hơn hai mươi năm chiến tranh, Thiết Mộc Chân đã thống lĩnh phần lớn người Mông Cổ, nhưng vẫn chưa chinh phục được kẻ thù Trát Mộc Hợp. Dù Vương Hãn nhìn chung đứng về phía Thiết Mộc Chân, ông vẫn tiếp tục gây xung đột giữa hai vị tiểu hãn. Năm Quý Hợi 1203, một năm sau khi đánh bại người Tatar, Thiết Mộc Chân quyết định giải quyết vấn đề một cách công khai bằng cách hỏi cưới con gái của Vương Hãn cho con trai cả Truật Xích của mình. Chấp nhận lời đề nghị có nghĩa là Vương Hãn công nhận Thiết Mộc Chân là cánh tay phải của mình thay vì Trát Mộc Hợp.

Nghe lời xúi giục của Senggum, con trai ruột ông – kẻ chẳng có tài cán gì và không có thân tín nào, Vương Hãn vội vã từ chối cuộc hôn nhân. Ngay cả nếu Thiết Mộc Chân mơ mộng rằng người của mình là Người Tường Da Thuộc và không chịu công nhận sự khác biệt giữa các bộ tộc, trong mắt hoàng tộc Khắc Liệt, dù hữu dụng thế nào ông vẫn chỉ là một kẻ mới nổi tầm thường. Gần một thế kỷ sau, tin rằng Thiết Mộc Chân đã hỏi vợ cho chính mình, Marco Polo ghi lại giọng điệu – và có thể là cả lời nói – của Vương Hãn do người Mông Cổ kể lại cho ông như sau: “Thành Cát Tư Hãn không biết ngượng khi hỏi con gái ta làm vợ sao? Hắn không biết hắn là chư hầu và tôi tớ của ta à? Hãy quay về và bảo hắn rằng ta thà để con gái mình bị lửa thiêu còn hơn là để nó lấy hắn.”

Song, vị hãn già nhanh chóng hối hận vì lời từ chối hấp tấp của mình, và lo sợ không biết Thiết Mộc Chân sẽ phản ứng thế nào. Giờ đây Thiết Mộc Chân chắc chắn là thủ lĩnh quân sự xuất chúng nhất thảo nguyên, và Vương Hãn biết ông không thể liều mình chiến đấu với Thiết Mộc Chân. Thay vào đó, ông bày ra mưu kế lừa đảo để xử lý hiểm họa tiềm tàng từ Thiết Mộc Chân, giống như cách người Tatar đã giết cha của Thiết Mộc Chân. Vương Hãn gửi tin nhắn tới Thiết Mộc Chân rằng ông đã thay đổi quyết định, và sẽ chào đón một cuộc hôn nhân giữa hai gia đình. Ông chọn ngày và mời Thiết Mộc Chân cùng gia đình tới mừng đám cưới hai con. Có vẻ Thiết Mộc Chân đã tin lời vị hãn, người cha tục lệ của ông hơn hai thập niên, và lên đường cùng một nhóm nhỏ tới nơi đặt tiệc, để quân đội ở lại. Nếu cuộc hôn nhân này thành công, đây sẽ là đỉnh cao trong sự nghiệp của ông: hợp nhất người của ông với người Khắc Liệt của Vương Hãn, và cuộc hôn nhân sẽ giúp ông trở thành người có cương vị vững vàng nhất để kế vị Vương Hãn, làm thủ lĩnh tương lai của vùng thảo nguyên trung tâm.

Khi chỉ còn cách nơi Vương Hãn ở một ngày, Thiết Mộc Chân nhận tin rằng lời mời đám cưới là kế hoạch tấn công ông. Vương Hãn đã bí mật dàn quân và dự định sẽ giết sạch cả ông và gia đình. Vào đúng khoảnh khắc Thiết Mộc Chân mong đợi vinh quang, ông lại biết rằng không những cuộc hợp nhất sẽ không xảy ra, mà sự sống của ông và gia đình mình còn lâm vào nguy hiểm. Với chỉ một nhóm lính nhỏ cách xa lực lượng hỗ trợ chính của ông, Thiết Mộc Chân không thể mạo hiểm chiến đấu. Thay vào đó, ông làm điều mà người sống trên thảo nguyên vẫn luôn làm khi gặp cảnh hiểm nghèo: Thiết Mộc Chân ra lệnh cho đoàn của mình phân tán rải rác khắp mọi hướng, còn ông và vài người đồng hành chạy trốn về phía đông trước khi quân của Vương Hãn đuổi theo.

Thiết Mộc Chân giờ đây phải đối mặt với biến cố sẽ là thử thách lớn nhất với khả năng của ông. Cuộc chạy trốn lính Vương Hãn hẳn phải rất giống cuộc chạy trốn người Miệt Nhi Khất hơn hai thập niên trước, khi chúng bắt cóc Bột Nhi Thiếp. Vòng quay bất tận của các cuộc tấn công trên thảo nguyên dường như không bao giờ dứt. Mặc cho mọi thứ ông đã làm trong cả cuộc đời mình, gần như chẳng có gì thay đổi khi một lần nữa, ông lại phải chạy trốn những kẻ có địa vị xã hội cao hơn và nhiều quyền lực chính trị hơn.

Với vị thủ lĩnh đột nhiên phải chạy trốn, bộ lạc những Người Tường Da Thuộc mới thành lập của Thiết Mộc Chân phải đối mặt với hiểm họa lớn đầu tiên. Liệu họ có trụ được không? Liệu những người dân từ nhiều bộ lạc và gia đình khác nhau có kiên trung tin vào Thiết Mộc Chân, dù ông đang trốn ở đâu đi nữa? Hay họ sẽ bỏ chạy về quê hương cũ, hoặc vội vàng sắp xếp tìm sự bảo hộ của Vương Hãn hay Trát Mộc Hợp? Các sự kiện tới đây trở thành huyền thoại với người Mông Cổ như là bài thử và thắng lợi vĩ đại nhất cuộc đời Thiết Mộc Chân.

Thiết Mộc Chân đặt chân tới bờ hồ Baljuna bùn lầy xa xôi sau nhiều ngày chạy trốn, trong tình trạng kiệt sức và không còn lương thực dự trữ. Ông nhìn quanh để xem có bao nhiêu người còn sống sót sau khi tháo chạy. Ông chỉ đếm được mười chín người, và giờ họ có nguy cơ chết đói ở nơi hẻo lánh này. Khi cả đoàn nghỉ lấy sức bên hồ Baljuna và quyết định sẽ làm gì kế tiếp, một con ngựa hoang đột nhiên xuất hiện ở phía bắc, và Cáp Tát Nhi, em trai của Thiết Mộc Chân, lên đường đuổi theo nó. Cậu giết con ngựa, và mọi người nhanh chóng lột da nó. Không có lửa để nướng thịt hay nồi để luộc, họ trông cậy vào kỹ thuật nấu ăn cổ xưa. Sau khi lột da, họ cắt thịt thành nhiều phần và bỏ vào một cái bao lớn làm từ da ngựa cùng với chút nước. Họ thu thập phân khô để đốt lửa, nhưng họ không thể đặt trực tiếp cái nồi da lên trên lửa. Thay vào đó, họ nung đá tới khi nóng, rồi thả đá nóng vào hỗn hợp thịt và nước. Đá làm nóng nước, nhưng nước đảm bảo đá không làm cháy bao. Vài tiếng sau, nhóm người chết đói thỏa thuê ăn thịt ngựa luộc.

Trừ Cáp Tát Nhi, những người còn lại đi với ông đều là bạn, chứ không phải họ hàng. Vài người nhà ông đã tạm thời mất dấu trên thảo nguyên, nhưng những người khác đã bỏ Thiết Mộc Chân sang phe Vương Hãn hoặc Trát Mộc Hợp. Đặc biệt là chú của ông, một trong hai người em trai đã giúp cha ông bắt cóc mẹ của Thiết Mộc Chân từ tay người chồng Miệt Nhi Khất của bà, đã đi theo Vương Hãn chống lại cháu mình.

Trước viễn cảnh không chút xán lạn, những người đàn ông kiệt sức coi sự xuất hiện của con ngựa như món quà siêu nhiên đã ban tặng cho họ không chỉ đồ ăn để lấp đầy cái bụng trống. Là loài vật quan trọng và được tôn trọng nhất của người Mông Cổ, con ngựa đã làm sự kiện thêm long trọng và là dấu hiệu của sự can thiệp và ủng hộ của thần linh. Con ngựa biểu trưng cho sức mạnh định mệnh của Thiết Mộc Chân, và như trước bất kỳ trận đánh lớn hay hốt lý đài nào, sự hi sinh của nó không chỉ để làm thức ăn, mà còn củng cố thêm sức mạnh cho Dải cờ thiêng của Thiết Mộc Chân. Chỉ có thứ nước đầy bùn từ hồ Baljuna để uống ở cuối bữa thịt ngựa, Hãn Thiết Mộc Chân giơ một bàn tay lên trời, và dùng tay còn lại lấy nước hồ như chén rượu mừng. Ông cảm ơn người của mình vì lòng trung thành của họ, và hứa sẽ không bao giờ quên điều này. Những người đàn ông cùng uống nước bùn và thề vĩnh viễn tận trung với ông. Khi sự kiện này được truyền miệng lại, nó được biết đến trong lịch sử là Thỏa ước Baljuna, và mang một màu sắc huyền bí vì vừa là thời điểm tồi tệ nhất trong chặng đường quân sự của Thiết Mộc Chân, nhưng cũng là sự kiện đánh dấu sự phát triển cả về tính chất và hình thức của Đế chế Mông Cổ.

Sự kiện này là đại diện tượng trưng cho sự đa dạng của người Mông Cổ, dựa trên sự cam kết và lòng trung thành với nhau, vượt qua huyết thống, dân tộc, và tôn giáo. Mười chín người đi cùng Thiết Mộc Chân tới từ chín bộ lạc khác nhau; có lẽ chỉ có Thiết Mộc Chân và em trai Cáp Tát Nhi là thật sự tới từ bộ tộc Mông Cổ. Những bộ lạc khác bao gồm Miệt Nhi Khất, Khiết Đan và Khắc Liệt. Trong khi Thiết Mộc Chân tin vào tôn giáo truyền thống, thờ phụng Thanh thiên Vĩnh hằng và Thần Núi Burkhan Khaldun, mười chín người còn lại gồm vài người theo Ki-tô giáo, ba người theo Hồi giáo, và nhiều người theo Phật giáo. Họ đoàn tụ chỉ nhờ lòng tận trung với Thiết Mộc Chân và lời thề với ông và với lẫn nhau. Những lời thề ở Baljuna tạo ra một dạng tình huynh đệ, và bằng cách vượt lên trên dòng dõi, dân tộc, và tôn giáo, nó gần như trở thành một dạng tư cách công dân hiện đại dựa trên lựa chọn và cam kết cá nhân. Mối liên kết này trở thành ẩn dụ cho hình thức cộng đồng kiểu mới của người của Thiết Mộc Chân, và sau này sẽ chi phối nền tảng thống nhất trong Đế chế Mông Cổ.

Sau khi ẩn náu ở Baljuna, Thiết Mộc Chân lên kế hoạch phản công. Ông biết rằng mình phải hành động nhanh chóng, trong lúc Vương Hãn vẫn còn đang tự tin tưởng rằng mình đã loại trừ được hiểm họa từ Thiết Mộc Chân. Thiết Mộc Chân gửi lời nhắn về kế hoạch tới người của mình khắp thảo nguyên, và câu chuyện chắc hẳn đã bao gồm mọi chi tiết về sự xuất hiện diệu kỳ của con ngựa đã cứu ông cùng mọi người. Những ngày tiếp theo, quân đoàn các nhóm mười và một trăm người mới thành lập của ông tự hợp lại từ quanh thảo nguyên, tới mức độ mà cả Thiết Mộc Chân cũng không thể ngờ tới. Khi Thiết Mộc Chân tiến về hướng tây từ Baljuna về vùng đất của Vương Hãn, người của ông đổ từ mọi hướng về gặp ông. Bên cạnh đó, vài người họ hàng của Thiết Mộc Chân bên phía mẹ ông và Bột Nhi Thiếp, những người trung thành với Vương Hãn, giờ từ bỏ vị thủ lĩnh Khắc Liệt và đi tìm trại của Thiết Mộc Chân.

Trong khi đó, để ăn mừng thắng lợi trước Thiết Mộc Chân, Vương Hãn vẫn không chút ngờ vực và đã tổ chức một buổi tiệc lớn tại ger bằng vàng tráng lệ của mình. Ông đem theo cái ger này mọi lúc mọi nơi. Quá tự tin vào quyền lực của mình và không biết chuyện đang xảy ra trên thảo nguyên, Vương Hãn ăn mừng, ảo tưởng rằng người của Thiết Mộc Chân đã giải tán, còn Thiết Mộc Chân thì đang ở đâu đó xa xôi ở phía đông.

Quân đội của Thiết Mộc Chân chạy đua tới nơi diễn ra yến tiệc. Những người thân tín đã đi trước họ để đặt các trại ngựa tiếp tế để nếu một toán hết sức, sẽ có toán khác đợi họ. Với nguồn tiếp sức này, quân của ông phi ngựa không ngừng nghỉ xuyên đêm. Ông gọi đây là Cuộc Tiến công Tia chớp. Thay vì chọn cách dễ dàng hơn là trực tiếp tiến tới nơi ở của người Khắc Liệt ở bên kia thảo nguyên, Thiết Mộc Chân đưa người của ông theo một đường xa xôi và trắc trở hơn mà ông biết sẽ không bị canh gác.

Đột nhiên, Thiết Mộc Chân, người được cho là phải cách đó vài ngày đường, lao vào những kẻ tiệc tùng; người của ông đã bao vây cả trại. Sau ba ngày giao tranh căng thẳng, người Khắc Liệt rút lui trước đội quân Thiết Mộc Chân đang tiến tới. Nhiều người của Vương Hãn bỏ sang phe Thiết Mộc Chân, và đúng như chính sách của mình, ông chấp nhận họ với điều kiện ngoài việc bỏ Vương Hãn theo ông, họ chưa từng phản bội hay làm hại thủ lĩnh cũ của mình.

Nói quân của Vương Hãn bị lực lượng của Thiết Mộc Chân nuốt chửng thì đúng hơn là đánh bại. Hoàng tộc Khắc Liệt tán loạn bỏ chạy thoát thân. Con trai của Vương Hãn chạy về phía nam, và chết vì thiếu nước trên sa mạc sau khi bị chính người hầu của mình bỏ rơi. Trong khi đó, Trát Mộc Hợp cùng nhóm người ít ỏi chạy tới lãnh thổ của người Nãi Man ở phía nam, bộ lạc duy nhất trong số ba bộ lạc lớn trên thảo nguyên chưa bị Thiết Mộc Chân đánh bại. Vương Hãn cũng cố gắng một mình tìm tới nơi trú ẩn của bộ lạc Nãi Man.

Không bắt được thủ lĩnh của kẻ thù, và thậm chí là cả con trai của vị hãn già, người Mông Cổ phải giải thích cho thất bại này và làm ra vẻ nó không quan trọng. Người của Thiết Mộc Chân lan truyền các câu chuyện hạ thấp uy tín của Vương Hãn và làm yên lòng người dân của mọi bên rằng ông đã chết và không còn là một mối nguy. Theo lời kể của người Mông Cổ, sau khi tới biên giới của người Nãi Man, Vương Hãn gặp một người lính biên phòng. Người này không tin rằng ông già độc hành này lại là vị hãn chiến binh lừng lẫy của người Khắc Liệt nên đã giết ông. Họ nói rằng để chuộc tội đã giết ông, hoàng hậu Nãi Man đã cho người mang đầu ông tới, và đặt nó lên một tấm vải da thuộc trắng linh thiêng ở một vị trí danh dự đằng sau ger, đối diện cửa ra vào, nơi bà có thể tế lễ và cầu nguyện. Không gì xúc phạm người Mông Cổ hơn là một thứ máu me như vậy ở trong nhà, và không gì nguy hiểm hơn là cái đầu, nơi đặt linh hồn của Vương Hãn. Tuy nhiên, theo câu chuyện, bà ra lệnh cho một nhạc công chơi morin huur, loại đàn kéo làm từ đầu ngựa, trong lúc các cô con dâu hát và nhảy cho cái đầu, còn bà đặt rượu vang làm vật lễ, như thể Vương Hãn vẫn còn sống và là khách quý trong ger của bà. Khi Tayang Khan, thủ lĩnh người Nãi Man, bước vào và nhìn thấy cái đầu, ông sợ hãi và hét lên đầy giận dữ và hoảng loạn rằng cái đầu đã cười với ông. Ông đã đá cái đầu rơi xuống từ tấm vải da thuộc linh thiêng và đạp vỡ nó thành nhiều mảnh.

Những câu chuyện như vậy đảm bảo rằng vị hãn già đã thật sự qua đời, và đồng thời sỉ nhục triều đình Nãi Man, đối tượng tiếp theo cho chiến dịch của Thiết Mộc Chân. Tuyên truyền và điều khiển quan điểm dư luận nhanh chóng trở thành vũ khí ưa thích của Thiết Mộc Chân. Người Mông Cổ truyền tin với những người ủng hộ rằng Tayang Khan đã biến thành một kẻ yếu ớt trẻ con, bị vợ và con làm nhục nơi công cộng. Nhằm khiến người của họ tức giận với kẻ thù, các thủ lĩnh Mông Cổ tuyên truyền rằng hoàng hậu Nãi Man khinh bỉ người Mông Cổ, coi họ là những kẻ mọi rợ hôi hám bẩn thỉu. Dùng tin đồn để củng cố sự tự tin của người của mình và làm suy yếu quyết tâm của địch, người Mông Cổ kể rằng con trai của Tayang Khan gọi ông đầy mỉa mai là Bà già Tayang, và ông chỉ đi khỏi ger một khoảng cách xa bằng một người phụ nữ có thai cần đi vệ sinh.

Song song với việc kể những câu chuyện kỳ lạ về hoàng tộc Nãi Man, người Mông Cổ tự củng cố tinh thần bằng những câu chuyện kể rằng người Nãi Man sợ hãi họ như thế nào. Vì Trát Mộc Hợp đã gia nhập người Nãi Man, họ lan truyền những câu chuyện rằng ông ta làm người Nãi Man hoảng sợ khi miêu tả chiến binh của Thiết Mộc Chân. Bí sử kể lại những lời miêu tả đáng sợ về người Mông Cổ một cách chi tiết và đẩy tự hào: “Mũi họ làm bằng lưỡi đục và lưỡi làm từ dùi. Họ có thể ăn sương và cưỡi gió mà sống.” Họ so sánh Thiết Mộc Chân với một con chim cắt đói mồi, nhưng cũng nói rằng “cả thân mình ông làm từ đồng và sắt, được xếp chắc tới nỗi không lưỡi dùi nào xuyên qua được.”

Trái ngược với miêu tả này, người Mông Cổ đầu tiên mà một người lính tuần tra Nãi Man bắt được cưỡi con ngựa gầy cùng bộ yên cương đơn sơ tới mức những kẻ bắt giam anh ta mang con ngựa và bộ yên cương đi từ trại này sang trại khác để chế giễu với những người Nãi Man khác rằng người Mông Cổ đã trở nên thảm hại thế nào. Thiết Mộc Chân đáp trả sự kiện này bằng một thủ thuật khác. Vì ông có rất ít lính so với người Nãi Man, Thiết Mộc Chân ra lệnh cho mỗi người đốt năm đám lửa trại mỗi đêm trên những ngọn đồi nơi quân của ông cắm trại. Từ xa, đội quân nhỏ dường như lớn hơn nhiều, bởi họ có vẻ có “nhiều lửa hơn sao trên trời.”

*

Trận quyết chiến giành quyền kiểm soát Mông Cổ diễn ra vào năm Giáp Tý 1204, khoảng ba trăm dặm về phía tây dãy Burkhan Khaldun. Những ngày trước khi diễn ra trận chiến, Thiết Mộc Chân thử nghiệm tổ chức quân sự theo nhóm mười người mới của ông. Thay vì đánh tổng lực với quân số nhỏ sẽ khiến ông thua dễ dàng, Thiết Mộc Chân tấn công người Nãi Man bằng các trận đột kích nhỏ lẻ khó dự đoán. Trong sự kiện đầu tiên, Thiết Mộc Chân ra lệnh cho quân của ông tiến đánh theo cách gọi là Bụi cây Di động hay Đội hình Cây cỏ lăn* ngay khi trời tảng sáng. Thay vì để các đội quân lớn lao tới tấn công, các nhóm mười người rải rác tiến công thầm lặng từ nhiều hướng khác nhau, ẩn nấp trong màn đêm trước bình minh. Điều này ngăn cản kẻ địch nhìn thấy số lượng hay chuẩn bị tấn công từ một hướng. Sau khi tấn công, các nhóm này bỏ chạy theo nhiều hướng khác nhau, bỏ lại kẻ thù bị thương không kịp trả đũa trước khi đám người tấn công biến mất.

Sau các cuộc tấn công nhỏ lẻ của Bụi cây Di động là Đội hình Hồ: một hàng dài quân lính tiến công, bắn tên, rồi nhường đường cho hàng kế tiếp. Như sóng hồ, họ tấn công rồi biến mất nhanh như lúc xuất hiện, mỗi đợt sóng lần lượt quay về phía sau và tạo thành một làn sóng mới. Việc sử dụng Đội hình Hồ khiến người Nãi Man phải dàn trải ra thành một hàng dài, mỏng để đối mặt với hàng dài những người người tấn công. Một khi người Nãi Man đã dàn mỏng ra, Thiết Mộc Chân chuyển sang chiến thuật thứ ba. Ông xếp các nhóm lần lượt sau lưng nhau, tạo thành Đội hình Mũi dùi – nhọn ở đầu nhưng rất dài, giúp phe tấn công dồn tổng lực vào một điểm trên hàng ngũ mỏng của quân Nãi Man và xuyên qua chúng.

Dường như ít nhất một phần của các chiến thuật này là tổng hợp từ các kỹ thuật chiến đấu và kỹ năng săn bắn cổ xưa; song việc quân địch hoang mang và không thể đáp trả hình thức giao chiến này một cách hiệu quả cho thấy Thiết Mộc Chân đã cải tiến các chiến thuật này và biến nó thành của riêng ông. Thiết Mộc Chân đã tạo ra một hình thức quân đội thảo nguyên mới dựa trên nhiều chiến thuật khác nhau, và quan trọng nhất là sự hợp tác chặt chẽ giữa quân lính và tuyệt đối nghe lệnh chỉ huy. Họ không còn là một đám các cá nhân cùng tấn công, mà giờ đã là một đội hình thống nhất. Thiết Mộc Chân sử dụng một tập hợp các thủ thuật mà mỗi người lính đều phải biết và phản ứng chuẩn xác tức thì. Người Mông Cổ có câu nói: “Nếu ngài ấy bảo tôi đi vào lửa hay nước, tôi sẽ đi. Tôi đi vì ngài.” Câu nói phản ánh không chỉ một lý tưởng, mà là thực tế của cách đánh mới của người Mông Cổ, và nó dễ dàng hạ gục người Nãi Man.

Quân Mông Cổ đang giành lợi thế, nhưng Thiết Mộc Chân không hấp tấp tiến tới vinh quang. Đêm trước ngày mọi người dự đoán sẽ diễn ra trận quyết chiến, ông bảo người của mình hãy ngủ thật say. Ở bên kia chiến tuyến, quân Nãi Man hoang mang, mất phương hướng và mất đường dây liên lạc, nên họ bắt đầu bỏ chạy giữa đêm. Tuy nhiên, Thiết Mộc Chân giữ quân của mình lại và không đuổi theo chúng. Đêm tối và không có trăng, và con đường tẩu thoát duy nhất là đường dốc phía sau núi. Với tầm nhìn hạn chế, những kẻ bỏ trốn cùng ngựa trượt chân và rơi xuống hẻm núi. Theo cách nói của Bí sử, xác chúng chất đống như “những khúc gỗ mục” dưới chân vách đá.

Sáng hôm sau, quân Mông Cổ dễ dàng đánh bại những người Nãi Man còn lại và “xử lý Tayang Khan.” Trong số các chiến binh tẩu thoát thành công, con trai Guchlug của Tayang Khan đã chạy tới dãy núi Thiên Sơn xa xôi của người Hắc Khiết Đan, còn Trát Mộc Hợp biến mất trong rừng. Không còn bộ tộc nào để Trát Mộc Hợp ẩn mình nữa, và cái kết của ông sẽ là một tiếng rên ri từ từ, chứ không phải một trận đánh sống còn cao trào. Kể cả những nhóm người Miệt Nhi Khất còn lại cũng nhanh chóng bị nước Mông Cổ ngày càng lớn mạnh nuốt chửng, và Trát Mộc Hợp – lúc này đã bốn mươi tuổi – sống như kẻ cướp đường ngoài lề xã hội với một nhóm người theo hầu nhỏ, ngày ngày ăn thú hoang để sống. Số mệnh giờ đã đảo ngược: Trát Mộc Hợp từng thuộc dòng dõi quý tộc giờ lại phải sống như Thiết Mộc Chân hồi nhỏ sau khi cha ông mất. Năm Ất Sửu 1205, một năm sau chiến thắng người Nãi Man, vì tuyệt vọng và chấp nhận thất bại, người của Trát Mộc Hợp đã bắt ông đem tới cho Thiết Mộc Chân. Dù hai người là kẻ thù, song Thiết Mộc Chân lại đặt lòng trung thành lên trên tất cả. Thay vì trọng thưởng cho những kẻ đã giao Trát Mộc Hợp cho ông, Thiết Mộc Chân xử tử tất cả bọn họ trước mặt vị thủ lĩnh đã bị chúng phản bội.

Cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa hai người đàn ông đã giao chiến với nhau suốt hơn hai mươi năm là cao trào đầy xúc động của Bí sử. Thay vì trả thù Trát Mộc Hợp, người giờ đây không còn là mối đe doạ với ông nữa, Thiết Mộc Chân ngỏ lời muốn đoàn tụ: “Chúng ta hãy cùng là bạn đồng hành. Giờ đây, chúng ta lại hòa làm một, ta nên nhắc nhở nhau về những điều mình đã lãng quên. Cùng đánh thức nhau dậy. Ngay cả khi huynh rời xa đệ, huynh vẫn là người anh kết nghĩa may mắn nhiều ơn phước của đệ. Những ngày hai ta tương tàn, hẳn là lòng dạ và trái tim huynh đã phải day dứt vì đệ. Những ngày hai ta giết chóc lẫn nhau, hẳn là lồng ngực và trái tim huynh đã phải đau đớn vì đệ.”

Trát Mộc Hợp có vẻ đã rất xúc động trước lời cầu xin và tấm lòng của người em từng dưới quyền mình, người giờ đây đã thống lĩnh tất cả những gì Trát Mộc Hợp từng có và hơn cả thế nữa. Trong một khoảnh khắc dường như ông cũng chìm vào hoài niệm về tình huynh đệ thời trẻ với Thiết Mộc Chân. Trát Mộc Hợp đáp, “Chúng ta đã cùng ăn những thứ không thể tiêu hóa được, và nói với nhau những lời không thể nào quên” trong lúc “cùng chia sẻ tấm chăn trong giấc ngủ.” Trát Mộc Hợp sau đó trách một người thứ ba không tên vì đã chia rẽ họ, “Chúng ta đã bị khiêu khích bởi một kẻ chia rẽ hai ta. Chúng ta đã bị dụ dỗ bởi một kẻ tới từ bên ngoài.”

Bí sử kể lại lời thú tội và hối cải rất dài của Trát Mộc Hợp, nhưng độ chính xác khá đáng ngờ bởi cả lối hành văn long trọng và mức độ chi tiết. “Giờ đây, khi cả thế giới đang chờ đón đệ,” cuốn sách trích lời Trát Mộc Hợp, “việc có ta làm bạn đồng hành hà có ích gì nữa? Ngược lại, người anh em, trong đêm đen huynh sẽ ám ảnh giấc mơ của đệ, giữa ban ngày huynh sẽ làm tim đệ trăn trở. Huynh sẽ là con rận trong cổ áo đệ, mảnh gỗ vụn trên cánh cửa của đệ.”

Gần hệt như một luật sư thời nay xin khoan hồng vì vấn đề tâm lý và bất ổn cảm xúc, Trát Mộc Hợp hồi tưởng lại ngày họ còn trẻ, tìm kiếm một lời giải thích vì sao ông lại để ý tới Thiết Mộc Chân như vậy, và vì sao ông lại phản bội cậu. Thiết giải thích ngắn gọn rằng bản thân ông đã mất cả cha lẫn mẹ, không anh chị em hay bạn bè thân tín, và vợ thì là một người đàn bà đanh đá. Nhưng thay vì xin được khoan hồng, sau cùng Trát Mộc Hợp lại xin được chết, chỉ với một yêu cầu duy nhất – rằng họ giết ông theo cách của quý tộc, tức là không để máu rơi xuống đất hay lộ ra dưới ánh nắng và bầu trời.

Dù đã phản bội Thiết Mộc Chân khi còn sống, Trát Mộc Hợp đề nghị được làm một người bạn tốt hơn của ông sau khi chết. Ông thề rằng nếu Thiết Mộc Chân đặt xác ông ở một nơi có địa thế cao, ông sẽ dõi theo Thiết Mộc Chân và mọi hậu duệ của ông: “Giết huynh đi và để xương huynh trên nền đất cao. Để mãi mãi và vĩnh viễn, huynh sẽ bảo vệ nòi giống của nòi giống của đệ, và trở thành phước lành cho họ.” Truyền thuyết kể rằng Thiết Mộc Chân chôn Trát Mộc Hợp cùng chiếc thắt lưng vàng mà ông đã tặng Trát Mộc Hợp khi họ cùng thề trở thành anda.

Trát Mộc Hợp là kẻ địch đầu tiên của Thiết Mộc Chân, và giờ ông chết với tư cách là quý tộc Mông Cổ cuối cùng chống lại ông. Trên chặng đường dài nhằm giành quyền thống lĩnh các bộ tộc Mông Cổ, Thiết Mộc Chân đã đánh bại mọi bộ lạc trên thảo nguyên và xóa bỏ mối đe doạ từ các dòng họ quý tộc bằng cách giết đàn ông và cho phụ nữ kết hôn với con trai và người của ông. Ông bức bối khi ở dưới quyền những kẻ đứng trên ông. Ông giết Biệt Khắc Thiếp Nhi để giành quyền làm chủ gia đình. Ông tiêu diệt người Miệt Nhi Khất vì họ bắt vợ ông. Ông giết người Tatar vì họ đã giết cha ông, và coi người Mông Cổ không hơn gì lũ chuột trên thảo nguyên. Ông lật đổ giới quý tộc Mông Cổ và lần lượt loại trừ tộc Thái Xích Ô và Nữ Chân, những bộ tộc Mông Cổ cao quý hơn. Khi đồng minh cũng như hình tượng người cha của ông từ chối cuộc hôn nhân giữa hai gia đình, Thiết Mộc Chân tiêu diệt cả ông và bộ lạc. Khi hoàng hậu Nãi Man nhạo báng người Mông Cổ là những kẻ thấp kém, ông tấn công bộ lạc, giết chồng bà, và để người của mình lấy bà làm vợ. Cuối cùng, ông giết Trát Mộc Hợp, một trong những người ông yêu quý nhất trong cả cuộc đời, và qua đó đặt dấu chấm hết cho bộ tộc Trát Đạt Lan quyền quý.

Không còn nghi ngờ gì nữa, giờ đây Thiết Mộc Chân đã trở thành người cai quản một vùng đất rộng lớn, kiểm soát mọi thứ từ sa mạc Gobi ở phía nam tới đài nguyên Bắc cực ở phía bắc, từ các cánh rừng Mãn Châu ở phía đông tới dãy núi Altay ở phía tây. Đế chế của ông phủ đầy cỏ, và có nhiều súc vật hơn người. Vinh quang trên chiến trường thôi không đủ để danh chính ngôn thuận cai trị, cho tới khi nó được tuyên bố công khai ở một buổi hốt lý đài gồm các đại diện tới từ mọi vùng của lãnh thổ. Nếu một nhóm chọn không cử người tới, có nghĩa là họ chối bỏ quyền lãnh đạo của vị hãn đã mở buổi họp. Vị hãn không thể tuyên bố cai trị họ, và quan trọng hơn, họ không thể được ông bảo hộ.

Thiết Mộc Chân đợi một năm để khôi phục hòa bình và hàn gắn các mối quan hệ trước khi mở buổi hốt lý đài lên ngôi. Năm Bính Dần 1206, Thiết Mộc Chân quay trở lại thượng nguồn sông Onon gần ngọn núi thiêng Burkhan Khaldun và triệu tập buổi hốt lý đài có lẽ là lớn nhất và quan trọng nhất trong lịch sử thảo nguyên từ trước tới nay. Hàng vạn gia súc gặm cỏ gần đó để cung cấp sữa và thịt cho các buổi liên hoan. Các ger trải dài hàng dặm từ trại của Thiết Mộc Chân, và ở chính giữa tất cả là dải sulde lông ngựa, Dải cờ thiêng đã dẫn đường cho Thiết Mộc Chân tới sự kiện này. Những ngày thực hiện nghi lễ đan xen với những ngày hội hè, thể thao, và âm nhạc. Những thầy pháp của triều đình, bao gồm cả Teb Telgeri, đánh trống và ca hát vào ban ngày, và các nhạc công biểu diễn khi đêm xuống. Không khí buổi đêm tràn ngập âm thanh quyến rũ của tiếng hát Mông Cổ, hay giọng hát âm bội – khi tiếng của một người tới từ rất sâu trong người nên họ có thể hát hai âm một lúc. Tương tự với các sự kiện chính trị lớn khác, các thanh niên thi đấu vật, đua ngựa, và bắn cung, các trò chơi truyền thống của người Mông Cổ được gọi là naadam.

Thiết Mộc Chân cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn khoảng bằng Tây Âu hiện đại, nhưng với dân số chỉ khoảng một triệu người từ nhiều bộ lạc du mục khác nhau và có lẽ khoảng 15 tới 20 triệu gia súc. Ông không chỉ đơn thuần là thủ lĩnh của người Tatar, Khắc Liệt, hay Nãi Man. Ông sẽ trở thành thủ lĩnh của tất cả Người Tường Da Thuộc, và với đế quốc mới này, ông chọn một tên hiệu chính thức mới bắt nguồn từ bộ lạc của mình. Ông gọi người của mình là Yeke Mongol Ulus, Quốc gia Mông Cổ Vĩ đại. Sau khi thống nhất toàn dân, ông bãi bỏ các chức tước quý tộc trong dòng họ, bộ tộc, và bộ lạc của họ. Những tước vị như vậy thuộc về nhà nước, không phải một cá nhân hay gia đình họ, và chúng sẽ được phân chia theo ý của thủ lĩnh mới. Bản thân ông từ chối các tước hiệu bộ lạc cũ như Khả Hãn hay Tayang Khan, mà thay vào đó chọn tước hiệu mà có lẽ người của ông vốn đã dùng để gọi ông, Thành Cát Tư Hãn (Chinggis Khan). Tên gọi này sau này được phương Tây biết đến qua cách viết Ba Tư là Genghis Khan. Chin trong tiếng Mông Cổ nghĩa là mạnh mẽ, vững chắc, không lay chuyển, và can trường. Nó gần với từ chỉ loài sói trong tiếng Mông Cổ, chino, loài vật người Mông Cổ coi là tổ tiên. Đây là tước hiệu đơn giản nhưng phù hợp với vị hãn mới.

Như hầu hết các nhà cầm quyền thành công khác, Thành Cát Tư Hãn hiểu ý nghĩa tiềm tàng của nghi lễ trọng thể và cảnh tượng hoành tráng. Song, khác với các thủ lĩnh khác bị bó buộc trong các toà nhà như cung điện hay đền đài, lễ đăng quang của Thiết Mộc Chân diễn ra trên vùng thảo nguyên rộng mở, với hàng trăm ngàn người tham dự.

Các nghi lễ công cộng của người Mông Cổ đã gây ấn tượng mạnh mẽ với khách tham dự và những người kể chuyện, và họ đã miêu tả lại chúng rất chi tiết. Lời kể đầy đủ nhất còn lại tới nay tới từ nhà viết tiểu sử người Pháp thế kỷ mười bảy François Pétis de la Croix, người được xem các văn kiện Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ đương thời mà nay đã mất tích. Theo lời Pétis, người của Thành Cát Tư Hãn “đặt ông lên một Tấm Thảm Da Thuộc màu đen trải trên Nền nhà; và Người được sai mang Tiếng nói tới cho Người dân thông báo rõ ràng với ông Niềm vui của Người dân.” Người phát ngôn khuyên Thành Cát Tư Hãn rằng “mọi Quyền lực ông được trao tới từ Trời, và Chúa sẽ luôn phù hộ và đảm bảo Ý định của ông thành công nếu ông cai quản Người dân tốt và công bằng; nhưng ngược lại, ông sẽ tự làm mình rơi vào khổ đau nếu lạm dụng quyền lực đó.”

Buổi lễ là dấu hiệu ủng hộ không thể nhầm lẫn từ người của ông. Họ công khai bộc lộ sự thần phục của mình bằng việc nâng tấm thảm ông ngồi trên đầu và đưa ông lên ngai vàng, theo đúng nghĩa đen. Sau đó họ “quỳ chín lần trước vị Hoàng đế mới để thể hiện lòng Trung thành họ đã hứa với ông.” Các dòng họ có mặt để cam kết ủng hộ Thành Cát Tư Hãn; tương tự như vậy, các thầy pháp có mặt để cho thấy rằng các linh hồn và giấc mơ của ông đã chỉ dẫn ông đi theo con đường này. Vì không có một tôn giáo có tổ chức, các thầy pháp ban phước linh cho sự kiện, khiến nó không chỉ mang tính chính trị đơn thuần. Nhờ có họ, sự kiện trở thành lời tuyên bố linh thiêng về số phận tâm linh được Thanh thiên Vĩnh hằng định trước của Thiết Mộc Chân.

Các thầy pháp đánh trống, cầu kinh cho các thần linh của tự nhiên, và rải airak vào không trung và lên nền đất. Hàng đoàn người tụ tập cầu nguyện, đứng thành hàng ngũ với lòng bàn tay hướng lên Thanh thiên Vĩnh hằng. Họ kết thúc bài cầu nguyện và gửi chúng lên trời cao bằng cụm từ Mông Cổ cổ xưa “huree, huree, huree” được dùng để kết thúc mọi lời cầu nguyện, tương tự như amen của người Ki-tô giáo. Hành động tâm linh này biến mỗi người họ thành một phần của cuộc bầu cử, và cam kết một thỏa ước tôn giáo không chỉ giữa họ và vị thủ lĩnh, mà còn với cả thế giới tâm linh.

*

Hầu hết các nhà cầm quyền, dù là vua chúa hay tổng thống, đều trưởng thành dưới một thể chế nhà nước nào đó. Các thành tựu của họ thường là tái tổ chức hay vực dậy các thể chế và nhà nước đó. Song Thành Cát Tư Hãn lại chủ động bắt đầu kiến tạo một nhà nước và thiết lập các thể chế cần thiết trên một nền tảng mới, vay mượn từ các bộ lạc cũ và kết hợp với những gì ông sáng tạo ra. Để quốc gia-nhà nước có thể tồn tại, ông cần xây dựng các thể chế vững chắc, và với Thành Cát Tư Hãn điều này xuất phát từ quân đội, cái đã đưa ông tới quyền lực; ông củng cố quân đội và khiến nó đóng vai trò trung tâm trong chính phủ. Dưới sự lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn, những người chăn bò, chăn cừu, và các cậu bé chăn lạc đà tiến thân trở thành các vị chiến tướng và cưỡi ngựa trước các đội quân hàng ngàn hàng vạn lính. Nam giới khỏe mạnh từ mười lăm tới bảy mươi tuổi đều tại ngũ. Giống như khi được bầu làm hãn của bộ lạc, ông chỉ định những người trung thành nhất là người đứng đầu nhóm một ngàn lính và gia đình của họ, và những người theo ông lâu dài nhất, như Boorchu, chỉ huy các đơn vị một vạn người. Ông trọng thưởng những người thuộc dòng họ xương đen thấp kém và cử họ vào những vị trí cao nhất dựa trên thành tích và lòng trung thành với ông trong và ngoài chiến trường. So với những đơn vị vạn người mà ông giao cho những người bạn thân tín của mình, các đơn vị do người nhà ông quản lý nhỏ hơn – mẹ ông, em trai, và hai con trai út Oa Khoát Đài và Đà Lôi chỉ huy các đơn vị năm ngàn người. Với tám ngàn người cho Sát Hợp Đài và chín ngàn cho Truật Xích, ngay cả các con trai lớn của ông cũng không nhận được một tumen đủ một vạn người. Thành Cát Tư Hãn chỉ định những người bạn ông tin tưởng giám sát việc quản lý của nhiều thành viên trong gia đình, đặc biệt là mẹ ông, em trai út, và Sát Hợp Đài. Ông giải thích việc cần những người giám sát đó là vì Sát Hợp Đài “cứng đầu và suy nghĩ hẹp hòi, vụn vặt.” Ông cảnh báo những người giám sát cần “ở bên nó cả ngày và đêm để khuyên răn nó.”

Để gìn giữ hòa bình ở đất nước mà ông hợp thành từ nhiều bộ lạc lớn với nhiều dân tộc này, ông nhanh chóng đề ra luật mới để khắc chế các nguyên nhân truyền thống gây nên mâu thuẫn và chiến tranh giữa các bộ lạc. Pháp điển của Thành Cát Tư Hãn khác với các bộ luật khác trong lịch sử. Nó không dựa trên mặc khải của đấng tối cao, hay từ bộ luật cổ của một nền văn minh định canh định cư nào đó. Ông tập hợp nó từ các tập quán và truyền thống của các bộ lạc chăn gia súc từ nhiều thế kỷ nay, nhưng lại sẵn sàng bãi bỏ những hủ tục ngăn cản xã hội mới của ông vận động. Ông cho phép các nhóm theo luật truyền thống trong vùng của họ, chừng nào nó không mâu thuẫn với Pháp điển – bộ luật tối cao hay luật chung cho tất cả mọi người.

Tuy nhiên, Pháp điển không hẳn là một hệ thống pháp luật đơn nhất, mà là một bộ hành pháp mà ông tiếp tục phát triển trong suốt hai thập niên còn lại của cuộc đời mình. Bộ luật của Thành Cát Tư Hãn không đề cập tới mọi khía cạnh của đời sống thường ngày; ông dùng nó để chỉnh đốn các khía cạnh rắc rối nhất. Chừng nào đàn ông còn bắt cóc phụ nữ thì chiến tranh thảo nguyên sẽ còn tiếp diễn. Đạo luật mới đầu tiên của Thành Cát Tư Hãn được cho là cấm bắt cóc phụ nữ – chắc hẳn là để đáp trả việc Bột Nhi Thiếp bị bắt cóc. Nguy cơ giao tranh xảy ra từ các vụ bắt cóc này luôn tiềm tàng trong gia đình Thành Cát Tư Hãn vì ông không biết đứa con trai cả là con ông hay của kẻ bắt cóc Bột Nhi Thiếp, và điều này sẽ gây ra các vấn đề mới trong tương lai.

Song song với việc chấm dứt nạn bắt cóc, ông nghiêm cấm việc bắt cóc và nô lệ hóa bất kỳ người Mông Cổ nào. Từ quá khứ bị người Thái Xích Ô bắt làm lao dịch, ông hiểu nỗi thống khổ riêng tư của việc bị bắt cóc làm nô lệ, nhưng ông cũng biết rằng tục lệ này có hại cho toàn bộ cấu trúc xã hội, và gây ra sự thù địch và bạo lực sâu sắc giữa các bộ lạc trên thảo nguyên.

Thành Cát Tư Hãn nỗ lực triệt tiêu mọi mầm mống mâu thuẫn nội bộ giữa các tầng lớp người của ông. Dựa trên kinh nghiệm cá nhân về các mâu thuẫn xoay quanh vấn đề con ngoài giá thú, ông tuyên bố mọi trẻ em đều hợp pháp, dù là con của vợ hay vợ lẽ. Vì trả giá lấy vợ như mua lạc đà sẽ gây ra mâu thuẫn lâu dài giữa đàn ông, ông cấm việc bán phụ nữ làm vợ. Cũng vì lý do đó, ngoại tình cũng bị cấm, dù người Mông Cổ định nghĩa việc này khác với hầu hết những người khác. Nó không bao gồm quan hệ tình dục giữa một người phụ nữ và họ hàng của chồng, hay giữa một người đàn ông và người hầu nữ hay với vợ của những người đàn ông khác trong gia đình. Tuân thủ theo châm ngôn của Thành Cát Tư Hãn rằng việc của mỗi ger do các ger tự giải quyết, và việc của thảo nguyên sẽ được giải quyết trên thảo nguyên, việc ngoại tình áp dụng cho quan hệ của những người đã kết hôn thuộc các hộ gia đình khác nhau. Nó không được tính là phạm pháp nếu không gây ra giao tranh công khai giữa các gia đình.

Trộm cắp gia súc đã từ lâu bị coi là sai trái, nhưng vẫn thường thấy trong văn hóa cướp bóc trên thảo nguyên, và cũng là nguyên nhân gây bất hòa và mâu thuẫn lâu dài. Có lẽ vì nhớ đến tổn hại gia đình ông phải chịu khi tám con ngựa thiến bị mất trộm, Thành Cát Tư Hãn tuyên bố trộm cắp gia súc là tội chịu án tử hình. Không chỉ vậy, ông yêu cầu bất kỳ ai tìm thấy gia súc thất lạc phải trả chúng lại cho chủ nhân.

Do đó, ông lập ra một hệ thống tìm đồ thất lạc lớn, mở rộng song song với đế quốc ngày càng phát triển của ông. Người nào tìm thấy đồ đạc, tiền bạc, hay gia súc mà không trả lại cho người giám sát phù hợp sẽ bị coi là kẻ trộm; hình phạt cho tội trộm cắp là tử hình.

Bên cạnh việc giao tranh vì mất trộm gia súc, người dân trên thảo nguyên còn thường xuyên tranh cãi về quyền săn bắn động vật hoang dã. Thành Cát Tư Hãn biến những tư tưởng đương thời thành luật, cấm săn bắn động vật vào mùa sinh sản giữa tháng Ba và tháng Mười. Bằng việc bảo vệ động vật vào mùa hè, Thành Cát Tư Hãn cũng cung cấp một giải pháp an toàn cho mùa đông, và thợ săn chỉ được giết số thú đủ để ăn. Bộ luật cùng chỉ rõ cách săn và làm thịt động vật để không lãng phí.

Song song với quan hệ tình dục, tài sản, và thức ăn, Thành Cát Tư Hãn cũng nhận ra mối nguy gây mâu thuẫn từ các tôn giáo đối lập. Bằng cách này hay cách khác, gần như mọi tôn giáo từ Phật giáo tới Ki-tô giáo, Minh giáo* tới Hồi giáo đều có tín đồ trên thảo nguyên, và gần như tất cả các tôn giáo này đều cho mình là tôn giáo đúng đắn và duy nhất. Thành Cát Tư Hãn đặt ra một đạo luật có lẽ xưa nay chưa từng có trên thế giới: tất cả mọi người đều có quyền tự do tôn giáo hoàn toàn và tuyệt đối. Tuy vẫn thờ phụng linh hồn của quê hương, ông không cho phép mọi người coi đó là quốc giáo.

Để truyền bá mọi tôn giáo, Thành Cát Tư Hãn miễn thuế và lao động công ích cho các thủ lĩnh tôn giáo cũng như tài sản của họ. Để khuyến khích các ngành nghề tương tự sau này ông cũng miễn thuế cho những người cung cấp các dịch vụ công thiết yếu, bao gồm người lo tang lễ, bác sĩ, luật sư, giáo viên, và các học giả.

Thành Cát Tư Hãn đề ra một số luật đặc biệt để tránh việc tranh giành vị trí hãn. Theo luật của ông, hãn luôn phải do một hốt lý đài bầu ra. Người nhà ông giành tước vị mà không thông qua bầu cử sẽ phải chịu chém đầu. Để ngăn chặn các ứng cử viên đối thủ giết hại lẫn nhau, ông ra lệnh rằng một thành viên của gia đình không thể tuyên án tử hình cho một người khác, mà phải qua hốt lý đài của cả gia đình. Làm vậy có nghĩa là ông coi chính việc mình đã làm để bắt đầu giành quyền lực là phạm pháp – giết anh trai cùng cha khác mẹ của mình.

Luật Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn để ra thừa nhận trách nhiệm và tội lỗi của một cộng đồng. Một cá nhân không tồn tại hợp pháp bên ngoài gia đình và đơn vị lớn chứa gia đình đó; do vậy, gia đình có trách nhiệm đảm bảo các thành viên có hành vi đúng đắn. Tội của một người có thể khiến tất cả chịu phạt. Tương tự, một bộ lạc hay toán lính có trách nhiệm với hành động của nhau, và do đó cả nước, chứ không chỉ quân đội hay bộ máy hành chính dân sự, có trách nhiệm gìn giữ và thi hành luật pháp. Để là một người Mông Cổ công bằng, phải sống trong một cộng đồng công bằng.

Việc thi hành và trách nhiệm tuân thủ luật pháp bắt đầu từ tầng lớp cao nhất – từ chính vị hãn. Vì vậy, Thành Cát Tư Hãn đã tuyên bố luật pháp có quyền tối thượng với mọi cá nhân, bao gồm cả người trị vì. Khi coi pháp luật cao hơn người cai trị, ông đã làm được điều tới thời điểm đó chưa nền văn minh nào khác đạt được. Không như nhiều nền văn minh – đặc biệt là ở Tây Âu, nơi vua chúa cai trị theo ý Chúa trời và đứng trên pháp luật – Thành Cát Tư Hãn làm rõ rằng Pháp điển của ông áp dụng với người đứng đầu cúng nghiêm ngặt như với những người khác. Điều luật này chỉ được con cháu ông tuân thủ trong khoảng năm mươi năm sau khi ông qua đời, rồi sau đó bị phá bỏ.

Để cai trị đế quốc nói chung, và cụ thể là để ghi lại các đạo luật mới và áp dụng chúng trên toàn vùng lãnh thổ rộng lớn giờ đây thuộc quyền kiểm soát của ông, Thành Cát Tư Hãn ra lệnh ban hành một hệ thống chữ viết. Dù thương nhân Hồi giáo và tu sĩ du mục theo đạo Ki-tô đã truyền bá chữ viết tới vùng thảo nguyên nhiều thế kỷ trước, ít người bản địa học cách viết chữ, ngay cả người của những bộ lạc tiên tiến như người Tatar, Nãi Man hay Khắc Liệt; và cho tới thời điểm đó không người Mông Cổ nào được cho là đã học chữ. Khi chinh phục người Nãi Man vào năm 1204, Thành Cát Tư Hãn khám phá ra rằng Tayang Khan có một người chép lại những quyết định của ông, rồi dùng ngọc ấn dập nổi chúng. Người sao chép là người Duy Ngô Nhĩ, là tộc người bắt nguồn từ thảo nguyên Mông Cổ, nhưng vào thế kỷ thứ chín đã di cư tới các ốc đảo nay là Tân Cương ở phía bắc Trung Hoa. Tiếng Duy Ngô Nhĩ có quan hệ gần gũi với tiếng Mông Cổ, và không khó để chuyển thành chữ viết cho tiếng Mông Cổ. Có nguồn gốc từ bảng chữ cái tiếng Syriac*, được các tu sĩ truyền bá Ki-tô giáo mang tới cho các bộ lạc trên thảo nguyên, chữ viết được tạo thành từ các chữ cái thay vì ký tự, nhưng được viết theo chiều dọc từ trên xuống thành cột giống tiếng Hoa.

Để theo dõi các bộ luật, Thành Cát Tư Hãn đặt ra vị trí quan xử án tối cao cho em trai nuôi Shigi-Khutukhu, cậu bé người Tatar với khuyên tai và khuyên mũi bằng vàng mà ông đã tìm thấy và gửi mẹ nuôi. Thành Cát Tư Hãn giao cho cậu nhiệm vụ “trừng phạt bọn trộm cắp và tìm sự thật sau những lời dối trá,” cũng như ghi lại các quyết định của ông trên giấy trắng cột lại thành các tập sách xanh, màu sắc linh thiêng của Thanh thiên Vĩnh hằng. Trong bộ máy hành chính của Thành Cát Tư Hãn, chữ viết và việc duy trì luật pháp có quan hệ gần gũi với nhau; điều này có lẽ giải thích vì sao “sách” trong tiếng Mông Cổ (nom) có nguồn gốc từ từ nomos trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là “luật pháp.” Trong thế giới Mông Cổ thế kỷ mười ba, pháp luật và chữ viết là một và như nhau.

Nhằm duy trì lòng trung thành và sự gắn kết trong lòng dân chúng, Thành Cát Tư Hãn cải tiến việc bắt con tin, một tập quán chính trị cổ xưa. Ông yêu cầu rằng thủ lĩnh của mỗi đơn vị một ngàn và một vạn người phải gửi con trai và bạn nối khố của chúng cho riêng ông để ông lập thành một quân đội một vạn người của riêng mình. Thay vì đe doạ xử tử chúng nếu họ hàng phạm tội, Thành Cát Tư Hãn áp dụng một chiến lược hữu dụng hơn nhiều. Ông đào tạo những con tin tương lai này thành quan lại và giữ họ làm nguồn dự trữ sẵn sàng thay thế bất kỳ vị quan vô năng hay bất trung nào. Mối đe doạ bị thay thế đó có lẽ hiệu quả hơn trong việc đảm bảo lòng trung thành hơn và mối nguy người thân có thể bị giết. Qua việc này, Thành Cát Tư Hãn thay đổi vị thế của các con tin, biến họ thành một phần cốt yếu của triều đình, và gần như mọi gia đình đều có một mối liên hệ trực tiếp và thân cận với triều đình.

Thành Cát Tư Hãn chia đơn vị tinh nhuệ này thành lính gác ngày và đêm. Như tên gọi, họ canh gác ông và trại của ông cả ngày và đêm, nhưng không chỉ có vai trò như lính gác. Họ cai quản những đứa trẻ làm việc trong triều đình, và quản lý những người chăn các loài gia súc khác nhau. Họ giám sát sự di chuyển của trại, cùng với tất cả các vũ khí và trang bị của quốc gia: dải cờ, cây lao, và trống. Họ cũng kiểm soát cả các dụng cụ nấu ăn và việc giết động vật, cũng như đảm bảo thịt và các chế phẩm từ sữa được phân chia công bằng. Lính giúp đưa ra phán quyết trong các phiên xử, thi hành án phạt, và thi hành pháp luật nói chung. Vì họ cai quản lối ra vào các trại hoàng tộc, họ là nền tảng của bộ máy quan lại.

Mọi quân lính trong đội quân của Thành Cát Tư Hãn giữ vai trò là huynh trưởng của chín đơn vị một vạn người còn lại, và do vậy họ có thể ra lệnh cho họ và họ sẽ chấp hành mà không thắc mắc. Không như các đội quân khác, với thứ bậc riêng cho mỗi cá nhân, trong đội quân Mông Cổ, cả đơn vị đều có chung một thứ bậc. Người có thứ bậc thấp nhất trong tumen một vạn người của Thành Cát Tư Hãn đứng trên người có thứ bậc cao nhất của các tumen khác. Tương tự, trong mỗi tumen, tất cả quân lính trong đơn vị một ngàn người của chỉ huy đứng trên những người trong chín đơn vị một ngàn người còn lại.

Để đảm bảo thông tin về mệnh lệnh tới đúng người nhận, Thành Cát Tư Hãn sử dụng một hệ thống những người phi ngựa nhanh gọi là người truyền tin tên bắn. Quân đội trợ cấp cho các người cưỡi ngựa, nhưng người dân địa phương hỗ trợ các trại. Với người Mông Cổ, dịch vụ thư tín quan trọng tương tự như quân đội, và người Mông Cổ được phép làm việc ở đây thay cho quân ngũ thông thường. Tùy thuộc vào địa hình địa phương, mỗi trại được đặt cách nhau chừng hai mươi dặm, và cần khoảng hai mươi lăm gia đình duy trì và điều khiển mỗi trại. Dù các trại đều mở cho mục đích cộng đồng, phần lớn thông tin về từng trại và tổng số trại tại một thời điểm lại là bí mật được giữ kín, bởi vậy những thông tin này không còn tới ngày nay. Tuy nhiên, ta có thể đoán được mức độ trải rộng của nó nhờ thế kỷ mười tám, khi hệ thống vẫn còn hoạt động và cần khoảng sáu mươi tư trại xuyên suốt Mông Cổ, từ dãy núi Altay ở phía tây tới cổng vào Trung Hoa qua Vạn Lý Trường Thành ở phía đông.

Thành Cát Tư Hãn ứng dụng nhiều phương pháp liên lạc cũ ở khoảng cách gắn hơn, như sử dụng đuốc, tên huýt gió, khói, đuốc lóe, và cờ hiệu, để việc truyền tin được nhanh chóng hơn nữa trong lúc đội quân diễn tập, săn bắn và di chuyển. Những người chăn gia súc trước đó đã phát triển một hệ thống các tín hiệu tay phức tạp để sử dụng sau khi mỗi người đã ra khỏi tầm nghe được, và dưới thời Thành Cát Tư Hãn, các tín hiệu này được cải thiện để tạo nên một hệ thống liên lạc chi tiết, nhanh chóng và hiệu quả để ứng dụng trong diễn tập và giao chiến.

Hòa bình và thịnh vượng cũng gây ra rắc rối cho Thành Cát Tư Hãn. Sáu năm hòa bình cho phép, hay có khi là khuyến khích, các âm mưu và thù hằn vặt vãnh có nguy cơ phá hoại sự thống nhất giữa các hộ lạc mà ông khó khăn lắm mới làm được. Quyền lực của ông càng nhiều, người của ông càng dễ bất hòa – nhất là trong nội bộ gia đình ông. Các thành viên trong gia đình cảm thấy họ có quyền được hưởng nhiều vật phẩm và quyền lực hơn những đồng minh không cùng dòng máu với ông. Triều đình gồm những người cố vấn thân tín của ông gần như không có người họ hàng nào. Ông gửi mẹ mình tới sống cùng con trai út của bà, Thiết Mộc Cách, người theo truyền thống thảo nguyên được gọi là Otchigen – Hoàng tử Tổ ấm – và có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ lúc về già.

Với một đội quân kiên trung, và không có thù hằn với gia đình hay giới quý tộc cũ, rắc rối mới nảy sinh từ một nguồn không ngờ tới: Teb Tengeri, thầy pháp của Thành Cát Tư Hãn. Người này đã tuyên bố nhiều lần rằng Thanh thiên Vĩnh hằng ưu đãi Thành Cát Tư Hãn và sẽ biến ông thành người cai trị toàn thế giới, cũng như giải mộng và đủ các điềm báo tiên đoán thành công và Thành Cát Tư Hãn và ám chỉ tầm quan trọng to lớn của ông. Thành Cát Tư Hãn lợi dụng không chỉ giá trị siêu nhiên mà Teb Tengeri mang lại cho triều đình ông mà còn cả giá trị thực tiễn, chẳng hạn như khi ông cử Teb Tengeri làm người cai quản đất đai cho Ha Nguyệt Luân và Thiết Mộc Cách Otchigen. Teb Tengeri dùng vị trí của mình để làm giàu cho bản thân và sáu anh em của ông ta, hợp thành một phe phái quyền lực. Nhờ vào sức mạnh tâm linh của mình, số người theo họ ở quốc gia Mông Cổ mới chỉ đứng sau Thành Cát Tư Hãn.

Một lần, bảy anh em ông ta cùng hợp sức đánh Cáp Tát Nhi, em trai của Thành Cát Tư Hãn. Sau đó, Cáp Tát Nhi tới ger của Thành Cát Tư Hãn, quỳ xuống cầu xin anh trai mình giúp đỡ. Là người chưa bao giờ hoàn toàn tin tưởng gia đình, Thành Cát Tư Hãn khiến trách em trai, và hỏi mỉa mai rằng làm thế nào một người từng được coi là người khỏe nhất bộ lạc lại có thể để bị đánh. Theo Bí sử, Cáp Tát Nhi bật khóc vì nhục nhã trong lúc quỳ trước mặt anh trai mình. Anh ta rời ger, và vì tức giận, sợ hãi và xấu hổ đã không nói chuyện với Thành Cát Tư Hãn trong suốt ba ngày.

Dường như được thành tích nhỏ này khuyến khích, một thời gian ngắn sau Teb Tengeri nói với Thành Cát Tư Hãn rằng ông ta mơ thấy Thành Cát Tư Hãn cai trị quốc gia, nhưng trong một giấc mơ khác lại thấy Cáp Tát Nhi là người đứng đầu. Ông ta xúi giục Thành Cát Tư Hãn phải nhanh chóng và dứt khoát tấn công em trai mình để phòng ngừa mọi nguy cơ mất ngai vàng. Thành Cát Tư Hãn lập tức ra lệnh bắt Cáp Tát Nhi và tước đi nhóm nhỏ những người theo anh.

Mẹ của Thành Cát Tư Hãn sống cách triều đình một ngày đi đường cùng với con trai út, nhưng bà nhanh chóng nghe được tin về rắc rối này. Vốn đã không bằng lòng vì Teb Tengeri có tiếng nói hơn bà khi là người cai quản đất đai của bà, bà nổi giận khi biết rằng ông ta đã chia rẽ các con mình. Dù trời đã khuya, bà vẫn buộc con lạc đà trắng vào chiếc xe kéo đen của mình và đi xuyên đêm để tới trại của con trai lúc bình minh.

Theo Bí sử, Thành Cát Tư Hãn khựng lại vì bất ngờ khi mẹ ông đột nhiên lao vào trong ger của ông, cởi trói cho Cáp Tát Nhi, đội lại mũ cho cậu và giúp cậu buộc thắt lưng quanh hông. Giận dữ hơn nữa với con trai cả của mình, bà ngồi vắt tréo chân, xé mở deel của mình, và đưa ra bộ ngực mà giờ đây đã già, nhăn nheo và kiệt quệ vì nuôi lớn năm đứa con, tới mức Bí sử nói rằng ngay cả khi bà dùng tay nâng chúng lên, chúng vẫn xuống đến đầu gối bà.

“Con nhìn thấy cái này chưa?” bà giận dữ hỏi Thành Cát Tư Hãn, đôi bàn tay nâng bộ ngực nhân nheo của mình. “Con đã bú từ bộ ngực này đấy!” Sau đó bà mắng con trai mình một lúc lâu. Với cùng những từ ngữ bà dùng khi ông giết anh trai cùng cha khác mẹ Biệt Khắc Thiếp Nhi, bà kết tội rằng ông hành xử như một con thú tự gặm chính dây rốn của mình rồi ăn nhau thai. Để xoa dịu bà, Thành Cát Tư Hãn đồng ý trả tự do cho Cáp Tát Nhi cùng quyền chỉ huy những người đi theo anh ta.

Một thời gian ngắn sau đó, Ha Nguyệt Luân qua đời khi có lẽ đã gần sáu mươi tuổi. Theo phong tục, tài sản của bà sẽ do con trai út thừa kế. Thiết Mộc Cách muốn lấy phần tài sản này, vì có nó, anh ta sẽ đứng đầu một vạn người tổng cộng, nhiều hơn bất cứ thành viên nào khác trong gia đình. Thầy pháp Teb Tengeri và sáu anh trai của mình, có lẽ với lời chấp thuận ngầm của Thành Cát Tư Hãn, đẩy Thiết Mộc Cách Otchigen sang một bên và chiếm lấy đất đai của Ha Nguyệt Luân và người của bà. Khi Thiết Mộc Cách cố gắng giành lại người của mình, Teb Tengeri và các anh em của ông ta công khai làm nhục em trai út của Thành Cát Tư Hãn, bắt cậu quỳ dưới nền đất sau lưng Teb Tengeri và cầu xin được tha mạng.

Mặc cho những lời ai oán từ gia đình, Thành Cát Tư Hãn vẫn tiếp tục về phe Teb Tengeri thay vì người nhà mình. Thành viên gia đình duy nhất mà ông có vẻ vẫn sẵn lòng nghe theo là Bột Nhi Thiếp. Bà hiểu rõ hơn chồng mình mối nguy từ bảy anh em liên minh chặt chẽ và có lực lượng của riêng mình ở nước Mông Cổ. Sau khi nghe về sự việc mới nhất, Bột Nhi Thiếp giận dữ giải thích với Thành Cát Tư Hãn rằng nếu để Teb Tengeri có nhiều quyền lực như vậy, chính con trai của Thành Cát Tư Hãn sẽ gặp nguy hiểm. Bà là người đã khuyên Thiết Mộc Chân rời bỏ Trát Mộc Hợp khi họ hợp nhất những người đi theo, và giờ đây bà yêu cầu ông tuyệt giao với Teb Tengeri và gia đình của ông ta. Bà hỏi chồng: nếu Teb Tengeri có gan làm những chuyện như vậy với anh em của vị Khắc hãn khi ông vẫn còn sống, thử hỏi còn gì hắn không dám làm với các con trai và người vợ goá khi ông không còn nữa?

Lần tiếp theo Teb Tengeri lên triều cùng sáu anh em trai và cha ông, Monglik, Thiết Mộc Cách Otchigen đã ngồi đợi sẵn trong ger với Thành Cát Tư Hãn. Ngay khi Teb Tengeri ngồi xuống, Thiết Mộc Cách tiến tới và túm cổ áo deel của ông ta. Thành Cát Tư Hãn giả vờ rằng hai người chỉ đang chuẩn bị đánh nhau, và ra lệnh cho họ ra ngoài ger để quyết đấu. Song Thiết Mộc Cách không có ý định đánh nhau với Teb Tengeri mà chỉ muốn trừng phạt ông ta. Khi Thiết Mộc Cách vừa kéo Teb Tengeri qua cửa ger, ba người đàn ông đứng đợi sẵn, túm lấy và bẻ gãy cổ ông ta. Thành Cát Tư Hãn ra lệnh dựng một căn lều nhỏ quanh người đàn ông đang hấp hối, và tất cả mọi người rời đi.

Teb Tengeri là kẻ địch cuối cùng từ các bộ lạc thảo nguyên mà Thành Cát Tư Hãn phải đối mặt. Ông phá hủy những gì ông không thể kiểm soát. Ông vô hiệu hóa quyền lực của họ hàng mình, giết các dòng họ quý tộc và các hãn đối lập, phá bỏ các bộ lạc cũ, tái phân bố người dân, và cuối cùng, cho phép sát hại vị thầy pháp quyền lực nhất thảo nguyên.

Thành Cát Tư Hãn cử một thầy pháp mới để thay thế Teb Tengeri, nhưng người này cao tuổi, ít tham vọng, và dễ sai bảo hơn. Những người theo Thành Cát Tư Hãn cũng học được một bài học. Họ coi chiến thắng của ông là dấu hiệu cho thấy Thành Cát Tư Hãn không chỉ có khả năng quân sự, mà quyền năng tâm linh của ông còn mạnh hơn cả vị thầy pháp hùng mạnh nhất. Trong mắt nhiều người của ông, Thành Cát Tư Hãn đã chứng tỏ mình là một thầy pháp quyền năng. Tới nay nhiều người Mông Cổ vẫn còn giữ niềm tin này.

Vì các bộ lạc đã được hợp nhất và vương vị của Thành Cát Tư Hãn được bảo toàn, không ai rõ điều gì sẽ xảy ra tiếp. Ông đã dành quá nhiều năm mắc kẹt trong mâu thuẫn với Trát Mộc Hợp và Vương Hãn; giờ khi họ không còn, bộ lạc lớn của ông dường như không có mục tiêu hay đích đến. Không có kẻ thù, họ không có lý do để đoàn kết. Thành Cát Tư Hãn có lẽ đã tìm kiếm mục tiêu mới, song ông không tìm thấy bộ lạc nào xứng đáng. Không còn đối tượng nào khác, năm 1207 ông ra lệnh cho con trai cả của mình là Truật Xích, khi đó hai mươi tám tuổi, cùng tumen của mình thực hiện chiến dịch tới vùng đất người Mông Cổ gọi là Sibir – nguồn gốc tên gọi Siberia ngày nay, để thuần phục các bộ lạc trong rừng và người chăn tuần lộc. Truật Xích thắng lợi trở về cùng hàng ngàn lính mới cho quân đội Mông Cổ, cùng với các thủ lĩnh bộ lạc – Thành Cát Tư Hãn đàm phán với những người này để gây dựng các cuộc hôn nhân liên minh, bao gồm cả với con gái của Truật Xích. Bên cạnh người, Truật Xích mang về cả các cống vật quý giá, bao gồm những bộ lông thú hiếm như chồn zibelin đen, chim săn mồi, và các lâm sản khác.

Song việc mở rộng về hướng bắc không mang lại nhiều lợi ích khác ngoài lông thú và lông vũ. Thành Cát Tư Hãn chú ý hơn cả vào phương nam, với nhiều sản phẩm đa dạng hơn – kim loại, vải dệt, và sản vật quý hiếm. Ông nhận được lần cống nạp đầu tiên từ người Duy Ngô Nhĩ; họ làm nông nghiệp trên các ốc đảo ở vùng sa mạc Taklimakan và xung quanh Vùng tự trị Tân Cương ngày nay ở Trung Hoa. Thành Cát Tư Hãn chấp nhận sự quy phục của họ, và áp dụng phương pháp liên minh duy nhất là tìm cách để họ gia nhập vào gia đình ông. Ông gả con gái mình cho vị hãn của người Duy Ngô Nhĩ, để ông ta trở thành con rể của mình.

Khi kết giao với các bộ lạc Siberia và người Duy Ngô Nhĩ, Thành Cát Tư Hãn không chỉ đơn giản là liên minh với các hoàng tộc khác. Ông cũng đang tiếp nhận cả bộ lạc hay cả nước làm người nhà trong đế chế của mình, bởi theo thông lệ chính trị của bộ lạc, là họ hàng của hãn tương đương với việc có quan hệ ruột thịt với cả quốc gia. Theo nghĩa này, quan hệ họ hàng đã mở rộng thành một dạng quốc tịch. Thành Cát Tư Hãn tiếp tục ứng dụng và mở rộng quan hệ này trong các năm tiếp theo, và nó trở thành một hình thức quốc tịch chung không dựa trên tôn giáo chung, như người theo đạo Ki-tô và đạo Hồi, hay dựa trên huyết thống, như văn hóa bộ lạc truyền thống. Nó chỉ dựa trên lòng trung thành và sự phục tùng. Dần dần, mọi vương quốc không phải của người Mông Cổ trong Đế chế Mông Cổ được gọi là Khari, bắt nguồn từ một từ nghĩa là màu đen, và có ý chỉ họ hàng thông gia. Như vậy, những quốc gia được chọn lựa như người Duy Ngô Nhĩ và người Triều Tiên, và các nhóm người Turk, sẽ có vinh dự được làm thông gia với người Mông Cổ, trong khi hôn nhân bên ngoài hệ thống “họ hàng đen” thì không được phép.

Khi vị hãn Duy Ngô Nhĩ tới triều đình Mông Cổ để cử hành hôn lễ vào khoảng năm 1209, ông tới với một xe lạc đà chở đầy lễ vật xa hoa, bao gồm vàng, bạc, ngọc trai với nhiều kích thước, hình dạng và màu sắc khác nhau. Không biết thêu thùa, người Mông Cổ vốn chỉ có da, lông thú và da thuộc làm từ len ép, nên những sính lễ quan trọng nhất với họ là các loại vải dệt tinh xảo, bao gồm lụa, gấm thêu kim tuyến, tơ lụa Damask* và sa-tanh. Chuyến thăm của người Duy Ngô Nhĩ làm nổi bật sự đối lập giữa nền văn minh nông nghiệp giàu có và các bộ lạc thảo nguyên nghèo nàn. Thành Cát Tư Hãn thống lĩnh một quân đội hùng mạnh, song lại là thủ lĩnh của một nhóm người phần lớn là nghèo đói, trong khi đó về phía nam, phía bên kia sa mạc Gobi, là cả một dòng chảy thương phẩm không đều đặn nhưng hoành tráng dọc theo Con đường Tơ lụa. Ông đã sẵn sàng để khắc phục sự mất cân bằng hàng hóa này, và để thử sức quân đội của mình trước những đội quân khác, nhưng những nỗ lực này tiềm ẩn rủi ro rất cao. Thành Cát Tư Hãn không ngần ngại nắm lấy cơ hội, và chẳng mấy chốc, như thể lời cầu nguyện của ông đã ứng nghiệm, cơ hội này đã tự đến.

Chưa có ai để ý tới vị thủ lĩnh mới lên này hay quốc gia Mông Cổ mới thành lập của ông ta. Bên ngoài vùng thảo nguyên khép kín ở Nội Á, khi đó ít ai để ý tới việc một thủ lĩnh bạo tàn bị giết và một người mới lên ngôi, hay liên hệ việc một bộ lạc man rợ bị tiêu diệt với việc kẻ địch của họ giành được quyền lực. Các cuộc chiến giữa các bộ lạc nhỏ lẻ để tranh giành ngựa, phụ nữ, và vải vóc không có tầm quan trọng như các cuộc chiến tranh tầm cỡ của những nền văn minh thật sự. Những điều này rồi đây sẽ thay đổi.

« Lùi
Tiến »