Cả địa cầu chấn động dưới tay Thành Cát và hậu duệ của ngài: các sultan bị lật đổ, các khalifah quỵ ngã, và các cesar run rẩy trên ngai vàng.
EDWARD GIBBON,
Sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mã
*
- 4 -
SỈ NHỤC VỊ HOÀNG HÃN
Chúng leo tới thiên đường và lao xuống biển khơi.
GIA LUẬT SỞ TÀI, 1237
NĂM CANH NGỌ 1210, khi Thành Cát Tư Hãn 48 tuổi, bốn năm sau khi đất nước Mông Cổ hình thành, một đoàn sứ giả tới trại của người Mông Cổ để thông báo một vị Hoàng Hãn mới lên ngôi của triều nhà Kim*, và yêu cầu Thành Cát Tư Hãn và người Mông Cổ thần phục làm nước chư hầu. Từ kinh thành Trung Đô, nay thuộc Bắc Kinh, triều Kim được thành lập gần một thế kỷ trước vào năm 1125, cai trị vùng đất Mãn Châu và phần lớn khu vực Nội Mông và bắc Trung Hoa ngày nay. Vốn là một bộ lạc từ vùng rừng núi Mãn Châu, chúng tuyên bố chủ quyền với mọi bộ lạc trên thảo nguyên. Vương Hãn từng tuyên bố trung thành với triều Kim, và nay người Nữ Chân muốn tái khẳng định vương quyền với Thành Cát Tư Hãn, người thống lĩnh dân du mục thảo nguyên thay thế Vương Hãn.
Sức ảnh hưởng của nhà Kim trên thảo nguyên không phụ thuộc nhiều vào sức mạnh quân sự, mà chủ yếu là vì họ kiểm soát chặt chẽ hàng hóa lưu thông từ các xưởng và thành phố khắp Trung Hoa tới những người chăn gia súc. Vị trí của một vị hãn trên thảo nguyên phụ thuộc vào khả năng thắng trận và đảm bảo nguồn cung thương phẩm ổn định. Thông thường hai điều này cùng xảy tới khi có thể cướp bóc bên bại trận sau khi giành được chiến thắng trên chiến trường. Thành tựu đánh bại và thống nhất tất cả các bộ lạc vô tiền khoáng hậu của Thành Cát Tư Hãn vô tình đặt dấu chấm hết cho việc cướp bóc, và ngăn cản dòng chảy hàng hóa. Vì mọi hàng hóa đều bắt nguồn từ phía nam, Thành Cát Tư Hãn có hai lựa chọn: tuyên bố trung thành với các thủ lĩnh phía nam và tiếp nhận hàng hóa với tư cách là một chiến binh chư hầu, hoặc tấn công họ để giành thương phẩm.
Thành Cát Tư Hãn không tin tưởng người Nữ Chân. Người Mông Cổ có nhiều điểm tương đồng về dân tộc và ngôn ngữ với người Khiết Đan hơn – những người đã bị người Nữ Chần đánh bại và thống trị. Nhận thấy quyền lực của vị thủ lĩnh Mông Cổ mới, nhiều người Khiết Đan đã bỏ trốn khỏi lãnh thổ của người Nữ Chân và trú ẩn ở vùng đất của Thành Cát Tư Hãn. Năm 1208, bốn vị thượng quan chạy trốn tới Mông Cổ và cầu xin ông tấn công người Nữ Chân, nhưng Thành Cát Tư Hãn từ chối vì lo sợ rằng đây là bẫy hoặc là một âm mưu thâm hiểm nào đó.
Việc Hoàng Hãn Nữ Chân đột ngột băng hà và con trai nhỏ của ông lên nối ngôi vào năm 1210 cho triều nhà Kim cơ hội đánh giá Thành Cát Tư Hãn bằng cách cử sứ giả tới thông báo những sự kiện mới xảy ra và đòi hỏi ông dứt khoát thần phục. Một bản ghi chép năm 1878 trên bảng tin Bắc Kinh Nhật báo có đưa tin về kiểu nghi thức được xem là của nhà Kim, miêu tả lễ sắc phong một vị tướng người Mông Cổ do sứ giả Mãn Châu – hậu duệ của người Nữ Chân – cử hành. Chàng trai Mông Cổ quỳ “khúm núm trên nền đất và, “với lòng thành kính sâu sắc nhất,” nhận mình là “tên nô lệ Mông Cổ hèn kém, hoàn toàn không có khả năng báo đáp dù chỉ là chút ít án huệ Thiên triều đã ban cho gia đình mình suốt hàng thế hệ, và tuyến bố ý định làm lụng hết khả năng ít ỏi của mình.” Sau đó anh ta “hướng về phía Hoàng cung và dập đầu xuống đất… để tỏ lòng biết ơn sự rộng lượng của Thiên triều.”
Thành Cát Tư Hãn biết rõ cách quỳ lạy – ông đã quỳ lạy nhiều lần trên núi Burkhan Khaldun để tạ ơn Thanh thiên Vĩnh hằng – nhưng giờ đây, khi đã gần tới tuổi ngũ tuần, ông sẽ không quỳ lạy ai cả. Và ông cũng không phải tên nô lệ Mông Cổ của ai hết. Khi nhận lệnh phải thể hiện sự thần phục, nghe kể rằng Thành Cát Tư Hãn đã quay về hướng nam và nhổ lên nền đất; rồi ông buông một tràng chửi rủa Hoàng Hãn, leo lên ngựa và phi về phương Bắc, bỏ lại vị sứ giả sững sờ sau lưng. Việc Thành Cát Tư Hãn chối từ sứ giả của Hoàng Hãn tương đương với một lời tuyên chiến của người Mông Cổ với người Nữ Chân. Thành Cát Tư Hãn cần hàng hóa – điều này giúp ông có lý do gây chiến với nhà Kim, và lệnh của vị Hoàng Hãn cho ông cái cớ để tấn công.
Sau sự việc với sứ giả nhà Kim, Thành Cát Tư Hãn quay về căn cứ ở vùng sông Kherlen, và năm Tân Mùi 1211 mở một hốt lý đài. Vì mọi người đều đã biết vấn đề cần được quyết định, người dân có thể phủ quyết bằng cách không tham dự; nếu quá ít người tới buổi hốt lý đài, Thành Cát Tư Hãn sẽ không thể tiếp tục. Bằng cách tổ chức một buổi họp lớn công khai, mọi người đều được tham gia vào quá trình, và quan trọng hơn cả, ai cũng hiểu tại sao quốc gia lại tham chiến. Dù trên chiến trường, binh lính phải tuân lệnh mà không thắc mắc, ngay cả những người lính cấp thấp nhất cũng được đối xử như cấp dưới và phải hiểu nhiệm vụ cũng như có tiếng nói trong đó. Các thành viên cấp cao gặp mặt ở các buổi họp lớn công khai để bàn bạc vấn đề, sau đó từng người quay về đơn vị của mình để tiếp tục bàn bạc với các chiến binh cấp dưới. Để mọi binh lính đồng lòng dốc sức, tất cả mọi người, bất kể cấp bậc, đều cần phải tham gia và hiểu rõ vị trí của mình trong tổng cục diện.
Thành Cát Tư Hãn cũng mời đại diện từ các nước đồng minh Duy Ngô Nhĩ và Đảng Hạng, nhằm củng cố quan hệ với họ và bảo vệ hậu tuyến và vùng khuất đầy sơ hở của nước ông khi ông tiến hành xâm lược. Ở hậu phương, ông cũng cần truyền cảm hứng cho mọi người về lòng can đảm và hiểu biết về cuộc chiến. Để thực hiện hai mục tiêu này, Thành Cát Tư Hãn tác động tới danh dự và mong muốn phục thù những sai lầm trong quá khứ, song ông cũng hứa hẹn nguồn hàng hóa vô biên từ số của cải trù phú của người Nữ Chân. Theo Bí sử, một khi ông cảm thấy chắc chắn rằng người dân và đồng minh cùng đồng hành với mình, Thành Cát Tư Hãn công khai rút lui khỏi đoàn đại biểu của buổi hốt lý đài để cầu nguyện một mình trên một ngọn núi gần đó. Ông bỏ mũ và tháo thắt lưng, cúi mình trước Thanh thiên Vĩnh hằng, và trần tình trước các vị thần bảo hộ. Ông kể lại những nỗi đau hàng thế hệ mà người Nữ Chân gây nên cho người của ông, và miêu tả việc tổ tiên ông bị tra tấn và giết hại. Ông giải thích rằng ông không cố tình đánh nhau với Hoàng Hãn và không phải người gây chiến.
Khi ông không có mặt, người Mông Cổ chia thành ba nhóm riêng biệt: đàn ông, phụ nữ và trẻ em, để nhịn ăn và cầu nguyện. Suốt ba ngày ba đêm, cả đất nước Mông Cổ trong cảnh đầu trần và đói khát hồi hộp chờ đợi phán quyết của Thanh thiên Vĩnh hằng và lệnh của Thành Cát Tư Hãn. Cả ngày cả đêm họ thầm tụng lời cầu nguyện cổ của người Mông Cổ “huree, huree, huree” tới Thanh thiên Vĩnh hằng.
Rạng sáng ngày thứ tư, Thành Cát Tư Hãn xuất hiện với lời phán định: “Thanh thiên Vĩnh hằng đã hứa hẹn sẽ cho chúng ta vinh quang và phục thù.”
Khi quân đội Mông Cổ @nam tiến tới các đô thành tráng lệ phương Nam, quân Nữ Chân vênh vang chờ đợi và chế nhạo cuộc tiến công của họ. “Vương quốc của chúng ta như biển cả; đất nước của ngươi chỉ là một nắm cát,” một học giả Trung Hoa ghi lại lời vị hãn của người Nữ Chân nói về Thành Cát Tư Hãn. “Sao chúng ta phải sợ ngươi?” ông ta hỏi.
Chẳng mấy chốc ông ta sẽ có được câu trả lời.
*
Vào thế kỷ mười ba, vùng đất phía nam Mông Cổ nay thuộc chủ quyền của Trung Hoa từng bao gồm nhiều thể chế và vương quốc độc lập, với số dân chiếm khoảng một phần ba dân số thế giới. Với khoảng năm mươi triệu dân, nhà Kim là vương triều lớn thứ hai trong số rất nhiều vương triều cai trị vùng đất mà ngày nay là Trung Hoa. Vùng lãnh thổ lớn và quan trọng nhất thuộc quyền kiểm soát của nhà Tống, thừa tự hàng thế kỷ văn minh Trung Hoa, đóng đô ở Hàng Châu và cai trị khoảng sáu mươi triệu dân ở phía nam Trung Hoa. Một chuỗi các tiểu quốc vùng đệm là ranh giới giữa cao nguyên Mông Cổ với nhà Tống, một khu vực nông nghiệp và chăn gia súc hỗn hợp do một bộ lạc du mục cũ cai trị. Bộ lạc này đã xâm lược vùng đất này và định cư ở đây để khai thác dễ dàng hơn. Thỉnh thoảng, một bộ lạc mới tới từ thảo nguyên sẽ xuất hiện để lật đổ bộ lạc cũ đã suy tàn do hàng thế kỷ của cuộc sống thành thị êm đềm. Đã thành một chu kỳ cố định, một đội quân du mục sẽ ào xuống từ thảo nguyên, giành quyền cai trị nông thôn và các đô thành phía nam, tạo ra một triều đại mới, và vài năm sau lại bị một bộ lạc khác xâm lược và đánh bại. Dù tên tuổi các bộ lạc thay đổi sau mỗi thế kỷ, hệ thống này đã tồn tại hàng ngàn năm.Ở phía tây nhà Kim lần lượt là các vương quốc của người Đảng Hạng, người Duy Ngô Nhĩ, và cuối cùng là người Hắc Khiết Đan trên dãy núi Thiên Sơn. Người Duy Ngô Nhĩ đã cam kết về phe Thành Cát Tư Hãn, và ông đã đánh một cuộc chiến kiểu diễn tập để chế ngự người Đảng Hạng. Cuộc chinh phục người Đảng Hạng là một chuỗi các vụ cướp bóc từ năm 1207 tới năm 1209. Chiến dịch này được xem là một buổi diễn tập chi tiết cho trận chiến sắp tới với quân Nữ Chân hùng mạnh hơn, cùng với việc phải băng qua sa mạc Gobi. Người Đảng Hạng là tộc người Tây Tạng với một đế quốc của các nông dân và người chăn gia súc nằm dọc theo vùng thượng lưu sông Hoàng Hà, thuộc tỉnh Cam Túc của Trung Hoa ngày nay. Họ là một mắt xích nhỏ giữa một chuỗi các ốc đảo ở vùng nội sa mạc; các ốc đảo này điều khiển dòng chảy của hàng hóa từ các quốc gia Hồi giáo phía tây tới Trung Hoa ở phương Đông. Các con đường trải khắp nội sa mạc như những dải ruy-băng mảnh, và là liên kết duy nhất – dù yếu ớt – giữa các nền văn minh lớn ở phương Đông và phương Tây. Cuộc chinh phục người Đảng Hạng giúp Thành Cát Tư Hãn học được một kiểu chiến tranh mới chống lại các thành phố có tường bảo vệ, hào và pháo đài. Người Đảng Hạng không chỉ có lớp bảo vệ vững chắc, họ còn có khoảng mười lăm vạn lính, gần gấp đôi quân số của Thành Cát Tư Hãn. Khác với các tướng lĩnh lớn lên trong đô thành và được học hỏi các chiến thuật vây thành hình thành từ nhiều thế kỷ trước, Thành Cát Tư Hãn phải tự nghĩ ra phương pháp của riêng mình. Ông nhanh chóng học được các kỹ thuật đơn giản, như cắt nguồn lương thực của kẻ địch, song ông cũng sớm thử nghiệm các biện pháp khác thường hơn, như khi ông chuyển hướng một nhánh sông Hoàng Hà để làm ngập lụt kinh thành Đảng Hạng. Không có kinh nghiệm chế lắp, người Mông Cổ chuyển được hướng dòng chảy, song họ lại cuốn trôi chính trại của mình thay vì người Đảng Hạng. Dù vậy, quân Mông Cổ vẫn sống sót sau sai lầm nguy hiểm đó. Thành Cát Tư Hãn học hỏi từ đó và chiếm được kinh thành. Sau này, người Mông Cổ sẽ tái áp dụng phương pháp này, nhưng ngày càng thành thục và thành công hơn.
Khi Thành Cát Tư Hãn quyết định vượt sa mạc Gobi để tấn công người Nữ Chân vào năm 1211, ông không chỉ khai mở một cuộc chiến tranh biên giới khác ở Trung Hoa, mà còn châm một ngọn lửa sau này sẽ thiêu rụi cả thế giới. Không một ai, kể cả Thành Cát Tư Hãn, có thể lường trước được điều gì sẽ tới. Ông không thể hiện một tham vọng toàn cầu nào, bởi ông chỉ đánh từng cuộc chiến một, và với ông giờ đây là lúc để đánh người Nữ Chân. Nhưng từ cuộc chiến với người Nữ Chân, quân đội Mông Cổ tinh nhuệ và được tổ chức chặt chẽ sẽ phi ngựa ra khỏi quê hương cao nguyên của mình, và càn quét mọi thứ từ sông Ấn tới sông Danube, từ Thái Bình Dương tới Địa Trung Hải. Trong chớp mắt, chỉ trong vòng ba mươi năm, các chiến binh Mông Cổ đánh bại mọi quân đội, chiếm lĩnh mọi pháo đài, và phá bỏ mọi bức tường của các đô thành họ tới. Người Ki-tô giáo, Hồi giáo, Phật giáo, và Ấn Độ giáo đều sớm phải quỳ trước mũi giày bụi bặm của các kỵ sĩ Mông Cổ trẻ không biết chữ.
*
Để vượt sa mạc Gobi cần có sự chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng. Trước khi lên đường, các toán lính đi tiền trạm xem xét nguồn nước và báo cáo tình trạng cỏ và thời tiết. Một nhà quan sát người Trung Hoa ghi lại việc quân tiền trạm kiểm tra từng ngọn đồi và điểm đến trước khi đội quân chính đi tới nơi. Họ muốn biết tất cả mọi người trong vùng, mọi tài nguyên, và họ luôn tìm một đường lui quân phòng khi cần thiết.Quân Mông Cổ rất phù hợp để đi đường xa; mỗi người chỉ mang theo đúng những gì họ cần, không hơn không kém. Bên cạnh deel, loại áo choàng lông dài tới mắt cá, họ mặc quần dài, mũ lông với miếng che tai, và giày đi ngựa với đế dày. Cùng với quần áo được thiết kế để bảo vệ họ trong trường hợp thời tiết xấu nhất, mỗi người lính mang theo đá lửa để dốt lửa, bao da thuộc để chứa nước và sữa, giũa để mài đầu mũi tên, thòng lọng để trói thú vật hay tù binh, kim chỉ để sửa quần áo, dao và rìu nhỏ để cắt, và một túi da để đựng mọi thứ. Mỗi nhóm mười lính mang theo một cán lều nhỏ.
Cách quân Mông Cổ di chuyển và dàn đội hình phụ thuộc vào hai yếu tố khiến họ khác biệt với các quân đội của các nền văn minh truyền thống khác. Trước hết, quân đội Mông Cổ chỉ bao gồm lính cưỡi ngựa có vũ trang mà không có bộ binh. Ngược lại, bộ binh chiếm phần lớn của hầu hết các quân đội khác. Khoảng sáu mươi lăm ngàn kỵ sĩ Mông Cổ trong chiến dịch đánh người Nữ Chân phải đối mặt với một số lượng kỵ sĩ tương tự, cộng với tám mươi lăm ngàn lính bộ binh nữa, khiến quân Nữ Chân có lợi thế hơn cả hai đánh một, song lại không có tính cơ động như quân Mông Cổ.
Tính chất độc đáo thứ hai của quân đội Mông Cổ là việc họ đi mà không có kho lương hay thuyền lương cồng kềnh, ngoại trừ đàn ngựa đông đúc luôn đi theo quân lính. Họ vừa đi vừa vắt sữa súc vật, giết chúng làm thịt, săn bắn và cướp bóc để lấy thức ăn. Marco Polo cho rằng các chiến binh Mông Cổ có thể đi mười ngày đường mà không dừng chân nhóm lửa hay làm nóng đồ ăn; họ uống máu ngựa, và mỗi người mang theo minh mười pound bột sữa khô, mỗi ngày đổ một pound vào bình da chứa nước để ăn. Họ mang theo nhiều miếng thịt khô và sữa đông khô bên mình để có thể nhai khi đi ngựa; và khi có thịt tươi nhưng không có thời gian chế biến, họ để miếng thịt dưới yên ngựa để thịt nhanh mềm và ăn được.
Người Trung Hoa tỏ vẻ ngạc nhiên và ghê tởm khả năng tồn tại với rất ít thức ăn và nước uống trong thời gian dài của người Mông Cổ; theo họ, cả đoàn quân có thể cắm trại mà không có chút khói nào vì họ không cần nhóm lửa để nấu ăn. So với lính Nữ Chân, lính Mông Cổ khỏe mạnh hơn nhiều. Quân Mông Cổ đều đặn ăn thịt, sữa, sữa chua và các chế phẩm từ sữa khác, và họ đánh nhau với những người ăn cháo làm từ nhiều loại hạt khác nhau. Chế độ ăn ngũ cốc của lính nông dân khiến họ bị còi xương, mòn răng, sức khỏe yếu và dễ mắc bệnh. Ngược lại, người lính Mông Cổ nghèo nhất ăn chủ yếu là protein, giúp họ có xương và răng chắc khỏe. Không như lính nhà Kim phụ thuộc vào chế độ ăn giàu tinh bột, quân Mông Cổ có thể đi một tới hai ngày đường mà không có thức ăn.
Các quân đội kiểu cũ đi thành từng hàng dọc dài, hành quân trên cùng một con đường với lượng quân lương lớn đi phía sau. Ngược lại, quân Mông Cổ trải rộng trên một khu vực lớn để cung cấp đủ cỏ cho súc vật và tối đa hóa cơ hội săn bắn của quân lính. Thành Cát Tư Hãn đi ở giữa, được hỗ trợ bởi Hữu quân ở phía tây và Tả quân ở phía đông. Một nhóm nhỏ hơn nhận vị trí bảo vệ phía trước và một nhóm khác ở phía sau, nơi quân Mông Cổ cũng trữ cả súc vật. Hình thức tổ chức thập phân của quân đội Thành Cát Tư Hãn giúp cả quân đội dễ thay đổi và di động. Mỗi đơn vị một vạn người hoạt động như mô hình thu nhỏ của trại của Thành Cát Tư Hãn. Thủ lĩnh của nhóm một vạn di chuyển ở trung tâm đơn vị một ngàn của ông ta, và đặt chín đơn vị khác bao quanh – trái, phải, trước, sau – khi cần. Thay vì một hệ thống cấp bậc các đơn vị quân sự, Thành Cát Tư Hãn xếp người của mình thành các vòng tròn đồng tâm.
Dù quân Mông Cổ thường xuyên di chuyển trại, các trại trung tâm của mỗi đơn vị được đặt theo đúng một quy luật chuẩn xác, sao cho lính mới tới biết được phải báo cáo ở đâu và làm sao để tìm được cái họ cần. Mỗi đơn vị một ngàn người đi cùng đội thầy thuốc riêng, thường là các thầy thuốc Trung Hoa, để chăm sóc cho những ai ốm và bị thương. Các lều được dàn thành đội hình cụ thể với tên và mục đích riêng, và ngay cả bên trong mỗi lều cũng được sắp xếp theo cùng một cách. Sau một ngày đi đường, đánh trận hay săn bắn, đội quân cắm trại ở trung tâm trại với lính gác và các quân lính khác bao quanh. Khi đêm xuống, ngựa được giữ trong tình trạng sẵn sàng đề phòng khi cần thiết, và vòng ngoài doanh trại được thiết lập ở rìa trại.
Trái với phần trung tâm trại có cấu trúc rõ ràng và tổ chức cẩn thận vào buổi đêm các chiến binh khác tách thành các nhóm nhỏ và cắm trại rải rác ở vùng quê. Khi mặt trời lặn, họ đốt một đám lửa nhỏ, nhất là khi trời vẫn còn đủ sáng để lửa không bị nhìn thấy từ xa, song cũng không đủ tối để nhìn thấy khói. Sau khi ăn xong, họ không ngồi lại hay ngủ bên đống lửa; họ chia thành các nhóm nhỏ hơn nữa, từ ba tới năm người, để ngủ ở các khe hở ẩn quanh vùng. Ngay khi trời tảng sáng vào ngày hôm sau, họ bắt đầu ngày mới bằng việc tuần tra kỹ càng trước, sau, trái, phải.
Khi quân lính rải rác trên một vùng diện tích lớn như vậy, việc liên lạc trở nên quan trọng hơn, nhưng cũng khó khăn hơn. Các đội quân thông thường di chuyển và lập trại thành các hàng dọc dài, và các thủ lĩnh có thể dễ dàng giao tiếp với nhau qua thông điệp viết tay. Quân Mông Cổ cách nhau xa hơn, và ngay cả các chỉ huy còn không biết chữ. Mọi cấp bậc đều phải giao tiếp qua lời nói, không phải chữ viết. Lệnh được truyền miệng từ lính này sang lính khác. Hệ thống giao tiếp truyền miệng làm ảnh hưởng tới tính chuẩn xác của tin tức; thông điệp phải được nhắc lại chính xác từng từ cho từng người và sau đó được ghi nhớ và truyền lại y như vậy. Để đảm bảo việc ghi nhớ chính xác, các chỉ huy dùng một hệ thống chuẩn hóa mà mọi quân lính đều phải biết để soạn lệnh theo vần. Các quân lính Mông Cổ sử dụng một bộ các giai diệu và phong cách thơ cố định để sáng tác từ ngữ dựa theo nghĩa của thông điệp. Với quân lính, nghe lời nhắn giống như học thêm một lời mới của một bài hát họ đã biết.
Quân lính, như các đoàn kỵ sĩ thảo nguyên ngày nay, thường xuyên hát khi cưỡi ngựa trên dường cùng nhóm nhỏ của mình. Họ hát không chỉ về những thứ quân lính vẫn thường hát – quê hương, phụ nữ, và chiến đấu – lính Mông Cổ còn hát về luật lệ và cách cư xử, những điều cũng đã được phổ nhạc để ai cũng biết. Bằng cách học thuộc luật và liên tục luyện tập khuôn mẫu của bài hát-thông điệp, bất kỳ lúc nào họ cũng sẵn sàng học một thông điệp mới như lời mới của những bài hát nằm lòng này, và truyền nó tới nơi theo lệnh.
*
Tuy có những bất lợi khi phải đánh nhau trên một miền đất xa lạ và bị áp đảo về quân số, Thành Cát Tư Hãn có lợi thế kinh nghiệm từ cả cuộc đời chinh chiến, và ông biết rõ quân lính của mình. Nhiều người trong số họ đã đồng hành với ông suốt hơn một phần tư thế kỷ, và vài vị tướng như Boorchu và Jelme đã ở bên cạnh ông gần bốn mươi năm. Ông biết rằng ông có thể tin tưởng giao cho họ các chiến dịch dài, xa khỏi tầm kiểm soát của mình. Ông cũng hiểu rõ điểm mạnh về điểm yếu của từng vị tướng. Jebe, một trong những chỉ huy của ông, đánh nhanh và mãnh liệt, chớp lấy những thời cơ bất thường và truyền lòng dũng cảm và quyết tâm cho người của mình trong chiến trận; trong khi Muhali, một vị tướng khác, di chuyển chậm rãi và có trình tự hơn, nhưng có thể chịu được các nhiệm vụ dài và rộng hơn.Dù quân Mông Cổ được huấn luyện nhiều thế nào, kỷ luật thép hay quyết tâm tới đâu cũng không thể đánh bại các thành trì bằng chiến thuật thông thường. Khi đối diện với quân Nữ Chân, Thành Cát Tư Hãn áp dụng các chiến thuật cơ bản trong các cuộc chiến trên thảo nguyên của ông trước đây, thắng trận trước cả khi mũi tên đầu tiên được bắn sang bên kia chiến trường, bằng cách trước hết khiến kẻ địch hoang mang và rồi làm chúng sợ hãi mà mất tinh thần, để rồi bại trận. Vì ban đầu, quân Mông Cổ không có vũ khí hay hiểu biết để phá các bức tường thành lớn, họ tàn phá vùng nông thôn xung quanh và rồi biến mất, rồi xuất hiện trở lại khi thành phố tưởng chừng đã an toàn.
Thành Cát Tư Hãn tìm cách làm quân địch yếu thế hơn nữa bằng cách lợi dụng các rối loạn hay chia rẽ nội bộ trong xã hội mà ông nhận thấy. Trong chiến dịch đánh người Nữ Chân, nỗ lực đầu tiên của ông là tách người Khiết Đan khỏi các thủ lĩnh Nữ Chân, đồng thời làm người Trung Hoa mất niềm tin rằng người Nữ Chân có thể bảo vệ họ. Trong một chiến dịch tuyên truyền xuất chúng, quân Mông Cổ đặt chân vào lãnh thổ của người Nữ chân và tuyên bố rằng họ là quân giải phóng với mục tiêu trao trả ngai vàng cho hoàng gia Khiết Đan trước đây, những người bị người Nữ Chân lật đổ hơn một thế kỷ trước. Trước khi giao tranh nổ ra, nhiều người Khiết Đan bỏ sang phe Mông Cổ, những người họ xem là họ hàng chung ngôn ngữ. Một trong những bước đi đầu tiên của cuộc chiến là việc Jebe cùng với em trai Cáp Tát Nhi của Thành Cát Tư Hãn dẫn một toán quân Mông Cổ tiến thẳng vào vùng đất tổ của người Khiết Đan dọc theo sông Liêu. Quân Mông Cổ được người Khiết Đan nhiệt tình ủng hộ, và họ nhanh chóng tìm thấy một hậu duệ của triều Liêu, triều đại cũ của người Khiết Đan. Vào năm tiếp theo, năm 1212, Thành Cát Tư Hãn chính thức phục hồi triều đình Khiết Đan làm một nước chư hầu của Đế chế Mông Cổ. Tất nhiên, người Mông Cổ chưa chinh phục được mọi miền đất của người Nữ Chân, nhưng khi thành lập nước chư hầu này, ông đã chia rẽ người Nữ Chân nhiều hơn nữa và thu hút nhiều người sang phe Mông Cổ.
Xuyên suốt chiến dịch, ông tìm thấy những quý tộc Khiết Đan cũ sốt sắng giúp ông hiểu vùng đất đã xâm lược. Một trong những người chủ chốt là Gia Luật Sở Tài, một thanh niên ngoài hai mươi tuổi từ hoàng tộc Khiết Đan. Cậu được quân Mông Cổ chú ý vì có hiểu biết về chiêm tinh học và thuật tiên tri bằng bả vai bí truyền – có thể đoán định tương lai bằng việc đọc các khe nứt trong xương bả vai cừu hoặc dê nung nóng. Vì là người Khiết Đan và nói tiếng Khiết Đan, cậu có thể giao tiếp dễ dàng với người Mông Cổ, song cậu cũng có hiểu biết sâu rộng về văn hóa Trung Hoa. Với vốn kiến thức về ngôn ngữ của người Mông Cổ và Trung Hoa, cũng như kỹ năng viết chữ và hiểu biết về luật và truyền thống của dân định cư, các học giả Khiết Đan hữu dụng trong việc điều hành Đế chế Mông Cổ tới mức Thành Cát Tư Hãn chú ý hơn tới việc thu hút hay bắt các học giả về mọi chuyên ngành để ứng dụng kiến thức của họ vào việc có ích cho đất nước. Sau này, khi đi tới đâu, ông cũng đều sai người mang những người đó tới để ông tra hỏi xem họ có thể có kỹ năng gì và chúng có thể được áp dụng ở đâu trong vương quốc của ông.
Cách quân Mông Cổ đánh trận là phương pháp truyền thống trên thảo nguyên được cải tiến ở Mông Cổ qua hàng ngàn năm và nay được hoàn thiện hơn. Sau cùng, các vũ khí tốt hơn không làm nên chiến thẳng của quân Mông Cổ. Kỹ thuật làm vũ khí thường nhanh chóng lộ ra ngoài, và vũ khí hiệu quả cho phe này chỉ sau vài trận chiến cũng có thể được phe đối địch sử dụng. Thành công của quân Mông Cổ bắt nguồn từ sự thống nhất và tính kỷ luật của họ, ăn vào xương máu qua hàng ngàn năm làm người du mục hoạt động thành nhóm nhỏ, và từ lòng trung thành của họ với thủ lĩnh của mình.
Quân lính ở khắp mọi nơi đều được dạy phải chết vì thủ lĩnh, song Thành Cát Tư Hãn chưa bao giờ yêu cầu người của ông phải hi sinh vì mình. Trên hết, ông ra trận với một mục đích chiến lược duy nhất: để bảo toàn tính mạng của người Mông Cổ. Không như các vị tướng và hoàng đế khác trong lịch sử, những người dễ dàng ra lệnh cho hàng trăm ngàn quân lính phải bỏ mạng, Thành Cát Tư Hãn không bao giờ đành lòng hi sinh một ai. Những luật lệ quan trọng nhất ông đặt ra cho quân đội đều là về việc quân lính thiệt mạng. Dù là trong hay ngoài chiến trường, quân Mông Cổ đều bị cấm nói về chết chóc, thương tật, hay thất bại. Chỉ cần nghĩ tới chúng thôi thì chúng đã có thể xảy ra rồi. Ngay cả việc nhắc tới tên một người đồng đội đã ngã xuống hay một người lính đã qua đời cũng bị coi là cấm kỵ. Tất cả quân lính Mông Cổ đều phải sống như thể họ bất tử, không ai có thể làm họ bị thương hay đánh bại họ, và không gì có thể giết chết họ. Trong giờ phút cuối cùng của sự sống, khi mọi thứ đều thất bại và tất cả hi vọng đều đã lụi tàn, người lính Mông Cổ phải nhìn lên trời, và kêu gọi số mệnh của mình bằng cách gọi tên của Thanh thiên Vĩnh hằng làm lời trâng trối cuối cùng. Khi đánh nhau trên thảo nguyên, dân du mục để xác của những người ngã xuống và đồ dùng của họ lại trên chiến trường cho thú vật, và để tiêu hủy một cách tự nhiên.
Ở vùng đất đai được cày cấy xa quê hương, người Mông Cổ sợ rằng xác chết sẽ không được phân hủy tự nhiên, và có thể bị dân địa phương mạo phạm. Vậy là một thay đổi mới so với truyền thống thảo nguyên lại được tạo ra trong chiến dịch chống lại người Nữ Chân: quân Mông Cổ bắt đầu gửi xác những người lính đã chết về quê nhà trên thảo nguyên để mai táng. Các tù nhân chiến tranh tìm cách chở xác chết về, có lẽ là khâu chúng vào túi da đặt trên lưng lạc đà hay xe do bò kéo. Thỉnh thoảng, khi không thể làm như vậy, quân Mông Cổ đưa xác tới một đổng cỏ gần đó và bí mật chôn cất họ cùng với đầy đủ đồ dùng. Sau đó họ cưỡi súc vật qua mộ để che giấu chúng và ngăn người dân tìm thấy và quật mồ để lấy đồ dùng.
Người Mông Cổ không cầu danh dự trong chiến đấu; họ tìm thấy danh dự trong chiến thắng. Họ chỉ có một mục tiêu duy nhất trong mọi chiến dịch – thắng lợi hoàn toàn. Vì mục tiêu này, việc họ dùng thủ thuật gì để chống lại quân địch hay cách họ đánh trận hay tránh phải đánh trận như thế nào đều không quan trọng. Chiến thắng bằng mưu mẹo thông minh hay thủ đoạn tàn độc vẫn là chiến thắng, và không làm vấy bẩn lòng dũng cảm của các chiến binh, bởi cơ hội thể hiện tài năng trên chiến trường vẫn còn rất nhiều. Với các chiến binh Mông Cổ, danh dự cá nhân trên chiến trường chẳng là gì nếu họ bại trận. Như lời được cho là của Thành Cát Tư Hãn, việc nếu không xong thì chẳng có ích lợi gì.
Tài năng của quân Mông Cổ thể hiện rõ ràng nhất ở khả năng biến lợi thế lớn nhất của quân Nữ Chân – dân số đông đúc – thành trở ngại lớn nhất. Trước khi tấn công một thành phố, quân Mông Cổ thường quét sạch các làng mạc xung quanh. Họ bắt dân địa phương nhập ngũ, trở thành một phần mở rộng của hệ thống tổ chức quân sự thập phân của họ. Mỗi chiến binh Mông Cổ phải tìm mười người đàn ông địa phương để làm việc cho họ; nếu có người chết, họ phải tìm người thay thế để luôn có mười người dưới quyền mình. Những tù bình này là phần mở rộng của quân đội, hằng ngày phải lấy thức ăn và nước uống cho súc vật và quân lính, cũng như tìm các nguyên vật liệu cần thiết, như đá và bùn đất để lấp hào cho cuộc vây thành sắp tới. Những người này cũng di chuyển và vận hành các cỗ máy vây thành để chúng dùng đạn gỗ hoặc đá phá tường, và đẩy các tháp di động để xuyên thủng tường thành.
Người Mông Cổ không thể hiểu được lối sống của người làm nông nghiệp. Lãnh thổ của người Nữ Chân rất đông người, song lại có rất ít gia súc; điều này đối lập hoàn toàn với Mông Cổ, nơi cứ một người thì có năm tới mười con vật. Với người Mông Cổ, đồng ruộng hay vườn tược của nông dân chỉ như thảo nguyên, và nông dân chỉ như súc vật gặm cỏ, chứ không phải người ăn thịt. Người Mông Cổ dùng từ ngữ họ dùng cho bò và dê để gọi những người ăn cỏ này. Đám đông người nông dân chỉ là một số lượng lớn đàn gia súc, và khi quân lính tới để bố ráp hay đưa người dân đi, họ làm vậy với cùng từ ngữ, độ chính xác, và cảm xúc như thể họ đang vây bò rừng.
Các đội quân truyền thống của thời kỳ này coi các ngôi làng là kho tàng để cướp bóc, và dân chúng là gánh nặng mà họ có thể cưỡng bức, tàn sát, hay loại bỏ theo bất kỳ cách nào thuận tiện. Ngược lại, người Mông Cổ – vốn luôn bị áp đảo về quân số ở mọi nơi họ xâm lược – sử dụng sức người đông đảo một cách có chiến lược. Chiến lược bao vây gia súc của kẻ thù và để chúng chạy về phía chiến tuyến hay nơi ở của chủ, vốn đã tồn tại từ lâu trên thảo nguyên, được các chiến binh Mông Cổ thay đổi và áp dụng nhằm khiến đám lính chuẩn bị xông trận hoang mang. Trong trận đánh quân Nữ Chân, quân Mông Cổ dùng chiến thuật này với gia súc của nông dân. Họ chia thành nhiều nhóm nhỏ tấn công các ngôi làng không phòng vệ, đốt nhà và đuổi dân chúng ra ngoài. Những người nông dân hoảng loạn bỏ chạy tán loạn. Họ làm nghẽn đường cái, khiến xe lương của quân Nữ Chân không thể di chuyển được. Trong chiến dịch với quân Nữ Chân, hơn một triệu người tha hương rời vùng nông thôn trong tuyệt vọng và đổ về thành phố, tiêu thụ một lượng lớn lương thực dự trữ, và gây rối loạn khắp mọi nơi.
Thông thường, nhóm người tha hương đi theo sau quân tấn công, song lần này người Mông Cổ lại đi sau họ, và một cách trực tiếp hơn cũng dùng những người này để làm khiên và mũi dùi sống nhằm phá tường thành. Việc dân chúng của kẻ thù bỏ mạng không làm quân Mông Cổ bận tâm, chừng nào tính mạng của người Mông Cổ được bảo toàn. Khi những người bị bắt chết trong lúc giao chiến, xác họ lấp đầy hào, và tạo lối đi qua các lỗ và cấu trúc phòng thủ của quân địch. Mắc kẹt trong thành phố, quân Nữ Chân cũng như dân chúng dần chết đói; và dần dần, từ thành phố này tới thành phố khác, họ bắt đầu ăn thịt lẫn nhau. Sự bất bình ngày càng lan rộng, và các cuộc nổi dậy và khởi nghĩa nông dân nổ ra chống lại triều đình Nữ Chân, bởi họ không thể bảo vệ, cung cấp lương thực, hay cai quản số lượng người tha hương khổng lồ. Trong cuộc nổi dậy đẫm máu nhất, quân đội Nữ Chân đã giết khoảng ba vạn nông dân của chính mình.
Trái ngược với các đội quân lớn di chuyển chậm rãi và đánh trận dọc theo một chiến tuyến hay trên một chiến trường cụ thể, quân Mông Cổ giao tranh khắp cả vùng lãnh thổ. Việc này gây nên cảnh rối loạn và hỗn độn, giúp quân Mông Cổ có thể bày đủ loại mưu mẹo. Một lần, quân Mông Cổ bắt được một đoàn hộ tống một vị tướng cấp cao trên đường tới cứu trợ thành Dading đang bị bao vây. Một người lính Mông Cổ mặc trang phục của sứ giả, lấy giấy tờ của hắn, và cải trang tới thành phố của kẻ địch. Khi người này tới nơi, như đã sắp đặt trước, quân Mông Cổ ngừng vây hãm và rời thành. Sau khi vào thành, kẻ giả trang này nói dối quan lại địa phương rằng quân Mông Cổ đã bị họ đánh bại, và sau đó giám sát việc cả thành dỡ bỏ lớp phòng thủ và quân lính rút lui. Sau vài tuần giải trừ quân bị, quân Mông Cổ nhận được tin báo và trở lại như vũ bão, dễ dàng hạ gục cả thành.
Quân Mông Cổ không chỉ tận dụng các thủ thuật này, mà còn liên tục tung tin làm quân địch lo lắng và sợ hãi. Một câu chuyện đáng ngờ được quân Mông Cổ lan truyền để làm lung lay kẻ thù như sau: có tin rằng họ hứa sẽ rút quân vây thành nếu lính giữ thành Nữ Chân cống nạp một số lượng lớn mèo và chim. Theo câu chuyện này, những người dân chết đói vội vã thu thập những con vật này và tặng cho quân Mông Cổ. Sau khi nhận được, quân Mông Cổ gắn đuốc và dải băng cháy vào đuôi chúng và thả cho chúng chạy. Những con thú sợ hãi lao về phía thành và đốt trụi cả thành phố. Câu chuyện có ý nghĩa tuyên truyền rất hiệu quả.
Sau khi do thám, tổ chức và loan tin, khi tới giờ lâm trận, quân Mông Cổ cố gắng khiến kẻ địch hoang mang tột độ. Một trong những lối tấn công phổ biến nhất, tương tự như chiến thuật Đội hình Bụi cây, có tên là Bầy quạ hay Sao băng. Khi có tiếng trống hiệu (hay lửa hiệu vào ban đêm), quân lính lập tức cùng phi ngựa tới từ mọi hướng. Theo lời một người quan sát người Hoa khi đó, “chúng lao tới như thể bầu trời đang đổ sập, rồi biến mất như tia chớp.” Kẻ địch bị cuộc tấn công và rút quân đột ngột làm chấn động và mất nhuệ khí – từ âm thanh vang dội tới thinh lặng bao trùm. Trước khi kẻ địch có thể phản công, quân Mông Cổ đã biến mất, bỏ lại kẻ địch sự hãi và rỉ máu.
Từ các cuộc chiến với người Đảng Hạng, Thành Cát Tư Hãn đã học được rằng các công trình sư người Trung Hoa có thể xây các máy lăng đá để vây và phá tường thành từ xa. Người Trung Hoa đã phát triển một số máy móc kiểu này: máy lăng đá, chất lỏng cháy, và các vật chất nguy hiểm khác vào hoặc qua tường thành; một loại máy ném đá khác được một vật nặng khác làm đối trọng có thể ném còn nhanh hơn máy ném xoắn. Máy ném tên có thể bắn các mũi tên lớn để phá thành và giết chết bất kỳ người hay thú vật nào cản đường. Dù những dụng cụ này đã có từ lâu trong lịch sử công thành chiến, với người Mông Cổ chúng rất mới mẻ, song nhanh chóng trở thành một phần cốt yếu trong kho vũ khí của Thành Cát Tư Hãn, bởi ông thấy được hiệu suất và thiết kế tài tình của chúng. Không chỉ sử dụng các vũ khí này, Thành Cát Tư Hãn còn lấy được thông tin cần thiết để chế tạo chúng. Quân Mông Cổ trọng thưởng những công binh đào ngũ, và sau mỗi trận chiến đều cẩn thận chọn lựa các công binh từ trong số những kẻ bị bắt và đưa họ vào hàng ngũ quân Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn biến các đơn vị công binh thành một phần cố định của quân Mông Cổ, và sau mỗi trận đánh, mỗi cuộc chinh phục, các vũ khí giao tranh của ông lại càng phức tạp và hiệu quả hơn.
Quân Mông Cổ rất hứng thú với các cỗ máy vây thành bởi chúng cho phép tấn công thành phố từ khoảng cách xa, và tránh được các nguy hiểm của giao tranh cận chiến mà họ rất không ưa. Một lần, khi đánh quân Mông Cổ, quân Nữ Chân sử dụng hỏa thương, ống tre rỗng chứa thuốc súng, khi đốt sẽ phun ra tia lửa và khói ở cuối ống như súng phun lửa. Được cải tiến từ pháo hoa, loại vũ khí này được dùng để châm lửa và đánh lạc hướng kẻ thù và ngựa; sau này, quân Mông Cổ tiếp tục cải thiện chúng vào các mục đích quân sự khác.
Khi không thể chiếm được thành, Thành Cát Tư Hãn cố gắng dụ kẻ địch ra ngoài bằng các chiến thuật như vờ rút binh, điều Jebe dã làm trong cuộc vây thành Liêu Dương trong chiến dịch tấn công Nữ Chân. Sử dụng chiến thuật Khuyển Chiến, ông vờ rút quân, ra lệnh cho quân lính bỏ lại nhiều dụng cụ và kho chứa, như thể họ phải nhanh chóng bỏ chạy trong hoảng loạn. Quan trong thành đưa quân ra ngoài để thu thập chiến tích, và xe và ngựa thồ hàng nhanh chóng làm nghẽn cổng thành. Bởi quân lính thì ở ngoài khoảng đất trống, và cửa thành thì rộng mở, quân Mông Cổ xông tới, lao qua cổng thành và thu phục thành phố.
Cả đời làm dân du mục, quân Mông Cổ từ lâu đã học cách chiến đấu khi di chuyển. Với những người vừa là lính vừa là nông dân, bỏ chạy nghĩa là thua trận; đuổi theo là chiến thắng. Những người lính ít di chuyển này tìm cách đẩy kẻ thù ra xa khỏi nơi ở. Lính du mục lại tìm cách giết kẻ địch, bất kể là khi họ đang tấn công hay chạy trốn. Với người Mông Cổ, cả hai hướng đều là đánh trận; một trận đánh bỏ chạy cũng tương tự như khi giao chiến tại chỗ. Một khi quân Mông Cổ đã nhử được kẻ địch ra khỏi thành, họ áp dụng những chiến thuật học được để quản lý một đàn gia súc lớn. Thông thường, hoặc là họ dàn kẻ địch thành một hàng dài để chúng không thể phòng thủ và dễ bị tấn công một khi đã sập bẫy, hoặc những người lính Mông Cổ đang tháo chạy chia thành các nhóm nhỏ và dụ kẻ thù phân tán để dễ đánh bại hơn.
Ngay cả khi phải đi theo quân địch hay bị sân đuổi, quân Mông Cổ vẫn có các chiến thuật để tự cứu nguy. Nếu bị đột kích và hạ gục khi đang đi tuần, họ thường mang theo một số vật dụng có giá trị theo người để rải trên đường chạy trốn. Kẻ địch luôn rời đội hình và tranh chấp với nhau để thu thập chúng, tạo cơ hội cho lính Mông Cổ trốn thoát. Có lúc quân Mông Cổ lại ném cát theo gió hay buộc cành cây vào đuôi ngựa để làm tung cát nhằm xóa dấu vết, hay để kẻ địch nghĩ rằng quân Mông Cổ đông hơn thực tế.
Sau năm đầu tiên của chiến dịch đánh người Nữ Chân, người Mông Cổ nhận ra rằng hiểm nguy lớn nhất với họ không phải là chiến trận mà là khí hậu không phù hợp. Địa hình thấp, gần các sông lớn và đại dương khiến không khí ẩm, và vào mùa hạ, quân Mông Cổ và đàn ngựa gần như không thể chịu nổi cái nóng và độ ẩm ở đây. Họ liên tục báo mắc hàng loạt các bệnh dịch nghiêm trọng khi ở vùng nông nghiệp và thành thị. Việc ra trận gần như chững lại khi mùa hạ tới, bởi phần lớn quân Mông Cổ và ngựa rút lui về vùng thảo nguyên Nội Mông cao và mát hơn gần đó.
Sau cùng, vào năm 1214, Thành Cát Tư Hãn đã hạ gục được triều đình của Hoàng Hãn ở Trung Đô (thuộc Bắc Kinh ngày nay). Trong hoàng cung vừa diễn ra một cuộc nổi dậy, và vị Hoàng Hãn mới lên ngôi đã phải trải qua nhiều xung đột trong nội bộ triều đình tới nỗi ông chấp nhận đàm phán với người Mông Cổ để họ rút quân, thay vì đối mặt với một cuộc chiến lâu dài. Ông cống nạp rất nhiều lụa và vàng bạc, cũng như ba ngàn ngựa cùng năm trăm người trẻ, cả nam lẫn nữ. Để chốt thỏa ước, Hoàng Hãn chấp thuận là chư hầu của Thành Cát Tư Hãn và dâng một công chúa làm phi.
Đáp lại, Thành Cát Tư Hãn ngừng vây thành Trung Đô và bắt đầu cuộc hành quân về Ngoại Mông xa xôi ở phía bắc sa mạc Gobi. Người Khiết Đan đã nhận lại phần lớn lãnh thổ, và hoàng tộc của họ đã được phục hồi; người Nữ Chân được giữ một vương quốc nhỏ. Ông không muốn cai quản những vùng đất này, hay đặt chính quyền của người Mông Cổ ở đây, chừng nào ông vẫn nhận được những cống vật mình muốn. Giống như người Duy Ngô Nhĩ và Tangut được làm chủ vùng đất của mình, ông hài lòng với việc người Nữ Chân và Khiết Đan tùy ý cai trị vương quốc của họ, chỉ cần họ vẫn thần phục Mông Cổ và thực hiện cống nạp.
Bởi cả người Khiết Đan và Nữ Chân đều đã công nhận Thành Cát Tư Hãn là hoàng đế tối cao của họ, ông không có lý do gì để ở lại vùng đất của họ. Mùa hè mới bắt đầu, nhưng khí hậu nóng và khô đã nhanh chóng gây khó khăn cho quân đội của ông vượt sa mạc Gobi để về nhà. Thay vào đó, họ cắm trại ở phía nam sa mạc, ở một nơi tên là Dolon Nor (Bảy Hồ). Trong lúc chờ đợi mùa thu mát mẻ, quân lính có thể chơi trò chơi, mở tiệc, và tận hưởng các nhạc công và ca sĩ mà họ đã bắt theo.
Song, ngay khi quân Mông Cổ rút quân khỏi vùng lãnh thổ mới chiếm được, triều đình Nữ Chân bắt đầu phản ước. Hoàng Hãn không tin tưởng dân chúng của mình, bởi ông cho rằng họ bí mật ủng hộ quân xâm lược Mông Cổ. Ông rời kinh thành Trung Đô và cả triều đình bỏ chạy tới Khai Phong*, tin rằng quân Mông Cổ sẽ không thể tấn công tới đó. Thành Cát Tư Hãn cho rằng việc Hoàng Hãn bỏ trốn đã phản bội mối liên minh non trẻ giữa hai tộc, và là hành vi chống đối. Dù đã rời quê hương giữa sông Onon và Kherlen hơn ba năm, Thành Cát Tư Hãn lại chuẩn bị tham chiến một lần nữa. Ông tổ chức quân đội cho năm chinh chiến thứ tư, hành quân xuống vùng Nội Mông, và quay về kinh thành mà ông và quân đội đã công phá mới vài tháng trước.
Hoàng Hãn để lại một toán lính gác thành, nhưng quân lính và người dân đều biết họ đã bị bỏ rơi. Nhờ thắng lợi của Thành Cát Tư Hãn trong chiến dịch năm trước, có nhiều người trong hàng ngũ của quân địch đã ủng hộ ông, nhất là những người bị Hoàng Hãn bỏ rơi. Theo truyền thống Trung Hoa, vinh quang trong chiến trận chỉ đến với những người được Trời ban phước – và với danh sách ngày càng dài những chiến thắng của mình, cả nông dân Trung Hoa và quân lính Nữ Chân đều tin rằng Thành Cát Tư Hãn ra trận theo Thiên Mệnh, và chống lại ông cũng có nghĩa là chống lại Trời. Nhiều binh lính Nữ Chân và ở các bộ lạc khác dưới quyền Thành Cát Tư Hãn cũng nhận thấy ông là một chiến binh-thảo nguyên thực thụ, giống như tổ tiên của họ trước khi chinh phục và sinh sống ở thành thị. Họ có nhiều điểm chung với ông và binh lính của ông hơn là với những vị vua bất lực sa đoạ đã bỏ mặc họ cho số phận khi quần xầm lược tới. Toàn bộ binh lính, bao gồm cả tướng lĩnh và vũ khí, bỏ sang hàng ngũ quân Mông Cổ.
Thành Cát Tư Hãn cùng các đồng minh mới dễ dàng chiếm được thành. Song lần này, ông không cho quân Nữ Chân cơ hội để dâng cống phẩm; cả kinh thành sẽ bị trừng phạt và cướp bóc. Quân Mông Cổ sẽ lẩy mọi thứ. Khi đã chắc chắn là kinh thành sẽ thất thủ, Thành Cát Tư Hãn để cấp dưới hoàn thành nốt cuộc tấn công cuối cùng. Khó chịu với cái nóng mùa hè ngày càng gay gắt và cuộc sống định cư bẩn thỉu, Thành Cát Tư Hãn rời Trung Đô về vùng Nội Mông cao, khô và rộng mở hơn. Ông giao việc cướp bóc kinh thành cho Khada, một vị tướng Khiết Đan, cùng quân lính của Ông ta vì họ quen với việc quản lý thành phố hơn và biết cách tước đoạt của cải nhanh nhất. Thành Cát Tư Hãn trông đợi việc cướp bóc sẽ diễn ra theo phương pháp hiệu quả mà quân Mông Cổ thường làm và cách mà ông luôn yêu cầu từ sau chiến thắng trước người Tatar. Theo cách của người Mông Cổ, quân lính coi chiến lợi phẩm như thú vật săn được trong một cuộc đi săn chung, và chia chúng cho mọi người dựa theo thứ bậc. Cả một cái khuy đồng hay hạt bạc cuối cùng, mọi thứ đều được phân phát theo một công thức cụ thể, từ 10% cho vị hãn tới phần dành riêng cho trẻ mồ côi và goá phụ.
Tuy nhiên, các đồng minh mới của quân Mông Cổ hoặc là không hiểu hệ thống này, hoặc không chịu tuân theo nó. Nhiều người trong số họ, cụ thể là người Khiết Đan và người Hoa, sau một thời gian dài bị đàn áp và căm ghét người Nữ Chân, giờ khao khát được trả thù và tàn phá. Họ tin rằng quân lính có quyền được giữ của cải cướp được. Họ tróc vàng từ tường cung điện, cạy đá quý, và cướp những chiếc rương chứa đầy tiền vàng và bạc. Họ chất những kim loại quý giá lên xe bò kéo và buộc lụa lên lưng lạc đà.
Thành Cát Tư Hãn coi cướp bóc là việc quốc gia đại sự, và do vậy ông phái quan xử án trưởng của Mông Cổ, Shigi-Khutukhu, tới kinh thành để giám sát việc cướp bóc có phương pháp và lên danh sách chi tiết. Nhưng thay vì một quá trình quy củ, Shigi-Khuthukhu lại phải đối mặt với cảnh tượng hỗn loạn. Tướng lĩnh Mông Cổ ngoài thành, bao gồm cả đầu bếp của hoàng gia, đã nhận hối lộ lụa thêu chỉ vàng để nhắm mắt cho qua việc quân lính đồng minh cướp bóc vô tội vạ; và khi Shigi-Khutukhu tới, ông cũng được mời nhận riêng một phần của cải. Ông từ chối và quay trở lại báo cho Thành Cát Tư Hãn về hành động sai trái này. Thành Cát Tư Hãn giận dữ khiển trách người Khiết Đan và tịch thu mọi của cải, song không còn ghi chép nào về biện pháp trừng phạt.
Khi lính Mông Cổ rút khỏi khu vực thành thị của người Nữ Chân, sau khi đã đẩy dân chúng rời đi và đốt trụi làng của họ, họ vẫn còn một đòn trừng phạt cuối cùng nữa. Thành Cát Tư Hãn muốn để lại một mảnh đất lớn rộng mở với nhiều đồng cỏ, để quân đội của ông có thể trở lại khi cần. Đồng ruộng được cày cấy, tường đá, và hào sâu làm chậm bước ngựa Mông Cổ và ngăn cản họ di chuyển theo bất kỳ hướng nào mà họ muốn. Lừa, linh dương, và các con thú khác mà người Mông Cổ thường săn bắn cũng không thể di trú dễ dàng. Khi quân Mông Cổ rời trận chiến với người Nữ Chân, họ để vó ngựa xới tung mảnh đất phía sau lưng mình và chuẩn bị để nó có thể trở lại thành đồng cỏ hoang. Họ muốn đảm bảo rằng những người nông dân sẽ không bao giờ quay lại làng mạc và đồng ruộng của mình. Làm như vậy, vùng Nội Mông sẽ mãi là đất chăn thả, và quân Mông Cổ cũng tạo ra một vùng đệm thảo nguyên và rừng giữa lãnh thổ của các bộ lạc và ruộng đồng của nông dân canh tác. Vùng thảo nguyên là kho dự trữ đất chăn thả cho bầy ngựa trong các trận đánh và chiến dịch trong tương lai, và cũng cung cấp nguồn thịt từ bầy thú hoang quay trở lại khi nông dân và dân làng đã rời đi.
Trong nửa đầu năm Ất Hợi 1215, quân Mông Cổ cùng đoàn xe kéo chở người, súc vật và hàng hóa từ Thành Đô đổ nát tới vùng bình nguyên Nội Mông cao và khô. Họ tụ tập ở Dolon Nor, nơi một năm Thành Cát Tư Hãn đã định chờ đợi trước khi trở về nhà, và họ lại chờ mùa hè trôi qua trước khi vượt sa mạc Gobi. Một lần nữa, Thành Cát Tư Hãn lại chứng minh tài năng chinh chiến của mình, và giờ đây, ông lại chứng tỏ khả năng mang một lượng hàng hóa lớn chưa từng thấy trong lịch sử các vị hãn thảo nguyên về cho người dân của mình.
Cả một dòng sông lụa rực rỡ chảy ra ngoài Trung Hoa. Cảnh tượng trông như thể Thành Cát Tư Hãn đã vẽ lại mọi đường đi ngoằn ngoèo của Con đường Tơ lụa, gộp chúng thành một dòng chảy lớn, và đẩy nó về phương bắc, đổ ra khắp vùng thảo nguyên Mông Cổ. Đoàn xe lạc đà và ngựa chở nhiều vải vóc quý tới nỗi quân Mông Cổ dùng lụa để bọc các đồ dùng khác và để làm vật liệu gói hàng. Họ vứt dây thừng da thuộc đi, và thay vào đó sử dụng lụa xoắn lại. Họ xếp thành chồng các áo choàng thêu chỉ vàng và bạc thành họa tiết hoa mẫu đơn đang nở, sếu đang bay, sóng tràn vào bờ và linh vật truyền thuyết, và họ gói những đôi giày lụa đính ngọc trai lại. Quân Mông Cổ chất đầy các xe kéo với thảm, bình phong, gối, đệm và chăn lụa, cũng như khăn choàng, dải viền, ren, và quả tua lụa. Họ mang theo hàng súc lụa thô, chỉ lụa, và vải dệt thành đủ loại phục trang và vật trang trí nhiều màu sắc hơn ngôn ngữ Mông Cổ có thể diễn tả.
Bên cạnh lụa, vải sa-tanh, gấm kim tuyến và vải sa, quân Mông Cổ còn mang theo bất kỳ đồ vật gì họ thích mà có thể di chuyển được, bao gồm đồ nội thất bằng gỗ sơn, quạt giấy, bát gốm, giáp kim loại, dao đồng, rối gỗ, ấm sắt, nồi đồng, trò chơi bàn gỗ và yên ngựa khắc. Quân Mông Cổ lấy đi những bình nước hoa và đồ trang điểm làm từ đất son, chi vàng, cây chàm, tinh chất hoa, sáp thơm, cây bóng nước và xạ hương. Họ chở theo trang sức làm từ kim loại quý, ngà voi, hay mai rùa và đính đá ngọc lam, ngọc trai, đá carnelian, san hô, đá da trời, ngọc lục bảo và kim cương. Đoàn xe kéo chở túi da đựng rượu, hàng thùng mật ong và thỏi trà đen đi theo bầy lạc đà thơm ngát mùi hương trầm, thuốc, mê dược, và các loại đá đặc biệt như chu sa, long não và đàn hương.
Lính phục vụ xếp thành nhiều hàng dài, miệt mài lên danh sách và kiểm tra nhiều lần hàng hóa trên mỗi xe lạc đà và bò kéo. Các nhạc công chơi nhạc và hát để mua vui cho những người bắt họ trong lúc xe kéo di chuyển. Mỗi khi đoàn xe dừng lại, những người biểu diễn nhào lộn, uốn dẻo, và tung hứng lại biểu diễn trong lúc các bé gái tìm phân khô nhóm lửa, vắt sữa gia súc, nấu ăn, và làm những việc khác theo yêu cầu. Các cậu bé chăm sóc đàn thú vật và khiêng vật nặng. Phía sau đàn gia súc là các hàng dài bất tận tù nhân – phải tới hàng ngàn người. Hoàng tử và thầy tu. Thợ may và thầy thuốc. Người thông dịch và người ghi chép. Nhà chiêm tinh học và thợ kim hoàn. Họa sĩ và thầy bói. Thuật sĩ và thợ đào vàng. Bất kỳ ai thể hiện mình có khả năng nào đó đều được tập trung lại, cùng với những người vì lý do nào đó được quân Mông Cổ để ý.
Trong suốt lịch sử chinh chiến và giao thương, chưa từng có vị thủ lĩnh nào mang về quê hương số lượng hàng hóa nhiều như Thành Cát Tư Hãn. Nhưng dù số lượng lớn tới đâu vẫn không thể thỏa mãn được lòng ham muốn trong người dân của ông. Mỗi khi ông trở về từ một chiến dịch, đoàn xe của ông luôn chất đầy đồ đạc quý báu, nhưng mỗi xe lại khiến họ muốn nhiều hơn nữa. Người Mông Cổ ai nấy đều ngồi trong ger giữa đồ nội thất bằng gỗ sơn phủ lụa; thiếu nữ ai nấy đều dùng nước hoa, trang điểm, và đeo trang sức. Ngựa con nào cũng có bộ yên cương bằng kim loại, và các chiến binh đều có vũ khí bằng đồng và sắt. Để chế tạo những vật dụng này, hàng ngàn những thợ thủ công mới đều cần thêm vật liệu thô – mọi thứ từ gỗ, đất sét, và vải vóc, cho tới đồng, vàng và bạc. Những người này lại đều cần lương thực: nguồn cung lúa mạch, lúa mì và các loại thực phẩm khác phải liên tục được chở xuyên qua vùng đất trống bao la ngăn giữa thảo nguyên của người chăn gia súc với vùng đất nông nghiệp phía nam. Thành Cát Tư Hãn bắt càng nhiều tù nhân đưa về thì ông lại càng phải cung cấp nhiều lương thực và dụng cụ hơn. Những thứ mới lạ trở thành vật dụng cần thiết, và mỗi đoàn xe chở đồ lại kích thích ham muốn hơn nữa. Chinh phục càng nhiều, ông lại càng phải chinh phục nhiều hơn.
Vùng thảo nguyên không thể nằm đơn lẻ được nữa. Thành Cát Tư Hãn phải tổ chức tuyến nguồn cung, đảm bảo sản xuất, và sắp xếp việc di chuyển hàng hóa và người trên một phạm vi lớn chưa từng có. Cuộc tấn công chóng vánh các thành phố phía nam sa mạc Gobi để lấy lụa và trang sức đã trở thành một cuộc chiến tranh kéo dài ba thập niên lớn nhất trong lịch sử thế giới. Trong mười lăm năm tiếp theo, Thành Cát Tư Hãn sẽ giao chiến khắp châu Á, và khi qua đời, ông để lại cuộc chiến cho con cháu để mở rộng tới những vùng đất mới và chống lại những dân tộc khác suốt hai thế hệ sau đó.
*
Sau chiến dịch đánh người Nữ Chân, vị Khắc hãn đi thẳng về vùng thảo nguyên Khodoe Aral giữa sông Kherlen và Tsenker. Như vẫn thường làm, Thành Cát Tư Hãn lập tức chia chiến lợi phẩm cho các tướng lĩnh của mình, và những người này lại chia phần phù hợp cho người của họ. Tuy nhiên, lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình, ông có quá nhiều của cải và nguyên vật liệu cướp bóc được và không thể phân phát hết, bởi vậy cần tìm cách quản lý và tích trữ chúng cho tới khi cần. Để giải quyết vấn đề dư thừa của cải này, ông cho phép xây dựng một vài toà nhà. Ông đặt chúng gần dòng suối Avarga nhỏ, bên rìa thảo nguyên nơi một dòng suối khác phun lên mặt đất. Theo truyền thuyết, Bột Nhi Thiếp đã dùng nước suối này để chữa bệnh cho con trai Oa Khoát Đài. Các toà nhà hợp lại được gọi là Hoàng Cung, và chức năng chủ yếu của chúng là nhà kho chứa chiến lợi phẩm từ các chiến dịch. Với hai bên là suối chảy và một nhóm đồi nhỏ ở giữa, khu vực này rất dễ bảo vệ, và việc đột kích gần như là bất khả.Sau khi vắng mặt một thời gian dài, Thành Cát Tư Hãn có nhiều vấn đề cần phải giải quyết, không chỉ với người dân Mông Cổ, mà còn với cả các bộ lạc Siberia ở phương bắc và nông dân Duy Ngô Nhĩ ơ phía nam. Một vài bộ lạc Siberia từng phục tùng Mông Cổ khi Truật Xích xâm lược năm 1207 đã lợi dụng khi Thành Cát Tư Hãn vắng mặt lâu ngày trong chiến dịch đánh người Nữ Chân để ngừng cống nạp lông thú, lâm sản và thiếu nữ. Song, khi sứ giả Mông Cổ tới truy xét, ông phát hiện ra rằng đúng như danh tiếng của những người phụ nữ Siberia, thủ lĩnh của họ giờ là một người phụ nữ tên là Botohui-tarhun, nghĩa là To lớn và Dữ dội. Thay vì nộp ba mươi thiếu nữ cho người Mông Cổ làm vợ, bà ta bắt luôn sứ giả Mông Cổ làm tù nhân. Khi vị sứ giả không quay lại, Thành Cát Tư Hãn phái một người khác đi đàm phán, và bà cũng bắt luôn người này.
Năm Kỷ Mão 1219, Thành Cát Tư Hãn phái một vị tướng thân tín cùng một đội lính tinh nhuệ đi để tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra. Vốn đã quen với việc chiến đấu trên thảo nguyên và đồng ruộng, quân Mông Cổ không có nhiều kinh nghiệm đi lại hay tham chiến trong rừng rậm. Thông thường, họ vượt thảo nguyên bằng cách tản ra và di chuyển theo một tiền tuyến dài. Tuy nhiên, trong rừng, họ phải đi thành hàng một trên những con đường mòn nhỏ hẹp. Lính của Botohui-tarhun nghe thấy họ từ rất xa, và là một thợ săn trong rừng lành nghề, bà đặt bẫy họ. Bà phái một toán lính chặn đường thoát thân phía sau họ, rồi phục kích từ phía trước. Phe của Botohui-tarhun đã chiến thắng – và trong cuộc chiến, quân của bà đã giết chết vị tướng Mông Cổ.
Thương vong như vậy là chuyện hiếm thấy, và đã khiến Thành Cát Tư Hãn nổi giận. Mới đầu, ông đe doạ sẽ đích thân dẫn đầu quân đội trả thù vị nữ hoàng đã chiến thắng kia. Song các cố vấn của ông đã nhanh chóng cản lại. Họ chuẩn bị một cuộc hành quân lớn, và lần này quân Mông Cổ quyết tâm chiến thắng bằng mọi giá. Một toán lính Mông Cổ di chuyển riêng nhằm đánh lạc hướng, vờ canh gác đường mòn và lối đi phía trước giữa lãnh thổ của Mông Cổ và của nữ hoàng. Trong khi đó, lực lượng chính của quân đội bí mật đi theo một đường mới xuyên qua rừng từ một hướng khác. Với rìu, rìu lưỡi vòm, cưa, đục, và mọi dụng cụ và vũ khí họ có thể tìm được, lính Mông Cổ vất vả tạo ra một đường mòn bằng cách theo dấu loài “bò đỏ” trên núi, có lẽ là loài nai hay nai sừng tấm lớn màu đỏ. Sau khi hoàn thành con đường bí mật này, lính Mông Cổ tràn vào cung điện của nữ hoàng nhanh tới nỗi theo lời Bí sử, họ như thể đã “tràn xuống từ trên lỗ thông khói của lều trại.”
Quân Mông Cổ thắng lợi, giải cứu các sứ giả và bắt cả bộ lạc làm tù nhân để chia thành nô bộc và giúp việc. Thành Cát Tư Hãn gả Botohui-tarhun cho vị sứ giả thứ hai, dù có lẽ bà đã kết hôn với ông rồi vì bà đã giữ ông làm tù nhân mà không giết.
Các bộ lạc trong rừng chỉ là mối bận tâm nhỏ với Thành Cát Tư Hãn so với những vấn đề nghiêm trọng hơn với người Duy Ngô Nhĩ ở vùng ốc đảo sa mạc, một trong những nhóm người trung thành với ông nhất. Họ ủng hộ ông mạnh mẽ tới mức những người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi khác, sống ở phía nam ở chân dãy núi Thiên Sơn thuộc Kyrgyzstan và Kazakhstan ngày nay, muốn lật đổ vị vua theo đạo Phật của họ để đi theo Thành Cát Tư Hãn. Các sứ giả tới Mông Cổ từ tộc người theo đạo Hồi từ Kashgar, một thành phố thương mại thuộc Tân Cương, phía tây Trung Hoa ngày nay. Đầu thế kỷ mười ba, họ chịu sự cai quản của một nhóm người Khiết Đan khác tới từ Mãn Châu, nhưng rồi bị người Nữ Chân đẩy về phía đông, và sau cùng định cư ở dãy núi Thiên Sơn. Để phân biệt với người Khiết Đan sống ở phía đông từ trước, người Mông Cổ gọi họ là “Kara Khitan” – “Hắc Khiết Đan,” bởi màu đen vừa chỉ họ hàng xa, vừa cụ thể hơn là màu đại diện cho phía tây.
Trong khi nhiều người Duy Ngô Nhĩ đã tình nguyện thần phục quân Mông Cổ, những người khác vẫn sống dưới sự cai trị của người Hắc Khiết Đan, nay do Guchlug, con trai của Tayang Khan thuộc tộc người Nãi Man – kẻ thù của Thành Cát Tư Hãn năm xưa. Sau khi tộc của ông bị đánh bại, Guchlug bỏ chạy về phương nam, kết hôn với con gái của thủ lĩnh người Hắc Khiết Đan, rồi lật đổ ông ta. Tuy Guchlug theo đạo Ki-tô và người Hắc Khiết Đan theo đạo Phật, song họ đều chia sẻ mối nghi ngờ với người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi giáo. Với cương vị mới là người đứng đầu vương quốc, Guchlug bắt đầu ngược đãi những người dân theo đạo Hồi, giới hạn những tục lệ tôn giáo của họ. Ông nghiêm cấm kêu gọi cầu nguyện, hành lễ ở nơi công cộng và nghiên cứu Hồi giáo. Khi Guchlug rời kinh thành Balasagun để đánh trận, người dân đóng cửa thành và cố ngăn ông quay lại. Để trả đũa, ông bao vây và chiếm thành, rồi phá hủy nó.
Bởi không có người lãnh đạo theo đạo Hồi nào sẵn lòng bảo vệ họ, những người Hồi giáo ở Balasagun trông cậy vào Thành Cát Tư Hãn để lật đổ vị vua chuyên quyền của họ. Dù quân Mông Cổ đóng quân cách đó hai ngàn năm trăm dặm, Thành Cát Tư Hãn ra lệnh cho Jebe, vị tướng đã phục hồi triều đình Khiết Đan, dẫn hai vạn lính Mông Cổ xuyên chiều ngang châu Á và bảo vệ người dân Hồi giáo. Việc Thành Cát Tư Hãn từ chối đích thân ra trận cho thấy ông không ưu tiên những vùng đất này. Thế giới của ông nằm ở Mông Cổ, và ông muốn dành nhiều thời gian nhất có thể bên gia đình ở trại quân Avarga bên dòng sông Kherlen. Ông không bận tâm tới các thành phố xa xôi giữa sa mạc và các dãy núi. Cuộc xâm lược này với ông không hơn một cơ hội để đối đầu với kẻ thù cũ Guchlug là mấy.
Bởi quân Mông Cổ ra trận theo yêu cầu của người Duy Ngô Nhĩ, họ không cho phép cướp bóc, phá hoại tài sản, hay đe doạ tính mạng thường dân. Thay vào đó, quân đội của Jebe đánh bại quân của Guchlug, và trừng phạt hắn thích đáng: Guchlug bị chặt đầu trên một cánh đồng gần biên giới ngày nay giữa Afghanistan, Pakistan và Trung Hoa. Sau khi hành hình, quân Mông Cổ gửi sứ giả tới Kashgar để tuyên bố chấm dứt ngược đãi tôn giáo và phục hồi tự do tôn giáo trong mọi cộng đồng. Theo nhà sử học Ba Tư Juvaini, người dân Kashgar gọi người Mông Cổ là “ơn phước của Chúa trời và phần thưởng của lòng nhân từ của thánh thần.”
Dù các nhà chép sử người Ba Tư và Hồi giáo khác ghi lại câu chuyện này rất tỉ mỉ, Bí sử tóm tắt cả chiến dịch trong một câu đơn giản. “Jebe đuổi theo Guchlug Khan người Nãi Man, vượt qua hắn ở Mỏm đá Vàng, đánh bại hắn, rồi trở về nhà.” Từ phương diện của người Mông Cổ, có lẽ chỉ có vậy là quan trọng. Jebe đã hoàn thành nhiệm vụ của mình: Ông giết kẻ địch và trở về nhà an toàn. Chiến dịch thử và chứng minh khả năng của quân đội Mông Cổ: họ vẫn hoạt động thành công dù cách trại quân hàng ngàn dặm và không có Thành Cát Tư Hãn.
Quan trọng hơn việc thu phục thêm thần dân hay xây dựng danh tiếng là người bảo hộ các tôn giáo bị đàn áp, với chiến thắng trước người Hắc Khiết Đan, Thành Cát Tư Hãn đã nắm hoàn toàn quyền kiểm soát Con đường Tơ lụa giữa người Trung Hoa và thế giới Hồi giáo. Ông giờ có các nước chư hầu là người Đảng Hạng, Duy Ngô Nhĩ, Hắc Khiết Đan, và vùng đất phía bắc của người Nữ Chân; và dù không điều khiển khu vực sản xuất chủ chốt của nhà Tống hay khu vực mua bán chính ở vùng Trung Đông, ông lại kiểm soát những đường liên kết ở giữa. Nắm quyền điều khiển một số lượng lớn thương phẩm từ Trung Hoa, ông nhận thấy nhiều cơ hội giao thương đầy hứa hẹn với những nước Hồi giáo ở Trung Á và Trung Đông.
*
Năm 1219, Thành Cát Tư Hãn nay đã gần sáu mươi tuổi, và đã đạt được nhiều thành tựu quân sự và kinh tế đáng kể. Như Juvaini miêu tả, “Ông mang tới cảnh thái bình tuyệt đối, sự an toàn và bình yên, và đã đạt được đỉnh cao của thịnh vượng và hạnh phúc; đường sá an toàn và ít cảnh nhiễu loạn.” Dường như ông sẵn lòng sống nốt những ngày còn lại trong yên bình, bên gia đình và đàn ngựa, và tận hưởng đời sống hưng thịnh ông đã vừa mang tới cho người dân.Ông có nhiều của cải hơn mức ông có thể sử dụng hay phân phát cho dân chúng, và ông muốn dùng những nguồn tài nguyên mới dồi dào này để kích thích giao thương. Bên cạnh nguồn cung phong phú các sản phẩm châu Á truyền thống, thỉnh thoảng các mặt hàng khác cũng chảy vào từ các miền đất Trung Đông phía tây xa xôi và bí hiểm. Người Hồi giáo ở đó sản xuất kim loại chất lượng cao nhất, loại thép sáng bóng tuyệt vời. Họ có vải cotton và các loại vải chất lượng cao khác, và họ biết quá trình làm kính bí ẩn. Vùng đất rộng lớn từ dãy núi thuộc Afghanistan ngày nay tới vùng Biển Đen thuộc quyền cai trị của vị sultan người Turk là Muhammad II, và đế quốc của ông được gọi là Khwarizm*. Thành Cát Tư Hãn muốn có những sản vật kỳ lạ này, và bởi vậy ông tìm cách thiết lập mối quan hệ giao thương với vị sultan xa xôi.
Nhà sử học Pétis người Pháp giải thích hoàn cảnh của Thành Cát Tư Hãn khi đó: “…vị Hoàng đế này không sợ hãi gì hết, dù là từ phương Đông, phương Tây, hay phương Bắc của châu Á, và nỗ lực xây dựng mối hòa hảo chân thành với vua của Carizme. Vì vậy, cuối năm 1217, ông gửi ba sứ giả tới cùng quà tặng… để đề nghị… rằng người dân của hai bên có thể giao thương an toàn với nhau, có được một mối Hòa hảo, và đạt được, Yên bình và Thịnh vượng, những Phúc lành quan trọng nhất mà mọi Vương quốc đều ao ước có được.”
Để đàm phán một giao ước thương mại và chính thức hóa mối quan hệ giao thương giữa hai bên, Thành Cát Tư Hãn gửi một sứ giả tới sultan Khwarizm: “Nguyện vọng to lớn nhất của ta là được sống trong hòa bình với ngài. Ta sẽ coi ngài như con trai mình. Về phía ngài, ngài chưa biết rằng ta đã chinh phục Bắc Trung Hoa và thần phục mọi bộ lạc phía bắc. Ngài biết rằng quốc gia của ta là một đàn ông các chiến binh, một mỏ bạc, và ta không cần phải chiếm lĩnh vùng đất nào khác. Chúng ta đều đạt được lợi ích như nhau khi củng cố giao thương giữa người dân hai bên.”
Dù có chút nghi ngờ và lo ngại, vị sultan đồng ý với thỏa ước này. Vì bản thân người Mông Cổ không phải là thương nhân, Thành Cát Tư Hãn trông cậy vào các thương nhân Hồi giáo và Ấn Độ giáo trong lãnh thổ của người Duy Ngô Nhĩ mà ông mới giành được; trong số họ, ông tập hợp 450 thương nhân cùng tùy tùng và gửi họ từ Mông Cổ tới Khwarizm, theo đó là một đoàn xe chở đầy các mặt hàng quý giá như vải làm từ da lạc đà trắng, lụa Trung Hoa, thỏi bạc và ngọc lục bảo thô. Ông gửi theo một người Ấn Độ dẫn đầu đoàn với lời nhắn hòa hữu cho vị sultan, mời buôn bán để “từ đây ung nhọt của những tư tưởng xấu xa sẽ bị loại bỏ nhờ những tiến triển trong quan hệ và mối hòa hữu giữa chúng ta, và phần mưng mủ của sự nổi loạn và gây rối sẽ được gột sạch.”
Khi đoàn xe tới tỉnh Ortrar, ở tây bắc Khwarizm, nay thuộc phía nam Kazakhstan, vị quan kiêu ngạo và tham lam ở đó đã chiếm hết tài sản và giết các thương nhân cùng người cưỡi ngựa. Ông ta không biết rằng hệ quả sau đó tàn khốc thế nào. Như nhà quan sát Ba Tư Juvaini giải thích, việc tên quan kia tấn công không chỉ phá hủy một đoàn xe kéo, mà còn “tàn phá cả thế giới.”
Khi nghe chuyện, Thành Cát Tư Hãn gửi sứ giả đề nghị vị sultan trừng phạt tên quan địa phương vì đã tấn công; song thay vào đó, sultan lại khiển trách Thành Cát Tư Hãn theo cách công khai và xúc phạm nhất ông biết. Ông ta giết một vài sứ giả, và cắt xẻo mặt một số người khác rồi trả về cho chủ nhân của họ. Chỉ mất vài tuần để tin tức về hình phạt này vượt qua thảo nguyên để tới triều đình. Theo lời Juvaini, khi đó “cơn cuồng phong của sự giận dữ khiến cát bay vào mắt lòng kiên nhẫn và nhân từ, và ngọn lửa phẫn nộ thổi bùng lên mạnh mẽ tới nỗi thổi bay nước mắt khỏi mắt ngài, chỉ có thể dập tắt khi có máu đổ.” Giận dữ, nhục nhã, và thất vọng, một lần nữa Thành Cát Tư Hãn lại ẩn mình trên đỉnh núi Burkhan Khaldun, nơi ngài “bỏ tấm che đầu, cúi mặt suốt đất và suốt ba ngày ba đêm cầu nguyện, nói rằng ‘con không phải người gây ra rắc rối này; hãy ban cho con sức mạnh để phục thù.’ Sau đó ông xuống núi, suy tính đường đi nước bước và chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh.”