Với dân du mục, chiến tranh là một phương thức sản xuất.
Nó mang tới thắng lợi và của cải cho các chiến binh.
SECHEN JAGCHID,
Các bài viết về Mông Cổ học
5
SULTAN ĐỐI ĐẦU VỚI KHẮC HÃN
*NĂM KỶ MÃO 1219, Thành Cát Tư Hãn lên đường về hướng tây, đi tới Khwarizm. Ông tới nơi vào mùa xuân năm Bính Thìn 1220, vượt sa mạc để rồi đột nhiên xuất hiện phía sau hàng ngũ quân địch ở Bukhara. Trước khi hết năm, quân Mông Cổ đã chiếm gần hết các thành phố lớn thuộc đế quốc Khwarizm, còn vị sultan bị bỏ rơi và chết dần chết mòn ở một hòn đảo nhỏ ngoài khơi biển Caspi, nơi ông lẩn trốn nhằm thoát khỏi cuộc săn đuổi không ngừng nghỉ của quân Mông Cổ.
Quân Mông Cổ tiếp tục chiến đấu trên những vùng đất mới, và xuyên suốt một chiến dịch kéo dài bốn năm, họ chinh phục các thành phố Trung Á nhẹ nhàng như đập ruồi. Tên các thành phố cứ kéo dài ra như một chuỗi không ngừng nghỉ các âm tiết với hơn chục thứ tiếng: Bukhara, Samarkand, Otrar, Urgench, Balkh, Banakat, Khojend, Merv, Nisa, Nishapur, Termez, Herat, Bamiyan, Ghazni, Peshavvar, Qazvin, Hamadan, Ardabil, Maragheh, Tabriz, Tbilisi, Derbent, Astrakhan. Quân đội của Thành Cát Tư Hãn hạ gục mọi đội quân khác họ thấy được, từ dãy Himalaya tới Kavkaz*, từ sông Ấn tới sông Volga. Mỗi thành phố bại trận đều có một câu chuyện riêng với diễn tiến khác biệt đôi chút, nhưng kết quả thì luôn như vậy. Không thành phố nào đứng vững trước cuộc tấn công. Không thành cổ nào giữ được độc lập. Không lời cầu nguyện nào có thể cứu được dân chúng. Không vị quan nào có thể hối lộ hay xin xỏ để không phải hàng phục. Không gì có thể làm chậm bước, chứ chưa nói tới cản bước, sức mạnh của Mông Cổ.
Khwarizm là một vương quốc mới lập, chỉ trước quốc gia Mông Cổ mười hai năm, song tấn công Khwarizm không chỉ là tấn công một vương quốc, mà là cả một nền văn minh cổ đại. Các quốc gia Hồi giáo thế kỷ mười ba, bao gồm văn minh Ả-rập, Thổ và Ba Tư, là những nước giàu có nhất thế giới, và về khoa học thì phát triển nhất về gần như mọi mặt, từ thiên văn học và toán học tới nông nghiệp và ngôn ngữ học, và dân chúng có tỉ lệ biết chữ cao nhất thế giới. So với châu Âu và Ấn Độ, nơi chỉ có thầy tu biết đọc, hay Trung Hoa, nơi chỉ có quan lại là biết chữ, gần như mọi ngôi làng trong thế giới Hồi giáo đều có ít nhất vài người có thể đọc kinh Koran và diễn dịch luật Hồi giáo. Trong khi châu Âu, Trung Hoa và Ấn Độ chỉ đạt tới trình độ của một nền văn minh tôn giáo, người Hồi giáo gần như đã đạt tới nền văn minh tầm cỡ thế giới với thương mại, công nghệ và khoa học chung phát triển nhất. Tuy nhiên, vì đứng quá cao so với phần còn lại của thế giới, họ cũng mất nhiều nhất khi rơi xuống. Cuộc xâm lược của Mông Cổ tàn phá nơi đây kinh khủng hơn mọi nơi khác vó ngựa của họ bước tới.
Cũng như ở bắc Trung Hoa, nơi các bộ lạc du mục xưa của người Khiết Đan, Nữ Chân và Đảng Hạng cai trị dân chúng làm nông, ở Trung Đông các bộ lạc du mục người Turk đã chinh phục và cai trị nhiều vương quốc chủ yếu là nông dân. Một chuỗi các nước Thổ nắm giữ quyền lực chính trị tại vùng lãnh thổ thuộc Ấn Độ, Pakistan và Afghanistan ngày nay, xuyên qua Ba Tư, và tới tận trung tâm vùng Tiểu Á thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay bên biển Địa Trung Hải. Nền văn minh của khu vực này dựa trên nền tảng các nền văn hóa Ba Tư cổ, đồng thời chịu ảnh hưởng lớn từ thế giới Ả-rập và từ các nền văn minh cổ xưa từ La Mã tới Ấn Độ. Bức tranh khảm văn hóa của vùng Trung Đông bao gồm một số lượng đáng kể các dân tộc thiểu số người Do Thái, Ki-tô giáo và các nhóm tôn giáo và ngôn ngữ khác. Song, nhìn chung, các học giả, quan toà và lãnh tụ tôn giáo nói tiếng Ả-rập và trích dẫn kinh Koran. Binh lính nói giọng địa phương theo bộ lạc chiến binh của họ. Nông dân nói chuyện và ca hát bằng các thổ ngữ Ba Tư.
Dù rất giàu có vào thời điểm Thành Cát Tư Hãn đột ngột xuất hiện, cuộc sống xã hội phức tạp khiến các vương quốc ở đây ngập trong các phe phái chính trị, mâu thuẫn tôn giáo, và thù ghét văn hóa. Là người Turk mới lên, sultan của Khwarizm không có nhiều đồng minh Hồi giáo, phần lớn là người Ả-rập và Ba Tư, và coi ông không hơn một tên tiếm quyền mọi rợ là mấy. Mối quan hệ giữa sultan của Khwarizm và khalifah Ả-rập ở Baghdad căng thẳng tới mức theo nhiều giai thoại, vị khalifah này được cho là đã cầu xin Thành Cát Tư Hãn tấn công sultan bằng cách gửi ông mật thư được xăm lên đầu một người đàn ông, người này đã đi qua lãnh thổ Khwarizm mà không bị phát hiện để tới đất Mông Cổ. Dù chỉ là giả thiết, câu chuyện về người đưa tin có hình xăm được lan truyền rộng rãi trong thế giới Hồi giáo, và phần nào đó đem lại lý do chính đáng cho cuộc chiến của Thành Cát Tư Hãn chống lại vị sultan Hồi giáo, lý do tôn giáo mà những người Hồi giáo đang cần để về phe những kẻ bất tin chống lại vị sultan này. Theo một câu chuyện có lẽ là có thực, vị khalifah còn hỗ trợ cuộc tấn công của người Mông Cổ bằng cách tặng cho Thành Cát Tư Hãn món quà là một toán lính Thập tự chinh bị bắt ở vùng Đất Thánh. Vì Thành Cát Tư Hãn không cần lính bộ binh, ông thả họ đi, và một vài người trong số họ đã về tới nhà ở châu Âu với những tin đồn đầu tiên về những nhà chinh phục người Mông Cổ chưa ai biết tới.
Bên cạnh những căng thẳng với những người hàng xóm Hồi giáo, sultan của Khwarizm còn phải đối mặt với nhiều sự chia rẽ ngay trong lãnh thổ và gia đình ông. Ông thường xuyên tranh cãi với mẹ mình, người cũng nắm nhiều quyền lực như ông, và nguy cơ quân Mông Cổ xâm lược càng làm họ bất đồng về mọi thứ, từ cách cai trị đế quốc tới làm thế nào để chuẩn bị cho chiến tranh. Chính anh/em trai bà là người đã bắt giữ đoàn xe kéo Mông Cổ và gây ra chiến tranh, nhưng chính việc không cho phép con trai bà trừng phạt ông ta và tránh giao chiến, bà đã trầm trọng hóa mâu thuẫn với quân Mông Cổ. Nếu căng thẳng trong nội bộ hoàng gia chưa đủ nguy hiểm, dân chúng người Ba Tư và Tajik cũng không có vẻ để tâm mấy tới những người cai trị họ, và đặc biệt là quân lính người Turk – những kẻ đóng ở thành phố của họ để lợi dụng thay vì bảo vệ họ. Đổi lại, những người lính cũng không quan tâm tới việc bảo vệ nơi họ đóng quân, và không có ý định hi sinh tính mạng để bảo vệ những người dân mà họ khinh thường.
Khi Thành Cát Tư Hãn đổ xuống các thành phố của Khwarizm, ông chỉ huy một đạo quân gồm khoảng 100.000 tới 125.000 kỵ sĩ, được hỗ trợ bởi người Duy Ngô Nhĩ và các đồng minh người Turk khác, một nhóm thầy thuốc người Hoa, và các công trình sư, hợp lại là khoảng 150.000 tới 200.000 người. Trong khi đó, người trị vi Khwarizm có khoảng 400.000 lính có vũ khí khắp cả vương quốc, và họ đánh trận với lợi thế sân nhà.
Quân Mông Cổ hứa sẽ tuân theo công lý với những ai xin hàng, nhưng không tha cho những người chống lại họ. Nếu người dân chấp nhận và cư xử như họ hàng – mời thức ăn để đáp lại lời mời kết giao, người Mông Cổ sẽ coi họ như thành viên trong gia đình và đảm bảo quyền được bảo vệ cũng như các quyền họ hàng cơ bản nhất định; nếu từ chối, họ sẽ bị coi là kẻ thù. Lời đề nghị của Thành Cát Tư Hãn với những người bị vây bắt vừa đơn giản vừa đáng sợ, ví dụ như khi ông gửi lời nhắn sau đây tới người dân thành Nishapur: “Các tướng lĩnh, người già, và dân thường, các ngươi hãy biết Chúa trời đã ban cho ta một đế quốc trên mặt đất từ đông sang tây, ai phục tùng sẽ được tha mạng nhưng nếu chống lại, ngươi sẽ bị giết chết cùng với vợ, con và họ hàng thân thích.” Những lời nói tương tự có trong nhiều văn bản đương thời, một trong những ví dụ rõ ràng nhất là trong một câu chuyện kể của Armenia. Thành Cát Tư Hãn được dẫn lời trong câu chuyện này như sau: “Ý nguyện của Chúa trời là ta chiếm lấy mặt đất và gìn giữ trật tự” để áp dụng luật và cách đánh thuế của Mông Cổ, và với những kẻ ương ngạnh, người Mông Cổ có trách nhiệm “giết chết chúng và phá tan nơi chúng ở, để những kẻ khác nghe và thấy sẽ sợ hãi và không làm theo.”
Một số thành phố đầu hàng ngay lập tức. Vài nơi khác giao chiến vài ngày hoặc vài tuần, và chỉ có những thành trì vững chãi nhất mới trụ được lâu hơn vài tháng. Thành Cát Tư Hãn đã học được nhiều kinh nghiệm từ những chiến dịch ở các thành phố Nữ Chân: không chỉ là cách chiếm các thành trì kiên cố, mà còn cả cách xử trí với chúng sau đó, cụ thể là làm thế nào để thu thập của cải hiệu quả nhất. Ông không muốn lặp lại sai lầm của vụ cướp bóc hỗn độn ở Trung Đô. Ở Khwarizm, ông ban hành hệ thống mới, hiệu quả hơn: đảm bảo cả thành phố sạch bóng người và thú vật trước khi bắt đầu cướp bóc của cải, nhờ vậy giảm thiểu khả năng quân lính của ông gặp nguy hiểm.
Trước khi bắt đầu cướp phá, các chiến binh Mông Cổ đối xử với dân chúng của kẻ địch theo một trình tự như nhau. Trước hết, họ giết chết binh lính. Quân Mông Cổ phụ thuộc vào kỵ binh, bởi vậy họ không cần lính bộ binh được đào tạo để bảo vệ tường thành, và quan trọng hơn, họ không muốn cả một quân đội lớn của kẻ thù cũ chắn giữa đường về Mông Cổ. Họ luôn muốn đường về nhà rộng mở và thông thoáng. Sau khi hành hình quân lính, quan chức Mông Cổ sai quân phân loại dân thường theo ngành nghề. Những người có ngành nghề bao gồm bất kỳ ai có thể đọc và viết bất kỳ ngôn ngữ nào – tu sĩ, thầy thuốc, nhà chiêm tinh học, quan xử án, thầy bói, công trình sư, giáo viên, thầy tế Hồi giáo, giáo sĩ Do Thái, hay thầy tu. Người Mông Cổ đặc biệt cần thương nhân, người cưỡi lạc đà, và những người biết nhiều thứ tiếng, cũng như nghệ nhân. Những người này sẽ được người Mông Cổ trọng dụng, bởi bản thân họ không làm gì khác ngoài đánh trận, chăn gia súc, và săn bắn. Đế quốc ngày càng lớn mạnh của họ cần công nhân lành nghề trong gần như mọi ngành nghề, bao gồm thợ rèn, nghệ nhân gốm, thợ mộc, thợ làm đồ nội thất, thợ dệt, thợ da, thợ nhuộm, thợ mỏ, thợ làm giấy, thợ thổi thủy tinh, thợ may, người làm trang sức, nhạc công, thợ cắt tóc, ca sĩ, người mua vui, thầy thuốc và đầu bếp.
Những người không có ngành nghề được tập hợp lại để hỗ trợ tấn công thành phố tiếp theo: họ mang vác vật nặng, đào hầm công sự, làm khiên sống, lấp hào, hay hi sinh trong chiến trận. Những người thậm chí không làm được cả những việc này sẽ bị quân Mông Cổ sát hại và bỏ lại.
Trong quá trình Thành Cát Tư Hãn chinh phục Trung Á, có một nhóm người phải chịu số phận thê thảm nhất trong số những ai bị bắt. Quân Mông Cổ giết tất cả người giàu và người có thế lực. Theo quy tắc đánh trận kiểu hiệp sĩ ở châu Âu và Trung Đông thời Thập tự chinh, tầng lớp quý tộc của hai phe thường thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau một cách hời hợt và phô trương, trong khi thẳng tay tàn sát binh lính. Thay vì giết quý tộc phe địch trên chiến trường, họ thường bắt hắn làm con tin để gia đình hoặc quốc gia chuộc về. Quân Mông Cổ không làm theo quy tắc này. Ngược lại, họ cố gắng giết tầng lớp quý tộc nhanh nhất có thể nhằm tránh chiến tranh trong tương lai, và Thành Cát Tư Hãn không bao giờ chấp nhận quý tộc phe kẻ thù trong quân đội của mình, và hiếm khi để phục vụ ông dưới bất kỳ hình thức nào.
Thành Cát Tư Hãn không theo đuổi chính sách này từ đầu. Trong những chiến dịch đầu tiên ở các thành phố của người Nữ Chân, Đảng Hạng, và Hắc Khiết Đan, Thành Cát Tư Hãn thường xuyên bảo vệ kẻ giàu, và thậm chí cho phép vua chúa tiếp tục cai trị sau khi bị ông đánh bại. Nhưng cả người Nữ Chân và Đảng Hạng đều phản bội ông ngay sau khi ông rút quân. Khi Thành Cát Tư Hãn tới các nước Hồi giáo ở Trung Á, ông đã học được bài học về lòng trung thành, mức độ đáng tin cậy và hữu dụng của những kẻ giàu có quyền thế. Nhờ khả năng nhận biết thái độ và ý kiến của dân chúng, ông cũng nhận ra rằng thường dân không quan tâm tới số phận của những người giàu.
Việc sát hại tầng lớp quý tộc giúp quân Mông Cổ làm tê liệt hệ thống xã hội của kẻ địch và giảm thiểu khả năng chúng chống chọi trong tương lai. Một vài thành phố không bao giờ hồi phục được sau khi tầng lớp quý tộc bỏ mạng trên chiến trường hay bị sát hại. Thành Cát Tư Hãn muốn có tướng lĩnh trung thành và biết ơn quân Mông Cổ vi vị trí quyền lực và địa vị của họ, và bởi vậy ông chỉ công nhận những tước danh do chính ông ban. Ngay cả một vị hoàng tử hay vua chúa muốn giữ lại tước vị cũ của mình cũng phải được quân Mông Cổ tái ban tặng tước vị đó. Trong báo cáo về chuyến đi tới Mông Cổ từ năm 1245 tới năm 1247, sứ giả của Giáo hoàng là Giovanni Di Plano Carpini thường xuyên phàn nàn rằng quân Mông Cổ thiếu tôn trọng giới quý tộc. Người Mông Cổ thấp kém nhất có thể tới trước mặt các vua chúa và hoàng hậu đang thăm viếng và ăn nói sỗ sàng với họ.
Số phận bà mẹ của sultan, người phụ nữ quyền lực nhất đế quốc, cho thấy thái độ của quân Mông Cổ với phụ nữ quý tộc. Họ bắt bà ta, giết chết phần lớn quan lại trong triều đình và hơn hai chục thành viên gia đình bà. Sau đó, họ đày ải bà phải sống phần đời còn lại làm việc phục dịch hèn kém ở Mông Cổ, và bà biến mất khỏi lịch sử từ đây. Dòng dõi của những người đàn bà như vậy không giúp họ có thêm danh vị; như với mọi tù nhân khác, chỉ có khả năng, lao động, và công sức của bà ta mới quan trọng.
*
Khi quân Mông Cổ đi qua một thành phố, họ không để lại phía sau vật gì có giá trị. Trong một lá thư viết ngay sau cuộc xâm lâng, nhà địa lý Yaqut al-Hamawi, người chỉ chạy thoát trong đường tơ kẽ tóc, viết về những cung điện tráng lệ mà quân Mông Cổ đã “xóa sổ khỏi mặt đất như chữ viết bị tẩy xóa khỏi trang giấy, và những toà nhà đó trở thành ổ cho lũ cú và quạ; ở đó cú mèo rít tiếng trả lời nhau, và gió than khóc trong các sảnh đường.”Trong mắt người Hồi giáo, Thành Cát Tư Hãn là hiện thân của sự tàn bạo. Những nhà chép sử đương thời gán cho Thành Cát Tư Hãn câu nói khá phi lý rằng “niềm hoan lạc lớn nhất một người có thể biết được là đánh bại kẻ thù và mang chúng đến trước mặt anh ta. Là cưỡi ngựa của chúng và cướp những gì chúng sở hữu. Là nhìn thấy gương mặt những người chúng yêu quý giàn giụa nước mắt, và ôm vợ và con gái chúng trong lòng.” Song Thành Cát Tư Hãn dường như không cảm thấy bị xúc phạm bởi những lời miêu tả tệ hại này, trái lại ông còn khuyến khích chúng. Với khả năng tận dụng mọi thứ bắt gặp, ông tìm ra cách lợi dụng hiệu quả tỉ lệ biết chữ cao của người Hồi giáo, và biến những kẻ thù không chút ngờ vực này thành vũ khí định hình tư tưởng của người dân vô cùng hiệu nghiệm. Ông nhận ra rằng nỗi sợ hãi được gieo rắc dễ dàng nhất không phải nhờ vào các chiến binh, mà bằng ngòi bút của các học giả và người ghi chép. Trước khi báo chí ra đời, thư từ của tầng lớp trí thức đóng vai trò chính yếu trong việc định hình ý kiến của dân chúng, và trong cuộc chinh phục vùng Trung Á, chúng đã đóng vai trò rất tích cực với Thành Cát Tư Hãn. Quân Mông Cổ hoạt động dựa trên một cỗ máy tuyên truyền ảo, liên tục thổi phồng số người chết trong chiến trận và gieo rắc nỗi sợ hãi tới mọi nơi mà tin tức lan truyền tới được.
Tới tháng Tám năm 1221, chỉ một năm sau khi chiến dịch bắt đầu, tướng lĩnh Mông Cổ gửi thư yêu cầu người dân Triều Tiên cống nạp cho họ thêm một trăm nghìn tờ giấy thuộc loại giấy nổi tiếng của họ. Khối lượng giấy này cho thấy người Mông Cổ phải ghi chép ngày càng nhiều vì đế quốc ngày càng lớn mạnh, và đồng thời cũng cho thấy rằng họ rất coi trọng việc ghi chép lịch sử. Giấy viết dần trở thành vũ khí hiệu quả nhất trong kho vũ khí của Thành Cát Tư Hãn. Ông không quan tâm tới việc ghi lại các chiến tích hay thơ ca tán tụng tài năng của mình; thay vào đó, ông cho phép người dân tự do lan truyền các câu chuyện tệ hại và phi lý nhất về ông và quân Mông Cổ.
Từ mọi toà thành thất thủ, quân Mông Cổ lại gửi đi các đoàn sứ giả tới các thành phố khác để báo cho họ về những điều kinh khủng chưa từng thấy mà chiến binh Mông Cổ gây ra với các khả năng gần như phi phàm của họ. Ta vẫn còn cảm thấy được sức mạnh của những từ ngữ ngày qua lời nhân chứng do các nhà chép sử ghi lại, chẳng hạn như của nhà sử học Ibn al-Athir sống ở thời cuộc chiến ở Mosul – thuộc Iraq ngày nay, song thời đó lại nằm ở gần, nhưng vẫn ngoài rìa, chiến dịch của quân Mông Cổ. Ông ghi chép lại lời kể của những người chạy nạn trong cuốn sách al-Kamil fi at-tarikh, một cuốn sử ký toàn thư. Ban đầu, Ibn al-Athir có vẻ không tin vào những câu chuyện này: “Ta đã nghe nhiều câu chuyện về nỗi kinh hoàng mà quân Tatar gieo rắc, những thứ khó lòng mà tin nổi.” Nhưng ông nhanh chóng thuật lại đầy hào hứng. “Chuyện kể là từng tên lính một trong số họ sẽ bước vào một ngôi làng hay khu đông dân cư, và giết từng người từng người một, trong khi không ai dám giơ một bàn tay lên ngăn tên kỵ sĩ này lại.” Một câu chuyện khác lại nói rằng “một tên bắt một người dân, nhưng lại không mang theo mình vũ khí để giết anh ta; và hắn nói với tên tù nhân rằng, ‘Đặt đầu lên mặt đất và không được cử động.’ Anh ta làm theo, và tên Tatar đi lấy kiếm rồi đâm chết anh ta.”
Mỗi chiến thắng lại mang tới một làn sóng tuyên truyền mới, và ngày càng nhiều người tin rằng Thành Cát Tư Hãn là bất khả chiến bại. Ngày nay, sau một khoảng thời gian khá xa và an toàn, những câu chuyện này nghe có vẻ hoang đường, nhưng thời đó, chúng tác động rất lớn tới toàn khu vực Trung Á. Ibn al-Athir ai oán tuyên bố rằng cuộc chiến của quân Mông Cổ đã “tuyên bố cái chết của đạo Hồi và người Hồi giáo.” Có phần hơi quá đà, ông còn nói thêm, “Chao ôi, giá như mẹ ta không sinh ra ta trên đời, hay ta đã chết và bị lãng quên khi tai họa này giáng xuống.” Ông đồng ý viết lại những chi tiết ghê rợn chỉ vì “nhiều người bạn ta thúc giục ta ghi chép lại.” Ông tuyên bố cuộc xâm lược là “tai ương thảm khốc nhất và kinh hoàng nhất… đã giáng xuống loài người, và đặc biệt là người Hồi giáo… kể từ khi Chúa trời tạo ra Adam tới nay.” Để so sánh, ông nói rằng cuộc thảm sát kinh hoàng nhất trước thời quân Mông Cổ đã xảy ra với người Do Thái, song cuộc chiến của quân Mông Cổ chống lại người Hồi giáo còn tồi tệ hơn bởi số người đạo Hồi bị giết quá lớn, “trong một thành phố, chúng thảm sát nhiều hơn toàn bộ những đứa con của Israel cộng lại.” Nếu người đọc có nghi ngờ, Ibn al-Athir còn hứa hẹn cả các chi tiết về “hành vi của quân Mông Cổ mà hẳn sẽ khiến tất cả phải kinh sợ, và các ngươi, đội ơn Chúa, sẽ được nghe đầy đủ theo trình tự đúng của chúng.” Song những lời nói mãnh liệt này dường như được viết để kích thích những người Hồi giáo khác, chứ không phải để kể lại một cách chính xác cuộc xâm lăng.
Mặc dù quân đội của Thành Cát Tư Hãn tiến hành chém giết với tốc độ chưa từng thấy, coi việc chết chóc như một quy tắc hành xử và dĩ nhiên cũng là một cách gieo rắc nỗi sợ có chủ đích, họ khác với lẽ thường thời đó theo một khía cạnh quan trọng và bất ngờ. Quân Mông Cổ không tra tấn, cắt xẻo, hay khiến nạn nhân trở nên tàn tật. Chiến tranh thời kỳ đó thường là một dạng chiến đấu gây sợ hãi, và các nhà cầm quyền lợi dụng chiến thuật đơn giản nhưng ghê rợn là tra tấn công khai hay cắt xẻo da thịt để làm người dân hoảng loạn và sợ hãi. Trong trận chiến tháng Tám năm 1228 với Jalal al-Din, con trai của sultan, bốn trăm tù nhân Mông Cổ rơi vào tay quân địch, và họ biết chắc rằng mình sẽ chết. Những kẻ chiến thắng đưa các chiến binh Mông Cổ tới thành phố Isfahan gần đó, trói họ vào sau lưng ngựa, rồi kéo lê họ trên đường phố để mua vui cho cư dân. Toàn bộ tù nhân Mông Cổ đều chết để tiêu khiển rồi ném cho chó ăn. Bởi sự tra tấn công khai này, quân Mông Cổ không bao giờ tha thứ cho những người dân văn minh của thành phố này, và chúng sau cùng cũng phải trả giá. Một lần khác, khi quân Mông Cổ thua trận, quân Ba Tư chiến thắng đã giết tù nhân bằng cách đóng đinh vào đầu họ, nơi chứa đựng linh hồn theo tín ngưỡng Mông Cổ. Sự kiện này lại tái diễn vào năm 1305, khi sultan của Delhi biến việc giết tù nhân Mông Cổ thành thú vui cho dân chúng bằng cách cho voi giẫm chết họ. Sau đó, ông cho xây một toà tháp làm từ đầu của lính Mông Cổ chết hay bị bắt trong lúc giao tranh.
Các nhà cầm quyền và thủ lĩnh tôn giáo từ Trung Hoa tới châu Âu đều phụ thuộc vào các hình thức ghê rợn này để dùng nỗi sợ điều khiển dân chúng của họ và làm kẻ địch tiềm tàng sợ hãi mà chùn bước. Khi hoàng đế Byzantine theo Ki-tô giáo là Basil đánh bại người Bulgaria vào năm 1014, ông làm mù mắt mười lăm ngàn tù binh Bulgaria. Cứ mỗi một người trong số một trăm người lại được giữ lại một mắt để dẫn chín mươi chín người còn lại về quê hương và từ đó gieo rắc nỗi kinh hoàng. Khi quân Thập tự chinh chiếm các thành phố như Antioch năm 1098 và Jerusalem năm 1099, họ giết người Do Thái và Hồi giáo bất kể tuổi tác hay giới tính chỉ vì tôn giáo của họ.
Hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh Frederick Barbarossa, một trong những anh hùng văn hóa và lịch sử vĩ đại nhất nước Đức, là ví dụ điển hình về việc lợi dụng sự hoảng loạn ở phương Tây. Năm 1160, khi cố chiếm thành Cremona ở vùng Lombard, phía bắc nước Ý ngày nay, ông thực hiện một chuỗi các hành vi với mức độ kinh hoàng ngày càng leo thang. Lính của ông chặt đầu tù nhân và chơi với chúng bên ngoài tường thành, đá chúng như đá bóng. Lính vệ thành Cremona sau đó liền mang tù nhân Đức ra tường thành và kéo đứt chân tay họ trước mặt những người lính đồng hương. Người Đức liền tập hợp thêm tù nhân và treo cổ họ hàng loạt. Quan lại trong thành đáp trả bằng cách treo những người tù còn lại lên nóc tường thành. Thay vì trực tiếp giao chiến, hai bên tiếp tục thực hiện các hành vi ngày càng man rợ. Quân Đức sau đó tập hợp những đứa trẻ bị bắt và trói chúng vào máy lăng đá, vốn thường được dùng để phá tường và cổng thành. Họ dùng những chiếc máy công thành lớn này để ném sống lũ trẻ vào các bức tường.
So sánh với các hành vi đáng sợ của các quân đội văn minh thời kỳ này, quân Mông Cổ không kích thích nỗi sợ hãi bằng các hành vi man rợ hay độc ác, mà bằng tốc độ xâm lược nhanh chóng, và sự khinh bỉ họ dành cho những kẻ giàu có và quyền lực. Quân Mông Cổ vừa tiến về phía đông vừa gieo rắc nỗi sợ hãi, song chiến dịch của họ đáng chú ý vì chuỗi vinh quang chưa từng thấy trước các quân đội hùng mạnh và các thành phố dường như bất khả bại hơn là vì sự khát máu hay độc ác công khai đầy phô trương.
Các thành phố đầu hàng quân Mông Cổ ban đầu thấy họ được đối xử quá hiền lành so với các câu chuyện kinh hoàng đang lan truyền rộng rãi, nên sinh ra nghi ngờ khả năng của quân Mông Cổ ở cả các lĩnh vực khác. Sau khi ra hàng, nhiều thành phố ngoan ngoãn chờ đợi cho tới khi quân Mông Cổ đã đi xa khỏi nước họ, rồi vùng lên khởi nghĩa. Vì quân Mông Cổ chỉ để lại một vài tướng lĩnh kiểm soát và không để lại một đội quân gác thành, dân chúng nhầm tưởng việc quân Mông Cổ rút quân là điểm yếu và cho rằng quân đội chính sẽ không bao giờ quay lại. Với những thành phố này, quân Mông Cổ không có chút khoan nhượng; họ nhanh chóng trở lại và thẳng tay tiêu diệt những kẻ nổi loạn. Một thành phố hoang tàn sẽ không thể nổi dậy lần nữa.
Một trong những vụ thảm sát đẫm máu nhất đã xảy ra với thành phố Nishapur, quê hương của Omar Khayyám. Người dân nổi dậy chống lại quân Mông Cổ, và trong trận chiến diễn ra sau đó, một mũi tên bắn từ trên tường thành đã giết chết Tokuchar, con rể của Thành Cát Tư Hãn. Để trả thù cho cuộc nổi dậy và làm bài học cho các thành phố khác, Thành Cát Tư Hãn cho phép con gái ông, giờ là goá phụ và đang mang thai, được trừng phạt thành phố theo bất kỳ cách nào cô muốn. Cô được cho là đã yêu cầu tất cả phải chết, và vào tháng Tư năm 1221, quân lính ra tay thi hành mệnh lệnh này. Theo các câu chuyện được lan truyền rộng rãi nhưng không được kiểm chứng, cô yêu cầu quân lính chất đầu của dân chúng thành ba tháp riêng biệt – đàn ông, đàn bà và trẻ em. Sau đó, cô được cho là đã ra lệnh giết hết chó mèo và sinh vật sống trong thành phố, để không sinh vật nào được sống sót sau cái chết của chồng cô.
Sự kiện đau buồn nhất với cá nhân Thành Cát Tư Hãn xảy ra trong một trận chiến ở thung lũng xinh đẹp Bamiyan thuộc Afghanistan, nơi hành hương Phật giáo và chứa những pho tượng lớn nhất thế giới. Những tín đồ thời cổ đại đã khắc hình Phật khổng lồ lên sườn núi, và thật khó để đoán người Mông Cổ nghĩ gì về những hình ảnh to lớn này. Trong trận chiến tại đó, một mũi tên đã bắn trúng và giết chết Mutugen, đứa cháu trai còn trẻ tuổi được Thành Cát Tư Hãn rất yêu quý Thành Cát Tư Hãn nghe tin về cái chết của chàng trai trước khi cha cậu, Sát Hợp Đài, được biết. Thành Cát Tư Hãn cho gọi con trai mình, và trước khi báo tin cho ông, yêu cầu Sát Hợp Đài không được khóc hay đau buồn.
Thành Cát Tư Hãn đã nhiều lần khóc một cách công khai mà không cần phải kích động nhiều. Ông đã khóc vì sợ hãi, vì tức giận, và vì đau buồn, nhưng khi phải đối mặt với cái chết của người mà ông yêu quý hơn tất thảy, Thành Cát Tư Hãn không cho phép bản thân hay các con trai mình bộc lộ nỗi đau buồn qua nước mắt hay thương tiếc. Mỗi khi gặp thử thách lớn hay nỗi đau cá nhân, ông dồn nén chúng vào chiến trận. Giết chóc thay vì than khóc. Ông biến nỗi đau thành cơn tức giận trút xuống người dân vùng thung lũng. Không một ai – bất kể giàu nghèo, ngoại hình, người tốt hay xấu – được sống sót. Sau này, tộc người Hazara tới định cư ở thung lũng này. Tên gọi của họ có nghĩa là “một vạn” trong tiếng Ba Tư, và họ tự nhận là hậu duệ của một trong những nhóm lính một vạn người của Thành Cát Tư Hãn.
Dù nhiều thành phố đã bị phá hủy hoàn toàn, con số mà các nhà sử học đưa ra qua các năm không chỉ là được phóng đại hay tưởng tượng ra, mà hoàn toàn vô lý. Các nhà chép sử người Ba Tư ghi chép lại rằng trong trận chiến ở Nishapur, quân Mông Cổ tàn sát 1.747.000 người – một con số chính xác tới choáng váng, vượt qua 1.600.000 người chết ở thành phố Herat. Juzjani, một nhà sử học được coi trọng nhưng cực kỳ căm ghét người Mông Cổ, còn tuyên bố rằng tổng số thương vong ở Herat là 2.400.000 người. Sau này, các học giả thận trọng hơn cho rằng cuộc xâm lược Trung Á của Thành Cát Tư Hãn đã giết chết mười lăm triệu người trong vòng năm năm. Song ngay cả con số khiêm tốn hơn này cũng có nghĩa là mỗi quân lính Mông Cổ phải giết hơn 100 người, hay 350 người với con số phóng đại ở các thành phố khác. Nếu có nhiều người sống ở khu vực thành thị của Trung Á tới như vậy, họ đã có thể dễ dàng đánh bại quân Mông Cổ xâm lược.
Dù được coi là sự thật và lặp đi lặp lại qua các thế hệ, các con số này hoàn toàn không có căn cứ xác thực. Để giết được ngần ấy bò hay lợn về mặt thể lực cũng đã rất khó khăn, mà những con vật này còn bị động chờ tới lượt. Nhìn chung, số những người được cho là đã bị giết nhiều gấp năm mươi lần số quân Mông Cổ. Họ chỉ cần bỏ chạy, và quân Mông Cổ sẽ không thể cản họ lại. Quá trình xem xét di tích bỏ hoang của các thành phố bị quân Mông Cổ chinh phục cho thấy con số thật sự hiếm khi vượt quá một phần mười số thương vong được ghi chép lại. Khu vực sa mạc khô cằn ở đây lưu giữ xương cốt suốt hàng trăm, thậm chí hàng ngàn năm, song không có nơi nào có lưu lại dấu vết của hàng triệu người được cho là đã bị quân Mông Cổ tàn sát.
Sẽ hợp lý hơn nếu miêu tả Thành Cát Tư Hãn là người phá hủy các thành phố thay vì là kẻ giết người đẫm máu, bởi ông thường san bằng cả một thành phố vì nguyên nhân chiến lược, cũng như để trả thù hay gây hoảng loạn. Để tái cấu trúc dòng chảy hàng hóa ở Trung Á – một nỗ lực trên diện rộng và vô cùng thành công – ông đã phá hủy các thành phố trên các tuyến đường ít quan trọng hay khó qua lại hơn, để dồn việc giao thương vào các tuyến đường nơi quân của ông có thể dễ dàng kiểm tra và giám sát. Để ngăn hàng hóa đi qua một khu vực, ông phá hủy cả thành phố tới những viên gạch cuối cùng.
Bên cạnh việc phá hủy có tổ chức một số thành phố, ông cũng làm giảm số dân trên một diện tích đất lớn bằng cách từ từ phá hủy hệ thống tưới tiêu. Không có nước tưới, dân làng và nông dân phải rời đi, và ruộng đồng quay trở lại thành đất chăn thả. Điều này tạo ra nhiều vùng đất rộng rãi được để dành cho bầy gia súc đi cùng quân đội, và làm dự trữ cho các chiến dịch trong tương lai. Giống như khi ông đào xới vùng đất nông nghiệp trước khi rời miền Bắc Trung Hoa để trở về Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn luôn muốn có một khoảng đất thoáng đãng để lui hay tiến quân, nơi quân đội của ông luôn có thể tìm được đủ đồng cỏ cho bầy ngựa và các loài vật khác, bởi thắng lợi của họ phụ thuộc vào chúng.
*
Sau bốn năm chinh chiến ở Trung Á, Thành Cát Tư Hãn đã bước vào tuổi lục tuần. Ông đứng trên đỉnh cao của quyền lực, không có bất kỳ kẻ địch nào từ trong nội bộ bộ lạc, hay hiểm nguy từ kẻ địch bên ngoài. Thế nhưng, trái ngược với thành công vang dội trên chiến trường, ngay từ khi ông còn sống, gia đình ông đã bắt đầu có dấu hiệu tan vỡ. Thành Cát Tư Hãn để lại quê nhà Mông Cổ cho em trai út, Thiết Mộc Cách Otchigen, và đưa cả bốn con trai ông ra trận ở Trung Á. Ông hi vọng rằng chúng sẽ không chỉ học được cách trở thành các chiến binh giỏi, mà còn biết sống và cùng làm việc với nhau. Khác với nhiều nhà chinh phục tin rằng họ là thánh thần, Thành Cát Tư Hãn biết rõ rằng ông không bất tử, và ông muốn chuẩn bị đế quốc của mình cho một cuộc chuyển giao quyền lực. Theo truyền thống trên thảo nguyên, mỗi con trai trong một gia đình chăn gia súc nhận được vài con thú của gia đình, cũng như được sử dụng một phần đất chăn thả. Tương tự như vậy, Thành Cát Tư Hãn muốn cho mỗi con trai một phần nhỏ của đế quốc tương ứng – một cách hợp lý – với số của cải trù phú của cả vương quốc. Mỗi đứa con trai sẽ là hãn của rất nhiều người dân cũng như gia súc trên thảo nguyên, đồng thời sở hữu một phần lớn lãnh thổ với nhiều thành phố, công xưởng, và đồng ruộng ở vùng định cư. Song, một người con trai sẽ đứng trên ba người kia, trở thành Khắc hãn quản lý triều đình trung ương, đưa ra lời phán xét cuối cùng, và cùng với ba người anh em còn lại chịu trách nhiệm ngoại giao, đặc biệt là trong vấn đề gây chiến tranh. Hệ thống này phụ thuộc vào tài năng và sự tự nguyện của các anh em để cùng làm việc và hợp tác với nhau dưới sự lãnh đạo của Khắc hãn.Ngay cả trước khi ông lên đường ra trận ở Khwarizm, kế hoạch này đã vấp phải trở ngại. Dù nhắc tới hay chuẩn bị cho cái chết bị coi là cấm kỵ, ông vẫn đã triệu tập một buổi hốt lý đài để bàn luận vấn đề này. Buổi gặp mặt trở thành một trong những sự kiện quan trọng nhất lịch sử Mông Cổ, bởi nó hội tụ mọi mối thù trong quá khứ và tiên đoán sự tan vỡ của đế quốc của ông sau này.
Bên cạnh các con trai, Thành Cát Tư Hãn cũng mời cả những người thân tín nhất tham gia buổi hội nghị, bởi ông cần được họ đồng thuận và hỗ trợ để đảm bảo việc truyền ngôi sau khi qua đời. Khi buổi họp bắt đầu, hai người con trai trưởng, Truật Xích và Sát Hợp Đài, đều có vẻ căng thẳng như bẫy thép sắp sập. Nếu Oa Khoát Đài xuất hiện đúng với tính cách của mình, chắc hẳn ông đã uống vài ly và ngà ngà say, dù sẽ không say khướt trước mặt cha mình. Đà Lôi, cậu con trai út, giữ im lặng và dường như đã biến mất giữa các nếp vải lều, để các anh trai chiếm lĩnh sân khấu chính.
Thành Cát Tư Hãn mở đầu buổi hốt lý đài bằng việc giải thích việc chọn người kế vị. Ông nói rằng “nếu các con trai ta đều muốn làm Hãn, làm người cai trị mà không chịu hỗ trợ lẫn nhau, chẳng phải sẽ giống như câu chuyện ngụ ngôn về rắn một đầu và rắn nhiều đầu sao.” Theo câu chuyện ngụ ngôn này, khi mùa đông đến, đầu của con rắn tranh cãi lẫn nhau về việc chúng nên trốn vào trong cái lỗ nào để tránh gió lạnh và tuyết. Khi đầu này muốn đi vào một cái lỗ và trườn về hướng đó, những cái đầu còn lại lại kéo về các hướng khác. Con rắn còn lại – có nhiều đuôi nhưng chỉ một đầu – đi thẳng tới một cái lỗ và được sưởi ấm cả mùa đông, trong khi con rắn với nhiều đầu thì chết cóng.
Sau khi giải thích tầm nghiêm trọng và bức thiết của vấn đề, Thành Cát Tư Hãn yêu cầu con trai cả Truật Xích mở lời về vấn đề nối ngôi. Thứ tự chỗ ngồi, đi lại, nói chuyện, và ăn uống đều mang ý nghĩa biểu tượng lớn với người Mông Cổ, kể cả tới ngày nay. Khi đặt ra trình tự nói này, Thành Cát Tư Hãn công khai nhấn mạnh rằng Truật Xích là con trai cả của ông, và bởi vậy là người có tiềm năng nối ngôi nhất. Nếu những người con trai còn lại chấp nhận trình tự này, có nghĩa là họ chấp nhận rằng Truật Xích có vị trí chính thống cao hơn mình.
Sát Hợp Đài, con trai thứ, từ chối bỏ qua suy nghĩ này một cách dễ dàng. Trước khi Truật Xích có thể đáp lời cha, Sát Hợp Đài nói rất to: “Khi cha bảo Truật Xích nói,” ông hỏi cha mình, “có phải cha nói huynh ấy hãy kế vị?” Sau đó ông bật ra câu hỏi tu từ mang tính khẳng định về xuất thân đáng ngờ của Truật Xích – dù Thành Cát Tư Hãn ra sức phủ định. Truật Xích ra đời bốn mươi năm trước, song quá sớm sau khi Bột Nhi Thiếp được giải thoát khỏi tay những kẻ bắt cóc người Miệt Nhi Khất. “Sao chúng ta có thể để thằng con hoang Miệt Nhi Khất này cai trị mình được?” Sát Hợp Đài chất vấn cha và các anh em mình.
Truật Xích nổi giận khi bị em trai gọi là con hoang. Ông gầm lên, lao sang bên kia lều, và túm lấy cổ áo Sát Hợp Đài. Hai anh em lao vào ẩu đả. Theo Bí sử, một người cố vấn đã nói những lời thấu tâm can để nhắc nhở Sát Hợp Đài rằng cha ông yêu thương và tôn trọng ông nhiều thế nào; song những lời này có lẽ đã do chính Thành Cát Tư Hãn nói ra, và Bí sử chỉ muốn giữ thể diện cho vị hãn. Bằng những từ ngữ đầy đau đớn, người cha van nài rằng các con trai ông hãy hiểu rằng ngày trước, trước khi họ ra đời, mọi chuyện rất khác: thảo nguyên lúc nào cũng chìm trong sợ hãi, láng giềng đánh lẫn nhau, và không ai được an toàn. Chuyện xảy ra với mẹ họ khi bị bắt cóc không phải lỗi của bà: “Mẹ các con không bỏ nhà đi… Bà ấy không yêu người đàn ông khác. Bà bị những kẻ có dã tâm giết chóc bắt đi.”
Thành Cát Tư Hãn nhẹ nhàng cầu khẩn các con nhớ rằng dù hoàn cảnh khi họ sinh ra có khác nhau, họ đều ra đời “từ cùng một bụng mẹ ấm nồng,” và “nếu các con xúc phạm mẹ mình, người dùng cả trái tim để cho các con sự sống, nếu các con làm tình yêu của mẹ nguội lạnh, kể cả nếu sau đó các con nói lời xin lỗi, thì mọi sự đều đã rồi.” Người cố vấn nhắc nhở các hoàng tử rằng cha mẹ họ đã rất vất vả để kiến tạo quốc gia mới này, và ông kể ra những gì mà hai người đã phải hi sinh để tạo ra một thế giới tốt đẹp hơn cho các con trai mình.
Sau cảnh tượng dài, đầy cảm xúc này, Thành Cát Tư Hãn biết rằng ông không thể ép buộc các con theo một lựa chọn, bởi họ sẽ không tuân theo sau khi ông qua đời. Ông phải đàm phán một thỏa hiệp mà tất cả đều đồng thuận. Ông sử dụng đặc quyền giới hạn của một người cha và nói rằng ông coi Truật Xích là con trai cả của mình, và yêu cầu tất cả chấp nhận đây là sự thật và không bao giờ được nghi ngờ gốc gác của người anh nữa.
Sát Hợp Đài tuân lệnh cha, nhưng khẳng định rằng ngay cả khi nghe lời ông, lời nói suông không phải là sự thật. Sát Hợp Đài cười ngạo mạn và nói rằng “thú vật giết bằng miệng không thể chất được lên ngựa. Thú vật giết bằng lời không thể bị lột da.” Bề ngoài thì các hoàng tử đều công nhận vị trí chính thống của Truật Xích, chừng nào cha họ còn sống; nhưng trong lòng thì họ sẽ không bao giờ làm vậy. Song, công nhận Truật Xích là con trai cả không có nghĩa là ông sẽ được thừa kế ngôi vị Khắc hãn, bởi một vị trí quan trọng như vậy phải phụ thuộc vào khả năng và sự ủng hộ của mọi người, không phải dựa trên tuổi tác.
Vì đã làm cha nổi giận, Sát Hợp Đài biết rằng cha ông sẽ không để ông thừa kế ngôi vị Khắc hãn, nhưng ông vẫn không muốn Truật Xích có được nó. Vậy nên Sát Hợp Đài đưa ra một thỏa hiệp – có thể là bất chợt, song cũng có thể đã được các em trai đồng ý từ trước. Ông nói rằng cả ông và Truật Xích đều không nên trở thành Hãn; thay vào đó, vị trí này nên dành cho người con trai thứ ba hiền lành, tốt bụng và nghiện rượu Oa Khoát Đài.
Không còn lựa chọn nào khác ngoài gây chiến, Truật Xích chấp thuận thỏa hiệp này và ủng hộ Oa Khoát Đài nối ngôi. Sau đó, Thành Cát Tư Hãn chia đất và gia súc cho các con bằng cách mà các bậc phụ huynh vẫn làm khi các con có tranh cãi: ông chia tách Truật Xích và Oa Khoát Đài. “Mẹ Trái đất rất rộng lớn, sông ngòi và biển cả khắp nơi bạt ngàn. Hãy đặt trại xa nhau và tự cai trị vương quốc của riêng mình. Ta sẽ đảm bảo các con ở cách xa nhau.” Sau đó ông cảnh báo các con hãy hành xử sao để người đời không cười cợt hay chế giễu họ.
Các học giả Hồi giáo phục vụ cho triều đình Mông Cổ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ghi chép lại sự kiện này, bởi với họ danh dự của một người đàn ông phụ thuộc vào khả năng kiểm soát tình dục của những người phụ nữ xung quanh ông ta. Việc con trai của một người quyền lực như Thành Cát Tư Hãn lại là con của một người đàn ông khác, hay thậm chí chỉ là lời cáo buộc của chính các con ông, là điều không thể tưởng tượng được. Không như Bí sử, do người Mông Cổ viết và ghi chép đầy đủ về cuộc cãi vã trong gia đình này, nhà chép sử Ba Tư đầu tiên Juvaini hoàn toàn bỏ qua mâu thuẫn này trong ghi chép của ông, và biến buổi hốt lý đài thành buổi gặp mặt yên bình không sóng gió, và tất cả đều đồng lòng. Trong phiên bản của ông, Thành Cát Tư Hãn nói đầy thuyết phục về các phẩm chất đáng ngưỡng mộ của Oa Khoát Đài, và tất thảy các con ông đều đồng ý. Các con ông vâng lời “quỳ xuống lịch sự thể hiện lòng trung thành và sự phục tùng, và trả lời một cách ngoan ngoãn ‘Nào ai dám chống đối lại lời Thành Cát Tư Hãn, nào ai có khả năng bác bỏ chúng?’… Các anh em của Oa Khoát Đài nghe lệnh ông và ghi chép lại lời tuyên bố của mình.”
Rashid al-Din giữ thêm chút khoảng cách với các sự kiện đã xảy ra, và lời kể của ông chân thật hơn một chút, song bản ghi chép của ông bỏ trống những phần quan trọng có tính xúc phạm danh dự của Thành Cát Tư Hãn hay vợ ông. Ông viết rằng “bởi[…], con đường hòa hợp giữa cả hai bên đã bị giẫm nát từ hai phía,” nhưng những thành viên tử tế của gia đình “không bao giờ nói những lời châm chọc đó, song tin rằng chúng là sự thật.” Dù những phần bỏ trống là do chính Rashin al-Din viết hay do những nhà biên soạn sao chép lại về sau, chúng cho thấy tầm quan trọng về xuất thân của Truật Xích về mặt biểu tượng và chính trị suốt nhiều thế hệ kế tiếp.
Tới cuối buổi họp gia đình căng thẳng giữa Thành Cát Tư Hãn và các con trai, có lẽ không ai biết rằng buổi gặp mặt này sẽ có ảnh hưởng sâu rộng tới mức nào. Trong buổi hốt lý đài gia đình này, cách những người chiến thắng chia cắt thế giới là điềm báo cho Hội nghị Vienna* sau Chiến tranh Napoleon, Hội nghị Versailles* sau Thế chiến I, và buổi họp của phe Đồng minh ở Yalta và Potsdam* sau Thế chiến II.
Tuy được nhắc tới nhiều lần trong buổi họp hoàng tộc nhưng Bột Nhi Thiếp lại vắng mặt, dù bà được cho là vẫn còn sống. Không ai biết liệu bà có biết chuyện xảy ra giữa các con trai mình không, và không có thông tin xác thực nào về những gì đã xảy ra với bà. Dân gian kể lại rằng khi đó và vẫn sống trên vùng thảo nguyên xinh đẹp Avarga bên sông Kherlin, cách nơi bà và chồng đã sống khi mới cưới chỉ vài ngày đường. Bà có lẽ đã qua đời ở quanh khu vực này vào khoảng giữa năm 1219 và năm 1224.
*
Sự kiện đáng buồn này ám ảnh những năm tháng còn lại của cuộc đời Thành Cát Tư Hãn, và đặc biệt là trong chiến dịch ở vùng Trung Á. Cuộc tranh đấu giữa các con trai ông khiến ông nhận ra rằng ông còn rất nhiều việc phải làm để bảo toàn vương quốc sau khi qua đời. Các con trai ông không thể đáp ứng được những gì đế quốc cần. Để theo đuổi mục tiêu vĩ đại là thống nhất các bộ lạc và dẹp tan mọi mối nguy quanh mình, ông chưa bao giờ quan tâm tới các con trai mình đúng mực. Giờ đây họ đã gần tới tuổi trung niên, nhưng vẫn là những người đàn ông thiếu kinh nghiệm. Vì không tin tưởng chính họ hàng mình, mà suốt cuộc đời lại phụ thuộc vào những người thân tín và bạn bè từ thuở niên thiếu, ông đã không xây dựng mối quan hệ với các con mình hay đào tạo chúng để thay thế ông.Suốt những năm tháng cuối đời, Thành Cát Tư Hãn cố gắng trong vô vọng để hàn gắn mối quan hệ giữa Truật Xích và Sát Hợp Đài. Ông yêu cầu họ cùng ra trận tấn công thành Urgench, cố đô của sultan 3 phía nam biển Aral. Căng thẳng âm ỉ giữa hai anh em suýt khiến họ đánh lẫn nhau trong cuộc bao vây. Cả hai đều biết rằng theo luật phụ hệ, thành phố này sẽ thuộc về Truật Xích. Do vậy, họ không thống nhất được chiến thuật hạ thành. Truật Xích nghi ngờ rằng em trai mình muốn phá hủy thành phố hoàn toàn, bởi Urgench sẽ thuộc về ông. Trong khi đó, Sát Hợp Đài lại cho rằng Truật Xích sẽ vì lòng tham của mình mà cố gắng bảo vệ các toà nhà và công trình của thành phố, kể cả khi phải hi sinh nhiều quân lính Mông Cổ hơn nữa.
Trong khi phần lớn các thành phố thất thủ chỉ trong vài ngày hay vài tuần, quân Mông Cổ mất tới tận sáu tháng – một điều chứa từng thấy – để chiếm thành Urgench. Lính thủ thành đã chiến đấu rất dũng mãnh. Ngay cả khi quân Mông Cổ đã phá được thành, quân lính vẫn chiến đấu trong từng căn nhà. Không muốn phải chiến đấu bên trong những bức tường chật chội của một thành phố đã gần như sụp đổ, quân Mông Cổ đốt trụi cả thành. Quân lính vẫn tiếp tục giao chiến từ giữa đống tro tàn. Sau cùng, quân Mông Cổ xây một chiếc đập, chuyển hướng dòng chảy của sông để làm ngập thành, giết hết những người lính còn sót lại và phá hủy gần như những gì còn trong thành. Urgench không bao giờ tái sinh, và dù nó thuộc về Truật Xích, ở đó không còn gì để ông và con cháu có thể cai trị.
Việc các con ông tranh cãi đã làm Thành Cát Tư Hãn nổi giận. Ông triệu tập họ, không cho họ nhập cung trong một khoảng thời gian ngắn, và rồi khi cho phép họ vào thì vừa mắng nhiếc và trách móc, vừa cầu xin họ. Đây là khoảng thời gian nhiều câu nói và hội thoại của Thành Cát Tư Hãn được ghi lại nhất, và chúng cho thấy ông ngày càng quan tâm tới gia đình nhưng lại đang dần mất khả năng kiểm soát họ. Trong suốt một thời gian dài ông đã không để tâm tới việc giáo dục các con trai mình, và giờ ông lại muốn dạy họ mọi thứ cùng một lúc, để rồi gặp khó khăn trong việc truyền đạt các bài học và tư tưởng mà ông đã học và hiểu được nhưng chưa từng biểu đạt rõ ràng. Ông quen với việc ra lệnh, chứ không phải giải thích.
Ông cố gắng dạy họ rằng chìa khoá số một của một người lãnh dạo là khả năng tự kiểm soát, nhất là khả năng làm chủ lòng tự tôn và sự nóng giận – điều được ông giải thích rằng còn khó khăn hơn việc khuất phục sư tử hoang hay đánh bại đô vật vĩ đại nhất. Ông cảnh báo họ rằng “nếu con không biết kìm nén lòng tự tôn thì sẽ không thể lãnh đạo được.” Ông nhắc nhở rằng họ không bao giờ được cho mình là người khỏe nhất hay thông minh nhất. Ông cảnh báo rằng ngay cả ngọn núi cao nhất cũng có thú vật giẫm lên. Khi chúng leo tới đỉnh núi, chúng còn cao hơn cả ngọn núi.
Thuận theo truyền thống kiệm lời của người Mông Cổ, ông dặn các con không được nói quá nhiều. Chỉ nói khi cần. Một người lãnh đạo nên thể hiện suy nghĩ và ý kiến của mình qua hành động chứ không phải lời nói. “Ông ta chỉ có thể hạnh phúc khi dân chúng hạnh phúc.” Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của tầm nhìn, mục tiêu, và kế hoạch. Ông nói với họ rằng: “Nếu không có tầm nhìn hướng tới mục tiêu, một người sẽ không thể tự lo cho cuộc sống của mình chứ đừng nói tới của những người khác.”
Nhiều suy nghĩ của ông có phần mâu thuẫn lẫn nhau. Ông vừa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm lấy quyền cai trị, vừa truyền đạt lời dạy bảo thủ rằng “tầm nhìn không nên quá xa rời lời dạy của các đấng phụ lão.” Ông giải thích rằng “cái áo chẽn (deel) cũ bao giờ cũng vừa vặn và thoải mái hơn, và còn chịu đựng được cuộc sống khó khăn trong rừng rậm, trong khi một chiếc deel mới nguyên chẳng mấy chốc sẽ rách.” Bản thân là người điều độ và có lối sống giản dị, Thành Cát Tư Hãn cảnh báo các con không được theo đuổi cuộc sống “lòe loẹt” với các thú vui vật chất và ham mê lãng phí. Ông nói: “Con người ta rất dễ quên đi tầm nhìn và mục đích một khi đã có quần áo sang trọng, ngựa nhanh và đàn bà đẹp.” Khi đó “con sẽ chẳng khác gì một tên nô lệ, và rồi chắc chắn sẽ mất mọi thứ.”
Một trong những bài học quan trọng nhất ông để lại là việc chinh phục một đội quân không giống với chinh phục một quốc gia. Ông có thể dùng chiến thuật và binh lính ưu việt để hạ gục một đội quân, nhưng một đất nước chỉ có thể được thuần phục khi lòng dân ưng thuận. Nghe thì có vẻ duy tâm, nhưng ông sau đó còn đưa ra một lời khuyên thực tế hơn: tuy Đế chế Mông Cổ cần thống nhất, nhưng dân chúng không bao giờ nên được hợp nhất: “Những người thua cuộc ở những bờ hồ khác nhau nên được cai trị ở những bờ hồ riêng biệt.” Như nhiều lời dạy khác, các con cháu ông cũng bỏ qua lời căn dặn này.
*
Mùa hè năm Nhâm Ngọ 1222, cuộc chinh phục của quân Mông Cổ dừng lại ở thành Multan, nằm ở trung tâm Pakistan ngày nay. Trước đó, Thành Cát Tư Hãn đã hành quân từ những rặng núi ở Afghanistan xuống vùng đồng bằng sông Ấn, và ông dự định sẽ tiếp tục chiếm vùng Bắc Ấn Độ, vòng qua phía nam dãy Himalaya, và quay về hướng bắc về lãnh thổ của nhà Tống ở Trung Hoa. Kế hoạch này phù hợp với tư tưởng của người Mông Cổ rằng đường về không nên là đường đã đi qua. Tuy nhiên, địa hình và khí hậu đã cản bước chân ông. Ngay khi quân Mông Cổ rời khỏi vùng núi khô và lạnh, cả người và ngựa đều suy yếu và mắc bệnh. Nghiêm trọng hơn nữa, cung tên của họ, vốn quen với khí hậu lạnh khắc nghiệt và cái nóng của vùng thảo nguyên quê hương cũng bị khí hậu ẩm làm yếu đi, và dường như đã mất có khả năng bắn chuẩn xác – điều làm nên tiếng tăm thiện xạ của quân Mông Cổ. Trước những chướng ngại này, Thành Cát Tư Hãn quay trở lại vùng núi vào tháng Hai, và dù vô số tù nhân đã phải bỏ mạng khi dọn tuyết làm đường đi, ông đã đưa được quân đội của mình tới vùng đất lạnh và thoải mái hơn. Ông để lại hai tumen, khoảng hai vạn lính, để tiếp tục chiến dịch ở Ấn Độ, song khi mùa hè tới, quân số suy giảm vì bệnh dịch và cái nóng đã nhiều tới nỗi những người còn sống sót rút quân và rệu rã quay về vùng đất lành ôn hòa ở Afghanistan.Dù phải từ bỏ Ấn Độ, chiến dịch đã đạt được các mục tiêu chính: hạ gục đế quốc Khwarizm, sáp nhập Trung Á và phần lớn vùng Trung Đông vào Đế chế Mông Cổ. Trước khi rời những vùng đất mới chiếm được, Thành Cát Tư Hãn mở tiệc ăn mừng cùng cuộc đi săn có lẽ là lớn nhất trong lịch sử. Vào mùa đông các năm 1222-1223, trong lúc chuẩn bị, người của ông rào lại một khoảnh đất lớn bằng cách cắm cọc xuống đất và dùng lông ngựa dài nối chúng lại. Họ treo các mảnh da lên trên dây, và khi gió thổi – có nghĩa là gần như mọi lúc – thú vật sẽ sợ hãi mà bỏ chạy vào phần trung tâm mảnh đất. Tới giờ hẹn, các toán lính sẽ tụ lại ở đây từ nhiều hướng khác nhau. Hàng vạn quân lính tham gia cuộc săn bắn kéo dài hàng tháng trời này. Họ thu thập đủ loại động vật, từ thỏ và chim chóc tới cả đàn lớn linh dương và lừa.
Cuộc đi săn một phần là để ăn mừng, song dường như Thành Cát Tư Hãn cũng muốn lợi dụng tính chất thư giãn cùng những màn giải trí sau đó để hàn gắn mối quan hệ giữa các con trai mình, làm dịu cái nóng giận trên chiến trường, và chấm dứt chiến dịch trên tinh thần hợp tác. Truật Xích khi đó vừa đau khổ vì các em mình, vừa có vẻ như cũng đã bị cha minh xa lánh, đã cáo ốm và từ chối ra mặt ngay cả khi Thành Cát Tư Hãn trực tiếp cho gọi. Quan hệ cha con suýt biến thành một cuộc giao tranh, bởi Thành Cát Tư Hãn nghe tin rằng Truật Xích dù đang cáo bệnh đã tổ chức nhiều cuộc thi săn bắn để người của ông ăn mừng.
Hai cha con không bao giở gặp lại nhau. Truật Xích không quay về Mông Cổ mà ở lại vùng lãnh thổ mới chiếm được. Ông qua đời không lâu sau đó, trong hoàn cảnh cũng bí ẩn như chính cách ông ra đời. Vì ông mất khi Thành Cát Tư Hãn vẫn còn sống, có tin đồn rằng Thành Cát Tư Hãn đã giết Truật Xích để đảm bảo hòa bình chính trị giữa các con và trong nội bộ Đế chế Mông Cổ; nhưng như nhiều phần khác trong lịch sử Mông Cổ, các tin đồn lan truyền mà không có bất kỳ chứng cứ xác thực nào.
Tuy nội bộ gia đình Thành Cát Tư Hãn có lục đục, nhưng với phần lớn người dân Mông Cổ, việc quân đội trở về đánh dấu một đỉnh cao trong cuộc đời họ. Tinh thần đắc thắng của cuộc săn bắn kéo dài suốt cả chặng đường hành quân về Mông Cổ, và ở đây tâm trạng tự hào và thắng lợi đã bùng nổ thành một bữa tiệc chào mừng thắng lợi vô cùng hân hoan, được gọi là naadam. Hàng đoàn xe chở tù nhân đi trước đội quân chính của Thành Cát Tư Hãn. Suốt gần năm năm sau đó, các đoàn xe lạc đà chở hàng bao tải chiến lợi phẩm liên tục đi từ miền đất Hồi giáo tới Mông Cổ, nơi người dân nóng lòng chờ đợi những món hàng xa xỉ quý hiếm này. Con gái Mông Cổ vốn thường ngày vắt sữa dê và bò Tây Tạng giờ mặc trang phục lam từ lụa và vàng, còn sữa động vật thì do những người hầu mới vắt. Những người già vốn hiếm khi nhìn thấy kim loại trong suốt thời niên thiếu giờ thái thịt bằng dao khảm thép Damascus với chuôi làm từ ngà voi chạm trổ, và họ ăn airak trong bát bạc trong lúc lắng nghe các nhạc công ca hát.
Dù đã trở lại vùng đất ông hằng yêu thương, Thành Cát Tư Hãn chỉ dừng bước nghỉ chân trong thoáng chốc trước khi lên dường bắt đầu một chiến dịch mới. Có lẽ ông biết rằng mình đã đến tuổi gần đất xa trời và không có thời gian dừng lại, hoặc có lẽ ông nhận ra rằng đế quốc của ông phụ thuộc vào các cuộc xâm lược không ngừng nghỉ. Nếu dừng lại, lục đục phe phái trong gia đình ông sẽ có thể hủy hoại cả đế quốc. Bức thiết hơn nữa, người dân của ông có lẽ giờ đây đã quen với nguồn cung hàng hóa ổn định. Họ sẽ không tự nguyện chấp nhận quay về với những món đồ đạm bạc mà ông có thời niên thiếu. Để thỏa mãn ham muốn này, ông phải tiếp tục tiến hành các chiến dịch mơi.
Ông tiến hành chiến dịch cuối cùng của cả cuộc đời mình chống lại người Đảng Hạng, kẻ thù ngoại lai đầu tiên mà ông đã tấn công vào năm 1207, một năm sau khi Đế chế Mông Cổ thành lập. Dù họ đã đầu hàng ngay tức khắc, Thành Cát Tư Hãn vẫn giữ mối thù dai dẳng rằng họ đã không gửi quân cùng xâm lược Khwarizm. Vua Đảng Hạng kiêu ngạo gửi lời nhắn rằng nếu Thành Cát Tư Hãn không thể tự mình đánh bại Khwarizm, thì ông không nên ra trận làm gì. Dù tức tối, Thành Cát Tư Hãn vẫn quyết định trước mắt cần tập trung vào chiến dịch ở Khwarizm; nhưng một khi đã xong, ông lại quay lại chuyện với người Đảng Hạng. Một lần nữa đưa quân về hướng nam, gần như chắc chắn rằng ông đã có kế hoạch cho một chiến dịch lớn nữa, mở đầu bằng cuộc chiến với người Đảng Hạng. Có lẽ ông đã định lập căn cứ ở vương quốc Đảng Hạng rồi tiến về phía nam tới mục tiêu cuối cùng là nhà Tống, phần thưởng đã thoát khỏi đội quân mà ông để lại để giao chiến ở bắc Trung Hoa khi ông xâm lược Khwarizm.
Trong mùa xuân năm 1226-1227, trên đường vượt sa mạc Gobi để gây chiến với người Đảng Hạng, Thành Cát Tư Hãn dừng chân để săn ngựa hoang. Con ngựa xám ánh đỏ ông cưỡi đã nhảy tránh khi bầy ngựa hoang lao tới, và ném Thành Cát Tư Hãn xuống đất. Mặc cho nội thương, một cơn sốt nặng, và lời khuyên đầy lo lắng của người vợ Yesui, Thành Cát Tư Hãn từ chối quay về nhà và tiếp tục chiến dịch. Dù sức khỏe không bao giờ hồi phục sau tai nạn, ông vẫn tiếp tục lên đường tấn công vị vua Đảng Hạng. Tình cờ thay, tên của vị vua này là Burkhan, có nghĩa là “Chúa trời,” như tên ngọn núi thần Burkhan Khaldun. Cái tên này linh thiêng với Thành Cát Tư Hãn tới nỗi khi ông đã đánh bại được vị vua này, ông ra lệnh đổi tên ông ta trước khi tử hình.
Sáu tháng sau, chỉ vài ngày trước thắng lợi hoàn toàn trước người Đảng Hạng, Thành Cát Tư Hãn qua đời. Bí sử tuyên bố rõ ràng rằng ông mất vào cuối mùa hè, song dù cuốn sách miêu tả kỹ càng từng con ngựa mà ông cưỡi, nó lại đột nhiên không nhắc tới hoàn cảnh khi ông qua đời. Các nguồn khác nói rằng khi ông mất, bà Yesui – người vợ Tatar của ông – đã chuẩn bị xác chết để chôn cất một cách giản dị đúng như cách mà Thành Cát Tư Hãn đã sống. Những người hầu làm sạch xác và mặc cho ông một tấm áo choàng trắng trơn, giày da và mũ, rồi bọc xác trong một tấm chăn da thuộc trắng độn gỗ đàn hương, loại gỗ thơm quý giá có thể xua đuổi côn trùng và ướp mùi thơm dễ chịu cho xác. Họ buộc ba dây buộc vàng quanh cỗ quan tài da này.
Vào ngày thứ ba, đoàn người tiến về Mông Cổ, chở theo di hài vị Khắc hãn trên chiếc xe kéo mộc mạc. Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn dẫn đường cho những người khóc thương, theo sau là một nữ thầy pháp, và sau bà ta là một con ngựa lỏng cương và bộ yên không người cưỡi của Thành Cát Tư Hãn.
*
Khó có thể đoán biết được suy nghĩ của Thành Cát Tư Hãn về hình tượng ông để lại cho thế giới. Chỉ duy nhất ghi chép của Minhaj al-Siraj Juzjani, người nói rằng Thành Cát Tư Hãn bị nguyền rủa và miêu tả cái chết của ông là chuyến đi xuống địa ngục, cho ta một gợi ý nhỏ về cách ông nhìn nhận bản thân mình. Juzjani ghi lại một câu chuyện về cuộc trò chuyện của một imam* Hồi giáo với nhà xâm lược tai tiếng. Vị imam này phục vụ trong triều đình của Thành Cát Tư Hãn, và được vị Hãn Mông Cổ đặc biệt yêu thích – chí ít là dựa theo lời khoe khoang của ông ta. Một ngày, trong lúc nói chuyện, Thành Cát Tư Hãn được cho là đã nói rằng: “Ta sẽ để lại một tên tuổi lừng lẫy cho thế giới này.”Vị imam dè dặt nói với Thành Cát Tư Hãn rằng ông đang tàn sát nhiều người tới nỗi có thể sẽ không còn ai sống sót để nhớ tới tên tuổi ông nữa. Vị hãn không thích câu trả lời này, và nói với thầy tu rằng: “Ta đã nhận ra rằng [ngươi] không hoàn toàn hiểu chuyện, và hiểu biết [của ngươi] thật nhỏ bé. Thế giới này có rất nhiều vị vua,” ông giải thích. Về tiếng tăm của ông trong tương lai, ông nói thêm rằng có rất nhiều người ở những nơi khác trên thế giới với rất nhiều vua chúa và vương quốc khác. Ông tự tin tuyên bố: “Họ sẽ kể lại câu chuyện của ta!”
Chúng ta có được một cái nhìn hiếm có và hữu dụng hơn vào tâm trí của Thành Cát Tư Hãn và cách ông nhìn nhận bản thân vào cuối đời qua bức thư Thành Cát Tư Hãn gửi một đạo sĩ ở Trung Hoa, được các đồ đệ của vị đạo sĩ già này sao chép lại. Nếu Bí sử chủ yếu ghi lại các hành động và lời truyền miệng, lá thư này lại viết về nhận định của Thành Cát Tư Hãn về chính mình. Dù chúng ta chỉ có được bản do một nhà chép sử – khả năng cao là một trong những người Khiết Đan đồng hành cùng quân Mông Cổ – ghi lại bằng tiếng Trung Hoa cổ, cảm nhận và nhận định của Thành Cát Tư Hãn vẫn được biểu đạt khá rõ ràng.
Giọng điệu của ông đơn giản, rành mạch, và thuận theo lý lẽ thông thường. Ông cho rằng kẻ thù của ông thua trận là vì thiếu khả năng, chứ không phải vì tài cán vượt trội của ông: “Bản thân ta không có tài năng gì xuất sắc.” Ông nói rằng Thanh thiên Vĩnh hằng đã trừng phạt các nền văn minh xung quanh ông bởi “sự kiêu ngạo và xa hoa của chúng.” Dù đã có được rất nhiều tài sản và quyền lực, ông vẫn tiếp tục sống cuộc sống giản dị: “Ta mặc cùng một loại trang phục và ăn cùng một món ăn với những người chăn bò và ngựa. Chúng ta hi sinh như nhau, và cùng chia sẻ của cải.” Ông đánh giá lý tưởng của mình một cách đơn giản: “Ta căm ghét sự xa hoa,” và “Ta sống điều độ.” Ông cố gắng đối xử với người dân như với con mình, và coi nhân tài như huynh đệ bất kể xuất thân của họ. Ông miêu tả mối quan hệ với các quan lại dưới quyền mình là thân thiết và dựa trên sự tôn trọng: “Chúng ta luôn có những chuẩn mực giống nhau, và yêu quý lẫn nhau.”
Dù ông gửi lá thư này trước khi bắt đầu xâm lược thế giới Hồi giáo, và viết nó bằng tiếng Trung Hoa, có thể thấy rõ rằng ông không coi mình là người thừa kế vương quốc hay truyền thống văn hóa của cả hai nơi này. Ông chỉ thừa nhận đúng một đế quốc trong quá khứ mà ông đã được truyền cảm hứng – tổ tiên ông, người Hung. Ông rõ ràng không muốn cai trị theo cách của người Hồi giáo hay người Trung Hoa. Ông muốn tự tìm con đường của riêng mình, phù hợp với một vương quốc thảo nguyên, hậu duệ của người Hung.
Ông nói rằng chiến thắng của ông đều là nhờ vào sự phù trợ của Thanh thiên Vĩnh hằng: “nhưng vì được phù trợ nhiều nên trọng trách ta phải gánh vác cũng thật nặng nhọc.” Song, ông cảm thấy ông không thành công trong thời bình như trong chiến trận: “Ta sợ rằng vẫn còn điều gì đó thiếu sót trong cách ta cai trị khi đó.” Ông nói rằng tướng giỏi trị nước cũng quan trọng như đuôi lái trên thuyền. Dù đã tìm được nhiều vị tướng tài, ông thừa nhận rằng bất hạnh thay, ông đã không tìm được những người tài như vậy để quản lý đất nước.
Quan trọng hơn cả, lá thư này cho thấy tư tưởng chính trị của Thành Cát Tư Hãn đã thay đổi. Sau khi thừa nhận các thiếu sót của mình, ông vẫn thể hiện cái nhìn lạc quan về bản thân và sứ mệnh của ông trên thế giới này. Ông đã bắt đầu chiến dịch chống lại người Nữ Chân – chiến dịch lớn đầu tiên của ông bên ngoài vùng thảo nguyên – nhằm mục đích cướp bóc, song sau cùng ông đã thành lập được một nước chư hầu. Lời lẽ của ông thể hiện một kế hoạch sâu sắc và rộng rãi chứ không chỉ là cướp bóc và điều khiển mạng lưới giao thương. Ông nói rằng ông đi về hướng nam để thực hiện một việc mà trong lịch sử chưa từng có ai làm được. Ông đang theo đuổi “một công trình vĩ đại,” bởi ông muốn “thống nhất cả thế giới thành một đế quốc.” Ông không còn chỉ là một thủ lĩnh bộ lạc nữa, và giờ đây ông muốn cai trị mọi thần dân và mọi vùng đất từ nơi mặt trời mọc tới chốn mặt trời lặn.
Có lẽ Edward Gibbon, nhà sử học người Anh về người La Mã vào thế kỷ mười tám, và một học giả tài ba về lịch sử của các đế quốc và các cuộc xâm lược, đã miêu tả chính xác nhất sự ra đi của Thành Cát Tư Hãn. Ông viết một cách đơn giản rằng Thành Cát Tư Hãn “qua đời khi tuổi tác và thành công đều đã đủ đầy, và trong hơi thở cuối cùng đã yêu cầu và hướng dẫn các con trai mình phải chinh phục được đế quốc Trung Hoa.” Chặng đường thực hiện ước nguyện và mệnh lệnh của Thành Cát Tư Hãn trước mắt vẫn còn rất dài.