Các bộ lạc xa lạ tới để bắt chúng ta trả giá cho tội lỗi của mình.
SỬ KÝ NOVGOROD, 1224
OA KHOÁT ĐÀI lên ngôi Khắc hãn, và trong lúc say khướt đã hào phóng mở kho chứa của cha mình và phân phát mọi của cải trong đó. Ông chia ngọc trai – thứ ngọc được người Mông Cổ ngưỡng mộ nhất – theo cả thùng. Dân chúng được ném cho hàng cuộn lụa. Lừa và ngựa được mặc những món đồ tinh xảo nhất, và mọi người dân đều có những bộ deel mới làm từ lụa thêu chỉ vàng. Chúng có nhiều màu sắc đẹp đẽ tới mức mỗi ngày quan lại có thể cùng mặc một màu, và ngày hôm sau một màu mới lại được chỉ định. Họ uống rượu, tiệc tùng, và chơi trò chơi suốt mùa hè năm 1229 ở Avarga, nơi các nhà kho đã được dựng lên để chứa một phần của cải giành được từ các chiến dịch của Thành Cát Tư Hãn. Gia đình quyền lực nhất trên thế giới ăn mừng, và những ngày của lụa lam rồi lục rồi trắng rồi vàng cứ nối tiếp nhau. Rượu chè chảy không ngừng nghỉ. Đàn ông và phụ nữ uống tới khi say mèm; họ ngủ một lúc, để rồi lại tiếp tục say sưa khi tỉnh lại.
Trong khoảng thời gian này, gia tộc ông lấy danh hiệu là Hoàng gia hay Hoàng tộc. Với người thảo nguyên, vàng tượng trưng cho dòng dõi quý tộc, nhưng cũng đặc trưng cho khối tài sản khổng lồ mà gia tộc nắm giữ, nhưng cũng nhanh chóng tiêu pha. Vì Thành Cát Tư Hãn không còn nữa để điều tiết việc lễ lạt, con cháu ông giờ cai trị vương quốc: họ say trong sự xa hoa không phải chính tay mình làm nên, và chìm trong rượu chè mà họ giờ đã mê đắm. Buổi tiệc tùng say sưa mừng Oa Khoát Đài Hãn lên ngôi đã trở thành tiêu chuẩn và hình mẫu cho thời gian ông cai trị, và điều khiển cả tinh thần của cả vương quốc – ngay cả chỉ trong thoáng chốc. Như lời Ata-Malik Juvaini viết không lâu sau đó, Oa Khoát Đài “trải tấm thảm hoan lạc và vẽ con đường xa hoa của việc liên miên thưởng thức rượu chè và đàn bà đẹp.”
Trong khoảng thời gian giữa lúc Thành Cát Tư Hãn mới qua đời và trong lúc người Mông Cổ bị xao nhãng để ăn mừng Oa Khoát Đài lên ngôi, vài nước chư hầu mới bị chinh phục đã tách ra và ngừng gửi cống phẩm. Oa Khoát Đài phải phái nhiều đội quân lớn quay lại miền bắc Trung Hoa và Trung Á để tái lập quyền cai trị của Mông Cổ. Ngay khi lên ngôi vào năm 1230, ông ra lệnh cho ba tumen, tức gần ba vạn lính, đi để củng cố thế lực của Mông Cổ ở Trung Á; song phần lớn của cải ở đây đều đã bị lấy đi. Ông cử đi một toán quân để đóng đô ở đó, họ thậm chí còn mang cả gia đình theo, chứ không phải chỉ để chiến đấu. Tuy vậy, lượng cống phẩm tới Mông Cổ từ bắc Trung Hoa và Trung Á vẫn chỉ ở mức khiêm tốn so với số của cải cướp bóc được ban đầu.
Oa Khoát Đài không đi cùng quân đội của mình; các cuộc chinh phục không phải ưu tiên của ông. Nhằm tận hưởng vương quốc của mình, ông quyết định rằng như các nhà cai trị vĩ đại khác, ông nên có một kinh đô cố định – không chỉ là một cụm các ger, mà là các toà nhà thật sự với tường và mái nhà, cửa sổ và cửa ra vào. Trái với cách nghĩ của cha ông, Oa Khoát Đài tin rằng một vương quốc chiếm được từ trên lưng ngựa không thể được cai trị từ trên lưng ngựa; trong khi chính quyền lực trên lưng ngựa cùng một trung tâm quyền lực di động là một trong số những yếu tố chủ yếu đằng sau thành công của người Mông Cổ. Đây là khởi đầu của một chuỗi các sai lầm mà Oa Khoát Đài phạm phải trong thời gian tại vị ngắn ngủi của mình: ông từ bỏ chính sách này và cố tạo dựng một trung tâm quyền lực và hành chính cố định cho vương quốc.
Theo tập tục, vùng đất tổ bên dòng Onon và Kherlen nay thuộc về hoàng tử út Đà Lôi, Oa Khoát Đài quyết định xây dựng kinh đô mới trên vùng lãnh thổ phía tây của mình. Ông chọn vùng đất ở giữa lãnh thổ Mông Cổ, ven sông Orkhon. Nơi đây từng thuộc về bộ lạc Khắc Liệt của Vương Hãn, và trước đó là cố đô của các vương quốc Thổ sơ khai. Ông chọn nơi này dựa theo các tiêu chuẩn nơi cắm trại của dân du mục. Nó nằm trên vùng thảo nguyên rộng rãi, có gió thổi để hạn chế ruồi muỗi, nguồn nước dồi dào nhưng đủ xa để không bị nhiễm bẩn từ đời sống sinh hoạt của cư dân thành phố, và gần đồi núi để gia súc trú ẩn trong mùa đông. Dựa trên các khía cạnh này, Karakorum – tên gọi của nơi này sau này – là địa điểm hoàn hảo; song vấn đề duy nhất là một thành phố với dân cư cố định có những nhu cầu khác với một nơi cắm trại, dù tốt, nhưng tạm thời. Họ cần nguồn thức ăn cố định quanh năm, và bởi không có cách nào để tự sản xuất lương thực, thành phố dần trở nên phụ thuộc vào nguồn hàng đắt đỏ từ phía nam sa mạc Gobi, cách đó hàng trăm dặm. Vùng thảo nguyên rộng mở không giúp họ tránh được những ngọn gió đông buốt giá. Không như đoàn gia súc có thể dễ dàng rút lui vào vùng núi, người dân trong thành không thể di trú theo mùa. Những vấn đề này đã bủa vây và cuối cùng hủy hoại kinh đô Mông Cổ này.
Oa Khoát Đài có lẽ đã bắt đầu việc xây dựng hoàng cung theo đúng cách của người Mông Cổ: bắn một mũi tên trên thảo nguyên, rồi xây cánh đầu tiên theo hướng tên bắn. Theo cách người Mông Cổ đo lường, toà nhà có chiều dài một tầm tên bắn. Ông cho xây một cánh khác theo cách tương tự, rồi đặt một ngôi nhà cao ở giữa làm lối thông giữa hai cánh. Một bức tường vững chắc được xây bao quanh hoàng cung, và nó chính là nguồn gốc cái tên Karakorum, nghĩa là “đá đen” hay “tường đen.” Rashid al-Din miêu tả hoàng cung mới của Oa Khoát Đài như sau: “cực kỳ cao với các cột nhà xa hoa, xứng đáng với tầm vóc của một vị vua. Các thợ thủ công hoàn thành công trình bằng cách sơn lên các họa tiết và hình vẽ nhiều màu sắc.”
Người Mông Cổ vẫn sống trong các ger xung quanh Karakorum như khi họ còn sống trên thảo nguyên. Hoàng cung di chuyển từ khu vực này sang khu vực khác theo mùa, thường cách kinh thành vài ngày hoặc một tuần đường. Các kiến trúc sư và thợ thủ công Trung Hoa thiết kế và xây dựng Karakorum, nhưng hoàng cung riêng mà Oa Khoát Đài xây cho gia đình mình ở Kerchagan, cách đó một ngày đường, lại theo phong cách Hồi giáo. Nếu các kinh đô khác trên thế giới thường có chức năng thể hiện quyền lực, sự cao sang và uy nghi của hoàng tộc, Karakorum lại giống như một nhà kho lớn và công xưởng: người Mông Cổ, bao gồm cả Oa Khoát Đài, không để tâm tới nó gần như suốt cả năm. Họ dùng nơi này để chứa hàng hóa, bao gồm cả những thợ thủ công làm việc cho hoàng cung. Thành phố không sản xuất mấy, mà thu thập cống vật từ khắp vương quốc. Một phần ba kinh thành được dùng làm nơi ở cho những người mới được chiêu mộ để làm việc cho vương quốc, ví dụ như người ghi chép và thông dịch của mọi đất nước trong vương quốc để giúp đỡ việc giao tiếp giữa các nước này.
Nguồn ghi chép đầu tiên chúng ta có về thành phố là của Juvaini: ông miêu tả một khu vườn khép kín trong một khoảnh đất rào kín, với bốn cửa hướng về bốn phương chính. Trong vườn, các nghệ nhân Trung Hoa đã xây “một lâu đài với cửa giống như cửa của khu vườn, bên trong là ngai vàng với ba cầu thang, một dành riêng cho [Oa Khoát Đài], một cho các phi tần của ông, và một dành cho những người dâng ly và bày biện bàn.” Trước cung điện, Oa Khoát Đài cho xây một chuỗi hồ “nơi các loài thủy cầm thường tụ họp.” Ông thường xem cảnh săn bắn chúng rồi bắt đầu chè chén say sưa. Vì ông thích thú rượu chè như vậy, ở trung tâm hoàng cung là một tập hợp chum bằng vàng và bạc lớn tới nỗi ông được cho là đã giữ lạc đà và voi ở gần đó, để “chúng chở các loại thức uống khi có yến tiệc.”
Bên cạnh các cung điện cho bản thân và các thành viên Hoàng tộc, Oa Khoát Đài cũng cho xây nhiều nơi thờ cúng cho những tín đồ Phật giáo, Hồi giáo, Đạo giáo và Ki-tô giáo. Trong số này, những người theo đạo Ki-tô có vẻ đã chiếm ưu thế trong triều đình Mông Cổ, bởi Oa Khoát Đài, cũng như ba người anh em khác, đã kết hôn với những phụ nữ theo đạo Ki-tô khi họ tiến đánh người Miệt Nhi Khất và Nãi Man; một vài con cháu ông cũng theo đạo Ki-tô, đặc biệt là Shiremun (tên Mông Cổ của Solomon), đứa cháu nội được ông yêu quý. Một trong những lý do người Mông Cổ ưa chuộng đạo Ki-tô có thể là bởi tên của chúa Jesus – Yesu – nghe giống từ chỉ số chín trong tiếng Mông Cổ, con số linh thiêng của họ, cũng như tên của Dã Tốc Cai (Yesugei), vị cha đẻ của cả triều đại. Song dù đạo Ki-tô có vị trí cao như vậy, thành phố nhỏ Karakorum có lẽ là nơi có tư tưởng mở và bao dung nhất về mặt tôn giáo trên thế giới vào thời điểm đó. Chẳng còn nơi nào mà tín đồ của nhiều tôn giáo khác nhau lại có thể bình an cùng hành đạo như vậy.
Nhằm khuyến khích các đoàn xe lái buôn tới kinh đô mới của mình, Oa Khoát Đài trả giá cực cao cho mọi loại hàng hóa, bất kể nhu cầu hay chất lượng. Rashid al-Din viết rằng Oa Khoát Đài “ngày ngày sau bữa ăn ngồi ngoài cung điện, nơi đủ loại hàng hóa trên thế giới xếp thành chồng. Ông ban phát chúng cho người Mông Cổ và Hồi giáo thuộc mọi tầng lớp, và ông cũng thường ra lệnh cho những người cường tráng khiêng đi nhiều hàng hóa nhất có thể.” Bên cạnh động vật và lương thực, các thương nhân còn mang tới rất nhiều vải vóc, ngà voi, ngọc trai, chim sắt, ly vàng, thắt lưng nạm ngọc, roi quất, xác báo, cung tên, phục trang, mũ, và sừng thú quý hiếm. Có những người cũng tới để mua vui, ví dụ như các nghệ sĩ và nhạc công Trung Hoa, đô vật Ba Tư, hay người pha trò từ Byzantine.
Oa Khoát Đài thường trả giá gấp đôi cho hàng nhập khẩu, để bày tỏ lòng biết ơn những người thương nhân đã lặn lội tới tận đất nước của ông, và cũng để kích thích các lái buôn khác làm theo. Oa Khoát Đài cũng ra lệnh rằng các lái buôn sẽ luôn được trả giá mà họ yêu cầu, cùng mười phần trăm tiền thưởng. Người Mông Cổ cũng cấp vốn hỗ trợ các đoàn thương nhân khi cần thiết. Để tăng cường giao thương, Oa Khoát Đài đặt ra một hệ thống khối lượng và đo lường chuẩn hóa để thay thế các hệ thống dùng ở các thành phố và đất nước khác. Vì tiền dạng nén và xu quá cồng kềnh, người Mông Cổ tạo ra hệ thống tiền giấy, giúp việc trao đổi dễ dàng và an toàn hơn.
Quân đội của Oa Khoát Đài đã tái củng cố được quyền lực của Mông Cổ ở Trung Á, và dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tướng già Tốc Bất Đài đã liên minh với nhà Tống để thu thập của cải và đất đai còn sót lại của người Nữ Chân. Nếu cha ông đảm bảo nguồn hàng tới Mông Cổ luôn ổn định bằng cách sống ngoài chiến trường trong lúc cho vận chuyển chiến lợi phẩm về nhà, Oa Khoát Đài lại chọn sử dụng sức mạnh quân sự để tăng cường an ninh cho các tuyến đường lái buôn sử dụng, để họ mang tới nhiều hàng hóa hơn. Ông đặt các đồn trú cố định để bảo vệ đường sá và các thương nhân, đồng thời bãi bỏ hệ thống sưu thuế và ăn chặn phức tạp ở các địa phương, vốn làm việc giao thương khó khăn và đắt đỏ hơn. Người Mông Cổ trồng cây ven đường để người đi đường có nơi tránh nắng trong mùa hè, và làm mốc trên đường khi tuyết rơi trong mùa đông. Ở những nơi cây cối không mọc được, họ cắm các cột đá để đánh dấu. Juvaini viết rằng đường sá của người Mông Cổ đảm bảo rằng “ở bất cứ nơi nào có thể có lợi nhuận, dù ở viễn Tây hay cực Đông, các thương nhân sẽ đều đi về đó.”
Việc Oa Khoát Đài dừng chân ở Karakorum và cho xây những bức tường đá mà cha ông vốn căm ghét đánh dấu một bước đi lớn xa rời khỏi các chính sách của Thành Cát Tư Hãn. Từ đây một quá trình đồng hóa kéo dài bốn thập niên bắt đầu, biến Mông Cổ từ một quốc gia của các chiến binh trên lưng ngựa thành một triều đình cố định với những cái bẫy thường thấy của đời sống văn minh – trái ngược hoàn toàn với di sản của Thành Cát Tư Hãn.
Tới năm 1235, Oa Khoát Đài đã tiêu tán gần hết khối tài sản cha ông để lại. Việc xây dựng và quản lý thành phố của ông rất tốn kém, và cả các thói quen của ông cũng vậy. Cống phẩm vẫn đổ về từ khắp nơi trong vương quốc, nhưng không nhiều như thời cha ông trị vì. Dù Oa Khoát Đài có làm gì để xây dựng kinh đô hay cải tổ hệ thống quan lại, sau cùng Đế chế Mông Cổ vẫn dựa trên các cuộc chinh phạt. Ông rất cần nguồn của cải mới để tiếp tục duy trì lối sống giờ đã trở nên thông thường với người Mông Cổ. Họ không trồng trọt hay sản xuất, và không muốn phải bán đàn ngựa giống đông đúc của mình. Nếu Đế chế Mông Cổ muốn tồn tại, Oa Khoát Đài phải giao chiến với một mục tiêu mới, chưa bị xâm lược. Nhưng là ai, và ở đâu?
Để quyết định mục tiêu của cuộc chinh phạt sắp tới, Oa Khoát Đài mở buổi hốt lý đài trên thảo nguyên gần thủ đô mới Karakorum. Song mỗi người tham dự lại ủng hộ một hướng đi khác nhau. Một số người muốn đi về phía nam, tới vùng tiểu lục địa Ấn Độ. Thành Cát Tư Hãn đã nhìn thấy vùng đất này từ dãy núi phía bắc, nhưng không muốn xâm lược vì cái nóng khắc nghiệt ở đây. Những người khác ủng hộ đi xa hơn tới Ba Tư, rồi tới các thành phố Ả-rập trong truyện kể như Baghdad và Damascus, hay thậm chí tổng tấn công nhà Tống – đồng minh mới của người Mông Cổ chỉ vì lý do thuận tiện.
Song một người lại có kiến nghị khác. Tốc Bất Đài từng là vị tướng tài giỏi nhất trong quân đội của Thành Cát Tư Hãn, và mới giành được thắng lợi trước quân Nữ Chân. Với hiểu biết sâu rộng về kiểu chiến đấu vây thành và sử dụng các cỗ máy tấn công cỡ lớn, ông đóng vai trò rất quan trọng trong mọi chiến dịch của quân Mông Cổ.
Giờ đây ông đã sáu mươi tuổi, có lẽ mù một bên mắt, và theo vài nguồn tư liệu, ông đã béo tới mức không thể cưỡi ngựa mà phải được kéo đi trên một cỗ xe sắt. Dù vậy, trí óc ông vẫn minh mẫn và sắc bén, và ông mong muốn được trở lại chiến trường. Thay vì lại giao chiến với các đội quân người Hồi giáo hay Trung Hoa, những người đã nhiều lần bại trận dưới tay ông, Tốc Bất Đài không muốn tuân theo các chính sách của Thành Cát Tư Hãn nữa, mà thay vào đó tổ chức một cuộc chinh phạt lớn về phía tây, tới châu Âu – nền văn minh bí ẩn mà ông mới tình cờ phát hiện ra. Ông khẳng định rằng giống như Trung Hoa, Ấn Độ hay các nước Hồi giáo, châu Âu cũng hứa hẹn rất nhiều của cải. Tốc Bất Đài từng thử tài các quân đội châu Âu – ông biết cách họ đánh trận, và cách họ dễ dàng bị đánh bại.
Châu Âu là vùng đất bí hiểm với phần lớn người tham dự buổi hốt lý đài. Tốc Bất Đài là vị tướng còn sống duy nhất từng đặt chân tới đó, và ông cũng chỉ thăm dò vùng đất đó với một đội quân rất nhỏ. Ông khám phá ra châu Âu hơn một thập niên trước vào năm 1221, khi Thành Cát Tư Hãn xâm lược Trung Á. Tốc Bất Đài và Jebe đã vòng qua biển Caspi để đuổi theo vị sultan Khwarizm. Sau khi sultan chết, họ đề nghị và được cho phép đi khám phá vùng đất phía bắc. Ở dó họ đã tìm thấy tiểu vương quốc Ki-tô giáo Georgia, trị vì bởi Giorgi Đệ Tam Thông thái.
Jebe dẫn đầu đoàn đi thăm dò hàng phòng ngự của nơi này. Sau hàng thế kỷ giao chiến với các nước Hồi giáo xung quanh, Georgia sở hữu một quân đội tinh nhuệ. Quân phòng ngự có lợi thế lãnh thổ không ngần ngại ra quân chống lại quân Mông Cổ như họ đã làm với các quân đội người Turk và Hồi giáo trước đó. Quân Mông Cổ do Jebe dẫn đầu tấn công quân Georgia, bắn vài quả đạn pháo, rồi ra vẻ hoảng loạn bỏ chạy; nhưng tất nhiên, đây chỉ là chiến thuật vờ rút lui Khuyển Chiến. Quân Georgia quá tự tin đã phá vỡ hàng ngũ và mau chóng đuổi theo quân Mông Cổ chỉ dẫn trước họ một chút. Song bầy ngựa của Georgia dần đuối sức vì phải chở nặng trong khoảng thời gian dài; chúng dần tụt lại phía sau.
Khi quân Georgia đã tản ra và bắt đầu kiệt sức, đột nhiên các chiến binh của Jebe dẫn chúng thẳng vào giữa vòng vây của quân Mông Cổ đang chờ lệnh của Tốc Bất Đài. Trong lúc quân Georgia bị họ tấn công, lính của Jebe đổi ngựa và cùng tham chiến. Chỉ trong vài giờ, quân Mông Cổ đã tiêu diệt quân đội Georgia và tầng lớp quý tộc của tiểu quốc này. Tốc Bất Đài biến Georgia thành nước chư hầu đầu tiên ở châu Âu, và cũng là nước chư hầu trung thành và hữu ích nhất suốt nhiều thế hệ.
Hoàn thành bài kiểm tra, Tốc Bất Đài và Jebe hành quân xuống núi để khám phá vùng đồng bằng Đông Âu, và xem cách những tộc người xa lạ khác đánh nhau trên chiến trường. Họ thăm dò bền bỉ một cách có phương pháp. Như mọi khi, họ tập trung vào việc trinh sát và thu thập thông tin, nhằm xác định số người, vị trí thành phố, chia rẽ chính trị, và các mối quan hệ thù địch. Quân Mông Cổ tìm thấy vài tộc người Turk, được gọi là người Kim Trướng, sống ở vùng đồng bằng giữa bờ biển phía bắc của Biển Đen và biển Caspi. Người Kim Trướng theo lối sống chăn gia súc rất giống với người Mông Cổ. Lợi dụng điểm tương đồng về kiểu nhà ở làm từ da thuộc và ngôn ngữ, quân Mông Cổ học hỏi được nhiều từ họ, và thuyết phục nhiều người Kim Trướng làm đồng minh. Mục tiêu thật sự của Tốc Bất Đài là vùng đất nông nghiệp xa hơn về phía bắc và phía tây. Nhiều thành phố tập trung ở đây, và dù tất cả đều theo Chính Thống giáo và nói tiếng Nga, họ đều chịu sự cai trị của các lãnh chúa tham vọng và thù địch. Tốc Bất Đài đưa quân về hướng đó để xem cách họ phản ứng. Cuối tháng Tư năm 1223, ông đặt chân tới bờ sông Dnepr* ở phía bắc Biển Đen.
Các thành phố Ki-tô giáo vùng đồng bằng quyết định hợp tác cùng ra quân chống lại những kẻ xâm lược ngoại đạo. Các toán quân được vội vã triệu tập, và cùng ra trận từ khắp các tiểu vương quốc và thành bang trong vùng – Smolensk, Galich, Chernigov, Kiev, Volhynia, Kursk, Suzdal, và một số của người Kim Trướng. Ba nhóm quân từ Galich, Chernigov và Kiev thuộc quyền cai trị của ba quân vương đều tên là Mstislav. Trong số đó, người tài giỏi nhất là Quân vương Mstislav Romanovitch từ Kiev, thành phố lớn và giàu có nhất, dẫn theo đội quân hùng mạnh nhất, gồm cả hai con rể ông. Khi các quân đội Nga dần tiến vào, quân Mông Cổ phái một nhóm mười sứ giả đi để đàm phán, đầu hàng hoặc liên minh. Quân Nga lập tức xử tử họ, hoàn toàn không biết rằng họ đã phá vỡ quy tắc ngoại giao của người Mông Cổ, và các quân vương của họ, cũng như người dân Nga, sẽ phải trả giá đắt cho tội lỗi này.
Quân Mông Cổ khai chiến bằng một trận đánh nhỏ, sau đó họ lập tức lui quân về phía đông – hướng họ xuất phát, như thể họ run sợ trước kẻ thù lớn va hùng mạnh. Quân Nga và các đồng minh Kim Trướng hào hứng đuổi theo, nhưng ngày lại ngày quân Mông Cổ vẫn nằm ngoài tầm với của họ, dù chỉ một chút. Vì vài toán quân vẫn chưa tới để tham gia cuộc truy đuổi, vài nhóm tụt lại phía sau, trong lúc những nhóm nhanh hơn tiếp tục bám sát gót quân Mông Cổ. Quân Nga sợ rằng quân Mông Cổ sẽ bỏ chạy, và họ sẽ mất số ngựa và chiến lợi phẩm họ có được từ các cuộc tấn công khắp Ba Tư, Georgia và Azerbaijan. Nhằm tranh giành vinh quang và của cải, các quân vương bắt đầu thúc giục quân lính tiến đánh để là người đầu tiên tấn công quân Mông Cổ; nhưng họ lại mắc một sai lầm chết người: không lên một kế hoạch rút quân hay tái tập hợp có tổ chức nào. Sau gần hai tuần bám đuổi, nhóm tiên phong của quân Nga cuối cùng đã đuổi kịp quân Mông Cổ ở con sông Kalka đổ vào biển Azov. Chính ở đây họ đã bắt những kẻ xâm lược phải giao chiến, nơi Jebe và Tốc Bất Đài cho là có lợi nhất cho quân Mông Cổ. Các quân vương Nga vì sợ rằng quân Mông Cổ sẽ lại chạy thoát đã không cho quân lính của mình nghỉ ngơi sau cuộc hành quân dài, mà tự tin dàn hàng ngũ chuẩn bị tấn công.
Các lời tường thuật sau này đưa ra con số lính Nga tại trận rất khác nhau, nhưng nói chung có khoảng bốn tới tám vạn lính Nga, ít nhất gấp đôi số quân Mông Cổ. Nhưng phần lớn lính Nga xuất thân từ đồng ruộng và làng quê. Khi khỏe mạnh và được ăn uống đầy đủ, họ là những người nông dân cường tráng và nhiều kinh nghiệm trong những chiến dịch nhiều giai đoạn; song họ không phải là một đội quân chuyên nghiệp, nhất là vào cuối mùa đông với chế độ ăn thiếu thốn. Họ quen dùng liềm cắt cỏ khô hay quất roi thúc bò hơn là sử dụng vũ khí chiến tranh. Thế nhưng được các vị chỉ huy bảo đảm một thắng lợi dễ dàng, những người nông dân này nghe theo lệnh dàn hàng sau lớp khiên theo cấp bậc. Vũ khí của họ là bất kỳ cái gì họ tìm thấy hay sửa sang từ dụng cụ làm nông – những cây kiếm, lao, chuỳ hay gậy tạm bợ. Đứng bên cạnh là một nhóm lính bắn cung nhiều kinh nghiệm hơn, còn các vị tướng kiêu ngạo ngồi trên lưng chiến mã phía sau quân đội của mình.
Quân Nga chuẩn bị tinh thần, đứng vai kề vai, dù họ không biết quân địch sẽ tấn công như thế nào, nhưng họ quyết tâm không phá hàng ngũ. Nhưng dường như lại chẳng có cuộc tấn công nào cả. Thay vì ra trận, quân Mông Cổ bắt đầu ca hát và đánh trống, rồi đột nhiên im lặng một cách kỳ quái. Vì hôm đó là một ngày xuân quang đãng, quân Mông Cổ chọn cách Tấn công Im lặng, được điều khiển và sắp xếp bằng cách vẫy cờ. Nhận được tín hiệu, lính bắn cung trên ngựa sẽ im lặng tiến tới hàng ngũ quân Nga. Tiếng vó ngựa trên nền đất vọng tới chân những người lính đang lo lắng chờ đợi phần tồi tệ nhất của trận đánh. Nhưng hai bên không bao giờ giao chiến. Ngựa Mông Cổ dừng bước ngay ngoài tầm với của vũ khí quân Nga, và từ vị trí đó, quân Mông Cổ nhắm tên thẳng vào hàng ngũ địch. Lính Nga nhìn đồng đội của mình ngã xuống trên vũng máu, nhưng họ chẳng có ai trong tầm với để phản công. Không có ai để đấu kiếm. Không có ai để ném lao hay quật chuỳ. Họ chỉ có một hàng tên, và chúng được quân Mông Cổ cố tình chế tạo để không thể móc vào cung tên khác được. Quá tức giận, lính Nga chỉ còn biết bẻ gãy tên để quân Mông Cổ không thể dùng lại chúng được nữa.
Khi thấy hàng bộ binh tan nát, các cung thủ Nga bắt đầu bắn trả, nhưng cung của châu Âu yếu và có tầm ngắn hơn nên chẳng mấy khi bắn trúng. Để chế giễu họ, quân Mông Cổ đuổi theo các mũi tên địch; nhưng thay vì bẻ gãy chúng, họ lại bắn trả lại, vì những mũi tên này dễ dàng khớp với cung của họ. Choáng váng, quân Nga vội vàng rút quân trong hoảng loạn. Quân Mông Cổ đuổi theo, giết từng người một như thể họ chỉ là một bầy linh dương hay dê đang chạy trốn. Thế rồi quân Nga lại gặp phải toán lính chưa tới nơi: họ bắt đầu đâm vào nhau, làm nghẽn đường rút quân, khiến cảnh tượng càng loạn lạc và thương vong tăng lên.
Các quân vương Nga ngồi trên lưng ngựa chiến với kiếm và lao sáng bóng, cờ phướn sặc sỡ và phù hiệu giáp nổi bật. Giống ngựa chiến châu Âu này được nuôi để thể hiện sức mạnh – để chở bộ giáp của vị quý tộc trên lưng chúng trên sân duyệt binh – chứ không phải vì tốc độ và sự lanh lợi trên chiến trường. Trong bộ giáp sắt nặng nề của mình, quân Nga thường không phải sợ những quý tộc châu Âu khác cũng ngồi trên ngựa giống họ, nhưng khi hàng bộ binh rút quân, họ cũng không còn cách nào khác ngoài cách bỏ chạy – nhưng bầy ngựa của họ dù đẹp tới mấy cũng không thể mang vác nặng trong khoảng thời gian dài. Những chiến binh vận giáp sắt dần bị quân Mông Cổ đánh bại, các vị quân vương thủ lĩnh các thành bang Nga lần lượt ngã xuống. Quân Mông Cổ đuổi giết quân Nga tới tận vùng Biển Đen, nơi chiến dịch bắt đầu. Theo Sử ký Novgorod, mục năm 1224, chỉ “một phần mười [đội quân đông đảo ra trận đánh quân Mông Cổ] quay về nhà. Kể từ khi người Hung tấn công châu Âu gần một ngàn năm trước, đây là lần đầu tiên một quân đội châu Á xâm lược châu Âu và tiêu diệt hoàn toàn một đội quân lớn.
Cuối chiến dịch, Tốc Bất Đài và Jebe dẫn quân xuống bán đảo Crimea tận hưởng mùa xuân ven bờ Biển Đen. Họ say sưa ăn mừng thắng lợi suốt nhiều ngày liền. Vị quân vương thất trận Mstislav và hai con rể ông được mời làm khách danh dự, nhưng cách quân Mông Cổ đối đãi họ cho thấy Mông Cổ đã thay đổi như thế nào sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời. Họ bọc ba người trong thảm da thuộc – phù hợp với quý tộc tước vị cao – và để họ nằm bên dưới sàn nhà ger. Ở đó, một cách từ từ, nhưng không đổ máu, họ bị đè tới chết trong lúc quân Mông Cổ chè chén ca hát say sưa phía trên. Với quân Mông Cổ, điều quan trọng là người Nga hiểu được cái giá phải trả cho việc giết hại sứ giả của họ, và quân lính của họ biết được họ sẵn lòng làm gì để trả thù cho một sinh mạng Mông Cổ bị giết oan.
Dù các nhà chép sử Armenia, Georgia và các thương thành Nga cổ có ghi chép lại việc quân Mông Cổ xuất hiện, họ không biết những người này là ai, và sau đó họ lên đường đi tới đâu. Những nhà chép sử cho rằng thất bại của họ dưới tay những kẻ lạ mặt này là hình phạt của Chúa. Vì quân Mông Cổ không ở lại chiếm đóng vùng đất mà lại quay về Mông Cổ, người châu Âu nhanh chóng quên đi chiến thắng của họ, thay vào đó tiếp tục bổn cũ soạn lại. Theo lời diễn giải của đạo Ki-tô, quân Mông Cổ đã trừng phạt họ theo ý nguyện của Chúa, nên Chúa đã sai họ quay về nhà. Theo Sử ký Novgorod, “người Tartar rời đi từ dòng Dnieper, và ta không biết họ tới từ đâu, hay giờ họ sẽ lại ẩn mình ở phương nào; Đức Chúa trời biết khi ngài triệu tập họ chống lại chúng ta vì những tội lỗi mà chúng ta đã phạm phải.”
Mười hai năm sau khi Tốc Bất Đài đánh thắng quân Nga, những người tham dự buổi hốt lý đài của Oa Khoát Đài xem xét các thông tin về chiến thắng này. Oa Khoát Đài chỉ hứng thú với của cải thu được từ cuộc chiến ở châu Âu, chứ không phải các chiến thuật. Dù thắng lợi trên chiên trường rất đáng kinh ngạc, cuộc hành trình không thu được nhiều của cải so với các chiến dịch ở Trung Hoa hay vùng Hồi giáo. Vì quân của Tốc Bất Đài không có thời gian cũng như quân số để tấn công các thành thị có tường thành, họ không mang được nhiều về, nhưng lính trinh sát cho biết ở đây có rất nhiều thành phố. Quan trọng hơn, trong lúc nghỉ chân cho ngựa ăn ở Crimea, quân Mông Cổ đã khám phá ra nhiều trung tâm giao thương do các thương nhân từ Genoa cai quản, và đã tấn công một số trong số này.
Cả Oa Khoát Đài và Tốc Bất Đài đều có vẻ không thích và không tin tưởng lẫn nhau. Vị trí của Tốc Bất Đài chủ yếu là do được gia đình của Truật Xích ủng hộ, bởi họ sống ở vùng thảo nguyên phía tây và thừa kế vùng đất do Tốc Bất Đài chiếm được quanh sông Volga. Sau khi Truật Xích qua đời, con trai ông Bạt Đô kế tục tước vị hãn. Là thứ nam và một trong những cháu trai tài giỏi nhất của Thành Cát Tư Hãn, Hãn Bạt Đô có khả năng được bầu làm Khắc hãn nhất nếu Oa Khoát Đài qua đời, và một cuộc chiến chống lại châu Âu sẽ góp phần củng cố của cải, thanh thế và quyền kế vị của ông.
Cũng bởi chính những lý do này mà Oa Khoát Đài không muốn thực hiện chiến dịch này. Cá nhân ông thu được nhiều lợi hơn nếu họ tấn công nhà Tống. Ở vị trí của ông ở trung tâm Đế chế Mông Cổ, vùng đất của gia đình hai anh em trai ông nằm giữa ông và châu Âu, song nhà Tống chỉ cách ông có phần đất của em trai Đà Lôi. Thuận tiện thay cho Oa Khoát Đài, một buổi sáng ba năm trước – vào mùa thu, mùa nhiều sữa ngựa lên men nhất – Đà Lôi, khi đó bốn mươi tuổi, đã tập tễnh bước ra khỏi lều sau một đêm chè chén say sưa, rồi đột ngột qua đời. Oa Khoát Đài lập tức bắt đầu thu hồi đất đai của em mình – bao gồm vùng đất tổ và Burkhan Khaldun – bằng cách sắp đặt cuộc hôn nhân giữa con trai ông là Quý Do và vợ goá của Đà Lôi, Sorkhokhtani. Bà là cháu gái người Miệt Nhi Khất của Vương Hãn. Song bà từ chối sự xếp đặt này, lấy lý do rằng bà cần toàn tâm toàn ý chăm sóc bốn con trai còn nhỏ. Quyết định này sau này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử của vương quốc; nhưng lúc này, các con trai còn non nớt của bà không có khả năng chống lại người bác Khắc hãn của chúng.
Nếu tiến công về hướng nhà Tống ở phía nam, Oa Khoát Đài sẽ tăng cường sự hiện diện ở khu vực phía trong và xung quanh vùng đất của Sorkhokhtani, và ông viện cớ cuộc xâm lâng để lấy quyền chỉ huy những chiến binh từng dưới quyền chồng bà. Bởi vậy, với Oa Khoát Đài, cuộc chiến chống lại nhà Tống là một mũi tên trúng hai con chim: ông vừa thu được của cải từ Trung Hoa, vừa cho ông cơ hội chiếm đoạt đất đai và đội quân từ tay người vợ goá của em trai ông.
Vì trong hoàng tộc có cả hai phe ủng hộ xâm lược châu Âu và tấn công nhà Tống, cuối cùng họ đã đi tới một quyết định chưa từng có: quân Mông Cổ sẽ tiến công theo mọi hướng; họ sẽ chia quân và tấn công nhà Tống và châu Âu cùng một lúc. Quân Mông Cổ sẽ đánh những trận đánh trải dài suốt năm ngàn dặm và hơn một trăm vĩ độ – một chiến tích không đội quân nào khác làm được cho tới Thế chiến II, khi Hoa Kỳ và quân Đồng minh ra trận đồng thời trên hai mặt trận châu Âu và châu Á. Oa Khoát Đài phái ba đội quân – chủ yếu do các con trai ông yêu quý chỉ huy – để tiến đánh nhà Tống từ nhiều hướng khác nhau. Chiến dịch ở châu Âu sẽ do Hãn Bạt Đô chỉ huy và Tốc Bất Đài hướng dẫn; nhưng có lẽ để giảm thiểu quyền lực của Bạt Đô, các cháu trai của cả bốn nhánh của hoàng tộc đều được cử ra trận chỉ huy các mặt khác nhau của cuộc chiến. Oa Khoát Đài cử Quý Do – hoàng tử phiền toái và ít được lòng ông nhất.
Tuy rất táo bạo, song đây có lẽ là quyết định tồi tệ nhất trong lịch sử Đế chế Mông Cổ. Dù đạt được nhiều thắng lợi trong cuộc chiến chống nhà Tống, sau cùng, quân Mông Cổ không thể chiếm được vùng lãnh thổ chính của triều đại này; và Oa Khoát Đài mất cậu con trai ông yêu quý nhất. Điều này có lẽ là do không có sự tập trung thống nhất, cũng như thiếu sự hướng dẫn của Tốc Bất Đài. Bởi cuộc tấn công chỉ có nửa quân đội, nhà Tống sống sót được bốn thập niên nữa rồi mới quy phục nhà Mông Cổ. Trong khi đó, dù các hoàng tử liên tục tranh cãi, chiến dịch ở châu Âu đã thành công rực rỡ, nhưng như lần trước số của cải thu được rất ít so với những thành phố Thành Cát Tư Hãn từng chinh phục.
Mất hai năm để chuẩn bị cho chiến dịch tiến đánh châu Âu. Những người đưa tin đi tới khắp mọi nơi để tuyên truyền về quyết định và thông báo nhiệm vụ. Hệ thống trạm bưu điện mà Thành Cát Tư Hãn thiết lập được cải tạo và mở rộng theo quyết định của buổi hốt lý đài năm 1235; với một chiến dịch tầm vóc như vậy, việc giao tiếp nhanh chóng và chính xác trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Trước khi ra trận thật sự, quân Mông Cổ phái nhiều tiểu đội đi thăm dò hàng phòng ngự của địch, và xác định vị trí các đồng cỏ phù hợp cho cừu và dê, và cho bò và ngựa. Nếu vùng đồng cỏ tự nhiên không thể đáp ứng nhu cầu, quân Mông Cổ biến đất trồng trọt thành đất chăn thả bằng cách cho lính đi đốt những ngôi làng và đồng ruộng trên đường hành quân. Không được cày cấy, những vùng đất này quay lại thành đồng cỏ trước khi quân Mông Cổ đặt chân tới.
Chiến dịch năm năm ở châu Âu đánh dấu đỉnh cao về kỹ nghệ quân sự của quân Mông Cổ, và hầu hết mọi chuyện trên chiến trường đều diễn ra theo đúng kế hoạch. Quân đội xâm lược châu Âu bao gồm khoảng năm vạn lính Mông Cổ và mười vạn từ các nước đồng minh. Tốc Bất Đài có hiểu biết của một chiến binh và thợ săn trên thảo nguyên đã theo sát Thành Cát Tư Hãn và hiểu rõ cách ông suy nghĩ và chiến đấu. Không chỉ vậy, cuộc chiến còn được Mông Kha và Bạt Đô – hai cháu trai thông minh và tài giỏi nhất của Thành Cát Tư Hãn – dẫn dắt. Khi chiến dịch bắt đầu, quân dội Mông Cổ đã thấm nhuần công nghệ và tri thức chinh chiến cao cấp nhất của Trung Hoa và Hồi giáo, và trở thành một lực lượng chiến đấu khôn lường có lẽ còn hơn cả chính quân đội của Thành Cát Tư Hãn.
Tốc Bất Đài đặt mục tiêu đầu tiên là vùng sông Volga – nơi tộc người Bulgar* sinh sống. Năm Bính Thân 1236, toán quân chính khởi binh. Họ di chuyển với khoảng hai trăm lính tiền trạm và hai trăm lính bọc hậu. Trận chiến thật sự bắt đầu khi quân đội đặt chân tới dòng Volga. Ở đây, họ áp dụng một chiến thuật bất thường nhưng đã được chứng minh là có hiệu quả: chia quân tấn công đồng thời trên ít nhất hai mặt trận. Như vậy, quân địch không thể đoán định được thành phố hay quân vương nào mới là mục tiêu chính. Nếu một quân vương điều quân đi giúp một quân vương khác, quân Mông Cổ có thể tấn công thành phố không phòng bị đó. Trước viễn cảnh nguy hiểm và không chắc chắn đó, các quân vương đều giữ quân lính ở căn cứ để bảo vệ lãnh thổ của mình thay vì giúp đỡ nhau.
Tốc Bất Đài dẫn lính đi lên phía bắc sông Volga, tới vùng đất quê hương của người Bulgar, còn Mông Kha – con trai cả của Đà Lôi quá cố – dẫn một toán lính khác về hướng nam gặp người Thổ Kim Trướng. Dù một vài người bỏ chạy, những người còn lại đồng ý cùng quân Mông Cổ tấn công các thành phố Nga. Sau khi nhanh chóng hạ gục người Bulgar, quân Mông Cổ dùng lãnh thổ của họ làm căn cứ địa, và hàng triệu gia súc được chăn thả trên vùng thảo nguyên kéo dài hàng trăm dặm về hướng đông. Một số bộ lạc du mục sống ở vùng đồng bằng Đông Âu gia nhập quân Mông Cổ, còn các bộ lạc khác bỏ chạy, và từ đó gieo rắc nỗi sợ hãi hoảng loạn.
Từ sông Volga, quân Mông Cổ bắt đầu một cuộc chiến ba năm xuyên suốt Nga và Ukraina ngày nay. Khi do thám, họ nhận thấy các thành bang và thân vương quốc* vẫn chia cắt và thù địch lẫn nhau như khi quân Mông Cổ tấn công gần hai thập niên trước. Trong mọi trường hợp, Mông Cổ đều làm theo một phương thức. Họ bắt dầu chiến dịch ở mỗi vùng đất bằng việc gửi sứ giả tới đề nghị kinh thành đầu hàng, gia nhập Mông Cổ và trở thành chư hầu của Khắc hãn. Nếu chấp nhận, sứ giả hứa sẽ bảo vệ đất nước khỏi kẻ địch và cho phép họ giữ lại hoàng gia và tôn giáo. Đổi lại, người dân phải đồng ý cống nạp 10% của cải và hàng hóa cho Mông Cổ. Chẳng có mấy thành phố chấp nhận đề nghị này.
Một trong những mục tiêu đầu tiên là thành Riazan. Sử ký Novgorod năm 1238 ghi lại rằng “Quân Tartar tới đông không đếm xuể, như châu chấu.” Đầu tiên, quân Mông Cổ chia thành nhóm nhỏ tấn công vùng nông thôn. Mỗi lính Mông Cổ bắt một nhóm dân thường làm các nhiệm vụ như đào chiến lũy, chặt cây, hay vác đồ đạc. Sau đó họ đốt trụi làng, đẩy những người nông dân còn lại tới kinh thành tìm bình yên. Cuối cùng, khi quân Mông Cổ tới thành, họ cử một nữ sứ giả vào thành tuyên bố điều kiện và yêu cầu đầu hàng – điều khiến dân chúng trong thành khinh thường và sợ hãi. Lo ngại bà ta là phù thủy, quan lại trong thành từ chối cho bà vào để đàm phán. Vậy là quân Mông Cổ chuẩn bị tấn công.
Dường như quân Nga sợ hãi mọi thứ liên quan tới quân Mông Cổ. “Ngực chúng cứng và cường tráng,” một nhân chứng viết, “mặt mảnh và nước da nhợt nhạt, vai ngang và cứng nhắc, mũi ngắn và dị dạng; cằm nhọn và nổi bật, hàm trên thấp và sâu, răng dài và thưa, lông mày kéo dài từ tóc xuống tới mũi, mắt đen và tinh anh, nét mặt u ám và hung dữ, vóc người xương xẩu và mạnh mẽ, chân to nhưng cẳng chân ngắn.” Khi tấn công, quân Mông Cổ mặc một bộ giáp da nhẹ, dày ở phía trước nhưng mỏng ở phía sau “để chúng không muốn bỏ chạy.” Trên chiến trường, “chúng dùng phi tiêu, chuỳ, rìu, và kiếm… chiến đấu anh dũng và kiên cường, nhưng điểm mạnh chính của chúng là khả năng sử dụng cung tên.” Nếu bị bắt, “chúng không bao giờ cầu xin tha mạng, cũng không bao giờ nương tay với kẻ bại trận.” “Mục tiêu và đích đến cuối cùng của chúng là cai trị cả thế giới.”
Thay vì tìm cách phá tường thành Riazan, quân Mông Cổ sử dụng lực lượng lao động khổng lồ mà họ mới thu nạp để tiến hành một kế hoạch khiến dân chúng hoang mang và sợ hãi hơn nữa. Họ chặt hạ cây, khuân tới hàng ngũ quân Mông Cổ ngoài thành, và nhanh chóng xây một bức tường bao quanh tường thành. Bức tường này vây kín thành phố, chặn cổng thành, và ngăn lính phòng vệ ra ngoài thành tấn công quân Mông Cổ hay phá hủy máy công thành của họ. Bức tường này là phiên bản gỗ của loại hàng nerge truyền thống, được dùng để bao vây thú vật khi đi săn theo nhóm. Bức tường này khiến quân viện trợ không thể vào thành hay mang lương thực và đồ tiếp tế được. Ảnh hưởng tâm lý lớn nhất của bức tường có lẽ là việc nó khoá người dân trong thành, khiến họ không thể rời đi. Từ sau bức tường của mình, quân Mông Cổ ở ngoài tầm với của tên bắn từ trong thành ra, và họ có thể lắp ráp máy công thành và các thiết bị khác mà không bị nhìn thấy.
Từ vị trí an toàn này, các chiến binh Mông Cổ giờ nhìn xuống thành Riazan y hệt như cách các thợ săn Mông Cổ từ nhiều thế hệ nhìn xuống những con mồi co cụm từ trên sợi dây thừng móc trên cây và treo bằng các tấm chăn da thuộc. Vốn quen với kẻ địch dùng máy bắn đá hay khúc gỗ phá cổng thành, dân cư trong thành không có chút kinh nghiệm nào với các cải tiến mới trong phương thức tấn công mà quân Mông Cổ đã phát triển thành một loại chiến tranh mới. Máy bắn đá của họ trút xuống đá, mảnh gỗ, vạc dầu nóng, thuốc súng, và nhiều thứ lạ lẫm khác. Quân Mông Cổ dùng những thứ này làm chất gây cháy, nhưng cũng để làm bom khói và tạo mùi hôi. Ở châu Âu lúc này, những thứ này được coi là tà thuật và nguồn cơn bệnh tật. Họ dùng hỏa thương, không chỉ để bắn lửa và còn để bắn một tên lửa gây cháy nhỗ hay ném lựu đạn qua tường thành địch. Những dụng cụ bí hiểm này khiến dân chúng kinh hoàng tới độ họ kể lại sau này rằng quân Mông Cổ hành quân không chỉ bằng ngựa, mà còn bằng cả rồng chiến được huấn luyện.
Trong cuộc tấn công, lửa, khói, và nỗi hoang mang do những vật chất kỳ bí gây ra bởi những kẻ xâm lược ẩn mình vừa phá hủy hàng phòng ngự, vừa làm dân chúng mất tinh thần. Sau năm ngày oanh tạc, cuối cùng quân Mông Cổ cũng xuất hiện từ sau bức tường và dùng thang và phiến gỗ tấn công lớp tường thành giờ đã hư tổn ít nhiều. Họ chiếm được thành ngay trong ngày. Dân thường trú ẩn trong nhà thờ, nhưng nhiều người trong đó bị thiêu chết trong vụ cháy do quân Mông Cổ gây ra. Những kẻ chiến thắng tập hợp tầng lớp quý tộc đứng đầu và xử tử tất cả. Một nhà chép sử người Nga đương thời đã miêu tả thương vong như sau, sau khi quân Mông Cổ rời đi thì “không còn cặp mắt nào còn mở để khóc thương các linh hồn đã khuất nữa.” Trong số tù nhân, quân Mông Cổ lựa ra vài người để làm lao động, và bắt những người còn lại bỏ chạy tới thành phố gần nhất. Những người tị nạn không chỉ kể lại những chi tiết đẫm máu của cuộc tấn công và làm dân chúng thành phố này khiếp sợ, mà họ còn làm thành phố cạn kiệt nguồn lực từ trước khi quân Mông Cổ đặt chân tới tấn công nơi này.
Trong lúc những tù nhân mới phá bức tường vây hãm và bắt đầu di chuyển gỗ tới thành phố tiếp theo, một nhóm những nhà điều tra dân số đi theo quân đội để ghi lại số người, động vật, và sản vật thu được. Họ chia số hàng hóa và tù nhân theo luật chia phần cho tất cả mọi người, từ trẻ mồ côi và goá phụ tới Hoàng tộc. Sau đó họ phái hàng ngàn tù nhân mang số hàng hóa này về Karakorum.
Những người tị nạn lan truyền tin tức về quân Mông Cổ khắp châu Âu. Điều này được thể hiện qua bản ghi chép của Matthew Paris, một thầy tu của tu viện Benedictine ở Hertfbrdshire, Anh Quốc. Năm 1240 ông được cho là người đầu tiên ở Tây Âu nhắc tới người Mông Cổ khi gọi họ là “cả một bầy người thuộc dòng giống ghê tởm của Satan” và “như quỷ dữ sổng từ Tartarus.” Ông viết nhầm rằng “chúng được gọi là người Tartar theo tên dòng sông Tartar chảy qua dãy núi nơi chúng sống.” Tartarus là tên gọi tiếng Hy Lạp cho Địa ngục, hang động sâu thẳm nhất dưới nơi Thần chết Hades sống. Những người khổng lồ Ti tan dã bị đày xuống đây sau khi gây chiến với các vị thần.
Paris ghi rằng quân Mông Cổ “tàn phá các nước phía đông tới thê thảm, gây hỏa hoạn và giết chóc khắp mọi nơi chúng đi qua.” Sau đó ông miêu tả chi tiết những điều kinh hoàng mà những kẻ xâm lược này gây ra khi chúng “đốt trụi thành phố, phá hủy vườn tược, và tàn sát dân chúng và nông dân; nếu chúng ngẫu nhiên tha mạng cho ai đó khi họ van xin, chúng bắt họ hành xử như nô lệ hèn kém nhất, tức bắt họ đánh nhau với đồng loại trước mặt chúng. Nếu họ chỉ giả vờ đánh, hay cảnh báo cho đồng bào họ hãy bỏ chạy, quân Tartar sẽ đi theo và giết chết họ; còn nếu họ dũng cảm chiến đâu và chiến thắng, họ không nhận được chút đền bù nào để cảm tạ, những kẻ mọi rợ này đối xử với tù nhân như thể họ là ngựa.”
Bài chỉ trích của Matthew Paris chống lại quân xâm lược Mông Cổ từ lời cảnh báo sợ hãi trở thành sự khinh bỉ đầy kích động: “Những kẻ này vô nhân tính, mang bản chất súc sinh, đáng bị gọi là quái vật hơn là người; chúng thèm khát và uống máu, xé xác và ăn tươi nuốt sống cả chó và người.” Giữa những lời cay nghiệt khinh thường, ông có ghi lại một vài thông tin quan trọng và chính xác: “Chúng mặc đồ làm từ da bò và mang theo giáo sắt; dáng người chúng thấp đậm và nhỏ, nhưng rất cường tráng; bất bại trong chiến đấu và không biết mỏi mệt khi lao động; phần lưng chúng không có áo giáp, nhưng có ở mặt trước; chúng uống máu chảy từ bầy gia súc của chúng và coi đó là cao lương mỹ vị; đàn ngựa của chúng to và khỏe, ăn lá và thậm chí cả cây, và vì chân chúng ngắn, chúng cần bậc tam cấp để lên ngựa thay vì dùng bàn đạp yên ngựa.” Những phần miêu tả khác vừa có một chút sự thật lẫn lộn với vài định kiến kỳ lạ: “Chúng không có luật người, không có chút lương tâm, và độc ác hơn cả sư tử hay gấu; thuyền chúng làm bằng da bò, cứ mười tới mười hai tên lại có một cái; chúng rất giỏi chèo thuyền và bơi lội, vậy nên chúng vượt những con sông chảy xiết nhất mà không gặp trở ngại hay khó khăn gì; và khi không có máu, chúng hau háu uống nước bẩn, hay thậm chí là nước bùn.”
Cùng vào năm 1240 mà Matthew Paris viết lại những ghi chép này, quân Mông Cổ đã chinh phục được phần lớn các thành phố thuộc Nga và đang chuẩn bị tấn công trung tâm chính trị và tôn giáo quan trọng nhất vùng Slav: Kiev. Lợi dụng việc sông đóng băng sớm để vượt sông vào tháng Mười một năm Canh Tý 1240, sứ giả Mông Cổ đặt chân tới cổng thành Kiev. Như dự đoán, quan lại trong thành giết chết họ và vênh vang treo xác họ lên nóc cổng thành.
Dưới sự lãnh đạo của Mông Kha, quân Mông Cổ tập trung quanh thành phố vào đầu mùa đông. Sự kiện này được các thầy tu Nga miêu tả là “hàng đoàn quân Tatar.” Tiếng quân Mông Cổ được cho là ồn tới nỗi người dân trong thành không thể nghe thấy tiếng nhau. Trong lúc quân lính cố gắng bảo vệ tường thành, dân thường trú ẩn trong Nhà thờ Đức mẹ Đồng trinh tráng lệ. Khi đã hết chỗ, mọi người quyết định đóng cửa nhà thờ. Những người lánh nạn khác trong lúc sợ hãi đã trèo lên tường nhà thờ để trốn trên mái nhà, để được đền thờ của Đức mẹ che chở, tới mức trọng lượng của họ làm cả toà nhà đổ sập, và đè nát đám đông ở trong.
Ngày 6 tháng Mười Hai năm 1240, quân Mông Cổ chiếm được thành phố rồi cướp bóc và đốt trụi nó. Vị tướng lĩnh Dmitri người Kiev đã chiến đấu rất can trường, kể cả sau khi bị nhiều nhà quý tộc trong thành bỏ rơi. Trân trọng tài năng quân sự và sự ngoan cường của ông ta, Bạt Đô đã tha mạng và thả cho ông đi. Giai đoạn quân Mông Cổ xâm lược Nga đang dần đi đến thành công. Chỉ hơn một năm sau đó, trong ghi chép của năm 1242, Bạt Đô không chỉ được gọi là Hãn của người Mông Cổ, mà còn là Tsar Bạt Đô, có nghĩa là Nga Hoàng Bạt Đô trong Sử ký Novgorod thể hiện quyền thống trị mới thiết lập với các hoàng gia đang xung đột ở Nga. Như Quân vương Michael đã nói khi diện kiến Hãn Bạt Đô: “Hỡi Nga hoàng, thần xin cúi đầu trước Người, bởi Chúa đã ban cho ngài quyền trị vì thế giới này.”
Sau khi Kiev thất thủ, cuộc xâm lược Đông Âu của quân Mông Cổ đã hoàn tất. Quân Mông Cổ đẩy thêm người tị nạn sang phía tây và gieo rắc nỗi sợ hãi qua những câu chuyện truyền miệng từ trước khi họ tới. Những người tị nạn có rất ít thời gian để chạy trốn trước khi Tốc Bất Đài gửi thêm quân trinh thám vào tháng Hai năm 1241, trong khoảng thời gian những con sông vẫn còn đóng băng và kỵ binh có thể di chuyển nhanh chóng đến đồng bằng Hungary. Trên chiến trường châu Âu, quyền lãnh đạo Đế chế Mông Cổ cũng như cả thế giới là cuộc chiến không mang tính quân sự mà quân Mông Cổ dễ dàng chiến thắng, mà là cuộc tranh giành quyền lực giữa các cháu trai của Thành Cát Tư Hãn. Sự lên ngôi thông qua thỏa hiệp của Oa Khoát Đài sau cái chết của cha không thể hoàn toàn xoa dịu xung đột; nó chỉ trì hoãn vấn đề lại một thế hệ, và thế hệ này đang nắm trong tay toàn bộ lực lượng quân sự của Mông Cổ trên khắp châu Âu và đang thèm muốn quyền lãnh đạo.
Tốc Bất Đài được phò tá bởi đại diện từ các gia đình của bốn người con của Thành Cát Tư Hãn. Sau cái chết của người con cưng của Oa Khoát Đài, một trong những người này sẽ trở thành vị Khắc hãn tiếp theo, nhưng mà ai? Theo luật Mông Cổ, người kế vị phải được bầu chọn ở một buổi hốt lý đài, và chiến dịch châu Âu là nền tảng khẳng định cũng như chiến dịch bầu cử của họ. Những người cháu tranh giành quyền lãnh đạo và vị trí trong hệ thống thứ bậc đang dần hình thành, và một phần của việc này bao gồm việc được ghi nhận chiến công. Cũng như nhiều thủ tục chính trị khác của Mông Cổ, đây là một cuộc tranh đấu rất quyết liệt. Trong yến tiệc chiến thắng, Bạt Đô đứng dậy bắt đầu buổi tiệc. Là người uống đầu tiên, ông thể hiện vai trò của người lớn tuổi nhất và nắm quyền cao nhất trong bốn người cháu, đồng nghĩa với tuyên bố ông tin rằng mình sẽ trở thành người kế vị. Quý Do cực lực phản đối, cho rằng anh nên là người bắt đầu tiệc trước Bạt Đô vì anh là con trai của Khắc hãn quá cố. Một người cháu khác, Buri, là một người “cứng đầu và can đảm” nhưng “thốt ra những lời lỗ mãng khi say,” đã nhắc lại vấn đề cũ và nghiêm trọng nhất của gia đình khi giận dữ nhắc lại rằng Bạt Đô không phải là người trong gia đình bởi cha của Bạt Đô là một người con hoang Miệt Nhi Khất.
Theo một bản ghi chép mà sau này được gửi cho Khắc hãn, ba hoàng tử đã tranh cãi gay gắt rất lâu. Buri hét vào mặt Bạt Đô: “Mày chẳng hơn gì một mụ già có râu”; Quý Do cũng hùa theo: “Bạt Đô là một mụ già với ống tên.” Tức giận trước cách cả gia đình đối xử với họ, Quý Do và Buri bỏ ngang bữa tiệc, lên ngựa vừa bỏ đi vừa chửi. Khi Hãn Oa Khoát Đài biết tin, ông rất giận dữ. Oa Khoát Đài triệu tập hai người đến triều đình. Ban đầu, ông không chịu gặp mặt và đe doạ sẽ xử tử người con trai Quý Do. Ông nói về người con hư hỏng của mình: “Để cho nó ung như một quả trứng!”
Sau khi bình tĩnh lại và cho phép Quý Do vào ger, ông quở trách Quý Do nặng nề vì đã xung đột với người nhà và đối xử tệ hại với lính của anh. Ông mắng: “Mày làm cả quân đội nhụt chí.” Khi hỏi con trai về cách đối xử với lính của mình, ông mỉa mai: “Mày nghĩ quân Nga đầu hàng vì sự nhỏ nhen của mày đối với quân lính sao? Mày nghĩ họ đầu hàng vì sợ mày sao? Mày nghĩ mày thắng trận chiến nhờ bắt được một hai tên lính, nhưng mày còn không bắt nổi một con dê non.”
Oa Khoát Đài tiếp tục mắng mỏ con trai: “Mày mới ra khỏi ger lần đầu tiên nên mới cố khoe khoang bản thân thế. Mày làm như thể mày đã có được mọi thứ. Mày gào thét vào mặt người khác như thể họ chỉ là súc vật.” Ông chỉ bình tĩnh lại sau khi được các cháu trai xoa dịu. Ông trích lời cha mình rằng mọi vấn đề quân sự cần được giải quyết trên thảo nguyên, rồi bảo tất cả con cháu mình tiếp tục cuộc chinh phục Âu châu.
Châu Âu vốn không nghe nói nhiều về những cuộc chinh phục trước đó của Thành Cát Tư Hãn ở châu Á, và chỉ biết chút ít về việc ông đánh bại đế quốc Khwarizm – nhưng đột nhiên, khi Kiev thất thủ, một làn sóng người tị nạn và chuyện kể tràn ra từ Đông Âu. Bám sát gót họ, dường như từ mọi hướng, là những kỵ sĩ Mông Cổ đáng sợ. Matthew Paris viết rằng quân Mông Cổ xâm lược phương Tây “như chớp giật trên lãnh thổ người Ki-tô giáo, tàn phá cả đất nước, giết người không ghê tay, và khiến tất thảy đều kinh hoàng không thể diễn tả được.” Đây có lẽ là lần đầu tiên kiểu chiến tranh “chớp giật” này được nhắc tới, sau này nó được biết đến bằng tên gọi tiếng Đức Blitzkrieg*.
Tốc Bất Đài ra lệnh cho một đội quân năm vạn người đi theo ba hướng tới Hungary ở phía nam, và một đội quân hai vạn người băng ngang Ba Lan tới Đức ở phía bắc để đánh lạc hướng. Quân Mông Cổ càn quét suốt chừng bốn ngàn dặm từ quê hương Mông Cổ qua vùng đồng bằng Đông Âu tới Ba Lan và Hungary – tới hẳn tường thành Vienna và các thành phố của các Hiệp sĩ Dòng Teuton* và Liên minh Hanse* ở Đức. Ở phía bắc, họ băng ngang Ba Lan như đá sỏi bắn ngang hồ băng. Quân Mông Cổ đi tới đâu, các thành phố sụp đổ tới đó. Công tước Henry Đệ Nhị vùng Silesia* tập hợp một đội quân ba vạn lính, bao gồm các hiệp sĩ từ khắp nơi trên nước Đức, Pháp và Ba Lan; trong lúc kêu gọi tòng quân bắt buộc, ông đã hoảng sợ tới mức triệu tập cả một nhóm thợ đào vàng để đánh giặc. Ngày 2 tháng Tư năm 1241, hai đội quân gặp nhau ở Liegnitz, gần biên giới Đức – Ba Lan ngày ngay. Quân Mông Cổ chọn một khoảnh đất trống cách thành phố khoảng sáu dặm. Chiến trường này sau này trong tiếng Đức được gọi là Wahlstatt, “nơi được chọn.”
Công tước Henry ra lệnh cho kỵ binh tấn công quân Mông Cổ. Quân Mông Cổ đẩy lùi đợt tấn công thứ nhất, nhưng có vẻ lép vế vào đợt hai và rồi đột nhiên bỏ chạy. Các hiệp sĩ châu Âu hò reo chiến thắng, phá hàng ngũ và bắt đầu đuổi theo quân địch. Quân Mông Cổ rút quân từ từ, chỉ ngoài tầm với của vũ khí mà các hiệp sĩ dùng một chút. Để rồi ngay khi ngựa châu Âu bắt đầu mệt mỏi dưới sức nặng của bộ giáp của người cưỡi, xung quanh họ đột nhiên rầm rầm tiếng nổ và khói bao trùm khắp nơi, khiến tất cả đều rất hoang mang. Theo lời nhà chép sử Jan Dlugosz, trên chiến trường quân Mông Cổ sử dụng một công cụ trông giống “một cái đầu lớn, từ trong đó bùng ra một đám mây với mùi kinh tởm bao trùm quân Ba Lan và khiến họ chỉ chút nữa là ngất xỉu, và không thể giao chiến được.” Sự ồn ào và khói tách các hiệp sĩ châu Âu khỏi lính bắn cung và bộ binh đang ở rất xa phía sau. Một lần nữa, quân Mông Cổ đã lừa cho quân giặc quá tự tin rồi dụ họ vào bẫy chết người. Các hiệp sĩ – phân tán, thiếu tổ chức, hoang mang, và mệt mỏi – trở thành mục tiêu dễ dàng cho quân Mông Cổ; họ quay ngựa và bắt đầu bắn hạ quân địch.
Quân Mông Cổ đè bẹp quân Đức. Ghi chép ở châu Âu ghi lại rằng hai mươi lăm ngàn trên tổng số ba vạn lính đã tử trận, nhưng quân Mông Cổ đã bắt khá nhiều người – nhất là các thợ mỏ. Người Mông Cổ dù chưa hiểu nghề này lắm nhưng đánh giá nó rất cao, bởi họ luôn tìm kiếm những người có kỹ năng và tài năng mới lạ. Quân chiến thắng yêu cầu hàng ngàn thợ mỏ đi về phía đông để khai thác những mỏ khoáng giàu có ở Dzungaria, vùng đất ở tây Mông Cổ do Oa Khoát Đài sở hữu.
Cả chiến dịch từ Kiev tới Đức chỉ là chiến thuật đánh lạc hướng của quân Mông Cổ để châu Âu không gửi quân phòng thủ mục tiêu chính của họ: xâm lược vùng đồng bằng Hungary. Sau khi tiêu diệt phần lớn quân đội phía bắc, cũng như phân tán và vô hiệu hóa phần còn lại, quân Mông Cổ rút quân khỏi các thành phố ở Đức và Ba Lan; dần dần, dân chúng địa phương tự thuyết phục bản thân rằng họ đã thắng cuộc chiến và đẩy lùi quân xâm lược. Vị Công tước Henry Đệ Nhị được tung hô là Henry Sùng đạo, và một tu viện dòng Benedictine đã được xây dựng cùng một đền thờ ở đúng vị trí mà theo huyền thoại Ki-tô là nơi mẹ ông, Thánh nữ Hedwig, đã tìm thấy xác ông trong trạng thái khỏa thân và mất đầu, và chỉ nhận dạng được ông nhờ bàn chân trái sáu ngón. Sau này, vào thế kỷ mười chín, chính quyền Phổ đã biến tu viện thành trường quân sự, nơi họ đào tạo các sĩ quan Đức tương lai, tập trung nhấn mạnh vào chiến thuật của cuộc chiến diễn ra ở đó.
Chỉ trong vài ngày, chiến thuật mà quân Mông Cổ áp dụng để đánh bại và thảm sát các hiệp sĩ Đức đã tái xuất ở Hungary trên một chiến trường lớn hơn và với lượng thương vong lớn hơn nhiều. Sau khi đội quân năm vạn người của Tốc Bất Đài đã cướp bóc gần hết Hungary, họ bắt đầu lui quân khi bị vua Béla* và quân của ông đuổi theo. Tốc Bất Đài cho quân lui trong vài ngày, tới khi ông đi tới vùng đồng bằng Mohi có địa hình thích hợp cho thắng lợi của quân Mông Cổ. Ở đó, quân Hungary tụ tập lại thành một nhóm chặt chẽ, được một vòng xe cùng xích sắt bao quanh. Họ theo lệnh vua ở trong đó trong nhiều ngày. Với Bạt Đô, anh đã quen cho quân lính ngủ rải rác thành nhóm nhỏ, việc quân Hungary tụ lại thành một nhóm chặt chẽ với xích sắt xung quanh giống như cách quân Mông Cổ treo mình trên vòng dây và chăn da thuộc để bao vây con mồi trong các cuộc săn lớn. Quân Mông Cổ lấy máy bắn đá và bắt đầu lăng hỗn hợp bí ẩn gồm dầu mỏ, thuốc súng, dầu sôi, và các chất khác.
Đối mặt với khói và lửa, quân Hungary buộc phải rời khỏi trại. Họ nhận thấy quân Mông Cổ đã bao vây gần hết khu vực xung quanh, trừ một khu vực dường như đã bị bỏ quên. Với quân lính Hungary theo Ki-tô giáo, việc này gần như là một phép màu, bởi lỗ hổng này nằm ở đúng hướng đi về kinh thành Pest*, chỉ cách đó ba ngày đường. Quân Hungary liền lên đường quay về nhà, nỗi sợ hãi lớn dần theo từng bước đi: họ chạy, phi nước đại, rời hàng ngũ phân tán, và thả vũ khí để chạy thoát nhanh hơn. Tất nhiên, quân Mông Cổ đã chủ ý để hổng vị trí này; các kỵ sĩ đã mai phục để chờ kẻ địch đang sợ hãi bỏ trốn. Họ dồn quân địch vào đầm lầy để tự chết chìm. Nhà ghi chép Thomas vùng Spalato, tổng giám mục của thành phố Split thuộc Croatia ngày nay, đã gọi quân Mông Cổ là de Peste Tartorum – “đại dịch Tartar,” và ghi chép lại cuộc sát hại quân Hungary rất chi tiết: “Người chết khắp nơi như lá mùa đông, xác những kẻ đáng thương trải khắp đường, máu chảy như mưa bão.”
Trước cảnh các hiệp sĩ đại bại trước quân Mông Cổ trên chiến trường, các tu sĩ giờ cố gắng trấn áp họ bằng các phương sách siêu nhiên. Có lẽ vì biết rằng có nhiều lính Mông Cổ theo Ki-tô giáo, nhưng không biết họ căm ghét việc tiếp xúc với xác chết thế nào, các thầy tu cố cản bước quân Mông Cổ tiến vào Pest bằng cách treo xương và các di vật khác của các vị thánh của họ trước quân địch đang tiến đến. Việc phải nhìn thấy các phần xác chết khiến quân Mông Cổ nổi giận, bởi với họ hành vi này vừa kinh tởm vừa xúc phạm về mặt tập quán. Lo ngại và tức giận, quân Mông Cổ không chỉ giết các thầy tu, mà còn đốt các di vật và nhà thờ để thanh tẩy. Với châu Âu, cuộc tấn công này gây thiệt hại cả về mặt quân sự và tôn giáo, bởi không những vua và các binh lính bị giết hại, Hungary còn mất cả một giám mục, hai tổng giám mục, và nhiều hiệp sĩ Đền Thánh*.
Quân Mông Cổ đã tiêu diệt tầng lớp hiệp sĩ của nước này, và khiến vua Béla IV chạy về phía nam tới biển Adriatic*. Nhiều ghi chép còn tồn tại tới ngày nay đã miêu tả ảnh hưởng kinh hoàng về mặt tâm lý và cảm xúc của cuộc xâm lược này, trong đó có Carmen Miserabile super Destructione Regni Hungariae per Tartaros [Bài ca buồn về cuộc tàn phá Hungary của giặc Tartar] của Roger vùng Torre Maggiore. Tầng lớp hiệp sĩ của châu Âu – được khóc thương là “đoá hoa” của giới hiệp sĩ và quý tộc nơi đây – không bao giờ phục hồi được sau khi mất gần một trăm ngàn lính ở Hungary và Ba Lan. Không còn nữa các thành phố có tường bao quanh hay các hiệp sĩ giáp trụ nặng nề, và trong mùa Phục sinh năm 1241 đó, giữa làn khói và thuốc súng, chiến thắng của quân Mông Cổ báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ phong kiến châu Âu, cũng như của thời Trung Cổ.
Cuối năm 1241, chỉ vài tháng sau thắng lợi của quân Mông Cổ, sự cảnh giác biến thành nỗi sợ hãi khi nhật thực xảy ra và che lấp mặt trời vào Chủ nhật, ngày 6 tháng Mười. Dân chúng khắp châu Âu coi việc nhật thực xảy ra vào ngày linh thiêng là dấu hiệu chắc chắn rằng quân Mông Cổ sẽ gây ra nhiều tang thương hơn nữa. Nỗi sợ hãi càng trầm trọng hơn bởi họ không hiểu biết về danh tính những kẻ tấn công. Trong một lá thư được phổ biến khắp nơi nhưng đầy thông tin sai lệch, một thầy tu báo cáo lại cho vị tổng giám mục Bordeaux rằng quân Mông Cổ là “những kẻ ăn thịt người từ Địa ngục; chúng ăn xác chết sau cuộc chiến và chỉ để lại xương, những thứ mà cả loài chim săn mồi còn không thèm đếm xỉa đến.” Theo những lời kể chi tiết và rõ ràng là có ý khiêu khích này, quân Mông Cổ thích ăn thịt các phụ nữ lớn tuổi, và ăn mừng chiến thắng bằng cách hiếp dâm tập thể các trinh nữ theo đạo Ki-tô tới khi họ chết vì kiệt sức. Sau đó “ngực các cô gái bị xẻo làm cao lương mỹ vị cho các thủ lĩnh, còn xác họ là bữa yến tiệc cho lũ mọi rợ này.”
Chiến thắng liên tiếp của quân Mông Cổ trước người Bulgar, Nga, Hungary, Đức và Ba Lan làm dấy lên tâm lý cảnh giác và gần như hoảng loạn ở nhiều nơi. Những kẻ này là ai, và chúng muốn gì? Như Matthew Paris đã than thở, không ai ở châu Âu nói được ngôn ngữ của họ: “Cho tới giờ không có cách nào để tiếp cận chúng, và bản thân chúng cũng không tự ra mặt để cho phép người khác hiểu được tập tục hay con người chúng.”
Không còn nguồn tư liệu hữu ích nào khác, các tu sĩ tìm kiếm câu trả lời trong Kinh Thánh. Với họ, cái tên “Tartar” nghe giống “Tarshish.” Vị vua của những người này “sẽ thống trị từ đại dương này tới đại dương khác, từ các dòng sông tới tận cùng Trái đất.” Sách thánh ca cũng nói rằng: “Những kẻ sống trong bóng tối sẽ cúi đầu trước ông ta; và những kẻ đối đầu với chúng sẽ chịu thất bại thảm hại. Những vị vua Tarshish và của các đảo sẽ mang tới các món quà.”
Với các thầy tu, việc nhắc tới các món quà kết nối vị vua Tarshish với Ba Vị Vua từ phía đông đã mang quà tới Chúa Hài đồng, và đột nhiên họ nhìn thấy một lời giải thích kết nối những đoạn văn này với người Mông Cổ. Năm 1164, lính Thập tự chinh Đức trở về từ chiến trận ở nước ngoài mang về xương mà họ nói là từ Ba Vị Vua; năm 1181, người Đức chế tạo ra một hòm đựng thánh tích tinh xảo tráng men vàng để đựng chúng và đặt trong thánh đường tuyệt đẹp mới được xây dựng ở Cologne. Do vậy, bởi sự kiện này và bởi ai cũng nhận ra rằng đây là một vụ trộm thánh tích, các con chiên lo ngại rằng người Tartar đang xâm lược châu Âu để đòi lại xương cốt tổ tiên họ. Nếu vậy, quân Mông Cổ sẽ thẳng qua vùng trung tâm châu Âu để tới mục tiêu là Cologne.
Khi quân Mông Cổ đi về phía nam từ Hungary về phía bán đảo Balkan, và do vậy không đặt chân tới Cologne, các tu sĩ suy luận rằng nếu quân Mông Cổ không tìm kiếm xương cốt của Ba Vị Vua, có lẽ chúng là người Do Thái bị lưu đày và không thể trở về nhà sau khi bị giam giữ ở Babylon. Chúng đã bị ngăn cách và cô lập bởi một con sông chảy xuyên Ba Tư. Các nhà chép sử châu Âu ghi lại rằng năm 1241 là năm 5000 theo lịch Do Thái, và trong năm đó, nhiều người Do Thái đang chờ đợi một đấng cứu thế hay Vua David tái xuất hiện.
Ban đầu, Matthew Parris có vẻ nghi ngờ giả thuyết này, bởi người Mông Cổ không nói tiếng Hebrew và không có luật lệ nào, trái ngược với câu chuyện Chúa đưa luật lệ cho Moses. Tuy nhiên, bởi không còn lời giải thích nào khác, Paris nhanh chóng tìm ra cách kết nối người Mông Cổ và người Do Thái, cũng như những điểm tương đồng giữa thời của Moses và của ông. Những kẻ lạ mặt này có thể là các bộ lạc Hebrew lưu lạc, vì “từ thời Moses cai trị trái tim nổi loạn của chúng đã có lối nghĩ tà ác, và do vậy chúng thờ phụng những vị thần và tập quán lạ lùng; nhờ sự trả thù của Chúa, theo một cách còn tuyệt vời hơn, không đất nước nào khác biết tới chúng, tâm hồn và ngôn ngữ của chúng bị rối loạn, và cuộc đời chúng giờ như loài quái vật hoang dã, độc ác, không lý trí.”
Vì “người Do Thái là những kẻ cực kỳ ác độc,” những tín đồ Ki-tô giáo buộc tội họ đã mang cơn giận của người Mông Cổ trút xuống những con chiên vô tội. Theo ghi chép vô lý của Paris, các thủ lĩnh Do Thái ở châu Âu “đã bí mật tổ chức buổi gặp mặt ở một nơi bí mật.” “Kẻ thông thái và quyền lực nhất trong số chúng” phát biểu, giải thích rằng “những kẻ ngoại đạo của các bộ tộc ở Israel, những kẻ từng bị cô lập, nay đã tới để cùng chúng ta thống trị cả thế giới. Thương đau của chúng ta trước đây càng nặng nề và dai dẳng, thì vinh quang của chúng ta sau này sẽ càng vĩ đại hơn.” Người này được cho là đã yêu cầu người Do Thái đón tiếp quân Mông Cổ “bằng các món quà quý giá, và chào đón họ một cách long trọng nhất: họ cần ngô, rượu vang, và vũ khí.” Bởi vậy, người Do Thái thu thập “tất cả kiếm, dao găm và vũ khí mà họ có thể mua được, và để che giấu sự phản bội của mình, đã giấu chúng trong các thùng kín.” Không còn lời giải thích nào khác hợp lý hơn, các tín đồ Ki-tô giáo coi đây là bằng chứng của “sự phản bội và lừa lọc của người Do Thái.” Họ liền lập tức bị đưa ra xét xử, và phải nhận án tù chung thân hoặc bị giết bằng chính thanh kiếm của mình.
Dù câu chuyện này nghe rất phi lý và thiếu căn cứ, nó đã gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng khắp châu Âu. Dù không thể đánh bại quân Mông Cổ, những kẻ đe doạ biên giới nền văn minh của họ, người châu Âu vẫn có thể tiêu diệt người Do Thái – kẻ thù tưởng tượng của họ ở ngay trên quê nhà. Ở tất cả các thành phố từ York tới Rome, các đám đông Ki-tô giáo giận dữ tấn công khu vực người Do Thái sinh sống, với mong muốn trừng phạt họ bằng các cách chúng nghe nói người Mông Cổ sử dụng trong chiến dịch của mình. Chúng đốt nhà và giết hại người Do Thái. Những người bỏ trốn được đi khắp nơi tìm nơi trú ẩn, nhưng ở đâu họ cũng bị tấn công. Để nhận dạng các người tị nạn Do Thái và ngăn cản họ đặt chân vào vùng của người Ki-tô giáo, nhà thờ ra lệnh rằng người Do Thái phải mặc trang phục và đeo dấu hiệu riêng để tất cả đều nhìn thấy và nhận ra được.
Sau khi quân đội Hungary đại bại, con đường tới Vienna rộng mở, và chỉ trong vài tuần, cư dân địa phương hoảng sợ khi nhìn thấy lính trinh sát của Mông Cổ lảng vảng ở vùng ngoại ô thành phố. Trong một cuộc đụng độ với một trong những người này, quân Habsburg bắt một chỉ huy Mông Cổ. Người này, trước sự bất ngờ và khinh thường của người Ki-tô giáo, hóa ra lại là một người Anh tuổi trung niên, biết chữ và đã đi qua vùng Đất Thánh, nơi ông dường như đã nhận ra năng khiếu học và phiên âm ngôn ngữ. Có người cho rằng với trình độ học vấn như vậy và việc ông rời nước Anh, ông có thể có liên quan tới vụ việc vua John bị bắt ký Magna Carta* vào năm 1215. Sau khi chạy trốn khỏi nước Anh và có thể bị Nhà thờ Công giáo La Mã khai trừ, ông quyết định gia nhập quân Mông Cổ, bởi họ có cái nhìn bao dung hơn. Việc một người châu Âu từng theo Ki-tô giáo có mặt trong quân đội Mông Cổ có nghĩa là quân Mông Cổ thật sự là người chứ không phải một bầy quái vật, nhưng những người Ki-tô giáo sợ hãi đã lập tức giết kẻ phản đạo này trước khi tra hỏi về nhiệm vụ bí hiểm của quân Mông Cổ bên ngoài Vienna.
Người Anh này bị bắt cùng lúc với việc quân Mông Cổ dừng cuộc xâm lược châu Âu. Họ đã đi theo vùng thảo nguyên xuyên suốt châu Á, Nga, Ucraina, Ba Lan và Hungary; nhưng họ dừng bước khi không còn đồng cỏ. Vì mỗi chiến binh có năm ngựa, họ rất cần thảo nguyên. Họ sẽ không còn các lợi thế về tốc độ, khả năng di chuyển và yếu tố bất ngờ nếu phải lần tìm đường qua rừng, sông, và đồng ruộng với cây trồng, hào, bờ giậu và hàng rào gỗ. Đường cày trên ruộng quá mềm cho vó ngựa. Nơi đồng ruộng bắt đầu xuất hiện cũng là lúc thảo nguyên khô ráo nhường đường cho khí hậu ẩm của vùng bờ biển. Sự ẩm thấp làm cung tên Mông Cổ kém căng và chuẩn xác.
Dù đã thăm dò bờ bên kia của sông Danube, cuộc tổng xâm lược Tây Âu của quân Mông Cổ cuối cùng không diễn ra. Ngày 11 tháng Mười hai năm 1241, Oa Khoát Đài băng hà, được cho là trong lúc đang say. Mất bốn đến sáu tuần để quân Mông Cổ nghe được tin ở châu Âu, cách Karakorum bốn ngàn dặm. Sát Hợp Đài cũng qua đời vào khoảng thời gian đó, có nghĩa là chỉ trong vòng mười bốn năm sau khi Thành Cát Tư Hãn mất, cả bốn người con của ông cũng đã qua đời, và giờ đây các hoàng tử – cháu trai của Thành Cát Tư Hãn – liền vội vã trở về nhà để tiếp tục cuộc chiến kế thừa ngôi Khắc hãn. Cuộc tranh giành nội tộc này sẽ kéo dài mười năm nữa – và ít nhất trong mười năm này, phần còn lại của thế giới sẽ không phải lo lắng về quân Mông Cổ.
Đầu năm Nhâm Dần 1242, quân Mông Cổ rút quân từ Tây Âu về doanh trại ở Nga. Họ không cướp bóc được nhiều ở châu Âu, và các đội quân họ đánh bại không có nhiều quân nhu. Vật dụng có giá trị nhất mà quân Mông Cổ lấy đi là lều và đồ đạc từ doanh trại của vua Hungary, được Bạt Đô sử dụng cho doanh trại chính của ông ở sông Volga. Dù không có nhiều chiến lợi phẩm, quân Mông Cổ đã tìm thấy nhiều nghệ nhân, ví dụ như thợ mỏ ở vùng Sachsen*, người ghi chép và thông dịch, và từ cuộc tấn công Belgrade và bán đảo Balkan là cả một nhóm tù nhân người Pháp, trong đó có ít nhất một thợ mỏ vàng từ Paris.
Thất vọng với số chiến lợi phẩm từ cuộc xâm lược nhưng vẫn muốn khoe khoang lợi lộc, các tướng Mông Cổ đặt ra thỏa thuận với các lái buôn Ý ở Crimea. Để đổi lấy một số lượng lớn hàng hóa, quân Mông Cổ giao nhiều tù nhân châu Âu của họ cho các lái buôn, đặc biệt là những ai còn trẻ, để bán làm nô lệ ở vùng Địa Trung Hải. Đây là mở đầu cho mối quan hệ lâu dài và nhiều lợi lộc giữa quân Mông Cổ và các thương nhân ở Venice và Genoa, bởi họ đã mở điểm buôn bán ở đấy để đáp ứng thị trường mới này. Người Ý cung cấp hàng hóa sản xuất cho người Mông Cổ để được quyền buôn bán nô lệ Slav ở thị trường Địa Trung Hải.
Quyết định cho phép buôn bán người này trong tương lai sẽ trở thành vấn đề rất lớn cho Mông Cổ, bởi phần lớn nô lệ bị người Ý bán vào quân đội của sultan Ai Cập. Hai mươi năm sau, định mệnh sẽ khiến quân Mông Cổ đụng độ quân đội này. Họ chủ yếu là người Slav và Kim Trướng với nhiều kinh nghiệm đối đầu với Mông Cổ, và nhiều người trong số họ đã học cả tiếng Mông Cổ trước khi bị đưa đi. Cuộc chiến tương lai ở Biển hồ Galilee thuộc Israel ngày nay sẽ có một kết cục khác xa lần chạm mặt đầu tiên ở đồng bằng Nga.