Chúa trời cho bàn tay ta các ngón khác nhau, và Người cũng cho loài người nhiều cách khác nhau.
HÃN MÔNG KHA
TRONG LÚC NAM GIỚI Mông Cổ chinh phục các nước khác trên chiến trường, đất nước nằm dưới sự cai trị của những người phụ nữ. Ở các bộ lạc chăn gia súc, phụ nữ thường lo việc nhà trong khi đàn ông đi chăn gia súc, săn bắn hay chiến đấu, và dù các cuộc chiến giờ kéo dài hàng năm chứ không phải chỉ vài tháng, và nhà không chỉ là vài ger mà là cả một vương quốc rộng lớn, phụ nữ vẫn tiếp tục nắm quyền cai quản. Ngoài Nga và Đông Âu, nơi dưới thời Oa Khoát Đài chiến trận diễn ra liên miên, phụ nữ cai trị toàn bộ phần còn lại của vương quốc Mông Cổ. Dù có mâu thuẫn với Oa Khoát Đài, người vợ goá của con trai út Đà Lôi của Thành Cát Tư Hãn, Sorkhokhtani, vẫn cai trị phía bắc Trung Hoa và phía đông Mông Cổ, bao gồm cả vùng đất tổ nơi Thành Cát Tư Hãn lớn lên. Ebuskun, vợ goá của Sát Hợp Đài, con trai thứ hai của Thành Cát Tư Hãn, cai quản Trung Á hay Turkestan.
Trong thời gian Oa Khoát Đài làm Khắc hãn, trong suốt một thời gian dài ông luôn say xỉn nên không thể thiết triều, và dần dần giao quyền quản lý cho Thoát Liệt Ca Na, người vợ tài giỏi nhất của ông dù bà không có vị trí cao nhất. Khi ông qua đời vào năm 1241, bà trở thành nhiếp chính. Trong vòng mười năm sau đó, tới năm 1251, bà cùng một vài người phụ nữ khác cai trị đế quốc lớn nhất trong lịch sử thế giới. Họ đều không phải người Mông Cổ mà đều từ một bộ lạc trên thảo nguyên bị đánh bại về làm dâu, và phần lớn theo Ki-tô giáo. Giới tính hay tôn giáo đều không ngăn cản họ vươn tới quyền lực hay tranh đấu chống lại nhau, bởi tất cả đều mong muốn đưa cả vương quốc vào tay con trai mình.
Cuộc chiến quyền lục dù căng thẳng tới đâu cũng diễn ra khá yên bình, trừ số phận sau cùng của chính những người đàn bà này: nếu thua cuộc, họ đều phải chịu một cái kết kinh hoàng. Bên ngoài tranh đấu triều đình, thời kỳ này mang tới một thập niên hòa bình rất cần thiết khắp vương quốc, cơ hội củng cố một số tài sản, và hồi phục sau bốn mươi năm Thế chiến Mông Cổ Thứ Nhất (1212-1241) và chuẩn bị cho cuộc chiến tiếp theo.
Ghi chép xa xưa nhất về quyền lực và vai trò quan trọng của Thoát Liệt Ca Na là một sắc lệnh bà đưa ra về việc in ấn văn bản Đạo giáo dưới tước hiệu Yeke Khatun – Nữ hoàng Vĩ đại – sử dụng tên riêng của bà cũng như ấn của Oa Khoát Đài vào ngày 10 tháng Tư năm 1240. Văn kiện này thể hiện rõ là bà không chỉ điều hành vương quốc, mà trong lúc những người đàn ông đang chinh chiến, bà còn theo đuổi rất nhiều hoạt động hoàn toàn khác: ủng hộ tôn giáo và giáo dục, cũng như nỗ lực xây dựng các toà nhà và công trình xã hội quan trọng trên toàn vương quốc.
Vì cậu con trai mà ông yêu quý nhất và các họ hàng gần khác đều đã hi sinh trong cuộc chiến ở Trung Hoa tạm coi là thành công, Oa Khoát Đài dần không còn hứng thú với chính trị, nhưng ông đã để cử một người cháu trai để kế vị. Song Thoát Liệt Ca Na lại muốn vận động ủng hộ cho Quý Do – cậu con trai nóng nảy và kiêu ngạo mà Oa Khoát Đài thường xuyên trách mắng và có vẻ không yêu quý. Không lâu sau khi Oa Khoát Đài qua đời, Thoát Liệt Ca Na mở buổi hốt lý đài để bầu Quý Do thay vì đứa cháu trai do Oa Khoát Đài tiến cử, nhưng bà không thể đạt được số đại biểu quy định của Hoàng tộc, có nghĩa là số người muốn bầu cho cậu không đủ. Thoát Liệt Ca Na tiếp tục nhiếp chính và bắt đầu quá trình chính trị chi tiết kéo dài năm năm để thu thập được sự ủng hộ bà cần để Quý Do được bầu. Để đạt được mục tiêu, bà cho thải hồi các quan lại từ thời Oa Khoát Đài và thay thế họ bằng người của mình. Quan trọng nhất trong số này là một người phụ nữ khác tên là Fatima, vốn là một tù nhân người Tajik hoặc Ba Tư từ chiến dịch Khwarizm được đưa tới Karakorum để lao động. Nhà chép sử Ata-Malik Juvaini không thích bà (hay bất kỳ người phụ nữ làm chính trị nào), viết rằng Fatima luôn được quyền ra vào lều của Thoát Liệt Ca Na, và bà “chia sẻ những bí mật cá nhân và thầm kín,” Fatima có vai trò chính trị trong khi “các quan lại cũ không được làm việc gì, và bà được ra lệnh và đặt lệnh cấm tùy ý.”
Năm 1246, Thoát Liệt Ca Na thắt chặt quyền quản lý vương quốc của mình, và tin rằng bà có thể tổ chức cuộc bầu cử cho con trai mình. Các tính toán và cuộc bầu cử diễn ra nội bộ, chỉ dành cho thành viên Hoàng tộc và các quan lại quan trọng, nhưng Thoát Liệt Ca Na biến buổi lễ lên ngôi của ông thành một sự kiện lớn với cả người dân Mông Cổ và quan chức ngoại bang. Suốt cả mùa hè cho tới khi buổi lễ diễn ra vào tháng Tám, đại diện từ nước ngoài tới từ những góc xa xôi nhất trong vương quốc. Hoàng thân Ả-rập, quan địa phương, quý tộc chen chúc trên cùng một con đường với hoàng tử và vua chúa. Sultan Seljuk tới từ Thổ Nhĩ Kỳ; đại diện từ khalifah ở Baghdad cũng có mặt, cũng như hai người kế vị tiềm năng của Georgia: David, người con hợp pháp của vị vua quá cố, và David, người con ngoài giá thú cũng của vị vua này. Đại diện có vị trí cao nhất ở châu Âu là cha của Alexander Nevsky* Đại Công tước Yaroslav II Vsevolodovich xứ Vladimir và Suzdal. Ông chết một cách đáng ngờ ngay sau khi dùng bữa với Thoát Liệt Ca Na.
Tình cờ, vào ngày 22 tháng Bảy năm 1246, giữa cuộc tụ họp đông đúc, sứ giả đầu tiên từ Tây Âu đặt chân tới triều đình Mông Cổ. Thầy tu Giovani xứ Plano Carpini, một tu sĩ sáu mươi lăm tuổi, một trong các tông đồ của Thánh Francis xứ Assisi, đã tới để làm gián điệp cho Giáo hoàng Innocent IV, với nhiệm vụ tìm hiểu về những kẻ lạ mặt đã đe doạ châu Âu này. Sau khi rời Lyon, Pháp, vào lễ Phục sinh năm 1245, Carpini mất gần một năm để vượt châu Âu tới chiến tuyến của quân Mông Cổ tại doanh trại của Bạt Đô ở Nga. Song một khi đã được sử dụng hệ thống giao thông của Mông Cổ, Carpini chỉ mất 106 ngày để đi ba ngàn dặm, tức trung bình hơn hai mươi lăm dặm trên lưng ngựa một ngày trong suốt ba tháng rưỡi.
Vì chiến dịch quân sự ở châu Âu đã thành công rực rỡ, Mông Cổ nhiệt tình tiếp đón Carpini, bởi họ nhầm tưởng rằng ông tới để tuyên bố sự phục tùng của Giáo hoàng và dân chúng Tây Âu, nhưng lá thư ông đem theo mang thông điệp hoàn toàn khác. Giáo hoàng Innocent IV viết cho vị hãn một bản tóm tắt mô phạm về cuộc đời của Chúa Jesus và giáo lý cơ bản của Ki-tô giáo, những điều có lẽ không có gì xa lạ với vị hãn, bởi mẹ ông theo đạo Ki-tô và ông thường xuyên đi lễ với bà. Bản thân Quý Do có lẽ cũng theo đạo Ki-tô; nếu không, ông cũng có cảm tình với tôn giáo này và phụ thuộc nhiều vào những người Mông Cổ theo Ki-tô giáo trong việc quản lý đất nước. Lá thư của Giáo hoàng trách mắng người Mông Cổ vì đã xâm lược châu Âu, và ra lệnh cho vị hãn “chấm dứt các hành vi tấn công kiểu này, và đặc biệt là việc ngược đãi các tín đồ Ki-tô giáo.” Ông yêu cầu vị hãn giải thích “cho chúng ta một cách rõ ràng… vì sao ngươi lại muốn tàn phá các nước khác, và trong tương lai ngươi có dự định gì.” Lá thư nói với vị hãn rằng Chúa trời đã ban toàn bộ quyền lực trên Trái đất cho Giáo hoàng ở Rome, và ông là người duy nhất có quyền truyền đạt lời nói của Người.
Sau khi quan lại Mông Cổ biết rằng Carpini không mang theo cống phẩm và không có ý định quy phục, họ gần như không để tâm tới ông nữa, nhưng trong một lá thư vào tháng Mười một năm 1246 vẫn còn tới ngày nay, Quý Do hỏi Giáo hoàng các câu hỏi hiển nhiên: Làm sao ngài biết Chúa tha tội cho ai và nhân từ với ai? Làm sao ngài biết Chúa đồng ý với những lời ngài nói? Quý Do chỉ ra rằng Chúa đã ban cho người Mông Cổ, chứ không phải Giáo hoàng, quyền cai trị thế giới từ nơi mặt trời mọc tới nơi mặt trời lặn. Chúa muốn người Mông Cổ truyền bá mệnh lệnh và luật lệ của ngài qua Pháp điển của Thành Cát Tư Hãn. Sau đó, ông khuyên Giáo hoàng tới Karakorum cùng với các hoàng tử của ngài để bày tỏ lòng kính trọng với vị hãn Mông Cố.
Mối liên lạc ngoại giao trực tiếp đầu tiên giữa châu Âu và miền Viễn Đông đã biến thành một cuộc trao đổi thần học pha lẫn lời lẽ xúc phạm tôn giáo. Dù có cùng đức tin, mối quan hệ mới mở ra giữa hai bện đã tiêu cực và lầm lạc tới mức sau này cả nền tảng tôn giáo chung cũng bị mai một. Cho tới thế hệ tiếp theo, người Mông Cổ vẫn cố gắng xây dựng quan hệ thân thiết hơn với Ki-tô giáo ở châu Âu, song cuối cùng, họ vẫn phải từ bỏ mọi hi vọng, và cùng với đó, từ bỏ hoàn toàn Ki-tô giáo và lựa chọn đạo Phật và đạo Hồi.
Mùa thu năm 1246, khi Carpini và các quan chức nước ngoài khác rời triều đình để về nhà, Quý Do chuyển sự tập trung từ lễ lạt công cộng sang nhiệm vụ chính trị quan trọng là củng cố quyền lực và trở thành hãn không chỉ trong tước vị mà cả trên thực tế. Đi khẳng định quyền lực mới có này, trước hết ông tấn công Fatima, cố vấn tin cậy của mẹ ông. Lấy cớ rằng bà là phù thủy, ông triệu tập Fatima từ triều đình của mẹ ông tới chỗ ông. Mẹ ông từ chối để bà đi: “Ông gửi lời triệu tập vài lần nữa, và mỗi lần bà lại từ chối theo một cách khác nhau. Do vậy, quan hệ của ông với mẹ trở nên rất tồi tệ, và ông sai người… với lệnh dùng vũ lực bắt Fatima nếu mẹ ông vẫn chần chừ.”
Chuyện xảy ra tiếp theo không được ghi chép cụ thể, và do đó đặt ra nhiều câu hỏi hơn là câu trả lời. Quý Do giành được quyền kiểm soát Fatima, và mẹ ông qua đời. Có phải mẹ ông bị ốm? Bị giết? Bà có qua đời vì giận dữ hay đau buồn? Gần như mọi ghi chép đều không nhắc đến việc này. Sử gia Ba Tư Juzjani viết rằng Thoát Liệt Ca Na được gửi đi đoàn tụ với chồng mình, Oa Khoát Đài. Vì chồng bà đã mất được sáu năm, câu nói này có vẻ là phép uyển ngữ cho cái chết của bà, nhưng Juzjani có vẻ không chắc chắn bởi ông nói thêm “Nhưng Chúa biết sự thật.” Tất cả những gì chúng ta biết là người của Quý Do bắt Fatima và Thoát Liệt Ca Na qua đời.
Thay vì khiến Fatima biến mất trong yên lặng, Quý Do khiến bà phải chịu cảnh thử thách kinh hoàng trước tất cả mọi người. Vào lúc người Mông Cổ điều khiển cả một vương quốc trải dài hai lục địa và có nhiều cơ hội mở rộng nó hơn nữa, cả triều đình lại không tập trung vào đất nước mà vào người phụ nữ này, những gì bà đã làm, và họ nên làm gì với bà. Quý Do ra lệnh cho quân lính đưa Fatima vào, lột hết áo quần của bà và trói chặt bà lại trước mặt ông và toàn triều đình. Bà bị giữ ở đó công khai, “đói khát nhiều ngày trời; bà phải chịu mọi sự bạo lực, hung tàn, khắc nghiệt và đe doạ.” Họ đánh bà rồi dùng một loại gậy kim loại nung nóng nào đó đập vào người bà. Hình thức tra tấn công khai này có thể phù hợp với một phù thủy trong xã hội châu Âu hay kẻ dị giáo dưới tay Nhà thờ Ki-tô giáo, nhưng nó vi phạm hoàn toàn tập quán của Thành Cát Tư Hãn. Ông giết kẻ thù không ghê tay và cai trị rất khắt khe, nhưng không bao giờ tra tấn hay gây ra đau đớn không cần thiết. Nó còn đặc biệt đi ngược lại với truyền thống Mông Cổ bởi nạn nhân là phụ nữ; trong lịch sử Mông Cổ không có tiền lệ nào tương đương cả.
Việc Fatima bị tra tấn có lẽ về lý thuyết là hợp pháp dưới luật lệ đương thời vì bà không phải người Mông Cổ hay kết hôn với người Mông Cổ, mà là tù nhân chiến tranh với vị trí không chắc chắn nhưng cũng không được bảo vệ. Khi sau cùng người phụ nữ bị tra tấn thú nhận hàng loạt tội lỗi, bao gồm bỏ bùa Thoát Liệt Ca Na và các thành viên khác của Hoàng tộc, Quý Do trừng phạt bà một cách độc ác và có tính răn đe chưa từng thấy. Ông ra lệnh rằng mọi lỗ hổng trên phần thân trên và dưới của cơ thể bà đều phải bị khâu kín lại để không gì trong linh hồn bà có thể thoát ra ngoài, và bà phải bị cuốn chặt bên trong một lớp chăn dạ và nhấn chìm xuống sông. Và vậy là cuộc đời của Fatima, cố vấn của mẹ ông, và một trong những phụ nữ quyền lực nhất thế kỷ mười ba, đã chấm dứt như vậy.
Tương tự như cách Fatima bị tra tấn và tử hình công khai, triều đại của Quý Do được đánh dấu bởi sự trả thù độc địa. Ông bắt đầu một chiến dịch thô bạo nhằm củng cố quyền lực và loại trừ kẻ địch. Ông ra lệnh cho quân lính săn lùng và giết tất cả những người có liên quan tới Fatima. Ông bắt đầu một quá trình pháp lý chống lại Thiết Mộc Cách, người em ruột cuối cùng còn sống của Thành Cát Tư Hãn và do vậy là người thừa kế hợp pháp ngai vàng. Ngay trước lễ bầu cho Quý Do, ông đã nhấn mạnh lại quyền này nhằm tập hợp binh sĩ tấn công vùng đất của Thoát Liệt Ca Na. Khi còn trẻ, Thiết Mộc Cách đã sống sót khi đụng độ với thầy pháp Teb Tengeri, nhưng giờ thì không thể khi đối mặt với cháu mình. Trong một buổi xét xử kín được Quý Do giám sát kỹ càng trong một ger đóng, các thành viên nam trong gia đình xử ông tội chết vì đã tìm cách cướp ngôi bằng biện pháp quân sự thay vì qua bầu cử.
Quý Do cũng chuyển sự chú ý sang những người phụ nữ cai quản các vùng đất hoàng gia khác. Ông cắt chức người vợ goá đang nhiếp chính trên vùng đất của nhà Sát Hợp Đài, và ra lệnh điều tra đất đai của Đà Lôi khi đó đang do Sorkhokhtani cai quản. Bà đã từ chối kết hôn với Quý Do sau khi chồng bà qua đời. Trong khi điều tra, ông yêu cầu mọi binh lính của bà và các con phải quy phục. Một khi biên giới phía đông đã được khoá chặt và nằm dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của ông, ông tập hợp quân đội để tiến về phía nam nhằm thực hiện – theo lời ông – một chuyến đi săn quy mô lớn. Trên thực tế, đây chỉ là cái cớ để bất ngờ tấn công Hãn Bạt Đô ở Nga. Không chỉ muốn trả thù anh họ mình vì những lời lẽ xúc phạm trong bữa tiệc mừng thắng lợi khi còn ở Nga, mà trong số các anh em, Quý Do cũng là người tin tưởng nhất vào tầm quan trọng của châu Âu. Ông muốn hoàn tất cuộc chinh phục và thêm châu Âu vào phần lãnh thổ của mình trong Đế chế Mông Cổ.
Sorkhokhtani vì không muốn công khai chống lại ông nên đã cảnh giác hành động để đảm bảo kế hoạch tấn công bất ngờ của ông thất bại. Bà bí mật cho người đưa tin cảnh báo Bạt Đô về kế hoạch của Quý Do. Rất có thể bà cũng đã trực tiếp tự tay xử lý Quý Do, bởi sau khi rời thành lũy của mình ở vùng thảo nguyên trung tâm Mông Cổ, Quý Do – khi đó bốn mươi ba tuổi và có vẻ khỏe mạnh – đột nhiên chết vì lý do không rõ ràng chỉ sau mười tám tháng tại vị. Có lẽ ông đã bị giết, nhưng số nghi phạm có động cơ quá nhiều để ta có thể xem xét. Không có ghi chép nào còn sót lại ghi lại chi tiết cái chết của ông, và các nhà chép sử Ba Tư đột nhiên trở nên rất kiệm lời và chỉ viết rằng “giờ định mệnh của ông đã điểm.”
Giữa lúc cuộc chiến chính trị vẫn đang sôi nổi ở trung tâm vương quốc, những đường chỉ viền đã bắt đầu tuột ra. Là một người thích các phép ẩn dụ, Juvaini viết rằng “những vấn đề trên thế giới đã chệch khỏi con đường của sự cương trực cũng như sự kiểm soát giao thương và trao đổi công bằng, lượn ra xa khỏi con đường của sự ngay thẳng.” Ông mô tả rằng vùng đất đang chìm trong bóng tối, và “sự bất công đang sắp làm tràn chiếc cốc của thế giới.” Người Mông Cổ và thần dân của họ “bị lôi đi hết hướng này tới hướng khác đang dần chìm trong tuyệt vọng, bởi họ không thể chịu được việc ở lại, nhưng cũng không biết có thể chạy đi đâu.”
Sau quãng thời gian tạm dừng ngắn ngủi do Quý Do cai trị, cuộc chiến của những hoàng hậu còn sống sót lại tiếp tục, thậm chí còn dữ dội hơn trước, bởi người vợ quá của Quý Do là Hải Mê Thất cũng ra mặt cai quản đất nước, giống như mẹ chồng bà Thoát Liệt Ca Na đã làm khi Oa Khoát Đài qua đời. Hải Mê Thất không tài giỏi như mẹ chồng bà, và thời thế cũng không thuận lợi, một phần lớn là bởi chính các con trai bà cũng lập ra các triều đình đối địch nhằm thách thức quyền nhiếp chính của bà. Sorkhokhtani, với sự hậu thuẫn của bốn con trai có năng lực và kinh nghiệm chuẩn bị và chờ đợi cả cuộc đời, cuối cùng cũng hành động. Thay vì đợi vợ Quý Do mở buổi hốt lý đài ở thủ đô Karakorum, Hãn Bạt Đô, được đồng minh bí mật Sorkhokhtani xúi giục, đã tự tổ chức nó vào năm 1250 ở khu vực gần hồ Issyk Kul trên núi Thiên Sơn, bên ngoài Mông Cổ và tiện đường cho ông hơn. Buổi hốt lý đài bầu cho con trai cả Mông Kha của Sorkhokhtani, nhưng gia đình Oa Khoát Đài chống đối buổi họp với lý do một buổi bầu cử hợp pháp phải được diễn ra trong Mông Cổ, cụ thể là ở kinh đô Karakorum do gia tộc họ cai trị.
Không nhụt chí, Sorkhokhtani nghĩ ra một kế hoạch xuất sắc. Bà không thể tới được kinh đô, nhưng với tư cách là vợ goá của con út của Thành Cát Tư Hãn, bà nắm quyền quản lý vùng đất tổ nơi Thành Cát Tư Hãn sinh ra, lên ngôi, và được chôn cất. Sẽ không có ai dám từ chối tham dự một buổi hốt lý đài trên vùng đất linh thiêng này. Đồng minh Hãn Bạt Đô của bà không thể vượt đường xa từ Nga tới đây, nhưng ông gửi cho bà một nhóm ba vạn vệ binh của em trai ông là Biệt Nhân Ca để bảo vệ bà cùng gia đình trong thời gian bầu cử và lên ngôi. Bà tổ chức một buổi bầu cử thứ hai ở nơi linh thiêng này, và vào ngày 1 tháng Bảy năm 1251, bầu Mông Kha, khi đó bốn mươi ba tuổi, làm Khắc hãn tiếp theo của Đế chế Mông Cổ. Lần này, không ai có thể chỉ trích địa điểm nữa.
Để ăn mừng lễ lên ngôi, Mông Kha ra lệnh rằng trong ngày này dân chúng đều được nghỉ ngơi, và gia súc không phải làm việc hay mang vác nặng. Không ai được cắm lều xuống nền đất, làm ô nhiễm nước hay săn bắn thú hoang; và với những con thú bị giết cho bữa tiệc, phải đảm bảo rằng máu chúng không nhỏ xuống mặt đất linh thiêng. Sau ngày thiêng liêng này là một tuần lễ tiệc tùng. Mỗi ngày, các vị khách tiêu thụ hết ba trăm con ngựa hoặc bò, ba ngàn con cừu, và hai ngàn xe kéo chở airak, thứ thức uống có cồn làm từ sữa ngựa cái lên men rất được ưa chuộng.
Lễ ăn mừng đánh dấu thành quả nỗ lực cả đời của Sorkhokhtani, và theo một cách nào đó, là một cách vinh danh bà chứ không phải ai khác. Nếu Thành Cát Tư Hãn sinh ra những người con trai khá yếu đuối, thích rượu chè và ích kỷ, thì bà đã sinh ra và nuôi dưỡng bốn người con trai có định mệnh để lại dấu ấn lớn trong lịch sử. Các con của bà đều trở thành hãn. Những năm sau này, Mông Kha, A Lý Bất Ca và Hốt Tất Liệt đều mang tước hiệu Khắc hãn với thời gian trị vì khác nhau, và người con trai còn lại của bà, Húc Liệt Ngột, sẽ trở thành Hãn của Y Nhi Hãn Quốc Ba Tư và tự sáng lập triều đại của riêng mình tại đó. Các con bà sẽ mở rộng vương quốc tới cực đại qua các cuộc chinh phục Ba Tư, Baghdad, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ. Họ sẽ đánh bại triều nhà Tống ở phía nam và tiến vào Việt Nam, Lào, Myanmar. Họ sẽ tiêu diệt giáo phái Assassins đáng sợ và xử tử vị khalifah.
Gia đình của Oa Khoát Đài và Quý Do tới buổi hốt lý đài trễ, sau cuộc bầu cử nhưng giữa buổi tiệc mừng. Ba hoàng tử có vai trò quan trọng trong gia đình Oa Khoát Đài đột nhiên sải bước vào giữa lều, tuyên bố rằng họ muốn thể hiện lòng trung thành với vị hãn mới. Vị hãn mới lên ngôi liền bắt và xích cả ba lại, bởi gián điệp của ông đã báo cáo từ trước rằng đó chỉ là âm mưu đánh lạc hướng triều đình trong lúc các thành viên khác của gia đình chuẩn bị lén tấn công buổi tiệc, khi tất cả đều đã say. Mông Kha dễ dàng bắt những kẻ chuẩn bị tấn công và bắt đầu một phiên phán xử khác. Ông không thể tra tấn hay làm đổ máu các hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn, nhưng ông cho dùng gậy đánh những cố vấn chủ yếu là người Trung Hoa và Hồi giáo của họ tới khi họ khai chống lại chủ nhân mình. Cuối phiên xử, vị hãn mới tuyên bố các anh em họ của ông phạm rất nhiều tội. Hai hoàng tử bị nhét đá và đất vào miệng tới khi chết. Vài cố vấn tự sát. Tổng cộng, Mông Kha xử tử bảy mươi bảy người thuộc hoặc gần gũi với dòng họ Oa Khoát Đài.
Trong lúc Hãn Mông Kha giám sát phiên xử nam giới, mẹ ông xét xử những người phụ nữ trong cung của mình. Sorkhokhtani ra lệnh bắt giữ nhiếp chính bất hạnh Hải Mê Thất, và diễn lại phiên toà xử Fatima dù nhẹ tay hơn một chút. Những kẻ bắt giữ bà khâu da sống quanh tay bà, lột trần để làm nhục công khai rồi bọc trong da thuộc để nhấn chìm bà cùng một người phụ nữ lớn tuổi khác trong gia đình. Một người phụ nữ thứ ba trong gia đình bị bọc vào trong chăn rồi đá tới chết.
Từ cung của mình, Hãn Mông Kha mở rộng phiên xử thành một cuộc thanh trừng lớn. Ông phái các nhóm quan thanh tra tới khắp đế quốc để tra hỏi, buộc tội và trừng phạt tất cả những ai bị nghi ngờ bất trung với dòng họ của ông. Các phiên xử diễn ra ở quy mô toàn cầu, từ Trung Hoa và Mông Cổ ở phía Đông tới Afghanistan ở phía nam cũng như Ba Tư và Iraq ở phía tây. Ngay cả những quan lại cấp bậc cao nhất như thủ lĩnh người Duy Ngô Nhĩ cũng bị buộc tội chết, nhưng chính Hoàng tộc lại chịu tổn hại lớn nhất. Dường như Mông Kha quyết tâm trừ khử tất cả những người ủng hộ từ gia đình của các người bác đã mất Sát Hợp Đài và Oa Khoát Đài. Mông Kha chiếm thành Karakorum và vùng lãnh thổ lân cận từ con cháu của Oa Khoát Đài. Khắp đế quốc, những vua chúa và quan lại cấp cao may mắn thoát khỏi hình phạt từ các phiên toà vẫn phải tới Karakorum và trình diện hãn để ghi chép về lòng trung thành của họ được kiểm tra, rồi đối mặt với án phạt có thể xảy ra. Những vị quan vượt qua bài kiểm tra sẽ được phục chức. Sau cuộc thanh trừng dòng họ Oa Khoát Đài quy mô lớn và đẫm máu này, Hãn Mông Kha đưa ra lệnh ân xá chung với các loại tù nhân phi chính trị khác.
Quyền lực rõ ràng đã rơi vào tay dòng họ của Đà Lôi. Sorkhokhtani đã phá tan những trở ngại cuối cùng trên con đường tới quyền lực của con bà, và khi qua đời, bà biết rằng bốn con trai của mình không còn phải đối mặt với mối đe doạ nào từ Hoàng tộc nữa. Lời miêu tả phù hợp nhất về thành tựu của bà tới từ nhà văn Bar Hebraeus: “nếu tôi thấy được trong các phụ nữ một người đàn bà nào như thế này nữa, tôi sẽ nói rằng phụ nữ ưu việt hơn đàn ông nhiều.” Không ai trong lịch sử thế giới được ban cho một đế quốc rộng lớn và giàu có như đế quốc Sorkhokhtani để lại cho các con trai, nhưng chỉ trong vài năm sau cái chết của bà, bốn con trai bà bắt đầu ca rẽ nó.
Một lúc nào đó trước lễ mừng năm mới Mông Cổ vào tháng Hai năm 1252, hoặc vào cuối năm Hợi hoặc đầu năm Tý, Sorkhokhtani qua đời. Cái chết của bà đánh dấu sự chấm dứt thập kỷ cầm quyền của phụ nữ, bắt đầu vào năm 1241. Ngay cả khi họ tranh đấu với nhau, những người phụ nữ đã đem tới những tài năng từ bên ngoài đang rất cần thiết vào bên trong quyền lực cai trị Mông Cổ, và cho đế quốc một nền tảng mới khi họ khuyến khích các tu viện và trường học, việc in ấn sách và trao đổi ý tưởng và tri thức. Sau khi nam giới tiếp tục Thế chiến Mông Cổ, chính những thể chế do những người phụ nữ này đem lại sẽ có ảnh hưởng lớn nhất lên thế giới bên trong và bên ngoài Đế quốc Mông Cổ. Nhưng phải qua một vòng chiến trận nữa quá trình này mới phát triển đầy đủ.
Mông Kha lên ngôi Khắc hãn vào năm 1251, gần một phần tư thế kỷ sau khi ông nội ông, Thành Cát Tư Hãn, qua đời vào nam 1227. Trong một tuyên bố tóm tắt cách cai trị và tinh cách tỉnh táo của ông, được rèn giũa bởi mẹ ông, bà Sorkhokhtani, ông nói rằng, “ta tuân theo luật lệ của tổ tiên; ta không bắt chước phương cách của các nước khác. Ông là một người nghiêm túc, không có những trò cợt nhả như Oa Khoát Đài hay bất cần như Quý Do, và gần như là người duy nhất trong Hoàng tộc không vướng vào vòng xoáy nguy hiểm của rượu chè.
Nhằm tăng uy tín với cương vị Khắc hãn của bản thân, cũng như viết lại lịch sử cho phù hợp với nhu cầu của mình, năm 1252 ông ban cho cha mình Đà Lôi tước vị Khắc hãn, dựa theo quyền thừa kế tước vị và đất đai hợp pháp của cha ông với tư cách là con trai út của Thành Cát Tư Hãn, hay là Otchigen – Hoàng tử Tổ ấm.
Khi hoạch định lãnh thổ của mình, Mông Kha chú ý tới kinh đô Karakorum mới thuộc về ông. Hai mươi năm nay nơi đây đã là trung tâm và biểu tượng quyền lực của gia tộc Oa Khoát Đài. Song Mông Kha lại muốn biến thành phố nhỏ từ nơi ở của gia tộc Oa Khoát Đài thành kinh đô của cả Đế chế Mông Cổ. Trước khi Karakorum được xây dựng, nơi này vốn thuộc về người Miệt Nhi Khất, cụ thể là thuộc về Vương Hãn và gia tộc ông, bao gồm cả Sorkhokhtani, mẹ của Mông Kha và cháu gái của Vương Hãn.
Ông cần tạo dấu ấn của riêng mình ở kinh đô, và vì Oa Khoát Đài đã thuê kỹ sư Trung Hoa và Ba Tư, Mông Kha quyết định dùng những nghệ nhân Ki-tô giáo bị bắt trong chiến dịch ở châu Âu. Dù có vẻ không thích kiến trúc châu Âu, ông vẫn bị ấn tượng bởi tay nghề của các thợ kim loại. Khi chiếm Belgrade, họ đã bắt được Guillaime Boucher, một thợ mỏ vàng. Nhờ tài chế tạo các đồ vật Ki-tô giáo, Boucher đã được giao cho Sorkhokhtani, và khi bà qua đời ông lại được giao cho em trai A Lý Bất Ca. Mông Kha chọn Boucher, cùng một nhóm năm mươi nghệ nhân làm trợ lý, để bổ sung thêm một nét châu Âu vào kinh đô Mông Cổ, theo một phong cách choáng ngợp nhưng cũng độc đáo, khiến ai đến thăm triều đình ông đều phải kinh ngạc.
Sứ giả tới triều đình của Mông Kha ở Karakorum báo cáo lại một cái máy kỳ cục đang hoạt động trong cung điện ông. Một cái cây lớn làm từ bạc và các kim loại quý hiếm khác mọc lên từ giữa sân đình và soi bóng xuống cung điện ông, các cành cây mọc vào trong nhà và dọc theo rui nhà. Quả bạc treo trên nhánh cây, và bốn con rắn vào đan mình quanh thân cây. Trên ngọn cây là một thiên thần chiến thắng bằng bạc, tay cầm một cây trumpet. Một chuỗi ống khí bên trong cây cho phép người hầu có thể thổi và điều khiển chúng để tạo ra những thứ như ảo thuật mà không bị ai nhìn thấy. Khi vị hãn muốn gọi nước cho khách, thiên thần liền đưa cây trumpet lên miệng và thổi, và từ miệng rắn một dòng thác rượu chảy vào bể bạc lớn ở gốc cây. Từ mỗi ống chảy ra một đồ uống khác nhau – rượu vang, airak đen, rượu gạo, và rượu mật ong.
Bốn con rắn trên Cây Bạc ở Karakorum là biểu tượng cho bốn hướng của vương quốc Mông Cổ, và bốn loại thức uống cũng được làm từ các hạt giống của các nền văn minh xa xôi và lạ lẫm: nho, sữa, gạo, và mật ong. Trên thảo nguyên không có nhiều cây cối, nhưng chúng có vai trò quan trọng ở quê hương và nguồn gốc của gia tộc Thành Cát Tư Hãn. Trong sử truyền miệng của họ, vị tổ tiên đầu tiên đã cố gắng thống nhất các bộ lạc Mông Cổ đã trở thành hãn dưới một cái cây trên thảo nguyên Khorkhonag, và chính ở khu vực này Thiết Mộc Chân và Trát Mộc Hợp đã thề trở thành anda sau trận chiến với người Miệt Nhi Khất. Cỗ máy này là một lời nhắc nhở xúc động nhưng cũng rất ấn tượng về cội nguồn của người Mông Cổ, và về nhiệm vụ chinh phục thế giới khắp bốn phương của họ. Mông Kha chấp nhận nhiệm vụ biến mọi thứ thành của đất nước Mông Cổ, đất nước đứng vững như một cái cây to ở trung tâm vũ trụ. Hãn Mông Kha coi mệnh lệnh này là định mệnh của vương quốc theo đúng nghĩa đen, và là trọng trách ông phải hoàn thành.
Là một phần của việc Tây hóa, Ki-tô giáo tạm thời lên ngôi trong triều đình của Mông Kha. Xu hướng này được củng cổ bởi số lượng đông đảo các phu nhân theo Ki-tô giáo trong Hoàng tộc, và bởi sự trung thành bất di bất dịch của các quốc gia Ki-tô giáo như Georgia và Armenia. Gần cuối năm Quý Sửu 1253, William xứ Rubruck, một thầy tu dòng Phan Sinh, tới triều đình Mông Cổ với tư cách sứ giả của vua Pháp. Ghi chép đáng chú ý của ông miêu tả, dù không hoàn toàn chi tiết, các mối quan hệ thù địch giữa những tín đồ Ki-tô giáo và của các tôn giáo khác trong triều đình Mông Cổ. Rubruck có cơ hội xem cách triều đình Mông Cổ mừng lễ Giáng Sinh, dù ông chỉ có vai trò hát ca khúc “Veni Sancte Spiritus” cho họ. Hãn Mông Kha và hoàng hậu dự lễ nhà thờ, và ngồi trên ngai vàng đối diện đền thờ. Theo truyền thống của Ki-tô giáo dòng Assyria, bên trong nhà thờ không có những hình ảnh và trang trí tráng lệ, nhưng rui nhà được phủ lụa để tạo cảm giác giống như đang ở trong ger. Sau buổi lễ, vị hãn nói chuyện về tôn giáo một lúc với các thầy tu. Khi ông rời đi, vợ ông ở lại để phát quà Giáng Sinh cho mọi người. Bà tặng vải vóc cho Rubruck, nhưng ông từ chối nhận chúng. Có vẻ hoàng hậu không nhận ra ý xúc phạm ngầm này, bởi người thông dịch cho Rubruck đã nhận số vải này và sau này đem bán chúng ở đảo Síp.
Sau khi phát quà, lễ mừng Giáng Sinh bắt đầu bằng các ly rượu vang đỏ, rượu gạo, và thứ thức uống airak rất phổ biến ở Mông Cổ. Các sứ giả Pháp lại phải hát một lần nữa cho hoàng hậu. Sau cùng, sau nhiều vòng uống rượu nữa, bữa tối Giáng Sinh được phục vụ, gồm các đĩa thịt cừu lớn và cá chép. Rubruck nhận xét với vẻ khinh thường rằng chúng không đi kèm muối hay bánh mì. “Tôi ăn một chút. Cứ như vậy họ ngồi tới khi trời tối.” Lễ nhà thờ và bữa tiệc Giáng Sinh kết thúc khi “hoàng hậu, giờ đã say khướt, đi lên xe kéo trong lúc các tu sĩ hô vang và ca hát, còn bà đi đường riêng của mình.”
Những người theo đạo Ki-tô ở Mông Cổ nhấn mạnh mối liên hệ giữa Chúa và ánh sáng, nhất là Ánh dương Hoàng kim linh thiêng trong thần thoại của họ, họ coi Chúa là biểu tượng của sự hồi phục và chiến thắng của cuộc sống trước cái chết. Dù có chung tôn giáo, Rubruck rất coi thường những người theo đạo Ki-tô dòng Assyria, Armenia và Chính thống trong triều đình Mông Cổ. Vì ông coi tất cả những ai không theo Công giáo là những kẻ dị giáo, ông gọi tất cả những người theo dòng Assyria ở triều đình Mông Cổ là người Nestorian, bắt nguồn từ Nestorius, Trưởng phụ ở Constantinopolis ở thế kỷ năm, người đã bị Hội đồng Ephesus buộc tội dị giáo vào năm 431. Một trong những đức tin của dòng Assyria mà Rubruck cho là dị giáo là việc họ tin rằng Đức mẹ Mary là mẹ của Chúa Hài đồng, nhưng không phải mẹ của Chúa trời. Khác người Công giáo, họ cương quyết không vẽ hình Chúa trên cây thánh giá, bởi cảnh chết chóc hay máu me là cấm kỵ với người Mông Cổ. Ngay cả khi họ nhận mình là người Ki-tô giáo, người Mông Cổ không coi tôn giáo là danh tính chính của họ. Một vị tướng Mông Cổ theo Ki-tô giáo giải thích rằng ông không phải tín đồ Ki-tô giáo – ông là người Mông Cổ.
Sau khi bắt vị sứ giả Pháp đợi nhiều tháng trời, Mông Kha cuối cùng cũng triệu tập ông vào triều vào ngày 24 tháng Năm năm 1254. Rubruck nói với các quan lại rằng ông biết lời của Chúa và tới đây để truyền bá chúng. Trước đại diện của nhiều tôn giáo khác nhau, vị hãn yêu cầu Rubruck giải thích lời của Chúa cho họ. Rubruck nói vấp váp vài cụm từ, rồi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các con chiên phải yêu kính Chúa. Một trong những thầy tu Hồi giáo hỏi ông đầy nghi ngờ, “Liệu có ai không yêu kính Chúa trời?”
Rubruck trả lời: “Những ai không tuân theo lời dạy của Ngài là những kẻ không yêu kính Ngài.”
Một thầy tu khác liền hỏi Rubruck: “Không biết ngài đã từng lên thiên đường chưa, mà sao ngài biết được các lời dạy của Chúa?” Ông lợi dụng ẩn ý của lời Rubruck nói về lời dạy của Chúa và tranh cãi trực tiếp với ông: “Có phải ý ngài là Hãn Mông Kha không tuân theo lời dạy của Chúa?”
Cuộc tranh cãi kéo dài thêm một lúc nữa, và có những lúc khá nảy lửa, và theo chính lời Rubruck, rõ ràng là nó không diễn ra thuận lợi với ông. Ông không quen tranh luận với những người không có cùng đức tin cơ bản của Công giáo. Hãn Mông Kha rõ ràng nhận ra vấn đề này, và gợi ý rằng các học giả đang có mặt dành thời gian viết ra suy nghĩ của họ một cách rõ ràng hơn, rồi quay trở lại bàn luận vấn đề kỹ càng và đầy đủ hơn.
Người Mông Cổ thích mọi hình thức tranh đấu, và họ tổ chức các cuộc tranh luận giữa các tôn giáo khác nhau như cách họ bày trận đấu vật. Nó bắt đầu vào một ngày cụ thể, với một ban giám khảo. Lần này Hãn Mông Kha yêu cầu họ tranh luận trước ba người đánh giá: một người theo đạo Ki-tô, một theo đạo Hồi, và một theo đạo Phật. Rất đông người đã tụ tập xem sự kiện được bắt đầu rất nghiêm túc và trang trọng này. Một vị quan nêu ra các luật lệ nghiêm ngặt của cuộc tranh luận theo ý muốn của Mông Kha: “không ai được phép tranh cãi” nếu không muốn phải chịu đau đớn tới chết.
Rubruck và các tín đồ Ki-tô giáo khác cùng những người theo đạo Hồi hợp thành một đội để phản bác các giáo lý của đạo Phật. Việc những người này cùng tụ tập trong các căn lều trên thảo nguyên bụi bặm ở Mông Cổ có lẽ điều là chưa học giả hay nhà giáo lý nào từng làm trong lịch sử. Có lẽ chưa khi nào đại diện của nhiều giáo phái Ki-tô giáo lại cùng tới một buổi tranh luận, và chắc chắn họ chưa từng tranh luận ngang hàng với đại diện của đạo Phật và đạo Hồi. Các học giả tôn giáo phải so tài dựa theo đức tin và tín ngưỡng và tư tưởng của họ, không được sử dụng vũ khí hay quyền lực của vua chúa nào. Họ chỉ được dùng từ ngữ và logic để thử tài thuyết phục của mình.
Ở vòng đầu tiên, Rubruck đối mặt với một người theo dạo Phật từ phía bắc Trung Hoa. Người này bắt đầu bằng việc hỏi thế giới được kiến tạo như thế nào, và chuyện gì xảy ra với linh hồn sau cái chết. Rubruck phản bác rằng vị sư đã hỏi nhầm câu hỏi: vấn đề đầu tiên đúng ra phải là về Chúa trời, bởi mọi thứ đều bắt nguồn từ Người. Trọng tài cho điểm cho Rubruck.
Họ tranh luận qua lại về cuộc chiến giữa cái xấu và cái tốt, bản chất của Chúa trời, chuyện gì xảy ra với linh hồn của động vật, sự hồi sinh, và liệu có phải Chúa trời đã tạo ra cái ác. Trong lúc tranh luận, các thầy tu liên tục thay đổi nhóm giữa các tôn giáo khác nhau tùy theo chủ đề. Giữa các vòng đấu vật, các vận động viên Mông Cổ thường uống sữa ngựa cái lên men; tương tự như vậy, giữa mỗi vòng tranh luận, các học giả lại tạm nghỉ để uống rượu, chuẩn bị cho lượt đấu tiếp theo.
Dường như không bên nào có thể để bị thuyết phục về bất kỳ chủ đề gì. Sau cùng, khi rượu đã dần ngấm, các tín đồ Ki-tô giáo từ bỏ ý định thuyết phục bằng các luận điểm logic, và thay vào đó bắt đầu ca hát. Người đạo Hồi thì không hát, nhưng họ phản hồi bằng cách đọc to kinh Koran để át tiếng, và những ai theo đạo Phật thì bắt đầu thiền trong yên lặng. Cuối cùng, không thể thuyết phục hay giết lẫn nhau, họ kết thúc cuộc tranh luận theo cách người Mông Cổ kết thúc mọi buổi lễ lạt, tức là ai cũng say tới mức không thể tiếp tục nữa.
Trong lúc các học giả tôn giáo tranh luận ở Karakorum, những người đồng đạo với họ đang đâm chém và thiêu sống nhau ở những nơi khác bên ngoài Đế chế Mông Cổ. Gần như cùng lúc với cuộc tranh luận của Rubruck ở Mông Cổ, vua Louis IX – người bảo trợ cho ông – đã cho tịch thu tất cả sách Talmud* và những văn tự khác của người Do Thái. Vị vua sùng đạo ra lệnh ném tất cả các văn bản tiếng Hebrew thành một đống lớn và châm lửa. Trong khi Rubruck không ở Pháp, người dân nước ông đã đốt khoảng mười hai ngàn cuốn sách viết tay khai sáng về đạo Do Thái. Vì việc này và những công lao truyền bá lời dạy của Chúa Jesus khác, nhà thờ đã phong ông làm Thánh Louis, biến ông thành một hình tượng đáng tôn kính để các con chiên khác noi theo, và họ có thể gửi lời cầu nguyện tới ông bởi ông là trung gian giữa con người và Chúa trời.
Cũng trong thời gian đó, ở các nước Hồi giáo và Ki-tô giáo, các vua chúa đều đặt ra luật không khoan nhượng với tôn giáo. Thất vọng bởi không thể chiếm được vùng Đất Thánh hay mở rộng ảnh hưởng ở Đông Âu, Nhà thờ Công giáo bước vào giai đoạn ngày càng không khoan dung với các tôn giáo khác tại lãnh địa của mình. Năm 1255, nhà thờ cho phép tra tấn những người bị cho là tin vào dị giáo, và các thầy tu, chủ yếu là những người theo dòng Đa Minh bắt đầu đi từ thành phố này tới thành phố khác để săn lùng và tra tấn các nghi phạm. Trước thời gian này, chính quyền được phép tra tấn để tra hỏi các kẻ nghi phạm tội, phản quốc, và tù nhân chiến tranh, nhưng thầy tu không tra tấn vì mục đích tôn giáo.
Vài ngày sau cuộc tranh luận ở Karakorum, Hãn Mông Kha cho gọi Rubruck để cho ông quay về nước. Nhân dịp này, vị hãn cũng giải thích với thầy tu, và qua đó với các vua chúa châu Âu, rằng bản thân ông không thuộc về một tôn giáo nào cả, và ông giảng cho Rubruck về niềm tin của người Mông Cổ vào sự bao dung và tính tốt đẹp: “Người Mông Cổ ta chỉ tin vào một vị Chúa trời, chúng ta sống với Người, chết với Người, và tâm chúng ta luôn ngay thẳng trước Người.” Sau đó ông giải thích: “Bàn tay có những ngón khác nhau, Người cũng ban cho loài người nhiều tính khác nhau. Người đã ban cho ngươi Kinh thánh, song ngươi lại không tuân theo nó.” Ông dẫn chứng rằng người Ki-tô giáo dễ dàng đặt tiền bạc lên trên công lý. Ông giải thích tiếp rằng thay cho Kinh thánh, Chúa đã ban cho người Mông Cổ các thầy pháp. Trong đời sống thường nhật, “chúng ta làm theo lời họ, và chung sống hòa bình.”
Rồi Hãn Mông Kha gửi một lá thư cho vua Louis IX, với một lời nhắn đơn giản: “trên thiên đường chỉ có một Chúa trời Vĩnh hằng, và trên mặt đất chỉ có một chúa tể Thành Cát Tư Hãn, Con trai của Chúa, và hậu duệ của ông trị vì Đế chế Mông Cổ.” Bên cạnh tư tưởng cứu thế được thêm vào sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời này, nội dung chính vẫn được giữ nguyên theo lời người lập ra Đế chế Mông Cổ. Một khi tất cả chịu thần phục sự cai trị khoan dung của người Mông Cổ, “nhờ sức mạnh của Chúa vĩnh hằng cả thế giới từ khi mặt trời mọc tới lúc mặt trời lặn sẽ đều được hưởng cảnh an nhiên thái bình.” Nhưng Mông Kha cảnh báo người Pháp và các tín đồ Ki-tô giáo rằng “nếu khi các người nghe và hiểu lệnh của Chúa trời vĩnh hằng, mà lại không để ý và tin vào đấy mà lại nói rằng ‘Đất nước chúng ta xa xôi, núi non chúng ta hùng vĩ, biển cả chúng ta bao la,’ và dựa vào đó mà gây chiến – chúng ta biết mình làm được gì.”
Dù đã tra vấn giáo lý của Rubruck, Mông Kha thật sự chỉ quan tâm tới ông trên phương diện ngoại giao và buôn bán, chứ không phải tôn giáo. Dưới sự trị vì của ông, toàn bộ năng lượng của đất nước và Hoàng tộc tập trung vào các nỗ lực mà Thành Cát Tư Hãn chưa thể hoàn thành – chinh phục nhà Tống và các nước Ả-rập ở vùng Trung Đông. Để đưa vương quốc quay về mục tiêu ban đầu, Mông Kha ra lệnh thực hiện hàng loạt các cuộc điều tra dân số để ghi lại số người và động vật, cũng như vườn tược, ruộng đồng và các tài sản khác của vương quốc. Quan lại địa phương gửi thông tin về Karakorum trong những cuốn ghi chép dày, giúp Mông Kha có cái nhìn chi tiết về mặt dân số và kinh tế của đất nước rộng lớn của ông. Ông sử dụng những thông tin này để lên kế hoạch các chính sách, sắp xếp sưu thuế, và tuyển lính và lao động. Việc kiểm soát thông tin tập trung giúp ông có quyền lực cao hơn ở các địa phương và có thể giám sát quan lại địa phương.
Để tái tổ chức chiến tranh, Mông Kha cần ổn định kinh tế, kiểm soát chi tiêu của triều đình, và xử lý khối nợ khổng lồ do Quý Do và các quan lại khác gây ra suốt thập niên trước đó. Trong quãng thời gian trị vì ngắn ngủi và đầy tai họa của mình, Quý Do đã mua rất nhiều hàng hóa và trả bằng hối phiếu, hứa hẹn rằng những tờ giấy này sau này khi cần có thể quy đổi được ra vàng hoặc bạc. Vì Quý Do đã chết, nhiều quan lại và cố vấn địa phương không muốn trả những khoản nợ này. Song Mông Kha sáng suốt nhận ra rằng nếu ông không đáp ứng chúng, các lái buôn và người nước ngoài sẽ không muốn tiếp tục giao thương với Mông Cổ. Việc ông quyết định trả nợ khiến Juvaini phải hỏi: “Trong sử sách đã bao giờ có chuyện… một vị vua trả nợ cho một vị vua khác?”
Trong thế giới thương mại không quen việc tiêu tiền giấy, Mông Kha hiểu được tầm quan trọng của việc bảo toàn niềm tin và sự trong sạch của hệ thống tiền tệ. Ngay trước khi qua đời vào năm 1227, Thành Cát Tư Hãn đã cấp phép sử dụng tiền giấy với nguồn bảo đảm là kim loại quý và lụa. Việc này tiến triển chậm chạp trong những năm sau này, nhưng tới thời Mông Kha, nguồn tiền giấy cần phải bị giới hạn theo những cách khác với những đồng xu vàng bạc. Mông Kha nhận ra mối nguy từ việc xuất tiền giấy và ghi nợ ngay lập tức mà không có kế hoạch mà các triều đại trước thường làm, vậy nên năm 1253, ông lập ra Bộ Tiền tệ để kiểm soát và chuẩn hóa việc sản xuất tiền giấy. Người đứng đầu bộ nắm mọi quyền lực để tránh việc lưu hành quá nhiều tiền giấy và tiền mất giá do lạm phát.
Mông Cổ cho phép các nước chư hầu tiếp tục sản xuất xu dưới các đơn vị và trọng lượng như xưa, nhưng họ thiết lập một đơn vị chung dựa trên sukhe – một nén bạc chia thành năm trăm phần, và các đơn vị tiền tệ địa phương đều phụ thuộc vào đó. Việc chuẩn hóa các đơn vị tiền tệ khác nhau này dựa trên sukhe giúp việc tính toán tiền nong và quy đổi tiền tệ dễ dàng hơn cho cả thương nhân và quan lại triều đình. Do vậy, tiền bạc được chuẩn hóa giúp Hãn Mông Kha thu thuế bằng tiền mặt thay vì hàng hóa địa phương. Tương tự, việc cho lưu hành tiền giấy cho phép triều đình chuẩn hóa các thủ tục lên kế hoạch ngân sách, bởi họ dần thu thuế bằng tiền mặt thay vì bằng hiện vật. Quan lại không cần phải thu thập và tái phân phát gạo, mũi tên, lụa, lông động vật, dầu, và các hàng hóa khác, mà dần chuyển sang luân chuyển tiền bạc. Lần đầu tiên trong lịch sử, từ Trung Hoa tới Ba Tư đều sử dụng chung một đơn vị chi tiêu. Chừng nào Mông Cổ còn nắm quyền kiểm soát tiền tệ, họ có thể để thương nhân chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa mà triều đình không phải lo mất quyền lực.
Tại Karakorum vào mùa xuân năm 1253, khi tình hình tài chính của vương quốc đã ổn định, Mông Kha cho gọi các anh em và họ hàng gần tới một buổi hốt lý đài để lên kế hoạch các chính sách và nhiệm vụ mới. Giờ đây, khi họ đã nắm quyền kiểm soát cốt lõi của Đế chế Mông Cổ, họ nên làm gì? Gia đình của hai con trai của Thành Cát Tư Hãn, Oa Khoát Đài và Sát Hợp Đài, đã bị tiêu diệt và mất gần hết tài sản. Nhánh thứ ba, hậu duệ của Truật Xích, và đồng minh của Sorkhokhtani, đã được cho quyền tự trị tùy ý muốn ở Nga và các vùng lãnh thổ ở châu Âu. Hãn Mông Kha đã sẵn sàng tiếp tục mở rộng Đế chế Mông Cổ, nhưng nhằm chủ yếu để có lợi cho bản thân và các anh em mình chứ không phải anh chị em họ, những người cháu khác của Thành Cát Tư Hãn.
Dù thích các loại máy móc và thiết kế kiểu châu Âu, Mông Kha không có ý định tiếp tục mở chiến dịch về hướng đó. Ông quay trở lại với chiến dịch kép của Thành Cát Tư Hãn chống lại nhà Tống và nền văn minh Hồi giáo của người Ả-rập và Ba Tư. Mông Kha cử Húc Liệt Ngột người em trai được đào tạo tốt nhất về quân sự, dẫn Hữu quân tấn công các thành phố Ả-rập Baghdad, Damascus, và Cairo. Hốt Tất Liệt, dù không có nhiều kinh nghiệm quân sự nhưng lại rất hiểu biết về văn hóa Trung Hoa, được giao nhiệm vụ dẫn đầu Tả quân đi chinh phạt nhà Tống. Là Khắc hãn, Mông Kha ở lại trung tâm Mông Cổ, còn A Lý Bất Ca, em út và Hoàng tử Tổ ấm của gia đình, cũng ở lại giúp đỡ ông quản lý đất nước. Tháng Năm năm 1253, Húc Liệt Ngột và Hốt Tất Liệt lên đường hoàn thành hai cuộc chinh phục do ông nội bắt đầu và giờ được anh cả tiếp quản.
Như cách quân Mông Cổ thường chuẩn bị cho cuộc xâm lăng, Húc Liệt Ngột phái quân đi tiền trạm khắp vùng Trung Á để dọn đường cho gia súc nhằm chuẩn bị nguồn cỏ cho toán quân chính đi qua khu vực. Húc Liệt Ngột cho phép lính tiên phong thăm dò lực lượng địch và bắt đầu đàm phán ngoại giao với các đồng minh tiềm năng trước khi quân đội khổng lồ của ông ra trận. Toán quân chính tập trung lại vào mùa hè để vỗ béo ngựa, và theo truyền thống Mông Cổ chỉ ra trận vào mùa đông. Nếu lính của Thành Cát Tư Hãn di chuyển nhanh và tiến tới các thành phố Hồi giáo đồng thời từ nhiều hướng, thì Húc Liệt Ngột di chuyển không chỉ cùng một đội quân du mục, mà là cả một đế quốc du mục. Húc Liệt Ngột có một đội quân công trình sư người Trung Hoa, và cùng với các nghệ nhân châu Âu xây cầu, máy bắn đá và các cỗ máy chiến tranh khác. Ông cũng mang theo một đội ngũ quân y cũng như nhiều người ghi chép và nô bộc để quản lý cả quân đội. Các chiến binh của Thành Cát Tư Hãn tự lo quân lương trên đường hành quân, còn đoàn xe kéo của Húc Liệt Ngột bao gồm rất nhiều xe chở đầy lúa mạch, gạo và rượu cho đoàn quân đông đảo dưới quyền ông.
Với Húc Liệt Ngột, cái đích cuối cùng là chinh phục Baghdad kinh đô tài chính và văn hóa của Ả-rập, nhưng để tới được đó, ông phải tái khẳng định quyền cai trị của Mông Cổ tại nhiều khu vực nổi loạn trên đường, trong đó khó khăn nhất là thành lũy của người Nizari Ismaili, một giáo phái đạo Hồi Shiite thường được biết đến ở phương Tây với tên gọi Assassins [Hội sát thủ]. Chúng lẩn trốn trong khoảng một trăm pháo đài bỏ không rải rác từ Afghanistan tới Syria, trong đó quan trọng nhất là Alamut – “Tổ Chim ưng” – ở phía bắc Ba Tư. Các tín đồ nghe mọi mệnh lệnh từ thủ lĩnh của chúng, người kế thừa tước hiệu từ cha mình và được biết tới với nhiều tên gọi như Imam, Đại Sư phụ, hay Sơn Lão. Bởi chúng tin rằng Chúa trời chọn ra Imam, ngài do vậy không bao giờ sai; ngài không cần tới trường bởi mọi thứ ngài làm dù với người thường có kỳ lạ đến đâu, cũng đều là do thánh thần sai bảo. Tín đồ của ông ta chấp nhận những hành động có vẻ vô lý, luật lệ liên tục thay đổi, và ngay cả việc đảo ngược những luật lệ linh thiêng nhất bởi đó là bằng chứng cho kế hoạch của Chúa dành cho loài người.
Dù không có một quân đội đúng nghĩa, nhưng giáo phái Ismaili này có rất nhiều quyền lực chính trị nhờ vào một hệ thống khủng bố và ám sát phức tạp, và tính thần bí và thành công của giáo phái này đã sản sinh ra nhiều giai thoại mà đến giờ vẫn không thể biết đâu là sự thực. Dường như giáo phái chỉ có đúng một chiến lược chính trị đơn giản và hiệu quả: giết tất cả những người chống đối họ, đặc biệt là thủ lĩnh hay những người có quyền lực. Chúng chiêu mộ những nam thanh niên trẻ mà sẵn sàng chết trong cuộc tấn công, bởi lời đảm bảo rằng họ sẽ lập tức được lên thiên đường vì đã hi sinh cho Hồi giáo. Các tài liệu từ Trung Hoa, Ba Tư và Ả-rập đều kể lại chuyện những nam thanh niên bị cám dỗ bởi thứ thuốc phiện hashish được cung cấp thỏa thuê và các thú vui trần tục khác trong những khu vườn đặc biệt bên trong các lâu đài và pháo đài của giáo phái. Đây là hương vị đầu tiên của thiên đường đang chờ đón chúng, nếu chúng hi sinh cho Đại Sư phụ. Ngài sau đó sẽ đào tạo và kiểm soát chúng bằng một nguồn thuốc phiện hashish ổn định để khiến chúng nghe lời và không biết sợ hãi. Bởi chất gây nghiện rất quan trọng với người Ismaili, đây được cho là lý do mà chúng được gọi là hashshashin, nghĩa là “những kẻ nghiện hashish.” Dần dần, tên gọi này bị biến đổi thành giới sát thủ. Dù chúng có thật sự dùng thuốc lá hay không, cái tên này trở thành tên gọi những kẻ giết quan chức cấp cao trong nhiều thứ tiếng.
Trước đây, khi Thành Cát Tư Hãn lần đầu xâm lược khu vực, Đại Sư phụ tự nguyện thề trung thành với người Mông Cổ. Trong những thập niên kế tiếp, sau khi Thành Cát Tư Hãn đánh bại sultan của người Khwarizm, rồi sau đó phần lớn quân Mông Cổ rút quân, khoảng trống quyền lực để lại rất có lợi cho giáo phái Assassins. Khi Hãn Mông Kha lên ngôi, chúng sợ rằng việc một đội quân Mông Cổ lớn trở lại sẽ ảnh hưởng tới quyền lực mới có của chúng. Một số nhà chép sử viết rằng Đại Sư phụ đã gửi một đoàn sứ giả tới Karakorum, với lý do là để thần phục Hãn Mông Kha, nhưng thực chất chúng đã được đào tạo để giết ông – dù câu chuyện này có thể chỉ là cái cớ để Húc Liệt Ngột tấn công.
Người Mông Cổ đã ngăn chúng vào và ngăn ngừa vụ ám sát, nhưng bởi vậy Mông Kha đã quyết định lập tức hủy diệt giáo phái và tàn phá pháo đài của chúng.
Trước khi Húc Liệt Ngột tiến vào thành lũy của giáo phái, tên Đại Sư phụ nghiện rượu và trác táng đã bị chính những đổ đệ bất mãn giết chết, và người con trai bất tài không kém của hắn kế vị. Húc Liệt Ngột đánh giá khả năng hạ gục từng lâu đài được phòng thủ kỹ càng, rồi đặt ra một kế hoạch đơn giản và trực tiếp hơn. Vì Đại Sư phụ có vai trò rất linh thiêng, Húc Liệt Ngột tập trung vào việc bắt ông ta bằng cách kết hợp sức mạnh quân sự với lời đề nghị khoan hồng nếu hắn đầu hàng. Quân Mông Cổ công phá thành của người Ismaili, và các chiến binh của họ cho thấy khả năng leo các con dốc cheo leo nhất và đột kích lính thủ thành. Sự kết hợp của sức mạnh, thuốc súng và lời đề nghị khoan hồng đã có hiệu lực, kết quả là vào ngày 19 tháng Mười một năm 1256, vào lễ kỷ niệm một năm nhậm chức, Imam tuyên bố đầu hàng quân Mông Cổ.
Khi Húc Liệt Ngột đã kiểm soát được Imam, ông đưa hắn tới hết lâu đài này tới lâu đài khác để ra lệnh cho thuộc hạ đầu hàng. Nhằm khuyến khích Imam hợp tác và giữ hắn vui vẻ tới cuối chiến dịch, Húc Liệt Ngột chiều chuộng các sở thích cuồng loạn của hắn: xem lạc đà đánh nhau và phối giống, và ông cũng cung cấp phụ nữ cho hắn. Vào mùa xuân năm 1257, khi tất cả các lâu đài của giáo phái đã bị lật đổ, Imam nhận ra hắn không còn hữu dụng với quân Mông Cổ nữa, và yêu cầu được phép đi tới Karakorum để diện kiến Hãn Mông Kha, có lẽ là để tìm cách sống sót. Húc Liệt Ngột cho phép hắn bắt đầu cuộc hành trình dài tới Mông Cổ, nhưng khi tới nơi, Mông Kha từ chối tiếp hắn. Thay vào đó, quân Mông Cổ đưa Imam và người của hắn tới vùng núi gần Karakorum và giẫm đạp lên chúng tới chết.
Việc tiêu diệt giáo phái Assassins đã mở đường cho quân đội của Húc Liệt Ngột tới Baghdad, thành phố giàu có và rộng lớn nhất thế giới Hồi giáo. Nếu quân Ismaili cai quản vùng khủng bố ngoài rìa thế giới Hồi giáo, thì kinh đô Baghdad bên dòng Tigris thống lĩnh trung tâm thế giới ấy – Mẹ của các Thành phố. Mecca, nằm giữa bán đảo Ả-rập, vẫn là thánh địa của đạo Hồi, nhưng nó quá xa các trung tâm dân cư nên không thể là trung tâm chính trị hay giao thương quan trọng được. Khi Baghdad được thành lập vào năm 762, hơn một thế kỷ sau khi đạo Hồi ra đời, thế giới Ả-rập tìm ra trung tâm đô thị của họ dưới triều đại các khalifah Abbasid, những người mang danh nghĩa là người đứng đầu cả thế giới Hồi giáo. Hiện nay, thủ lĩnh Abbasid là Khalifah, người kế vị thứ ba mươi bảy của Nhà Tiên tri Mohammed. Do vậy, không chỉ là người cai trị quyền lực nhất thế giới Hồi giáo, ông còn là biểu tượng lãnh đạo của tất cả tín đồ theo đạo Hồi. Nhìn chung, ông là sự kết hợp của cả một vị hoàng đế và một giáo hoàng.
Baghdad là thành phố của Scheherazade, người kể chuyện huyền thoại của bộ truyện Nghìn lẻ một đêm, và trong suốt năm trăm năm, của cải của cả thế giới Hồi giáo đổ về đây, và được các khalifah sử dụng để xây cung điện, nhà thờ Hồi giáo, trường học, vườn thượng uyển và đài phun nước công cộng. Baghdad là thành phố của các nhà tắm xa hoa và những khu chợ trù phú. Không chỉ đáp ứng các nhu cầu của đa số dân chúng Hồi giáo, thành phố cũng là trung tâm tôn giáo của nhiều tín đồ Ki-tô giáo và trung tâm văn hóa của người Do Thái. Họ đã xây dựng ở đây nhiều nhà thờ, giáo đường và trường học Do Thái. Thành phố mở rộng dọc theo cả bến sông Tigris và nối với nhau bằng một cây cầu, trung tâm thành phố được bảo vệ bằng các bức tường lớn.
Như cách người Mông Cổ vẫn làm ngoại giao, trước khi tấn công vị khalifah, Húc Liệt Ngột gửi tới sứ giả mang theo một danh sách những tội trạng chống lại ông. Húc Liệt Ngột buộc tội khalifah đã không gửi quân hỗ trợ đàn áp giáo phái Ismaili, dù ông đã từng thề trung thành với Thành Cát Tư Hãn. Trong con mắt quân Mông Cổ, khalifah cũng là một kẻ phản loạn giống Imam, và có lẽ ông cũng sẽ chịu số phận tương tự. Nếu ông không lập tức chuộc tội bằng cách đầu hàng, Húc Liệt Ngột đe doạ sẽ chiếm thành và bắt giữ ông. Có vẻ như khalifah, giống như Imam, không hiểu được quân Mông Cổ nguy hiểm thế nào, và ông chế giễu những yêu cầu được cho là phi lý của họ. Ông tuyên bố rằng cả thế giới Hồi giáo sẽ đứng dậy để đảm bảo khalifah sẽ được độc lập, và họ sẽ không cho phép một quốc gia vô đạo chiếm kinh đô Baghdad của người Ả-rập. Ông thề rằng các tín đồ Hồi giáo từ tận vùng Mahgreb dọc theo bờ biển Đại Tây Dương ở Maroc, cũng sẽ mau chóng tới để tiêu diệt những tên xâm lược Mông Cổ nếu chúng tiếp tục chiến dịch. Ông tuyên bố rằng cả Chúa và người theo đạo Hồi sẽ đều không cho phép Baghdad rơi vào tay những kẻ không có đức tin.
Không tin rằng khalifah có thể nói thay lời Chúa hay toàn bộ người Hồi giáo, tháng Mười một năm 1257, Húc Liệt Ngột bắt đầu tiến quân về Baghdad. Ông cảnh giác hơn là ông nội mình, nhưng vẫn với cùng những chiến thuật và thủ thuật của Mông Cổ. Để hỗ trợ quân đội mình, Húc Liệt Ngột cho gọi các đội quân của các nước chư hầu Armenia và Georgia cũng như nhiều bộ lạc người Turk khác. Bởi vậy, trong lúc toán quân chính tiến tới theo một vòng cung rộng từ phía bắc và phía đông, những nhóm khác đi tới từ phía bắc và tây. Dù hai dòng sông Tigris và Euphrates vốn thường là ranh giới tự nhiên chống lại các cuộc xâm lăng ở vùng Lưỡng Hà, quân Mông Cổ dễ dàng di chuyển xuôi ngược trên hai dòng sông bằng thuyền nổi. Khi thấy họ tiến đến, dân chúng địa phương bỏ chạy vào trong thành phố được bảo vệ kiên cố. Tới tuần cuối cùng của tháng Một năm 1258, quân Mông Cổ đã bao vây thành phố và chiếm đóng khu vực ngoại ô bên ngoài tường thành, còn thành phố lại đầy người tị nạn.
Trước khi bắt đầu cuộc tấn công, Húc Liệt Ngột cố gắng lợi dụng những chia rẽ chính trị, tôn giáo và sắc tộc bên trong Baghdad bằng cách bí mật kết nối với các tín đồ Ki-tô giáo trong thành. Vì mẹ và hai người vợ của ông, cũng như nhiều người dưới quyền, đều theo đạo Ki-tô, Húc Liệt Ngột đã giữ liên lạc và giành được sự tôn trọng của nhiều cộng đồng Ki-tô giáo khắp vùng Trung Đông, và đã giữ quan hệ tốt với các nước chư hầu theo Ki-tô giáo là Georgia và Armenia. Tận dụng những quan hệ này, các sứ giả Ki-tô giáo bí mật di chuyển qua lại giữa thành phố của họ và doanh trại Mông Cổ, mang theo những thông tin trinh sát quý báu cho Húc Liệt Ngột, và đổi lại nhận được lời hứa rằng người Ki-tô giáo và các nhóm thiểu số khác trong thành sẽ biệt đãi. Một dấu hiệu rằng các tín đồ Ki-tô sẽ được ưu đãi trong triều đình của ông là việc các tu sĩ được miễn quỳ lạy trước Húc Liệt Ngột trong triều, bởi họ chỉ phải cúi đầu trước Chúa trời. Húc Liệt Ngột lợi dụng nỗi sợ Baghdad của người Ki-tô giáo, bởi họ là nhóm thiểu số trong một xã hội chủ yếu là những người theo đạo Hồi có thể đối địch. Ông nhằm vào giấc mơ của người Ki-tô giáo và người Do Thái rằng có ngày họ sẽ được thoát khỏi sự cai trị của đạo Hồi.
Khalifah cũng cố lợi dụng mối quan hệ gần gũi của người Mông Cổ và người Ki-tô giáo. Ông cho gọi Catholikos Makikha, vị trưởng lão của nhà thờ, và cử ông cùng một lãnh tụ Hồi giáo tới đàm phán với người Mông Cổ. Ông đề nghị sẽ tuyên bố phục tùng, trả cống vật hậu hĩnh, và mỗi thứ sáu sẽ cầu nguyện trong nhà thờ Hồi giáo dưới danh nghĩa của vị Khắc hãn, tức là chính thức thừa nhận phục tùng Mông Cổ. Húc Liệt Ngột cười khẩy trước lời đề nghị. Ông biết rằng chiến thắng đã rất gần rồi nên không thể chỉ chấp nhận những thứ vụn vặt này được – nhất là khi ông có thể dễ dàng có được mọi của cải của thành phố giàu sang nhất thế giới.
Quân Mông Cổ thể hiện khả năng ứng biến vốn có và dùng mọi vật liệu có sẵn làm vũ khí. Những thứ lớn nhất gần đó là các cây cọ lớn mà người Ả-rập đã trồng và chăm sóc từ hàng thế kỷ nay. Quân Mông Cổ chặt hạ chúng, và ném thân cây về phía thành. Dù không có đủ gỗ để bao vây thành phố Baghdad rộng lớn như lần tấn công Nga, Húc Liệt Ngột vẫn xây hào sâu và thành lũy bao vây thành phố, và bắt đầu cuộc tấn công bằng việc dữ dội công phá thành. Người Ả-rập đã từng nghe về việc dùng hỏa thương trong chiến trận, nhưng cho tới lúc này chưa từng chứng kiến sức mạnh quân sự của thuốc súng.
Quân Mông Cổ đã thay đổi công thức của thuốc súng để chúng có đủ oxy để cháy trong chớp nhoáng thay vì cháy chậm như thường thấy ở hỏa thương hay tên lửa. Việc cháy lập tức này gây ra một vụ nổ thay vì một đám cháy, và quân Mông Cổ tận dụng chúng để phóng đủ các loại đạn. Các nghệ nhân chế ra một số ống nhỏ đủ để một người điều khiển, và từ đó bắn ra đầu mũi tên hay các loại đạn kim loại khác. Để vụ nổ có thể xảy ra bên trong ống, họ cần dùng một nguyên liệu cứng hơn tre – nên chúng được làm từ ống sắt. Quân Mông Cổ gắn những ống nhỏ hơn vào tay cầm gỗ để dễ cầm, và đặt những cái lớn hơn trên bánh xe để dễ di chuyển. Những ống lớn hơn bắn ra đạn gốm hoặc đạn kim loại chứa đầy mảnh đạn hoặc thuốc súng, chúng sẽ nổ tung lần nữa khi tiếp xúc. Khi tấn công, quân Mông Cổ kết hợp tất cả các hình thức công phá như bom khói, lựu đạn sơ khai, nhựa đường dạng đơn giản, và hỏa tiễn cháy. Những vũ khí gây nổ họ chế ra có thể phóng đạn với uy lực mạnh như đại bác thật; họ tìm cách tập trung hỏa lực để bắn hạ một phần của tường thành.
Việc công phá từ xa khiến dân thành Baghdad bối rối và sợ hãi, và lính thủ thành trở nên hoang mang, bởi họ chưa từng bị một kẻ địch tấn công từ ngoài tầm với vũ khí của mình. Bên cạnh các vũ khí sử dụng thuốc súng, các công trình sư Mông Cổ đã sử dụng gần như thành thạo mìn để phá tường. Tất cả những phát minh quân sự này phù hợp với khuynh hướng tránh cận chiến của quân Mông Cổ. Húc Liệt Ngột phá hủy các đập nước và chuyển hướng dòng sông Tigris để làm ngập doanh trại của khalifah và khiến họ phải lánh nạn trong thành. Bức tường nước này hẳn cũng đã gây ảnh hưởng tới tâm lý người dân Baghdad như bức tường gỗ với người Nga. Ngày 5 tháng Hai năm 1258, quân Mông Cổ phá tường thành Baghdad, và sau năm ngày, khalifah đầu hàng. Để chuẩn bị cướp bóc thành, Húc Liệt Ngột yêu cầu dân chúng Baghdad giao nộp vũ khí, để lại toàn bộ của cải, và đồng loạt ra khỏi thành. Thay vì nghe lệnh, quân vệ thành tìm cách trốn chạy, nhưng quân Mông Cổ đuổi theo và đánh hạ họ.
Húc Liệt Ngột sai đội quân Thiên Chúa giáo của họ vào thành để thu thập chiến lợi phẩm, nhưng họ phát hiện ra nhiều người đã từ chối lệnh di tản và vẫn đang trốn trong nhà. Vì dám trái lệnh, họ đã bị những kẻ xâm lược giết. Theo lệnh của quân Mông Cổ, các nhà thờ và tài sản Ki-tô giáo sẽ không bị cướp, và Húc Liệt Ngột trao một trong những cung điện của khalifah cho Catholikos Makikha. Các tín đồ Ki-tô giáo ở Baghdad cùng với những con chiên khác cướp bóc thành và tàn sát người dân Hồi giáo, bởi họ cảm thấy giờ phút họ được cứu vớt cuối cùng đã tới. Hàng thế kỷ căm ghét và giận dữ tuôn trào, họ làm ô uế và phá hủy nhà thờ Hồi giáo, và biến vài cái trong đó thành nhà thờ đạo Ki-tô. Các tín đồ Ki-tô giáo ăn mừng khắp vùng Abbasid và xa hơn nữa. Một nhà chép sử người Armenia miêu tả niềm hân hoan tột độ này: “Năm trăm mười lăm năm đã trôi qua kể từ ngày thành phố này được thành lập,” ông viết. “Suốt thời thịnh vượng, nó [Baghdad] như đỉa đói hút cạn cả thế giới. Giờ đây nó trả lại mọi thứ đã từng lấy.” Giờ đây Baghdad “đã bị trừng phạt vì đã gây đổ máu và nhiều tội ác, trái ngược hoàn toàn với luân thường đạo lý.” Việc cướp bóc kéo dài mười bảy ngày. Trong thời gian này, những kẻ xâm lược, hữu ý hoặc vô tình, đã đốt trụi cả thành.
Húc Liệt Ngột cho phép người Ki-tô giáo phá hủy lăng mộ của các đời khalifah Abbasid, rồi cho gọi khalifah đang bị giữ làm tù nhân tới doanh trại của ông ngoài thành. Theo lời nhà chép sư Armenia là Grigor xứ Akanc, Húc Liệt Ngột nhốt khalifah suốt ba ngày mà không có đồ ăn thức uống, rồi cho ông ta ra và chất đống vàng bạc châu báu của ông ta ra trước mặt. Chỉ vào khối của cải khổng lồ cướp được từ trong thành, Húc Liệt Ngột được cho là đã ra lệnh cho khalifah ăn số vàng này, và khi ông ta không thể, đã trách mắng rằng ông chỉ tham lam tích trữ của cải thay vì xây dựng quân đội để tự phòng vệ. Sau đó, ông xử tội chết khalifah và các người thừa kế nam của ông ta, nhưng để thể hiện sự tôn trọng cuối cùng đối với kẻ có tội mang tước vị cao, ông cho phép họ bị xử tử theo cách của người Mông Cổ – không đổ máu. Theo những lời kể tương đối giống nhau, họ bị cuộn trong thảm hoặc khâu vào túi rồi bị quân lính Mông Cổ đá tới chết hoặc bị ngựa giẫm đạp.
Chỉ trong hai năm, quân Mông Cổ đã làm được điều mà lính Thập tự chinh từ phương Tây và người Turk Seljuk* đã thất bại suốt hai thế kỷ liên tục cố gắng. Họ đã chiếm được trái tim của thế giới Ả-rập. Không một quân đội phi Hồi giáo nào có thể chiếm được Baghdad hay Iraq một lần nữa, cho tới khi quân đội Hoa Kỳ và Anh Quốc đặt chân tới đây vào năm 2003.
Trong lúc quân Mông Cổ đánh bại người Ả-rập, lính Thập tự chinh, tại thời điểm này đang chiếm đóng một số lâu đài và thành phố nhỏ dọc bờ biển Địa Trung Hải, đang cẩn trọng quan sát bước tiến của quân Mông Cổ. Đột nhiên, khi Baghdad thất thủ, họ nhận thấy đây là cơ hội để liên minh với quân Mông Cổ và chia sẻ thắng lợi. Khi quân Mông Cổ rời Baghdad và đi về phía tây tới Damascus, hiệp sĩ Thập tự chinh Bohemond xứ Antioch ra quân tấn công Damascus từ phía Địa Trung Hải, và mang theo quân trang và lương thực giúp đỡ quân Mông Cổ. Tương tự, sultan Seljuk cũng gửi quân từ Anatolia để cùng quân Mông Cổ tấn công.
Damascus đầu hàng và tránh được số phận của Baghdad. Vậy là quân Mông Cổ lại một lần nữa tới bờ biển Địa Trung Hải. Mười tám năm trước, lính Mông Cổ của Bạt Đô đã từ châu Âu tới Địa Trung Hải; vào lần này, họ tới đây qua châu Á. Bảy năm sau khi Húc Liệt Ngột từ biệt các anh em mình ở Karakorum, ông đã chinh phục hoặc tái chinh phục mọi thứ trong khoảng cách bốn ngàn dặm, và thêm hàng triệu người Ả-rập, Turk, Kurd, Ba Tư vào đế quốc đang ngày càng lớn mạnh.
Trong sáu thế kỷ từ khi đạo Hồi ra đời, tôn giáo này đã nhanh chóng mở rộng mà chỉ để mất vài khu vực biên giới, nhưng chưa bao giờ một phần lớn của thế giới Hồi giáo lại rơi vào tay những kẻ ngoại đạo như vậy. Bốn thập niên từ ngày Thành Cát Tư Hãn tấn công Bukhara tới ngày Baghdad và Damascus thất thủ là thời gian đen tối nhất trong lịch sử Hồi giáo. Nếu lính Thập tự chinh chỉ có thể mon men tới vài cảng biển, quân Mông Cổ đã chinh phục được mọi vương quốc và thành phố Hồi giáo từ sông Ấn tới Địa Trung Hải. Họ đã chiếm được hầu hết lãnh thổ Hồi giáo ở châu Á; chỉ còn bán đảo Ả-rập và Bắc Phi là còn nằm ngoài tầm tay họ.
Các tín đồ Ki-tô giáo không thể kiềm chế sự khoe khoang sung sướng của họ. Sử ký của Armenia nhắc tới một câu chuyện khá đáng ngờ cho thấy sự khinh bỉ và giễu nhại mà họ dành cho người Hồi giáo thay vì một động thái thực sự của quân Mông Cổ. Theo câu chuyện, sau khi chiến thắng người Ả-rập, Húc Liệt Ngột mua một trăm ngàn lợn con từ Armenia và cho mang tới mỗi thành phố Ả-rập hai trăm con. Ông ra lệnh cho người dân Hồi giáo ở đó phải chăm đàn lợn ở giữa thành phố, ngày ngày cho chúng ăn quả hạnh và quả chà là, và mỗi thứ bảy tắm cho chúng bằng xà phòng. Người ghi chép cũng viết rằng quân Mông Cổ yêu cầu tất cả người Ả-rập phải ăn thịt lợn, và chặt đầu tất cả những ai bất tuân.
Dù khi đó quân Mông Cổ dường như đang đe doạ sẽ nuốt trọn cả thế giới Hồi giáo, trên thực tế họ đã đạt tới giới hạn của mình ở phía tây. Đế quốc này sẽ không tiếp tục mở rộng thêm nữa theo hướng đó. Một nhóm nô lệ Mamluk*, phần lớn bị mua từ các thương nhân Ý, những người đã lại mua họ từ người Kipchak và Slav ở Nga và bán lại họ cho sultan Ai Cập, trên đường rời Ai Cập đã gặp một toán quân Mông Cổ ở Ayn al-Jalut – suối Goliath – gần Biển hồ Galilee thuộc Israel ngày nay. Sáng ngày 3 tháng Chín năm 1260, một năm sau khi Hãn Mông Kha băng hà, người Mamluk đánh bại quân Mông Cổ. Đế quốc đã đạt tới ranh giới phía tây của mình.
So với các chiến thắng và cuộc chinh phục các vùng đất và người dân khắp vùng Trung Đông của Húc Liệt Ngột, nỗ lực của em trai ông – Hốt Tất Liệt – để lật đổ nhà Tống và giành lấy vùng lãnh thổ ở phía nam Trung Hoa vẫn còn là một giấc mơ xa vời hơn là tương lai sắp thành hiện thực với người Mông Cổ. Khả năng quân sự non yếu khiến Hốt Tất Liệt khó có thể hoàn thành sứ mệnh của mình. Nếu các anh em ông từng chiến đấu ở châu Âu và Trung Đông, Hốt Tất Liệt sống chủ yếu ở vùng đất của Mông Cổ phía nam sa mạc Gobi, nơi ông có một triều đình riêng lớn và xa hoa hơn triều đình hoàng gia Karakorum ở trung tâm Mông Cổ. Ông thích ăn uống hơn là đánh trận. Ông tăng cân và mắc bệnh gout, nên việc làm một thủ lĩnh quân sự tài giỏi trên lưng ngựa còn khó khăn hơn nữa. Sau khi nhận được lệnh của anh trai là Hãn Mông Kha để nam tiến vào Trung Hoa, quân đội của Hốt Tất Liệt giành được một số thắng lợi nho nhỏ tại các vương quốc gần biên giới phía tây của nhà Tống. Ông tiến quân rất chậm chạp để chuẩn bị thật kỹ càng cho cuộc chiến chống quân Tống. Không chỉ gặp nhiều trở ngại trong việc mở rộng lãnh thổ, mà ngay cả trong địa phận do chính mình cai trị, việc tranh đấu phe phái giành quyền lực giữa các đạo sĩ và nhà sư càng làm ông mất quyền kiểm soát lãnh thổ của mình.
Thay vì gửi tin thắng trận và các xe kéo cống phẩm về Karakorum, Hốt Tất Liệt lại thường xuyên viện cớ cho việc chậm trễ và các vấn đề đột xuất. Lời giải thích rộng lượng của các học giả ủng hộ Hốt Tất Liệt là vì ông là một nhà lãnh đạo chín chắn và thận trọng, và muốn hành động một cách có tổ chức chứ không bốc đồng, và là người kết hợp nhuần nhuyễn các chiến thuật và quân đội của cả Trung Hoa và Mông Cổ. Lời giải thích ít rộng lượng hơn là ông thiếu tài năng quân sự của người Mông Cổ nhưng vẫn tránh được thất bại nhờ động lực chung từ cả cuộc tiến công của quân Mông Cổ, và tài võ nghệ xuất sắc của các tướng lĩnh dưới quyền.
Hãn Mông Kha rất không hài lòng, và cho một nhóm quan điều tra xem xét các vấn đề của Hốt Tất Liệt. Họ tìm thấy nhiều chứng cứ cho thấy có sự gian trá và tham nhũng trong hệ thống quan lại của Hốt Tất Liệt, và đã xử tử nhiều vị quan quan trọng và tước các đặc quyền và nghĩa vị tài chính của ông. Các quan thanh tra này hành xử với cùng tác phong đe doạ như trong cuộc thanh trừng gia đình Oa Khoát Đài, và có vẻ không chỉ quyền lực, mà cả mạng sống của Hốt Tất Liệt cũng đang bị đe doạ.
Mông Kha cho gọi Hốt Tất Liệt tới Karakorum với lý do là để giải trình về các sai phạm tài chính, nhưng có lẽ là để giải thích cho nhiều vấn đề khác, trong đó quan trọng nhất là việc vẫn chưa đánh bại được nhà Tống. Dù nhiều quan lại cố vấn khuyên ông nên chống đối, Hốt Tất Liệt vẫn tới Karakorum như lệnh và cầu xin anh trai tha lỗi. Sau khi Hốt Tất Liệt hạ mình thể hiện sự hối lỗi và lòng trung thành, Hãn Mông Kha công khai tha thứ và hòa giải với ông, nhưng gốc rễ nguyên nhân căng thẳng giữa hai anh em vẫn còn đó, và mục tiêu đánh đổ nhà Tống vẫn xa vời như vậy. Thất vọng, Hãn Mông Kha buộc phải nghĩ ra một kế hoạch mới.
Mùa thu năm 1257, trong lúc quân của Húc Liệt Ngột đang tiến đánh Baghdad, Hãn Mông Kha mở một buổi hốt lý đài nhỏ trong khu rừng rậm trong thung lũng Khorkhonag bên dòng sông Onon quê hương gần ngọn núi Burkhan Khaldun linh thiêng. Ở đây ông nhận ra rằng – hay ít nhất ông nói rõ với triều đình rằng – chính ông phải là người lãnh đạo cuộc chiến chống nhà Tống. Hãn Mông Kha đã tham gia tích cực trong các chiến dịch ở châu Âu và đã được Tốc Bất Đài – vị tướng lĩnh Mông Cổ tài giỏi nhất – đào tạo; và sau khi ông qua đời hai năm trước, Mông Kha có lẽ là vị tướng tài năng nhất có thể lãnh đạo chiến dịch này. Trong lúc vắng mặt trong thời gian diễn ra chiến dịch, Mông Kha giao toàn bộ quyền quản lý trung ương và trách nhiệm trông nom con trai và người kế vị ngai vàng cho em trai út A Lý Bất Ca. Mông Kha ra lệnh cho Hốt Tất Liệt quay về lãnh thổ của mình để chấm dứt xung đột giữa các phe phái mâu thuẫn của Đạo giáo và Phật giáo, còn chính ông sẽ chịu trách nhiệm cho cuộc chinh phạt quan trọng hơn này.
Bắt chước chiến thuật cơ bản của ông mình, Mông Kha trước hết tấn công các vùng nhỏ và yếu hơn trước khi tiến đánh các mục tiêu lớn. Với ông, điều này có nghĩa là bắt đầu cuộc chinh phạt bằng việc tấn công Tứ Xuyên về phía tây và Vân Nam về phía tây nam nhà Tống, và rồi từ từ tiếp cận và đánh hạ con mồi lớn hơn. Nếu Mông Cổ giành được quyền kiểm soát các vùng này, họ có thể tiến đánh nhà Tống đồng thời từ mọi hướng. Tháng Năm năm 1258, chỉ ba tháng sau khi Húc Liệt Ngột giành được Baghdad, Mông Kha dẫn quân băng qua sông Hoàng Hà. Chỉ trong vòng một năm, họ đã đi từ vùng sông Onon lạnh giá gần biên giới Siberia tới miền đất phía nam nóng ẩm.
Sau khi nhanh chóng giành được các vương quốc bên ngoài, vào năm thứ hai, Mông Kha bắt đầu đánh trực tiếp nhà Tống, song thời tiết lại trở nên cực kỳ nóng bức. Khí hậu này khác hẳn với những gì ông và phần lớn quân lính từng gặp ở Mông Cổ hay tại châu Âu. Nhiều quân lính mắc bệnh tiêu chảy ra máu – có lẽ là bệnh kiết lỵ – và các loại bệnh dịch khác. Hãn Mông Kha cũng đổ bệnh nhưng rồi khỏe lên – và rồi, vào ngày 11 tháng Tám năm 1259, ông đột ngột qua đời. Mỗi ghi chép ghi lại một nguyên nhân tử vong khác nhau. Người Trung Hoa nói rằng ông chết vì bệnh tả, người Ba Tư cho là ông chết vì kiết lỵ, và những nguồn khác cho rằng nguyên nhân là vi bị trúng tên. Cái chết của Mông Kha khiến cả đế quốc đình trệ; việc tiến quân cũng ngừng lại.
Thay vì nhanh chóng trở về để tham gia vào quá trình bầu ra Khắc hãn mới như các thủ lĩnh Mông Cổ vẫn làm sau khi ba vị Khắc hãn trước báng hà, mỗi phe phái lại ra sức bảo vệ phần lãnh thổ đang có. Ở Trung Đông, Húc Liệt Ngột với thắng lợi mới đây của mình đang cai trị những vùng đất và thành phố giàu có nhất vương quốc; ông kiểm soát nhiều của cải hơn toàn bộ phần còn lại của đế quốc cộng lại. Ông cũng đã giành được một phần vùng thảo nguyên quý giá ở Azerbaijan từ những người anh em họ đang cai trị nước Nga. Sợ rằng ông sẽ tiếp tục giành thêm đất đai, các anh em họ ông giữ chặt lấy lãnh thổ của mình và từ chối quay về Mông Cổ để bầu cử. Cả Húc Liệt Ngột ở Trung Á và Kim Trướng Hãn Quốc – tên gọi sau này của các hậu duệ của Truật Xích ở Nga – đều không muốn mạo hiểm mất đi lãnh thổ của mình để tranh giành tước vị Khắc hãn tối cao ở Mông Cổ.
Đế chế Mông Cổ lớn mạnh nhất dưới thời Hãn Mông Kha – hậu duệ cuối cùng được cả đế quốc công nhận là Khắc hãn. Nhiều vị hãn khác tiếp tục cai trị các vùng khác nhau trong vương quốc, và vài người trong số họ tuyên bố mình là người kế vị hợp pháp của Thành Cát Tư Hãn và tước vị Khắc hãn. Nhưng không ai trong số họ được tất cả các phe phái và dòng dõi khác chấp thuận. Hãn Mông Kha bắt đầu, nhưng không bao giờ kết thúc, cuộc Thế Chiến Mông Cổ Thứ Hai. Nó không thành công hay thất bại, mà chỉ dần tàn lụi.
Các anh em ông cũng theo đuổi nhiều chiến dịch ngắn hạn khác, nhưng họ tập trung nỗ lực để chống lại nhau thay vì kẻ địch bên ngoài. Hốt Tất Liệt đột nhiên từ bỏ nhà Tống để thách thức em trai út A Lý Bất Ca, người hiện đang cai trị Mông Cổ từ Karakorum. Cả hai đều mở hai buổi hốt lý đài riêng rẽ trong lãnh thổ của mình. Quyết định lựa chọn ai trong hai người, và quan trọng hơn ai trong số những người ủng hộ họ, có vẻ rất rõ ràng. Là người có học thức hơn, Hốt Tất Liệt đã được trao cho vùng đất nông nghiệp nơi văn hóa Trung Hoa có ảnh hưởng chủ yếu, và ông chưa bao giờ được các thành viên khác trong Hoàng tộc hoàn toàn tin tưởng hay chấp thuận. Hốt Tất Liệt thích các toà nhà và thành phố. Ông thấy ở trong cung điện cũng thoải mái như trong lều, và có thể còn nói được tiếng Hoa. Thói quen khác với đời sống Mông Cổ truyền thống này khiến ông dường như luôn bị bao trùm trong một không khí xa lạ.
Trái ngược với tính cách thành thị của Hốt Tất Liệt, A Lý Bất Ca sống đúng như một người trên thảo nguyên, một người Mông Cổ không mấy khi rời lưng ngựa. Là con trai út, ông là otchigen của gia đình giống như cha mình, và cũng có quyền thừa kế tước vị Khắc hãn như Mông Kha khi cha ông trao tước vị đó cho cha mình sau khi ông mất. Hơn nữa, A Lý Bất Ca cũng được các thành viên khác trong Hoàng tộc tin tưởng hơn, bởi ông không đe doạ quyền kiểm soát đất đai của họ, trong khi phong cách hống hách của Hốt Tất Liệt dễ gây nghi ngờ. Theo đúng luật Mông Cổ, A Lý Bất Ca mở buổi hốt lý đài ở quê hương Mông Cổ. Người vợ goá và các con trai của Hãn Mông Kha, cũng như hầu hết các thành viên khác của gia đình trừ hai anh trai Húc Liệt Ngột và Hốt Tất Liệt, đều ủng hộ ông là người kế vị hợp pháp và phù hợp nhất. Tháng Sáu năm 1260, đại diện từ mọi nhánh trong gia đình cùng tuyên bố A Lý Bất Ca là Khắc hãn mới trong buổi hốt lý đài ở Karakorum.
Nhưng Hốt Tất Liệt đã đảo chính thành công. Theo lời khuyên của các tùy tùng người Trung Hoa, Hốt Tất Liệt mở hốt lý đài trong lãnh thổ của mình. Ngoài người của ông, gần như chẳng có ai tới cả, nhưng ông vẫn được tuyên bố là Khắc hãn. Để giành được lòng trung thành từ người dân Trung Hoa, cũng trong năm 1260 đó ông tự xưng là Hoàng đế và chọn tước hiệu “Trung Thống.” Tên gọi này là phiên bản tiếng Hoa của tên gọi Khắc hãn mang ý nghĩa doanh trại Trung tâm trong tiếng Mông Cổ, và có Tả quân và Hữu quân.
Dù việc ông lên ngôi có thể bất thường theo truyền thống Mông Cổ, Hốt Tất Liệt nắm quyền cai trị quân đội Trung Hoa cũng như nhóm quân Mông Cổ của riêng mình; hơn nữa, ông còn kiểm soát dòng chảy lương thực thiết yếu của Karakorum. Dân số của kinh đô Mông Cổ trên thảo nguyên đông vượt mức số gia súc ở đây có thể đáp ứng, và vùng đất xung quanh, mặc cho những nỗ lực bền bỉ để thu hút nông dân từ các nước khác, vẫn không thích hợp cho nông nghiệp. Nếu không có lương thực đưa tới từ vùng đất trồng của Hốt Tất Liệt, người dân ở Karakorum sẽ phải sơ tán hoặc chịu cảnh chết đói.
Hốt Tất Liệt cắt lương thực và gửi quân tới chiếm Karakorum. A Lý Bất Ca nỗ lực chiến đấu nhưng dần phải rút quân trước số quân Trung Hoa quá đông đảo. Karakorum nhanh chóng rơi vào tay Hốt Tất Liệt, nhưng năm 1261 A Lý Bất Ca tạm thời giành lại được kinh thành. Quân đội của hai vị hãn này chạm trán hai lần nữa, nhưng quân đội của A Lý Bất Ca dần suy yếu và hao mòn, bởi đồng minh của họ nhận thấy vị hãn trẻ tuổi sẽ không bao giờ thắng được người anh trai già hơn, có quân trang tốt hơn, và có lẽ là thông minh hơn. A Lý Bất Ca cũng phải đối mặt với mối nguy tồi tệ nhất với người Mông Cổ: zud, hay nạn đói của động vật. Từ năm 1250 tới năm 1270, nhiệt độ ở Mông Cổ giảm đáng kể. Ở một nơi có hệ sinh thái mong manh như Mông Cổ, chỉ cần nhiệt độ hằng năm giảm vài độ cũng khiến lượng mưa vốn đã ít lại càng hạn chế, làm cây cỏ không mọc được và do vậy động vật dần suy yếu hoặc chết. Không có ngựa khỏe hay nguồn lương thực dồi dào, và thiếu cả phần đất nông nghiệp của Hốt Tất Liệt, các đồng minh của A Lý Bất Ca không đủ sức duy trì một cuộc chiến lâu dài. Mùa đông năm 1263 đặc biệt khắc nghiệt, và tới mùa xuân tiếp theo, A Lý Bất Ca không còn căn cứ quyền lực khả thi nào. Không thể cung cấp lương thực cho người của mình, A Lý Bất Ca tới Thành Đô và đầu hàng Hốt Tất Liệt vào năm 1264.
Khi hai anh em gặp nhau ở cuối cuộc chiến dài, Hốt Tất Liệt buộc A Lý Bất Ca phải thực hiện một nghi lễ quy phục công khai. Trước triều đình, Hốt Tất Liệt tra hỏi em trai mình, yêu cầu được cho biết phe nào trong cuộc chiến giành ngôi vị Khắc hãn là phe chính nghĩa. Câu trả lời của A Lý Bất Ca cho thấy sức mạnh của lòng kiêu hãnh của ông, ngay cả khi đã bị đánh bại: “Ngày đó là chúng đệ, giờ là huynh.” Các thành viên khác trong gia đình, bao gồm cả người anh ruột xa cách Húc Liệt Ngột phản ứng gay gắt với việc Hốt Tất Liệt công khai làm nhục em trai mình tới mức họ cùng phàn nàn với ông. Hốt Tất Liệt mở một buổi hốt lý đài khác trên lãnh thổ Mông Cổ để quyết định số phận của A Lý Bất Ca và để phê chuẩn chính ông làm hãn hợp pháp, tránh dây tiếng xấu từ buổi bầu cử trước trên đất Trung Hoa. Dù quân đội của Hốt Tất Liệt có sức mạnh quân sự rất lớn, nhưng Hoàng tộc từ chối tham dự. Họ công nhận sự thật rằng Hốt Tất Liệt giờ đã nắm quyền, nhưng không ai muốn tham gia phiên xét xử A Lý Bất Ca, người họ đã từng ủng hộ làm Khắc hãn. Không ai trong số họ tin tưởng Hốt Tất Liệt đủ để rời quê hương và có lẽ không bao giờ trở lại. Thiểu số người tối thiểu để mở buổi hốt lý đài, Hốt Tất Liệt tha tội cho em trai mình. Hốt Tất Liệt xét xử và xử tử nhiều người ủng hộ em mình, nhưng hình phạt duy nhất ông dành cho A Lý Bất Ca, ít nhất một cách công khai, là cấm ông ra vào triều đình. Một thời gian ngắn sau đó, năm 1266, một cách bí ẩn nhưng thuận lợi cho Hốt Tất Liệt, A Lý Bất Ca, dù vẫn ở tuổi sung sức, đột nhiên đổ bệnh và qua đời. Ông gần như chắc chắn đã bị đầu độc.
Giờ đây Hốt Tất Liệt đã lên ngôi Khắc hãn. Ông nắm quyền kiểm soát quân đội lớn nhất thế giới, và cai trị một trong những quốc gia đông dân nhất. Ông phải trả giá đắt cho chiến thắng của mình; vài thành viên Hoàng tộc và người của họ không công nhận ông, hay cùng lắm họ chỉ công nhận một cách tượng trưng, nhưng hoàn toàn không để ý tới ông mà tiếp tục lẻ tẻ giao chiến ở vùng biên giới suốt một thế hệ nữa.
Như bốn đài phun nước của Cây Bạc, Đế chế Mông Cổ giờ được chia làm bốn vùng quản lý chính trị chính. Hốt Tất Liệt cai trị Trung Hoa, Tây Tạng, Mãn Châu, Triều Tiên và phía đông Mông Cổ, nhưng ông liên tục vấp phải khó khăn trong việc củng cố quyền lực ở Mông Cổ và Mãn Châu. Kim Trướng Hãn Quốc cai trị các nước Slav ở Đông Âu, và liên tục phủ nhận tước vị Khắc hãn của Hốt Tất Liệt. Vùng đất do Húc Liệt Ngột và hậu duệ của ông trị vì từ Afghanistan tới Thổ Nhĩ Kỳ được gọi là Ilkhanate (Y Nhi Hãn Quốc), có nghĩa là “đế quốc chư hầu.” Chính tại nơi đây, văn hóa Ba Tư đã tái lộ diện sau hàng thế kỷ bị Ả-rập đàn áp và tạo nền móng cho Iran hiện đại. Những người Mông Cổ truyền thống nhất sống ở vùng thảo nguyên trung tâm, sau này được gọi là Mogulistan và bao gồm Kazakhstan và Siberia ở phía bắc, xuyên qua Turkistan ở Trung Á tới Afghanistan ở phía nam. Trong một thời gian, những nơi này đã thống nhất với nhau dưới sự trị vì của Hải Đô, cháu trai của Oa Khoát Đài và Thoát Liệt Ca Na. Ông trị vì từ Bukhara, và là đối trọng cho quyền lực của Hãn Hốt Tất Liệt, song khu vực này liên tục bị chia rẽ trong những thế kỷ tiếp theo.
Karakorum là kinh đô của Đế chế Mông Cổ chỉ trong ba thập niên, trước khi chính người Mông Cổ, theo lệnh của Hốt Tất Đài, đã cướp bóc và gần như phá hủy cả thành phố. Trong quãng thời gian ngắn ngủi này, nơi đây đã là trung tâm, là trục quay của thế giới. Khi Karakorum bị cướp bóc, Cây Bạc đã bị phá bỏ và đưa lên xe kéo đi.