“Dù tôi nghĩ, điều này sẽ chỉ dẫn tới một cuộc tranh luận cũ rích…” Ellery nói. Cậu là một thanh niên đẹp trai, cao, mảnh khảnh. “Tôi vẫn cho rằng, tiểu thuyết trinh thám là một trò chơi lí trí đầy kích thích giữa độc giả và thám tử, hoặc giữa độc giả và tác giả. Chỉ vậy thôi! Bởi thế các tác phẩm trinh thám xã hội của chủ nghĩa hiện thực vốn được ưa chuộng một thời ở Nhật nay đã quá nhàm chán rồi. Một nữ nhân viên văn phòng bị giết trên giường ngủ trong căn hộ của mình. Sau khi mòn gót cần mẫn điều tra, cảnh sát hình sự cuối cùng cũng tìm ra thủ phạm, không ai khác chính là người tình của cô ta. Chỉ có thế. Hoặc loanh quanh mấy vụ quan chức tham ô, bất lương, những thỏa thuận ngầm trong chính giới, bi kịch do mặt trái của xã hội hiện đại hay đại loại vậy… Dù sẽ có người cho tôi là hoài cổ, nhưng tiểu thuyết trinh thám thực chất chỉ cần: một thám tử tài ba, một tòa nhà rộng lớn, những kẻ mờ ám sống trong đó, bi kịch đẫm máu, tội ác không tưởng, và những trò lừa có một không hai của kẻ giết người… Cứ cho là mơ giữa ban ngày đi, nhưng tôi sẽ thực sự hạnh phúc nếu được đắm chìm trong một thế giới như thế. Đương nhiên phải dưới góc nhìn đầy lí trí.”
Họ đang ngồi trên một con thuyền đánh cá sặc mùi xăng dầu giữa những lớp sóng bình yên. Tiếng máy nổ ầm ầm phiền nhiễu.
“Chán thật!” Carr tựa vào mạn thuyền, cau có chìa cái cằm dài, nhẵn nhụi của mình ra. “Ellery, tôi không thích cậu cứ luôn miệng nói lí trí lí tính gì đó. Cậu định nghĩa tiểu thuyết trinh thám là trò chơi cũng được thôi nhưng đừng nên nhấn mạnh lí trí, nghe gượng gạo lắm!”
“Không ngờ anh lại nói thế đấy.”
“Chỉ là vấn đề về khoảng cách nhận thức thôi. Đâu phải độc giả nào cũng cực-kì-thông-minh như cậu!”
“Ừ, kể cũng phải,” Ellery nhìn thẳng vào mắt Carr và nói. “Tôi luôn rất lấy làm tiếc. Dạo quanh trường một vòng là rõ. Nói ngay thành viên hội nghiên cứu của chúng ta, đâu phải ai cũng có thể gọi là người lí trí. Một hai kẻ thậm chí còn đáng bị nghi ngờ về mặt trí tuệ.”
“Cậu định gây sự cãi nhau à?”
“Đâu có!” Ellery nhún vai. “Nào ai nói kháy anh đâu? Và, ý tôi nói lí trí là về thái độ đối với trò chơi chứ không ám chỉ thông minh hay đần độn. Trên đời này ai mà chẳng có ít nhiều lí trí và ham mê mấy trò chơi. Tôi đang nói về năng lực vừa chơi vừa kiểm soát được lí trí kia.”
Carr khụt khịt mũi và quay mặt đi. Ellery nhếch mép cười, xoay người nhìn sang anh chàng trẻ tuổi đeo kính mắt tròn bên cạnh.
“Và hơn thế nữa, Leroux này, nếu lý giải truyện trinh thám là một thế giới hoàn toàn tách biệt, được kiến tạo bởi phương pháp luận nhằm tạo ra trò chơi thuần túy lí trí, thì nó sẽ khó lòng có chỗ đứng trong xã hội hiện đại mà chúng ta đang sống.”
“Ồ!” Leroux ngờ vực nhìn lại.
Ellery nói tiếp:
“Vấn đề này gây tranh luận từ rất lâu rồi. Mấy anh cảnh sát hình sự làm việc suốt ngày đêm, chậm nhưng chắc, tổ chức hiệu quả, sử dụng các kĩ thuật điều tra hiện đại nhất về mặt pháp y: cảnh sát chẳng bao giờ bị xem là thiếu năng lực. Họ thậm chí dư thừa năng lực. Thực sự thì chẳng còn chỗ cho các thám tử cổ điển tài ba với vũ khí duy nhất là óc phân tích nữa. Sherlock Holmes mà xuất hiện ở một trong những thành phố của chúng ta thì chỉ tổ bị cười nhạo mà thôi.”
“Cường điệu quá đấy! Xã hội hiện đại ắt có Sherlock Holmes hiện đại chứ.”
“Ừ, đương nhiên rồi! Ông ta sẽ xuất hiện như một bậc thầy của những kĩ thuật tối tân về pháp y và giám định, giải thích mọi thứ cho ông bạn Watson đáng thương nghe, tuôn ra vô số thuật ngữ chuyên ngành cùng cơ man công thức phức tạp khó hiểu, sau cùng hỏi: Rõ ràng đơn giản như vậy mà anh Watson không nhận ra ư?” Ellery thọc hai tay vào áo khoác và lại nhún vai.
“Một ví dụ có phần cực đoan, cậu thấy đấy. Nhưng nó minh họa chính xác luận điểm của tôi. Tôi cũng không hoàn toàn ủng hộ mấy thứ kĩ thuật điều tra khô khan từ mớ logic cao siêu của các thám tử thời Kỷ nguyên vàng[*]. Nhà văn trinh thám ngày nay tất sẽ rơi vào tình huống tiến thoái lưỡng nan này. Cách đơn giản nhất để gỡ thế bí, đúng hơn là cách hiệu quả nhất, chính là thủ pháp ‘căn nhà giữa bão tuyết’ để tạo một không gian phong kín.”
“Tôi hiểu rồi.” Leroux trịnh trọng gật đầu. “Ý anh là, thủ pháp ‘căn nhà giữa bão tuyết’ của trinh thám cổ điển là sự lựa chọn hoàn hảo cho trinh thám hiện đại.”
❆❆❆
Đang là hạ tuần tháng Ba, dù sắp sang xuân nhưng gió biển vẫn rất lạnh. Nơi này gần mũi J, bán đảo S, bờ biển phía Đông tỉnh Oita thuộc Kyushu. Con thuyền rời bến cảng thuộc quận S hẻo lánh, kéo ra những vệt sóng dài trên mặt biển, bỏ mũi J khuất dần tầm mắt và băng băng tiến tới một hòn đảo nhỏ cách đây chừng 5 kilomét.
Hôm nay trời đẹp, rất hợp để đi biển. Nhưng những cơn bão cát đặc trưng của mùa xuân nơi đây đã hòa sắc trắng vào bầu trời xanh thẳm. Sóng biển lấp lóa ánh tà dương, cảnh vật chìm dưới làn cát mỏng.
“Không thấy con thuyền nào nữa cả!”
Một anh chàng cao lớn đột nhiên lên tiếng. Nãy giờ cậu ta vẫn tựa vào mạn thuyền, đối diện với Ellery cùng những người khác và lặng lẽ hút thuốc. Cậu có mái tóc dài bù xù và bộ râu quai nón thì lởm chởm. Cậu là Poe.
“Thủy triều phía bên kia hòn đảo rất nguy hiểm, tàu thuyền đều phải đi vòng,” lão ngư dân đáp. “Ngư trường gần đây nhất nằm ở phía Nam, nên các cô cậu chẳng thể thấy con thuyền nào trên đường tới đảo dù chúng mới chỉ vừa rời bến cảng thôi. Mà tiện đây, các cô cậu là những sinh viên rất lạ thường đấy.”
“Lạ thường, ở chỗ nào ạ?”
“Ồ, tên các cậu thật kì lạ, nào là Lulu, Elroy đại loại vậy, nghe thật quái dị. Tên cậu cũng thế chăng?”
“Vâng. Một kiểu biệt hiệu thôi ạ.”
“Sinh viên ngày nay toàn gọi nhau như thế à?”
“Không, không hẳn ạ.”
“Vậy thì các cô cậu đúng là những người khác thường rồi, phải không?”
Trước mặt lão ngư dân và Poe là hai nữ sinh đang ngồi trên chiếc hòm gỗ dài đặt giữa thuyền. Tính cả con trai lão làm nhiệm vụ giữ bánh lái phía sau, thì trên thuyền có cả thảy tám người.
Sáu khách đi thuyền này là sinh viên trường đại học K thành phố O trực thuộc tỉnh Oita, cũng là thành viên của hội nghiên cứu tiểu thuyết trinh thám trong trường. Leroux, Carr, Ellery, Poe là biệt hiệu họ thường dùng để gọi nhau.
Lô biệt hiệu này mượn từ tên các nhà văn trinh thám Âu-Mỹ mà họ ngưỡng mộ: Ellery Queen, John Dickson Carr, Gaston Leroux và Edgar Poe. Hai nữ sinh kia là Agatha và Orczy, tất nhiên là lấy từ Agatha Christie, người được mệnh danh là ‘Nữ hoàng trinh thám’, và Emma Orczy nổi danh với cuốn The Old Man in the Corner.
“Nhìn kìa! Đã thấy tòa nhà trên đảo Tsunojima[*] rồi!” Lão ngư dân la lớn. Sáu thanh niên cùng nhìn về phía hòn đảo đang dần hiện rõ.
Một hòn đảo nhỏ, khá bằng phẳng.
Nó gần như là một khối đá dựng đứng bất ngờ nhô lên từ biển, bên trên là cây cối um tùm phủ kín, trông cứ như những đồng 10 yên khổng lồ xếp chồng lên nhau. Có ba mỏm đất thấp nhô ra biển, nên người ta vẫn gọi Tsunojima là ‘Giác Đảo’[*].
Xung quanh đảo là vách đá dựng đứng, chỉ có duy nhất một vịnh hẹp có thể neo đậu các thuyền cá cỡ nhỏ. Nên chỉ thỉnh thoảng mới có vài tay mê câu cá hiếu kì viếng thăm nơi này. Hai mươi năm trước có người chuyển đến đây và xây trên đảo một tòa nhà có hình thù đặc biệt, đặt tên là ‘Lam Ốc’. Nhưng giờ, nó chỉ còn là một cô đảo vắng bóng con người.
“Trên đỉnh vách đá là gì vậy ạ?” Agatha đứng lên hỏi, giọng lanh lảnh. Cô phấn chấn nheo mắt nhìn, một tay giữ mái tóc dài lượn sóng đang tung bay theo gió.
“Đó là biệt quán còn sót lại, nghe nói tòa nhà chính đã bị thiêu rụi sạch sẽ.” Lão ngư dân sang sảng giải thích.
“Vậy đó chính là Thập Giác Quán hả bố?” Ellery hỏi lão. “Bố đã lên đảo bao giờ chưa?”
“Tôi đã vài lần vào vịnh tránh bão nhưng chưa bao giờ đặt chân lên đảo. Nhất là sau sự kiện đó thì càng không dám bén mảng lại gần. Các cô cậu cũng nên cẩn thận đấy!”
“Cẩn thận về điều gì ạ?” Agatha ngoảnh sang hỏi.
Lão hạ giọng, “Người ta đồn rằng nó vẫn xuất hiện trên đảo.”
Agatha và Ellery bối rối, đưa mắt nhìn nhau.
“Một hồn ma của người đàn ông bị sát hại tên là Nakamura gì đó.”
Khuôn mặt đen sạm đầy nếp nhăn của lão ngư dân cau lại đáng sợ rồi lão cười lớn. “Tôi cũng chỉ nghe đồn đại, rằng vào những ngày mưa sẽ nhìn thấy một bóng trắng ở vách đá vẫy tay gọi người, đó chính là hồn ma của Nakamura. Tôi còn nghe nói, ngôi biệt quán bỏ hoang trên đó có ánh đèn sáng, xung quanh tòa nhà chính đổ nát thường xuất hiện hồn ma, một con thuyền nhỏ cùng người ngư dân bị hồn ma nhấn chìm.”
“Không hiệu quả đâu bố ơi,” Ellery đáp. “Đừng cố dọa tụi con với mấy câu chuyện đó. Chỉ khiến mọi người phấn khích thêm thôi.”
Người duy nhất thoáng chút lo sợ là Orczy, cô vẫn đang ngồi trên chiếc hòm gỗ. Agatha thì thản nhiên như không, thậm chí còn vui vẻ kêu lên: “Hay quá! Quá hay!” Rồi cô bước xuống cuối thuyền, hỏi người con trai lão ngư đang giữ bánh lái, một ánh chàng non choẹt, “Này cậu, có thật thế không đấy?”
“Bịa đặt cả thôi!” Cậu ta thoáng nhìn Agatha rồi quay mặt đi, như thể bị lóa mắt bởi thứ gì chói sáng, cộc cằn nói, “Em có nghe họ đồn thế nhưng chưa tận mắt thấy bao giờ.”
“Chưa từng sao?” Agatha lộ vẻ thất vọng, nhưng rồi cô mỉm cười ranh mãnh. Cô nói, “Ma quỷ có thực sự xuất hiện ở đây thì cũng chẳng phải chuyện lạ kì gì. Dù sao, đây chính là nơi chuyện đó xảy ra mà.”
❆❆❆
Bấy giờ là 11 giờ trưa, thứ Tư ngày 26 tháng Ba năm 1986.
2
Cái vịnh hẹp nằm ở bờ phía Tây hòn đảo. Hai bên là vách đá dựng đứng. Vách bên phải trơ trọi nhìn đầy nguy hiểm, hướng ra vịnh, dễ chừng cao đến 20 mét, kéo dài đến tận bờ Nam. Bờ Đông nước chảy rất xiết, vách đá cao đến 50 mét. Mặt chính cũng là vách đá cao ngất ăn sâu vào đảo, với những bậc đá nhỏ ngoằn ngoèo uốn lượn dưới lùm cây xanh ngắt.
Chiếc thuyền từ từ cập vịnh.
Trong này, sóng không còn dữ dội như ngoài khơi nữa, nước biển cũng chuyển màu xanh thẫm.
Mé trái vịnh có một chiếc cầu cảng bằng gỗ nối đến căn chòi xập xệ.
Sáu người đã đứng trên cây cầu ọp ẹp kêu cót két.
“Các cô cậu không cần tôi đến thăm nom thật chứ? Trên đảo cũng không có điện thoại thì phải?” Lão ngư dân hỏi.
“Không sao đâu bố ạ!” Ellery vỗ vai Poe. “Tụi con có một bác sĩ tương lai đây rồi!”
Anh chàng Poe râu ria xồm xoàm hiện là sinh viên Y khoa năm tư, đang ngồi lên ba lô phì phèo thuốc lá.
“Ellery nói đúng đấy!” Agatha phụ họa. “Mấy khi có dịp đến hoang đảo, nếu bác cứ chạy lên xem xét thì mất hứng lắm!”
“Các cậu còn có cả một cô gái nhỏ can đảm nữa!” ngư dân tháo sợi thừng đang quàng vào cọc gỗ, cười khà khà. “Được! Vậy thì thứ Hai tuần sau, 10 giờ sáng, tôi sẽ quay lại đón mấy đứa. Nhớ cẩn thận nhé!”
“Cảm ơn bác! Chúng cháu sẽ cẩn thận, nhất là đối với mấy hồn ma.”
Mọi người bước theo các bậc đá dốc, đi lên tận đỉnh, tầm nhìn liền mở ra thoáng đãng. Phía sau trảng cỏ dại um tùm là một ngôi nhà đơn sơ tường trắng ngói xanh như đang chờ đợi các cô cậu sinh viên này viếng thăm.
Mấy bậc thềm đá dẫn đến hai cánh cửa màu xanh biển.
“Đây chính là Thập Giác Quán!”
Ellery lên tiếng đầu tiên, dù vẫn đang thở dốc sau khi bước lên thềm nhà. Cậu đặt chiếc túi xách màu da bò xuống đất, đứng ngửa mặt hổn hển.
“Agatha, cậu thấy thế nào?”
“Không ngờ lại đẹp thế này!” Agatha cầm khăn mùi xoa lau mồ hôi trán.
“Tôi… tôi cũng thấy thế…”
Leroux cũng mệt hết hơi vì phải xách hành lý của mình và của cả Agatha nữa.
“Tôi thực ra… những mong được thấy… điều gì đó âm u đáng sợ hơn cơ…”
“Nhưng sự đời đâu phải lúc nào cũng vừa ý ta. Vào nhà thôi! Van lẽ ra phải đến trước chúng ta rồi mới phải. Cậu ấy đang làm gì thế nhỉ?” Ellery lấy lại nhịp thở. Cậu vừa xách hành lý lên thì cửa sổ chớp bên trái bật mở, một thanh niên thò đầu ra.
“Các cậu đã đến rồi à?”
Và bảy người họ, sẽ sống ở đây, trong ngôi nhà này, trên hòn đảo hoang vu lạnh lẽo trong một tuần tới. Người thứ bảy, Van, khỏi phải bàn, là biệt hiệu mượn từ S.S. Van Dine, cha đẻ của nhân vật thám tử tài ba Philo Vance.
“Chờ chút! Tôi ra ngay đây,” Van nói, giọng khàn khàn. Cậu khép cửa lại, chạy ù ra sảnh trước. “Xin lỗi đã không ra đón các cận được. Tôi mới bị cảm từ hôm qua. Sốt nhẹ nữa nên đang nằm nghỉ một chút. Dù vậy, vẫn cố để ý tiếng thuyền máy nổ.”
Van đã lên đảo trước để chuẩn bị mọi thứ.
“Bị cảm à, không sao chứ?” Leroux lo lắng hỏi, chỉnh lại cặp kính bị trễ xuống vì mồ hôi nhễ nhại.
“Chắc là không sao… sắp khỏi rồi mà.” Van gượng cười, thân hình gầy gò thoáng rùng mình.
Van dẫn mọi người hồ hởi bước vào Thập Giác Quán.
Đi qua cánh cửa xanh, họ bước vào một tiền sảnh rộng rãi. Nhưng thực ra, đó chỉ là một không gian đánh lừa thị giác. Căn phòng không có thiết kế hình chữ nhật nên thoạt nhìn ngỡ là rộng lắm.
Ở bức tường trong cùng là một bộ cửa hai cánh nữa, trổ thông vào gian trong. Nếu nhìn kỹ sẽ thấy cửa này hẹp hơn của chính, nghĩa là tiền sảnh có hình thang mà càng vào sâu càng hẹp.
Ngoài Van, ai cũng cảm thấy khó hiểu trước thiết kế này. Mọi người đi qua cửa trong, bước vào đại sảnh chính giữa ngôi nhà, và nhanh chóng hiểu ra vấn đề: căn phòng có mười cạnh đều nhau.
Để có thể nắm được cấu trúc của Thập Giác Quán, tốt nhất là trong đầu nên hình dung một bản vẽ hình chiếu bằng đơn giản.
Đúng như tên gọi của nó, viền ngoài của ngôi nhà là hình thập giác đều. Sảnh chính là thập giác nhỏ hơn. Nối các đỉnh của hình thập giác ngoài và trong sẽ tạo ra mười căn phòng hình thang bao quanh sảnh chính. Cả bọn vừa đi qua một trong mười căn phòng đó để vào đại sảnh trung tâm.
“Thấy rất kì lạ, phải không?” Van đi đầu, ngoảnh lại nói với mọi người. “Đối diện với cửa chính là nhà bếp, liền bên trái là nhà vệ sinh và phòng tắm, bảy phòng còn lại đều là phòng dành cho khách.”
“Một tòa nhà thập giác và đại sảnh thập giác…” Ellery nhìn quanh một lượt, rồi bước tới chiếc bàn to màu trắng kê ở giữa, những ngón tay gõ nhịp trên góc bàn. “Bàn cũng là hình thập giác. Bất ngờ thật đấy. Liệu ông Nakamura Seiji quá cố có mắc chứng độc tưởng[*] không nhỉ?”
“Rất có thể như vậy,” Leroux đáp. “Nghe nói ngôi nhà chính tên là Lam Ốc, đã bị cháy rụi, toàn một màu xanh, từ sàn lên đến trần và các đồ dùng cũng vậy.”
Hai mươi năm trước, người cho xây Lam Ốc trên đảo rồi chuyển đến ở chính là Nakamura Seiji và đương nhiên là xây cả Thập Giác Quán này.
“Nhưng…” Agatha lẩm bẩm, “nhầm phòng thì sao nhỉ! Dễ nhầm lắm ấy!”
Cửa đại sảnh và bếp đối diện nhau, đều là cửa gỗ hai cánh màu trắng lắp kính hoa, đóng lại thì trông y hệt. Tám cửa ở tám mặt tường hai bên trái phải cũng là cửa gỗ màu trắng, khó mà phân biệt nổi. Không có gì đánh dấu. Thảo nào mà Agatha ngờ ngợ băn khoăn.
“Đúng thế, sáng nay tôi cũng mấy lần suýt vào nhầm phòng.” Van gượng cười, mắt cậu hơi vằn đỏ, chắc là vì đang sốt. “Chúng ta sẽ dán vài mảnh giấy ở cửa phòng cho đỡ nhầm. Orczy, có đem giấy, bút vẽ không?”
Đột nhiên bị gọi tên, Orczy ngớ ra, ngẩng đầu lên. Orczy có vóc dáng nhỏ bé, vì muốn che bớt thân hình đang có vẻ mập lên, cô thường mặc quần áo sẫm màu, trông rất đơn điệu. Cô gái hay rụt rè luôn ngoảnh mặt đi, hầu như trái ngược với Agatha hoạt bát. Nhưng cô có biệt tài vẽ tranh Nhật Bản rất điêu luyện.
“À, có đem. Tôi lấy ra luôn nhé!”
“Lát nữa cũng được. Mọi người cứ chọn phòng mình đi! Phòng nào cũng giống phòng nào, khỏi cần tranh nhau. Tôi đã chọn phòng kia rồi.” Van chỉ vào một phòng. “Chìa khóa cũng đã đầy đủ, đang cắm ở ổ khóa.”
“OK, hiểu rồi,” Ellery vui vẻ nói. “Chúng ta nghỉ ngơi đã, rồi sẽ đi thám hiểm đảo này.”
3
Mọi người nhanh chóng nhận phòng.
Tính từ cửa chính vào, bên trái đại sảnh lần lượt là Van, Orczy, Poe, bên phải là Ellery, Agatha, Carr và Leroux.(#)
Sáu người xách hành lý vào phòng. Van đứng tựa vào cánh cửa phòng mình, rút bao thuốc Seven Stars trong túi áo gi lê vàng nhạt ra và châm một điếu. Giờ cậu mới bắt đầu ngắm kĩ các đại sảnh thập giác hơi âm u, kì bí này.
Mặt tường được sơn trắng, sàn lát gạch men màu lam khổ lớn, đi vào khỏi cần cởi giày. Chính giữa phòng có một ô giếng trời hình thập giác, ánh mặt trời xuyên qua đó rọi vào các thanh xà đã tróc sơn rồi hắt xuống cái bàn thập giác trắng. Quanh bàn kê mười chiếc ghế sơn trắng phủ vải xanh. Trong đại sảnh không có bất cứ vật trang trí nào ngoài chiếc đèn tròn nhìn như quả lắc treo giữa xà nhà.
Trên đảo đã bị cắt điện, ánh mặt trời là nguồn sáng duy nhất. Nên dù là ban ngày, đại sảnh này vẫn nhuốm vẻ bí hiểm khó tả.
Một lát sau, Poe lững thững bước ra từ phòng mình, cậu mặc chiếc quần bò bạc màu và áo sơ mi xanh nhạt.
“Chà! Nhanh thế? Chờ đã, để tôi pha cà phê.”
Van đi vào bếp, tay cầm điếu thuốc đang hút dở. Cậu đang học năm ba ngành Khoa học tự nhiên, kém cậu sinh viên Y khoa năm tư là Poe đúng một tuổi.
“Xin lỗi Van, hành lý nhiều quá, khiến cậu phải vất vả.”
“Không sao đâu! Có nhân công bốc vác giúp tôi mà.”
Agatha đi ra, vừa đi vừa quấn khăn buộc gọn mái tóc.
“Phòng rất đẹp. Đẹp hơn tôi nghĩ. Van đang pha cà phê à? Để tôi làm cho.”
Agatha vui vẻ bước vào bếp, cô nhìn thấy trên giá một lọ thủy tinh dán nhãn đen. Cô nhấc lên lắc lắc, vẻ không hài lòng, “Cà phê hòa tan à?”
“Đừng kén cá chọn canh nữa.” Van chế nhạo. “Đây là hoang đảo chứ không phải khách sạn nghỉ dưỡng đâu.”
Agatha bĩu đôi môi tô son đỏ thắm, rồi hỏi, “Chúng ta sẽ ăn gì?”
“Chất trong tủ lạnh ấy. Vụ hỏa hoạn làm cháy cả đường điện và dây điện thoại, nên tủ lạnh không chạy. Chúng ta có khá nhiều thực phẩm, chắc sẽ đủ dùng.”
“Ừ nhỉ, thế này là đủ rồi. Có nước không?”
“Có! Có nước máy, vòi nước. Tôi còn đem đến cả bình ga, có thể nấu nướng và đun nước, tắm gội cũng được.”
“Tốt quá! Ừm… ở đây còn có cả xoong chảo, dao dĩa này. Hay đây cũng là cậu mang theo thế?”
“Không, có sẵn đấy. Cả ba con dao làm bếp nữa. Nhưng thớt thì mốc kinh khủng.”
Lúc này Orczy khép nép bước vào.
“Orczy đấy à? Lại giúp một tay đi! Vẫn có đủ các thứ nhưng cần rửa cho thật sạch sẽ thì mới dùng được.”
Agatha ngọ ngoạy nhún vai, cởi áo khoác da, tay chống nạnh. Cô quay lại phía Van và Poe, đang đứng phía sau Orczy, nhìn ngó vào bếp và cau có nói, “Không vào giúp thì làm ơn ra đi, thám hiểm đảo hay gì đó! Sẽ không có cà phê cho đến khi tụi này xong việc đâu.”
Van gượng cười rồi cùng Poe lặng lẽ rút lui, quay ra phía sảnh. Agatha lạnh lùng nói với theo, “Đừng quên làm biển tên đấy nhé! Chúng tôi không muốn bị ai đó xộc vào phòng khi đang thay quần áo đâu!”
Ellery và Leroux cũng đã bước ra đại sảnh.
“Bị nữ vương điện hạ đuổi ra à?” Ellery đưa tay chống cằm, trêu chọc.
“Tuân lệnh nàng, chúng ta ra ngoài kia lượn một vòng xem sao.”
“Ý hay đấy. Carr đâu nhỉ? Vẫn chưa ra à?”
“Anh ấy tự ra ngoài trước rồi.” Leroux nhìn về phía cửa chính.
“Đã đi rồi?”
“Thằng cha này thích trò làm màu quá nhỉ?” Ellery mỉm cười, châm biếm.
❆❆❆
Bên tay phải, tức phía Bắc Thập Giác Quán, là hàng thông xanh tốt. Có một khoảng trống giữa hàng thông với tán hắc tùng hai bên tạo thành cổng vòm, dẫn tới Lam Ốc mà giờ chỉ còn là đống đổ nát.
Ở đây vẫn còn sót nhiều vật liệu kiến trúc nham nhở, gạch vỡ ngói nát nằm rải rác, bẩn thỉu trông phát khiếp. Cả khu đất chất đầy rác bụi, phần lớn cây cối xung quanh đã mục ruỗng, chết khô sau trận hỏa hoạn.
“Tất cả đã bị thiêu rụi không còn gì hết. Hẳn phải là một trận hỏa hoạn khủng khiếp lắm.”
Ellery nhìn cảnh tượng đáng buồn trước mắt, thở dài.
“Đúng! Chẳng còn gì hết.”
“Van à, cậu cũng đến đây lần đầu thì phải?”
Van gật đầu, “Đã nhiều lần tôi nghe bác tôi kể về hòn đảo, nhưng giờ mới có dịp đến thăm. Sáng nay chuyển hành lý lên mệt đứt hơi, lại đang bị sốt nên không thể ra ngoài đi dạo.”
“Đúng là chỉ còn lại đám tro tàn và gạch nát.”
“Ellery, hẳn phải sót lại một thi hài thì anh mới vừa lòng.” Leroux cười nhăn nhở.
“Thôi đi! Có mà cậu ấy!”
Khu rừng thông phía Tây có một con đường mòn dẫn lên vách đá. Bên kia vùng biển rộng xanh ngắt, mũi J thấp thoáng ẩn hiện.
“Thời tiết thật dễ chịu, gió nhẹ, nắng đẹp.” Ellery vươn vai nhìn ra biển.
Leroux vóc người nhỏ bé, cũng đang nhìn ra biển, tay cuộn trong gấu áo thun vàng.
“Đúng vậy, Ellery. Thật không thể tin được cách đây nửa năm, nơi đây lại xảy ra một sự kiện thảm khốc đến vậy…?”
“Thảm khốc… đúng thế, vụ Lam Ốc trên Giác Đảo, bốn người mất mạng.”
“Tiểu thuyết dù viết bốn mạng hay bốn mươi mạng cũng không có gì là lạ, nhưng đây là một vụ án có thật, lại cách chúng ta không xa. Lúc đọc bản tin, tôi thật sự sốc đấy.”
“Vào sáng sớm ngày 20 tháng Chín thì phải? Ngôi nhà bị thiêu rụi. Người ta phát hiện ra bốn thi thể trong đống đổ nát, gồm ông Nakamura Seiji, bà vợ tên là Kazue, và hai vợ chồng người giúp việc.”
Ellery bình tĩnh nhớ lại.
“Người ta xét nghiệm thấy trong bốn xác chết đều có hàm lượng thuốc ngủ khá cao, nhưng nguyên nhân tử vong thì khác nhau. Vợ chồng người giúp việc chết trong phòng mình, bị trói bằng dây thừng, đầu bị rìu bổ vỡ toang, còn chủ nhân Nakamura Seiji thì bị tưới dầu hỏa thiêu cháy. Bà vợ Kazue bị thắt cổ cùng phòng. Kinh khủng hơn nữa là bà bị chặt mất cánh tay trái bằng một loại vũ khí sắc bén, về sau cũng không tìm thấy cánh tay ấy ở hiện trường nữa. Sự việc đại khái là thế, phải không Leroux?”
“Và còn người làm vườn nữa, không rõ tung tích ra sao.”
“À, đúng rồi. Nghe đồn ông ta mới lên đảo làm việc vài ngày trước đấy. Cảnh sát không tài nào tìm thấy, ông ta đã biến mất hoàn hoàn.”
“Đúng vậy.”
“Có hai giả thuyết. Một, người làm vườn chính là hung thủ. Hai, hung thủ là kẻ khác, người làm vườn chạy trốn, bị hung thủ truy sát, nên đã ngã khỏi vách đá và mất tích đến giờ…”
“Hình như cảnh sát nghiêng về giả thuyết người làm vườn chính là hung thủ, nhưng không rõ kết quả điều tra về sau ra sao. Ellery, anh nghĩ thế nào?”
Ellery gạt mái tóc bị gió biển thổi xõa xuống và nói, “Điều này… tiếc rằng, có quá ít manh mối. Tất cả những gì chúng ta biết chỉ là mấy thông tin trên báo chí vài ngày sau đó mà thôi.”
“Không ngờ anh lại dễ dàng lùi bước thế này.”
“Đâu phải là chuyện lùi bước? Đưa ra một giả thuyết hợp lý hay ho nào đó thì không khó. Nhưng vì dữ liệu quá ít nên không đủ để chứng minh và đưa ra bất cứ kết luận nào. Thực ra, cảnh sát cũng chỉ làm việc qua loa rồi gác lại. Điều quan trọng nhất là hiện trường chỉ còn có vậy, trên đảo không một ai sống sót, nên cảnh sát bèn kết luận người làm vườn chính là hung thủ.”
“Kể cũng có lý.”
“Vậy là sự thật vẫn bị chôn giấu giữa đống tro tàn đổ nát.”
Ellery quay người đi vào đống gạch ngói bề bộn và nhặt lên một mảnh ván. Cậu khom người nhìn xuống xung quanh.
“Sao thế?” Leroux bối rối hỏi.
“Nếu tìm thấy cánh tay của bà Kazue thì lý thú lắm đây!” Ellery nghiêm nghị nói. “Liệu ở bên dưới sàn Thập Giác Quán có thi thể của người làm vườn không nhỉ?”
“Cậu điên mất rồi!” Poe nãy giờ vẫn im lặng chợt lên tiếng, cậu vuốt bộ râu, khuôn mặt thoáng nét lo lắng. “Sở thích của cậu độc đáo quá đấy, Ellery!”
“Đúng thế!” Leroux phụ họa. “Như anh nói lúc trên thuyền: Nếu ngày mai có điều gì đó xảy ra trên hòn đảo này, nó sẽ đúng kiểu ‘căn nhà giữa bão tuyết’ mà Ellery yêu thích. Rồi phát triển thành vụ giết người hàng loạt như trong Mười người da đen nhỏ thì anh ấy sẽ khoái trá lắm đấy!”
“Và cậu ta nên là người đầu tiên bị giết.” Poe vốn ít nói, nhưng thỉnh thoảng lại phun ra mấy câu thật khó nghe.
Leroux và Van mỉm cười nhìn nhau.
“Giết người hàng loạt trên hoang đảo. Này, nghe hay đấy,” Ellery thản nhiên nói. “Đó chính xác là những điều tôi muốn! Đến lúc ấy tôi sẽ xung phong làm thám tử. Có ai muốn thách thức Ellery Queen không nào?”
4
“Những lúc như thế này, phụ nữ chúng ta toàn bị thiệt, bị sai bảo như người giúp việc.”
Agatha thoăn thoắt rửa xoong nồi bát đĩa, miệng không ngừng càu nhàu. Orczy đứng bên cạnh, chăm chú nhìn đôi tay búp măng trắng trẻo linh hoạt của Agatha cho đến lúc thình lình nhận ra là mình đang không làm gì cả.
“Hãy để cánh nam giới vào làm bếp. Họ không nên nghĩ có hai chúng ta ở đây rồi thì thoát nợ. Đúng không?”
“À, ừ… ừ.”
“Ellery đĩnh đạc mặc tạp dề, tay cầm cái muôi nhìn sẽ rất buồn cười và cũng thật đáng yêu nhỉ!”
Agatha cười khanh khách. Orczy liếc nhìn khuôn mặt thanh tú của người bạn, khẽ thở dài.
Khuôn mặt sáng với sống mũi cao, đôi mắt long lanh dưới mí mắt màu tím nhạt, mái tóc dài, xoăn sóng nước được chăm sóc rất cẩn thận.
Trông Agatha lúc nào cũng vui vẻ và đầy tự tin. Tuy hơi mạnh mẽ nhưng vẫn không đánh mất nét hấp dẫn đặc trưng của nữ giới. Agatha luôn thu hút được những ánh mắt tán thưởng của cánh mày râu.
So với Agatha thì mình…
Mũi nhỏ và tròn, hai má hồng hồng kiểu trẻ con, lấm tấm tàn hương. Đôi mắt to nhưng lại thiếu hài hòa, nhất là mỗi khi cô bối rối nhìn quanh. Orczy biết rõ, dù mình trang điểm như Agatha thì trông vẫn chẳng ra sao. Cô còn rất ngán cái tính nhút nhát vụng về của mình nữa.
Luôn luôn là như vậy. Trong nhóm chỉ mình cô và Agatha là con gái, nhưng lại không thể có điểm chung. Điều này thực sự khiến cô thấy nặng nề.
Lẽ ra mình chẳng nên đến đây. Cô bắt đầu nghĩ vậy.
Cô vốn không muốn đến hòn đảo này. Cảm giác như… bất kính. Nhưng lại không đủ can đảm từ chối lời mời của các bạn.
“Chiếc nhẫn đẹp quá!” Agatha reo lên, nhìn ngón giữa bàn tay trái Orczy. “Em vẫn thường đeo nó à?”
“Không.” Orczy khẽ lắc đầu.
“Từ một người đặc biệt phải không?”
“Không… đâu có.”
Orczy đã cân nhắc rất kĩ trước khi chuẩn bị tinh thần đến hòn đảo này. Chuyến đi không phải là một sự xúc phạm: cô đang thể hiện lòng thành kính. Tôi đến đây thể hiện lòng thành kính trước những người đã khuất. Nên cô khởi hành.
“Em vẫn cứ thế à Orczy!”
“… Hả?”
“Lúc nào em cũng khép kín, quen nhau hai năm rồi mà chị gần như chẳng biết gì về em. Không phải sai trái nhưng như vậy thật kì lạ đấy.”
“Kì lạ?”
“Ừ. Khi đọc truyện của em đăng trên tạp chí hội viên, chị thường nghĩ em viết tiểu thuyết thì đầy sức sống, ai dè…”
“Thì đó là thế giới tưởng tượng mà.”
Orczy quay mặt đi, tránh ánh mắt Agatha và nở nụ cười ngượng nghịu.
“Em không thích hợp với đời sống hiện thực, em ghét chính mình trong hiện thực.”
“Em nói gì thế?” Agatha mỉm cười, vuốt mái tóc ngắn, gọn gàng của Orczy. “Em phải tự tin lên mới được. Em rất đáng yêu nhưng chưa nhận ra đó thôi. Đừng nên cứ lúc nào cũng cúi gằm. Hãy ngẩng đầu, thẳng lưng, không sợ gì hết.”
“Agatha, chị thật tốt bụng.”
“Bây giờ chúng ta mau thu dọn, chuẩn bị nấu cơm trưa. Được không?”
❆❆❆
Ellery, Leroux và Van vẫn đứng ở bãi đổ nát, còn Poe một mình đi vào khu rừng đối diện.
“Này Ellery, và cả anh nữa, Van. Chúng ta chỉ có bảy ngày trên đảo, nên tôi thực sự mong các anh…” Đôi mắt Leroux sáng lên sau đôi mắt kính tròn gọng trắng trông rất hài hước, nhưng có lẽ cậu ta không cảm thấy thế. “… Tôi cũng không yêu cầu 100 trang, chỉ 50 trang là được.”
“Leroux, cậu đùa đấy à?”
“Tôi có nói đùa bao giờ đâu, Ellery.”
“Nhưng đề xuất đột ngột quá. Mà chúng ta đến đây đâu phải để viết chứ, đúng không Van?”
“Tôi tán thành với Ellery.”
“Nhưng tôi đã giải thích với các anh nhiều rồi: tôi định trung tuần tháng Tư này sẽ phát hành số tiếp theo của Đảo Người Chết. Một là, nhằm thu hút các anh em mới gia nhập, hai là để kỷ niệm 10 năm thành lập hội nghiên cứu tiểu thuyết trinh thám. Vì sắp trở thành tổng biên tập, tôi rất muốn mạnh tay một phen, chứ không thể để tạp chí của chúng ta úi xùi trước con mắt thiên hạ được.”
Leroux học năm thứ hai khoa Văn, tháng Tư năm nay cậu sẽ đảm nhiệm vị trí tổng biên tập tạp chí Đảo Người Chết của hội nghiên cứu tiểu thuyết trinh thám.
Ellery rút từ túi áo sơ mi màu đỏ rượu ra bao thuốc Salem[*] mới nguyên và bóc tem. Cậu là sinh viên năm thứ ba khoa Luật, tổng biên tập đương nhiệm của Đảo Người Chết.
“Leroux à, lúc này cậu phải nịnh Carr mới đúng. Chưa nói về chất lượng ra sao nhưng anh ta là nhà văn năng suất nhất câu lạc bộ. Xin lỗi Van, cho tôi xin tí lửa.”
“Ellery, anh và Carr hiếm khi đôi co với nhau cơ mà.”
“Không phải lỗi của tôi, Carr khơi mào đấy chứ.”
“Nhắc đến mới nhớ, có vẻ như tâm trạng của Carr đang không ổn,” Leroux nói.
Ellery tặc lưỡi, nhả khói thuốc.
“Có thể thông cảm được mà!”
“Tại sao?”
“Tiên sinh Carr đáng thương gần đây tiếp cận em Agatha nhưng bị nàng thẳng thừng cự tuyệt.”
“Nữ sĩ Agatha? Hà hà… anh ấy thực can đảm!”
“Không rõ có phải vì muốn xả giận không, anh ta nhằm vào Orczy, rồi lại bị cô ấy phớt lờ.”
“Orczy?” Van cau mày.
“Đúng! Cho nên tiên sinh của chúng ta mới ỉu xìu như thế.”
“Đương nhiên rồi, vì nay phải ở chung mái nhà với hai cô em cho mình ra rìa.”
“Chuyện đúng là thế đấy. Nên, Leroux yêu quý của tôi à, nếu cậu muốn thứ gì đó từ Carr thì phải khôn khéo mới được.”
Lúc này, họ thấy Agatha đang trên đường từ Thập Giác Quán đi tới. Cô đứng lại dưới tán hắc tùng và vẫy tay với mọi người.
“Nào, ăn cơm trưa! Poe và Carr đâu? Các anh không đi cùng nhau à?”
❆❆❆
Đằng sau Thập Giác Quán, trên con đường mòn đi vào rừng thông.
Carr vốn định men theo để xem vách đá phía Đông, nhưng càng vào sâu thì đường càng quanh co và bóp hẹp, chưa đầy 50 mét đã mất phương hướng. Rừng cây rậm rạp che hết ánh sáng mặt trời, thỉnh thoảng lại bị những cành trúc dài móc vào quần áo. Mặt đất cũng gập ghềnh khó đi, cậu suýt ngã mấy lần liền.
Cậu đã định quay về, nhưng lại không muốn làm vậy. Đây chỉ là hòn đảo nhỏ. Cậu chẳng thể để mình lạc đường.
Chiếc áo đen cao cổ mặc trong áo jacket ướt đẫm mồ hôi. Vừa lúc cậu cảm thấy không thể chịu đựng nổi nữa thì con đường mòn kết thúc, đẩy cậu ra khỏi khu rừng.
Cậu đang đứng trên đỉnh vách đá, ánh sáng rực rỡ phản chiếu từ mặt nước khiến cậu lóa mắt. Một anh chàng cao lớn đã đến trước và đang nhìn ra biển. Đó là Poe.
“Carr đấy à?”
Poe ngoái lại vì tiếng bước chân, nhận ra là Carr, cậu lại quay nhìn về phía biển.
“Chúng ta đang ở bờ Bắc của đảo. Chỗ kia hình như là Miêu Đảo[*].” Poe chỉ về phía hòn đảo nhỏ gần đó.
Hòn đảo bé tẹo cứ như đá ghềnh nhô lên, bên trên mọc đầy cây bụi lúp xúp thấp tịt. Đúng như tên gọi, Miêu Đảo chẳng khác gì một con thú đen sì đang ngồi thu lu trên mặt biển.
Carr nhìn Miêu Đảo, buồn bã gật đầu.
“Carr, sao cậu có vẻ chán chường thế?”
“Tôi thấy hối hận vì đã đến đây.” Carr cau có, giọng ngán ngẩm. “Năm ngoái ở đây xảy ra vụ án đó đâu có nghĩa là bây giờ có điều gì thú vị. Tôi những mong nơi đây kích thích trí tưởng tượng nên mới đến… nhưng giờ cứ nghĩ mỗi ngày trong cả một tuần tới luôn phải nhìn những khuôn mặt giống nhau… Cậu cũng nên chán dần đi.”
Carr cũng học năm thứ ba khoa Luật như Ellery. Vì trượt kì thi đại học năm đầu tiên, cậu và Poe vốn bằng tuổi nhau nhưng Poe thành ra học trước cậu một khóa.
Carr có vóc người tầm thước, nhưng vì cái cổ ngắn và lưng hơi gù nên trông có vẻ thấp lùn.
“Mà sao cậu lại đứng đây một mình vậy?”
“Tôi cứ lững thững đi, rồi bỗng đến đây.” Đôi mắt Poe vốn đã hơi nhỏ, nằm dưới cặp lông mày rậm thành ra càng nhỏ hơn. Cậu mở hộp thuốc lá bằng gỗ rất tinh xảo, châm một điếu đưa mời Carr.
“Cậu đem đến đây mấy bao thuốc, mà cứ mời người khác mãi thế? Chính cậu cũng là tay nghiện nặng kia mà?”
“Tôi học Y thật nhưng rất thích hút thuốc.”
“Vẫn là Lark à? Đây đâu phải là thuốc cho cánh sinh viên hút?”
Carr vừa cầm điếu thuốc vừa làu bàu, “Nhưng vẫn còn hơn thuốc lá bạc hà của công tử Ellery…”
“Carr, cậu chẳng nên buồn bực vì Ellery mãi thế làm gì. Các cậu cãi nhau cũng khiến bọn tôi khó chịu theo. Mà dù cậu có cố gây sự thì cậu ta cũng chỉ cười cợt chứ không thèm quan tâm đâu.”
Carr dùng bật lửa của mình đi châm thuốc, tức tối ngoảnh mặt sang bên. “Xem ai đang nói kìa.”
Poe rất bình thản, lặng lẽ đứng hút thuốc.
Lát sau, Carr vứt điếu thuốc mới hút một nửa xuống biển rồi ngồi phệt xuống tảng đá gần đó, lấy ra chai rượu whisky, giật nắp rồi ngửa cổ tu một ngụm to.
“Định say túy lúy giữa ban ngày à?”
“Việc gì đến cậu?”
“Tôi không tán thành đâu.” Poe nghiêm giọng. “Cậu nên uống một vừa hai phải thôi. Không chỉ lúc ban ngày đâu, vả chăng… Hừ! Cậu vẫn để bụng chuyện đó à?”
“Ừ. Cậu hiểu mà…”
“Không, tôi không hiểu. Chuyện trôi qua đã lâu sao cậu vẫn canh cánh trong lòng.”
Mặc kệ sự lặng thinh và cái nhìn quở trách của Poe, Carr lại tu rượu.
“Tôi không chỉ ghét Ellery, thực ra tôi cảm thấy không nên đến đảo hoang này cùng bọn con gái.”
“Đảo không người ở, nhưng đây đâu phải cuộc dã ngoại sinh tồn?”
“Hừ. Dù thế, tôi vốn ghét đứng gần loại con gái ngạo mạn như Agatha. Rồi lại còn Orczy nữa. Hai năm nay, bảy người chúng ta đã trở thành ‘một nhóm thân thiết’ nên tôi không tiện nói ra. Nhưng con bé Orczy lúc nào cũng u sầu ảm đạm, chẳng có điểm gì nổi bật lại còn rụt rè kinh khủng nữa chứ.”
“Cậu đang bới lông tìm vết đấy!”
“À, tôi quên mất, cậu và Orczy là bạn từ tấm bé.”
Poe ngao ngán vứt mẩu thuốc lá xuống đất, giẫm chân dập tắt. Rồi hình như nhớ ra điều gì, cậu nhìn đồng hồ.
“Một giờ rưỡi rồi, nếu chúng ta không về thì sẽ chẳng có gì mà ăn đâu.”
❆❆❆
“Trước khi ăn cơm, tôi muốn thông báo một việc!” Ellery đeo cặp kính trắng gọng vàng trang nhã, nói. “Tổng biên tập nhiệm kì sau có mấy lời cùng các anh chị em.”
Bữa trưa đã được dọn lên trên chiếc bàn thập giác, gồm trứng ốp lết, thịt ba chỉ xông khói, xa lát, bánh mỳ que và cà phê.
“Xin lỗi, phải làm phiền mọi người vào lúc này. Tôi xin tự giới thiệu mình với vai trò tổng biên tập mới…” Leroux hắng giọng. “Trong bữa tiệc đầu năm, ở hội chúng ta có bạn đề xướng nên khám phá Thập Giác Quán, lúc đó không ai nghĩ cuối cùng có thể làm được. May sao bác ruột của Van đã mua lại hòn đảo này và mời chúng ta đến đây ở ít hôm.”
“Không đến mức ấy đâu. Chỉ là nếu các bạn thực sự muốn đến, và tôi nói sẽ thử hỏi bác tôi xem sao thôi.”
“Anh khiêm tốn quá rồi. Dù sao thì, như mọi người đều biết đấy, bác của Van kinh doanh nhà đất ở quận S và là một doanh nhân thành đạt. Bác đang có một kế hoạch lớn là khai thác đảo Tsunojima thành một khu giải trí cho giới trẻ. Có phải thế không, Van?”
“Cũng không lớn lắm đâu.”
“Chuyến đi này của chúng ta mang tính thử nghiệm, có thể nói là một công đôi việc. Đầu tiên, xin cảm ơn anh Van đã đến sớm để tiền trạm cho mọi người.”
Leroux trịnh trọng cúi gập lưng.
“Tiếp theo là thông báo chính…”
“Chớ nói nhiều nữa, kẻo trứng gà, cà phê nguội mất thôi!” Agatha ngắt lời.
“Tôi xong ngay đây. Nhưng đúng là không nên để thức ăn bị nguội lạnh, chúng ta sẽ vừa ăn vừa nghe vậy. Hôm nay, các bậc tài danh ngồi đây đều kế thừa biệt hiệu của các đàn anh đã tốt nghiệp, và cũng là những ngôi sao sáng tác của hội nghiên cứu…”
Từ ngày thành lập hội đến nay, thành viên hội nghiên cứu trinh thám đại học K thường gọi nhau bằng biệt hiệu. Độ mười năm trước các sáng lập viên nảy ra một sáng kiến hơi trẻ con, do quá đam mê truyện trinh thám nên đã dùng tên các tác giả danh tiếng Âu-Mỹ làm biệt hiệu cho các hội viên. Về sau số hội viên tăng lên thì không đủ biệt hiệu để dùng nữa, cho nên chấp nhận giải pháp lớp hội viên trẻ ‘kế thừa’ biệt hiệu của các đàn anh đã tốt nghiệp.
Cách chọn người kế thừa căn cứ vào sự cống hiến của các hội viên dành cho tạp chí. Cho nên những người hiện đang được dùng biệt hiệu đều là các hạt nhân của hội, cũng luôn có nhiều cơ hội gặp mặt nhau.
“Hôm nay các anh chị em tài hoa tập hợp trên hoang đảo, sẽ tập trung tinh thần để không phí phạm một tuần lễ này.” Leroux tươi cười nhìn mọi người. “Tôi đã chuẩn bị sẵn giấy viết, mong các anh chị em sẽ viết một tác phẩm dành đăng trên tập san số ra tháng Tư của chúng ta.”
“A!” Agatha reo lên. “Thảo nào hành lý của Leroux căng phồng, thì ra là cậu đã có ý đồ này.”
“Đúng là ý đồ này! Xin trông cậy ở chị Agatha, và cả cậu nữa, Orczy!”
Leroux khẽ cúi đầu, tay xoa khuôn mặt tròn tròn của mình, cười khoái trá. Nhìn cậu ta thật giống một con búp bê Fukusuke[*] mang cặp kính. Mọi người cũng vui vẻ cười theo.
“Nội dung các câu chuyện có thể đều liên quan đến ‘vụ án giết người hàng loạt trên cô đảo’, nếu thế thì sao, Leroux?” Poe băn khoăn hỏi.
Leroux ưỡn ngực lên, “Đến lúc đó chúng ta sẽ dùng nó làm chủ đề cho chuyên san, hoặc ta cứ quyết định ngay bây giờ cũng được, tôi quá mong như thế. Nói cho cùng, tên tạp chí Đảo Người Chết[*] của chúng ta vốn lấy từ tên tác phẩm của nữ văn sĩ Agatha Christie mà.”
Ellery chống cằm nhìn Leroux, thì thầm với Van ngồi bên cạnh, “Chà chà, không dễ đối phó với tổng biên tập nhiệm kì tới đâu!”
5
Ngày đầu tiên trôi qua trong bình yên.
Mới chỉ có Leroux đưa ra yêu cầu về viết bài. Mọi người vốn không có dự định hay hoạt động gì cả cho nên ai cũng nhẩn nha tự do thoải mái.
Lúc sẩm tối.
“Ellery, cậu chơi bài một mình à?” Agatha bước ra khỏi phòng riêng, cô mặc áo choàng trắng, quần da màu đen, đơn giản, nhưng trông vẫn nổi bật nhờ chiếc khăn cột tóc màu vàng óng.
“Tôi mới nghiên cứu thôi. Nhưng chưa đến mức đam mê đâu.” Ellery mỉm cười, lách tách bật bộ bài trong tay.
“Nghiên cứu gì cơ? Định làm nhà tiên tri đấy à?”
“Làm gì có! Tôi không có sở thích ấy.” Ellery thoăn thoắt tráo bài trên chiếc bàn thập giác, “Tất nhiên là mấy trò ảo thuật bài rồi.”
“Ảo thuật bài?” Agatha ngạc nhiên mở to đôi mắt chừng một giây, rồi gật đầu vẻ hiểu biết, “Vậy đó là điều cậu đang nghiên cứu sao?”
“Gì cơ?”
“Lừa đảo người khác ấy.”
“Lừa đảo? Từ này hơi quá đáng đấy!”
“Thế à?” Agatha cười vui vẻ. “Cậu thử làm ảo thuật cho tôi xem đi, tôi rất ít khi được xem.”
“Hiếm ai mê trinh thám mà lại không hứng thú với ảo thuật.”
“Không phải tôi không hứng thú, mà tôi ít có dịp được xem. Nào, cậu thử biểu diễn đi.”
“OK. Lại đây và ngồi xuống!”
Đại sảnh Thập Giác Quán hơi âm u giữa ánh hoàng hôn. Agatha ngồi phía đối diện. Ellery thu bài lại, xếp trên bàn và rút từ túi áo ra một bộ bài nữa.
“Bây giờ có hai bộ bài, mặt lưng khác màu: đỏ và xanh. Mỗi người dùng một bộ. Cậu chọn đi.”
“Màu xanh.” Agatha trả lời ngay lập tức.
“Được! Cậu cầm lấy.”
Ellery ngồi bên kia bàn, chuyển bộ bài cho cô.
“Cậu kiểm tra đi, xác định rằng nó không có gì khác lạ. Rồi tráo bài. Tôi cũng tráo bộ bài này.”
“Được rồi. Bộ bài bình thường. Mỹ sản xuất thì phải?”
“Bộ bài ‘xe đạp’, mặt lưng có in hình thiên sứ đi xe đạp, là bài tú lơ khơ thông dụng nhất ở Mỹ.”
Ellery tráo bài xong, cẩn thận đặt lên bàn.
“Bây giờ chúng ta đổi cho nhau. Cậu đưa tôi bộ xanh, tôi đưa cậu bộ đỏ. OK. Giờ cậu rút ra một quân bất kì mà cậu thích, và nhớ kỹ quân đó nhé.”
“Một quân bất kì à?”
“Đúng vậy! Cậu nhớ chưa? Được! Bây giờ đặt nó ở trên cùng. Đúng rồi. Sau đó tráo bài như tôi làm đây… chia làm đôi rồi đổi vị trí trên dưới. Đúng, đúng! Cậu làm hai hoặc ba lần như vậy.”
“Thế này đúng không?”
“Hoàn hảo. Bây giờ chúng ta đổi bài lần nữa.”
Agatha lại cầm bộ bài xanh.
“Ổn rồi chứ?” Ellery nhìn thẳng vào mắt Agatha. “Vừa nãy chúng ta đã tráo bài lung tung rồi rút ra một quân, và đã nhớ rõ. Sau đó đổi bài cho nhau, rồi tráo lần nữa.”
“Đúng vậy.”
“Bây giờ, từ trong đống quân bài này, phiền Agatha tìm lại quân bài lúc nãy cậu chọn, rồi úp nó xuống bàn. Tôi cũng tìm quân bài của tôi.”
Rất nhanh, họ đã tìm ra hai quân bài đó úp xuống bàn. Ellery thở một hơi dài, rồi bảo Agatha lật hai quân bài lên. “Ôi, thật là… làm sao cậu có thể…”
Agatha kinh ngạc kêu lên, vì hai quân bài giống y hệt.
“Đều là 4 cơ.” Ellery cười đắc ý “Trò lừa ngoạn mục. Đúng không?”
❆❆❆
Mặt trời đã lặn hẳn. Một ngọn đèn dầu khá cổ thắp lên và đặt giữa bàn thập giác ở đại sảnh. Van đã đem nó theo vì biết Thập Giác Quán không có điện. Các phòng khác đều thắp nến cỡ đại.
Ăn xong bữa tối thì đã quá 7 giờ.
“Ellery, sao cậu không cho tôi biết bí mật của trò ảo thuật?” Agatha lay vai Ellery hỏi sau khi bưng cà phê ra cho mọi người.
“Dù có hỏi nữa cũng không ăn thua đâu, giới ảo thuật tối kị tiết lộ bí mật nhà nghề. Điều này khác với tiểu thuyết trinh thám. Dù ảo thuật hay dở ra sao, khi đã biết bí quyết đằng sau thì sẽ chán chết!”
“Tiền bối Agatha đã thử làm khán giả của Ellery hay sao?”
“Leroux, cậu cũng biết Ellery làm ảo thuật à?”
“Đâu chỉ là biết? Tôi chính là vật thí nghiệm của anh ấy trong cả tháng qua. Anh ấy còn dặn tôi đừng tiết lộ cho ai biết trước khi thuần thục hơn. Đôi khi anh ấy vẫn thật trẻ con.”
“Ơ kìa, Leroux.”
“Anh đã biểu diễn trò gì rồi?”
“Một hai trò đơn giản thôi.”
“Hả? Thế mà đơn giản?” Agatha giận dữ nói. “Vậy hãy cho tôi biết bí quyết đi?”
“Không vì đơn giản mà có thể tiết lộ. Trò vừa nãy cậu xem, ngay trẻ con cũng biết, nhưng vấn đề không phải ở chỗ thủ pháp mà là quá trình biểu diễn cộng với phép che mắt nữa!”
“Biểu diễn?”
“Đúng, ví dụ…”
Ellery cầm cốc cà phê đen lên, nhấp một ngụm.
“Trong phim Magic, có một tình tiết nhà ảo thuật do Anthony Hopkins thủ vai biểu diễn cho người yêu cũ xem na ná như vừa nãy tôi làm. Đó không phải trò ảo thuật nữa mà là thủ pháp tâm lý. Nhà ảo thuật giải thích với cô ấy rằng: nếu hai người có tâm hồn đồng điệu thì quân bài sẽ giống nhau. Nhân đó tỏ tình với đối phương.”
“Thế thì, Ellery, cậu không định tỏ tình với tôi đấy chứ?”
“Đâu có!” Ellery cố ý nhún vai, cười hì hì. “Rất tiếc, hiện giờ tôi chưa có can đảm cầu hôn với nữ vương điện hạ!”
“Cậu chọn từ ngữ thật khôn ngoan tinh tế.”
“Quá khen rồi! À…” Ellery cầm cốc cà phê lên và chăm chú nhìn. “Tôi nghĩ đến một chuyện khác. Về ông Nakamura Seiji mà chúng ta nói chiều nay, thật là một hồn ma có sức ám ảnh, nhìn chiếc cốc này mà tôi rùng mình.”
Đó là một chiếc cốc lạ lùng màu xanh rêu, nằm trong bộ đồ ăn còn sót lại dưới bếp. Nó cũng hình thập giác như chính kiến trúc ở tòa nhà này.
“Có lẽ ông ta đặt riêng. Cũng như cái gạt tàn hoặc khay đĩa vừa đựng thức ăn, tất cả đều hình thập giác, Poe, anh nghĩ sao?”
“Rất khó nói.” Poe rít một hơi rồi đặt điếu thuốc lá lên cái gạt tàn hình thập giác. “Quả là hết sức khác thường nhưng có thể hiểu đây là một thứ nhã hứng của người giàu.”
“Nhã hứng của người giàu?”
Ellery cầm chặt chiếc cốc bằng cả hai tay và ngắm tỉ mỉ. Tuy là hình thập giác nhưng ở kích thước này, miệng nó gần như hình tròn.
“Dù sao thì Thập Giác Quán vẫn xứng đáng để chúng ta lặn lội đến tham quan. Tôi rất mong được cạn ly cùng những người đã khuất.”
“Ellery, Thập Giác Quán đáng để đến chơi nhưng đảo này thì chẳng có gì đáng nói, chỉ có rừng thông buồn tẻ mà thôi.”
“Chưa chắc đâu!” Poe đáp lời Agatha. “Vách đá phía Tây phế tích trông rất được, có bậc đá đi xuống bờ biển, ra đó ngồi câu cá thì tuyệt!”
“Nhắc mới nhớ, Poe, anh có đem thêm vài cái cần câu chứ? Nếu may mắn, ngày mai chúng ta sẽ có cá tươi ăn!” Leroux liếm môi.
“Cậu chớ nên hy vọng nhiều.” Poe chậm rãi vuốt râu. “À, phía sau Thập Giác Quán có mấy cây anh đào chi chít nụ hoa, vài hôm nữa hoa sẽ nở rộ cũng nên.”
“Thế thì hay quá! Chúng ta sẽ đi ngắm hoa.”
“Nghe hay đấy!”
“Anh đào anh đào, sao ở Nhật mùa xuân cứ gắn liền với anh đào nhỉ? Tôi thì cho rằng ngắm hoa đào và hoa mai vẫn mãn nhãn hơn.”
“Sở thích của Ellery khác đời đấy!”
“Thế à? Giới quý tộc Nhật Bản thời xưa thường thích hoa mai hơn, Leroux ạ!”
“Thật không?”
“Thật mà! Phải thế không, Orczy?”
Bất chợt bị gọi tên, Orczy hơi giật mình, đỏ mặt, gật đầu.
“Orczy, cậu có thể giải thích cho mọi người biết không?”
“Ừ… được! Trong Vạn diệp tập[*], nhiều nhất là thơ vịnh bông lau và hoa mai, hơn trăm bài mỗi chủ đề, nhưng chỉ có bốn mươi bài vịnh hoa anh đào.”
Orczy và Leroux đều là sinh viên năm thứ hai khoa Văn chuyên ngành văn học Anh, nhưng cũng rất thạo văn học Nhật Bản.
“Chà, thế mà tôi chẳng biết gì cả.” Agatha tỏ ra khâm phục. Cô học năm thứ ba khoa Dược nên không hiểu gì về đề tài này. “Em nói nữa đi, Orczy?”
“À… được thôi,” Orczy miễn cưỡng đáp. “Tập thơ ấy ra đời vào thời kì hưng thịnh của văn hóa đại lục và chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Thơ viết về anh đào, phải đến thời của Cổ kim hòa ca tập[*] mới tăng dần… Nhưng phần nhiều lại miêu tả hình ảnh anh đào rơi.”
“Cổ kim hòa ca tập, chắc là thời kì Heian[*] phải không?” Ellery hỏi.
“Là thời Thiên hoàng Daigo, đầu thế kỷ thứ 10…”
“Chẳng rõ có liên quan gì đến bối cảnh xã hội bi quan lúc đó không, mà toàn là thơ tiếc than cánh hoa rơi.”
“Thời Thiên hoàng Daigo, đột nhiên xảy ra dịch bệnh vào mùa anh đào rơi, nên anh đào bị quy kết là đem lại dịch bệnh. Thành thử mỗi năm, vào đúng khoảng thời gian ấy, lễ hội Hanashizume[*] lại được tổ chức để xua đuổi bệnh tật. Có một sự liên quan ở đây…”
“Thì ra là thế.”
“Van, sao cậu im lặng thế?” Poe liếc nhìn Van, đang ngồi cạnh mình, đầu cúi xuống. “Cậu mệt à?”
“Ừ… nhức đầu.”
“Trông cậu hơi nhợt nhạt. Đang sốt à?”
Van xoay vai và hít thở sâu.
“Xin lỗi, tôi muốn vào nghỉ một chút.”
“Ừ, nên đi ngủ đi!”
“Được rồi, vậy…”
Van chống hai tay lên bàn, từ từ đứng dậy.
“Mặc tôi, mọi người cứ nói chuyện đi, ồn ào một chút cũng không sao đâu.” Van chúc mọi người ngủ ngon rồi trở vào phòng mình, đóng cửa lại. Đại sảnh vốn thiếu ánh sáng bỗng rơi vào im lặng, chợt nghe thấy tiếng kim loại kêu lách cách.
“Đáng ghét.” Carr từ nãy chỉ im lặng ngồi rung đùi, bỗng nguýt dài và buông ra một câu. “Cố ý khóa cửa trước mặt mọi người, bản thân đâu phải dạng thiếu nữ sợ sệt chứ!”
“Bầu trời đêm nay đẹp quá!” Poe giả như không nghe Carr nói, ngẩng nhìn giếng trời hình thập giác trên nóc đại sảnh.
“Hôm kia là ngày rằm thì phải?” Leroux nói. Đúng lúc đó có một luồng sáng lướt qua giếng trời. Là ánh sáng từ ngọn hải đăng trên mũi J quét tới.
“Mọi người nhìn kìa, có quầng sáng quanh mặt trăng, xem chừng ngày mai sẽ mưa.”
“Chỉ là mê tín thôi, Agatha!”
“Ellery hơi bất lịch sự đấy! Không hẳn là mê tín đâu. Đó là do bầu trời nhiều hơi nước…”
“Theo dự báo thời tiết trời sẽ nắng đẹp cả tuần mà.”
“Nhưng, nói là có thể mưa, vẫn khoa học hơn mấy câu chuyện thỏ trên cung trăng.”
“Thỏ trên cung trăng…” Ellery gượng cười. “Trên quần đảo Miyako có gã đàn ông đang gánh đôi thùng, biết câu chuyện đó không?”
“À, tôi đã từng nghe câu chuyện này,” Leroux nói, khuôn mặt sáng lên. “Anh ta vâng lệnh Ngọc Hoàng, gánh thuốc bất tử và thuốc độc xuống nhân gian, đúng chưa? Nhưng anh ta đưa nhầm thuốc bất tử cho rắn uống, đưa thuốc độc cho loài người nên bị trừng phạt, phải tiếp tục gánh đôi thùng đến tận ngày nay.”
“Đúng, đúng!”
“Bộ tộc Hottentot ở miền Nam châu Phi cũng có một truyền thuyết tương tự,” Poe nói. “Nhân vật chính không phải người mà là thỏ. Thỏ đã truyền đạt sai mệnh lệnh của Thần Mặt trăng, ông ta tức giận ném thỏ xuống đất, cho nên môi thỏ bị chẻ ba.”
“Truyền thuyết của các dân tộc luôn có nét giống nhau nhỉ.” Ellery ngồi tựa vào lưng ghế phủ vải xanh, khoanh tay lại. “Hình như cả thế giới đều nói có thỏ sống trên mặt trăng. Trung Quốc, Trung Á, Ấn Độ…”
“Ấn Độ cũng có à?”
“Mặt trăng, trong tiếng Phạn là ‘sasin’, tức ‘có một con thỏ’.”
“Thế à?”
Poe vớ lấy hộp thuốc lá trên bàn, ngẩng nhìn lên trời. Bầu trời đêm hình thập giác thấp thoáng bóng trăng mờ.
Giác Đảo, Thập Giác Quán.
Ánh đèn yếu ớt hắt bóng những người trẻ tuổi lên bức tường màu trắng.
Đêm đã về khuya.
[*] - Tên gọi thời kì hoàng kim của trinh thám cổ điển, kéo dài hai mươi năm khoảng từ 1925 đến 1945.
[*] - ‘Tsunojima’ nghĩa là ‘đảo sừng’.
[*] - ‘Giác đảo’ cũng có nghĩa là ‘đảo sừng’.
[*] - Còn gọi là chứng điên rồ đơn sắc thái, hội chứng rối loạn tâm thần mà người bệnh bị ám ảnh bởi duy nhất một lối suy nghĩ, ý kiến, hành động.
[*] - Một nhãn hiệu thuốc lá đầu lọc của Mỹ, đặc trưng là có hương bạc hà.
[*] - Đảo mèo.
[*] - Một loại búp bê truyền thống xuất phát từ Trung Quốc, được coi như một biểu tượng may mắn ở Nhật Bản. Fukusuke có khuôn mặt tròn phúng phính và luôn mỉm cười.
[*] - Tức Mười người da đen nhỏ của Agatha Christie, khi xuất bản lần đầu ở Nhật năm 1939, tác phẩm này mang nhan đề Shininjima (tạm dịch: Dead Island hay Đảo Người Chết).
[*] - Tức Manyoshu, tuyển tập thi ca vĩ đại Nhật Bản, được tuyển chọn và nhuận sắc bởi nhiều người, gồm 4596 bài thơ được sáng tác từ khoảng thế kỷ thứ 3 đến cuối thế kỷ thứ 8.
[*] - Tức Kokinwakashu hay Kokinshu hay Kokin, tuyển tập chừng 1100 bài thơ Nhật Bản, ra mắt vào khoảng năm Engi thứ 5 (năm 905) hoặc thứ 14 (năm 914).
[*] - Tên một thời kì trong lịch sử Nhật Bản, kéo dài từ năm 794 đến năm 1185.
[*] - Lễ hội truyền thống của Nhật Bản, được tổ chức vào thời điểm hoa anh đào rụng (tháng Ba âm lịch hàng năm) nhằm xua đuổi bệnh tật.