Thị Xã Vùng Biên

Thị Xã Vùng Biên

Lượt đọc: 2628 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN THỨ NHẤT
Chương 1

Trong bản lý lịch cán bộ của tôi hiện cơ quan tổ chức đang giữ có ghi rõ:

Họ và tên khai sinh: Trương Hồng Đạt.

Họ và tên thường dùng: Trương Đạt.

Ngày sinh: 7-10-1927.

Sinh quán: tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

Trú quán: thị xã Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Thành phần xuất thân: bần nông.

Thành phần bản thân: cán bộ cách mạng.

Ngày vào Đảng: 15-3-1953.

Ngày chính thức: 25-10-1953

Tôn giáo: không.

Dân tộc: Hoa.

Chức vụ hiện nay: Phó trưởng ty Lâm nghiệp.

…………..

…………..

Trong phần tự kể chuyện, về bản thân, tôi viết tóm tắt như sau:

“Tôi sinh ra trong một gia đình bần nông thuộc tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc). Cha mẹ tôi rất nghèo, lại đông con, tôi là con thứ sáu và dưới tôi còn ba em nữa nên nhà chẳng bao giờ đủ ăn. Năm tôi lên 10 tuổi, cha mẹ bán tôi cho một gia đình bác họ tên là Trương Sinh Hoàng có cửa hàng bán thuốc bắc ở ngoài tỉnh. Tôi sống trong gia đình bác tôi, tuy phải làm ăn vất vả nhưng cũng được đi học hết bậc tiểu học. Năm 1940, chiến sự nổ ra ác liệt ở nhiều nơi trên đất Trung Quốc, mùa màng mất, giặc giã nổi lên, việc buôn bán rất khó khăn, gia đình bác tôi đã cùng nhiều người Trung Quốc khác chạy loạn sang Việt Nam tìm nơi sinh sống. Được bà con Hoa kiều giúp đỡ, bác tôi mở cửa hàng thuốc bắc ở phố Phúc Kiến (nay là phố Hàng Gà), Hà Nội. Ở đây, tôi được giao làm những công việc vặt trong nhà như: đóng, mở cửa hàng, quét dọn nhà cửa và thỉnh thoảng đem thuốc đến cho các khách quen… Đến năm 1943, sau ba năm sống ở Hà Nội, gia đình bác tôi lại di chuyển vào Nam, đến định cư tại thị xã Quy Nhơn vì ở đó cũng có nhiều Hoa kiều cùng quê Phúc Kiến. Những người này rất nhiệt tình giúp đồng hương từ đồng vốn ban đầu. Nhờ đó, gia đình bác tôi lại có thể tiếp tục mở cửa hàng thuốc bắc, bác tôi còn đi thăm bệnh, bắt mạch kê đơn bốc thuốc. Năm ấy tôi đã 17 tuổi, bắt đầu bước vào tuổi thanh niên. Nhưng tôi đã sớm nhận thức được cảnh ngộ của mình nên rất chí thú vừa làm vừa cố gắng học lên bậc trung học, đòng thời còn học thêm tiếng Pháp và tiếng Anh. Thời gian này, bác tôi cũng đã tin cậy tôi, giao cho tôi việc giao dịch tiếp xúc với khách hàng và trông nom sổ sách. Trong số thanh niên ở thị xã, tôi được tiếng là người đứng đắn, không chơi bời lại chịu khó làm ăn và học hành. Vì vậy ngay sau khi cách mạng thành công, tôi được bà con Hoa kiều tín nhiệm bầu làm đại diện trong Mặt trận Liên Việt tỉnh. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tôi thoát ly gia đình và theo bộ đội rút khỏi thị xã. Tôi tham gia trong ban Hoa vận của tỉnh, sau đó chuyển về làm công tác binh vận (vì tôi biết tiếng Pháp và tiếng Anh) thuộc ban cán sự tỉnh. Cuối năm 1953, tôi được tập kết ra Bắc, được phân công công tác về tỉnh Hồng Quảng, làm việc bên Ty Nông Lâm tỉnh. Năm 1957, tôi lập gia đình với cô giáo Nguyễn Kim Liên dạy học ở Quảng Yên. Sau đó, tôi được đi học trường Bổ túc Công nông, ôn lại chương trình lớp 10 và thi vào trường đại học Nông Lâm. Tốt nghiệp xong, tôi lại được điều về tỉnh Quảng Ninh làm trưởng phòng lâm nghiệp huyện Tiên Yên. Đầu năm 1966, tôi chuyển công tác về tỉnh Cao Bằng, làm Phó trưởng ty Lâm nghiệp tỉnh cho đến ngày nay…

Hiện nay, gia đình tôi ở số nhà… phố… thị xã Cao Bằng. Vợ tôi dạy học tại trường cấp II thị xã. Chúng tôi có một con gái sinh năm 1957 tên là Trương Tú Hoa, hiện đang học lớp ba…

………………….

☆ ☆ ☆

Bản lý lịch này tôi mới viết lại vào năm 1966, khi tôi nhận được quyết định chuyển công tác về tỉnh Cao Bằng. Tôi viết với sự góp ý của anh. Tôi đã gặp lại anh sau một thời gian khá dài từ ngày mới tập kết ra Bắc. Tôi nhớ hồi đó, sau khi từ Hồng Quảng về, tôi được đi học ở trường Bổ túc Công nông, ôn lại chương trình lớp 10 để chuẩn bị thi vào trường đại học Nông Lâm.

Hôm đó vào buổi chiều thứ bảy, tôi dắt xe đạp ra cổng trường định về Hà Nội chơi, nhân thể đến thăm vài gia đình bè bạn. Tôi ra đến phòng thường trực đã thấy có người đứng đợi ở đó. Nhận ra anh, tôi mừng đến ứa nước mắt vì đã năm năm rồi không gặp anh, tôi toàn sống cô độc, chỉ có anh tôi mới có thể bộc lộ hết những tâm trạng thật của mình. Hồi ở Khu 5, tổ chức đã quyết định tôi và anh cùng ở lại miền Nam để hoạt động. Nhưng sau đó lại có quyết định khác và cả hai chúng tôi đều được đi tập kết. Tôi ra chuyến trước còn anh mãi chuyến tàu cuối cùng mới ra theo. Hồi đó anh có đến thăm tôi tại Sầm Sơn, hai chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau trên bãi biển.. Rồi anh từ biệt tôi, anh phải về thẳng Hà Nội. Ít ngày sau tôi cũng rời khỏi khu nghỉ đó và được nhận công tác ở Hồng Quảng, làm một anh cán bộ lâm nghiệp như trong lý lịch đã ghi rõ… Hơn năm năm rồi, chúng tôi mới lại gặp nhau. Chừng anh cũng cảm động khi trông thấy tôi, anh phải bỏ cặp kính cận ra, lấy khăn lau thật kỹ rồi mới đeo lên mắt. Anh nắm lấy tay tôi, giọng trìu mến thân thiết:

– Mình xin lỗi vì đến tận hôm nay mới tìm đến cậu…

– Anh làm tôi mong anh gần chết… Sau ngày ở Sầm Sơn, tôi chỉ nhận được mỗi lá thư của anh rồi bặt tin luôn. Tôi nghĩ anh quên tôi rồi…

Anh bảo tôi cất xe đạp rồi cùng đi với anh, hai chúng tôi lững thững trên bờ đê sông Hồng. Tôi hồi hộp đợi anh nói bởi tôi đã chờ đợi lâu quá rồi còn gì.

– Mình đã định đến gặp cậu mấy lần nhưng bận quá, hết việc này đến việc khác. Hòa bình rồi, công việc của bọn mình rất bề bộn, có bao nhiêu điều phải giải quyết… Rồi mình lại được đi học trường Đảng hai năm, vừa học xong… Tuy mình không gặp cậu nhưng từ ngày ấy đến nay, cậu ở đâu và làm gì, mình đều biết cả…

– Anh vẫn theo dõi bước đi của tôi?

– Sao lại không? Cậu hỏi gì mà lạ thế? Vừa là trách nhiệm vừa là tình nghĩa, cậu hiểu chứ? Mình cũng đã góp ý với tổ chức về việc bố trí công tác của cậu sao cho hợp lý.

– Suốt từ ngày ra đây, tôi toàn nằm rừng thôi. Mấy năm trước, tôi cứ quẩn quanh ở mạn Hoành Bồ, rồi Tiên Yên, Đầm Hà. Mà tôi có thạo gì về nghề rừng đâu, các ông ấy lại định cho tôi thi vào trường Nông Lâm?

Anh cười rất thoải mái:

– Cậu đừng lo, cứ yên tâm về sự sắp đặt của tổ chức. Cậu đã qua một thời gian công tác lâm nghiệp, chắc cậu biết về nghề trồng rừng, nhất là việc trồng cây lấy gỗ. Không phải chỉ trồng một hai năm mà thành gỗ, các loại gỗ quý như lim, táu, gụ, sến chẳng hạn thì phải đợi hàng chục, hàng vài chục năm ấy chứ… Cậu chính là loại gỗ hiếm ấy đấy, chúng mình không thể sắp xếp cậu vào những việc vớ vẩn được…

Anh im lặng như để cho tôi đủ thời gian hiểu thấu ý tứ câu nói của anh. Đột nhiên anh hỏi:

– Này, hồi vừa rồi, cậu tiếp xúc với bà con người Hoa ở Hải Ninh, cậu có nói được tiếng Quảng Đông không?

– Cũng lõm bõm thôi anh ạ… Tôi nói với họ bằng tiếng Quan Hỏa, họ nghe cũng hiểu…

– Cậu nên chịu khó luyện tiếng Quảng Đông vì đa số bà con người Hoa ở dọc biên giới nước ta đều là người vùng Lưỡng Quảng chạy sang. Ngay ở dưới Hải Phòng, tối nào đài truyền thanh thành phố cũng phải có buổi phát thanh riêng bằng tiếng Quảng Đông…

Dừng một lát, anh thốt lên:

– Tiếng Trung Quốc rắc rối lắm, mỗi vùng nói một phách…

Tôi phì cười. Và tôi nhớ lại hồi còn ở trong Khu 5, một đồng chí cùng làm trong cơ quan tôi cũng đã thốt ra câu nói tương tự như anh bây giờ. Đồng chí ấy vón là cán bộ Nam tiến từ ngày đầu nổ súng. Trước kia anh đóng quân ở vùng Kiến An và ngày ấy đơn vị của anh đóng gần một trại lính Tưởng Giới Thạch sang giải giáp vũ khí của Nhật. Một hôm anh kể, có tên quan Tàu chẳng biết là cấp gì, nghe nói là quan mười mấy, từ Hà Nội xuống, cả trại lính phải tập hợp để nghe hắn nói chuyện. Hắn diễn thuyết bằng thứ tiếng gì đó rất khó nghe, có lẽ Thiểm Tây hay Hồ Bắc mà phải có tới bốn, năm tên phiên dịch, tên nó dịch truyền cho tên kia, cuối cùng bọn lính mới nghe ra.

Rồi anh hỏi thăm vợ con tôi hồi này sức khỏe và cuộc sống ra sao? Tôi đáp hiện nay vợ tôi vẫn dạy học ở Quảng Yên, còn cháu Tú Hoa thì vẫn ngoan, cháu rất xinh giống vợ tôi lắm.

Nét mặt anh thoáng tư lự, anh nói:

– Vợ cậu đã hiểu gì về cậu?

– Cô ấy vẫn chỉ hiểu tôi như những điều tôi đã nói. Cho đến nay, tôi vẫn là một anh cán bộ lâm nghiệp… nhưng cô ấy rất tin và rất yêu tôi. Có lần tôi ướm hỏi: Nếu bây giờ tổ chức điều anh đi công tác xa thì em nghĩ sao? Cô ấy bảo: Nếu là nhiệm vụ thì anh cứ yên tâm mà đi, đừng lo lắng nhiều đến mẹ con em ở nhà… Cô ấy cũng chỉ nghĩ được rằng tôi có thể trở lại miền Nam chiến đấu như nhiều anh em khác đã vào trong đó…

Anh châm thuốc rồi nói:

– Mình biết cô ấy. Đó là một phụ nữ tốt. Hồi cưới cậu mình không về được nhưng trước đó, khi nhận được báo cáo của cậu đề nghị lập gia đình, bọn mình đã nghiên cứu cẩn thận. Cô ấy cũng mồ côi cha mẹ và đi theo kháng chiến từ nhỏ. Thôi được, sẽ có lúc nào đó, cô ấy phải hiểu cậu như bọn mình hiểu cậu…

Chúng tôi quay lại trường, anh căn dặn tôi:

– Bọn minh căn cứ vào những việc đã xảy ra hồi đó, khi còn trong Khu 5, thì chắc chắn vai trò của cậu chưa thể chấm dứt ngay được. Mà chúng ta cũng chưa nên chấm dứt. Mình tin rằng sẽ có một lúc nào đó, không chóng thì chầy, sẽ có người tìm đến cậu, nhất định họ sẽ tìm đến cậu. Lối chơi của họ là lối chơi lâu dài, họ không chịu ăn non đâu, không làm ăn cò con đâu. Đấy xem như cung cách làm ăn buôn bán của họ thì biết… Vì vậy, chúng mình phải kiên trì, phải biết chờ đợi, phải kiên trì nhẫn nại chờ đợi…

Khi chia tay với tôi, anh nói từ nay anh không còn phụ trách tôi nữa. Anh được điều đi làm nhiệm vụ ở hướng khác. Có thể anh sẽ đi xa (cái từ đi xa , tôi hiểu là anh sẽ quay trở lại chiến trường cũ, ở đấy đang cần cán bộ như anh). Sẽ có người khác thay anh để cộng tác với tôi, đồng chí ấy mang tên là anh Tư , còn tôi sẽ có tên là Bảy. Chiều thứ hai tới, anh Tư sẽ lên trường gặp tôi vào lúc tan giờ học. Hai chúng tôi sẽ làm quen nhau, vì chúng tôi còn cộng tác với nhau lâu dài. Tôi phải nhớ để đón anh vào chiều thứ hai này. Thế là từ nay, cuộc đời tôi sẽ hoàn toàn gắn bó với anh, mà không riêng gì bản thân tôi, cả vợ tôi và con gái tôi nữa… Sẽ chẳng có ai hiểu rõ chúng tôi bằng anh.

« Lùi
Tiến »