Chúng tôi đến Cao Bằng vào giữa năm 1966. Thời gian này, máy bay Mỹ đang đánh phá dữ đội các trục đường giao thông và các bến phà khắp miền Bắc. Nhưng suốt rẻo mấy tỉnh giáp Trung Quốc, chúng chỉ bay lượn qua và đánh mấy trọng điểm trên đường số 4 và dọc đường số 1 từ Lạng Sơn đổ lên. Máy bay Mỹ thỉnh thoảng bay qua thị xã giống như cái lòng chảo lọt giữa những dãy đồi, để lại trên bầu trời mùa hạ xanh ngắt những cái đuôi khói bị gió thổi tạt, ngoằn ngèo. Những đụn khói khác của đạn cao xạ đuổi theo, những tiếng lụp bụp như đập mẹt. Đó là tiếng súng của các đơn vị phòng không lính Trung Quốc đặt trên các mỏm đồi quanh đấy dù máy bay Mỹ bay cao hay bay thấp, ở bất cứ cự ly nào, các khẩu cao xạ của Trung Quốc đều ra sức bắn lên dữ dội, áng chừng để thị uy với người dân Việt Nam hơn là để bắn rơi máy báy địch. Hồi đầu các khẩu súng bộ binh của tự vệ thị xã cũng đua nhau bắn theo, nhưng về sau thị đội chỉ thị phải tiết kiệm đạn, chỉ được nổ súng khi nào bắn chắc ăn.
Những khẩu đội cao xạ của Trung Quốc làm nhiệm vụ bảo vệ cho các đơn vị làm đường của họ. Lúc này theo hiệp định đã ký giữa hai nước, Trung Quốc sang làm giúp Việt Nam một số con đường chiến lược dọc biên giới. Ngay sát thị xã cũng có một đơn vị công binh Trung Quốc đang làm nhiệm vụ ở đó. Những người lính Trung Quốc làm quần quật suốt ngày, họ không được phép giao dịch hay trò chuyện với người dân địa phương. Họ làm và ăn ngay trên công trường, khi nghỉ ngơi thì rút cuốn sách đỏ ra đọc như đọc kinh cầu nguyện
Hồi này ở Trung Quốc, cuộc đại cách mạng văn hóa vô sản do ông Mạo Trạch Đông đích thân phát động đang ở giai đoạn quyết liệt. Thoạt đầu thì các nhà lãnh đạo văn hóa bị hạ bệ, rồi đến thành ủy Bắc Kinh lan tới Bộ Chính trị và nhằm thẳng vào chủ tịch nước là ông Lưu Thiếu Kỳ. Ở các quầy sách báo trong thị xã của chứng tôi cùng thấy treo la liệt những cuốn họa báo Trung Quốc, in ảnh các tiểu tướng Hồng vệ binh đang "làm phản có lý", nhưng tấm ảnh đặc sệt những khuôn mặt non choẹt đằng đằng sát khí, những cái miệng mở to kêu gào và những nắm đấm giơ cao. Rồi ảnh những vở kinh kịch hiện đại, tác phẩm của bà Giang Thanh, nào "Cây đèn đỏ", nào "Dùng mưu chiếm Uy Hổ Sơn",vvv... Cuối cùng là tấm ảnh một người to béo, mặt phị hờ hững giơ tay và sau lưng ông ta có một người nữa thấp nhỏ, xúng xính bộ quân phục quá mới và quá rộng, đội mũ vải gắn ngôi sao đỏ, cổ áo đính hai miếng tiết, đôi lòng mày rậm cụp xuông, cái miệng nhỏn nhỏen, cái cằm nhọn và bàn tay giơ lên cuốn sách đỏ. Đó là Mao Chủ tịch và người thừa kế vĩ đại của ông ta.
Thị xã của chúng tôi là một thành phố xinh xắn và đẹp đẽ, chỉ cách biên giới chừng vài chục cây số đường chim bay, Nó nằm lọt giữa những dãy đồi trồng toàn cây sở mà về mùa xuân, hoa sở nở trắng rơi lả tả trên nền cỏ xanh, Dòng song hiền hoa như một dải lụa cẩm thạch bao quanh lấy thị xã nổi tiếng về giống thuốc lá thơm, sợi vàng như mật. Năm ấy đã có lệnh phòng không sơ tán nhưng chỉ có các trường học rời vào các làng bản quanh đó, các cơ quan thì chia làm hai nơi : thị xã và nơi sơ tán, nhưng nơi sơ tán chẳng có ma nào chịu đến ngoài bảo vệ. Còn nhân dân đâu vẫn cứ nguyên đấy, chợ búa vẫn họp đông, cửa hàng vẫn tấp nập người ra vào. Thị xã vẫn sầm uất, mặc dù nó đang phải chịu hai sức ép, thứ nhất là bom đạn của Mỹ có thể từ trên máy bay bất thình lình trút xuống và thứ hai là luồng gió độc của cuộc đại cách mạng văn hóa từ bên kia biên giới thổi sang. Nhưng chẳng điều gì làm thay đổi cuộc sống của mọi người dân thường. Gia đình tôi cũng vậy, tôi thì ngày hai buổi đến cơ quan làm việc, thỉnh thoảng xuống các huyện kiểm tra công tác bảo vệ rừng, vợ tôi đi dạy học và con gái tôi thì đi học, chỉ có điều cả hai mẹ con đều phải đi xa hơn trước vì trường sở đã sơ tán cách thị xã vài cây số, ở tít những đồi đất kia.
Hàng ngày con tôi đi cùng với mẹ nó đến trường. Vợ tôi đềo nó ngồi sau xe đạp. Nhưng khi tan học, thường nó đi về một mình, Nó đi chơi với lũ bạn cùng lớp, khi thì ra bờ sông thả thuyền giấy, khi thì nhặt những viên sỏi trắng về chơi đánh ô, đánh chuyền, khi thì hái hoa, nhặt lá chơi bày hàng. Bọn con trai thì chạy đuổi nhau và đá bóng trên bãi cỏ ven sông. Chúng la hét cho đến khi nóng rực người lên rồi nhảy ùm xuống sông lặn ngụp thỏa thuê.
Nhiều buổi chiều đám trẻ nhỏ học sinh kéo nhau ra đứng trên cầu xi măng bắc qua sông Hiến, lối vào thị xã và khi gặp những người lính Trung Quốc, bọn trẻ láu lỉnh hét to "Oan xuê, oan xuê...". Những người lính Trung Quốc phần lớn là sĩ quan gật đầu khen : Hảo, hảo,.. và móc túi cho chúng hàng vốc huy hiệu đỏ chói. Những chiếc huy hiệu này được chúng đem về thay cho những đồng xu cạch để đánh đáo. Về sau, dù cho bọn trẻ có sốt sắng hết to đến đâu, những người bạn lớn chỉ gườm gườm nhìn chúng và đi thẳng. Ít nhất họ cũng biết rằng việc làm của họ trước đây chẳng đem lại lợi ích hết mà lại còn quá ư vô duyên.
Có một sĩ quan Trung Quốc thường hay được bọn trẻ nhắc đến và chính người này cũng hay tìm cách la cà nói chuyện với chúng. Trước hết vì anh ta nói sõi tiếng Việt, phát âm khá chuẩn mà chẳng có chút gì lơ lớ, sau nữa vì anh ta hay cho bọn trẻ kẹo hoặc bánh lương khô. Anh ta còn trẻ, trạc ba lăm, ba sáu tuổi, vẻ mặt thanh mảnh, đeo kính trắng gọng vàng chóe nom rất trí thức. Buổi chiều, anh ta cũng thường hay dạo chơi trên cầu xi măng và từ xa, bọn trẻ thoáng trông thấy đã réo gọi:
– Chú Lưu,... chú Lưu.
Anh đứng trên cầu giơ tay vẫy vẫy, vẻ mặt tươi cười:
– Chào các cháu thiếu nhi Việt Nam anh hùng.
Anh ta lên là Lưu Nghị, chính ủy của đơn vị công bình Trung Quốc đang làm con đường chiến lược gần thị xã của chúng ta.