Đời truyền: khi sinh vua Lê-Thánh-Tông, bà mẹ là Thái hậu họ Ngô chiêm bao thấy đến chỗ ở của Ngọc hoàng, người sau nầy chỉ vào một tiên đồng mà bảo:
- Cho mầy làm con người này.
Tiên đồng dùng dằng không chịu đi, bị Ngọc hoàng trong cơn giận lấy hốt đánh vào trán. Đến khi tỉnh dậy, sinh ra vua Lê Thánh, trên trán tựa như có vết ; đêm ngày khóc không thôi. Có một đạo sĩ tự xưng có phép làm cho trẻ khỏi khóc. Mới mời vào xem. Đến nơi đạo sĩ vỗ trẻ mà bảo:
- Thượng đế sau có truyền cho thêm nước Chàm nữa.
Đứa trẻ nín, không khóc nữa.
Năm quý mão (1783), Tây Sơn đánh đảo Côn Lôn, thuyền đội của vua Thế-Tổ Gia-Long phải chạy ra biển, trong thuyền thiếu nước uống đã bảy ngày. Tướng sĩ đang lo khát bỗng thấy đầu thuyền, nước trên mặt biển đen trắng phân rõ, bên nước trắng có suối vọt ra, nếm thử thấy ngọt, bèn múc vào để dùng. Từ đó lòng quân thêm hăng, các kiệt nghe tin đều hưởng ứng, mới biết có trời giúp. Việc ấy cũng một loại như việc Hán-Cao-Tổ gặp trận gió ở Tuy-Thủy và Hán-Quang-Vũ gặp nước băng ở sông Hồ-Đà. 10
Tiên hiền đã bảo:
- Quỉ thần là dấu của tạo hóa, là lượng năng của hai khí âm dương.
Bởi vì có khí ấy thì có lý ấy nên Quỷ thần cũng là một cái lý mà những dâm tư của dân quê mùa đều không có. Xem hai việc đền Tản-Viên và đền Hưng-Đạo dưới nầy thì biết quỷ thần không ra ngoài chính lý. Núi Tản-Viên ở vào đất hai huyện Bất-Bạt, Minh-Nghĩa thuộc Sơn-Tây hình tròn như cây tán, cao ngút, trấn ngự một phương. Từ đỉnh đến chân núi đều có đền thờ. Đền ở đỉnh núi, ít người tới. Những khi kỳ đảo tế tự đều làm lễ ở đền chân núi. Các tỉnh ở Bắc-Kỳ gần núi đều thờ thần ấy. Tỉnh Ninh-Bình có một làng, lúc trước thờ Liễu-Thăng, trước đền có một cái hồ, không ai dám tới đó tắm giặt, nếu lầm mà phạm đến thì bị bệnh chết. Có một người học trò đi qua nhân nóng nực xuống tắm ở đó. Đến khi về nhà trọ y bị chứng nóng rất nguy, chủ quán hỏi thì y đáp là có tắm ở hồ ấy.
Chủ quán nói:
- Thế thì thầy lầm rồi, thật khó chữa.
Người ấy nói:
- Ông Liễu-Thăng nếu có thiêng há vì sự lầm lạc mà làm chết người ư ? Nếu tôi có chết xin để bút giấy ở đầu giường để tôi kiện họ. Sau ba ngày mà không sống lại thì sẽ chôn.
Người học trò quả chết. Chủ quán làm y theo lời. Sau một đêm, người ấy sống lại thuật chuyện rằng:
- Đầu tiên tôi tới kêu ở đền Đinh-Tiên-Hoàng, thì thần truyền qua kêu ở đền thần Tản-Viên. Tôi đến nơi, nạp đơn vào, thấy thần sau nầy cho người đòi Liễu-Thăng đến, quở rằng: Tướng thua trận như anh được hưởng hương hỏa là may, lại dám giết những người vô tội à ? Bèn sai truất miếu thờ mà tha cho tôi về.
Từ ấy đền Liễu-Thăng mất thiêng, rồi người ta cũng bỏ không thờ tự nữa.
Quân nhà Trần phá giặc Nguyên, bắt được bọn Ô-Mã-Nhi, trong đó có một tỳ tướng tên là Phạm-Nhan có yêu thuật, dao búa không thể làm chết được. Kịp khi thấy mặt Hưng-Đạo Đại-Vương mới chịu chết. Tục truyền quỷ Phạm-Nhan hay quấy hại đàn bà con gái. Nay đền Hưng-Đạo ở xã Vạn-An thuộc huyện Phượng-Nhãn (Bắc-Ninh) vốn là phủ đệ của ông, rất là linh dị, hễ đàn bà mắc bệnh tà đi qua đó thì tránh đi, chứ không dám lại gần. Có kẻ mắc bệnh tà đem đến ông xin chữa. Người bệnh đến nơi liền ngã xuống đất, một chốc sống lại mà bệnh thì lành.
Ở Hà-Nội có làng Kinh-Khê, khi trước thờ thần Tam-Lang. Triều Thiệu-Trị năm nhâm dần (1842) người làng ấy tới trình quan rằng thần làng ấy là một vị thần tà dâm, hay làm đàn bà con gái mắc quỷ thai, xin bỏ đi mà thờ một vị thần khác. Quan truyền cho thờ Đại Vương Hưng-Đạo…
Hơn một tháng người làng mới tới đến làm lễ, có một người ứng đồng lên nói:
- Bảo ta dâm quỷ là vô lý, đã lấy tội mà phế bỏ lại dám tới đây tranh với ta. Hôm nay có điều lạ bảo với người làng chớ có thột.
Đêm ấy quả nghe ở ngoài đồng có tiếng kêu rằng:
- Hương hỏa trăm năm có tội gì mà đuổi.
Bỗng có trận gió lớn từ đền ra, cây cỏ đều ào ào, dần dần ra đến ngoài đồng, dường như cách xua đuổi. Tiếng ấy rồi cũng mất. Từ đó người làng mới yên.
Đền Lý Ông-Trọng ở xã Thụy-Hương thuộc Từ-Liêm Hà-Đông rất linh dị. Đời nhà Lê có Nguyễn-Mại 11 làm Đốc trấn Sơn Tây. Trong làng ấy có một người mất trộm, khi tới đền cầu khấn thì thấy những đồ vật của mình mất ở trong đền. Người ấy sợ hãi đem việc đó trình với ông. Người sau này bắt làm đơn rồi sai lính cầm trát về đòi thần tới xét hỏi. Lính đến nơi thì thấy kẻ trộm đã chấp tay phủ phục dưới đền. Dân xã lấy lọng và hương án rước lư hương tới công đường. Ông Mại cứ án cật hỏi, nói phô có điều bất tôn với thần, ai nấy phải lạy và khuyên giải mới thôi. Rồi đem tên trộm khép án. Về sau, ông Mại bị Trịnh-Cương giết, cháu là Cử, Tuyển bị diệt tộc, người ta cho là vì khinh dể thần thiêng nên bị báo thù.
Nguyễn-Mại lại có lần bổ Hiến-sát Nghệ-An. Mới đến, trước hết đi yết đền thần Tam-Tòa 12 , sau mới yết đến Mai-Hắc-Đế. Tuần sau ứng đồng lên trách rằng:
- Yết thần Tam-Tòa trước ta, sao bản quan dám khinh ta thế ?
Ông trả lời:
- Vì Mại thấy trong sách cúng liệt thần Tam-Tòa ở trên ngài, chứ tôi đâu dám khinh. Vả lại ngài quật khởi xưng vua chưa được mấy lâu đã bị diệt, có oai linh gì đủ làm cho người ta sợ.
Thần nói:
- Bản quan không kính ta, ta làm chết cho coi !
- Nếu ngài đang sống mà làm tôi chết sợ cũng là phải, nay ngài chết rồi lại làm tôi chết nữa thì ngài trước tôi sau, có sợ gì.
Thần bèn lặng. Ông Mại không tin quỷ thần, đại loại như thế.
Không nên siểm nịnh mà cũng không nên lờn dễ quỷ thần. Làng Thần-Dầu ở phía Bắc Hoành-Sơn có đền thờ ông Bảng Nhãn họ Lê 13 . Buổi quốc sơ có người xã Cao-Lao (Quảng-Bình) làm Tri bộ, có lần cưỡi ngựa đi qua trước đền.
Người tùy tòng ngăn lại:
- Nghe rằng đền nay rất thiêng, xin ông xuống ngựa.
Người kia đáp:
- Biết đâu ta lại không bằng ông Bảng ấy, xuống làm gì.
Bèn cứ đi qua, liền bị ngã ngựa, khi về tới nhà nằm ốm không dậy được, người ta kêu ông là Tri bộ Lăn vì tục gọi vấp ngã là « lăn ».
Ôi ! Những thần linh mà người thờ là danh sơn đại xuyên giúp lợi thi trạch cho người và các chư hầu, khanh sĩ vốn có công đức với dân. Thần vẫn không lấy sự người lờn dễ mình mà tác họa, chỉ vì những kẻ tiểu nhân không biết kiêng sợ làm trái lẽ đi, để mang nhục rồi bị người cười.
Đời truyền Tô-Hiến-Thành nhà Lý khi đang làm một chức quan nhỏ, ở trong một xóm, nóc nhà liền lu với nhau. Một hôm, thấy người hàng xóm phía đông cách bờ giậu phơi áo, nhà phía tây lấy trộm đi. Tô trước vẫn tưởng là áo của nhà ấy, sau đó một chốc, nhà phía đông thấy mất áo ra kêu van chửi bới. Tô hiểu, nhưng chưa muốn nói ra vội. Rồi thấy người mất áo tới đền trong xóm để nộp với thần. Đền ấy vốn có tiếng linh ứng. Tô định bụng để xem thử ra làm sao. Được một tuần nhật 14 không thấy có hiệu quả gì cả.
Ông bèn bảo người trong xóm hủy đền không tế tự nữa và nói:
- Gọi rằng thần, sở dĩ ngăn hoạn nạn cho dân, bây giờ nhà kia mất của kêu van với thần mà không được thì còn thờ làm gì.
Cả xóm còn ngờ, ông sai quăng lư hương mà khóa cửa đền lại, bảo nếu có lỗi gì thì một mình ông chịu trách nhiệm. Đêm đến, người vợ thấy thần báo mộng:
- Sao lại bỏ ta không thờ, ta sẽ làm chết đứa con nhỏ cho coi.
Người vợ tỉnh dậy nói với ông, ông không nghe. Năm ngày sau, đứa nhỏ quả chết. Tuy vợ khẩn cầu mà ông cũng không nghe.
Hôm khác, người con đầu ông lại chiêm bao thấy thần giận dữ nói rằng:
- Mau mau nói với cha mày thờ ta lại, không thì ta làm chết thêm đứa em thứ của mày.
Con trưởng tỉnh dậy, xin cha và người trong xóm cũng tới xin mãi mà ông nhất thiết không nghe. Được ba ngày đứa con thứ lại chết.
Thần mới ngự đồng lên bảo Tô rằng:
- Nếu biết sớm mà thờ ta lại thì đâu đến nỗi thế.
Tô đáp:
- Chết sống có mệnh, kia như đứa có tội thần còn không bắt nó, huống chi làm tôi người thường ru. Chỉ quen dọa đàn bà vô tri chớ dọa ta sao được.
- Ngươi chưa tin ta, không chịu trả sự thờ cúng cho ta chết rồi mới biết.
- Thờ cúng thì không thể được, còn muốn làm chết ta thì làm, nhưng hẹn kỳ cho biết.
- Năm ngày tự khắc biết.
Năm ngày qua mà không có việc gì cả, ông Tô bèn đốc xuất xóm ra triệt hạ đền. Thần lại ứng đồng ra từ tạ:
- Thần vốn không giết được ai, chỉ biết được mệnh người sống hay chết. Hôm trước hai đứa con của ngươi là mệnh đã đến ngày chết, ta có được biết, nhân đó mà dối ngươi vậy thôi ! Ngươi thiệt là một kẻ chân chính ngày sau sẽ gánh được việc lớn. Nhưng ngươi chưa nghĩ đến nơi, đại phạm việc gì cũng cốt ở kiên nhẫn. Đứa trộm áo ngươi, cũng có biết, ngươi còn… níu câu nói của mình thế sao lại không nên nín cái chết cho nó. Trộm một cái áo, ngươi khép nó vào tội gì ? Mà đứa mất áo tới cầu ta xin bắt cho chết, ngươi có nỡ nghe theo chăng ? Nhưng đã lấy việc ấy trách ta thì ta sẽ bắt tên trộm áo phải đau chừng nhẹ vài ngày là đủ.
Ông Tô mới nói:
- Như lời ngài nói bây giờ rất có lý, sao chẳng thờ ngài, nhưng ngài dọa tôi thì không được.
Bèn thờ phụng lại như xưa.
Tên trộm cũng đau đầu vài ngày rồi khỏi. Ông Tô sau làm quan đến chức Thái úy là một bậc danh thần.
Vua Trần-Thái-Tông có lần cầu tự. Đạo sĩ đốt tấu xong, dậy nói rằng:
- Đã xin được với Thượng đế rồi, ngài sai đồng tử là Chiêu-văn giáng sinh.
Kịp khi sinh ra bên cánh tay Trần-Nhật-Duật có chữ « Chiêu Văn ». Nhân đó phong Nhật-Duật làm Chiêu-Văn-Vương, sau thành một danh tướng.
Vua Lê-Thái-Tổ có lần chiêm bao thấy đang tế ở dưới núi, trên núi có cắm cờ vàng. Hôm sau có Hoàng-Sát tới yết và người này sau thành danh tướng.
Bùi-Cầm-Hổ 15 (bắt cọp). Đô ngự sử đời Lê khi sắp ra đời, người cha mộng thấy một con hổ gầm ở sân. Giật mình tỉnh dậy thì vừa bà vợ ở cữ, mới đặt cho tên ấy.
Làng Tỉnh-Thạch (đá làm tỉnh ngộ) thuộc huyện Thiên-Lộc 16 Hà-Tĩnh thuở xưa là làng Đồng Tỉnh, có Hà-Công-Trinh khi hàn vi, có lần say rượu nằm ngủ trên hòn đá bên đường, mộng thấy có người tới khuyên rằng: « Sao không về đi học bỏ uống mất cái tài lỗi lạc ». Ông ta tỉnh dậy, trở về theo đòi nghiên bút thi đậu đến tiến sĩ 17 Sau khi quy hiển mới đổi tên làng.
Triều Lê-Hồng-Đức có Đỗ Nhân đi thi hương cùng với bạn đi thi trọ một quán, đêm đến nghe ngoài cửa có tiếng kêu « hử », ra xem thì không thấy gì cả, vào nói với bạn rằng: « Bất tri kỷ mà hử » 18 . Kịp khi vào thi, đầu đề bài phú là Ngư phủ nhập đào nguyên (bác chài vào cõi đào nguyên) vần thứ hai có câu: 宅浮水面方恣意其所為 ; 路失塵寰忽不知其何許. « Trạch phù thủy diện, phương tứ ý kỳ sở vi ; Lộ thất trần hoàn, hốt bất tri kỷ hà hử » . Nghĩa là: « N hà trên mặt nước muốn đi đâu thì đi ; đường quên cõi trần chẳng biết thế nào đây » .
Quan trường chấm đến câu ấy cho rằng có thần giúp. Câu này cũng giống như câu của Tiền khi 19 : 曲終人不見 ; 江上數峯青. « Khúc chung nhân bất kiến ; Giang thượng sổ phong thanh ». Nghĩa là: « K húc hát hết rồi người đâu chả thấy, chỉ thấy trên sông mấy ngọn núi xanh ». 20
Giáp-Hải người xã Sính-Kế, huyện Phượng-Nhãn, lúc trẻ có lần chết đuối ở sông mà không biết là mình chết. Thấy dinh phủ quân quan không khác gì dương gian, hỏi người gác cửa rằng:
- Quan lớn ngồi trong đó là ngài nào ?
Đáp:
- Ông trạng họ Lương đó.
Giáp nói là học trò của ngài xin vào yết kiến. Người ấy đưa vào Lương trông thấy bảo rằng:
- Con tới đây làm gì, phải trở về.
Giáp lạy mà rằng:
- May gặp quan thầy ở chỗ nầy, xin ngài thu nạp dạy dỗ cho.
Lương đáp:
- Con không biết, đây là nơi thủy phủ không ở được. Ta lúc sinh tiền thường soạn khoa giáo cho nhà chiền, bị quở phải ở đây đến ba trăm năm mới hết hạn đày. Công danh con sau đây theo một lối khác, nên về mau mà học, đừng ở đây lâu.
Giáp lạy tạ, Lương sai người đưa về. Giáp lên khỏi mặt nước thì sống lại về nhà. Sau thi với nhà Mạc (1538) đậu Trạng nguyên, làm quan đến Thượng thư cho đến hưu trí.
Nguyễn-Văn-Giai người xã Thu-Hoạch 21 huyện Thiên-Lộc. Bà mẹ lúc có mang, một hôm đi gánh nước ban đêm, có ngôi sao sa vào ấm nước rồi sinh ra ông. Ông ăn khỏe gấp mười người thường. Có lần đi đường, nghỉ đêm ở đền thần núi Đồng-Cổ vừa gặp kỳ tế thần. Cả đêm người làng làm thịt trâu, xong đặt vào trước bàn thờ rồi để tâm vào việc hát xướng, đến sáng ngày sắp sửa tế thì thấy thịt đã bị ăn vào bậy bạ, họ lấy làm lạ, kịp khi thấy Nguyễn-Văn-Giai đang ngủ say trên chỗ thần tọa, họ toan trói lại thì thần ứng đồng lên nói rằng:
- Chúng mày chớ có lễ, người nầy là bạn của ta mới tới, ta lấy đồ lễ đó để thiết đãi ngài và những người đầy tớ.
Người làng khi ấy đối với ông hết sức kính trọng. Nguyễn sau đi thi đậu đầu Tiến-sĩ, làm quan đến Thượng thư kiêm nắm quyền cả 6 bộ, phong Lễ-Quân-Công.
Có một sứ Tàu sang ta thấy ông, rồi bảo:
- Ông nầy là tinh khí ngôi sao « Tất », ở nước nhỏ lấy gì ăn cho đủ.
Khi ông còn tại chức có lần Trịnh-Tùng bị bệnh chết đã một đêm rồi sống lại, thuật chuyện lại rằng:
- Ta thấy đi đến một chỗ cung điện rất nghiêm trang, chính giữa có một cái giường bỏ trống như để thờ Đế thần, phía đông phía tây đều có giường cả, giường phía tây cũng để trống « chỉ có Nguyễn-Văn-Giai ngồi giường phía đông » .
Người nầy dắt ta đi đến dưới thềm sẽ bảo:
- Tôi đã xin với (Thượng) đế rồi, giặc Mạc chưa trừ xong, hãy cho Tùng ở lại làm việc cho nước Nam.
Vì đó mới được trở về. 22
Nay dân huyện Thiên-Lộc có thờ thần Hồng-Lĩnh đại tướng (?) là Nguyễn-Văn-Giai vậy. 23
Ở duyên hải thường có thờ Tử-Dương-Hầu Thành-Quốc công. Đó là hai người đều làm tướng nhà Mạc mà đền thờ thì chung một chỗ. Xét ở sử truyện thì không thấy tên Thành-Quốc công. Có thuyết bảo là Nguyễn-như-Khuê. Còn Tử-Dương-Hầu họ Phạm tên Tử-Nghi quán làng Thiên-Lôi xã Vĩnh-Niệm, tổng An-Dương thuộc Hải-Dương. Người sau nầy vốn sức khỏe dân xứ đông bắc đều qui phục. Khi Mạc-Phúc-Hải chết, Phúc-Nguyên còn trẻ, Tử-Nghi muốn lập Hoằng-Vương là Mạc-Chính-Trung mà không được, bèn cùng Thành-Quốc-công làm loạn, bắt hiếp Chính-Trung đuổi Phúc-Nguyên. Bắt đầu mới lấy được thành Thăng-Long thì đã bị Lê-Bá-Ly đánh đuổi, bèn đưa Chính-Trung ra giữ đất Ngự-Thiên tức là Hưng-Nhân 24 bây giờ, nhưng lại bị thua với Mạc-Kinh Điển phải chạy ra chiếm cứ An-Quảng. Bấy giờ nhà Mạc phía nam đang chống cự với quân Thanh Hóa nên không có sức, Tử-Nghi bèn hùng cứ các hải đảo đánh cướp châu Khâm của Tàu, người nhà Minh đánh không nổi, đưa thư sang trách Phúc-Nguyên. Kinh-Điển mới cho người lừa Tử-Nghi rằng: Phúc-Nguyên đã chết, rước Chính Trung về thay, rồi thừa cơ giết được Tử-Nghi, đưa thủ cấp sang cho nhà Minh, đi đến đâu thì dịch tễ nổi lên, người và súc vật chết hết nhiều, người nhà Minh phải trả lại. Nay cửa biển Phú-Tài 25 ở Bình-Định có đền thờ rất là linh nghiệm. Cửa biển ấy thường bị cát bồi cạn, khi nào có thuyền nhà nước ra vào thì quan địa phương phải tới đền cầu nguyện, cách một đêm thì khai thông, thuyền đi rồi lại cạn như cũ Mới đây, bộ Lễ nghi định các thần đều bỏ tước hiệu công hầu, mới phong sắc là « Tử Dương Thành Phủ Quân ». Thì tựa hồ một người chứ không phân biệt.
Đời Lê, ở làng Đông-Ngạc 26 có Đỗ-Thế-Giai lúc còn trẻ theo học với thầy trong làng. Một hôm rủ bạn học đi đánh bạc, khi qua đền thần ở xóm lân cận có vào cầu (cho được bạc). Nào ngờ bị thua trở về trách thần rằng:
- Đã cầu khấn mà không giúp thì hưởng khói hương của người đời mà làm gì ?
Nói rồi lật úp lư hương xuống mà đi.
Về sau người và súc vật ở xóm ấy không yên. Thầy bói đoán là thổ thần xuất ngoại. Họ bèn mời đạo sĩ về phụ thành hoàng.
Thần ứng đồng lên bảo:
- Ta bị ông Đỗ-Thế-Giai đuổi đi, mà ông ấy thì học với thầy ở làng kia, nên vì ta tới xin với thầy ấy.
Họ theo lời. Thầy học hỏi thì Đỗ kể hết đầu đuôi. Thầy lấy làm lạ nhưng cũng trách quở. Đỗ nói:
- Đã thế thì cho về đền ?
Từ ấy trong xóm mới yên. Đỗ sau làm đến chức Thư phủ, thế vị lừng lẫy.
Hiệp biện Đại học sĩ là Đặng-văn-Hòa 27 có kể chuyện rằng:
Hồi ông làm Hiệp biện ở Thanh-Hóa, trong bộ phát sắc thần ra, có một làng thờ Liễu-Hạnh công chúa tới rước sắc, ông nhân bảo:
- Nghe tiếng bà linh ứng lắm, vậy có phép gì cho tôi thấy chăng ?
Nói đoạn thì giữa sân bỗng chốc có chớp rạch, trời đang trưa, nắng to mà gió máy ùn nổi, một chốc rồi tan. Liễu-Hạnh công chúa là con gái họ Trần ở huyện Thiên-Bản 28 thuộc Nam-định, mới về nhà chồng được vài năm thì chết, rồi giáng làm thần ở núi Tam-Điệp và núi Vân-Cát, có khi lại hiện ra người. Nay đền núi Sùng ở xã Cổ-Đam thuộc Thanh-Hóa là chỗ bà giáng làm thần ở đó.
Tỉnh Quảng-Ngãi có đền ở Thụ Phổ thờ Trấn Quận công nhà Lê là Bùi-Tá-Hán 29 Lê-văn-Duyệt có lần tới đó bắt cọp, vây ba mặt còn một mặt gần đền để trống, nói rằng:
- Mặt ấy thì gửi cho thần.
Đến khi đuổi cọp thì thấy cọp nép ở cạnh đền không động đậy gì cả. Lại xã Ngoại-Thiên-Lộc 30 thuộc huyện Thiên-Lộc có đền Ông-Sóc thờ vị thần là Ô-Trà-Sơn. Đền ấy không biết bắt đầu từ buổi nào, từ trước lại nay cũng chẳng có sự gì lạ. Gần đây hai năm dậu và tuất núi Hồng-Lĩnh có con cọp dữ. Huyện Thiên-Lộc và Thạch-Hà bị nó hại đến vài trăm người.
Một hôm giữa ban ngày cọp lội sông Nghèn qua phía nam, chưa được nửa sông thì dân bờ bên kia hò hét đuổi cọp, cọp phải trở lại, đến xã ấy (Ngoại-Thiên-Lộc) giết mất hai người đi đường, rồi vào trong làng. Người làng hoảng hốt không biết làm thế nào vội vàng chạy vào đền cầu khẩn hồi lâu mới ra, thì thấy cọp nép dưới gốc cây ở bên cửa đền mà đã chết rồi.
Dân xã Dương-Luật phủ Thạch-Hà (Hà-Tĩnh, thờ thần Chiêu-Trưng 31 ở núi Nam-giới. Đầu mùa thu năm canh thìn (1820) người trong xã có kẻ chiêm bao thấy thần bảo dịch khí sắp nổi, răn người làng đi ra ngoài, tự giữ gìn với nhau, cũng đừng dung người ngoài đến ở. Đến cuối thu dịch nổi bốn bên mà làng ấy vô sự. Năm gần đây, trong làng ấy có con đồng xưng là bộ hạ thần Chiêu-Trưng đi chữa bệnh cho người ta, cũng có kẻ ngẫu nhiên mà lành nên được người ta tin theo. Người ấy về đến dưới đền, tự nhiên miệng mũi máu tươi vọt ra mà chết. Đền Chiêu-Trưng ở Triều khâu 32 cũng rất thiêng. Miệt Vân-Tán có người nhà giàu vợ chết đã chôn rồi. quỷ cứ hiện hình về giữa ban ngày đến cửa thì biến mất. Sau thường về quấy nhà ấy, cầu cúng mà không yên. Người chồng bèn trai giới đến đền mà làm lễ ba ngày mộng thấy thần hứa sẽ trừ đi cho. Mới mất.
Tiên Phạm-Viên là con Phạm-Chất ở huyện Đông-Thành (Nghệ-An) làm Thị lang đời Lê, sinh được vài năm mà không biết nói. Lên 8 tuổi đi chơi rong, người ta có khi gặp ở trên núi phía tây huyện, có khi gặp ở trong núi Hồng-Lĩnh. Khi Phạm Chất chết, có về chôn cất tế lễ đủ bổn phận làm con, xong rồi lại đi. Đoạn tang rồi thì đi biệt không biết nơi nào. Tương truyền Viên có làm bài phú Tịch cư ninh thể bằng quốc âm, câu nào câu nấy đều có khi cốt xuất trần 33 Sau có Nguyễn-Quỳnh 34 người làng Bột-Thượng phủ Hoằng-Hóa (Thanh-Hóa) tự phụ tài giỏi khinh dễ người đương thời.
Một hôm ở Thăng Long về đến chợ Mía ở ngoài trấn Thanh Hóa gặp một sĩ nhân cùng đi hỏi rằng:
- Ngài có phải là Nguyễn Quỳnh tiên sinh chăng ?
Quỳnh đáp:
- Phải !
Lại hỏi:
- Nghe tiếng ngài đã lâu, làm ơn cho tôi xin một bài thơ.
Quỳnh thấy nói đường đột lấy làm lạ mới hỏi:
- Con cũng có biết làm thơ à ?
- Tôi khi bé có học làm thơ, dầu không hay nhưng thấy người đời làm ít có bài vừa ý, (bây giờ) muốn biết mực thước của tay thợ cả.
Quỳnh giận và ngạo mạn mới rằng:
- Đã như thế thì ta cùng làm thi.
- Nhưng xin tiên sinh cho biết cách thức kỳ hạn.
Nhân trước mặt có cầu gỗ lim (từ chỗ đang đi đến cầu) không đầy mười dặm, Quỳnh hẹn:
- Vừa đi vừa làm đủ 100 vần, ai nấy cũng phải lấy vật gì để nhớ số vần, tới cầu thì phải xong.
- Nếu không xong thì thế nào ?
- Đạp ngã xuống bên cầu.
Kịp khi tới cầu, người kia làm đủ trăm vần mà Quỳnh mới được có 60, chưa kịp tạ thì đối thủ đã đạp ngã lăn xuống bên cầu mà bảo:
- Từ nay chớ lừa người nhé !
Quỳnh mới biết là dị nhân, vội vàng chắp tay tạ rằng:
- Kẻ mắt thịt không biết thần tiên xin ngài chỉ giáo.
Người nọ nói:
- Ta không giấu với ngươi, ngươi có biết giữa trần có Phạm-Viên chăng ?
Quỳnh lạy xin đi theo. Người nọ lại bảo:
- Ngươi tục duyên chưa hết không tiện đi, hãy về cố tu luyện, có ngày hội ngộ.
Quỳnh từ đấy đi chơi tùy thích, không màng đến danh lợi nữa.
Lại huyện Thanh-Chương (Nghệ-An) có Nguyễn-Trọng-Mỗ 35 và huyện Đông-Thành có Nguyễn-Hưng-Hàn hai người kết bạn, cùng nhau luyện khí, tịch cốc vào núi cầu đạo, gặp Phạm-Viên, người nầy bảo:
- Các anh không có tiên cốt. Anh Mỗ nên về học lối làm quan, còn anh Hàn thì kiếm một nghề nuôi miệng cũng đủ.
Sau ông mỗ thi đậu Tiến sĩ làm quan đến Thị lang bộ Lại mà Hàn thì giỏi phong thủy, song cũng ít lấy đất cho người, ưa đi vơ vẩn một mình như người điên. Trong huyện Đông-Thành có chợ Gò, (Khư thị) ở cạnh làn núi Di-Lặc, một hôm đang sớm, chợ mới có mươi người. Hàn đã hơn 70 tuổi cầm gậy đuổi đánh người đi chợ và rằng:
- Chúng bay chạy mau không thì chết.
Người đi chợ chạy tan rồi lại họp. (Ông ta đuổi đi) như thế đã vài lần. (Cuối cùng) Ông bảo:
- Ta mệt quá ! Bay không đi đi, cái chết đã sắp đến rồi đó.
Người ta chẳng hiểu ý tứ thế nào lại đổ ông ta say rượu. Được một chốc chợ họp được vài mươi người thì hòn lèn rơi đè chết hết. Chợ ấy sau mới dời đi chỗ khác. Hàn ở trong làng, một hôm, làng tế thần ở đình, ông cũng đi dự hội rồi lên vào bàn thờ xách bài vị thần ra đi, đến khi người làng biết, đuổi theo được vài dặm gần kịp thì ông ta bảo rằng:
- Chúng bay sao không ngảnh lại ? Bây giờ đuổi đến chỗ nào rồi ?
Chưa dứt câu nói, họ đã nghe tiếng lao xao ở sau, ngảnh lại thấy đình đã cháy, chữa không nổi, lại cháy lan đến vài mươi nóc. Đình rồi cũng dời đi chỗ khác. Lại một ngày, Hàn đi làm địa lý, sai đầy tớ mang một quan tiền đi theo. Dọc đường có đứa ăn mày khúm núm van xin.
Ông ta giơ gậy bảo:
- Mầy há miệng ra để tao đâm một cái, nếu chịu được thì tao cho quan tiền nầy.
Đứa ăn mày ngỡ nói chơi cũng há miệng, bị Hàn làm thiệt, đâm một cái chảy máu ra, nằm lăn rên rỉ.
Ông ta bảo:
- Nguyên tao làm chơi, không ngờ già yếu, tay không giữ nổi cái gậy, trúng phải mầy đau. Nhưng mầy đói đến thế được một quan tiền chẳng ăn thua gì. Chỗ mầy ngã xuống đó có người đời xưa chôn vài chĩnh tiền ở dưới đất, mầy đào lên mà lấy.
Đứa ăn mày theo lời đào lên, quả được.
Đời Lê, có Bùi-Sĩ-Tiêm, lúc bé bồ côi, nhà nghèo mà tính lại hào dật. Khoảng 17, 18 tuổi đi cày cho người chị, một hôm gà mới gáy đầu, ông vác cày ra đồng, thấy giữa đồng có gian nhà cỏ rộng rãi có mấy nữ kỹ đang hòa nhạc, người xem có đến vài trăm người. Trên giường có một cô gái dung sắc đoan lệ và áo quần rất đẹp. Bùi biết là quỷ, nhưng không sợ, đặt cày xuống lẻn vào lên giường cùng ngồi xem nhạc. Cô gái vẫn ngồi đoan trang không nói. Một chốc mới bảo:
- Quý thầy sau có khoa hoạn đến đây làm gì.
Nói đoạn biến mất cả, chỉ còn một mình Bùi ngồi trên đất. Bèn trở về theo học, sau đậu Hoàng Giáp đầu bảng, làm quan đến Thị lang. 36
Đời Lê có Phạm-Đình-Trọng 37 làm Thượng thư ở trấn Nghệ-An, khi đi hành hạt, có bọn Tàu hơn 100 người đến lạy. Ông ta hỏi việc gì ?
Thưa rằng:
- Chúng tôi không có việc gì, chỉ thấy trạng mạo ngài giống như tượng thần Ngũ-Hồ 38 , thiệt là dị nhân, nên tới bái yết ngài đó thôi.
Phạm có lần đau mụn ở vai hơn một năm không khỏi, trong bụng lấy làm nghi, vừa có người đi sứ Tàu, ông cậy vào xem tượng thần Ngũ-Hồ. Người ấy quả thấy chỗ vai tượng thần có tróc một miếng sơn bèn tu bổ lại, đến khi trở về thì mụn ông đã khỏi, khấn ra ngày lành tức là ngày sửa tượng đã xong vậy. Phạm ở Dinh Cần (Hà-Tĩnh) một đêm mộng thấy có người mời tới nhà uống rượu mà nhà ấy có người đàn bà góa gần 70 tuổi, nhà cũng tầm thường, khách khứa thì chỉ một mình ông, người đàn bà ân cần mời mọc rất cảm tình. Đến khi tỉnh dậy thì đồ ăn còn dính ở miệng, nhớ cả lối đi ngõ vào và trạng mạo người đàn bà nọ. Ông lấy làm lạ liền thay lốt ra đi, hỏi những làng ở bốn bên dinh quả gặp được người đàn bà trong mộng. Hỏi thì nói rằng (bà ta được) một đứa con trai 13 tuổi thì chết, chính hôm qua là ngày giỗ của nó. Tính năm nó chết lại là năm Phạm sinh. Ông bèn mời người đàn bà về nhà phụng dưỡng rất hậu. Vài ngày trước khi chết, Phạm đang ngồi giữa nhà, có con rắn bằng cánh tay đủ năm sắc bò lên giường kê trên đầu gối ông. Ông vẫn nói cười với khách như thường, một chốc rắn mới bò đi.
Đời Lê có Nguyễn-Huy-Oánh 39 đậu thám hoa làm quan Thị Lang. Người cha của ông đậu Hương cống ở làng Tràng-Lưu, tổng Lai-Thạch (Hà-Tĩnh). Xóm giềng có người thợ cưa cũng chung một ngõ. Một hôm người thợ ở xã Phù-Thạch 40 về làng, đến đám đồng đầu làng thì trời đã tối, thấy hai người học trò, một người độ 17, 18 ; một người độ 14, 15 cùng nhau vừa đi vừa nói chuyện, người thợ theo sau nghe nhiều chuyện không hiểu, chỉ nhớ được tên người lớn là Xưởng, bé là Vịnh.
Khi đã đến ngõ (nhà, người thợ) thấy người lớn bảo người bé rằng:
- Anh đây đã đến nhà anh ở, còn em ưa tiêu dao thì đi.
Đáp rằng:
- Hãy tạm biệt ít lâu, mươi hai năm ta sẽ tái ngộ.
Nói xong đều không thấy đâu nữa.
Người thợ về tới nhà, vừa người vợ sinh được đứa con trai. Và rất mừng muốn đặt tên là Xưởng nhưng chưa quyết. Sớm mai tới nhà ông Hương cống toan nói chuyện thì vừa biết vợ ông Cống cũng đêm ấy sinh được đứa con trai. Người thợ ngạc nhiên, ban đầu còn nghi, một chốc gặp ông Cống bèn xin ông đặt tên cho con và hỏi ông mới sinh con trai đã đặt tên chưa ? Ông Cống trả lời:
- Tôi chưa rảnh việc nhưng vừa mơ, nghĩ đặt cho nó tên Xưởng.
Người thợ thất sắc chào về. Xưởng là tiểu danh của Huy-Oánh.
Phạm-Vĩ-Khiêm 41 ở xã Đặng-Điền (Nghệ-An). Xã ấy có núi Lập-Thạch. Dân ở đó đến đêm thường nghe tiếng đọc sách. Kịp khi Phạm sinh ra, tiếng đọc bèn mất. Phạm từ bé thông minh hơn người, đời bấy giờ cho là thần đồng.
Đời Lê có Phan-Phái-Hầu Nguyễn-Phan 42 Nhà mẹ ở làng Bột-Thượng, thuộc Hoằng-Hòa. Thuở bé học với cậu, ông hay rong chơi thường bị cậu răn bẻ, bèn bỏ đi. Trong xóm có đền Chân-Vũ, Phạm tới, vào đền lấy mấy đồng tiền ở trong lưng ra chỉ vào vàng giấy ở trên hương án rồi đánh bạc với thần, hẹn rằng thần được thì thần lấy tiền, tôi được thì tôi lấy vàng giấy.
Ông ta đánh được, mới nói rằng:
- Hãy để đó vài ngày nữa tôi sẽ lại lấy.
Rồi đi.
Hôm sau tới thì vàng giấy ấy đã bị người thủ từ đốt mất rồi. Phan trách thần rằng:
- Ông đã thua tôi sao lại sai hẹn, tiêu mất bạc thua với tôi rồi ?
Liền cầm viên gạch đánh vào đầu gối tượng thần ít cái lại hẹn trong ba ngày phải đền đủ không thì lại đánh nữa. Rồi lại đi.
Đêm hôm ấy người thủ từ mộng thấy thần bảo:
- Ta bị đứa con trẻ làm rối mà nó cũng là quý nhân ta phải nhịn cho rồi. Mầy có đốt vàng giấy nhớ biện đủ số để nó khỏi quấy nữa.
Người ấy theo lời. Hôm sau Phan tới thấy có vàng giấy cười mà rằng:
- Đã chịu thua thì thôi, tôi cũng không dùng thứ ấy làm gì.
Sau ông làm quan có phép trị quỷ. Mỗi lần nằm ngủ, có khi đến năm bảy ngày, trong nhà đóng cửa lại, giữa sân có trồng cây đa, người nhà rình nghe trên cây gió thổi thành tiếng tức là chừng ông giậy, mở cửa mới dám vào. Người ta có bệnh hoạn hay việc gì thì đem tiền giấy hương rượu tới cửa cầu khẩn rồi dò khi ông ra vào mà xin, ông gật đầu cho thì được việc, nếu không thì thôi, chứ không phải dùng bùa thuốc gì. Án-sát Khánh Hòa là Nguyễn-Hữu-Đô có kể chuyện một làng gần làng ông, đất làng ở bên sông thường bị lở, họ tới xin với ông Phan, ông ta cho một cái thẻ gỗ đem về cắm ở trên bờ, cát mới bồi lại không lở nữa.
Huyện Kỳ-Anh (Hà-Tĩnh) có Phạm-Hoành cũng thông thần, ông ta làm chức Thư vệ thờ Điện-Quân công đời Lê. Ai có tật bệnh tới xin với ông, ông hứa cho thì khỏi. Ông chết rồi người ta lập đền thờ nay ở làng Sơn-Triều. Miền đó khi có thủy hạn cầu đàn (ở đền ấy) nhiều phen ứng nghiệm.
Người miền Kỳ-Anh là Nguyễn-Quyên biết được việc kiếp trước. Ông tự kể chuyện kiếp trước là người Bắc-Ninh, khi bé khá thông dĩnh, 14 tuổi thì bị chứng nóng rồi hôn mê đi. Một đêm thấy ra cửa đi tựa như vô bệnh, được vài dặm thì tối đen như mực, gió lạnh thấu xương, mới biết là chết, trong chỗ tối đi được nửa giờ dần dần lại sáng như ban ngày, chỉ không thấy mặt trăng, mặt trời mà cỏ cây cũng khác với nhân gian. Thấy trước đường có một người ở cách bờ sông, có vài nóc nhà tranh cắm cờ như là đồn ải, bên cạnh có chợ họp chừng vài trăm người. Ông sực nhớ khi sinh tiền có nghe người kể chuyện luân hồi rằng người ta chết tất có người làm chủ bắt ăn « cháo mê hồn », cho nên đến khi sinh kiếp khác thì không biết việc trước nữa. Y giả đây là chỗ làm cháo mê hồn chăng ? Thuở bé ông từng biết bơi nên mới đi lánh theo bờ sông, trông sang cờ đồn không thấy nữa mới lội sang bến đò rồi bị lính tuần bắt được giải vào trước ông quan âm. Nơi này giống như phủ nha trên dương gian nhưng binh vệ cũng thưa thớt.
Đến nơi không dám ngửa mặt lên nhìn, nghe người ngồi trên công đường quở rằng: « Đứa gian dân này phải phạt làm súc vật ». Rồi sai dắt đi.
Cái thân bấy giờ phải làm con nghé ở nơi dơ bẩn rất khổ. Khi mới mọc sừng thì hay báng người nên bị làm thịt. Lại đến chỗ cũ, quan âm lại quở:
- Nó còn gian giảo không chừa, cho tái sinh lại thế gian trả lại bản thân cho nó.
Rồi ngảnh bảo tả hữu soát cung lộc, cung thọ thế nào thì một viên lại thưa rằng:
- Đậu tiến sĩ làm quan Thừa chính, thọ 72 tuổi.
Quan âm truyền dắt đi, đến một nhà vào bậc thường, vợ chồng đâu độ 40 tuổi, sinh vài bận mà không nuôi được, người vợ chuyển sinh đã có vài ngày, vừa sinh con trai ông đầu thai vào, mừng mà cười lên.
Người vợ kinh hãi mà rằng:
- Quỷ quái gì còn lại đây quấy nhiễu.
Chồng đang bửa củi vội chạy lại cầm dao chém đi. Lại bị dẫn đến chỗ trước. Quan âm quở rằng:
- Phải giữ thân làm trọng chứ, đã khinh xuất như vậy thì giảm quan lộc cho đậu tiến khoa và bớt tuổi đi một kỷ.
Rồi giục dắt đi mau không được trễ.
Tức thì thấy hai tên lính dắt đi, chui rừng vượt hiểm, đến thì thai vừa lọt lòng, hai tên lính nhét ông ta vào miệng đứa trẻ. Ông ngảnh lại thấy hai chân đi đường bị gai gốc đâm cho rách toạc. Một chốc thì thấy tai điếc mắt mờ, tay chân mềm nhũn, miệng cũng cứng đơ. Quyên 19 tuổi đậu Hương cống cuối đời Lê. Ông còn nhớ được cha mẹ, làng ở và thầy học ở kiếp trước. Khoảng năm Gia Long mới chết.
Khoa Nhâm thìn (1772) niên hiệu Cảnh-Hưng nhà Lê sắp sửa thì Hội, có Tham tụng Nguyễn-Nghiễm 43 đáng được mệnh (vua cho) nghỉ, chiêm bao thấy có sứ giả mời đến một sở công chấm bài, đồng sự có hai ông quan. Viên lại trình lên hai quyển trong đều viết ba hàng chữ mực, hàng thứ nhất chữ « phúc đức », hàng thứ hai chữ « phụ mẫu », hàng thứ ba chữ « bản thân ». Một quyển thì hai hàng « phúc đức » « phụ mẫu » đề khuyên son mà hàng « bản thân » thì sổ toẹt cả. Còn quyền kia thì ba hàng đều điểm son cả. Hai ông quan kia đều nói: một khuyên với một sổ, khấu đi hai điểm, còn dư một khuyên nữa muốn đặt nó lên trên. Nguyễn nói:
- Triều đình lấy nhân tài, chính để ngày sau ra sắp đặt thi hành, quyển nầy bản thân đã bị sổ mà lại lấy, dùng cách gì cho điểm cho hợp, sao lại để lên trên.
Hai ông ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:
- Ông nói cũng phải, song thiên tào có cho những nhà có phúc đức cha ông trước, phải lục đến con cháu họ, bất đắc dĩ cho nó xuống cuối cũng được. Khoa ấy Hồ-Sĩ Đống 44 đậu đầu mà Lưu-Tiệp 45 đậu cuối.
Sau hành trạng của hai người không giống nhau như trong mộng.
Bùi-Tồn-Trai 46 có kể ngày ông ta đi thi hội đến trường đệ tử có một người mặc đồ lính đi chung quanh chỗ ông làm bài từ sớm đến tôi, đưa đồ ăn cho cũng không ăn, đến tối lại thu xếp giùm những đồ nghiên chiếu đưa ra khỏi cửa trường rồi mới đi. Hỏi họ tên chỗ ở thì không trả lời, chỉ nói rằng lính đội Trung-Hùng ở Nghệ-An.
Có Tú tài là Trương-Xuân-Dục kể chuyện ông ta có người bạn tên là Hổ quán ở Hưng-Nguyên (Nghệ-An) làm Tham luận. Đầu đời Nguyễn, Hổ theo làm bề tôi Đặng-Trần-Thường bấy giờ người nầy làm Bình tào Thượng thư ở Bắc thành. Một đêm, Hổ mộng thấy đi giữa trời nắng, mệt quá vào nghỉ trong quán, chủ quán là một ông lão tóc râu lốm đốm, dựa ghế ngồi, sau vách có treo bức tranh con cọp trên bàn có trái dưa đỏ. Ông thấy ông lão không phải dạng nhà quê bèn mở ấm nước và nói đi đường khát nước vào xin uống.
Ông lão hỏi:
- Anh có phải đang cầu làm quan chăng ?
Đáp rằng phải. Mới mời ngồi gọi tiểu đồng cắt dưa mời ăn. Ông mới nuốt miếng dưa thì thấy đau bụng không chịu nổi, lăn lộn rên rỉ. Ông lão sai tiểu đồng lấy vài viên thuốc cho ăn liền mửa ra miếng dưa và lành. Nhân bảo:
- Trong bụng anh không chứa nổi một miếng dưa còn muốn cầu làm quan rư.
Hổ không bằng lòng về câu nói ấy, trả lời:
- Tôi quả là đứa bất tài, may cậy vào quan trường để mong được chút phẩm cấp đó thôi.
Ông lão nói:
- Quan trưởng của anh có phải Đặng Trần Thường không ? Người ấy cũng như bức tranh con hổ trên vách. Ta mới làm bài thơ đọc cho anh nghe nhé:
可憐孤鳳向南飛
纔到天中翅已離
三島石人眠未起
將軍猶在發聲期
« Khả liên cô phụng hướng nam phi.
Tài đáo thiên trung kỵ dĩ ly.
Tam-Đảo thạch nhân miên vị khỉ
Tướng quân do tại phát thanh kỳ » .
Nghĩa là: « Khá thương chim phụng bồ côi bay vào Nam. Mới đến giữa trời thì cánh đã lìa. Người đá ở núi Tam-Đảo ngủ chưa dậy. Tướng quân còn đang thời kỳ nổi tiếng » .
Hồ không giải ra được, xin chỉ bảo. Ông lão rằng:
- Người đá ấy rồi có quan hệ với họa phúc quan trưởng của anh.
Hồ cả sợ, xin chỉ chỗ người đá. Ông lão cũng vạch ra giữa đất mà bày cho. Đến khi tỉnh dậy, nhớ hết những điều trong mộng, nói lại với ông Thường ; người nầy sai ông ta đến núi Tam-Đảo theo như trong mộng tìm đào quả được người đá rồi đốt yểm đi. Sau không Thường bị họa.
Cha Phan-Khiêm-Hanh 47 gặp việc gì cũng hay biết trước. Ông ấy bị bệnh được một ngày rồi bảo vợ con làm cơm rượu mời họ hàng làng xóm đến, ông ngồi giữa nhà bảo con cháu sắp hàng vào lạy. Bảo con rằng:
- Mầy phải chăm học chớ bỏ hư nghiệp nhà, nhưng có trọc đầu mới đậu được.
Sau Hanh sắp đến kỳ thi, bị đau nặng mới khỏi, người nhà phải cạo trọc cho. Khoa ấy ông đậu Tiến sĩ.
Ông nội tôi là Trãi-Hiên tiên sinh 48 không ưa đạo Phật và thuật số, cuối đời Lê đậu Hương cống, thường làm thơ có câu: 彭祖若生還一老, 孔明不死亦三分. « Bành-Tổ nhược sinh hoàn nhất lão ; Khổng-Minh bất tử diệc tam phân ». Nghĩa là: « Bành Tổ nếu sống đến nay cũng làm một ông lão ; Khổng Minh không chết thì nước cũng chia ba » .
Ấy là câu thơ thương đời vậy. Tiên-sinh không chịu luồn kẻ quyền quý, bị Đoàn Nam (Vương Trịnh Khải) bắt giam. Thơ gởi cho bạn thân có câu: 何當龍福改, 此是我歸期. « Hà đương « Long Phúc » cải ; Thử thị ngã qui kỳ » . Nghĩa là: « Khi nào phúc lớn hay là làng Long Phúc đổi thay l à kỳ tôi được về » .
Người ta nghĩ là danh sĩ chưa nỡ hại. Đến khi họ Trịnh bị diệt, tiên sinh mới được về. Xã tôi xưa gọi là xã Long Phúc (Nguyễn-Huệ) có tên giả là Phúc, nhân đổi là Long Phú, nay mới đổi làm Phong-phú. Tiên sinh ở nhà, có một đêm người nhà nghe ngoài ngõ có tiếng xe ngựa ra thì không thấy gì cả. Lúc ấy tiên sinh ngủ mê chưa dậy, người nhà nghi và lạ, sớm mai hỏi thì đáp:
- Bạn của ta là Thái thú họ Hứa tới hỏi thăm ta đó.
Tả-Ao giỏi địa lý, đời truyền rằng: Lúc đầu người ta chưa tin. Ở Thanh-Hóa có làng kia có tiếng là làng văn học, một hôm đang họp làng, ông ta mặc áo rách mang đãy vào tự xưng là thầy địa có chôn được một huyệt khoa giáp, có ai dùng thì để cho. Người làng đều khinh, nhân nói:
- Chúng tôi không dám mong mỏi, chỉ có ông Cống Nguyễn-Điều đang muốn kiếm cát địa, thầy tới đó hỏi.
- Điền là một người thô lậu bị người làng khinh lại vừa hôm nay không có mặt ở đấy, nên họ nói bỡn như thế.
Ông ta giả làm cách không biết, hỏi ngõ vào nhà ông Điều. Người ta cũng chỉ cho. Ông đi tới nơi hỏi:
- Đây có phải nhà ông Điều chăng ?
Điều ra hỏi:
- Thầy hỏi tôi việc gì ?
Ông rằng:
- Tôi có được nghe các ông làng mách ông muốn tìm cát địa nên lại đây làm cho ông một huyệt đất.
Ông kia cười mà rằng:
- Người làng lấy tôi mà đùa bỡn thầy đó thôi, chứ tôi được như thế này là đủ rồi có dám cần đến đất tốt đâu ?
- Ông nghĩ như vậy vẫn tốt song người làng ai cũng muốn cho ông được khá, vả đất tốt cũng không phải tìm ở đâu xa, bần đạo xin vì ông đi xem mấy ngôi mộ tiền đại, có ngôi nào chưa hợp phép địa lý thì thay đi, phí tổn chẳng qua hết chừng 500 tiền mà tương lai sẽ phát phúc không mất lễ tạ gì nữa, ông sợ gì mà không làm.
Điều lấy làm lạ về câu nói ấy mới lưu thầy lại để đi xem mộ tổ, chỉ cải táng một ngôi. Xong ông ta đi có dặn riêng với Điều rằng:
- Đất nầy rồi có hiệu nghiệm ngay. Chờ xem khi nào trên mộ có máu chảy tức là kỳ phát phúc.
Ông nầy tuy không tin cho lắm nhưng cũng lạ về lời dặn của thầy nên sớm nào cũng đi thăm mộ. Một người trong làng nghe thủng câu chuyện ấy, đêm đến lấy huyết lợn rưới lên mộ. Rạng ngày Điều tới thấy vậy trong lòng nghi hoặc, trở về thì thầy địa đã tới nhà bèn mừng rỡ mời mọc nói chuyện ; khoa ấy quả Điều đỗ tiến sĩ. 49 Từ ấy ai cũng trọng Tả-Ao như thần mà ông ta cũng chẳng khinh thường để đất cho người ta. Nhưng đó là ông cũng dùng thuật để lừa người thôi. Khi tôi lên 16, 17 tuổi có một người ở lối xóm, nhà, cũng đủ ăn, vợ chết vào lúc cuối năm, chỗ chôn thì đầu mộ có thửa ruộng đã cấy lúa mà ruộng có nước chừng vài tấc ; sau khi táng rồi ba ngày, tôi với Hiệu sinh nhà Lê là Trần mỗ, và Tú tài (mỗ), cả đêm đều nằm nghỉ ở nhà ấy. Sáng dậy chủ nhà với con trai đi thăm mộ về nói ở đầu mộ đến giữa ruộng nước không đầy năm thước có ba hòn máu tròn lớn bằng cái bát, sắc máu tia tía. Ai cũng lấy làm lạ. Hai ngày sau tôi tình cờ đi ngang chỗ ấy, thấy máu đã tan lẫn với bùn hãy còn có vết đen. Tháng ba năm sau nhà ấy chết mất một đứa con, sáu bảy người trong nhà lần lượt đau ốm, nghiệp nhà sa sút, đến khi hết tang, mới cải táng đi chỗ khác. Việc ấy lại là một lý thế nào không thể hiểu được.
Vũ-khắc-Kiệm 50 lúc đầu du học Bắc Thành có thuê một cái nhà để trọ, nhà ấy thường có ma, bấy lâu vẫn đóng cửa, Kiệm không biết. Mới ở được vài ngày, ông ta đang ngồi một mình đọc sách bên đèn bỗng nghe có tiếng rên ở trên rường nhà, ngửa mặt lên nhìn thì thấy có một người bận vũ phục ngồi ở trên giường tay cầm cây dao tự cắt bắp vế của mình máu chảy xuống đất.
Kiệm nói:
- Anh làm gì thế, có oan uổng điều gì thì nói, chứ ta đây những loài ma quỷ không thể dọa được.
Người nọ mới nhảy xuống đặt cây dao tự kể rằng:
- Tôi là lính nhà Thanh theo Tổng đốc Tôn Sĩ-Nghị sang đây chết ở chỗ này, bị người ta làm nhà lên trên dày dậm luôn luôn, di hài không yên, không biết nói với ai nên phải thường làm sự quái gở. Bây giờ ngài đã biết nỗi oan uổng của tôi, nhờ ngài giúp cho tôi với.
Kiệm hỏi:
- Di hài ở đâu ? để ta nói với chủ nhà cất đi cho.
Con quỷ nọ chỉ chỗ mộ lạy tạ rồi biến mất. Ngày hôm sau Kiệm nói với chủ nhà, đào lên được một bộ xương và cây dao, liệm lại chôn đi chỗ khác, nhà ấy mới yên. Kiệm sau làm đến Tri huyện.
Đang buổi dịch tễ rất khốc hại, có khi một nhà chết đến vài người, ai cũng cho là truyền nhiễm song cũng do số mệnh cả. Hiệp Biện đại học sĩ họ Hà 51 ở bộ Hộ có kể chuyện rằng:
Năm canh thìn (1820 (?) bệnh dịch cả phát, ông Hà đang ở Kinh, trọ ở nhà hàng Đông-Gia có ông Cống là một người cùng xóm, trọ ở Sử quán. Một hôm ông ta bị bệnh dịch mê man đi không biết gì nữa. Bỗng thấy mình đi ở phố chính đông ở trong thành, dọc đường gặp một bậc quý nhân có quân gia vài mươi người.
Thấy ông, người nọ bảo:
- Người nầy tương lai làm đến Đại học sĩ sao lại đi đây ?
Rồi bảo một người vừa gập ở bên đường rằng:
- Đi bắt tên Mỗ người cùng xóm với người này, chớ chúng mày lầm rồi !
Ông Hà được trở về, mới tỉnh dậy thì đầy tớ nói rằng chết đã được nửa đêm rồi. Ông bệnh bớt dần rạng mai sai người đi hỏi thăm ông Cống mỗ thì người này chết lúc nửa đêm.
Năm Kỷ sửu (1829) tôi và bạn là Trần 52 đi thi Hội. Cùng đi còn có Cử nhân Nguyễn-Khắc-Khoan 53 ở xã Tỉnh-Thạch, Hồ-Vĩnh-Trinh 54 ở xã Chi-Châu và Phó-bảng Nguyễn-Hữu-Thường 55 . Đến quán Thanh-Lương vừa trời tối chia nhau trọ ở các quán. Sáng mai dậy đi, thấy ông Trần kể chuyện khi đêm chiêm bao thấy ngồi giữa nhà, ngoài sân có ba con vịt có một người ở ngoài đi vào bắt một con đưa cho ông ta mà con vịt ấy thì què một chân. Ai cũng cho là điềm tốt.
Tôi cũng đoán: « vịt » (鴨) què một chân thì giống chữ « giáp » (甲), ba vịt tức là « tam giáp » Khoa ấy ông Trần quả đậu « đệ tam giáp ». Đến ngày vinh quy, tôi cùng ông Trần và ông Phó hiến sát họ Bùi 56 đi với nhau. Bấy giờ vào tháng bảy, dọc đường miệt Hoằng-Lễ gặp trận mưa dông. Gần đường có miếu thần, ba người ghé vào, tôi và người đầy tớ ông Bùi đều vào đó, chỉ có vài người đầy tớ của ông Trần chậm lại sau, không biết chủ mình ghé vào đây, cứ một mạch đi thẳng. Chúng tôi ở trong miếu trông ra thấy họ cởi cả khăn áo, chạy loăng quăng hình như đuổi cái gì, rồi lại cứ đi như trước. Chỗ ấy là đường núi, làng ruộng cày cấy thì xa. Đến khi tạnh mưa, chúng tôi mới ra đi, đến quán Hỏa-Hiệu thấy họ đang nghỉ ở đó mà hành lý có ba con vịt. Tôi sực nhớ lại câu chuyện trước, nhân nói rằng: « Chắc có một con què ». Xem lại thì quả nhiên.
Năm quý tỵ triều minh-Mệnh (1833) tôi đang hiệu lực 57 ở bộ, trọ tại quan Đông-Gia, một hôm mộng thấy mình ở trạm Biên-Long quan quân canh đóng rất nghiêm. Tuần vũ tỉnh Biên-Hòa là Vũ-Quỳnh 58 và Án sát Lê-Văn-Lễ 59 cũng tại đây cả.
Phía nam nhà trạm có chợ Gò (Khư thị) ông Vũ đang ngồi ở hàng cơm bên chợ, tôi tới hỏi thăm rồi cùng uống rượu, một chốc thấy có viên lại cầm phong bì giấy vàng tới, trong có bản sớ viết tính, ông ta cầm lấy sai viên lại mượn ấn quan Án rồi ngảnh lại hỏi tôi:
- Tôi để mất cái ấn quân phòng đã có tâu trong sớ nầy để chịu tội, nay mượn cái ấn quan Án để đóng, có hợp phép chăng ?
Tôi đáp:
- Gần đây hễ quan viên chưa cấp ấn có thể mượn ấn của quan đồng liêu để áp vào giấy má, bên cạnh phải kể rõ việc ấy.
Ông nói:
- Phải, tôi cũng có kể rõ sau tập.
Nhân cầm bản sớ đưa cho xem, tôi thấy trong sớ chữ viết đầy đến vài tờ mà không nhớ nói việc gì. Xem xong, vừa viên lại đưa ấn đến, ông Vũ tự áp lấy rồi giao phong sớ cho viên nọ và dặn rằng:
- Đưa cho quan Án nhờ ngài phát đệ cho ta.
Một chốc nghe tin ông Vũ bị giáng nhị cấp lưu 60 . Đến khi tỉnh dậy không đoán ra thế nào. Hạ tuần tháng 5 năm ấy, bắt đầu nghe nghịch Khôi (Lê-Văn-Khôi) làm ngụy, tôi phải đi tùng quân, mồng 4 tháng 6 lên đường khoảng giữa Khánh-Hòa và Bình-Thuận. nghe tin Biên-Hòa đã thất thủ các quan tỉnh phải lui về giữ Hưng-Phúc (nay là Biên-Long). Được vài ngày nghe tin ông Tuần Vũ đã lấy lại được Biên Hòa mà ông Lê-Văn-Lễ hãy còn ở Hưng Phúc. Ngày 27 tôi tới trạm Thuận-Biên, ông Lễ cũng vừa bỏ Hưng-Phúc chạy đến đó. Ngày 28, quan quân phá giặc ở Biên-Long nhân lưu lại đó để chỉnh đốn công việc. Tôi cũng ở trong trạm. Ông Vũ đang đóng ở Biên-Hòa, tin tức quân lính qua lại chưa thông. Ngày 30, mới nghe Biên-Hòa lại bị thất thủ. Mồng 1 tháng 7, ông Vũ trở về đến đây (Biên-Long) quả nhiên ngồi trong hàng cơm bên chợ, hôm sau tôi tới hỏi thăm, hết thảy theo như mộng thấy lúc trước. Mà ông Vũ cũng bị giáng nhị cấp lưu.
Khoa canh tý (1840) triều Minh-Mệnh, tôi làm Giám khảo 61 trường Hà-Nội, Phó Đô-ngự-sử là Nguyễn-Công-Trứ thì làm Điển thí. 62
Đến trường nhằm ngày nhập trường, ông ta bảo tôi rằng:
- Đêm trước tôi nghe trong vi có tiếng ngâm vịnh không biết là thế nào.
Khoa nầy trường Hà được 14 Cử nhân. Đến khoa thi Hội năm tân sửu (1841) triều Thiệu-Trị có các ông: Bùi Tuấn (giải nguyên trường Hà khoa canh tý) 63 , Trần-Vỹ 64 Ngô-Điền 65 và Vũ-Văn-Lý 66 đều đậu.
Đến khoa thi Hội năm nhâm dần (1842), các ông Hoàng-Đinh-Tá 67 , Phan-Đinh-Dương 68 lại đậu.
Trong số 14 người (đậu Cử nhân) mà có đến 6 người đậu Tiến sĩ. Các trường thi hương hồi gần đây ít được như thế.
Khoa nhâm dần triều Triệu-Trị, tôi đi Điển thí trường (thi Hương) Hà-Nội, kỳ hạn của trường ngặt quá, chấm quyển cả đêm ngày không được nghỉ. Có một hôm, kỳ trường ba, chấm quyển đã được hơn một nửa, tôi bị nhức đầu và mắt, lui vào phòng công để nghỉ, lưu Phó khảo họ Vương 69 lại thí viện, mờ sáng tôi tới thí viện thì rèm chưa mở.
Vương đang ngủ say, nghe tôi đến vội dậy bận áo, chưa kịp nói chuyện, ông ta đã ngảnh lại hỏi người Thể sát đứng bên cạnh rằng:
- Con chim quốc tử quy ấy đã thả ra chưa ?
Người ấy chưa kịp trả lời, tôi thấy ông ta nói thế, nhân hỏi ngang:
- Chim quốc ở đâu mà được ?
Ông ta nói:
- Ban đêm nó chạy vô trong viện bị chúng bắt được, tôi không nỡ giết nên bảo thả ra.
Tôi cười rằng:
- Không của ông cũng được như tử sản 70 đó ! Đã có lòng nhân từ, sao không tự mình thả lấy, lại để cho chúng làm thịt, còn hỏi làm gì ?
Người Thể sát khi ấy cũng mỉm cười tạ rằng:
- Tên lính không biết, nó đã làm thịt mất rồi.
Nét mặt ông Vương khí giận. Tôi nhân nói bỡn để giải hòa rằng:
- Ban đêm trong viện đèn đuốc sáng choang, lính và lại đông đúc, chim quốc vô cố vào càn, vậy là nó tự làm nó chết.
Hay là ông Nguyễn Đinh-Vũ có con em đi thi, đã bị trường ta sổ toẹt rồi chăng ? Nguyên ông Nguyễn là người Hà-Nội, trước làm Án-sát Thái-Nguyên, mình hơi gầy, người ta gọi ông là « Đỗ-Vũ » 71 . Lúc chấm quyển trường ba xong rồi, khoa này trường Hà-Nội ngạch cử nhân 23 người lặt lấy chỉ được 18 quyển đến khi phê trên dưới, tôi phê đến quyển thứ 17, còn một quyển nữa chưa hạ bút, tình cờ mắc ngảnh đi việc khác, ông Phó khảo cầm lấy dở ra xem, tôi ngảnh lại hỏi thế nào ? ông ta không nói gì, chỉ lấy mặt quyển mà bày lên trước án tôi ngồi. Nhân đó tôi dở ra xem lại, trong bài có vài câu rất không vừa ý, mới phê xuống đầu hạng Tú tài, khi đã dán phách tên họ quyển này vào thì ra quyển của Đỗ-Độ vậy. 72
Khoa bính ngọ triều Triệu-Trị (1846) tôi lại đi Điển thí trường Hà. Một hôm Giám sát là Nguyễn-Kim-Thuận nói với tôi đêm trước ông ta mộng thấy một vị quý nhân với lính hầu chừng vài mươi tên tới thi viện, tôi (Trương-quốc-Dụng) mời ngồi, lính hầu nghiêm túc. Ông Thuận có nhìn trộm người ấy thì bình nhật chưa từng quen biết. Ông có hỏi riêng người lính hầu thì bảo là Tích-Quang. Ông Thuận cũng không biết Tích-quang là người nào. Xét sử thì đời nhà Đông-Hán có Tích-quang làm Thứ sử Giao-Chỉ đem lễ nghĩa ra dạy dân. Từ Hán đến nay có hơi vài ngàn năm. Ý giả ông ta thuở xưa làm quan ở đây, có công dạy dân, nên khí thiêng hãy còn ở trong hơi tiếng chăng ?
Tỉnh Gia-Định có Tổng đốc là Nguyễn-Đức-Hoạt 73 và Bố-Chánh Nguyễn-cư-Sĩ 74 , chỉ trong một tháng lần lượt bị bệnh chết. Mới đây có Phó Lĩnh binh Đoan-Quang-Mật tới chơi, tôi hỏi về bệnh tình của Tổng đốc Nguyễn thì ông ta kể rằng:
Việc ấy cũng chẳng biết là thế nào ? Nguyên quan Tổng đốc, một hôm đi hành hạt, khi về, cưỡi voi qua trước mộ ông Lê-Văn-Duyệt có một viên hiệu bẩm rằng:
- Trước các quan sĩ đi tới đây cũng phải xuống ngựa, xếp cờ im trống.
Ông đáp:
- Ta từ khi làm Tổng đốc thì cưỡi voi và cờ trống là sự thường.
Rồi dục cứ đi. Đến khi về dinh, đêm ấy cảm bệnh, hoảng hốt không thường, cách hai hôm sau, lính nha dậy sớm thấy trong dinh có cây mộc côn cắm ở giữa sân không biết từ đâu lại.
Có người tới thưa với ông Nguyễn-Cư-Sĩ, ông Nguyễn nói:
- Nó là một kẻ có tội, làm gì được người ta nên bệnh ?
Rồi ông này cũng đổ bệnh như quan Tổng-đốc. Lại có viên ngoại lang bộ Binh là Vũ-văn-Trung kể chuyện: Có làng Thạch-Bi mua cái nhà cũ của ông Lê-văn-Duyệt, đưa về làm miếu thần, làm xong, ngày yên vị, thần ứng đồng lên rằng:
- Miếu này là nhà của bậc quý nhân trước, ta không ở được gian giữa, nhưng đã làm xong thì thờ ta ở gian phía tây cũng được.
Những câu chuyện ấy sai ngoa không đủ tin, song Lê-văn-Duyệt mới đây đã được ân xá và lục dung đến con cái, hoặc giả ở trong u minh có khí thiêng hiện ra, cũng chưa biết được. Sách Phong tục Thông 75 có nói:
- Thấy quái mà không lấy làm quái, thì quái tự mất.
Đầu đời Gia-Long có Trấn thủ Hải-Dương là Nguyễn-Văn-Án 76 phá tháp ở Đồ-Sơn để lấy gạch đá làm dinh (tự nhiên) có một vật hình như tấm lụa trắng từ trong tháp bay ra. Được hơn một tháng, Nguyễn cảm bệnh, trong dinh thường hiện quái, có khi ban đêm ở trên nóc nhà thấy phảng phất có ánh sáng. Bọn liêu tá cũng sợ, muốn cầu đảo, có người đem việc đó nói với ông, ông không nghe. Một đêm, ông đang đắp chăn nằm nghe đàng góc nhà có tiếng dế dần dần đi tới giường, ông lặng rinh thì bỗng chốc có một vật hình như người đè trên mình ông, vội cuốn chăn bọc lấy được, vật ấy dần dần rút lại bằng cánh tay, ông đánh chết ngay, dở ra xem thì là một con chuột bạch, lấy lửa đốt đi, quái mới tuyệt. Bệnh rồi cũng khỏi.
Đầu đời Minh-Mệnh, tỉnh Hanoi có Cử nhân là Trương Mạn 77 đi thi Hội qua huyện Quỳnh-Lưu Nghệ An thấy giữa đường có sáu bảy bô lão cầm hương sáp lại đón rước. Ông ta lấy làm lạ, hỏi việc gì thì họ đáp rằng: Làng chúng tôi cách đây có hơn 10 dặm, đêm qua có vài người trưởng lão trong làng cùng mộng thấy: người làng đang hội họp, cả kẻ chết lẫn người sống. Họ rủ nhau đi rước thần Thành hoàng, hỏi thần ở đâu tới thì họ đáp là: sớm mai có ông Cử Trương Mạn đi thi Hội có qua đây ; ấy là vị thần Thành Hoàng của làng ta, và kể cả hình dáng dáng nên chúng tôi tới đây đón rước ngài. Nhân mời về làng. Ông không nghe. Họ bèn làm xôi gà mời ông rất thành kính. Ông chối không được phải thọ hưởng mà đi. Việc ấy cũng chẳng biết được cớ gì.