Thối Thực Ký Văn

Lượt đọc: 398 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG II: TẠP SỰ

Con Trịnh-Kiểm là Cối chính thị trưởng nam, đã nắm binh quyền của cha, sau bị em là Tùng cướp lấy. Đó là cũng có ý trời vì mẹ Tùng là con gái của Triệu-Tổ-Tĩnh Hoàng đế (Nguyễn-Kim). Buổi Thái-Tổ Gia-Dụ Hoàng đế (Nguyễn-Hoàng) khai cơ ở Thuận-Hóa, Tùng tuy có lòng ghen ghét mà còn có ý sợ, kịp khi vương nghiệp đã định, họ Trịnh không thể thả mưu kế gì được nữa:

- Cái gì ra tự mầy sẽ trở lại với mầy. Nhà Trần nhờ đàn bà mà được thiên hạ sau cũng vì đàn bà mà mất thiên hạ.

Vua Lê-Thái-Tổ lúc đầu mượn danh hiệu Trần-Cao, đến buổi nhà Lê trung suy, giặc cỏ tên là Trần-Cao gây mối họa.

Người đời Nguyên có câu:

- Được thiên hạ ở đứa con trẻ, đến khi mất cũng ở đứa con trẻ, còn phàn nàn gì.

Tuy là lời nói chơi, nhưng tóm lại thì đạo trời vay trả có như thế. Nước Nam ta từ khi có vua chúa đến nay chỉ có Bản triều (Nguyễn) được nước là rất chính đáng. Đang hồi nhà Lê trung tuy, Triệu-Tổ rước vua Trang-Tông về làm vua. Đến khi đức Thái-Tổ Gia-Dụ dựng nước ở Thuận-Hóa, dành công chứa nhân được hai trăm năm, họ Trịnh tuy liếm mép ở cái vạc Lê mà không dám động. Nếu không thế thì tôi Lê mà đời không đợi đến anh em Nguyễn-Huệ. Kịp khi họ Lê đã bị Tây-Sơn diệt, Thế-Tổ-Cao-Hoàng đế (Gia-Long) bèn dẹp loạn lấy lại chính thống, trời cho, người theo, chẳng những nước Nam ta từ Lê về trước không được như vậy mà nước Tầu từ Hán về sau cũng không ai kịp.

Đứa tiểu nhân không biết mệnh trời nên nó không sợ. Trịnh-Sâm giết Thái tử nhà Lê là Duy-Vỹ, bấy giờ giữa ban ngày mà tối đen. Gương trời không xa như thế, loạn thần tặc tử sao chẳng sợ thay ! (Người ta nói rằng con Sâm là Cán, trạng mạo giống Duy-Vỹ).

Ngược chính của Tây-Sơn bị Quốc triều ta khu trừ đi được, nhưng nó sở dĩ buông cái độc ra là vì Nguyễn-Chỉnh bày đường. Anh em Nhạc Huệ tuy kiệt hiệt, nhưng chưa biết hư thực phía bắc thế nào cả. Chỉnh tự nghĩ tài của mình không được thi thố ở cố quốc nên bỏ vào theo Tây-Sơn khuyên đánh Trịnh.

Họ bảo Chỉnh:

- Nhân tài của đại quốc có nhiều người, dễ khinh động đâu được.

Chỉnh đáp:

- Phía Bắc chỉ có một mình Chỉnh tôi thì đã tới đây rồi, ngoài ra đều không đủ sợ.

Họ rằng:

- Không sợ ai cả, chỉ sợ ông, thì sao ?

Chỉnh nghe nói thì thất sắc nhưng sau cũng vì họ đem sức ra trừ nhà Trịnh. Chỉnh đã không biết chọn chỗ đậu, chịu dưới cánh họ ôm ấp, sau tuy gia tiếng phù Lê để tự lập, làm cừu địch với họ mà có thể được ru. Mới biết cuộc đời khi sắp trị thì trời sinh ra vua thánh tôi hiền để mở vận thái cho thiên hạ ; khi sắp loạn thì lại sinh bọn hung tợn giảo hoạt để un khói biển trong nước. Dầu là việc người mà cũng là khí hóa của trời nữa.

Huệ ra đánh bắc, giả xưng quốc tính (Nguyễn) mượn tiếng phù Lê. Bấy giờ người ta đang chán họ Trịnh tiếm bức. Khi tờ biên thư 78 đến dân Nghệ-An ngày đêm trông mong rằng: « Chúa cũ của ta đã tới ». Quân lịnh của họ cũng nghiêm chỉnh, của dân tơ hào không phạm, ai cũng tin theo.

(Chúa Trịnh) phát binh chống cự thì dân nói:

- Sao mà chống với chúa cũ ta.

Rồi họ trì hồi không đi.

Đến khi mộ lính, ai không về phe đảng họ Trịnh thì không đi, nên Huệ, Chỉnh đánh một tiếng trống như vào chỗ không người. Đến khi Nhạc ra, quốc dân mới biết họ lừa dối. « Trong nước có đánh nhau rồi sau người ngoài mới đánh ». Chính là thế đó.

Huệ xin được vào triều cống ở Tầu rồi, bèn sai Chấn 79 thay mặt cho mình, đó là do Phúc-Khang-An bày đường. Khi đã đến Yên-Kinh vào yết vua, vua cho một bài thơ để tỏ lòng yêu. Khi Huệ chết, vua Thanh sai sứ sang điếu tế, con Huệ là Trát 80 lại sai đầy tớ giả làm tang chủ đem sứ giả đến trước mộ một cung phi họ Trịnh tuyên đọc và tế. Những việc làm cũng khá buồn cười, nhưng xem như Đại thần nhà Thanh đã nói: biết dối mà cũng để chịu. Thì không những một anh Phúc-Khang-An bày ra.

Huệ giết Vũ-văn-Nhâm. Nhâm tự nói vô tội. Huệ bảo:

- Không cần tội trạng, chỉ vì tài mày hơn ta, không thể cho sống được.

Nhâm bèn than rằng:

- Ta diệt nước người, phá nhà người, chết có thừa tội, dám oán gì nữa.

Xưa Ngụy-Hác-Chiêu bảo con rằng:

- Ta từng làm tướng mới biết tướng không nên làm. Ta mấy lần bới mả người để lấy gỗ làm quân khí. Sau khi ta chết, nên táng lạo thảo cho mau tiêu, chớ dùng quan quách.

Đại loại cũng như việc trên. Nhưng mà Tào Tháo làm 70 cái mồ mả mà thây của… sau cùng bị người ta phá tan, có trốn đâu được !

Lê-Chất nhậm chức tổng trấn Bắc thành tới từ biệt Lê-văn-Duyệt và rằng:

- Bộ hạ ngài có ai hiểu việc, cho tôi xin một người.

Duyệt sai Bạch-Xuân-Nguyên đi và nói với Chất rằng:

- Nó là người rất biết việc, nhưng sai bảo được thì dùng không được thì giết đi, chớ tiếc.

Như Bạch-Xuân-Nguyên khi ở Phiên-An (Gia-định) bọn giặc Khôi vốn làm tôi tớ Lê-văn-Duyệt, Bạch xử với họ nóng nảy quá mới chọc lòng giận của họ ra, không những thân của Bạch bị chết mà còn làm phiền binh lực của triều đình đến mấy năm mới yên. Cho nên có câu: « Loạn là do lời nói gây nên ».

Trước vài ngày, Khôi làm loạn có Cai đội Đỗ-văn-Thanh biết chuyện bèn trình với Tổng đốc Nguyễn-văn-Quế. Quế nói lại với bố chánh Bạch-xuân-Nguyên. Bạch rằng:

- Chẳng qua loài chuột nói phét thôi, chớ làm gì được.

Đã không để ý phòng bị, lại nói với người ta rằng:

- Đỗ-văn-Thanh nói Khôi muốn giết ta, hãy để mặc nó, xem có làm gì được ta.

Đến khi giặc đã vào thành tìm bắt Đỗ-văn-Thanh giết trước.

Năm Quý tị triều Minh-Mệnh (1833) trung tuần tháng năm trong thành tỉnh Định-Tường 81 một đêm trông thấy ở phía đông bắc tự nhiên trên trời sứt ra một lỗ, trong có ánh sáng như lửa bốc lên, một chốc rồi mất. Đến ngày 18, tỉnh Phiên-An xẩy ra loạn Lê-văn-Khôi.

Tháng 10 năm quý tị, tôi đang tại quân thứ tỉnh Gia-định mỗi đêm vào khoảng giữa canh hai và canh ba nghe bốn tiếng đại bác, đến canh tư mới thôi. Thường trong quân đội ban đêm không bắn đại bác bao giờ, nên lấy làm nghi. Như vậy đã đến bốn năm đêm. Sau cùng cho là đại bác của quân đội bắn để thị uy không để ý nữa. Một hôm tôi từ Saigon đi đêm về qua góc tây nam ngoài thành, là chỗ quân tấn của Thái-Công-Triều 82 , đóng, ông mời tôi vào nghỉ tạm, đang ngồi nói chuyện nghe tiếng điểu thương hơn 100 phát bắn đều một loạt.

Tôi nhân hỏi:

- Đêm khuya có việc gì mà trong quân cũng bắn như thế ?

Thái đáp:

- Đó là ma ở ngoài đồng tập trận, bốn năm đêm nay, cả đại bác và tập hỏa trận nữa nay đến kỳ của nó.

Đồng ấy là nơi đồn quân của Thái, tôi với các người khác ra xem quả thấy lửa sáng ở trên đồng. Có lẽ là chỗ chiến trường xưa vậy.

Truyền (Luận Ngữ) có câu:

- Làm việc mà sợ, hay nghe người ta bày mưu mà thành.

Ở sách Nam Sử, Trầm-Khánh-Chi có nói:

- Nghề cày nên hỏi đứa ở trai, nghề dệt nên hỏi đứa ở gái.

Bình-Thành-Bá 83 với Tân-Long-Hầu 84 đem binh đi hạn ngữ giặc Tiêm. Bấy giờ ý kiến các tướng không đồng, chia quân ra thì không đầy ngàn người. Bình-Thành-Bá bèn mời Thái-Công-Triều tới hỏi kế.

Thái nói:

- Quân giặc tới đây gấp, quân cứu viện của ta đang còn hoãn, không đầy vài ba ngày đây những tỉnh Nam-Vang, Hà-Tiên, Châu-Đốc phải thất thủ, như vậy tiến quân lên cũng không kịp nữa. Nay phải đi, gấp giữ lấy Thuận-Cảng cho mau, giặc dần đông cũng không dám thẳng tới Tiền-Giang 85 , phải theo Hậu-Giang 86 do Thuận-Cảng 87 mà lại. Ta chiếm trước chỗ hiểm ấy thì nó không thể tung hoành được, cũng là một chước kỳ để thắng trận. Nếu không thì hãy đợi đại binh, hợp lại mà đánh mới được vạn toàn, nếu để họ vượt Thuận-Cảng mà qua chiến sà của mình thì dân Vĩnh-Long, Định-Tường chưa quen đánh trận, lòng người dao động khó thể cậy nhờ.

Ngày 28 tháng 11, hai ông Tham tán phát quân đi, qua Định-Tường đã nghe Nam-Vang, Hà-Tiên kế tiếp thất thủ. Nguyễn-Xuân muốn đợi mộ lính Vĩnh-Long thêm vào, nhưng Bình-Thành-Bá không nghe, dục đi gấp đến Tân-Thành 88 , nghe Châu-Đốc cũng thất thủ. Bọn ông Đặng-Văn-Minh 89 chạy đến quân thứ, Bình-Thành-Bá cấm không được nói sự trạng của giặc cho nên quân ta đều không biết giặc khó hay dễ. Sớm mồng bốn tháng chạp đi đến tấn Chưởng-Lễ, sai người dò thám cửa Thuận-Cảng thì hai bên bờ đều là lũy không, mới biết ban đêm giặc tới đắp lũy đến gần sáng lại về. Bèn tiến quân lên. Khoảng giờ thân giờ vị đến cửa (Thuận-Cảng), thuyền giặc đã chặn trong cửa, quân ta với họ tranh nhau lấy thượng lưu. Thuận-Cảng là đường sông nhánh Tiền-Giang chảy vào Hậu-Giang, chính giữa ngã sông, cát bồi cạn, thuyền không tới được, quan quân theo bờ phía bắc, thuyền giặc theo bờ phía nam cùng đi ngược lên, quân ta đã hẹn, nghe hiệu trống mới được giáp trận. Vừa gặp gió đông thổi mạnh quân ta có chiếc thuyền đi biển, bị tạt vào bãi cát, chống cạy không ra, giặc đưa thuyền con xúm lại toan cướp, người trong thuyền gấp quá không đợi hiệu trống liền mở đại bác bắn trúng tướng Tiền phong là Liêm-Cầm-Hen. Giặc có ý nùng, quân ta thừa thế mới thắng được, giặc phải lui vào trong cửa. Đêm đến khoảng canh tư, ta ngầm đem quân đánh úp, đạn bắn vào dinh, giặc mới biết. Trận ấy cả phá được, bắt đầu nhức tiếng. Cho nên trận sau kỳ tháng chạp, quân ta tuy thua vỡ mà giặc cũng không dám tiến vội.

Tháng chạp, Vĩnh-Thuận-Hầu Tống-Phúc-Lương 90 đã đến, lại cùng với giặc đánh nhau ở Thuận-Cảng, quan Tả tướng hẹn đến canh ba bầy trận hết thảy, đến nửa canh tư nghe hiệu thì tiến lên. Gần sáng chưa nghe hiệu, quan quân bày trận ở phía đông, giặc bày phía tây, bỗng chốc có sao sa hiện ra ở phía giặc, to bằng nón dấu, sắc đỏ chói, bay qua phía quân ta rồi mất. Rạng ngày các tướng giáp chiến đến trưa thì quân ta tan vỡ. Hôm ấy sắc mặt trời có ánh tía, buổi chiều đến sông Cổ-Hộ, ông Tống đã đem lính của mình và đội lính Trung-Bảo đi trước. Các toán quân tan vỡ không thống thuộc vào đâu cũng đều theo ông. Dân hai bên bờ sông chạy giặc van khóc như ri. Bình-Thành-Bá sai người đuổi theo ngăn Tân-Long-Hầu và Thống chế Trần-văn-Trí lại. Khi ấy các toán mới trở về, sắp xếp đội ngũ lại, đến canh năm mới xong.

Quan quân đã giữ được con sông Cổ-Hộ đến 16 giặc lại tới, 18 và 19 họ hội lại đông, thách đánh, trước sau được vài mươi Lợp, quân ta không được nghỉ. Ngày 20, thấy giặc im lặng đến chiều. Lính tuần tiễu có bắt được một cây chuối nổi giữa sông, quân ta bèn thâu góp hết thảy các thuyền đóng lại ở bờ sông. Đến canh năm thấy giặc phóng một bè lửa lên ngất trời, bên ta đem thuyền chiến nối nhau thành thử giữa sông không có lấy một mái chèo giặc đành chịu phép, bị quan quân giáp trận lại đánh thua to. Nhưng họ còn cậy quân đông cầm cự, khi đánh khi nghỉ. Đến ngày 24 đầu canh một, ở giữa trời từ hướng tí ngọ về tây, thì mây đen sì, từ hướng tí ngọ về đông thì sao sáng quắc, giữa chia một đường thẳng như giây. Thái-công-Triều nói: « Đêm nay giặc trốn ». Rồi mà quả như thế.

Quan quân đuổi giặc đến Phủ-Lật (Pursat) đánh liên tiếp vài ngày, quân lính bị đau nhiều, sự vận tải lại không tiếp tế, lửa bếp lạnh tanh, số lương chỉ còn vài ngày, lính và lại đều muốn về. Tân-Long Hầu cũng cho là phải. Trái lại Bình-Thành Hầu và Trương-Phúc-Dĩnh 91 không cho. Ngày hôm sau vừa quân vận tải tới mới có số lương ăn ba ngày. Lại sáng hôm sau nữa, trong dinh bỗng có trận gió thổi vụt lên, những đồ cờ sí đều bị gió cuốn ra ngoài dinh hơn một trượng, mà cỏ cây thì không động. Một chốc lính tuần tiễu vào báo có giặc. Bình-Thành-Hầu sai trong dinh xếp những đồ cờ quạt nghi trượng lại, và sai hơn một trăm người giả làm lính Mọi vừa đánh vừa lui để lừa giặc. Khi đã vào dinh, giặc bọc bốn mặt. Đợi họ tới gần quan quân xổ ra đánh, trong dinh hò reo giặc bèn thua vỡ trốn mất, không dám lại nữa.

Họ Hồ mất nước, người Minh thu sổ đinh của ta được số dân 320 vạn. Quốc-triều ta mở bờ cõi rất rộng, sau khi đại định rồi, dân được nghỉ ngơi sinh nở đã hơn 30 năm, đến năm Minh-Mệnh thứ 13 (1832) chia đặt tỉnh hạt: sổ đinh được 81 vạn người. Lấy thổ địa cuối đời Trần so với đời nay mới được hơn một nửa mà số đinh thì gấp ba, khả kiến đời bấy giờ chính trị hà khắc, thuế má nặng nề lắm. Nhưng cái tệ tăng láo số đinh từ đời Tây-Hán đã có, Khảo Tùy-Sử sau khi nam bắc phân tranh, gươm dao đâm chém xong mà khoảng năm Khai-Hoang 92 , Đại-Nghiệp 93 số đinh 870 vạn. Đến đời Đường khoảng năm Vũ-Đức 94 , Trinh-Quán 95 rất thịnh. Hai vua hết sức thi hành nhân nghĩa hơn 30 năm đến đầu niên hiệu Vĩnh Huy 96 số đinh có 380 vạn. Thế mà nói đến sự thịnh-trị, không ai khen nhà Tùy mà chê nhà Đường cả. Mới biết đời xưa gọi rằng dân đông không phải là gọi cái hư số do bọn tục lại viết láo vậy.

Năm bính-thân triều Minh-Mệnh (1836) có thuyền của sứ giả nước Ma-Ly-Căn (Malacca) đến Phú-Yên xin thông khoản 97 . Các đình thần đang ngồi ở tả vu nói với nhau rằng:

- Nó là một miếng thịt thừa ở ngoại quốc điều nó xin không nên nhận.

Một chốc có chỉ vua đòi hỏi có nên nhận hay không, thì có một người tâu trước rằng:

- Nó có lòng thành muôn dặm tới đây, há nỡ cự tuyệt.

Ông Hoàng Quỳnh bèn đem câu chuyện khi nãy tâu với vua.

Đời Trần có Đào-Sư-Tích ở huyện Nam Chân (Nam-định) đi thi Hội, khi mới ra khỏi cửa gặp một người con gái. Tục nước ta cho là khi bắt đầu ra đi mà gặp gái là sự không lợi. Ông Đào nhổ nước miếng.

Người con gái rằng:

- Việc ông đi thi với tôi không can hệ gì, nhưng nữ và tử là chữ hảo là tốt, ông rồi chắc đậu Tiến sĩ.

Ông Đào rằng:

- Tiến-sĩ đã lấy chi làm vừa ý.

Người con gái rằng:

- Không vừa ý thì Trạng nguyên vậy.

Ông Đào rằng:

- Được.

Khoa ấy quả đậu Trạng. Trời bấy giờ văn học thịnh hành, đàn bà con gái cũng biết giải đoán như thế. (Ông Đào từ thi Hương đến thi Đình đều đứng thứ nhất).

Vua Lê-Thánh-Tông ham chuộng văn-học, tự làm Đô nguyên súy Tao Đàn, lựa 28 quan văn để phòng khi cố vấn và họa thơ. Có:

- Thân-Nhân-Trung 98 làm Thừa chỉ viện Hàn-Lâm. Đại-học sĩ tòa Đông-Các, kiêm Tế tửu.

- Đỗ-Nhuận 99 làm thị độc Hàn-Lâm, Đại học sĩ Đông-Các cùng làm Phó nguyên-súy (Hai người ấy đều đậu Tiến-sĩ sau trải làm Thượng-thư. Thân sung chức Nhập nội phụ chính).

- Ngô-Luân 100 , Hiệu thư Đông-Các (đậu Tiến sĩ sau làm quan đến Thượng thư kiêm Đại học sĩ Đông-Các).

- Ngô-Hoán 101 (đậu Bảng nhãn, sau làm quan đến Thượng thư).

- Nguyễn Trọng-Ý 102 , Thị-độc coi cả viện Hàn-Lâm (Tiến sĩ, sau kiêm Thị lang bộ Lễ).

- Lưu-Hương-Hiếu 103 , Thị độc tham coi cả viện Hàn-Lâm (Bảng Nhãn, sau làm quan đến Thượng thư ; kiêm Đại học sĩ Đông-Các, coi cả viện Hàn Lâm).

- Nguyễn-Quang-Bật 104 Thị thư Hàn-Lâm (Trạng nguyên, sau làm đến Đô ngự sử vì không theo (Lê) Uy-Mục mà bị giết).

- Nguyễn-Đức-Huấn 105 (Bảng nhãn, sau làm quan đến Thượng-thư).

- Vũ-Dương 106 (Trạng nguyên sau làm đến Thượng thư).

- Ngô-Thầm 107 (em Ngô Luân, đậu Bảng nhãn).

- Ngô-văn-Cảnh 108 , Thị chế Hàn-Lâm (Hoàng giáp, sau làm đến Hiến sát sứ).

- Phạm-trí Khiêm 109 (Hoàng giáp, sau làm đến Hiệu thư Đông Các).

- Lưu-Thư-Ngạn 110 (Thám hoa).

- Nguyễn Nhân-Bị 111 , Hiệu Lý Hàn-Lâm (anh Nguyễn-Trọng-Ý, Tiến sĩ sau làm đến Thượng thư).

- Nguyễn-Tôn-Miệt 112 (Tiến sĩ, sau làm đến Thị thư Hàn-Lâm).

- Ngô-Hoan 113 (Hoàng giáp, sau làm đến Đô ngự sử).

- Nguyễn-Bảo-Khuê 114 (Hoàng giáp, sau làm đến Thị lang, Đô đình úy).

- Bùi-Phổ 115 (Hoàng-giáp).

- Dương-Trực-Nguyên 116 (Hoàng giáp, sau làm đến Đô ngự sử).

- Nguyễn-Hoãn 117 (Hoàng giáp).

- Phạm-Cẩn-Trực 118 Hiệu thảo viện Hàn-Lâm (Tiến sĩ).

- Nguyễn-Ích-Tốn 119 (Tiến sĩ, sau làm đến Thị lang).

- Đỗ-Thuần-Thứ và Đoàn-Huệ Nhu 120 (đều đậu Tiến sĩ, sau làm đến Thừa chính sứ).

- Lưu-Dịch 121 (Tiến-sĩ).

- Đàm-Thận-Huy 122 (Tiến sĩ, trải làm đến Thượng thư bộ Lễ, coi Tú-Lâm cục ở Chiên-Văn-Quán kiêm Thị đốc coi cả viện Hàn-Lâm, hầu vua giảng sách tước Lâm-Xuyên-Bá. Họ Mạc tiếm ngôi, khởi binh đánh không nổi, uống thuốc độc chết).

- Phạm Đạo-Phù 123 Tiến sĩ, sau làm đến Thị-lang.

- Chu-Huân 124 (Tiến sĩ, sau làm đến Thừa chính sứ) gọi là 28 ngôi sao ở Tao-Đàn.

- Lại có hai người phu quét dọn (sái phu) ở Tao-Đàn là Lương-Thế-Vinh 125 và Thái Thuận. 126

Nhà Lê mở khoa Tiến sĩ có 400 năm, từ thi Hương đến thi Đình đều đứng thứ nhất, có 4 người:

- Phạm-Đôn-Lễ 127 đậu khoa tân sửu năm Hồng-Đức thứ 12 (1481).

- Vũ-Dương 128 đậu khoa quý sửu năm Hồng-Đức thứ 24 (1493) đều đậu Trạng nguyên.

- Nguyễn-Đăng 129 đậu Hoàng-giáp khoa nhâm dần năm Hoằng-Định thứ 3 (1693).

- Lê-Quý Đôn đậu Bảng nhãn khoa nhâm thân năm Cảnh-Hưng thứ 13 (1752). Quý-Đôn là con Thượng thư Lê-Trọng-Thứ 130 đậu Tiến sĩ khoa giáp thìn năm Bảo-Thái (1724). Dương làm quan đến Thượng thư, Đôn-Lễ-Đăng và Quý-Đôn đều làm đến Thị lang.

Thi ở điện không đậu cập đệ 131 từ về, rồi sau lại đậu, có ba người:

- Trịnh-Thiết-Trường 132 và Nguyễn-Nguyên-Chẩn 133 đều đậu Đồng tiến sĩ khoa nhâm tuất năm Đại-bảo thứ 3 (1443) chối từ không nhận, đến khoa Mậu thìn năm Đại-Hòa thứ 6 (1448) lại đều đậu.

- Nguyễn-Nhân-Bị đậu Đồng tiến sĩ khoa bính-tuất năm Quang-thuận thứ 7 (1466), chối từ không nhận, sau lại đậu khoa tân sửu năm Hồng-Đức thứ 12 (1481). Thiết-Trường (thi lại, đậu) Bảng nhãn quan, đến Thị lang, còn hai người kia đều lại đậu Đồng tiến sĩ: Nguyên-Chẩn quan đến Trực-học sĩ viện Khu-Mật, còn Nhân Bị quan đến Thượng-thư.

Cha con đậu đồng khoa có bốn người: Ngô-Trí-Tri 134 và con là Trí-Hòa đều đậu khoa nhâm thìn năm Quang-Hưng thứ 15 (1592). Cha làm đến Giám sát ngự sử, con đến Thượng-thư, tặng tước quận công. Nhà ấy cha con ông cháu nối nhau đỗ-đạt đến 5 người ; Nguyễn-Bình 135 và con là Tài-Toán đều đậu khoa mậu thìn năm Vĩnh-Tộ thứ 10 (1628). Cha làm đến Thượng thư, con đến Thị lang.

Anh em ruột đậu đồng khoa có 28 người:

- Nguyễn-Trinh và em là Tư-Phúc (người Lập-Thạch (Sơn-Tây) ; Nguyễn-Dương-Hiến và em là Tịnh (người Kim-Anh 136 (Bắc-Ninh). Cả 4 người đều đậu khoa tân vị năm Hồng-Đức thứ 6 (1475). Nguyễn-Trinh làm đến Thượng-thư, Tư-Phúc thì Tham-chính, Tịnh làm Đô-cấp sư trung.

- Đặng-Minh-Khiêm 137 và em là Minh-Tán đều đậu khoa đinh vị năm Hồng-Đức thứ 18 (1487), anh sau làm đến Thượng-thư, em Thị-Lang. Họ là dòng dõi Đặng-Tất. Các ông Công Thiếp, Tòng-Củ, Thận, Điềm, Đôn-Phục 138 đều là người họ ấy cả.

- Nguyễn-Huân 139 và em là Kính đều đậu khoa bính thìn năm Hồng-Đức thứ 27 (1496) ; Lê-Tán-Tương 140 và em là Tán-Thiện đều đậu khoa kỷ tỵ năm Cảnh-Thống thứ 2 (1499). Riêng Huân đậu Bảng nhãn. Anh em hai nhà ấy đều làm đến Thượng thư.

- Lê-Khắc Nhượng và em là Đinh-Vệ (người Nông-Cống Thanh-Hóa) ; Lê-Bá-Giác và em là Trọng-Bích (người Thụy-Nguyên Thanh-Hóa) cả bốn người đều đậu khoa mậu thìn năm Đoan-Khánh thứ 4 (1508). Khắc-Nhượng làm đến Thị-Lang, em làm Đại học sĩ tòa Đông Các.

- Nguyễn-Tào 141 và em là Hòa-Trung đều đậu khoa mậu dần năm Quang-Thiệu thứ 3 (1518). Người sau làm đến Thị-lang.

- Ngô-Ước 142 và em là Hoành đều đậu khoa binh tuất năm Thống-Nguyên thứ 5 (1526). Người sau làm đến Hiến sát sứ.

- Nguyễn-Đăng Kiêu 143 và em là Đặng-Minh đều đậu khoa bính tuất năm Phúc Thái thứ 4 (1647) anh đậu Thám hoa quan đến Đại học sĩ tòa Đông-Các, còn em đến Tế tửu. Nhà nầy cha con anh em nối nhau đậu đạt đến 4 người.

- Nguyễn-Quê 144 và em là đều đậu khoa canh tuất năm Cảnh-Trị thứ 8, anh làm đến Thị lang, em đến Giám sát ngự sử là chắt Thượng thư Tham tụng Nguyễn-Thực đậu Tiến sĩ khoa ất vị năm Quang-Hưng (1595) và là cháu Thượng thư Tham tụng Nguyễn-Nghi đậu Tiến sĩ khoa kỷ vị năm Hoằng-Định (1619). Nhà nầy nối nhau đậu đạt đến 6 người.

- Trần-Danh Ninh 145 và em là Lâm đều đậu khoa tân hợi năm Vĩnh-Khánh thứ 3 (1731), cả hai đều làm quan đến Thượng thư và là con Tham chính Trần-Phụ-Dực đậu Tiến sĩ khoa quý hợi năm Chính-Hòa (1683). Con Lâm là (Trần-Danh) Án, cũng đậu Tiến sĩ khoa đinh vị năm Chiêu-Thông (1787) nổi tiếng tiết nghĩa.

- Lê-Đăng-Sĩ 146 và em là Bang đều đậu khoa bính thìn năm Vĩnh-Hữu thứ 2 (1736) cả hai đều làm đến học sĩ.

- Dương-Ưởng 147 và em là Trọng Khiêm đều đậu khoa giáp tuất năm Cảnh-Hưng thứ 15 (1754). Người anh làm đến Thị lang.

Chú cháu đậu đồng khoa có 6 người:

- Nguyễn-Lệ 148 và cháu là Thù đều đậu khoa đinh sửu năm Hồng-Đức (1487). Sau chú làm đến Thị lang, cháu thì Tham chính.

- Vũ-Cầu-Hối 149 và cháu là Bật-Hài đều đậu khoa kỷ hợi năm Vĩnh-Thọ thứ 2 (1959). Chú làm đến Tham chính, cháu thì Thượng thư. Nhà nầy nối nhau đậu đạt có 6 người.

- Vũ-Huyên 150 và cháu là Huy đều đậu khoa nhâm thìn năm Vĩnh-Thịnh thứ 8 (1712). Chú làm đếu Hiệu thư, cháu thì Thị lang. Một điều kỳ tuyệt hơn cả là trong tất cả các khoa thi, chỉ có khoa nhâm thìn năm Quang-Hưng (1592) số người đậu có 3 mà cha con (Ngô) Trí-Tri đã chiếm đi hai rồi. 151

Lại có một nhà 10 người gồm cả cha con anh em, chú cháu kế tiếp thi đậu, là Họ Nguyễn xã Kim-Đôi: 5 anh em là Nhân-Bị, Trọng-Ý, Nhân-Thiếp, Nhân-Dư, Nhân-Dịch .

- Nhân-Thiếp đậu khoa bính tuất năm Quang-Thuận thứ 7 (1465).

- Trọng Ý đậu khóa kỷ sửu năm Quang Thuận thứ 10 (1469).

- Nhân-Dư đậu khoa nhâm thìn năm Hồng-Đức thứ 3 (1472).

- Nhân-Dịch đậu khoa ất vị năm Hồng-Đức thứ 6 (1475). (Hai người sau này đều Đồng tiến sĩ).

- Nhân-Bị đã cùng em là Nhân-Thiếp đều đậu Đồng tiến sĩ khoa bính tuất, nhưng Bị từ không chịu nhận, đến khoa tân sửu năm Hồng-Đức thứ 12 (1481) lại đậu.

- Đến khoa canh tuất năm Hồng-Đức thứ 21, con Nhân-Thiếp Hoành-Khoản đậu Đồng tiến sĩ (1490).

- Khoa bính thìn năm Hồng-Đức thứ 21 (1496) con Trọng-Ý Đạo-Diễn , cháu gọi bằng chú là Củng-Thuận lại cùng với con Nhân-Thiếp Huân, Kính đều đậu đồng tiến sĩ, riêng Huân đậu Bảng-nhãn.

- Dịch sau rồi làm quan đến Hiệu thảo viện Hàn-Lâm.

- Nhân-Dự , Đạo-Diễn đều làm Án sát ; Trọng-Ý, Củng-Thuận làm Thị lang.

- Nhân-Bị , Nhân-Thiếp, Huân, Kính đều làm Thượng thư.

- Nhân-Bị Trọng-Ý thì được dự vào Tao-Đàn.

Một nhà 4 người gồm cả cha con anh em ông cháu kế thế thi đậu là: Thân-Nhân Trung đậu Đồng tiến sĩ khoa kỷ sửu năm Quang-Thuận thứ 10 (1469) quan đến Thượng thư Đại học sĩ, Phu-chính, Phó Nguyên súy Tao-Đàn là danh thần một một đời. Con là Nhân-Vũ đậu Đồng tiến sĩ khoa tân sửu năm Hồng Đức 12 (1481) (Vua Thánh-Tông có câu thơ rằng: 兩申父子佩恩榮 nghĩa là: Họ Thân vinh hiển cả cha con) ; Cháu là Cảnh-Vân đậu Thám hoa khoa đinh vị năm Hồng-Đức thứ 21 (1487) ; Cha Cảnh-Vân là Nhân-Tín đậu Đồng tiến sĩ năm Hồng-Đức thứ 21 (1490). Gặp được vua Lê-Thánh-Tông, thời bình chúa thánh, hai nhà ấy cha con, anh em, chú cháu, ông cháu liên tiếp thi đậu, quý hiển ở triều đình, trên đời cũng ít có.

(Từ đời Hồng-Đức về trước, ban áo mão Tiến sĩ: nhất nhị giáp thì mũ « phốc đầu lương cân » hai bên có hai cái tai, tam giáp cũng mũ ấy mà không có tai chỉ phía sau có dải bỏ xuống. Học trò bấy giờ chê nhau, có câu « Dốt có đuôi » cho nên người đậu Tam giáp hay từ chối. Vua Thánh-Tông biết được chuyện ấy, mới cho bỏ cái dải sau. Nay ở Bắc-Kỳ còn có câu ấy. Lại lúc trước, khi các ông « Tiến sĩ mới » đi du nhai, có lịnh bắt người đậu cuối bảng phải dắt ngựa cho Trạng nguyên. Sau có người đập đầu vào cửa điện mà chết, mới bỏ lịnh ấy).

Cách thức phép thi triều Lý nay không thể khảo được. Sử chép phép thi đời Trần năm Hưng-Long khoa giáp thìn (1304) thì đầu tiên viết ám tả sách thư truyện, rồi đến hỏi kinh nghi, kinh nghĩa ; trường nhị ra đề một bài thơ, một bài phú ; trường ba một bài tứ lục ; trường tư bài sách vấn thể lệ rất nghiêm mật. Phép thi đầu đời Lê cũng chia làm bốn trường, hai kinh nghĩa thì trước hết phải chỉ chính văn của đầu bài ra ở sách nào, kế phải dẫn bài chú, sau mới dùng lời nói của mình phô diễn ra để cho đủ ý, đại lược cũng như thể chú luận, lời nói phải binh hòa không đẽo gọt quá. Buổi Trung hưng (Hậu-Lê) về sau, kinh nghĩa dần dần biến ra những câu sáo giản lược ; thơ dùng luật Đường, phú dùng 8 vần, ban đầu hay trau chuốt hoa lệ như các bài phú Ngư phủ nhập đào nguyên 漁夫入桃源Nghiện trí ngưu 硯池牛, v.v… Về sau chỉ dùng điển tích các sách thường, nhưng không phải những người thông thuộc nghĩa sách thì không làm được, như bài phú Trượng trung tín, Yên nghĩa mệnh 仗中信安義命 có câu: 臣之忠日照月臨,卓爾險夷一致, 君之命朝夕赴坦然聞讒謗白端. « Thần chí trung nhật chiếu nguyệt lâm, trác nhĩ hiểm di nhất trí ; Quân chỉ mệnh triêu văn tịch phó, thản nhiên sàm báng bách đoan » . Dịch là: « Tôi có lòng ngay, bóng dương tỏ, bóng nguyệt lại soi, bằng hẻm một đường đều thẳng bước ; Vua có mệnh lệnh, buổi mai nghe buổi hôm phải tới, dèm pha trăm miệng cũng ngoài tai » .

Bài phú Thần-tiên Hoàng-Bạch có câu:

使天下可無常道吐納屈伸丹

藥符籙聖人豈肯怠於修爲

即衆人皆可以仙飲食衣服

室舟車從古亦何勞於創造

« Sử thiên hạ khả vô thường đạo, thổ nạp khuất thân đan dược phù lục, thánh nhân khỉ khẳng đọa ư tu vi ; Tức chúng nhân giai khả dĩ tiên ẩm thực y phục cung thất chu xa, tông cổ diệc hà lao ư sáng tạo ». Dịch là: « Vi thiên hạ không có thường đạo, thì nhổ, nuốt, duỗi, co, thuốc men bùa phép, thánh nhân cũng tu lấy không lười ; Nếu chúng nhân ai cũng làm tiên, thì ăn, uống, áo mặc, nhà cửa xe thuyền, xưa nay phải làm chi cho mệt » .

Lời lẽ sâu kín, nghị luận thuần chính làm gương hay cho nhà làm phú. Quốc triều ta ban đầu cũng nhân theo thể ấy chỉ có kinh nghĩa đổi dùng học qui của vua nghị định ra: (ngũ) kinh 5 bài, (tứ) truyện một bài, mỗi thứ cho học trò chọn lấy một. Bài làm cũng sơ lược mà học trò trong trường đã có kẻ làm thể văn tám vế (bát cổ) mới đổi học qui thông dụng văn tám vế cả. (Buổi quốc sơ, trường Nghệ An làm thể tám vế trước hết).

Đến đời Minh-Mệnh thứ 13 (1832) cải định lối làm văn ; chế và kinh nghĩa đều dùng tám vế ; thơ dùng luật Đường ; phú theo như lối nhà Minh, Thanh. Nhưng có bọn học trò ít học, không nhớ chỗ xuất xứ các đề thơ phú, bèn góp lặt những văn tư mẫu mực để làm bài kim văn tả đủ lời nịnh hót, không nói đến ý nghĩa trong sách.

Xét buổi đầu nhà Tống về trước, gọi rằng kinh nghĩa là chỉ hỏi danh mục việc cũ, cùng với bài viết trầm tương tự nhau.

Như đầu bài: Đức Khổng bảo thầy Tử-Sản đạo của người quân tử có bốn điều: (子謂產子有君子之道四焉) Bốn điều ấy là những gì ?

Lại đầu bài: « Kẻ làm việc có bảy người (作者七人矣). Bảy người là những ai ? »

Học trò trả lời chỉ kể người hay là việc mà thôi, chứ không có lời gì trau chuốt phụ hội cả. Danh thần như Lữ-Thân-Công 152 cũng theo lối bài ấy mà đậu. Nhưng học trò từ hoa lo rằng không có văn vẻ, chê làm thế là nghĩa đen, mới đổi ra lối tám vế do Vương-An-Thạch 153 bày ra đầu. Nói tóm lại lối văn tám vế vẫn cũng có lệ, kẻ học giỏi thì nói ra xuyên tạc cắt xé, người học kém thì lượm lặt những câu cũ, ý nghĩa không sát với đầu bài, cho nên ông Tô-Tử-Thiêm 154 ví với sáng vàng lau trắng.

(Như đầu bài: « Đạo của bậc đại học » (大學之道) làm bài có đến vài tờ giấy, cầm chữ « đạo » làm lời bàn suông, há phải cái ý cổ-nhân dạy người đâu).

Dụ vua Khang-Hi 155 cũng chê là phù phiếm, đã bắt cấm chỉ mà các Bộ thần cứ nhân tuần lối cũ, rồi lại phục hồi. Các quan chấm trường có ý châm chước không chú ý, cho nên Khưu Toàn 156 nói: « Ngạch lấy đậu đã định số, không thể không lấy cho đủ ».

Đời Minh cũng đã có tệ ấy. Ôi ! Dùng văn để lấy kẻ sĩ, từ nhà Đường lại nay vẫn được nhiều người, nhưng nhà Tống về trước, kinh nghĩa còn có chất thiệt, nếu bắt chước như thế thì người thông kẻ dốt, dở quyển biết ngay. Như lời bàn của Khảo-Đinh 157 bắt phải dẫn nhưng chú thuyết của các nhà và đem ý mình bàn bạc. Ấy là tinh tường lắm. Lại sợ những học giả hiếu kỳ mà quan trường thì lại ý kiến riêng nên mới không định chuẩn được. Đại loại như Mao-kỳ-Linh, hay bài phú bác bài chú của thầy Chu thiệt gây thêm sự bạc. Nếu không thế thì cứ nghĩa trong truyện chú, bắt chước theo thể luận mà mà làm cũng có thể bỏ cái tệ xuyên tạc được chút đỉnh.

Lại như quốc triều ta từ buổi định cho các học quan khảo hạch học trò, lúc đầu số học trò ứng thí có hạn, gần đây lại càng ngày càng đông, hoặc có khoa số lại gấp hai. Vị tất sĩ số (giỏi) nhiều hơn trước nhưng sĩ số nhiều thí ngạch đậu phải thêm mà chức học quan cũng theo số ứng thí và số đậu nhiều mà tăng lên, quan tràng nhân thế không khỏi nhù nhừ để tránh cái tiếng ác nghiệt, ra bài lựa những đoạn dễ, chấm bài thì rộng ngòi bút, lâu nay thường như thế. Nay ngạch đậu đã phụng chỉ cải định lại. Ngày trước ở chỗ Kinh-Diên, Hoàng-thượng đã nói đến việc Âu-Dương-Tu sung chức Cống cử mà đổi được tập lục học trò. Ý Hoàng-Thượng như vậy, các nhà đương trách nên thể cái ý ấy.

Đại phàm việc gì không nên để ý riêng vào. Đã dùng ý riêng thì trái với lẽ trời. Đời Lê, thi Hương, xong bốn trường, lúc xướng tên phúc hạch có hỏi vài ba câu nghĩa sách gọi là lược vấn. Trường Nghệ có Nguyễn-Đình-Tiến, quyển bài thì nhờ người cùng huyện là Trọng-Dung gà cho Đến khi xướng tên vào cửa, quan trường hỏi: « Bởi thầy được ấn là ai ? » 因師獲印爲誰 Ông Nguyễn sợ cuống lên nghĩ rằng các quan đã dò xét được việc của mình, bèn thú thiệt.

(Án) cho rằng đã biết thú trước nên tội hai người chỉ bị tước ngạch, suốt đời không được đi thi. Năm xưa, trường Hà có một ông Phúc khảo, có người bạn đi thi, đến khi chấm quyển nhận biết được dạng chữ của người bạn, chưa kịp chấm phê, để lên trên các quyển khác, tình cờ ông mắc đi chỗ khác, người đày tớ biết lóm được thầy mình để ý vào quyển ấy, lấy trộm ra xem, trong quyển có chữ « thiên ngâu » 千耦 không biết nghĩa, tưởng là viết sai, bèn lấy muội đèn viết thêm chữ « thảo » trên đầu chữ « ngâu ».

Đến khi ông về lại quên mất, chấm bài thấy có chữ « thiên ngâu » 千藕, cả mắng rằng: « Đây là (anh nào) mượn người khác làm gà cho, dốt nát thế này mà cũng đi thi ». Rồi sổ toẹt mà đánh hỏng. Chấm xong nhớ lại quyển (của người bạn) trước thì tìm không được nữa. Người đầy tớ thú thiệt. Sau ông Phúc khảo ấy cũng đưa việc đó nói chuyện với người ta để răn.

Đời gần đây, chính giáo chia ra làm hai chức Lại điển 158 vẫn phải lựa chọn cẩn thận mà chức học quan cũng không thể khinh cử được. Bởi vì có học rồi mới làm quan, người dạy mà không ra người thì cái lầm lạc cứ lưu truyền mãi. Vả đứa tiểu dân ở hương thôn, thường coi kẻ sĩ như kẻ đưa đường, cái thói của kẻ sĩ mà chính cũng có quan hệ tới phong tục của dân. Tà hay chính thiệt bởi ở học quan khá hay không. Thường thấy ông Bùi-Tồn-Trai 159 đang làm Đốc-học ở Nghệ-An, mỗi kỳ hạch học trò không, ai dám mạo lạm vì ông lựa những người có học lực hơn người cho nên được học trò tín phục. Ông đọc quyển mới vài hàng, xem văn đủ biện biệt được con người. Cử qua vài chuyện: Nguyễn-Bùi-Nhã 160 và Nguyễn-Hoằng-Nghĩa đều có học với ông nhân kỳ hạch ra biểu đầu đề là: « Biểu của bọn ông Lữ-Mông-Chính tạ ơn cho đậu cấp đệ » (呂蒙正等謝賜及第表). Một quyển có câu: 寒燈空費家修,義理乏酉藏之奧, 尺日會逢昌運,太平欣卯歲之徵. « Hàn đăng không phí gia tu, nghĩa lý pháp dân tàng chi áo ; Xích nhật hội phùng xương vận, thái bình hân mão tuế chi trưng ». Nghĩa là: « Đèn lu những phí công học nghĩa lý thiếu chỗ dâu tàng ; Ngày vắn may gặp vận hanh, thái bình mừng điềm mão tuế ».

Chấm nhằm quyển ấy, ông sai gọi hai người đến. Nha đi vắng một mình Nghĩa tới. Ông đang chấm quyển không ngó tới Nghĩa vào lạy ở sân. Người này sợ mồ hôi ra ướt đầm. Đứng đợi đến vài giờ, ông chấm quyển xong, Nghĩa lại lạy. Ông mới quở rằng: « Một anh làm gà cho người ta cũng đủ rồi, lại cùng cả anh Nhã nữa ru » . Nghĩa chỉ lạy tạ xin lỗi ; hồi lâu ông mới nguôi. Lại một ký hạch có phú đầu đề là: « Cao quang tài phú ».

Có một quyển có câu: 巍巍王迹伯圖,並峙之群雄北面, 赫赫庿謨雄斷,一辰之豪傑東方. « Nguy nguy vương tích bá đồ, tịnh trĩ chi quần hùng bắc diện ; Hách hách miếu mô hùng đoán, nhất thời chí hào kiệt đông phương » . Nghĩa là: « Cao lớn thay cơ nghiệp bá vương, đều sánh với kẻ quần hùng phía bắc ; Rỡ ràng vậy mưu mô nhà nước, thời bấy giờ người hào kiệt phương đông » .

Ông bảo môn sinh rằng: « Bài này hẳn là của Nguyễn-Sĩ-Giảng làm ». Nhưng cũng lấy cho đậu.

(Thường) mỗi kỳ hạch, ông bắt ai đậu thì phải tới ra mắt hoặc để hỏi văn bài lại. Kịp khi tác giả bài phú trên tới yết-kiến. Ông hỏi thì người ấy lạy tạ, thú thiệt rằng nhờ Nguyễn-Sĩ-Giảng gà cho.

Năm mới đây, tôi làm Điển thi trường Nam-Định 161 . Khi đầu lấy không đủ số đậu. Mọi người đều chê tôi là hà khắc, tiếng oán trách đầy tai, những người đồng sự cũng trái ý lộ ra ở tiếng nói, sắc mặt. Tôi không muốn thất hòa đành phải cưỡng lấy cho đủ số. Nhân nghĩ lại hồi mới đây trong trường đôi khi có ông Sơ khảo 162 không biết chấm câu. Đều là tội của Chủ khảo lúc trước lấy đỗ rộng. Trong lòng tôi thường không an là như thế.

Lối văn trường ốc, học trò đi thi thường lấy nó làm mẫu mực. Gần đây học trò thường tập xem những loại thư biền ngữ, góp lặt những chữ có vẻ bí hiểm (tịch tự) không ai hiểu mối manh gì cả, rồi cho kinh truyện làm lời bàn suông (nhàn đàm), những lời huấn thích của tiên nho làm câu nói hủ (trần ngữ), không nghiên cứu nữa, thiệt là một bệnh lớn của học trò. Nói tóm lại thì họ toàn cho những Ngũ kinh, Luận ngữ, Mạnh tử làm văn vô dụng. Lại có một hạng tự phụ là uyên bác, tìm tòi trong những thuyết của các tiểu gia được một câu chê truyện chú của Trình Chu thì hớn hở lấy làm sướng. Lại (là những kẻ) không biết cân nhắc. Khoa thi Hội năm mậu thân (1848), có một quyển có câu « Bất tất cần đến kính Lễ xa xôi » (不必遠求禮記). Trong trường cho nói thế là bội kính, sổ toẹt mà đánh hỏng. Các trường thi Hương cũng nhiều quyển giống như thế. Trước khi tôi đi thi chưa từng thấy lối văn ấy, không biết ai bày đặt ra đầu. Gần đây bên nhà Thanh thi Đình thấy có quyển đậu thứ hai là Viên-Mậu-Tích, cả bài nói ra, không có câu nào có điển cố thật. Thậm chí thi Quán ra bài sớ: « Run sợ tu tỉnh để đón khí hòa ngọt » (恐懼修省以迓和甘) Quyển đậu đầu có câu rằng : « Cầu nguyện vô sự ở Tang Lâm » (禱無事乎桑林) 163 . Như thế chả phải gần như chê thánh nhân hay sao. Phù bạc sai lầm đến thế là cùng. Nên bài xích đi, đừng để cho hậu học lầm lạc.

Người ta chớ phiền về sự không đọc được sách. Năm gần đây có tên dân tỉnh Biên-Hòa có người anh chết mà không con. Trong họ bàn lập con của người em để làm con nối. Người em có hai con, quan địa phương xử cho lập đứa con thứ. Vì nhà ấy của rất nhiều, mới sinh kiện cáo. Phái viên về khâm lại, xử cho lập đứa con đầu. Quan Hữu-tư 164 cũng y theo lời xử sau. Bởi vì có không từng khảo đến sách nghi lễ vậy. Thầy Chu có nói:

- Sách nhiều mà không hiểu, chẳng khác gì có kẻ không bao giờ xem.

Người trong xã (tôi) là Hoàng (mỗ) có lần đi theo hầu Lê-Quế-Đường 165 nói chuyện ông ấy xem sách một bận mười hàng, đã đọc qua thi chung thân không quên nữa mà tay không rời quyển sách chút nào.

Có lần đi đường qua những chỗ hang cùng ngõ hẻm vào trọ một nhà người đàn bà góa có đứa con mới lên 10 tuổi, hỏi học sách gì ? Đáp rằng:

- Học sử đầu 166 Hiến-Huệ.

Ông bèn cầm lấy sách, bên ngọn đèn xem hết cả quyển. Rồi lại hỏi:

- Trong nhà còn có sách vở giấy má gì nữa không ?

Người đàn bà thưa rằng:

- Không có sách gì nữa, chỉ có quyển khế mà thôi.

Ông cũng bảo đưa ra xem, không tờ nào là không để mắt đến. Người hầu (họ Hoàng) nói:

- Hà tất phải xem những đồ ấy.

Ông đáp:

- Người ta ai cũng làm việc của mình, há bỏ qua bóng quang âm sao ?

Bậc tiền bối siêng năng tư lệ như thế.

Năm quý dậu triều Gia-Long (1813), có Phạm-Quý-Thích 167 hiệu là Lập Trai làm Giám thí trường Nghệ. Sau khi dỡ vi rồi, trú ở dinh Đốc-học, học trò tới hầu có vài mươi người. Vốn người đa bệnh, ông dựa gối nằm nghiêng, cùng với Đốc-học tên là Tráng bàn bạc văn chương. Người sau nay nhân đọc bài phú: « Đuốc (Quan) Vân-Trường » (雲長燭) 168 của trường học Lập-Trai vần thứ bảy, có câu rằng: 愧慾死平生曹操鬼, 凛如生萬古將軍神. « Quý dục tử bình sinh Tào-Tháo quỷ ; Lẫm như sinh vạn cổ tướng quân thần » . Nghĩa là: « Quỷ Tào-Tháo bình sinh thẹn muốn chết: Thần tướng quân muôn thuở giống như còn » .

Có người học trò huyện Hương-Sơn là Cao-khắc-Kỷ ít tuổi hơn cả, đứng dậy thưa rằng:

- Gần đây huyện thiên-Lộc (đều thuộc Hà-Tĩnh) có Lê-Hàn 169 cũng làm bài phú ấy lại dùng điệu khác.

Lập-Trai bảo đọc lên. Cao bèn đọc vần thứ bảy, có câu: 開千古之昏昏,明可對人,幽可對鬼, 炤一家之暗暗,行不愧影,寢不愧衾. « Khai thiên cổ chi hôn hôn, minh khả đối nhân, u khả đối quỷ ; Chiếu nhất gia chi ám ám, hành bất quý ảnh, tẩm bất quý khâm » . Nghĩa là: Mở muôn thuở tối tăm, sáng đối với người, tối đối với quỷ ; soi một nhà mù mịt, đi chẳng thẹn bóng, nằm chẳng thẹn chăn.

Lập-Trai hỏi:

- Câu chính diện thế nào ?

Người kia lại đọc: 燃激烈之丹心五更天地, 印丁零孤影四壁風霜. « Nhiên kích liệt chi đan tâm ngũ canh thiên địa ; An đi ninh chi có ảnh, tứ bích phong sương » . Nghĩa là: « Nhen lòng son rực rỡ, trời đất năm canh ; in chiếc bóng lênh đênh, gió sương bốn vách » .

Lập trai bảo đọc lại, nhân đẩy gối ngồi dậy, nói:

- Nó làm hơn ta nhiều.

Bậc tiền bối biết phục thiện như thế.

Đời Lê, Phạm-vĩ-Khiệm đi thi Hội (1779) Khảo quan vẫn ghét ông ta. Đến trường nhì, họ thấy một quyển giống như văn Phạm, bèn nói rằng: « Ta biết rồi » Rồi đánh hỏng. Đến khi phát quyển thì Phạm lại đậu thứ nhất 170 . Việc này giống với chuyện Trịnh Giải trong Mộng Khê bút đàm 171 . Cho hay đối với ai, ta cũng nên có lòng bằng phẳng rộng rãi, hơi dùng đến yêu hay ghét một chút là chỉ nhọc bụng mà thôi. Sách Mộng-Khê bút đàm chép Trịnh-Nghị-Phu tự phụ nổi tiếng thời bấy giờ, quan Đốc trường Quốc-Tử cho đậu đến thứ 5, ý rất bất bình. Bài khải tạ quan Chủ tư có câu: 李廣事業,自謂無雙, 杜牧文章,只得第五. « Lý-Quảng sự nghiệp, tự vị vô song ; Đỗ-Mục văn chương, chỉ đắc đệ ngũ » . Nghĩa là: « Sự nghiệp như Lý-Quảng, tự cho rằng không ai bằng ; Văn chương như Đỗ-Mục mà chỉ được đứng thứ năm » .

Chủ tư giận lắm, ngày sau thi Đình, ông ta lại được đi chấm. Mới quyết ý đánh hỏng để trả thù họ Trịnh bất tốn.

(Thành thử) có quyển thi giống như văn của Trịnh bị đánh hỏng oan, đến khi treo bảng thì Trịnh lại đậu đầu. Thế mà bài khải tạ của ông ta lần nầy cũng chưa bỏ cái khí kiêu căng. Xem sách Tị thứ lục thoại 172 (có chép chuyện) Hàn-Ngụy-Công cùng Thượng thư họ Tống đều thi khoa Trung thư 173 . Có người hỏi ông Hàn thì ông lấy làm thẹn mà tạ rằng: « Tôi đâu dám trông được như ông Tống, chắc có tin hỏng ». Khí lượng khác nhau nên chi sự nghiệp cũng không bằng nhau.

Có dạy rồi mới biết khốn nạn. Năm đinh mão đời Gia-Long (1807), trường Thanh ra đề: « Cho Thường-Hà lụa » (賜常何綢). Có Khảo quan họ Vũ cũng tự làm một bài có câu: « T rượng phu khí khái » (丈夫氣概) Có người làm thơ rằng:

渭上當辰娘子軍

木蘭本是女郎人

藉非典考之衡筆

將謂常何亦婦人

« Vị thượng đương thời nương tử quân,

Mộc-Lan 174 bản thị nữ lang thân.

Tạ phi Điễn khảo văn hành bút,

Tương vị Thường-Hà diệc phu nhân » .

Nghĩa là:

« Quan nương tử ở bên sông Vị buổi ấy.

Mộc-Lan vốn là thân con gái.

Nếu chẳng có ngòi bút quan Điển khảo,

Toan bảo Thường-Hà cũng là đàn bà » .

Người ta truyền tụng bài thơ ấy để chê cười.

Gọi rằng làm nên tốt cho người là lấy điều thiện để khuyên nhau, chứ không phải lấy sự bao bọc cho người hay giấu giếm đi cho họ làm hơn. Như năm gần đây, trường Hà có Giám khảo mỗ thay quyển cho người. Người ấy văn hay vốn không cầu cạnh gì. Vì việc chưa phát nên sau người ấy không được vào trường sau. Như thế chẳng những mình tự hãm vào phép cấm mà còn làm lụy cho người ta, có làm nên cho người gì đâu ?

Sách Quý tân tạp thức 175 chép chuyện Phùng-Kinh làm Tri cử, có Trương-Vân-Tấn làm bài phú « Công sinh minh » (公生明) bỏ vần trùng điệp mà sau đậu đến thứ tư, Trương nghĩ thầm rằng quan Chủ tư lỗ mỗ không biết gì. Đến năm Nguyên-Hựu 176 đi sứ, qua Bắc-Môn, Phùng đang làm Lưu thủ bèn làm tiệc rượu đãi môn sinh, Phùng nhân nói:

- Ngày xưa tôi làm Tri cử, bài phú của ông trùng vận, vì bài luận sách hay, nên tôi thay vần cho ông.

Trương đang uống rượu, tự nhiên chén rượu rơi không biết, lấy làm thẹn, từ tạ đến hai ba lần. Bởi vì từ đầu đời Tống về trước, phép thi cũng giản dị, không nệ hình tích chỉ lấy được nhân tài là mừng. Cho nên Lý-Trình đã hỏng rồi mà Lữ-Vị lại lấy lên đậu. Đầu đời nhà Đường, (người đậu) trình lên quan Hữu tư, nếu không biết tài phẩm thường ngày của họ thì không cho đậu cao. Về sau những điều xảo ngụy ngày càng thêm, ngăn cấm đã riết mà vẫn còn gian. Những việc ấy không nên làm, mình với người đều mang lụy cả.

Học không phải để cầu lộc mà lộc cũng ở trong đó ra. Nhưng được với không đều có mệnh. Gần đây học trò hỏng hạch thường oán học quan, hỏng thi thường oán Chủ tư. Có kẻ đặt ra lời nói ngoa, hay câu ca dao như khi Lê-Huy-Du 177 làm Giám thí trường Nam, bọn hỏng thi làm bài văn quốc âm để tế. Đó là do những bọn học ít, nết kém làm, chứ hạng nho gia không có như thế. Nhưng thói ấy là từ đời Đường, Tống đã có như Âu-Dương (Tu) làm Tri cử, bị bọn học trò, khinh bạc nhóm nhau lại chê bai. Thậm chí có kẻ lấy một chữ nói, hay câu nói xóc, cả đời để vào bụng như Ngưu-Tăng-Nhu đối với Lưu-Vũ-Tích ; Ngụ-Mộ đối với Lý-Hồi lại càng hay ghét ngầm, có ý muốn đánh đổ. Kẻ học giả nên lấy đó làm răn, chớ có ăn ở hiểm ác.

Làm văn không nên cẩu thả. Năm quý tị đời Minh-Mệnh (1833) tôi đang hiệu lực ở Bộ, ngày nghỉ có dạy học trò làm văn.

(Một khi) ra bài thơ: « Qua sông hái hoa phù dung » (涉江採芙蓉) ngẫu nhiên có sửa bài của một trò rằng:

自從投筆事疆場

未試天涯是異響

忽見荷花紅似錦

遙憐予美襲為常

生涯鏡里千莖雪

弱理風前九畹香

及此修名猶未宴

莫教鶗鴃度年芳

« Tự tòng đầu bút sự cương trường

Vị thức thiên nhai thị dị hương.

Hốt kiến hà hoa hồng tự cẩm

Giao liên dư (?) mỹ tập vi thường.

Sinh nhai cánh lý thiên hành tuyết,

Nhược lý (?) phong tiền cứu uyển hương.

Cập thử du danh do vị yến,

Mạc giao đề quyết 178 độ niên phương » .

Đại khái nghĩa là:

« Tự lúc ném bút đến nơi cương trường.

Chưa biết rằng ở chỗ ven trời là làng lạ,

Bống thấy (như) hoa sen đỏ tựa gấm,

Xa nhớ… đẹp, kết làm xiêm.

Trong gương sinh nhai có ngàn chồi giữa tuyết ;

Trước gió có mùi thơm hoa lan.

Bấy giờ công danh còn chửa toại,

Chớ khiến chim đỗ quyên qua một năm tốt » . 179

Vừa xong thì cụ trong Các là Hà (Tôn-Quyền) cho người tới bảo có chỉ bắt tôi đi tòng quân ở Nam-Kỳ.

Không những một việc nầy, đọc văn các bậc tiền bối cũng biết được nhân phẩm, hành chí. Phạm-Lập-Trai làm Giám thí trường Nghệ (1813) ra đầu bài « Công đức như trời sinh muôn vật » (功德如天生萬物) Lê-Nguyên-Trung 180 có câu: 巍然神武聖文之盛美,九功七德不盡形容, 宛若太和元氣流行,庶類萬般咸資發育. « Nguy nhiên thần vũ thánh văn chỉ thịnh mỹ, cửu công thất đức bất tận hình dung ; Uyển nhược thái hòa nguyên khí chỉ lưu hành, thứ loại vạn ban hàm tư phát dục » . Nghĩa là: « Lớn lao vậy võ thần văn thánh, chín công bảy đức không đủ hình dung ; Lưu bành như nguyên khí thái hòa, muôn vật mọi loài, đều nhờ sinh dục » .

Lập-Trai cả khen, tuy quyển ấy viết sót chữ ở bài, chiếu lệ phải đánh hỏng, mà ông cũng phê lấy đậu. Khoa ấy đậu Hương cống 12 người. Lập-Trai nói với người ta rằng:

- Từ khi người nay hơn cả !

Lưu-Công-Đạo 181 lúc mới tới học với Bùi-Tồn-Trai, làm bài phú « Vườn quân Đô đốc Thư-Châu » (舒州都督宅) có câu: 海內六年王事,紛紛何處作生涯, 壽州幾載歡遊,耿耿他鄉懷故宅. « Hải nội lục niên vương sự, phân phân bà xứ tác sinh nhai ; Thọ châu kỷ tải hoan du, cảnh cảnh tha hương hoài cố trạch » . Nghĩa là: « Trong biển trải 6 năm vương sự, lăng xăng biết chỗ nào làm thú sinh nhai ; Châu Thọ từng mấy hạ hoan du, thổn thức nơi quê người nhớ miền cố trạch » .

Tồn-Trai chê rằng lãnh đạm. Sau quả như thế. Tồn-Trai thường phê văn của Ngụy-Khắc Thân 182 rằng: « Khí tốt núi Hồng vào nhà người này hết » (鴻山秀氣盡入汝家) Thân là anh ông Thiện-Phủ 183 vậy. Người cha làm văn không hay trau chuốt. Tồn-Trai bảo là có dư vị nên « có hậu ».

Lại thường xem thơ văn người xưa như bài thơ chết con của Tô-Đính có câu:

試將明鏡照

何異月中看

« Thí tượng minh cánh chiếu

Hà di nguyệt trung khán » .

Nghĩa là:

« Thử đem soi gương sáng

Nào khác ngó trong trăng » .

Vật nhỏ nhoi mà nói to lớn như thế.

Lý-Trình thì làm bài phú « Mặt trời năm sắc » (日五色) có câu phá đầu rằng: 德動天鑒祥開日花. « Đức động thiên giám ; Tương khai nhật hoa ». Nghĩa là: « Đức động gương trời ; Điềm nở hoa nhật. Sự nghiệp bậc tướng tướng, ngữ khi có khác ».

Bạch-Lạc-Thiên 184 có bài thơ:

離離原上草

一歲一枯榮

野火燒難盡

春天吹更生

« Ly ly nguyên thượng thảo,

Nhất tuế nhất khô vinh.

Dã hỏa thiêu nan tận,

Xuân thiên xuy cánh sinh ».

Nghĩa là: « Trên đồng cỏ mơn mởn, mỗi năm mỗi khô tươi. Lửa nội thiêu khôn hết, Trời xuân thổi cho lại sống » . (Giọng văn) phong lưu uẩn tạ như tác giả.

Cao-Thiên-Lý 185 có thơ:

恨乏平戎策

暫登拜將坛

手持金鉞冷

身掛鐵衣寒

聖主扶持易

恩深報效難

三邊猶未靜

何敢便休宦

« Hận pháp bình nhung sách,

Tạm đăng bái tướng đàn.

Thủ trì kim việt lãnh,

Thân quải thiết y hàn.

Thành chủ phù tri dị,

Âm thâm báo hiệu nan.

Tam biên do vi tĩnh.

Hà cảm tiện hưu quan » .

Dịch là:

« Giận thiếu mưu đánh dẹp,

Lên đàn tướng thẹn thùng.

Cầm giáo vàng run rẩy.

Mang giáp sắt lạnh lùng

Chúa giúp ta đánh dễ

Ta báo chúa khôn xong,

Ba cõi còn chưa lặng,

Về hưu đâu dám mong » .

Câu kết sau cùng gần như là những lời hạnh tai lạc họa.

Phạm-văn-Chính 186 làm phú có câu « Kim giám Can-Tương ». Sau sự nghiệp cũng như lời phú.

Thơ Đinh-Vị 187 có câu: 鸚鵡驚鳯華穿花早, 魚畏龍顏上釣遲. « Anh kinh phượng luyện xuyên hoa tảo ; Ngư điếu long nhan thượng điếu trì » . Nghĩa là: « Chim vẹt sợ kiệu phượng nên sớm chui vào trong hoa, Cá chậm đớp câu vì sợ mặt rồng » .

Cái tình trạng lo được lo mất hiện ra hết thảy .

Lại như Lý-Thân làm bài thơ « nhà làm ruộng » rằng:

春播一粒粟

秋成萬裸子

四海無閒田

農夫猶餓死

« Xuân bá nhất lạp túc,

Thu thành vạn lõa tử.

Tứ hải vô nhàn điền,

Nông phu do ngã tử » .

Dịch là:

« Xuân vãi một hạt mầm,

Thu nên muôn hạt lỏi.

Bốn biển không ruộng hoang,

Kẻ cày còn chết đói » .

Thôi-Quần cho là ngày sau sẽ làm đến Tể-tướng.

Vương-Nghi-Công 188 có câu thơ (vịnh mai): 雪中未論調羹事, 先向百花頭上開. « Tuyết trung vị luân điều canh sự ; Tiên hướng bách hoa đầu thượng khai » 189 . Dịch là: « Ngon canh việc ấy ban canh ; Hãy xem trong tuyết nở đầu trăm hoa » . 190

Lữ-Công bảo rằng:

- Đứa nhỏ này đã nắm chắc cái Trạng nguyên và Tể tướng .

Đến khi đi thi làm bài phú « Loài vật hỗn nên » (物混成) được Dương-Ức khen rằng có tài vương tá. Nay xem phú có câu như: 得我之小者散面為草木, 得我之大者,合而為山川. « Đắc ngã chi tiểu giả, tàn nhi vi thảo mộc ; Đắc ngã chi đại giả, hợp nhi vi sơn xuyên ». Nghĩa là: « Được (khí) bé của ta, tan ra làm cây cỏ ; Được khí lớn của ta hợp lại làm núi sông » .

Ngữ khí như thế người thường không thể kịp được.

Văn đối sách của Văn Tín-Công được Vương-Ứng-Lân khen lòng trung như sắt đá. Văn của Trương-Vương-Linh và Vương-Công-Cận thì Vương Sư-Đán, chê là khinh bạc. Văn của Vương Dương và Lô Lạc thì Bùi-Hanh-Hiểm biết không phải là đồ dùng dài.

Thơ Lý-Viễn có câu: 長惟逍日一居棋 « Trường nhật duy tiêu nhất cục kỳ ». Nghĩa là: « Ngày dài chỉ tiêu khiển một cuộc cờ ». Vua Tuyên-Tông bảo rằng không nên dùng.

Lê-Quát 191 có bài thơ đưa bạn:

驛路三千君據安,

海門十二我還山。

朝中使者天邊客,

君得功名我得閒。

« Dịch lô tam thiên quân cứ an.

Hải môn thập nhị ngã hoàn san.

Trung Triều sứ giả yên ba khách

Quân đắc công danh ngã đắc nhân » .

Dịch là:

« Dặm thẳng ba ngàn anh thắng ngựa.

Mười hai cửa biển tớ về ngàn.

Người vui mây sóng người đi sứ,

Anh được công danh tớ được nhàn » .

Thức giả biết ông sẽ quý hiển.

Câu đối của Mạc-Đĩnh-Chi: « Trăng là cung sao là đạn » 月弓星磾. Người ta biết con cháu về sau sẽ có kẻ cướp nước.

Đàm-Thận Huy 192 ngồi cùng học trò, ra một câu khẩu chiến: 雨無鉗鎖能留客 « Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách » . Nghĩa là: « M ưa không có kìm khóa hay mà giữ khách lại » .

Nguyễn-Giản-Thanh 193 đối là: 色不波濤易溺人 « Sắc bất ba đào dị nịch nhân ». Nghĩa là: « Sắc không có sóng tố mà dễ đắm người » . Bị Đàm chê là phóng đãng.

Nguyễn-Chiêu Huấn 194 thì đối: 月有彎弓不射人 « Nguyệt hữu loan cung bất xạ nhân ». Nghĩa là: « T răng có vòng vung chẳng bắn người » . Đàm biết là người có nhân.

Tuy là một nghề văn-chương mà nhân phẩm hơn kém, tiền trình lợi bất lợi, đủ thấy đại lược, chỉ vì nỗi người ta không tự biết mà thôi. Cho nên làm thơ văn phải lấy ôn hậu, hòa bình làm chủ mà kiêng những câu phù bạc lãnh đạm. Tập làm những câu ôn-hậu hòa bình thì đào dưỡng được linh tính dần dần đến thuần thục ; tập những câu phù bạc lãnh đạm lâu rồi quen tính không biết lấy trung hòa để nuôi khí thì sự lầm lạc càng xa lìa mãi.

(Tri) phủ Tư-Nghĩa (Quảng-Ngãi) trước là Văn (mỗ) kể chuyện một lần ông tới nhà quen là một nhà tấn thân 195 chủ nhà đi vắng, người vợ ra cửa đón mời vào nhà. Đang lúc nắng nực, rót nước chè pha gừng thiết khách, Văn khen phong vị khá ngon. Người đàn bà nói:

- Khi khao khát thì nước gì cũng uống được.

Nhưng cổ nhân có nói:

- Trên giường để cải củ (la-bặc) dưới để gừng, mùi quê vẫn không xấu.

Ông hỏi:

- Câu ấy ở sách nào ? « Ra ở sách Cừu hoang 196 Xin cắt nghĩa cho nghe.

- Người ta nhờ ngũ cốc để nuôi tính mệnh, năm mất mùa ngũ cốc không đủ, phải ăn củ rau lá cây, dạ dày và ruột không quen, dễ sinh bệnh, cho nên buổi mai ăn gừng để khai vị, đêm ngủ ăn củ cải để cho dễ tiêu.

Văn rằng:

- Xưa ông Hinh-Thiệu có nói: « Sách trong thiên hạ học đến chết cũng không hết » là phải lắm .

Không gì hay bằng biết đổi lỗi. Phí-Mành đời Trần làm quan Yên phủ (sứ) ở Diễn Châu (Nghệ-An) vì hối lộ bị tội. Sau khi phục chức lại được người khen rằng: « Quan Yêu phủ Diễn-Châu trong như nước » Cái thân con người trước sau tính hạnh khác nhau, nên chỉ người quân-tử quý về chỗ thấy thiện thì theo, có lỗi thì đổi.

Ngự-Tôn nói: « Nết kiệm là cốt của đức ». Trải xem từ khi có thiên hạ quốc gia ai cũng kiệm thì được, ai xa xỉ thì mất. Lấy vua mà nói: ông hưng được nước thì thềm đất nhà sàng, ăn nhịn mặc xấu ; ông mất nước thì nhà cao tường chạm đền ngọc, đài vàng. Cho nên đường hoa đá vẽ của nhà Hồ, điện lớn trăm gian của nhà Lê đều làm ra mà không ở. Lấy nhân thần mà nói: Dương-Chấn 197 để thanh bạch cho con cháu mà sau đời đời làm quan lớn, hơn 700 năm không ra khỏi làng mà lắm kẻ quý hiển mà hang vàng (kim-cốc) của Thạch-Sùng 198 , (nhà) Yển Nguyệt của Lâm-Phủ 199 đều không kịp đến thân. Bởi vì đã xa xỉ thì tiêu câu, bậc trên phải góp lườm nặng để cho nhiều của, kẻ dưới phải tham hối để hại người, nước không có lợi, nhà thì trộm cướp, chuốc lấy lời oán, bấm vào lưới hình, đều tự mình mang lấy. Phương chi « vật đã đầy thì nghiêng » là lẽ tất nhiên. Đời Thiên-Bảo nhà Đường 200 nhà cửa ở kinh sư làm rất nguy nga xa-xỉ, thức giả cho là ma cây (mộc yêu). Trong đời Hàm-Thông 201 Đỗ-Vĩnh-Dụ làm quan Phàn ở quán Hoằng-Văn cùng đồng liêu là Vương Đạc thưởng hoa mẫu đơn ở trong quán.

Đỗ bảo ông kia rằng:

- Quán nầy nếu cho người không hay ăn chơi ở thì chỉ một gian thôi, mà nay tráng lệ thế này ông nên biết không bao lâu nữa sẽ ra tro bụi.

Nhà Lê sau khi trung hưng, những nhà quyền-quý thế lực, võ quan, v.v… thường có kẻ xa hoa vượt ra ngoài lễ tục. Một nhà Ngô-Cảnh-Hựu 202 ăn ở cứ theo pháp độ, đời đời làm đến Công hầu, không có thể lực lừng lẫy gì khác, hơn hai trăm năm con cháu đông đúc. Gần đây thì thấy họ quan Hiệp điện đại sĩ Nguyễn-Khoa-(Minh) 203 làm đến quan lớn đã vài đời, con cháu trong họ áo mặc đều là vải thô cả. Lại thấy vài ông quan lớn trong nhà có vài mươi người, ăn béo mặc tốt, không cày mà có cơm, không dệt mà có áo, rồi bị khuynh bại ngay, có người dỡ nhà được kim cương từng bốc, xa xỉ càng tợn thì vạ càng mau là thế.

Giặc Trát 204 bị thua (còn) vài kỵ mã chạy trốn về phía bắc, chưa ai biết cả. Ăn cơm ở nhà quan Đại-Nại (Hà-Tĩnh) rồi ỉa vào trong cối giã gạo bị bà chủ quán nạt cho, phải nhịn nhục từ tạ mà đi. Bởi vì họ không bao giờ biết cái cối giã gạo vậy. Nhãn-Chỉ-Thời nói: Bọn triều sĩ ở Giang Nam, tám chín đời không có ai làm ruộng, chỉ cậy vào bổng lộc mà ăn, nếu có nữa thì cũng sai tôi tớ làm cho, chứ không bao giờ đi xem vỡ một đám đất, cấy một bụi lúa, không biết tháng nào vãi giống, tháng nào nên gặt, thì biết gì đến việc đời. Cho nên việc quan không trị xong, việc nhà không liệu nổi, đều là lỗi ở sung sướng nhàn hạ. Đại loại như thế cả.

Quan quân lúc đầu đánh giặc Khôi đi đến trạm Thuận-Biên nghe tin giặc đã chiếm giữ Biên-Long, bèn theo đường tắt, đi cả đêm đến một bãi hoang, nằm nghỉ giữa đồng không có nước, quân lính không được đốt lửa. Sớm dậy kéo đi chưa được ăn, gặp giặc bèn đánh. Đến giờ tỵ, quan quân nhiều kẻ khát nước, có người phải vào làng xin uống. Dân làng tranh nhau đưa cơm nước ra.

Đang lúc ngồi trên ngựa vừa ăn vừa cầm quân, Bình-Thành-Bá tự nhiên rơi nước mắt nói:

- Tôi thuở bé mất mẹ, nhờ bà nuôi cho. Hồi 6, 7 tuổi trong nhà tạm đủ ăn, nhưng thường cho ăn cơm nguội, uống nước lã, và bảo nuôi trẻ phải nên như thế, chớ có cho ăn sung sướng quen miệng và dạ, nó rồi lớn lên có gặp việc gì khó nhọc, thì những món cơm hút không thể chịu nổi. Bây giờ lại thêm cảm nhờ đến lời dạy (của bà tôi).

Liễu-Tần dạy con rằng:

- Con nhà phú quý, học phải thêm chăm, làm phải thêm gắng, mới sánh với người ta được chút đỉnh. Nết tốt tài thiệt người ta chưa hẳn đã tin mà có tì vết gì một tí thì người ta chỉ trích liền.

Câu nói ấy đủ khiến người phải động lòng mà hết sức tu tỉnh. Cuối đời Lê ở Hà-nội có họ Đàm làm quan Định tư 205 , tước đến nhất đẳng. Sau khi chết rồi, con chỉ cờ bạc chơi bời đến nỗi dỡ nhà thờ và lấy gạch đá ở trên mộ bán để ăn tiêu, lại toan đánh tiếng cải táng để lấy của trong huyệt, vừa bị mắt mù lại thôi. Gần đây lại có một nhà thuộc dòng quý thích quan đến nhất phẩm, tước hầu, phủ đệ rộng rãi xa xỉ, của cải lại nhiều chết chưa được vài năm mà con bán sạch nhà cửa, đem thần chủ bỏ dưới gốc bồ đề ở bên sông trong vườn nhà thờ. Con nhà phú quý, không chăm nghề nghiệp, làm nhục đến cha ông, rất đáng sợ vậy. Nhưng đó không chỉ một tội của con thôi.

Truyện có nói: « Mình ở không có đạo thì « hạnh phúc » không đến được con em » .

Lại rằng: « Của lấy trái nghĩa mà vào thì cũng trái nghĩa là ra . Chứa điều thiện hay bất thiện ắt từ buổi đầu ».

Đỗ-Hoàng-Thường nói với Lư Thản:

- Đứa con nhà ấy, chơi với người ác, sao chẳng xét kỹ.

Lư-Thản đáp:

- Đại phàm làm quan thanh liêm, dẫu làm đến quan to cũng không chứa nhiều của. Còn những người hay chứa của làm giàu phải bác tước của dân mới được. Nếu con cháu khéo giữ, ấy là trời cho nhà bất nghĩa làm giàu, bất nhược xổ thứ bất nghĩa ấy ra cho người ta.

Câu nói ấy tuy là tựa như trào phúng, hiểu ra cũng đủ làm răn cho đời.

Cậy tài khinh người, cổ nhân đã lấy làm răn. Cuối đời Lê, có Phạm-Vĩ-Khiêm văn tài phú lệ, hạnh Giám thượng đậu đầu, tiếng tăm vang dậy. Có Đoàn-Văn-Tuấn là con (Đoàn-Nguyễn) Thục 206 mới tới hạch Giám lần đầu mà đậu đầu, Phạm chịu thua ở thứ hai, nhưng chưa biết mặt. Đến lần sau, đã nộp quyển rồi mà chấm chưa xong, Đoàn gặp Phạm ở giữa đường Bấy giờ người sau này đã làm Tri phiên có kiệu long và lính hầu. Đoàn vòng tay đứng ra bên đường rất cung kính. Phạm dừng lại hỏi.

Đoàn thưa rõ tên họ. Phạm nói:

- Con đấy à ? Ta thẹn không được biết nhau cho sớm.

Lại hỏi:

- Kỳ hạch này có hơn ta nữa không ?

Đoàn gọi Phạm bằng chú, bèn đáp:

- Cháu có dám sánh với chú đâu, chẳng qua nhờ trời gặp may đó thôi !

Phạm lại hỏi:

- Quyển của con có câu gì hay ?

- Quyển cháu có câu: 公孤之國昆第之邦弟 Công cô chi quốc ; Côn đệ chi bang. Bảo đậu đầu nữa là lầm.

Bởi vì đầu bài hỏi phép phong kiến nhà Chu nhà Hán 周漢封建 Phạm nói:

- Con gắng gỏi lấy. Thiệt đáng gọi rằng hậu sinh khả úy vậy.

Phạm-vĩ-Khiêm đi thi Hội, đến trường cuối, ngồi gần lều với Phạm-Quý-Thích. Người sau này tuổi chừng 20, Vĩ Khiêm thấy nhỏ, khinh lắm.

Đến trưa, Quý-Thích toan nộp quyển ra trước, Vĩ-Khiêm còn ngờ người kia làm không nổi mới lấy quyển xem, rồi kinh hãi mà rằng:

- Tí nữa ta lầm, không ngờ được chơi với một người bạn vong niên. Dầu thế, ngươi còn trẻ nay hãy nên nhường ta đã.

Quý Thích thưa rằng không dám. Khoa ấy trên bảng Hội và bảng Đình, Quý Thích đều đứng liền dưới Vĩ-Khiêm.

Người sau này nói chơi rằng:

- Tí nữa thì ta bị đứa trẻ đè đầu.

Buổi quốc sơ có Cao-Huy-Diệu 207 văn chương mẫn tiệp. Ông làm Tri phủ Quốc-Uy, có Trần-Bá-Kiên 208 làm Tri-phủ Tam Đài (đều thuộc Sơn-Tây) hai người gặp nhau ở Bắc-Thành.

Trần ra câu đối:

- 文章致位兩府 « Văn chương trí vị lưỡng phủ », nghĩa là: « N hờ Văn chương làm đến cai tri hai phủ » .

Cao đối tiếp khẩn:

- 兄弟分仕三國 « Huynh đệ phân sĩ tam quốc », nghĩa là: « A nh em chia ra làm quan ba nước » .

Quan Tổng trấn 209 nghe tiếng Cao làm mau nhân ban đêm ngồi chỉ cây nến mà ra câu đối:

- 風吹蠟燭,半邊流,半邊留 « Phong xuy lạp chúc, bán biên lưu, bán biên lưu », nghĩa là: « G ió thổi ngọn nến nửa bên cháy nửa bên ở lại » .

Cao liền ứng khẩu:

- 地措針盤,一頭指,一頭止 « Địa thố chậm bàn, nhất đầu chỉ, nhất đầu chỉ » , nghĩa là: « Đất đặt địa bàn một đầu trỏ, một đầu dững » .

Ứng khẩu mau mắn đại loại như thế. Ông làm văn thi lạp tứ rồi cầm bút viết không nghĩ. Hồi chửa làm quan, bài hạch ở mấy trường học thường được đầu rất có tiếng ở Bắc-thành. Lê-Hân bắt đầu đến phủ Hoài-Đức kiếm chỗ để học, chưa giao thiệp với học trò ngoài này. Một hôm các ông thầy già hỏi học trò lại hạch thử. Lê làm… của con chủ quán, lại cùng chấm quyển với Cao. Rọc phách, chấm quyển xong, đến khi hợp phách vào thì con chủ quán ấy đậu đầu. Khi biết nhờ Lê gà cho. Cao mới thán phục. Lê cũng lấy đó làm tự phụ Sau đi chơi ở Bình-Chính (Quảng-Bình) gặp Trần-Ngọc-Quán Cai bộ Quảng-Đức 210 , có tang vợ ở nhà, Lê vào phúng, ban đầu có ý khinh Trần.

Vào đến nhà thấy câu đối treo đầy cột đã xé bỏ gần hết chỉ còn một… nhận được qua loa rằng:

- « Cơ hàn như ảnh một tùy thân » , nghĩa là: « Đói rét như bóng chết theo thân » .

Sau khi ra, Lê bảo với người khác rằng:

- Kẻ danh sĩ vẫn không phải là hư sĩ, tôi chịu thua xa.

Nguyễn-Trọng-Vũ lúc đầu ở Đan-Hải (Hà Tĩnh) chơi với mấy người làm thơ, ngày cứ ngâm vịnh luôn. Bùi-Tồn-Trai đưa thơ răn có câu:

吟題感寓詞人耳

機見真儒古已還

« Ngâm đề cảm ngu từ nhân nhĩ,

Kỷ kiến chân nho cổ dĩ hoàn » .

Dịch là:

« Ngâm nga cảm hứng người thơ phú,

Nào thấy chân nho có mấy ai ? »

Đỗ-phủ có câu thơ: 將詩莫浪傳 « Tương thi mạc lãng truyền », nghĩa là: « L àm thơ chớ đem truyền bậy » .

Dương-Quán 楊舘làm văn không đưa cho người khác xem. Ý cũng đã rõ như thế. Văn của Phan Cử 211 cũng mẫn thiệm, cầm bút thì viết ngay, vì hay làm thơ chơi ở nơi công phủ mà sau bị hãm vào tội.

Cuối đời Lê có Đặng-Trần-Côn 212 với Dương-Huân đều có tiếng hay văn, lại giỏi lối phú tám vần. Đặng làm đến vài ngày mới xong còn Dương thì hạ bút viết không chừa chữ nào. Làm ra một bài, chúng đều truyền tụng, người ta ví với Trần-Vô-Dĩ 213 và Tần-Thiếu-Du 214 Có lần cùng làm bài phú « Tiếng kêu cửa đêm tuyết » 215 . Vần thứ hai cùng làm rằng: 無情私弟,方開點點之更, 已鎖門,忽聼聲聲之叩. « Vô tình tư độ, phương nhàn điểm điểm chi canh ; Dĩ tỏa chu môn, hốt thính thanh thanh chi khấu ». Dịch là: « Nhà riêng vô tình, canh vừa dứt tì tùng hiệu trống ; Cửa son đã khóa, tai thoắt nghe văng vẳng tiếng kêu ».

Cả hai người đều in như nhau không sai một chữ. Đến vần thứ tư Đặng làm rằng: 堂陛席閒談笑,酒食之妻嫂亦聞, 乾坤杯裏經營韓翠山之何慾動. « Đường bệ tịch gian đàm tiếu, tửu thực chi thê tẩu diệc văn ; Càn khôn bối lý kinh dinh, hàn thúy chi sơn hà dục động » . Dịch là: « Cười nói trên giường đường bệ, rượu cơm vợ thím từng nghe ; Kinh dinh trong chén càn khôn giấc ngày giang sơn muốn dậy » .

Mà Dương thì làm rằng: 堂分叔嫂重安之坐轉溫, 圖擼幽燕千古之仇思雪. « Đường phân thúc tàu, trùng yên chi tọa chuyển ôn ; Đồ chỉ U yên, thiên cổ chi thù tư tuyết ». Nghĩa là: « Nhà ngăn chú thím, giường hai lần nệm càng êm ; Đồ trỏ U Yên, thù ngàn năm xưa phải rửa » .

Một người phải chắp bóng mới xong, một người làm trong giờ hạch đều có câu hay cả. Đặng có làm bản Chinh phụ ngâm có ý… họ Trịnh toan đánh miền Nam. Thường tự cho mình hơn Dương, nhân thi hơn kém ra đầu đề (bài phú): « Kỳ lân chơi vường Uyển-Hưu 麟游苑囿, hẹn mỗi câu phải có một tên loài vật. Đặng cấu tứ chưa xong, thấy Dương đã viết: 龜猶蛰泺馬不出河, 緬彼有雄之世邑于涿鹿之阿. « Quy do trập Lạc ; Mã bất xuất Hà ; Diến bi Hữu-Hùng 216 chi thế ; Ấp vu Trác-Lộc 217 chi a ». Nghĩa là: « Rùa còn nấp ở sông Lạc ; Ngựa chẳng ra ở sông Hà ; Nhớ đời vua Hữu-Hùng ; đóng đô ở gò Trác-Lộc ».

Liền phục tài nhanh. Cuộc thử ấy liền bãi.

Phan-Kính 218 và Nguyễn-Huy-Oánh là người một làng, thuở trẻ làm bạn với nhau. Phan đậu cập đệ trước. Còn Nguyễn dậu ở trường thi Hương rồi bỏ học về làm thầy cũng không thi nữa. Phan khuyên mãi không được bèn tuyệt giao, gặp ở đường cũng không chào hỏi. Làm thế để khơi mối giận của Nguyễn. Người này đổ tức về học lại, sau cũng đậu cập đệ. Bèn lại làm bạn như cũ.

Phan-Bảo-Định 219 làm Tế tửu tư kể rằng: mình lúc bé học rất tối. 18, 19 tuổi mà học một ngày không thuộc 20 hàng, đọc đến trăm lần mới nhớ. Nhưng chỉ có ngày nguyên đán và ngày trữ tịch mới nghỉ còn nữa không ngày nào là không học, sau đậu Tiến sĩ. Mới biết người ta chỉ sợ không chăm học chứ không sợ tư chất tối.

Nguyễn-Văn-Quế làm quan Trấn Phủ-Yên, mời Bùi Văn-Lý 220 đến dạy nghĩa sách. Đến khi Nguyễn đổi vào coi đội biền hình ở Gia-Định nói điều dở của Bùi. Người nầy bèn nói thí dụ việc Phùng-Mông 221 xưa. Quế đỡ thẹn.

Hồi quốc sơ có Quận công mỗ 222 . coi quân đội, làm Tổng trấn Gia-Định. Khi về cai trị tỉnh nhà, lo sửa sang làm quán, đền ơn trả oán, hay bắt dân làm những công việc không hở. Một hôm, về nhà ở huyện Vĩnh-Yên (An-Giang), lính hầu cũng ít, bọn ác hiệp lại cướp và hỏi đã chừa chưa ? Quan ta phải xin xỏ từ tạ họ mới được thả. Từ ấy có dẹp bớt.

Nguyễn-Du 223 làm Hữu tham tri bộ Lễ, ngày đi sứ Tàu, qua Nghệ-An vào yết kiến quan huyện, huyện mình (Nghi-Xuân). Quan Nguyễn đang đứng trước thềm. Quan hỏi là ai ? Nguyễn nói rõ họ tên. Quan chào mời vào ngồi bên khách bên chủ. Uống trà xong, Nguyễn ra, nói với người khác rằng: « Người nầy hơn ta » . Từ đó rất kính trọng quan huyện. Xưa, Lưu-huyền-Tá trẩy quân qua huyện nhà là Khuông-Thành muốn hầu quan như lễ một dân làng với quan huyện nhưng quan từ chối mãi không dám nhận. Lưu thở than lấy làm giận chê là ngu hèn.

(Tư-Mã) Tương-Như về đến đất Thục, quan huyện mang tên nỏ đi trước, tự lấy làm đắc ý. Khí lượng con người ta kẻ hơn người kém vẫn như thế. Nhưng lại có kẻ vốn là quan cũ, giận người ta không ở dưới mình, mới hãm hại người như Đỗ-Vĩnh-Du đối với Tần-Khuông-Mưu. Ấy tài kém hơn nữa.

Hoàng-Quýnh hay khôi hài. Ngày làm Tham biện Ninh-Bình qua phủ Hà-Thanh 224 (Hà-Tĩnh) nghỉ ở trạm gần phủ, lấy thẻ phiên bôi trắng viết mấy chữ lớn rằng: « Có cơm rượu dọn tiên sinh xơi » 有酒食先生 ? Rồi bảo phu trạm cầm vào phủ. Quan phủ thấy liền giết lợn làm cơm vừa Quýnh đến, quan phủ ra đón ngoài cổng phủ. Họ vẫn chưa quen biết nhau. Ngồi xong quan phủ ra trước lạy, Quýnh đứng dậy từ chối, mời ngồi nói chuyện khi cơm bưng ra.

Quýnh cười rằng:

- Ông chủ vì có khách phải giết lợn ư ?

Quan phủ từ tạ một cách khiêm tốn. Đến khi từ giã, quan phủ đưa ra đến ngoại thành, Quýnh chào bảo trở lại.

Thấy quan Phủ còn dùng dằng chưa trở về, mới hỏi:

- Quan phủ có biết tôi là ai không ?

Đáp:

- Tôi là kẻ hậu sinh, xưa nay vẫn chưa được hầu ngài.

Quýnh trả lời:

- Tôi là Hoàng-Quýnh đây.

Rồi cười to lên mà từ biệt.

Phủ doãn Nguyễn-Công-Trứ giỏi bỡn cợt Lúc làm Tuần vũ An-Giang 225 có lỗi bị đòi về kinh. Lúc đi qua Bình-Định có ghé vào nhà viên Huấn đạo Tuy-Phước là mỗ cũng người Nghệ. Người này ra chào hỏi trò chuyện hỏi đi đâu lại. Nguyễn đáp là người Nghệ làm Tri huyện trong Hà-Tiên bị giáng về bộ đợi mệnh.

Ông Huấn lưu lại nghỉ, nhân hỏi:

- Ngài ở trong Nam về có biết cụ Tuần An-Giang họ Nguyễn có mạnh giỏi không ? Năm ngoái cậu con vào thăm ngài, có ghé vào nhà tôi nghỉ đem, hẹn năm nay về lại vào đây, sao đã lâu chưa thấy ?

Nguyễn trả lời:

- Quan Tuần Nguyễn tuổi đã già gần đây đâu yếu luôn, còn cậu con trai nghe nói đã đạp mành ra bã rồi.

Hôm sau, quan huyện Tuy-Phước giỗ, sang mời ông Huấn, người này chối rằng bận khách, ông huyện sai bưng cỗ tới. Đến khi sắp ra đi, Nguyễn bảo ông Huấn rằng:

- Thấy ông thiệt thà không nỡ nói dối, tôi là Nguyễn-Công-Trứ đây !

Ông Huấn vội vàng sụp lậy. Ông Huyện nghe nói cũng tới lậy chào. Nguyễn đứng dậy từ chối rồi mời cùng ngồi. Hai ba lần mời mà họ vẫn không dám. Ông ta nói:

- Lẽ thường không biết nhau thì không ngồi với nhau. Lúc trước hai ông không biết tôi mà còn ngồi với tôi, nay biết nhau rồi, không ngồi sao được.

Đoạn rồi qua tỉnh, có viên huyện lại đi theo, thuật chuyện với người đồng tọa ai cũng cả cười.

Đời Lê, Nguyễn-Văn-Giai làm Thượng thư nắm cả 6 bộ. Sau khi hết tang vợ, ra kinh phục chức, đi qua làng Bồng-Bào 226 người làng đang nhóm họp. Nguyễn bận áo tang nón lá đi qua. Làng ấy vốn là quê Trịnh-Tùng dân rất tự kiêu bèn ra đón đường bắt tội vô lễ. Nguyễn cũng từ tạ không biết lệ làng cấm người ăn mặc đồ tang đi qua. Sau rồi họ mới biết là Nguyễn-văn-Giai bèn rạp lạy xin lỗi. Xưa nhà Tống có Đỗ-kỳ-Công tên là Diễn khi thôi tể tướng về làng không hay đội mũ mang đai. Một hôm ra ngồi ở quán Phủ Hà-Nam, bận áo thâm đội mũ thường, vừa quan Phủ đi ra, lính hầu không biết đó là Tể tướng ngày trước, thấy không đứng dậy chào, bèn lên tiếng to hỏi:

- Túc hạ trước làm quan gì ?

Đỗ đáp se sẽ:

- Đồng trung thư môn hạ Bích chương sự.

Châu-Quắc-Khả kể chuyện và chép lại việc ấy có nói:

- Chỗ khách và chỗ tiệc không quen biết nhau thì phải tự xử ra lối ti hạ, không nên nói chuyện bậy và hỏi tên họ người, vì sợ đối với con em người ta nói tên cha anh họ, có khi bị tai bay vạ bốc đến mình.

Người đời xưa có nói: « Làm quan cũng tựa như đọc sách, có chậm mới tốt ». Nguyễn-Trung-Mậu ban đầu làm Tri-huyện đến 12 năm không được thăng, trong triều thì không quen ai cả. Sau khi được làm Viên ngoại lang bộ Hộ, không đầy 10 năm, lên đến Chính khanh. Người ta làm quan, kẻ mau người chậm đã có định phận không nên có một tí gì ý riêng để lên cho mau.

Ngô-Nhân-Tĩnh làm Hiệp trấn Nghệ-An. Đến nhậm được một tuần, tình cờ qua trường để tre gỗ, thấy tre chia làm hai đống, bèn hỏi người thu tre vì sao ?

Người ấy thưa rằng:

- Đống này hạng tốt dùng được đã chọn rồi thu vào đó, còn đống kia không dùng được nên loại ra.

Ông cười rằng:

- Mày giỏi phân biệt tre nhỉ ! Của dân góp lại nộp đây không ai được loại cả.

Lập tức tước ngạch người ấy. Từ đó các viên lại đều sợ không dám làm khó dễ để sách nhiễu nữa.

Bình-Thành-Bá nói lúc trước ông ở bộ Binh, một hôm đang trưa ngồi một mình ở công thự, có một người với tên đầy tớ đội một cái thùng tre vào, trong có ít món đồ chơi, tự nói đưa bán. Xem ra thì cái nào cũng rất tinh xảo. Trong mấy món đồ ấy, ông chỉ để ý có một cái nghiên.

Hỏi giá thì người ấy nói:

- Quan lớn vừa ý, xin ngài lấy dùng, giá nó cũng không bao lăm.

Hỏi lại thì nó bảo hai lượng. Ông toan gọi người nhà lấy bạc trả, trong bụng có ý ngờ về chỗ giá rẻ. Bỗng nguòi ấy ngảnh ra ngoài cửa, rồi có một người cầm đơn khúm núm vào quỳ ở sân. Ông mới biết là tên lính xin người thế chân lập tức đuổi ra cả. Vài ngày sau trong buổi triều hội, thấy người nọ từ xa nhìn ông mỉm cười. Bình-Thành-Bá lại nói:

- Cổ nhân sở dĩ cẩn thận từ cái vi ẩn, cũng giống như việc này.

Thiệu-Trị năm dần (1841), tôi ở bộ Lễ xét việc năm kỷ mão đời Gia Long (1819) trong giấy tờ cũ không thấy chép, nhân hỏi Hoàng Đăng-Thận. Ông nói:

- Đang hồi tôi làm chức Tiểu hiệu, đêm ngày 19 kinh thành ra lịnh giới nghiêm, canh năm nghe lầu Đoan-Môn đánh trống. Sáng hôm sau bày đồ lễ bộ thư nghi lễ triều đình buổi đại hội mới biết ngay các quan tra khảo chế độ. Tuy việc làm lần đầu mà rất có thứ tự.

Năm đầu đời Thiệu-Trị, Hiếu-Tổ Chương Hoàng-đế lên ngôi làm lễ yết miếu xong, sai quan đầu bộ tìm điển cũ vua trước. Tìm đến vài ngày ai cũng bảo không có cái việc sai, quan cáo yết. Hơn một tuần sau bỗng tra lại giấy cũ được bản văn cáo chúc và chú thích nghi lễ. Mới biết bất cứ việc gì, phải cho rõ ràng kỹ lưỡng, chớ có khinh xuất nghe người ta nói.

Năm trước, trấn Nghệ-An sửa lại sổ bộ, có một làng gọi là làng Vân-Thai, quan Trấn nghe nói đông dân bắt thêm đinh, thêm ít không cho, phải thêm theo số đã định. Giam tra đến mấy ngày, lý trưởng làng ấy chịu không nổi, mới lấy những chữ như: « N guyên, hanh, lợi, trinh, nhân, nghĩa, lễ, trí » làm tên, trước bậy vào sổ. Nộp xong rồi người làng liền dắt nhau đi trốn, đến nay chưa phục hồi.

Phủ Hà Thanh năm xưa, có một án mạng. Nguyên chức dịch làng kia tới cáo với lính bổ biền 227 rằng làng nó có một người thông với giặc. Cả đêm lính tới học bắt giải về. Dọc đường, ban trưa thì nó chết. Bổ biền sợ bèn đâm cái thây cho có thương tích rồi tới báo phủ nói nó chống cự quân lính bị thương nặng mà chết. Quan phủ sai viên Lại tới khám biêu, thây chết ấy có 8,9 vết thương, có dấu trí mạng. Đứa con gái người chết kiện rằng cha nó không có tội gì, bị lý dịch dẫn bổ biền về bắt càn rồi đâm chết. Tra người chết khi trước chưa từng can án, lý ưng bắt tội bọn bổ biền, nhưng vì nó bị hương đảng ghét nên cứ dùng dằng chưa làm án.

Để mãi cho đến khi Tri phủ Dương-Văn-Kiều xét tiếp án ấy cũng lấy làm nghi, bèn hỏi đứa con gái người chết rằng:

- Họ đã đâm cha mầy giải về, thì sai người gánh hay bắt đi bộ ?

Nó đáp:

- Đi bộ.

Lại hỏi:

- Dọc đường nó có cho cha mầy ăn uống gì không ?

- Tôi cho cha tôi ăn.

Ông bèn đòi bọn bổ biền cật vấn rằng:

- Nó đã bị thương nhiều, há lẽ nào lại đi bộ được.

Bổ biền cứng họng phải thú thiệt.

Lại hỏi:

- Sau khi ăn rồi nó làm bộ dạng thế nào mà chết ?

Đáp:

- Nó ọe mửa một chốc rồi chết.

Bèn tra lại, quả nó bị trúng độc và chết rồi mới bị thương, án ấy mới rõ.

Hồ-Thức Tường làm Tri châu Bố-Chinh có cái án giết người, hung phạm trốn mất không bắt được. Hồ lo sợ thuê người đi tìm. Người ấy đi theo thuyền buôn tình cờ vào Hà-Tiên, đêm ngủ ở quán, chiêm bao thấy có người báo cho rằng: « Cái đứa mà mầy tìm nay nó bận áo đen đang ngồi trên bờ sông một bên thuyền ». Giật mình tỉnh dậy, quả thấy có người bận áo đen đang sửa thuyền cho người ta. Bắt thì đúng.

Hiệp biện họ Hà có nói khi ông ta làm Tri phủ Hoằng-Yên 228 có khám một cái án giết người. Tên giặc đã chịu thú hết cả. Đưa cây đao giết người ra mài sáng rửa sạch bảo nó chỉ vào chỗ có rây máu giết người, theo phép nung đỏ lên rưới giấm vào thì máu tươi theo chỗ đó phun ra. Tên giặc cúi đầu nói rằng:

- Nay mới biết có đạo trời. Đây không phải chính cây đao giết người, chẳng qua nói láo để mong nó đừng nghiệm, may ra mà khỏi tội. Nay đã như thế thì chết còn chối gì nữa.

Nó lại thú chỉ đích thiệt cây đao giết. Đem ra thí nghiệm cũng như thế.

Trong năm Minh-Mệnh, tỉnh Hưng-Yên có tên dân thưa rằng đứa con nó làm thuê cho người bị giết chết. Đến khi tra người chủ thuê thì nó tự thú là đánh chết rồi quăng thây xuống sông. Lại tra những người khiêng thây và những kẻ đồng cư thì chúng đều nhận như thế, chỉ có cái thây không thấy nổi, cho là theo dòng trôi mất. Án đã tư lên bộ, bộ cũng y, nhưng chưa thi hành. Người chủ thuê bỗng cho người vào kinh kêu oan. Bộ bèn tư ra xét lại. Quan tỉnh không biết vì dân sinh xuất việc ấy, bèn đòi chủ thuê ra hỏi lại. Nó thưa rằng có đánh và la đầy tớ chứ không giết, chỉ vì không thể tự mình biện lẽ được, cho nên phải nhận liều. Sở dĩ kêu tới bộ là để xin khoan hạn cho một tuần. Bèn bắt đi tìm, sau quả kiếm được đứa ấy đang trốn làm đứa ở giữ voi ở Nam-Định.

Tỉnh Gia-Định có cái án ăn cướp liên can đến một tên tấn binh 229 là đồng lõa với cướp. Bắt tra thì tên lính thú hết. Án bộ đã y, tư ra sắp hành hình, nó mới van xin khóc kêu oan, bên tra hỏi lại thì ra nguyên nó thuê một người khác, đội tên mình đi thay, (một tên trong) bọn cướp ở tấn ấy là người nó thuê. Lúc đầu nó không biết tội thuê người (đi lính thay) với tội ăn cướp nặng nhẹ thế nào, vì ngọn roi tra khảo bức bách nên phải nhận ẩu.

Nguyễn-văn-Hiến làm Lang trung bộ Hình bị đau, trong lúc hoảng hốt thường thấy có ba người đòi mạng. Làm lễ kỳ yên mãi không thôi, sau không dậy được.

Năm bính-thân đời Minh-Mệnh năm (1836) có Thống chế Hồ-văn-Khuê làm Đề đốc tầu biển chưa về. Một hôm có họ Hà làm quan ở bộ Công nói khi đêm chiêm bao thấy ông Hồ xõa tóc chạy vào nhà ông Hà có ý vội vàng, thở mãi không thôi, nói bị Trịnh-Đường đuổi bắt nhờ cứu với. Vài ngày sau, tàu ấy bị tố, Hồ cũng bị chết đuối. Việc này cũng giống với việc Điền-Đậu chép ở Sử-ký (tàu)

Xử việc có cái rất khó hiểu rõ. Ngày trước tôi ở Quảng-Ngãi có dân xã nọ nạp một tên phạm ăn trộm, và xét nhà nó được một cái ấn bằng gỗ khắc bốn chữ « đốc chiến hành sự ». Tra thì chủ xưng nó là một đứa ăn trộm đã lâu, còn cái ấn thì chung quy nó không chịu nhận. Cách một tuần có xóm bên cạnh xã ấy, đưa một người đàn bà góa tới. Người đàn bà ấy tự khai là cha nó trước theo nhà Ngụy Tây-Sơn làm chức Đốc chiến, cái ấn ấy là của nhà nó bị mất trộm. Trong bụng vẫn biết là không phải, nhưng cũng nghe cho.

Xã Đông-Lỗ có ông Tú Trương-Xuân-Dục có biết môn học xem sao. Tháng 8 năm ất dậu đời Minh-Mệnh (1825), sao Chổi mọc ở giữa sao Tất sao Sâm. Sau một tuần tôi cùng ông ta ngồi cả đêm, nhân hỏi sao Chổi đến kỳ nào thì mất và ứng vào việc gì ? Ông đáp:

- Độ 80 ngày nữa nó đi đến phía bắc sao Thiên-cương thì mất. Không đầy ba năm thì Vạn-Tượng bị mất nước, tỉnh Nghệ-An bị khốn về sự bắt lính.

Sau rồi quả đúng. Ông Trương mất rồi, hỏi người trong huyện thì không một ai biết cả. Hoặc giả nghề thuật số, bị người ta khinh bỉ, và tục hay kỵ húy, ví phỏng có kẻ biết chăng nữa, không những không chịu nói mà còn không dám nói.

Mùa xuân năm canh thìn đời Minh-Mệnh (1820), Trương và tôi nhân gặp Nguyễn-Nghi-Trọng là người đồng huyện cùng ngồi. Trương nói:

- Sắp có dịch lớn.

Hỏi ông sao mà biết thì đáp:

- Trong gò lớn chứa thây sáng giấp giới bội thường.

Nguyễn bảo:

- Ông biết gì được việc trên trời.

- Lúc bấy giờ tôi còn ít tuổi không hiểu ra sao. Sau cũng quả nhiên như vậy.

Khoảng năm Minh-Mệnh ở tỉnh nọ có Án-sát (mỗ) tâu vua xin bắt cắt cổ những tên phạm bị tội giảo. Có Bố chính (mỗ) cũng tâu rằng con cháu nhà Lê tháp vào ở tỉnh có nhiều kẻ trốn mất. Xin thử xâu tai để tiện sự tra hỏi. Họ đều bị Hoàng thượng cả mắng không cho. Người tỉnh Quảng-Nam mới đem tên họ hai người ấy đối nhau có câu: « Xâu tai là ông Bố… cắt cổ là ông Án… » Sau ông Án nọ bị tội, chết ở ngục. Trần-Sủng dạy con xử án phải nhẹ tay, còn Âu-Dương Sùng-Công lại vì đứa tú cầu cho nó được sống. Người nhân đức dụng tâm như thế.

Cuối nhà Lê có một ông Cử tới đền Chân-Vũ để cầu mà nằm mộng không thấy gì. Hôm sau toan đi, nhân nằm nghỉ ở quán thấy một người đàn bà khá đẹp bèn thông dâm với, rồi không đi nữa mà trở về nhà. Đêm nằm chiêm bao thấy thần đạp ở trên vai mà bảo:

- Ông Tiến-sĩ mới ! sao không nghĩ đến sự nối dõi à ?

Khoa ấy ông Cử đậu Tiến-sĩ làm đến chức Trấn, sau mất không có con.

« Lùi
Tiến »