Sách Vật lý luận 230 có nói: « Ba loại đạo, lương, thúc có đến 20 thứ ». Nước ta loài lúa đạo có rất nhiều thứ, có thứ tẻ có thứ nếp.
- Từ Bình-Định ra bắc loài nó hai mùa tháng 5 tháng 10 khác nhau. Lúa tháng 5 thì mùa thu vãi giống, mùa đông cấy, đến xuân hạ thì lúa chín.
- Ở Bắc-kỳ có khi mùa đông bắc mạ, mùa xuân cấy, cũng đến hạ thì chín. Lúa tháng 10 thì mùa hạ bắc mạ, mùa thu cấy, đầu mùa đông thì chín.
- Tỉnh Quảng-Nam, Quảng-Ngãi lại có thứ lúa trì (trì đạo) tháng 8 tháng 9 cấy, cuối đông thì chín.
- Nam-kỳ chỉ có một mùa, hạ cấy đông gặt.
- Tỉnh Phú-Yên, Khánh-Hòa ruộng xen vào khe núi, bốn mùa đều bắc mạ và cấy được, lúa kế tiếp chín, chắc cũng không ra ngoài 20 thứ vậy.
Kê, bắp (lương) có thứ kê vàng kê trắng có thứ bắp to bắp nhỏ:
- Kê vàng (hoàng lương) to nhỏ có hai thứ: thứ to thì bông dài, lông nhiều, rất dẻo ; thứ nhỏ thì bông ngắn lông thưa không dẻo bằng thứ kia xứ nào cũng có.
- Kê trắng (bạch lương) giống như thứ kê vàng nhỏ. Tỉnh Nghệ-An, Cao-Bằng đều có.
- Bắp to (đại mạch) sản xuất ở Lạng-Sơn, so với thứ bắp nhỏ (tiểu mạch) mà các xứ hay trồng thì nó chỉ có rất ít, người ta không dùng làm lương thực.
Loài đậu (thúc) có 10 thứ:
- Hoàng đại đậu cây không cao lắm, lá có nhiều lông, hoa vàng mà nhỏ, vỏ kín mà bẹp, dài chừng một tấc, tục gọi là đậu nành , dùng để làm tương.
- Hắc đại đậu cây giây, lá hơi trơn, hoa biếc, vỏ tròn dài 5, 6 tấc.
- Xích đại đậu giống thứ đen mà hoa thì đen thắm, hai thứ nầy tục gọi là đậu đũa , có rất ít.
- Bạch đại đậu lại gọi là đậu quảng , cây giây bò lan, hơi ngắn, hoa vàng, vỏ dài 4, 5 tấc, hạt tròn lớn mà trắng.
- Hắc tiểu đậu giống hắc đại đậu mà nhỏ.
- Xích tiểu đậu cũng giống xích đại đậu mà nhỏ.
- Đậu xanh cây lá giống hoàng đại đậu mà nhánh thưa, lá rộng, hoa tía, vỏ dài hơn hai tấc khi non thì xanh, khi chín thì đen, hạt có thứ to thứ nhỏ, to thì thiệt xanh, nhỏ thì xanh thắm, người ta trồng rất nhiều, hễ tán bột làm bánh ngâm giá đều dùng nó cả.
- đậu gạo bạ c giống bạch đại đậu mà nhỏ hơn.
- đậu đen giống đậu gạo bạc mà hoa điểm xanh biếc, giữa dừn hạt thì đen.
- đậu ván tức biển đậu hạt có thứ đen thứ trắng mỗi sắc giây và lá đều có một thứ to thứ nhỏ, to thì hoa xanh biếc, nhỏ thì hoa trắng.
- đậu đao cây giây bò lan, hoa lá rậm rạp, hoa biếc vỏ dài 7, 8 tấc, rộng hơn một tấc, hạt bẹp mà to như vỏ hến.
Các thứ đậu ấy từ Thừa-Thiên ra bắc, mùa xuân trỉa, mùa hạ chín, nắng to thì khô ; từ Quảng-Nam cho đến Bình-Thuận thì đông trỉa, xuân chín, hè thì khô.
Ở Nam-kỳ lại thu trỉa, đông và đầu xuân thì chín, xuân già thì khô. Chỉ có đậu ván, đậu đao thường nằm ở trên cây không khô, từ thời đều có trái cả.
Thứ xích đậu lại có một giống ở mọi phía tây (tây phiên) đưa về, cây giây, lộc và lá đều nhỏ, hạt rất bé.
Lúa ma: Định-Tường, An-Giang và Cao-Mên có một thứ thủy đạo tục gọi là lúa ma , mọc ở các nhánh sông chằm nước tùy nước mà dài không phải vãi cấy gì cả, chỗ nước sâu cây lúa có thứ dài đến 6, 7 thước, hạt nhỏ mà dài, râu dài hơn một tấc, khoảng thu đông thì chín, người ta chống thuyền con, dùng gậy đập ở đầu bông cho hạt rụng vào trong thuyền rồi đựng vào sọt ngâm xuống nước vài đêm, vớt lên lại dùng gậy đập cho rụng râu đi, rồi mới phơi khô. Sắc gạo đỏ, nấu cơm ăn thì cứng. Nhà đói và năm mất mùa thì đi lấy nó. Những cây còn sót, hạt nó rụng xuống bùn sang năm sau lại mọc.
- Vương-Hội 231 bảo thứ đậu mọi ( nhung thục ) là ở Sơn-Nhung. 232
- Sách Nhĩ Nhã 233 : « T húc a đậu mọi ».
- Sách Quân-Tử 234 : « Hoàn-Công 235 đánh Sơn-Nhung truyền giống đậu mọi cho thiên hạ ».
- Quách-Phác bảo đấy là thứ đại đậu .
- Sách Bản-thảo 236 bảo là thứ thanh-đậu .
Nước ta loài đậu cũng nhiều mà không có thứ thanh đậu ấy. Năm gần đây có người đi sứ Tàu mang giống nó về. Hạt nó giống như thứ hoàng đại đạo mà sắc lại xanh, trồng ra không được tốt. Ý giả giống nay vốn ở Sơn-Nhung trồng về đất ta không chịu được nắng nóng.
Lúa bắp ( ngọc-thạch mạch ): có vàng trắng hai thứ, lại có thứ 5 sắc lẫn lộn: thứ 5 sắc thì dẻo, thứ trắng cũng có tẻ nếp tương tự như lúa, nhưng thứ nếp không nên cấy lại chỗ khác.
Hễ trỉa hạt về đầu tháng thì bông nó cả đầu liền đuôi đều mập và dài, mà hạt lòi ra ngoài đầu vỏ ; trỉa về giữa tháng, thì cũng mập và đủ hạt mà đằng đầu hạt không lòi ra ngoài ; trỉa về cuối tháng thì được hai phần (ba) mà đằng đầu thì gầy không thành hạt.
- Sách Tề dân yếu thuật 237 : « T hứ ngũ cốc vãi về đầu tháng thì được hơn cả, giữa tháng thì vừa vừa còn cuối tháng thì được ít ».
- Sách Tài thụ (trồng cây): « Hễ trồng cây nên trồng trước rằm, trồng sau rằm thì ít trái ». Cái ấy cũng có kinh nghiệm.
Hễ lúa bắc trang 238 đủ 60 ngày thì có đốt (mạ ống), cấy không tốt nữa.
Chỉ Nam định, Ninh-bình và ở Nam-kỳ đất rất tốt cắt gốc đi chỉ để đốt nó mà cấy cũng tốt và cũng có hại, nhưng không « được » cho lắm.
Hễ những ruộng cấy lúa, sau một đêm nước trong thì được mùa, đục mãi thì mất. Sau khi gặt rồi vỏ lúa và lông dài mà không rụng và khi sảy phơi dính vào thùng và đấu thì mùa sau chắc được. Nếu vỏ lúa sáng trơn, không dính vào các đồ dùng ấy thì mùa sau ắt mất. Chó ăn lúa mèo ăn cám đều là cái triệu mất mùa. Nhà nông từng lấy làm nghiệm.
Cam chư, tục gọi củ lang. Nhà nông trồng nó để đỡ vào lúa, lợi nó rất nhiều. Vỏ nó chia ra hai thứ đỏ và trắng. Thứ vỏ trắng lại chia làm hai: một thứ lá chẻ mà nhọn có nhiều rìa, củ hơi nhỏ vỏ có vằn ngang, thịt rất trằng, chặt và nhiều bột ; một thứ lá tròn cũng chẻ ra nhọn mà không rìa, củ to, vỏ vằn nhỏ thịt hơi nhão, giống thứ khoai đỏ vỏ.
- Sách Lĩnh Nam Tập Kỳ: « loại phiên thự có hai thứ đỏ và trắng ». Chính là nó vậy.
- Sách Thảo mộc trang của Kê-Hàm 239 « vỏ tía thịt trắng ».
- Sách Thực vật bản thảo « vỏ đỏ » ấy là chỉ nói thứ khoai vỏ đỏ mà thôi. Hễ trồng khoai lang, ba tháng thì có củ tạm ăn được, đến năm tháng nó mới sinh nở nhiều.
- Sách Vân đài loại ngữ 240 : « Thứ hoàng độc ở Thanh-Hóa, tục gọi là củ cáo » .
Xét từ Nghệ-An vào nam, tục gọi là khoai vạc, cũng là khoai này. Có củ dài một thước năm, thước sáu mà thẳng thì gọi là khoai ná, cong như ngà voi thì gọi là khoai ngà, hình bẹp, ngắn, đầu củ thì súc sỉu, thì gọi là khoai cánh tiên, như củ phục linh vỏ rất tía thì gọi là khoai tía. Các thứ khoai ấy, đều ở vào khoảng tháng hai, tháng ba cắt củ mà trồng, đến tháng chạp thì bới mà nấu ăn. Thứ khoai tía thịt chặt mà vị thì có ngon hơn. Lại có một thứ nữa, mầm cao vài thước, không có lá bò lan ra, giống như dưa chuột mà trơn, tục gọi là khoai ổi củ tròn, lá vàng, thịt trắng vị như khoai môn, thứ này lợi không bao lăm, người ta ít trồng.
Vu tục gọi là khoai môn, có vài thứ: thứ tía lại có tên là khoai sáp. Cây lá và vỏ đều tía, cây cao vài thước, củ dài bốn năm tấc, có mọc ánh con thịt vàng như sáp rất bổ tì vị, người đi lỵ ăn nó nhiều khi khỏi. Lại có thứ gọi là khoai sọ, cây lá hơi ngắn và nhỏ, thịt trắng, giã thành bột làm bánh rất ngon. Hai thứ ấy trồng ở ruộng khô. Có thứ đỏ gọi là môn hành giống như khoai sáp mà cây lá đều xanh, bẹ đỏ, rễ và vỏ đỏ, thịt trắng thứ trắng có tên là môn tròn, lại có tên là môn khô i , lá tròn, lá và cây đều xanh ánh còn bò lan. Có thứ tên là môn ấp trên lá có điểm tía, ánh con phu với củ mà trắng, đều trồng ở ruộng nước.
- Sách của Phiếm-Thắng-Chi 241 : « C ó thứ môn khô (hạn vu) và môn nước (thủy vu) » . Có lẽ là loài này. Hễ trồng môn phải đầy năm mới bới được. Thứ môn nước cũng ăn đỡ vào gạo, lợi gần bằng khoai lang. Môn ở hai xứ Gia-Lâm, Đông-Tà (Bắc-Ninh) là hơn cả. Lấy cả cây nấu canh rất thơm và mềm, vào miệng thì tan ngay. (Xét môn cũng có tên là thổ chí , lại có tên là cốt đốt tức là thứ mà Lãn-Tân 242 dùng phần thân khô nướng ăn. Đó là thấy ở sách Lâm thị sơn gia thanh cung).
- Sách Chiên thư: « Muốn biết ngũ cốc được hay mất thì chỉ xem 5 giống trái nhiều hay ít » .
Trong 5 giống trái có trái lật chủ về lúa, nghề nông nước ta lấy lúa làm chủ mà đất lại có lật. Tục lấy chuối hột để xem lúa tháng mười được hay mất rất có kinh nghiệm. Đầu buồng cuối buồng đều đầy thịnh thì tháng mười lúa sớm lúa muộn đều được. Nhiều trái đầu buồng thì được lúa sớm, giữa buồng thì được lúa giữa, cuối buồng thì được lúa muộn. Nếu đầu và cuối đều gầy thì mất mùa to.
Loài chuối , ông Quế-Đường góp kể cũng khá nhiều: 243
- Chuối quế (quế tiêu) nay giờ chưa từng nghe.
- Chuối cơm, chuối cau. Chỉ nói những thứ sản xuất ở Hà-Tiên có khi cũng chưa hết vậy. Chuối cau ở Nam kỳ rất nhiều, bây giờ các xứ cũng có, to bằng trái cau, dài hơn hai tấc.
- Các thứ chuối khác ngoài vỏ đều có canh, chín thì hay bấy, chỉ thứ này vỏ đều non thì xanh luốc, chín thì vàng đỏ thịt đỏ mà trặt, để được một tuần mới có dấu lấm chấm như ốc tía mà không bấy, rất ngọt thơm, hơn cả trong các thứ chuối.
Các thứ trái như mít (ba-la-mật), xoài (am la), vải (lệ chi), đào (đào), mận (lý), dứa hoặc thơm (bách nhãn lê) đều chín về mùa hạ ; nhãn (long nhãn) hồng (thị), bưởi (du), đều chín về mùa thu ; cam (cam), quýt (quất), thanh yên (câu duyên) đều chín về mùa đông. Chỉ có chuối thì bốn mùa đều chín, đựng vào mâm thì nó hơn cả, nhưng vì nó dễ sinh trưởng nên người ta không quí cho lắm. Chính chư sách Thảo mộc trang nói: cây thủy tùng 244 Người Nam không hay deo chứ người Lĩnh bắc rất ưa.
Mít sản xuất ở bờ khe miệt Đường Hào (Hải-Dương) trái không to lắm, bằng hai nắm tay, thịt chỉ được một múi, trong có một hột mà vị rất ngon.
Hồng ở Bắc-Ninh, Hải-Dương, Nam-Định tục gọi hồng mông đều ngon. Từ Thanh-Hóa trở vô thì không bằng.
Sách Quảng dư: « Am la tục gọi là hương cái là cực phẩm trong các trái ».
Nay thấy to nhỏ hai thứ, cây đều cao lớn ; thứ to vị rất ngon ngọt, tục gọi là xoài tượng, từ Bình-Định trở vô rất nhiều, Bình-Định, Phú-yên phải cống vua, Quảng-Nam, Thừa-Thiên cũng có mà ít.
Từ Quảng-Trị ra bắc cũng trồng mà ít có trái. Thứ nhỏ thì vị đá chua, rất thanh mà thơm, gọt vỏ nó rồi hơn một canh mà tay còn ngưởi thấy thơm, tục gọi là xoài cơm , lại gọi là xoài muỗm, từ Thừa-Thiên trở vô rất nhiều.
Quảng-Bình ra bắc cũng có mà ít. Lại có thứ sơn trà, cũng là loài xoài, nhánh và lá đều nhỏ, trái nhỏ hơn xoài muỗm, ở Hà-Tiên thì rất ngọt mà thơm, ở Quảng-Bình ra bắc thơm mà rất chua.
Vĩnh-Long, Biên-Hòa có trái măng cụt cây cao đến vài trượng, nhành lá giống cây vải mà thô, trái to như chén uống rượu, vỏ dày non thì xanh, chín thì tía, thịt trắng, có khía, hột nhỏ mà mềm vị không thua xoài, nhưng thịt hay có troi. Ở Biên Hòa vị ngon hơn, cũng có tên là thổ lý .
Xét sách Quảng dư chép rằng: « Xoài ở Hà-nội gọi là hương cái, ở Chân-Lạp gọi như trên (măng cụt) lá nó như lá cây mận (lý) ».
Kỳ thực thì lá xoài khác hơn lá mận nhiều. Hoặc giả nghe nói hay cây ấy giống nhau, nhân chép vào chăng ?
Trái hám lãm, có tên là trái trung gián, tục gọi là trái ca na lại gọi là trái trám rất hay tiêu thực. Trái tro ( bồ quỳ ) cũng ăn được, cũng giống trám nhưng thịt nó xơ, vị hơi lạt.
Cây sa kê, cao hơn 1 trượng, lá như lá thu đủ (mộc qua) mà dày hơn, đầu nhành mập rậm, nhiều bông, trái như trái mít, vị béo nấu với thịt lợn ăn ngon.
Sách Lĩnh biểu lục dị 245 : « Xứ Quảng-Châu không có cây lật, chỉ xứ Cần-Châu trong núi có thứ thạch lật trái nó một năm mới chín, vỏ dày mà thịt ít vị tựa như hồ đào nhân ».
Sách Thảo mộc trạng: « Cây thạch lật sinh ở Nhật-Nam. Thứ ấy nay tục gọi là trái trắm sinh trong núi, cây nó không phải giây cũng không phải cây, vị chính là vị hồ đào nhân, ngoài vỏ có lông, chùi không sạch ăn nó đâm vào miệng » .
Bài phú Thục đô có nói: « có thứ bột cây quang lang » và chú rằng: « nó sản xuất ở Cửu-Châu, Giao-Chỉ ».
Sách Lĩnh biểu lục dị: « cây quang lang nhánh và lá đều nhiều mà rậm hơi khác với cây táo, cây cau (tâm lang), dưới lá có râu tựa đuôi ngựa. Người Quang-(Châu) hái nó để dệt khăn tay và làm giây neo, vỏ trái nó có phấn như bột có thể làm bánh ăn ».
Câu nầy tức tục gọi là Cây hoác 246 . Lá như lá cau, vỏ như da cây móc ( linh lư ) người ta cũng lấy vỏ nó để may nón và buộc đồ đạc. Trổ buồng kết trái đều như móc, trái nó nấu ăn được, người ta hái trái làm bột gọi là bột hoác. Lại có một loài nữa, cây và lá giống hoác mà nhỏ, bột ở trong vỏ, trong núi tỉnh Sơn-Tây có.
Cây thiên tuế gốc và thân cây thấp ngắn, lỏn chỏn như cục gì, lá như lá cau mà nhỏ, cứng, mọc xung quanh đầu cây, trải hàng năm không rụng, cây cũng làm bột được, trổ buồng kết trái cũng giống móc, trái bằng ngón tay cái, nấu ăn vị cũng như lật.
Sách Thảo mộc trạng nói: « Thiên tuế có giây lan ra đất, trái ở dưới gốc râu sắc lục, giao kết lại như dệt, một chùm có hơn trăm trái, sắc vỏ thì xanh vàng, trong có thịt như lật, vị cùng như thế. Khô thì vỏ và thịt rời nhau, lúc lắc có tiếng như hột nhục đậu khấu. Sinh ở Giao-Chỉ » là chỉ cây nầy.
Nhưng xét cái thuyết nói, cây giây lan và râu sắc lục thì lại không biết là thế nào ? Lại xét sách Uyên giám 247 , bài ký Nghi đô sơn xuyên của Viên-Tùng-Sơn nói: « Núi Hằng có thứ cây có trái, người ta không hề thấy nó hủ nát, tên là thiên tuế, lá như lá táo, sắc như sắc cây dâu, mùa đông cũng xanh, cứng cáp, ít mắt ». Dáng chừng lai biệt làm một loài khác.
Cây bối đa sinh ra ở Nam-Kỳ, cây như cây dừa (da) lá như lá tro (bồ-quí) mà dày tục gọi là cây thốt nố t . Người nước Cao-Mên lấy lá nó viết kinh Phật rồi lấy giây đóng lại. Ở giữa các lá trổ buồng nở hoa vàng, kết trái, tròn to như dừa, vỏ trơn không có dún, cũng không có xơ, vỏ vàng mỏng mà mềm, nước và mủ cũng như dừa mà lạnh hơn, ăn vào bị động phong. Người Cao-mên lấy nước và trái nó, khi chùm non mới trổ ra, cắt đầu ngọn mà bắt quỵt xuống, lấy đồ hứng mủ nó nấu lên thành đường, sắc vàng đông cục, kém thua đường mía.
Xét sách Dậu dương tạp trợ 248 : « Cây bối đa dài đến 6, 7 trượng mùa đông không tàn, có ba thứ: 1) đá la bà lực soa bối đa 2 đa lê bà lực soa bối đa, 3 bộ trà bà lực soa bối đa. Bối đa Tàu dịch là lá ; bà lực soa Tàu dịch là cây » .
Sách Tây vực kinh 249 : « N ếu biết quý trọng giữ gìn nó thì cũng sống được 5, 6 trăm năm ».
Sách Phiên thích danh nghĩa 250 : « Hình như cây móc, rất cao dài 8, 9, 19 trượng hoa như hạt gạo vàng » .
Sách Đại nghiệp thập di của Đỗ-Thực 251 : « Lá dài thước năm thước sáu, rộng 5 tấc ».
Sách Minh nhất thống chí: « Nước Diến diện có thứ cây trên đầu rậm, lấy mủ ngào làm đường trắng, lá tức là lá bối, nước họ dùng làm sách để viết » là cây nầy.
Năm gần đây, Nguyễn-văn-Thanh ở sông Cửu-Long về có được một quyển sách nước Diến, cũng dùng lá ấy.
Sách Loại hàm, thiên Thủ Quảng-Châu ký: « N hư cây tì-bà mà trơn nháng, dấp dới ánh trời, nhánh nó cách đất 4, 5 trượng, có rễ thòng xuống, đụng đất thì dần dần lớn như nhanh cây, một cây cũng có được vài mươi rễ như thế, đều như gốc cả, hoa trắng, trái không ăn được . T ục gọi bằng cây da , Bắc-Kỳ gọi là cây đa . Lá mềm không viết được cũng tức là cây dung » .
Cam đường (di cam) sinh ở Hải-Dương tốt hơn, ở Thanh-Hóa thứ hai đều phải cống vua. Đưa trồng ở xứ khác thì vị đổi.
Bưởi (du), phiên đào, thổ nại (tục gọi bằng trái chay từ huyện Bình-Chín ra Bắc trong vườn tược trồng nhiều) đều có trắng đỏ hai thứ: trắng ngọt, đỏ chua.
Cà có nhiều thứ: thứ vú trâu, to bằng ngón tay cái, da xanh luốc tục gọi là cà vú châu ; to bằng ngón tay mà tròn da trắng, tục gọi là cà pháo. Hai thứ ấy chùm sây. To bằng năm tay con nít mà bẹp, hơi có khía, da hoặc tía hoặc trắng, hoặc đầu danh bụng trắng, tục gọi là cà dừa . Những thứ ấy ăn uống, ăn nấu và muối đều được cả. To bằng chén uống rượu, dài độ vài tấc, da tía thịt mềm, tục gọi là cà dái dê ăn nấu hoặc ăn nướng chứ không muối. Trái bằng ngón tay, tròn vin, non thì xanh, chí thì đỏ, vị chua lá khuyết vỏ lòi ra, cây yếu mà bò lan, tục gọi là cà chua , chỉ nấu canh cá thịt. Các thứ cà ấy đều trồng vào khoảng đông, xuân, giữa hè thì khô. Duy thứ cà pháo lại có một loại nữa tròn như viên đạn, trùm không sây, hết thu cũng không khô, tứ thời đều có trái, trồng một lần ăn được ba năm hay năm năm tục gọi là cà bắc đẩu , trong các loài cà thì nó hơn cả.
Sách Thảo mộc trạng: « trong vườn, trồng cà, để gốc lại ba hay năm năm, cây và cành cao lên lần lần rồi thành cây lớn ». Tức là thứ ấy. Những nhà làm ruộng lấy sư trử và muối cà làm chủ.
Sách Thảo mộc trang: « Năm Thái-Khang thứ 6 252 nước Phù-Nam có cống mấy cây mía (giá) dài một trượng có ba đốt ».
Sách Thế thuyết 253 : « Mía Phù-Nam dài một trượng ba đốt, có mặt trời thì tiêu tan (?) gặp gió thì gãy ».
Thường thấy cây mía ở Bình-Thuận – tức là đất nước Phù-Nam xưa – một đốt dài được 7, 8 tấc rất mềm nhưng không cây nào dài một trượng ba đốt có mặt trời thì tiêu tan cả.
Cây cù tương (trầu không) ở Hán thư, Thảo mộc trạng gọi là cây tất bát (lốt).
Tống-Kỳ 254 nói: « Lá dày mà trơn, leo vào cây cứng mà sống, trái như trái dâu (lang thầm), khi chín thì ngoài đen trong trắng, làm tương để nêm đồ ăn. Có tên là phù lưu (trầu không) » .
Xét cây lốt (tất bát) với cây trầu không (phù-lưu), trái nó đều như dâu, non thì xanh, chín thì tía, cây trầu không, lá dày leo vào cây cứng, trái rất ít không làm được tương. Cây lốt lá mỏng, mọc lan giã đất trái nhiều, vị nó như tiêu (tiều), lá với trái đều nêm đồ ăn được, nấu với ếch không có nó không ngon. Vậy (thứ mà sách trên nói) làm tương tức là nó chăng ? Cũng giống như bây giờ làm tương có tán hột cải (giới tử) bỏ vào để trừ trùng và dầm tiêu để làm tương vậy.
Nhưng Thảo mộc trạng lại nói: « Mọc ở Mọi (phiên) nhỏ mà tía, gọi là tất bát ; mọc ở Phiên-Ngung to mà xanh, gọi là cù mà vì ăn được nên gọi là tương. Lại tựa như chỉ vào cây phù lưu nhưng còn phân biệt tinh tế ».
Tống-kỳ gồm chung làm một thứ gọi rằng thứ lá dày phụ vào cây cứng cũng có trái (Nói rằng) làm được tương thì chưa chắc.
Lại sách Tứ lục tất độc có chú rằng: « Cây tiêu (hồ tiêu) người Nam hái lá nó ăn với cau, gọi là phù lưu ». Đó là thấy lá tương tự mà nhận lầm.
Cây tiêu ở Hà-Tiên hơn cả, Quảng-Trị thứ hai. Cây hậu phác (cây vối) cũng sản xuất ở Hà-Tiên hơn cả.
Sắn (cát) có một thứ, tục là sắn quảng (quảng cát) mọc bằng mầm cao 6, 7 thước có nhiều cạnh, xanh trắng mà trơn, trồng vừa đủ năm thành củ, nấu rồi bỏ ruột, ăn vị ngọt, có độc, ham ăn có khi chết, ăn vào thấy buồn bụng, phải ăn mật mía hay cam thảo thì khỏi ngay. Chỉ mài bột làm bánh lộn đường, sắc đẹp như bổ phách, ăn rất ngon, không độc.
Củ đậu (đậu căn) ở Sơn-Tây, Hà-Nội và huyện Quỳnh-Côi thuộc Nam-Định trồng nó. Cây, lá, hoa vỏ đều giống cây đậu chỉ hột cứng không ăn được 255 . Đủ năm, củ bằng trứng ngỗng, thịt trắng, vị ngọt thơm, ăn sống và nấu với thịt heo, thịt heo, thịt chim đều được, cũng chữa được độc rượu. Để trên giàn bếp sau một tuần, thì ăn càng tốt. Quảng-Nam và Bình Thuận cũng có, nhưng thịt khô, vì không bằng (các tỉnh trên). Đưa trồng ở xứ khác thì củ nhỏ dài mà cứng không ăn được.
Hoàng tinh ở Quảng-Bình, Quảng-Trị hay trồng trong các vườn, mài ra làm bột. Quảng-Bình phải sung cống.
Người miệt Chương-Đức, Thượng-Phúc (Hà-Đông) lấy lúa tẻ (hàng đào) cất hai, ba năm, rang bỏ trấu, gạo trương như con ong mà không phải phơi, ngào với đường rất ngọt và mềm, đưa đi bán gọi là bỏng, cũng gọi là phùng. 256
Xét sách Chu lễ: « quan Biên nhận coi việc cốm phong, cốm phần, cốm trắng cốm đen ».
Tiên Trịnh chú rằng: « ngào lúa bắp (mạch) là cốm phong, vừng (ma) là cốm phần, lòn (đạo) là cốm trắng, nếp (thử) là cốm đen » .
Hậu trịnh 257 chú rằng: « Ở miệt sông Hán sông Hà lên bắc, nấu bánh bắp đem đi bán gọi là phùng thanh » . Thì tiếng gọi cũng gần nhau, nhưng họ thì ngào bằng bắp mà đây thì bằng gạo tẻ.
Rượu thì miệt Hoàng-Mai thuộc Hà-Nội (Hà-Đông) ; Hào-Kiệt thuộc Nam-Định ; Ngọc-Điền thuộc Hà-Tĩnh ; Kim-Lung thuộc Quảng-Trị ; Gò-Cát thuộc Định-Tường đều có tiếng.
Cải bắp (quan âm thái) chỉ có người huyện Giao-Thủy thuộc Nam-Định trồng mà thôi, không hoa trái lấy cành cằm xuống đất thì mọc mầm, đến mùa đông thì tốt, lá xanh tía như thứ cải lớn ( đại giới ) mà dày, vị có hơi chát. Sau lần lần lá cuốn vào làm bắp như bắp chuối. Khi mới non chưa cắt ra sắc trắng vị rất ngọt xứ khác trồng nó dẫu tốt nhưng không cuốn lại thành bắp được.
Cây Câu khuê có trong sách Nhĩ-Nhã-Quách-Phác chú là: « cây câu lâu, lại có tên là vương qua, trái rất đỏ, vị đắng ».
Hình-Bính 258 dẫn giải bộ Bản thảo nói: « Vương qua cũng có tên là thổ qua, lá như lá quát lâu tròn mà không khuyết vào ».
Thường trồng ở nơi rào giậu cũng có hột, chín thì đỏ như viên đạn, rễ như sẵn, nhỏ mà nhiều bột. Thứ ấy gọi là dưa chuột trời (thiên thử qua) lại gọi là củ nhưng . Cây tốt thì lá có chẻ vào, lấy củ làm bột, gọi là bột nhưng , nấu cháo làm bánh, lộn đường ăn được vị thanh mà ngon ; nấu với cháo thịt cũng tốt có tính giải thử.
Cây chè (trà), từ Bình-Định ra bắc xứ nào cũng có, từ Phú-Yên vào nam thì không. Nó có một thứ tục gọi là chè ngọt đắng ( cam khổ trà ). Bình-Định rất nhiều. Thừa-Thiên. Thanh Hóa cũng có.
Sách Quảng bác vật chí: « Cây cao lư là tên riêng của chè ».
Bản thảo chú rằng: « cao lư không phải là chè, lấy một miếng bỏ vào ấm, vị rất đắng, bỏ ít thì trái lại vị ngọt » . Tức là nó.
Nâu ( vũ dư lương ) thuộc loài cây giây có gai, lá như lá cây kim cương (tắt giải). Người miệt núi nói củ nó chín thì vị rất ngon, nhưng khó mà được. Củ sống thì người Mường Moi cũng lấy để ăn đỡ gạo. Họ bóc vỏ, ngâm giữa dòng nước chảy để mất chát rồi phơi khô, đâm qua đem nấu ăn.
Hình Bính thích sách Nhĩ Nhã: « Cây mạch đông có kẻ bảo và vũ dư lương ».
Mới biết xưa nay đặt tên nhiều cái không nhất định. (Phàm cây giây thì củ ở dưới đất, chỉ có loài nầy củ phu bốn bên rễ nổi trên mặt đất).
Liên tiền thảo tục gọi là rau má cũng có tên là bán thiên thảo, ăn sống được và nấu canh ăn. Có thể làm tan tiền đồng được (?)
Sách Thảo mộc trang: « Trái lưu cầu hình như trái dành dành (chi tử) khía sâu mà hai đầu nhọn tựa như trái vưng (kha lê lặc) mà cứng. Đến khi nửa vàng là đã chín, thịt trắng mà ngọt » .
Thứ này tục gọi là trái lại . Sách Bản thảo gọi: « Cây thuốc giun (sử quân tử) » (Dùng phải cho chẵn số nếu lẻ thì bị nức cụt).
Loài nấm rất nhiều, đều phụ vào cỏ cây mà sinh ra. Cây nào không có độc thì nấm cũng không độc, ăn được. Hương-đàm ở Lạng-Sơn tục gọi là nấm hươn g , vị ngon có tiếng hơn cả. Nấm lan sinh ở dưới cây lam vị hơi đắng mà thanh thì được thứ hai. Nghị khuân sinh ở trên tổ mối tục gọi là nấm mối. Hóa khuân sinh ở gốc lúa tục gọi là nấm rạ béo như mỡ lợn, đều đứng thứ ba. Ngoài ra nữa thì không bằng.
Hoa sen ở phương nam khoảng thu đông mới có, vì khí đất ẩm. Có lần vào Gia định, tôi thấy ao sen ở trước nhà Hộ tào đầu mùa đông đang có hoa. Hỏi thì họ trả lời rằng lấy lưu huỳnh lộn với bùn mà trồng mới được như thế.
Hậu Hán thư chép: « Nước Ai-Lao có cây (vông đồng) hoa dệt thành vải » . Có lẽ chỉ cây bông gòn (mộc miên) .
Đường thư chép: « Nước Bà-Lợi đi vòng thẳng đến phía đông nam có thứ cỏ cát bối, góp hoa làm vải, thứ xấu là bối ; thứ tốt là chiêu » . Dáng chừng là cây bông cỏ (thảo khoáng). Nay nước ta dệt vải đều là bông cỏ , cũng gọi là mộc miên. Cây cao độ vài thước, người ta trồng liền đội ở ngoài đồng, từ Khánh-Hòa ra bắc, xuân trồng hạ chín ; Bình Thuận Nam-kỳ và Cao-mên đông trồng xuân chín, lợi khá lắm.
Sách Quảng-Ký: « Thứ hoa đỏ, chùm rất nhiều, xúm xít liền nhau, sản xuất ở Giao-Chỉ, Vĩnh-Xương, tức là Ai-Lao » .
Sách Thông Giám chú rằng: « Miền Giang Nam khoảng tháng 2 tháng 3 thì trồng » .
Sách Ngô lục: « Sản xuất ở Giao-Châu, Vĩnh-Xương, trái bằng chén rượu, ấy là mộc miên » .
Cây cao to, mùa xuân nở hoa vàng có vỏ kết lại nhọn mà dài, nhiều trái thành từng dôi, đến mùa thu nở ra bông, cũng như bông cỏ tục gọi là bông gòn.
Sách Quảng-Châu ký: « Cây như cây vông lá như lá bồ đào mà to sinh ở hai châu Giao, Quảng » là cây ấy.
Người bây giờ hái bông nó để nhồi gối nhẹ hơn bông cỏ, nhưng sợi mềm không dệt làm vải được, hai thứ ấy giống mà không phải một loài.
Cây bông cỏ, lá non làm rau sống được, tục bảo rằng ăn nó thì hại mắt. Hột nó ngâm làm giá ăn được, cũng như giá đậu xanh mà vị lại càng thanh, ngon hơn giá đậu.
Lông cu liên (kim mao cẩu tích) là loài cây giây, lông nhỏ nhẹ mà mịn hơn bông sắc tía dùng để nhồi gối và làm đãy rất nhẹ và mềm. Đứt tay chân, dịt vào cũng hiệu nghiệm. Sản xuất ở Hưng-Hóa, một cái đãy nó giả đến 30, 40, quan tiền, Quảng Trị cũng có mà ít.
Cỏ bấc ( đăng tâm thảo ) lại có tên hổ tu, người miệt Đông-Yên thuộc Hưng-Yên cấy nó ở ruộng nước.
Cây Cái ( thổ phu vương ) trong Nhĩ nhã, Quách-Phác cho rằng: « Sinh ở miền biển như cây hoàn lan. Người Nam Việt dùng làm chiếu ».
Lại người Phú-Yên có dệt chiếu, rất trơn đẹp nhưng chất cỏ mềm không bằng chiều lác.
Cỏ lác ( hoàn thảo ) có một loài sinh ở giữa ruộng, cây thô ngắn mà cứng như sa thảo, thứ to cũng cũng không dệt được chiếu, chỉ làm thuốc rắn cắn, lấy rễ có nhai sống nuốt được và giã lấy xác rịt vào rất hiệu.
Bạch đậu khấu sinh ở núi Mô-Giao nước Cao-Mên. Núi ấy có nhiều đá gân, tiếng Cao-mên gọi đá là mô, đẹp là giao cho nên đặt thế. Núi ở vào giới hạn nước Cao-Mên và Tiêm-la Cây ấy như cây sa nhân, nhưng cây mọc phía đông nam núi về phần đất Cao-mên. Vỏ trắng khí thanh dùng làm thuốc được, còn cây mọc phía tây bắc về phần đất Tiêm-La thì da xám khí táo, không dùng được. Khí âm dương có khác nhau như thế. Cỏ kẻ lấy cây nó trồng ở xứ khác, cây cũng tốt mà không có trái.
Sách Thảo mộc trạng: « Cây như cây lau (lư) lá như lá gừng (khương) » là chính nó.
Còn như sách Quảng ký: « Cây như cây mướp (ti qua) » thì không phải.
Núi Thiên-Quang ở Ninh-Bình, núi Hoài-Yên ở Hà-Nội, núi Vệ-Linh ở Bắc-Ninh núi Hồng-Lĩnh ở Hà-Tĩnh, đều có thứ cỏ mọc tốt cao 4, 5 thước, cây lá xanh đốt đều nhỏ như thứ trúc non, nhưng cây yếu, lá ngắn và mềm, nhiều chùm, thô nhám, hơn một thước, đời truyền rằng đấy là cỏ thi . Cũng có từng bụi chừng một trăm cây.
Cây quỳ, cây hoác đều hướng theo mặt trời. Quỳ hướng theo mặt trời bằng hoa nhưng chỉ một hoa ở đầu cây nở theo chính hướng đông, còn những hoa ở bên cành thì không. Cây hoác cũng là loài đậu, hướng theo mặt trời bằng lá. Lá cây tiểu biển đậu buổi mai nghiêng về phương đông, trưa bằng ngang, chiều thì nghiêng về tây.
Hoa bông phấn (yên chi) , giờ mão, đậu thì nở, quá hai giờ ấy thì cụp lại.
Hễ loài cây cỏ có lá đối nhau đều ban ngày mở ra, ban đêm ấp lại. Loài cây giây thì ấp phía trên tỉ như sắn, đậu ; loài cây gỗ thì ấp phía dưới tỉ như khế ngũ liêm) chua me (hợp hoan).
Sách Quảng dư chép: « cây nha đam (lô hội) sản xuất ở nước Tam-Phật-Tề 259 , loài thảo hình như đuôi con sam (hậu vĩ), hái nó về lấy đồ bằng ngọc nghiền thành cao, gọi là lô hội » .
Nay xứ Nam-Kỳ có (cây) mủ rất nồng, bẻ ra thì mủ chảy ra rồi đông lại thành khối, không cần đồ bằng ngọc giã nữa.
Phương nam khí dương thịnh nên có nhiều loài cây tốt, những loài kỳ trầm quế ở trung châu không có. Kỳ nam giống với trầm hương nhưng có phân biệt: Trầm là cây thương lục 260 già rồi, cành lá khô héo, khí thơm kết tụ người ta lấy cả cây và gốc, chọn thứ tốt làm trầm hương, xấu làm tốc hương . Kỳ là khí thơm phụ vào cây mà ngưng kết chỉ một vài chỗ ở thân hoặc ở cành cây, còn cành lá thì vẫn xanh tốt như thường, người ta phải xẻ cây ra mới được. Nó hình như tim trâu nhiều lỗ trống, to có vài cân, nhỏ một hai lạng còn toàn cây đều là gỗ.
Kỳ nam có vài thứ: một thứ gọi là hổ ban hương sắc vàng xám như vằn hổ, chất mềm nhuận, bấm móng tay vào có dấu, chẻ ra mà đầu mùi cuốn lại là tốt ; một thứ gọi là áp lục hương sắc xanh luốc như đầu vịt mềm là thứ vừa, cứng lại kém nữa ; một thứ gọi là nộn dong hương sắc xanh trắng như lá dong mới nở, chất khô hương ít là tốt. Chỉ Phú-Yên, Bình-Thuận, Khánh-Hòa có mà thôi.
Trầm ở đảo Phú-Quốc sắc xám, trong thô, nhai mà mềm là thứ tốt nhưng ít được. Trầm ở Bình-thuận, Phú-Yên, Bình-Định, Khánh-Hòa thì thứ hai. Trầm Hà-Tĩnh, Quảng-Bình sắc đen sờ cứng vị đắng là thứ xấu.
Tô hợp hương ở trong núi Phú-Yên, lấy nó phải xẻ da cây lấy ống tre mà hứng dùng nó đưa tặng bầu bạn.
Giáng chân hương ở Quảng-Bình sắc xanh đen trừ ác khí, nghiền nhỏ để bôi vào vết thương, cầm máu sinh da rất mau. Dân gian tế tự từ Quảng-Bình vào nam dùng thứ thanh bạc duyến hương và san diệp hồ hương . Từ Bình-Chính ra bắc dùng hắc huyến hương, giã than hòa với nhựa trám đen (ô hâm lãm) mà có trái ăn được, rồi tẩm vào que tre mà dùng. Bắc-kỳ lại dùng hương trắng (bạch hương) do người xã Lai-Triều thuộc Nam-Định làm (góp các hương vụn hồ vào que tre, hương Lai-Triều thì khác).
Cây xâm mộc quế trong Nhĩ Nhã, Quách Phác chú rằng: « hoa trắng không có trái ».
Sách Nam bộ tân thư 261 : « Đêm rằm tháng 8, chùa núi Linh-An thường có trái » quế rụng.
Thơ Lý-Đức-Dụ có câu:桂子落寒山 « Quế tử lạc Hàn sơn », nghĩa là Trái quế rụng ở núi Hàn.
Thơ Lưu-Ngạn Xung có câu: 落子半飄雲 « Lạc tử bán phiêu vân », nghĩa là trái rụng bay theo mây.
Có lẽ do ở đó. Kể ra ở phương bắc cũng chưa thiệt thấy cây ấy. Cây quế ngày nay, hoa trái như dâu, non thì xanh chín thì tía. Người miền núi Quảng-Nam, Quảng-Ngãi hay trồng xem vào cam quýt, mộc tê, hoa không kết trái.
Lại xét sách Thập di ký của Vương-Gia 262 chép: « P hía bắc Ám-ba có thứ quế tía mọc thành rừng, trái bằng trái táo, các tiên hay ăn » .
Thiên địa vân độ kinh chép trong Loại bám rằng: « Phía bắc Thái-Sơn có 70 cây quế trái đỏ như trái quít » , (đều là hoang đường không thể tin được).
Kim giao mộc, cây cao lớn, lá như lá quít hẹp mà dài không có răng cưa, sắc cây tía. Tỉnh: Sơn-Tây, Hải-Dương, Thanh Hóa đều có. Người ta dùng làm đũa để trừ thuốc độc, nói rằng gắp đồ ăn thì thuốc độc phun ra.
Ô mộc có hai thứ, đều sản xuất ở Bình-Thuận: một thứ như cây ổi (thiên-đào) lá như lá quít, cây cong không cao lớn, đường kính chỉ 4, 5 tấc, sớ thịt hay răn, dùng làm đồ vật đen nháng như sơn tục gọi là gỗ mun .
Sách Động thiên thanh lục 263 : « Gỗ mun làm được chân đờn cầm » ; một thứ lá như lá dừa, lá cau mà mỏng, cây lùn thẳng, người ta lấy đan buồm và rèm. Sống lá làm cung và roi, sắc đen sám mà cứng tục gọi là lá bun.
Bản thảo chép là vân mộc, lá như lá móc là phải, nhưng lại nói gộp ô mun là một loại với cây nầy thì không phải, chớ trừ thuốc độc là cây gỗ mun, không phải cây lá bun. Lại có thứ ô thị mộc núi nào cũng có tục gọi là lam thị 藍柿 chất cứng làm các đồ vặt được, sắc đỏ cũng như gỗ mun, nhưng trơn nháng thì không bằng.
Cây me sinh ở phương nam, cây cao to lá như lá hòe mà nhỏ, hoa vàng trái dài hai tấc, cây nầy cành lá hoa vỏ đều như cây đậu hợp hoan, vỏ rất chua, non thì xanh, chín thì đen, nấu canh cá, vị như khế cũng có nước chua, bỏ nước chua sao đường để làm mứt. Gỗ sắc xanh sớ thịt dày dùng làm xe súng rất kiên cố.
Cây Giáng hương sinh ở Nam Kỳ mùi thơm như cây hoàng tử, có u, cây to, đường kính có vài thước, cưa ra, sắc tía có vân, dùng làm đồ vật cũng đẹp.
Tỉnh Cao-Bằng, Thái-nguyên, Tuyên Quang có cây hoài nàn không có cành, lá, chỉ có rễ, từng đốt lùm xùm trên mặt đất như con trâu nằm ngủ, người Mán gọi là trâu là hoài, ngủ là nàn cho nên có tên ấy. Gỗ rất cứng, dùng làm mâm bàn cũng tốt. Lại từ Thanh-Hóa ra bắc có cây lược (sơ mộc) như cây trắc, nhẹ mà cứng làm mâm bàn tốt.
Trái dừa vỏ có xơ như bụng to, người ta xẻ vỏ lấy xơ, bện làm giây rất bền, lại ở nước mặn dùng làm giây thuyền rất tốt. Người xứ Tân-Quan (Bình-Định) lấy những trái nhỏ dùng gáo làm môi múc nước, bầu đựng thuốc, v.v… Lại có dừa nước (thủy da) biệt ra làm một thứ riêng, giữa gốc trổ lá, thân cây sát đất, không hoa trái. Người ta lấy lá nó để lợp nhà.
Sách Loại hàm: « C ây tử phỉ sinh ở nước Chân-Lạp cao hơn trượng, lá như lá quít, mủ cây nhân mưa chảy ra ». Cây này tức là cây cánh kiến (tử nghị) bởi vì kiến cắn vỏ cây, mủ chẩy ra ngoài rồi đọng lại. Các miệt nguồn Nghệ-An, Thanh-Hóa cũng có. Lại có thứ trần hoàng sản xuất ở Hà-Tiên tức là mủ cây thành ra, sắc như sáp ong, dùng làm thuốc.
Sách Thảo mộc trạng: « Cây hạp đằng leo vào cây cứng mà sống như cây giây thông thảo, trái nó sắc tía đen ». Có tên là đậu vơi (tương đậu). Ba năm mới chín, vỏ nó đựng thuốc, trải hằng năm không nát. Cây nầy tục gọi là cây lam gây.
Sơn (tất) mãnh hỏa du đều rạch cây mà lấy mủ. Cây sơn trồng trong vườn thành từng đám, được vài năm vừa non mà tốt, buổi mai khi mặt trời chưa mọc, rạch vỏ cây ra lấy đồ mà hứng, đến thìn tị thì xong. Sáu, bảy năm thì cây già mủ loãng, không thành nhựa sơn nữa, lại đào đi mà trồng thứ khác vào. Cây mãnh hỏa du rất cao to sinh ở trên núi, đục cây ra một lỗ, lấy lửa un qua, mủ trong lỗ chảy ra mà lấy.
Nhựa trám (hám lãm chi), cây như cây cam đường, nhựa nó do vỗ cây chảy ra thành từng khối, đầu chót lá cũng có. Cây nầy cũng kết trái như trám đen (ô hám lãm) mà bẹp không ăn được, sắc nhựa vàng, không giống với thứ nhựa người Bắc dùng làm hương đen. Thứ nhựa dùng làm hương sắc trắng như nhựa thông (tùng chi) phải nấu lên mới đông lại thành khối.
Làm nhà cửa, đò thuyền thì nhất là nam mộc, gỗ lim (thiết mộc). Cây gỗ lim ở Thanh-hóa tốt hơn hết, Nghệ-An thứ hai, các xứ kém hơn. Lại dùng tử mộc tức kiền kiền tù mộc (tau), cụ mộc tức cây săng lẻ là thứ nhì. Làm đồ vặt thì nhất là gỗ trắc , thứ hai là gỗ cẩm lai, gỗ mun. Làm quan quách nhất là gỗ nam mộc, gỗ vàng tâm (hoàng tâm).
(Khưu-Toàn cho gỗ du sam là tốt hơn, tục gọi là gỗ de, gỗ nầy trừ được thấp, nhưng tục lại bảo hại xương vì khí nó cay nồng quá thì cũng có lý, người ta có dùng phải lót, một tầng gỗ khác ở trong).
Làm ghế dựa thì dùng gỗ nhãn (long nhãn). Làm yên ngựa thì dùng gỗ ưu bát . Làm con vặn thì dùng gỗ nam mai tức là gỗ mù u. Làm ván khắc thì dùng gỗ thị (thị mộc).
Nhựa thông hay giữ được hơi. Thợ nhà nước dùng nó để bọc đồ kín, gắn những đường mạch đường rãnh rất tốt. Người xưa sở dĩ dùng lịch thanh (tức nhựa thông) cũng nhận biết tính nó.
Cây sanh, cây cừa hay ứng theo mưa.
(Sách) xưa chú: sanh là hà liễu. Nay tục ta gọi cây sanh là chỉ cây cành lá như liễu: Cừa thì cây cành và đốt có nhiều u. Hai loại tùy cứ mà sinh, hoặc ký sinh trên một cây khác. Rễ nó bén xuống đất lại thành thân cây. Cây cừa ưa sinh ở bờ sông, rễ phụ nó ứng theo mưa. Cấu-Trai 264 cho cây hà liễn tục gọi là cây bần, lá tròn sinh ở bãi sông, chung quanh gốc có mầm nhọn từ dưới đất mọc lên, gần mưa thì sắc trắng. Lại có cây dung (dung mộc), cây lăng tiêu hoa. Đại phàm loài thảo mộc có rễ phụ đều biết trước mưa. Và có cây lưỡi rồng (long thiệt), không thân không cành, đầu tiên cắm một lá xuống đất, dày và to như lưỡi trâu, sau mới thứ tự tiếp tục nhau mà sinh thêm, đang tháng nắng mà sinh lá non ắt có mưa.
Đại phàm những cây khó sinh trưởng là gỗ tốt, dễ dàng là gỗ xấu. Cây đa không làm được đồ dùng chỉ trồng ở chỗ đình miếu nên nhiều cây sống lâu. Các núi ở Phú-Yên, Khánh-Hòa lại có một thứ vỏ và sớ đều trắng, tục gọi là gỗ cồ cờ 棋棋木 rất cứng đến nỗi sứt rìu mẻ cưa, người ta cũng không dùng.
Cây trai 265 rất cứng, nhưng thân cây cong không dài được mấy, người ta dùng để kê cột nhà thay đá vì chịu được ẩm thấp.
Bản thảo chú rằng: « Long não tức là nhựa cây sam mộc ». Nay có bọn khách ở Thái-nguyên, Cao-Bằng lấy cỏ đại bi , cây nầy không ra thảo cũng không ra mộc, cao vài thước, lá to bằng bàn tay ngã ra, nhiều lông, dùng chảo gang bỏ lá vào, trên đậy vung đồng rồi nấu, nạo lấy sương nó đóng ở trên vung làm long não, lại nấu một lần nữa thì làm băng phiến như cách nấu hoàng đan , nhưng mùi nó giống mùi sam mộc.
Tre hoa (ban trúc) ở các xứ Cam-Lô (Quảng Trị) Thiên-Quang (?) Thái-Nguyên đều có cả. Vằn (ngoài vỏ) như vỏ ốc, chất rất cứng, người ta thích dùng làm đòn võng. Miệt Qui-Hợp thuộc Hà-Tĩnh cây tre nhỏ, chỉ làm được gậy và ống điếu, v.v… Tre ở núi Yên-Tử thuộc Hải-Dương cũng như tre Qui-Hợp mà mắt lại nổi lên gọi là gối hạc (hạc tất). Tre hoa sắc hơi tối ở Vĩnh-Long. An-Giang rất nhiều nhưng vằn (ngoài vỏ) thì thưa, chất yếu ; xấu. Mới biết sách Bác vật chỉ có câu: « Tương sơn nhiếm lệ » , nghĩa là nhỏ lệ ở núi Tương. 266
Có thứ tre rất cứng, tục gọi là cây trẩy thân cây thẳng mà nhỏ, chu vi chỉ được 3, 4 tấc, trong ruột hơi đặc, dùng làm lược và xương quạt rất tốt.
Trúc phổ của Đại-Khái-Chi 267 : cung trúc như mây (đằng) đốt dài mà cong, phần nhiều nằm giữa đất, đứng thì phải tựa vào cây cứng, dài gần trăm tầm, hình như chắp nối nhau, cây có vằn hoa, song phải xoa mỡ mới hiện. Thứ nầy tục gọi là cây giang dùng để bện giây. Nhưng phàm tre xoa mỡ rồi un lửa thì thành vằn hoa gọi là tre xông người ta dùng làm xương quạt và ống điếu thì không chỉ một loài cây nầy mà thôi.
Nam-Kỳ chỗ nào cũng có tre thành rừng, mỗi lần có kết trái tròn bằng nắm tay, vỏ và mo bọc từng lớp, thịt trắng như măng mà thô sơ. Thứ này so với thứ mà sách Trúc phổ chép, 60 năm thì đổi rễ, có trái, rồi khô mà chết, thì không giống nhau.
Bản Tứ dân nguyệt linh trong Loại hàm: « N gày 13 tháng 5 gọi là tre say lại gọi là tre mê, tháng ấy trồng tre thì nhiều cây tốt ».
Sách Tỵ thử lục thoại: « Tháng 5 trồng tre tốt ».
Sách sơn gia thanh sự: « Nghinh dương thì trồng tháng chạp ; thuận khí thì trồng mùa mưa (?) ».
Nay có câu ngạn: « Tháng giêng trồng trúc, tháng lục trồng tiêu » 268 . Bởi vì phong khí có khác nhau vậy.
Hễ măng tre mọc ra ngoài bụi thì năm ấy không có bão, mọc lẫn vào trong thì có nhiều, nhà nông thường xem nó mà biết trước. Lại khoảng đầu tháng mà chặt tre thì hay mọt, chặt khoảng cuối tháng thì lại bền cứng.
Sách Bản thảo: « Cây móc (lư mộc) sản ở An-Nam tính cứng sắc tía hồng, thứ nào có hoa thì gọi là móc hoa (hoa lư) làm được giường ghế xương quạt ».
Bây giờ giường ghế xương quạt, mỗi thứ dùng một cây khác nhau. Thứ làm giường ghế, tục gọi là mây hoa (hoa đằng) , vằn hoa ở ngoài da sinh ở các núi Khánh-Hòa ; thứ làm xương quạt, tục gọi là gỗ lồi , núi nào cũng có vằn hoa ở trong, hai thứ ấy khác nhau (Bản thảo lại bảo là nhược thảo có tên là liêu diệp , mọc ở chằm phía nam, rễ và cây đều như tre con, lá và mo như lau, lấy lá làm nón. Nay ở Quảng-Trị và Khánh-Hòa vào Nam, những người lấy lá nó làm nón, tục gọi là lá mật cật sắc xanh. Nghệ-An và Quảng-Bình dùng làm tơi. Từ Nghệ-An ra bắc và Bình-Định dùng làm nón, tục gọi là lá bối ; lại gọi là lá tro, tức là cây bồ quì, lại là một thứ khác. Lại còn một thứ nữa giống như bồ quì mà hơi nhỏ, đầu ngọn cây chia ra mươi hai tua, người ta cắt ngọn làm tơi tục gọi là lá tơi. Mấy thứ ấy cũng tương tự cây móc mà to nhỏ có khác.
Bao-Chiếu có câu thơ 花蔓引虅輪 Hoa man dẫn đằng luân, nghĩa là dùng sợi lác dệt thành hoa. Vương-Thù chú rằng: thơ Đỗ-Phú cho đằng luân là chiếu (hồ đoàn) lấy lác làm ra. Nay người miệt Bình-Chính (Quảng-Bình) dùng lác làm đãy kín (ấn nang), nhuộm màu dệt cách hồi văn lan can 269 , cũng là loại nầy.
Năm Tây-Sơn sắp mất, một nhà ở xã Việt-Yên-Thượng (Hà Tĩnh) có giàn bầu, tự nhiên cành và lá đều co rúm lại làm hình con rồng, đầu, sừng, râu, chân dủ cả, lá chất từng lớp như vảy, được một tuần rồi héo. Bùi-Tồn-Trai cho là rồng thuộc hỏa, mượn cây mà sinh, chú về hỏa tai. Được hơn một tháng, xã ấy cháy hết hơn trăm nóc nhà.
Đá thì núi Yên-Hoạch thuộc Thanh-Hóa tốt hơn, núi Than ở Đông-Triều thuộc Hải-Dương thứ hai, núi La-Vân thuộc Quảng-Nam thì chót. Đá núi Yên-Hoạch sắc xanh sớ mịn rất trơn nháng, thứ sắc trắng hơi loạn (sờ) không bằng thứ trên.
Đá hoa (văn thạch) sản ở núi Mô-Giao thuộc Cao-Mên thì tốt hơn, ở núi Ngũ-Hanh thuộc Quảng-Nam thì thứ hai. Đá Cao Mên có đủ năm màu già màu lục. Đá Quảng Nam chỉ có sắc đen và trắng. Đá đỏ (chử thạch ) sản ở giếng son núi Phượng-Hoàng thuộc Hải-Dương thì tốt hơn. Đá nam châm ( lư thạch ) sản ở núi Nam-Châm giữa biển Quảng-Nam. Các núi sản mỏ sắt (ở ta) cũng có.
Đá huyền ( huyền thạch ) sản ở đảo Phú-Quốc thuộc Hà-Tiên, người xứ đó lúc mặt trời mọc thấy đám cỏ nào mù sương lâu khô thì đào tất được, như lối lấy phục linh. Chất đá nhẹ, sắc rất trong bóng, người ta hay dùng làm chuỗi hạt châu, có kẻ dùng làm nghiên mực hay sinh sắc đen nhưng mau khô nước.
Ở hải đảo có thứ vỏ sò tai voi rộng hơn một thước, giống như tai voi, sửa làm nghiên mực, trắng má bền, cũng hay sinh sắc đen.
Cua đá (thạch giải) hay sinh ở chỗ bờ biển, sóng và đá xát nhau, cũng có khi sinh ở giữa ruộng. Huyện Kim-Đông thuộc Hưng-Yên có ruộng cua đá chỉ có vài sào. Lúc mới đào lên cua còn mềm và cử động được, có gió và ánh mặt trời thì cứng lại.
Có tên tù Mọi đưa cho Bình-Thành-Bá một cái bát đất, chất rất nhẹ có vằn lăn lăn giấp giới, bảo là vật có từ 500 năm về trước, đánh cá được ở giữa sông. Hỏi sao mà biết thì nó nói: Hễ đồ sành ở trong bùn 500 năm, đem đựng cơm, cách một đêm cơm còn mềm, vị cũng không đổi, chưa đủ 500 năm thì không thế. Thí nghiệm quá đúng, nhưng lại trả cho nó.
Có người làng đào đất được cái bình con trong chỉ có nước lạnh và bảy đồng tiền đời cổ. Tôi thấy tiền thì đang còn tốt so với tiền đời nay thì to hơn một vành, sắc luốc mà rất nhẹ, mặt sấp có hai chữ triện « ngũ thù » 5 đồng cân, mặt kia không có chữ. Xét tiền ngũ thù nhà Tùy trở về trước thường lưu hành, không biết đời nào đúc ra.
Của chảy như suối, nước suối chảy mà không đọng, tiền cũng giống như suối, cho nên tục bảo rằng chôn tiền dưới đất lâu năm có khi bay mất. Xem sách Xuân Chử Kỷ Văn của Hà-Viễn 270 chép việc Ma-Thanh thì cất tiền trong nhà cũng thế (Đời Tuyên-Hòa 271 thu phục được Yên-Vân, bèn đánh thuế quan huyện chiếu theo đẳng đệ xuất tiền thêm, tha khỏi tiền phụ. Ở Hoài Nhân thuộc Hải-Châu có bà họ Lưu, chồng là Dương-Lục đậu Tú-Tài mất rồi ở với một đứa con, nhà vốn giàu thấy quan trên đục đòi nghiêm gấp, những nhà nghèo không biết lấy gì đóng góp bèn quan huyện cúng cả gia tài 100,000 quan để tha đóng góp cho dân nghèo. Sau khi chở hết kho tiền bảy gian được ba ngày sáng dậy vào xem kho thì tiền lại chất đầy, điểm lại thì đủ 100,000 quan mà lõi xâu tiền thì bằng gai đỏ, mỗi năm quan đóng làm một vác, đầu vác có thẻ gỗ nhỏ đề hai chữ « ma thanh » không biết cớ sao. Có kẻ bảo là mới đây có nghe nói ở châu Thanh có Viên ngoại họ Ma nhà rất giàu gọi là « Ma Thập Vân » có khi thần chở tiền ấy đến đây chăng ? Sai người dò hỏi thì quả có người châu ấy họ Ma giàu đã ba đời. Từ đời ông cất 100,000 quan vào kho mà không bao giờ dùng đến. Một hôm thấy mất, không biết đi đâu. Bà Lưu liền cho người đến bảo họ Ma đưa thuyền xe đến để trả tiền ấy lại cho song họ ấy lại từ tạ không dám nhận. Bà bèn đem tiền ra phát hết cho dân nghèo, không để lại một đồng. Sau lại giàu thêm). Lúc tôi còn bé nhà cha tôi ở làng Chỉ-Châu (Hà-Tĩnh) một hôm vào khoảng giờ vị nghe phía ngoài có tiếng như tiếng sóng, ra cửa xem thấy ngoài một trăm trượng ở giữa đồng có một đôi tiền từ phương bắc đến dài chừng mươi hai trượng, cao 6, 7 thước, trước đội như có một cây cờ nhỏ thoắt đỏ thoắt xanh, có kẻ gặp nó bắt lấy, đụng vào tay thì nhảy hay qua sông, không biết đi đâu ?
Phàm mọi vật không ra ngoài khí âm dương, dầu đã khô chảy rồi cũng vậy. Đĩa đèn rơi xuống đất, ban ngày thì sấp, ban đêm thì ngửa.
(Bởi vì) đất và than cân nhau, khí trời đông chí đã tới thì than nặng, khí hạ chí thì lại đất nặng.
Tháng năm (ly) đã có khí âm, cho nên nấu nước thiệt sôi mà thò tay vào đáy nồi được, đến khi thêm nước lạnh vào thì lại nóng không thể nhúng vào được. Tháng một (khảm) đã có khí dương, cho nên đương buổi mùa đông thịnh mà nước suối thường ấm, múc lên mới lạnh.
Làng chài ở sông hồ thường cân nước đoán lụt lội. Mỗi năm, đêm trừ tịch 272 , khoảng canh hai, múc nước giữa dòng sống đem đựng vào một cái đồ gì. Đến canh tư lại múc, đựng riêng ra một cái khác, trước sau phải múc ở một chỗ. Rồi đem nước mới và nước cũ ra cân, nước mới nặng thì năm ấy nhiều lụt, nhẹ thì ít.
Sách Nghiện bắc tạp chí 273 : « Cân nước để đoán (lụt) không phải là chuyện láo ».
Cát nóng (phất sa) ở huyện Hòa-Đa thuộc Bình-Thuận do nước suối nóng đọng lại thành hột, giặt áo rất trắng nhưng mau rách (người ta bỏ một vài giọt vào đồ ăn mà nấu, đồ ăn mau bấy, nhưng ăn độc).
Từ-Triều-Tuân nói: « Mưa đá (bạc) bởi khí dương quá thịnh đầy tràn các hang cùng, khiến cho âm băng rơi xuống thành mưa đá ». Thuyết ấy chưa chắc đã đúng. Thường thấy mưa đá phần nhiều là đám mây quẩn lại thành trận mưa mau, khoảnh khắc lại tạnh có khi không ngoài vài mươi dặm, không phải là mây cả trời mưa khắp đất. Phương nam không có băng từ đâu mà sinh mưa đá, bởi vì khí âm phục ở giữa trời bị khí dương vây ép mới kết thành khối không rơi ra từng giọt được cho nên thành mưa đá.
Lại sách Tinh lý, có chép thuyết của Trình-Tử 274 : « Có Tham nghị họ Vương lên trên núi Ngũ-Đại thấy con thằn lằn (tích dịch) ngậm nước phun ra làm mưa đá được một chố mưa đổ xuống ». Bởi vì con thằn lằn cảm lấy khí âm hút nước làm phun ra bị khí dương đẩy không kịp tán ra từng giọt nên cũng thành mưa đá.
Gà con mới nở phải đợi nước xuống mới thả ra đất. Những nhà ở xa sông biển không nhớ con nước thì múc một gáo nước dội lên mái nhà cho chảy xuống rồi sẽ thả ra đất. Nếu lầm mà thả khi nước lên thì gà sẻ bị chết dịch hoặc quạ diều tha mất (Bởi vì) gà gáy sáng là ứng về dương. Lại gà ấp trứng cách năm 275 thì không nuôi được. Cái đó không thể giải ra.
Cu ngói ( ngõa cưu ) cu cườm ( lục cưu ) tục bảo đều do cá hóa ra. Cu ngói là cá mòi hóa ra, nhỏ bằng chim sẻ (tước) sắc xanh hồng, xứ Bắc-kỳ đến tháng 8, 9 nó bay từng đàn, người ta đánh lưới bắt được. Cá mòi thì sắc vàng.
Sách Giao-Châu Ký 276 : « Biển nam có thứ cá vàng đến tháng chín thì hóa làm chim cút (thuần) ». Ấy tức là cu cườm mà do cá chim hóa ra. Cu nầy to bằng bồ câu (cáp) sắc lục tiếng kêu như mõ, Hà-Tĩnh, Quảng-Bình khoảng tháng 4, 5 thì có. Nó không bay từng đàn, người ta bắt chước huýt tiếng, đánh lưới chụp được. Phàm các loài cu, mật nó ngọt thịt đều ngon, cho người bệnh ăn không độc.
Con quạ đút mồi trả lại cho mẹ nó là thứ chim có hiếu trong loài chim. Nó cũng hay thương đồng loại. Có kẻ bắt sống được một con quạ, khoảnh khắc có hàng chục hàng trăm con quạ bay lại mổ, hình như muốn cứu. Lại có khi thấy chim dữ nào thì nó quần tụ lại vừa kêu vừa đuổi.
Sách Nhĩ nhã có kể một thứ chim điền mân mẫu. Sách Lĩnh biểu lục dị: « Chim mân mẫu hình như chim thanh ích, mỏ to mà dài hay bắt cá trong ao mà ăn, khi hót thì trong mỏ văng ra những muỗi, nên cũng có tên là chim nhả muỗi (thổ mân) ».
Tôi tới Nam-Kỳ ban đêm nghe tiếng như người ọe mửa, dân ở đấy bảo là chim ác kêu thì nhà muỗi ra. Nam-Kỳ nhiều muỗi, đại để là con cung quăng (kiết quyết) ở trong nước hóa. Có lần đi thuyền tử Hậu-Giang qua bãi soi Kiêm-Hà, muỗi bay che sông, tiếng kêu như bầy ong, giữa sông thấy đầy xác cung quăng.
Khoảng tỉnh Vĩnh Long, Định-Tường, An-Giang có loài chim cao độ vài thước sắc xanh, lông đủ 5 sắc, tục gọi là phượng hoàng, ngay nấp đêm bay, bay rất mạnh và mau, (vùn vụt) như tiếng gió, thích đậu trên cây bối da.
Xét sách Bác Nhã. 277 « Các giống chim mạch, sạc thốc, cô dung, tuấn nghĩa quảng xương, tiêu minh đều thuộc loài chim phượng-hoàng ».
Sách Cầm kinh 278 « Đỏ gọi là đan phượng, xanh gọi là vũ tường, trắng gọi là hóa dực, huyền gọi là âm chử, vàng gọi là thổ phú ».
Lại sách Tỳ 279 dẫn bán Cổ cầm kinh: « phượng xanh gọi là chim hạt, phượng đỏ gọi là chim thuần, phượng vàng gọi là chim loan, phượng trắng gọi là chim túc, phượng tía gọi là chim sạc ».
Bản Nhạc thổ đồ trưng 280 :
« 5 loài phượng đều có 5 sắc làm điềm tốt chỉ có một mà điềm xấu thì đến bốn (4 loài nầy đều giống phượng ) :
« - Chim túc sương mỏ cu (cưu), mắt tròn, mình có nghĩa, đội tín, giữ lễ, mang nhân, đeo trí, nó đến thì ứng việc (binh) dịch.
« - Chim phát minh mỏ quạ, cánh và cổ to, mình nhân, đội trí, giữ nghĩa, mang tín, đeo lễ, nó đến thì ứng việc tang.
« - Chim tiêu minh , cổ dài, lông thưa, dưới tròn mình nghĩa, đội tín, giữ nhân, mang trí, đeo lễ, nó đến thì ứng việc nước (lụt).
« - Chim u xương mắt sáng đầu nhỏ, mình to, chân nhỏ, ống chân có vảy, mình trí, đội tín, mang nhân, đeo lễ, giữ nghĩa, nó đến thì ứng về (lại) bạn.
« Bốn thứ chim này đều được điềm xấu ».
Ôi ! Phượng thuộc về dương tính là chim điềm tốt thấy ở kinh Thi, Thư, Luận ngữ, Lễ ký không lẽ nói bậy. Những lời sách Vĩ thư 281 nói không đủ tín. Vả lại 4 thứ chim ấy đã mang dấu ngũ thường mà lại chỉ điềm xấu, theo lẽ càng nên bác. Hoặc giả nhà nho đời Hán thấy các triều vua ưa điềm tốt nên đặt ra thuyết ấy để phúng thích đó chăng ? Và loại vật tương tự nhau cũng nhiều chưa chắc đều có điềm tốt xấu. Ở Nam-Kỳ loài chim nầy không có gì lạ, nó bay ra thì các chim khác không theo. Bởi vì nó đủ 5 sắc cho nên tục gọi tên ấy, nhưng vì nó ngày nấp đêm bay là loài âm điểu thường đậu ở vườn cây, người ta cũng ghét.
Chim sơn khỉ phượng lớn như con ngỗng (nga) cao một thước hai, mỏ đỏ mà cong dài hơn 5 tấc, to bằng cánh tay trẻ con, đuôi và chân đều ngắn, lông cánh dài hơn lông đuôi và lông chân, mình đỏ, trên đầu có lông trắng cổ và lưng cánh đều có vằn ngang sắc vàng, đỏ đen như giải thắt có tầng thứ không lẫn lộn, sản xuất ở chân núi ít khi có.
(Khoảng năm Minh-Mệnh có người được dâng lên, vua sai đeo cho chim một đồng tiền vàng rồi thả đi. Chim này tục gọi là phượng đất).
Yến sào sinh trong hốc đá ở hải đảo, sắc trắng nõn cũng có thứ có điểm hồng. Người lấy yến nói rằng: tháng xuân lấy lần đầu thì trắng nõn, lấy được rồi bỏ thứ vàng đi, lấy lần thứ hai thì đang kỳ mạ ấp con, nó phải khổ công làm tổ đến nỗi phun máu ra cho nên có lộn điểm hồng, nếu chim non đã nở mà lấy được thì hơi có màu tro, thứ nầy giá rất đắt, mà thứ có điểm hồng gọi là yến huyết, tục lại càng quí, thứ có sắc tro thì hơi rẻ.
Hồi quốc sơ, có Quận công Nguyễn-Hoàng-Đức 282 cùng thủ hạ từ Nghệ-An chạy sang Tiêm-La, đi đường núi hết lương, qua dưới một cây lớn thấy lá rụng đầy đất, trông xa thấy nhúc nhích lại gần thì hóa ra chim con cả, nhân lấy ăn. Người Tàu gọi thứ cây bươm bướm (giáp điệp) cũng là loài ấy ; thực vật hòa làm động vật vậy.
Đất Kiên-Giang (Hà-Tiên) nhiều chim thường đậu ở bãi soi, không biết bao nhiêu mà kể, làm tổ nuôi con rất nhiều, thấy người không sợ lắm, gọi là chỗ chim đậu (điểu đinh) thổ nhân bắt lấy lông có cái lợi làm quạt lông bán. Khoảng năm Minh-Mệnh, (vua) nghĩ rằng hại nhiều sinh vật, mới cấm đi. (Đều là loài thủy điểu xấu như chim bồ nông ( đề hồ ) chim thẻo ( thốc thu ), v.v… họ bắt chim con lấy lông).
Loài lông vũ thuộc dương, cho nên thân dáng nhỏ mà tiếng kêu nghe xa, loài lông mao thuộc âm cho nên thân dáng thô mà tiếng kêu lại đục. Hồi trước có con chim tên là a chày ở bên Tây dương đưa qua, mình chim lông thú, không lưỡi, không bay và kêu được, trạng mạo xấu xí đáng ghét.
Xét sách Tục văn hiến thông khảo: « nước Tổ Pháp Nhi (?) có con chim đà kê mình bẹp cổ dài như hạc, cao 3, 4 thước, trên mỗi chân có hai cựa lông như lạc đà » Tức là chim nầy.
Vật có thứ khắc nhau như thủy ngân làm mềm được vàng, lấy vàng bỏ vào đồ đựng thủy ngân thì nổi chứ không chìm ; cương sa làm tan được váng mỡ lấy cương sa hợp với mỡ lợn đựng vào trong một đồ gì, để cách đêm thì hóa thành nước. Có vật do khí nó theo nhau như làm thịt trâu, lợn, bỏ muối vào huyết, huyết gặp chất mặn thì tan ra không đông lại. Đánh huyết cho đều rót vào bong bóng, lấy giây buộc đầu miệng rồi xối nước liền tay đến trăm lần, nấu lên cắt ra thì đông lại. Lại lấy vài chục trứng vịt đập lấy riêng lòng vàng và lòng trắng đánh cho đều, đổ lộn vào bong bóng lợn, buộc chặt xối nước trăm lần hay để ở dòng nước chảy một đêm, nấu lên cắt ra thì thấy lòng vàng ở trong lòng trắng bọc ngoài y như một trứng. Bởi vì khí theo nước chuyển vận nên mới ngưng kết được. Lại như lấy cỏ roi ngựa ( mã tiên ) đốt ra than để chữa ghẻ ngựa và dấu ngựa cắn. Nước miếng mèo chữa chuột và rắn cắn. Gạch cua chữa sơn ăn. Mỏ con tấy chữa hóc xương cá, là lấy cái lẽ nó khắc nhau cả. Chim côộc (lư tư) hay bắt cá, thịt rất tanh, làm thịt nó phải bỏ vài con cá đã nấu rồi vào nồi nước sôi để trụng lông sẽ nhổ lông làm thịt ăn được (rồi còn) rửa mẹt sảy gạo lấy nước mà uống. Cóc (thiềm thử) cắn thì đập ruồi lấy xác bôi vào là lấy cái lẽ nó theo nhau. Lại như lấy cây bị sét đánh chẻ làm gậy, hễ thấy diều bay qua dưới ánh mặt trời dùng gậy ấy đánh vào bóng nó sẽ sa xuống ngay, cũng là do khí xui nên như vậy.
Bài Thiên kim phương trong sách Nguyệt-Linh tập yếu 283 có nói trong tháng 9 theo hướng tuất đào một lỗ sâu ba bốn thước, chôn năm cân than lấp đất lại để trừ hỏa tai, vì hướng tuất là mồ của hỏa. (Làm thế là) chế trừ ở khí vậy.
Theo lời người Cao-Mên thì sừng tê thiệt vẫn khó được bởi vì đực cái khó (giao) hợp nhau. Tê cái mỗi lần giao hợp với trâu rừng (Sơn ngưu) sinh con cũng như tê mà sừng dài, ấy là bò tót (chủy) Chỉ cha mẹ đều tê thì sinh con sừng ngắn, lởm chởm như ngọn núi, mới thiệt là sừng tê, dùng tốt hơn cả. Thuyết nầy cũng giống như thuyết con lừa (lư) và con la (loa). 284
Loài cọp mình nó lanh lẹ nên người ta sợ nhưng cũng có người cọp lại phải sợ. Làng Hương-Duệ thuộc huyện Kỳ-Anh (Hà-Tĩnh) có Dương-Tào trước làm Đô đốc Tây-Sơn. Buổi quốc sơ, qui thuận làm chức Cai đội. Ông ở nhà mỗi lần xóm lân cận bị cọp quấy, tới đám thì được nay. Đi đêm trong núi, gặp cọp thì ông thét mắng (nó) phủ phục không động đậy. Bởi vì người ấy đã có định thần. Người Tàu nói: « Quỉ thần không sợ người dũng mãnh mà sợ người quả cảm », cũng một lối ấy.
Loài vậy đều có một điểm sáng của nó, cho nên chó ngựa biết báo đền cho chủ. Giống khác cũng vậy. Năm trước ở Kỳ-Anh có đứa trẻ chăn 2 con trâu ở ngoài đồng bị cọp vồ, nhờ có cái tơi nên bị thương nhẹ vội vàng gọi: « Trâu lại cứu tao ! » Hai con trâu bèn lại báng cọp, cọp phải thả người để đấu với trâu, nhưng thua chạy bị một con trâu rượt theo vào núi, còn một con ở lại giữ bên đứa trẻ. Chốc lát người đổ ra đông, được vô sự.
Người ta bảo cọp không sợ dao gậy mà sợ roi ngựa vì roi ngựa chất nhỏ mềm và bặt. Khi (nó) nghe tiếng roi vút không dám vô người vì sợ roi quất phải mắt. Khoảng đường Bình-Thuận, Khánh-Hòa, phu trạm đi đêm gặp cọp thì lấy roi ngựa quất, nhiều khi cọp phải tránh. Nhưng đó là loài beo ( bưu ) chứ thiệt cọp thì chắc nó không sợ.
Mũi cọp không có lỗ nên nó cứ hác miệng luôn. Cá sấu ( ngạc ngư ) không có cổ và lưỡi nên ở chỗ nước sâu, sức không có. Bắt vật gì nó phải nấp ở trong cỏ bùn hay ở mép bờ sông bám vào đất dùng đuôi quất cho vật ấy ngã xuống nước rồi mới nuốt. Năm trước sông Cẩm Đàm thuộc tỉnh Gia-Định có con sấu to làm hại nhiều người, có một ông Tri bộ nọ bị sấu ăn mất, sấu bèn thành ma-trành như cọp người ta gọi là « Bộ Cẩm » Thuyền đi qua đấy dặn nhau phải đi giữa dòng chớ không dám đi gần bờ. Quan Tổng trấn sai người ngoắc con vịt vào lưỡi câu buộc dây gai vào thuyền nhỏ, mồi vịt nổi ở bờ sông, khi sấu đã mắc câu, thả dây ra để mặc nó lội lên xuống vài ngày, đợi khi mệt sức vào bờ thở, mới lấy giáo đâm.
Cá sấu lâu chết, người ta bắt được nó lấy dây tre trói lại chôn xuống đất chừa một lỗ ở chỗ mũi để cho thở, mỗi ngày lấy nước gạo đổ vào, được vài tháng thì nó càng mập và trắng, trước hết cắt đuôi mà ăn, không chạm đến tạng ruột.
(Ăn thịt dần) đến một tuần nhật vẫn không chết. Chặt đầu nó sau vài ngày, miệng hãy còn ngáp.
Nam Kỳ chỗ nào cũng có sấu mấy năm gần đây nó chẳng làm hại gì, chỉ làm đồ ăn cho người. Duy những gà heo thả rông ở ngoài bến sông thường bị nó ăn cũng như cách chồn cáo. Sông Hàm-Long thuộc tỉnh Vĩnh-Long có một con sấu to bằng vài mươi hộc, người đi thuyền qua thấy nó lội ở giữa nước mà cũng không lấy làm sợ.
Hồ biển ở dưới núi Thạch-Bi thuộc tỉnh Phú-Yên cũng có sấu nhưng không làm hại gì. Hồ ấy ở ba lưu các sông Bàn-Thạch. Dân ở đấy nói thường có hai con sấu giữ cửa sông. Các sấu khác theo nước lên mà vào sông đều bị nó cắn đuổi phải trở về, nhưng giản hoặc có con nhỏ nào lọt thì con ấy phát tính dữ tợn làm hại người. Thuyết ấy cũng huyễn hoặc.
Nước Cao-Mên trong núi có thứ trâu gọi là diên, lông và sừng đều trắng cả, người ta bảo thứ trâu ấy hay ăn rắn, sừng có chữa được độc rắn.
Con gấu tự cho bàn tay mình ngủ, khi nó ngủ thì bỏ tay vào miệng cho nên tay nó là món ăn ngon.
Sừng nai ( mê ) hươu ( lộc ) rụng (lại mọc) nhung mùa đông mùa hạ. Nhánh sừng theo lông trắng hay vàng đen mà khác nhau. Sừng hươu chẻ ra ba nhánh, sừng nai hai, là theo số dương thì lẻ mà âm thì chẵn. Lại có lần thấy họ săn được con nai sừng dài một thước tám, giống như sừng trâu, hơi thẳng mà không có nhánh.
(Chẻ sừng nai bẹp bằng quân cờ lấy bạt cau đốt cho thành than, làm thuốc hút độc trùng và độc rắn).
Con sơn mã tục gọi là con ca tông , mình giống như hươu, lông vàng, sừng rất to đến 7, 8 thước, nhánh sừng cái dài cái ngắn bất tề, xoáy tròn bằng cái đấu, thịt ngon hơn nai hươu (Sách Châu-Lập phong thổ ký của Chu-Đạt-Quan đời Nguyên 285 có nói: « L oài thú có con sơn mã là vật mà nước Tàu không có ». Nay chỉ ở Nam-Kỳ có thôi).
Thượng thư Phan-Mai-Xuyên 286 nói có lần thấy con cá bống ( hồ sa ) hóa làm con nai.
Xét sách Loại hàm: « Cá lộc tử , đuôi đỏ, đuôi và vây đều có điểm hoa vàng đỏ như hươu. Giữa Nam hải có bãi cồn soi đến mùa xuân loài cá ấy nhảy lên bãi hóa làm hươu ». Có lẽ nó cũng giống như chim sẻ hóa vẹm (cáp), chim trĩ hóa sò (thẩn), nhưng gián hoặc chỉ một vài loại, không phải hết thảy đều như thế.
(Thân) con thỏ chỉ có 8 lỗ, cho nên tục bảo nó không có con đực, chỉ trông trăng mà nhả con ra. Sự thật thì thỏ cũng có đực cái. Sách Bản thảo dẫn hài Mộc lan từ: « Hùng thố cước phác sóc » , nghĩa là chân thỏ đực ánh gió bắc đủ làm chứng biện ra sự thật.
Nhím (vị) là một vật đủ cả âm dương, cũng thường ở cặp đôi nhau.
Đời nay nuôi ngựa tất nuôi khỉ bảo rằng nó có thể trừ được dịch ngựa. Sự ấy không biết ai bày đầu.
Xét truyện Quách-Phác: « Ông ta có lần tới nhà Tướng quân là Triệu-Cố vừa khi con ngựa tốt của Triệu chết tiếc lắm, Quách bảo lựa hai ba mươi đứa khỏe mạnh đều cầm sáo dài đi về phương đông 30 dặm, thấy có gò lùm đền miễu nào thì đập (vào bụi), hễ được vật gì thì đem về cho mau, ngựa sẽ sống lại ». Họ nghe theo, quả bắt được một như con khỉ đem về. Con vật ấy thấy ngựa chết bèn tới thổ hơi vào mũi ngựa, được một chốc ngựa sống dậy được ? Ý giả gốc ở chuyện nầy.
Tinh khí của cây đã già cũng hóa làm khỉ.
Sách Pháp Uyển châu lâm 287 : « Trương Bá-Cao đẵn cây, có 6, 7 ông lão đột nhiên ở lỗ cây đi ra, cây ngã thì cũng chết nốt, nhìn kỹ thì khắp người đều có lông. Có lẽ là loại mà người ta gọi là khỉ bay (phi hầu) cũng quỳ vọng lượng ».
Nguyễn-Bá-Thản 288 trước làm Án sát Ninh Bình nói khi làm Tri huyện Lôi-Dương (Thanh-Hóa), có một hôm đi đâu về gần tới nhà, trời đã chiều mây nổi đen sì và có sấm chớp sắp đổ mưa, bèn cũng vài đứa hầu đi bộ về trước cho mau, qua dưới một cây to thấy một vật như con cáo cứ quẩn theo chân, trong bụng lấy làm lạ, bèn cởi áo chụp bắt được, bọc lấy đem về, sai người nấu nước làm thịt, khi bắt ra thì giống cáo mà không phải cáo, giống khỉ mà không phải khỉ, mềm nhũn. Làm thịt ra thì không có xương thử cho chó mèo ăn thấy không hề gì, bọn hầu nhân cũng ăn bảo thịt rất ngon. Một tuần sau, cây ấy chết khô.
Kinh thi có câu: « Trâu ơi tới đây ! Tai mầy phe phẩy ». Tục đời nay xem tướng trâu, tai và sừng muốn ướt, vai muốn nở, chân muốn nhỏ, móng muốn khít, lông xoáy muốn cân, răng muốn bẹp và to như vỏ sò mà khít. Ghét lông so che trán, ghét trên cổ trước hông và dái cỏ xoáy, ghét mắt đỏ, ghét sờ da thô, ghét răng tròn mà thưa. Trâu mà lông sọ lấp trán và ngựa chạy phất đuôi thì tục rất riêng.
Sách xem tướng trâu của Nịnh-Thích 289 : « Hồ thọ của trâu cách sừng gần thì đi lanh, mắt cho to, trong mắt có đường trắng đi xuyên qua con ngươi thì rất tốt, xương đầu dài và to, bước đi cho rộng ; chỗ cưỡi cho được như thắt lưng ngựa ; đỉnh cho rộng lớn ; quan (hàm) cho đứng thẳng, xương như cây lan rủ xuống ; châu cho to lớn ; nhạc (u) cho to, đầu cao, các bộ xương cho khít ; thùy tính (râu cằm ?) được như có dáng giận: bắp thịt cho to ma sà xuống ; móng chân chữ bát ; âm hồng thuộc đầu dương diêm (?) cho rộng ».
Thường trâu nào tiếng như chim hót ấy là có (ngưu) hoang. Hồ và châu sâu thì không thọ ; chỗ thượng trí mà lông loạn thì phản chủ ; thân như cuốn lại, bắp chân sau to và xương sườn thưa thì khó nuôi ; đầu như đầu rồng, mắt lồi thì hay vọt nhảy. Gân cốt đều đặn, lông ngắn và dày nếu dài và thưa thì không chịu rét, đuôi chớ dùng con dài quét đất, đuôi lông ít mà xương nhiều mới mạnh ; bắp thịt cho cứng sừng cho nhỏ, mũi như gương thì khó dắt, miệng vuông thì dễ nuôi. Con thủy ngưu nào to mập đuôi xanh thì mạnh lắm ; dưới cổ có lông trắng hai khoanh rõ ràng thì không sợ dịch tễ).
Ngày nay tục thấy đám mây đen sì có vòi bỏ xuống, gốc to ngọn nhỏ thì bảo rằng rồng lấy nước. Lúc trước tôi ở Tân-Bình (Gia-Định) một hôm gió thổi mưa phùn, khi mây đầy cả bên cửa sổ, ban đầu tôi lấy làm lạ bèn ra cửa xem thấy mây loạn trời chạy như tên bắn. Cách nha môn vài trăm trượng có đôi ruộng cạn, nước chỉ có vài tấc, giữa không trung có một vệt xanh đen rất dài, trên to che được vài mẫu ruộng, dưới có vòi bổ xuống cách đất hơn trượng, nhỏ chỉ bằng cột nhà, nước giữa ruộng vụt lên hết, cỏ rác lá cây gần đấy đều bị bốc lên trời cả, người đứng đó thì áo quần cũng cuốn ngược, chân đứng hình như không vững. Chừng một giờ dần dần rút vào mây, gió lớn cũng theo đó mà mất. Rồng khi nhỏ khi to, chỉ có cái vòi bỏ xuống không rõ là vật gì. Từ Triều-Tuấn bảo rồng là khí giữa đất hút lên mà thành, chứ không phải hình nó như thế. Lời bàn của nhà nho thì rằng: Khí dương uất kết dưới đất, gặp lỗ ùn ra cũng như khói bay ra cửa bếp gốc nhỏ mà ngọn to, chuyển động được nhà ở sức gió thì cũng có lẽ, nhưng tất là ở trên có mây dày từ hồi trước rồi mới như thế, khi sắp đi, lại có gió theo quét sạch, thì ngờ là có vật ấy. Đến như Nhâm-Khải-Vân nói rồng lấy nước, nó thả đuôi xuống chứ không thấy đầu. Nói thế là giải cái nghĩa bầy rồng không đầu phu hội với bọn bỉ lậu chứ không xét đến nơi (khoảng năm Cảnh-Hưng nhà Lê (1710-1786) có rồng hiện trong phủ họ Trịnh, xanh và trắng, đầu như đầu trâu, dài vài trượng, uốn mình trên nóc nhà. Thức giả cho là không có bằng cứ.
Hương rồng (long cốt) sản ở núi Đa-Bút, huyện Vĩnh-Lộc thuộc Thanh-Hóa. Dân ở đấy đào lấy làm thuốc. Răng, móng, đốt chân đều có cả, không phải đá cũng không phải xương, hễ chỗ nào có xương rồng thì có vỏ sò hến lộn lẫn.
Sách Nhĩ Nhã: « Đằng xà (rắn thiêng) ? »
Tuân-Tư bảo: « Đằng xà không có chân mà bay được ».
Thường thấy người miệt biển nói tình cờ gặp đi trên mặt biển báo gió mưa sắp đến. Có con chạch biển (hải dừ) to bằng cột nhà, từ mặt sóng bay lên trên cạn, gió mưa theo nó, làm hại gãy cây đổ nhà. Lại ở xã Thuần-Chân thuộc huyện Thiên-Lộc có một người đi thăm đồng trời mưa, đến bờ đập lở, nước sâu và chảy xiết, bỗng thấy một con rắn to bằng cột nhà ở gần bờ dựng đứng lên giữa nước, đuôi gần ra khỏi mặt nước thì người ấy vội trở cán xuống đánh, rắn lăn ra chết, xem thì vảy nó có hoa 5 sắc. Ý giả cũng thuộc loài Đằng xà. Gần đây năm kỷ dậu (1849) ở Quảng-Bình trong trận gió có một vật rất đỏ, đi đến đâu thì nhà đổ đó đến vài mươi nóc. Cũng là loài nầy. Tục gọi là gió vảy đỏ (xích lân phong) .
Sách Nhĩ Nhã nói: « Con trăn (mãng vương xà) ».
Bình-Thành-Bá kể chuyện khi bé có lần theo thuyền buôn vượt biển tới Khánh-Hòa ghé vào một hòn đảo, người trong thuyền lên bờ hái củi và lấy nước, ông ta cũng đi theo, thấy trên đá có lỗ như cái bát, nước sâu chừng vài tấc có con tắc-kè ( cáp giới ) nằm trong ấy, năm sắc giấp giới, râu lông dài hơn một tấc. Người thuyền dặn rằng đừng thột, rồi họ trở xuống thuyền lấy hương và vàng giấy tới cúng, hỏi thì nói có con mãng xà đang nấp ở đó.
Thuồng luồng (giao) thuộc âm nên tính dâm. Năm ất dậu đời Minh-Mệnh (1825) có người học trò quên tên ở Nga-Khê (Hà-Tĩnh) kể chuyện: năm ấy về tiết thu mưa to nước ngập vào nhà dân làng người ấy cao có vài thước. Đến khi nước rút, có người dân làng sang dậy mở cửa quét tước thấy có một hộp sơn tròn đặt trên giường trong nhà, mở ra không được, con gái của người ấy chừng 16, 17 tuổi lại mở được. Trong hộp có vài đôi trâm và xuyến, cô gái bèn cất đi. Người ấy (sau rồi) đưa cả nhà đến ở Hồng-Lĩnh. Được hơn một tháng, người học trò nọ và mấy người xóm diềng ngẫu nhiên thấy trong vườn người ấy có một con thuồng luồng quấn dưới gốc cau, thấy người thì quằn quại thất thế. Ý giả ngày trước dỗ đứa con gái mà bị thần phạt đây chăng ? Bèn xúm lại giết chết.
(Những huyện duyên giang thuộc tỉnh Hưng-Hóa có nhiều thuồng luồng, ở hang, dân ở đây cũng có cho ăn lúa gạo. Thường năm cuối xuân thì nó xuống sông giao cấu. Nước miếng nó rơi xuống đất rất độc).
Năm xưa tôi đến Hà-Tiên vào nghỉ một quán, chủ quan làm thuốc, ban đêm đang ngồi nói chuyện, có một con rắn to bằng ngón tay leo vách.
Chủ quán bảo: « Đó là con rồng gỗ (mộc long) ». Rồi đứng dậy lấy chuối để trên rường nhà, rắn cũng đi.
Tôi không hiểu gì cả nhưng không muốn hỏi vội. Sau hỏi thì dân ở đấy rằng: « Nó là tinh khí của loài cây chừa lại mà sinh ra, không hại người, người ta thường nuôi trong nhà để làm ăn cho có lợi. Mỗi tháng cứ mồng một và rằm thì lấy chuối hay trứng gà, vịt cho nó ăn, rắn nút ruột chuối hay nước trứng để xác vỏ lại mà không tan vỡ ».
Xã An-Dã, thuộc Quảng-Địa, tỉnh Thanh-Hóa có sản một loại rắn rất nhiều, tục gọi là rắn nang, cỏ đỏ đuôi ngắn, chu vi không được vài tấc, tính nó cũng thuần, hay ở tường vách, đường, ngõ không hại người. Dân ở đấy bảo xưa có ông lão ở đây nuôi một đôi rắn đều cắt đứt đuôi, nên còn sót giống lại nay, quen người. Rắn nầy sợ hành thun ( tiểu toái ), người xứ ấy cũng không hay trồng (tiểu toái tục gọi là hành chám, có xứ gọi (hành) thun có xứ gọi nặng có xứ gọi nấm.
Rắn có hai lưỡi 290 , thì giải rắn thuộc kỷ và bính ; hỏa thuộc về lộc đinh. Trong thân thể thì hỏa chủ về lưỡi nên rắn có hai lưỡi. Tôi thì cho rằng: Những loại tượng về ngũ hành, hễ vật thuộc thủy thì thành đôi cả. Nguyên, hanh, lợi đều một mà… thì gồm cả chính cố ; trắc ẩu, u ố, …nhượng đều một mà… thì phần được thị phi ; Tâm, căn, tì, phế đều một mà thận thì có hai trái ; Mào, ngọ, dậu đều một mà… thì hợp cả thủy và thổ ; Long điểu… đều một mà sao Huyền Vũ 291 lại hợp cả qui và xà. Nhưng qui và xà tuy thuộc thủy mà rùa (qui) hình tròn ghé về thổ, rắn (xà) thì cong queo toàn thuộc thủy, nên có hai lưỡi.
Tục Nam-kỳ lấy rắn hổ mang ( hổ xà) làm món ăn quý, thường dùng đi lễ quan trên và đãi khách khứa. Lấy máu nó hòa với rượu mà uống bảo là trị phong thấp ; bỏ đầu và đuôi 5 tấc rồi mới ăn, cho là độc ở các chỗ ấy (Gấp đuôi lại dún rồi chặt đôi ra, lại lấy khúc đuôi do khúc đầu mà chặt bỏ). Lại có nhà nuôi rắn ấy dùng ống tre độ vài lóng một đầu để mắt, đầu kia để trống, bỏ rắn vào, lấy vật gì bịt kín miệng. Đằng mắt tre xuyên một lỗ nhỏ đâm hành thun tẩm tăm tre bỏ vào lỗ, rắn sợ hành phải co lại, không thẳng ra được, một tuần sau thay tăm khác, cũng tẩm hành mà đẩy vào thêm, rắn càng co mãi lâu dần ngắn bằng con chệch, vảy trắng ra, rất ngon béo. Nhưng khi mở ống bắt nó phải lưu ý, nếu không nó cắn phải thì không thể cứu được.
Ở Nam-Kỳ có rất nhiều, chỉ không có cá gáy ( lý ngư ) và cá giếc ( tức ngư ).
Cá anh vũ sinh ở Tam-Nông thuộc Hưng-Hóa đến cửa sông Việt-Trì thuộc Sơn-Tây. Mỏ như mỏ vẹt (anh vũ) mình dày và dài, vảy sắc xanh luốc, không có xương vụn. Cá ấy ở Việt-Trì rất ngon. Sông Nhị-Hà dài có ngàn dặm mà chỉ có khúc nầy là có cá ấy, đến khúc khác lại không có. Tiết rét mùa đông đánh lưới bắt nó, đầu xuân đang có khí lạnh cũng đánh được ít chiều. Cuối xuân về sau thì không còn nữa, nên lấy làm quý. Có tên là Gia-ngư , có kẻ bảo sông Việt-Trì có lỗ thông đến Bính-Huyệt 292 . Cá nầy đến rét thì dời sang nam, nóng lại về bắc. Cho nên cá ở Bính-Huyệt tháng 3 mới có, tháng 10 vào huyệt mà đi. Cả sông (ở ta) thì đông tới, xuân đi.
Sách Sơn đường duy khảo 293 : « cá nầy thường lên sông Long-Môn ở Giá-Hưng (Triết-Giang) để hóa rồng ».
Cá chày (chiên ngư) chỉ sản ở sông Tam Thoa thuộc Vĩnh-Huyện mà thôi, còn xứ khác cũng không có.
Sông Sơn-Minh thuộc Hà Nội có cá bạc (ngân ngư) dài hơn một tấc, sắc trắng không vẩy. Bắt được đang tươi nấu chín thì xương và thịt hóa ra như cao, vị rất ngon, nhưng nó ra khỏi nước liền chết không đưa đi xa được. (Cá nầy có tên là khoái dư ).
Cá thi, sách Loại hàm gọi là hoa ngư, cũng gọi là đấu ngư . Sách Cao nam tạp chí lại gọi là đinh ban ngư .
Cá du đô, vốn sinh ở Nam-kỳ. Miền bắc chỉ có cá du ngư sinh ở ruộng cũng giống cá trên mà nhỏ bằng ngón tay cái, sắc xanh thịt kém ; người ta bắt được thường bỏ đi. Lúc xưa không có cá nầy. Hồi quốc sơ mới nuôi nó, nay thì xứ nào cũng có. Cá nầy khéo nuôi con, bầy cá con đang lội bơi một đoàn, sắc đỏ ròng, mẹ đi theo sau, gặp khi kinh động thì mẹ há miệng cho con chui vào, cá khác không làm hại được cho nên sinh nở ra nhiều lắm. Thuở xưa có cá trau (lệ ngư) vị khá ngon, sau bị cá nầy ăn dần đã gần tuyệt nòi. Ở Nam-kỳ có cá hoa (hoa ngư) cũng giống như cá Du Đô mà hơi to, đầu và lưng đều có vằn vàng, vị không ngon bằng.
(Nam-kỳ lại có thứ cá thát lạt, mình mỏng đuôi dài, giống như cá leo ( chiêm ngư ) mà có điểm tròn, vảy nhỏ, xương mềm, vị nó so với các cá khác cũng khá ngon. Ở Kinh (Huế) cũng có mà nhỏ).
Cá không ngủ cho nên ưa động. Sách Qui-Tân tạp thức của Chu-Mật: « Những người đem cá giống đi đường bộ, gặp ao hồ phải múc nước mới, mỗi ngày thay vài bận, đi luôn cả ngày mà đêm cũng không được nghỉ, dẫu muốn nghỉ một chốc cũng phải để một người lay động nó luôn, bởi vì nước có lay động thì cá mới bơi lội nhởn nhơ, như lúc ở giữa sông hồ, trái lại nước lặng thì cá chết. Nay những người ở Hưng-Yên buôn cá giống đều phải làm như vậy. Lại những người buôn cá giống nuôi trong ao hồ, không thấy nó đẻ con ». Chu-Mật bảo là ban đầu mới nuôi cá, lấy dầu sao với cám cho ăn nên như thế.
Cá ở khe đầm, mùa hạ có chửa, đến tháng 6, 7 được trận mưa lớn, nó lôi lên bờ cỏ giữa ruộng đẻ trứng thành con, đến tháng 10 mới ăn được. Nhà làm ruộng thường xem cá con nhiều ít để bói năm tốt xấu: Gáy, giếc nhiều thì đông, xuân mưa gió phải thời ; rô (quá sơn ngư) nhiều thì rét tợn, leo nhiều thì năm sau đại hạn.
Cá lạc và lệch (man lí ) ở Bình-Định, Phú-Yên có nhiều, thứ đen vị ngon trong loài không có vảy có nó tốt hơn, còn thứ trắng kém.
Ở Biên-Hòa có cá bạch thu sinh sản rất ít. Nước Cao-Mên cũng có. Người Mên có yêu thuật, thù ai thì mời thầy vẽ thư phù một vật vào bụng người thù sẽ bị bệnh như bệnh cổ. Chữa bệnh ấy phải lấy vật ấy ra như gai cây, xương cá, đùm tóc, bọt nước, v.v… mới khỏi 294 Người bị bệnh ăn lầm phải quả bí đao trắng ( bạch đông qua ) thì khó chữa chỉ ăn cá bạch thu thì rất hiệu, họ nói người nào thường ăn cá ấy, yêu thuật không phạm đến cho nên ở Mên rất quí thứ cá ấy. Mà khó được nó, một con phơi khô giá đến 3, 4 quan tiền.
Con tấy (thát) hay tế cá. Thường khi một bày vài mươi con bắt (cá) để trên bờ sông, (tế) xong thì đái vào rồi đi. Nước tiểu nó có độc, lầm mà ăn phải thì bị bệnh, cho nên tục thường dặn nhau được cá trên đất hoang tịch thì không nên lấy, là sợ thứ cá mà tấy đã bỏ rồi.
Hải thu tục gọi là cá ông voi, mình dày không vảy, đuôi giống tôm, kỳ nó rất sắc, mũi ở trên trán, tính có nhân hay cứu người. Người đi thuyền gặp phong ba mà đắm nó thường đội trên lưng đưa vào gần bờ, vẩy đuôi bỏ lên. Người miệt biển rất kính. Có con chết mà tạ vào bờ ruồi lằng không đậu, họ bèn góp tiền làm ma, ai chủ việc ấy thì đánh cá và buôn bán có lợi.
Xét Tùy thư chép: « Nước Chân-Lạp có con cá kiến đồng , bốn chân, không vảy mũi như voi, hút nước phun ngược lên 5, 6 trượng ».
Sách Minh nhất thống chí cũng thuật theo như thế. Nay hỏi người Nam-Kỳ và Cao-Mên thì không có thứ cá nào mũi như mũi voi, chỉ có thứ cá nầy mũi ở trên, đi thì phun nước như voi tắm, cho nên có tên ông voi. Còn bảo 4 chân là vảy dưới bụng nó.
Cá lợn (hải đồn) đầu như đầu lợn mình như cá ông voi mà còng, da dày 7, 8 phân, thịt rất ngon béo, mỡ nó thoa đậu sang phát ngứa, nấu sôi bôi ghẻ lở rất hiệu ; lấy da mài với nước mà bôi cũng hay.
Hà Đồn to bằng ngón tay, dài vài tấc, ở dưới nước, hay cắn chỗ kín của người mà người không biết đau, lên khỏi nước mới biết, bắt được nó thì trương bụng lên bằng cái bát, thả xuống nước thì trôi lềnh bềnh như chết đuối, một chốc lại bơi lội như cũ, cũng là ác vật nên gan rất độc.
Người duyên hải không giết thứ cá giang đồn có khi nó mắc lưới thì mở thả ra cũng như người thợ bắn không bao giờ bắn quạ vậy. Họ nói khi có một con giang đồn chết, cả bầy cá ấy đều xúm lại đỡ lấy con chết theo dòng nước mà lên xuống, thở than ngậm ngùi dường như khóc lóc, đến khi thịt con chết rữa mới tan, ấy là giống cá biết thương đồng loại, cho nên người ta không nỡ giết, nếu lầm mà giết thì đánh cá không lợi. Chỉ người Quảng-Yên bắt nó nấu dầu. Hải đồn tục gọi là cá mòi, hà đồn là cá nóc, 孽 giang đồn là cá nặc 喏.
Kiềm ngư cũng là một món ăn biển ngon. Mình nó dày mà dài như cá nhám (hồ sa ngư ) gọi là cá Mẹm. Cá biển hay ươn chỉ có cá nầy bắt được bọc vào mo chuối, cách một đêm hãy còn làm gỏi được.
Sách Lĩnh biểu lục dị: « C on Chương cử hình như con mực (ô tặc), Mán-Việt 295 có nhiều, đang tươi cũng như sứa (thủy mẫu) dùng gừng và giấm mà ăn. Thạch cự cũng một loài với chương cử, mình nhỏ mà chân dài tẩm muối, phơi khô nướng ăn rất ngon ». Thạch cự tục gọi là cá mực phơi khô đưa đi xa được. Chương cử tục gọi là con nuốt.
Cua cũng có đực cái. Nhưng không thấy nó sinh sản gì. Trứng sam (hậu) đầy cả bụng mà sinh con lại ít, cho nên sách Quảng-Đông tân ngư 296 bảo: « Cua ở Viêm hải đều là sam hóa ra cả, trong 10 phần thì 9 phần cua, 1 phần sam ».
Lại có thứ thịt hến (hạng cáp) hóa ra. Có lần thấy người nhà nấu hến, có một con thịt đã hóa ra cua mà hãy còn mềm so với con cua nhỏ đèo trong bụng con hải cánh 297 không giống nhau. Gạch cua (giải hoàng) cũng theo tuần trăng tròn hay khuyết khoảng trước hay sau ngày 30 thì chắc, trước hay sau ngày rằm thì óp. Cua ưa đem tối. Nó đi thì cứ theo mặt trời, buổi mai phương đông, chiều phương tây, trưa phương nam, nửa đêm phương bắc, chất nó thuần âm khi động lại ứng về dương.
Ở Nam-Kỳ có một loại ba ba (miết) gọi là trắng bóng 𤽸俸 nó với rùa (qui) và đồi mồi (đại mại) giống nhau, đều có hai lớp mai. Rùa sinh ở núi, hình nhỏ, mai đỏ mà mềm ; đồi mồi sinh miệt biển, hình to mai có vân mà cứng ; trắng bông sinh ở sống chằm, nhỏ hơn đồi mồi, mai cũng có vân, nhiều vân trắng lợt, người ta thích dùng làm chóp nón. Rùa tục gọi là Quảng đông 廣蝀 làm thịt nó phải bắt vài con trùn (dẫu) nắn sạch bùn rồi nấu lẫn với rùa thì thịt mới lìa mai, không thì cứ dính mãi. Cũng không thể hiểu được ra sao. Ý lấy lẽ con trùn hay co duỗi chăng ?
Con hàu nhím sinh ở những đảo thuộc Quảng Nghĩa, Bình-Định, dính bào đá bằng chén rượu, ngoài vỏ có gai như chiếc đũa nhỏ, dài tấc rưỡi, tua tủa như trái thầu dầu ( ti ma ), thịt sắc tía, vị ngon hơn loại mã đao, muối mắm rất ngon, các loài có vỏ và thứ ốc cơm đều không bằng.
(Tỉnh Quảng-Yên có sản con viên viên cũng như hàu nhím, không dính vào đá làm mắm, được thứ hai).
Ốc cơm sản ở Tiền-Giang phong vị lại hơn. Ở Nam-Kỳ lại có hương loa tục gọi là ốc lươn sinh ở chằm sác, hay leo cây, người ta bắt lấy đập vỡ đầu nhọn, bỏ mỡ heo và gừng ớt vào rồi nút ăn, cũng ngon.
Chân-Lạp phong thổ ký chép: « Loài hến, sò, trai, ốc , v.v… ở biển nước ngọt nên vớt được. Chỉ không thấy cua ở biển nước ngọt ». Bởi vì Biển Hồ là nước Tiền-Giang chảy vào.
Có câu: « Một tấc (a) giao, ngàn trượng (nước) đục » (一寸膠千丈澤).
Sách Mộng-Khê bút đàm: « Xứ Đông-Á 298 có Tế-Thủy chảy vào, múc nước ấy nấu a-giao hòa với nước đục thì trong, lấy lẽ rằng nước sông Tế chảy xuống thì trong mà nặng vậy ».
Phương nam hiếm A-giao thiệt mà người ta cũng không thấy. Hễ gánh nước đục đựng vào một đồ gì dùng vài đồng bạch phàn hóa vào hay là giã một nắm đọt hồng qui mà lỏng, một chốc trong ngay. Chỉ nước Biển-Hồ thì đen mà đục hòa vài đồng bạch phàn vào chĩnh nước thì hơi đứng lại như nước đậu, tạm uống được nhưng mùi tanh không nấu được trà, lóng đến hai bận mới trong, nhưng lại chua chát không thể uống được. Duy chỉ bỏ vài con hến vào để nó hút chất bùn, cách một đêm thì nước trong mà ngọt, bởi vì bùn nước Biển-Hồ nhẹ mà nổi.
Nhà nông hay dùng xương đùi ếch (điền oa) để xem tuần mưa. Thường nghiệm rằng: nửa trên đen thì mưa vào đầu tháng ; giữa đen thì mưa giữa tháng nửa dưới đen thì mưa cuối tháng ; toàn đen cả thì mưa luôn ; toàn trắng cả thì không mưa. Gân hàm con gà cũng vậy.
Thơ Chương-Hiến-Tiêu có câu:
田家無五行,水旱卜蛙聲
Điền gia vô ngũ hành, Thủy bạn bốc oa thanh. Nghĩa là nhà làm ruộng không biết ngũ hành, lụt hay hạn chỉ bói vào tiếng ếch. Nay tục bảo rằng: Ếch kêu sớm mà nhộn thì được mùa ; kêu chậm mà thưa thưa thì mất mùa. Lại cóc (thiềm thừ ) nhái ( thanh oa ) trong những tháng nắng mà kêu thì có cái triệu sắp mưa. Thơ của Chương chắc cũng theo đó.
Sách Tự thuyết của Vương-An-Thạch 299 : « C on ễnh ương (hà mô) hay nhớ đất cũ, đưa bỏ một nơi xa đêm sau nó lại về chốn cũ, dầu đưa đi thiệt xa, nó cũng nhớ mà về nên có tên thế ».
Nhưng đưa đi xa mà về là con cóc (thiềm thừ) cũng có tên là lại hà ma. Đến như ễnh ương thì nổi danh về tiếng kêu.
(Ngạn ngữ có câu: « như cóc bôi vôi, ba năm lại về », để ví với người nhớ quê hương. Đời Tống cũng đã có câu như thế).
Con ngao hoa (xa ngao ) lúc mới sinh ở bãi cát nhỏ bằng hột kê hột gạo, thành từng sợi dắt nhau, hơi lớn thì đứt rời từng con một.
Sách Gia-Định thống chí của Cấn-Trai chép: « Con Sò huyết (huyết cáp) đục lỗ giữa cát sâu hay cạn hành từng hàng, loài hến cơm (cam cáp) cũng như thế cả ».
Sách Toàn Nam tạp chí: « Có con ốc tằm ở giữa biển, trên thịt có gân như sợi, chim yến ăn lấy, thịt tiêu mà gân không tiêu, nó lại nhả gân ấy ra làm tổ. Nước ta nhiều xứ sản yến sào, nhưng chưa nghe nói đến sự ấy ».
Thơ Đỗ-Phủ có câu: « Điễm thủy thanh đinh khoản khoản phi ». Nghĩa là chuồn chuồn đớp nước bay tung tăng. Chuồn chuồn đớp nước rơi trứng xuống rồi hóa ra sâu, hình như cà cuống (quế đố) mà nhỏ không cánh, kịp khi thoát xác lại hóa làm chuồn chuồn như cách con cung quăng (hóa muỗi).
Phù Ngô đo có câu: « Hương cống bát tàm chi cẩm », nghĩa là lòng cống (vua) có thứ gấm tám lần tằm. Và chú rằng phương nam khí ấm một năm nuôi được 8 lần tằm.
Năm Minh-Mệnh thứ 17 (1836) lấy giống tằm bạc (ngân tằm) ở Tô-Châu đưa về (trứng to hơn trứng tằm ta gần gấp đôi). Lúc lấy là tháng 9 người xứ ấy dự tính đến tháng hai thì nở con. Kịp khi về đến nước ta thì mãi đầu tháng giêng trứng tằm đã nở, nuôi không được tốt. Bởi vì khác đất nó không chịu nổi khi nóng.
Thi sở của Lục-Cơ: « Con liều thân (phù du) sớm sinh tối chết ». Xét con này mỗi sáng bay trên mặt nước, người Bắc-kỳ bắt về làm món ăn, mặt trời mọc thì rơi xuống nước chết cả. Đến tối lại nở ra. Cho nên Vương-Bao nói rằng « liều thân ra về đêm ». Lục-Cơ sớm sinh tối chết đại khái tả sự mau đó thôi.
Sách Nhĩ Nhã nói con thổ phong và mộc phong. Quách-Phác chú rằng: « ở Giang-Đông có thứ ong lớn làm tổ trong đất, hay ăn con của nó, tức là thứ mã phong . Người miệt Kinh-Ba 300 gọi là thiện. Mộc phong cũng như thổ phong mà nhỏ, làm tổ trên cây, cũng ăn con của nó ».
Xét thổ phong, tục gọi là ong chăn, lại gọi ong chấm chiếm, trong các loài thì ong ấy to hơn, nọc rất đau. Mộc phong tục gọi là ong cù vẽ vì ngoài tổ nó có vân như vẽ vậy. Hai loài nầy đều không có mật. Đầu xuân chỉ có một con làm tổ bằng trái cà, tục gọi là ong bồ côi rồi con nầy đẻ con kia, thêm ong thêm tổ, dần dần to bằng cái đấu, tổ nó chỉ mở một cửa, mùa đông tự đóng cửa lại, nhiều con chết rét trong tổ, con nào không chết thì đến xuân sang năm mở cửa ra, phân tán mỗi con đi làm tổ một nơi. Lại có một loài ong sắc vàng tục gọi là ong vang, cũng làm tổ trên cây và hè nhà cũng như cù vẽ mà nhỏ, ít nọc, cũng không mật, con nó gầy nhỏ, người ta không hay ăn.
Sắc Phương ngôn 301 : « C on ong người Yên, Triệu 302 gọi là mông ong , con nhỏ gọi là ế ong có kẻ gọi là u thoá t. Theo Bác Nhã của Trương-Ấp thì u thoát tức thổ phong, tức ế ong vậy ».
Thế thì tiếng phong với ong đời Hán đã nói rồi. Ế ong là con (ong) nhỏ. Chỉ con quả lỏa tức nay tục gọi là con vò vò 303 thì sai. Sách Nhĩ Nhã chú là mã phong. Tiếng u với tiếng vò nghe gần giống nhau).
Ong làm mật có ba thứ: một thứ to bằng quản bút, sắc tía, đốt người thiệt đau, cả bầy rất đông, hay làm tổ bên lèn núi, to bằng cái hộc (Cửa động núi Tiên thuộc Hà-Tiên có một tổ ong to bằng vài hộc đầu từ 6, 7 mươi năm về trước). Sáp và mật rất nhiều, tục gọi là ong mật (mật phong ) (vì mật nhiều nên chỉ gọi tên ấy). Lại có thứ gọi là ong sứ (sứ phong), ong quân (binh phong ), và khoái phong tới ở vườn người, bị người ghét (lấy nó thường vào tháng 6). Một thứ to bằng chiếc đũa, chân vàng, ít nọc cả bầy được độ vài bát, người ta hay nuôi, làm tổ trong bông, gỗ, sáp và mật không được nhiều lắm, tục gọi là ong bộng (dụng phong) (hoặc gọi là ong ruồi (dắng phong) vì nó hay ở bộng cây, người ta cũng đục gỗ làm bộng để nuôi. Có nhà không nuôi mà nó đến, tục cho là điềm tốt và lợi. Hai thứ nầy đều sắc vàng. Một thứ nhỏ bằng ruồi, sắc xanh, nọc ít, cả bầy không bao lăm, làm tổ ở cỏ và cây hay chỗ bờ rào, to cỡ nắm tay, sáp và mật cũng ít, tục gọi bằng ong ruồi. Mật nó có thứ biếc, có thứ trắng là tùy khi nút hoa màu gì. Phàm hoa ong nút chia làm ba hạng ; một hạng trắng vừa thì đội lên đầu đưa về dâng chúa một hạng rất trắng mà có mỡ, mang lên lưng đưa về làm tổ ; một hạng vàng mà không gợn thì kẹp ở chân đưa về gầy mật. Hái hoa uống nước xong (con ong) trở về tổ, khi còn xa thì bay nghiêng, gần đến nơi thì lại bay cao, nó sợ người ta dò theo, phá hại chăng. Lại có một thứ ong to bằng ngón tay sắc thiệt đen, đốt rất đau, làm tổ trong cây tre khô, chỉ có một mà đẻ được vài con nhỏ tục gọi là bằng ong mọt ( đố phong ) cũng gầy mật làm phấn sắc trắng lợt.
Sách Phương ngôn: « Khoảng Yên Triệu có thứ ong to mà có mật gọi là đố phong ».
Quách Thác chú: « nay có thứ ong đen xuyên lỗ cây tre cũng có mật, hoặc gọi là địch cư ». Ấy tức loài này.
Bản Âm dương biến hóa lục trong sách Loại hàm: « Loài ong mỗi năm đến tháng 3, 4 thì sinh sắc đen, cũng có con gọi là tướng phong (võ), có con gọi là tướng phong (văn) thứ nầy, không biết hái hoa chỉ biết gầy mật, không có thứ nầy thì không nên mật. Khoảng tháng 7, 8 thì chúng chết hết, nếu không chết thì cả bầy bị đói. Tục bảo rằng tướng phong (văn) qua được khỏi mùa đông thì cả họ nhà ong hết sạch ».
Đời nay người ta đang truyền thuyết ấy cũng bởi (sử) trong triều ngoài đã đều chép. Đại loại cũng như bảo con voi An-Nam biết được người gian hay ngay. Kỳ thiệt thì không thế. Thường thấy người ta nuôi ong, đầu xuân không có con nào sắc đen và làm được mật. Ong nút hoa đem về đẩy trong chân ra, kẹp vào lỗ, hai chân nó tự đạp lấy, lại dùng vòi mà hít, không đợi đến ong đen gầy mật, đến mùa hạ mới có ong đen, mật đã dần dần hao tổn, ong đen càng nhiều thì mật càng hao, lấy một tợng mật trong tổ ra xem thấy trong gác lỗ có con non mà đen, ý giả ong mạ tình cờ nút phải hoa xấu mà sinh ra loài làm hại cho nó. Nhà nuôi ong cũng ghét thứ ong đen ấy, thấy nó nhiều thì bắt giết đi bảo là ong lười vì không biết nút hoa gầy mật. (Trong tổ ong khoảng trước và sau ngày 30 thì mật đầy, khoảng trước và sau ngày rằm thì ít đi. Con ong non béo hay gầy cũng vậy, cũng như cua gạch). 304
Hễ ong có mật thì làm tổ từng miếng nghiêng xuống, cưa trổ một bên, ong không làm mật tổ từ trong ra từng nụ chắp lần lần như mắt cây, cửa trổ phía dưới. Nó tùy tài làm hết sức. Loài vật bé tí mà như thế. Nếu để miệng tổ trổ xuống cả khi nó không thể gầy mật được.
Vật có chất ngọt thì hay sát trùng. Mật ong rất ngọt có thể làm tan được đỉa ( thủy điệt ) là một vật khó làm cho nó chết. Rưới vào thịt, cá, nem dưa thì không sinh giòi. Nước dừa cũng trị được sán (bạch thốn ).
Sách Thần dị kính của Đông-Phương-Sóc 305 : « ăn mía trị được giun (bưu) ». Khoai lang cũng thế.
Vật cũng tùy thủy thổ mà tính chất khác nhau. Như đỉa khó làm chết, ai cũng ghét mà đồn đột (hải sâm) khi đang tươi, hình sắc như đỉa, bắt được nó đem phơi khô, dùng làm canh, là một món ăn rất ngon dùng khi tế tự.
Loài côn trùng nhiều con theo khí mà hóa. Thường thấy những con trùng có vỏ (giáp trùng) ở trong nước.
Sách Toàn nam tạp chí: « con long sắt như con bọ trong phân trâu sắc đen mà mình mỏng, bóc vỏ mà ăn ».
Nay tục gọi là bọ niệng (vốn) ở không trung sa xuống giữa cỏ, ban đầu từng bầy dính cục lại như trái cù, đến khi tản tác không gặp được nước rồi bay mỗi con một ngã, đủ biết loài trùng không phải hết thảy ở nước sinh ra. Lại ở trong giếng và chậu nước, khi trời mưa, thường có giun to bằng chiếc đũa không phải dưới đất hiện ra. Con quế đố (tức là con mà Triệu-Vũ-Đế dâng Hán-Văn-Đế, tục gọi là cà cuống) 306 đẻ trứng, vị cũng kém. Lại vào tiết cuối hạ đầu thu thường có lưới nhện (thù) giăng giữa trời tục gọi là tơ thiên tôn (thiên-tôn-ti).
Nhện giăng lưới trên đám cỏ, mỗi buổi sáng mù bám vào mặt lưới xem như tờ giấy mỏng, nhà nông cũng hay xem nó để bói mùa được mất. Lưới ngang bằng, chính giữa thụng xuống sâu thì được mùa ; nếu nghiêng lệch và thụng xuống cạn thì mất.
Hồ da tử là thứ sâu ở đọt cây hồ da, cây như loại hải táo mà trái nhỏ tục gọi là sâu thâm lá , hình như ong non, bỏ vào ruốc cá cho nó ăn, rồi bắt nướng ăn rất ngon. Ở Vĩnh-Long rất nhiều, có cống (vua). Mùa đông thì lấy, đến xuân sâu đã già, hóa ra sâu có vỏ rồi bay đi.
(Sâu ở cây đậu ván có gai, ăn cũng ngon. Trần-Ngọc-Diễm 307 làm Án sát Vĩnh-Long nói trong núi Hùng-Quan có thứ sâu to bằng ngón tay cái sắc trắng có vòi, chân như chân voi, tục gọi là sâu voi sương, ở hang dưới đất mỗi khi có đốt rồi mới mọc mầm, nó lên ăn sương, người ta bắt nướng ăn gần được như hồ da tử).
Quảng-Đông tân ngữ: « con rươi (hóa trùng) là rễ lúa hóa ra » loài nầy sinh ở ruộng có nước thủy triều. Khi đầu ẩn (dưới nước) nhỏ bằng sợi chỉ, dài vài thước, sắc đỏ tía, liền sợi, không miệng, không đốt, khoảng trước sau tiết sương giáng (24 tháng 10) thì chín khi chín thì hóa rất mau, đoạn nào chín thì đứt ra, nổi lên mặt nước ngay như mũi tên. Rươi ở Ninh-Bình rất ngon, có cống vua (Tỉnh Hải-Dương và Bắc-Ninh lại có con bụi nước (thủy trần) bằng hột tấm, nổi lên mặt nước quây quần theo bọt, dùng vải làm lưới nhỏ bắt để làm mắm, sắc đỏ, vị ngon. Mắm ở Lương-Tài (Bắc-Ninh) làm thì ngon hơn).
Tép (điền hà) phần nhiều là rễ cỏ thi hóa ra. Sách Quyện du lục: « Xứ Lĩnh Nam về những tháng nắng có thứ mối (bạch nghi) xuống nước hóa làm con tép, người xứ ấy dùng đuốc soi, bắt về làm mắm ».
Ve (thiền) là rễ cây mục nát hóa ra. Có lần thấy người ta đào cây niêm khô (lá như lá hòe, giã vỏ làm nhựa trết chim. Bản thảo cương mục bảo là cây câu cốt như câu thơ Đỗ-Trọng: Nam sơn hữu cây nghĩa là núi Nam có cây câu, tức là câu, này người ta lấy vỏ nấu keo đánh chim gọi là nhựa niêm ly) chỗ rễ mục có 5, 6 con ve chưa động đậy bay được. Sách Đậu dương tạp trở: Ông Vi-Kiều tháng đông đào rễ cây được con ve, bẻ bụng nó ra đang còn có chất cây khô Tên có như thế.
Núi Hoa-ổ ở nguồn Câu-Đê thuộc Quảng-Nam rất nhiều ve, người xứ ấy bắt lấy, bỏ cánh và chân, rang ăn vị tương tự như con phù-du mà người Bắc-Kỳ hay ăn tục gọi là cái vờ.
Tắc-kè (cáp giới) leo cây mà lên, gặp nhánh có mắt thì dừng lại, thợ đốn gỗ vào núi làm việc, lấy giây buộc con tắc kè thả dưới gốc cây cho nó leo lên, khi nó đã dừng lại thì kéo xuống đo giây, biết được thân gỗ dài ngắn bao nhiêu cho nên tục gọi là con mực thước (mặc xích trùng) .
Chuột chù (xú thử) người ta đều ghét. Cũng có chỗ không nên ghét là hễ nhà ai có chù reo thường có điềm tiểu hỉ.
Giống (thạch long nhuế) chứa cỏ khô vào hang phòng mùa đông, có khi ăn hết phải cắn đuôi mà ăn, sang xuân đuôi lại mọc.
Trên mặt đất, tinh vật không giống nhau mà thói tục cũng khác. Theo địa xứ mà nói thì người Bắc-Kỳ hay ăn con chúng , tục gọi là châu chấu và con chuột đồng ( điền thử ) ; người Thanh, Nghệ ăn loài giáp trùng ở nước ; người Bình-Thuận ăn con thạch long nhuế tục gọi là chóông. Họ đều cho làm món ăn thường, người xứ khác thấy thế lấy làm lạ. Người Nam thích ăn ngư tinh thả o tức trấp thái 308 mà phần nhiều người Bắc không ăn được ; người Bắc thích ăn rau lá mơ mà người Nam có kẻ không ngửi nổi. Nhà chùa hay làm bạch đậu hủ, ai thích nó thì ăn không không biết chán, ai không quen đến gần là rùng mình. Ở Nam-Kỳ ăn thịt rắn cho là món quí, mà người nơi khác mời nếm đã rởn gáy. Người Bắc trải chiếu giữa đất mà ngồi, người Nam làm nhà phải lát ván trên nền, không thì phải ngồi ghế vì khí đất (ẩm) thấp. Từ Quảng-Bình vào nam cái cày thô mà to phải cày trâu đôi, từ Hà-Tĩnh ra bắc cái cày lại nhỏ mà cày trâu một vì ruộng có nước không tiện (khác nhau). Theo thời đại mà nói thì người đời xưa ăn rau quỳ mà đời trung cổ thì không ăn ; đời xưa đốt cây ngải (tiêu) mà nhà Lương về sau lại dùng hương ; đời xưa tế thì dùng lụa mà nhà Đường về sau lại dùng tiền giấy ; đời xưa tiền bằng vỏ sò mà đời sau lại không ; đời xưa lấy bạc trang sức đồ vật, không làm tiền tệ mà đời sau lại chuộng nó. Theo vật tinh mà nói thì ở Bắc-Kỳ thịt gà ngon thịt vịt kém mà Nam-Kỳ thịt gà không bằng thịt vịt. Cá Tiền-Giang phần nhiều cùng một loài với cá biển mà cá sông cá biển ở xứ khác lại phân biệt. Cây mít là gỗ tốt mà mọc ở Nam-Kỳ sớ gỗ lại thô. Các loài như thế bởi phong khí với tập thượng khác nhau.
Vật tốt lắm tất có chỗ xấu lắm. Những món ăn ngon thường có chất độc, dẫu loài ngũ cốc cũng vậy. Gạo thơm thì người bệnh và đàn bà có thai ăn động khí. Cá gáy rất động phong. Thịt công (khổng tước) làm nem sắc trắng vị rất ngon người yếu ăn động khí, đau các đầu khớp xương chân tay. Đầu và mật công rất độc ăn phải chết người. Các quan làm thịt nó phải cho người xem xét, chôn đầu và mật. Thịt đồi mồi cũng động phong. Hai loại ấy ý giả người nó có văn hoa nên như thế. Người đời xưa ăn cơm hút canh rau chẳng những một tiết kiệm mà cốt ở vệ sinh.
Nam-Kỳ thịt bò ( hoàng ngưu ) cũng độc. Tôi ban đầu không tin. Có lần nhận làm một con, người dự tiệc hơn nửa không ăn, chỉ có vài mươi người ăn đều bị đau cả, có kẻ phát rét rồi cũng khỏi.
Thịt mà dùng lá cau làm củi nấu đều có độc, hay sinh đau bụng, tháo dạ, đi lỵ
Bầu ( biều qua ) ở Hải-An tỉnh Bắc-Ninh ; đào ở Lạng-Sơn ; khế ở Vị-Xuyên tỉnh Tuyên-Quang ; quýt và nước mậm cây lư 309 (Thường năm tháng 10, cây lư trổ mậm, nhân móc, sương và mưa thấm vào đọng thành nước), ở Hưng-Hóa đều có độc cải ăn lấy thì mắc sốt rét (chướng) hại người.
Nấm lim rất cứng, có độc làm chết người Chỉ lấy nó mài với rượu bôi vào vú đau (nhũ ung) rất hiệu. Tri phủ Tư-Nghĩa Quảng-Nghĩa xưa là Văn mỗ nói: « lim tức là kinh loan. Sách Bản thảo. Sản (ở xứ) ngoài biển lớn, to vài mươi vòng, gọi là thiết mộc, hoa nó (ăn) chết người ».
Sách Tẩy oan lục 310 : « Gạo làm cơm cá kho nước đi qua rừng cây kính » 311 tức là nó.
Hải tộc có con rắn đẻn (hổ sa) rất dữ cũng gọi là cá rắn (xà ngư) . Ở chỗ chiến sa Tiền-Giang có nó, một khúc ở Thuận-Cảng lại càng nhiều, thuyền đi đến chỗ ấy thường dặn nhau chớ có tắm giặt. Ngạn có câu: « Nước cạn tránh sấu, nước sâu tránh đẻn ».
Sách Bác Nhã nói thứ rắn hủy khuê.
Sách Bản Thảo: « rắn thanh khuê có tên là thanh trúc . Sắc lục hay leo nhánh cây và tre, độc rất dữ. Rắn nầy tục gọi là rắn lục đẻ con nhả ra đàng miệng, mỗi một lần đẻ chỉ có vài con, mà quấn lấy nhánh cây để đầu xuống dưới, con rơi xuống đất, trở lại ngó mẹ ngay, thường bị quạ diều ăn mất, con nào không ngó mà chạy thẳng thì khỏi. Mẹ nhả xong thì chết ngay, cho nên loài nó không mấy. Tiếng kêu rắn lục như gõ sừng mà to, con lươn (oa ngưu) kêu như gõ sừng mà nhỏ ».
Sách Lĩnh biểu lục: « Rắn hai đầu , ngoài lĩnh biểu rất nhiều loài này bằng ngón tay dài chừng một thước, dưới bụng có vảy đỏ, trên lưng có vân gấm, hai đầu đều có thể bò lui tới được ». Rắn nầy tục gọi là rắn mai gầm, to bằng ngón chân cái, một đầu có miệng có mắt, một đầu tựa như có miệng nhỏ mà không mắt, nọc rất độc.
Năm xưa tôi ngồi dạy ở một nhà kia. Một hôm, tình cờ ngủ ngày, khi đã dậy thấy dưới chiếu có vật gì cồm lên, rờ thì thấy tròn mà bằng, đường kính hơn 6 tấc bốn bề nhúc nhích luôn. Sai người mở sẽ chiếu thì là một con rắn. Bèn giết đi. Ấy là con rắn hổ.
Bình-Thuận có loại rắn nhỏ vừa bằng quản bút hay ngón tay, sắc cũng y như sắc đất trên lưng có từng vết dọc, tục gọi là rắn đọt na, cắn người rất độc. Miền này có cây san hô đọt giống xương rồng lá bằng con toán mà tròn, lắm mủ, mủ nó chữa được nọc rắn ấy.
Bình-Thuận có cây gai chậm lưới, cao 5, 6 thước, lá như lá cậy (tì thị) hơi hẹp mà nhọn, gai nó ở đầu lá, nhọn mà nhỏ bằng hột cát, đâm phải người rất độc ai lầm mà bị, dần dần nó rút vào thịt, càng ngày càng sâu, không thể lể được, có người sinh mụt lở đến vài tháng, chỉ giã củ tỏi (đại toái) xoa vào, thì lấy gai được, rất nghiệm.
Nha phiến, thuyền (tây) dương chở sang hình như phân gà, nó làm mục dạ dày và ruột, mất cả thần trí người ta. Ai nghiện phải thì hết của hư thân. Chất độc cỏ cây không gì bằng nó. Thị Lang là Nguyễn-Đinh-Tân 312 có kể: « Ngày trước, ông ta nhân đi lại với bọn làng chơi trẻ tuổi, có hút mấy lần rồi thành nghiện, lại sợ người ta biết, thu thu dấu dấu đê tiện quá chừng. Lâu rồi thần trí tối tăm, chỉ biết có hút, chứ không hay trên đời có gì đáng lo đáng mừng nữa. Lỡ lối nửa ngày mà không được hút thì buồn bực muốn chết. Sau vừa hối vừa sợ mời thày tới chữa. Thầy cho thuốc uống, cai được vài ngày liền phát ra trăm chứng, cơ hồ nguy đến tính mệnh. Thầy bảo phải nhẫn nại, được vài hôm sau đi ngoài toàn phân đen đều là khí thuốc nghiện, 7 ngày dần bớt, 21 ngày thì lành, thần trí mới bình phục ».
Lại nói: « Hồi ông ta đi sứ Tàu có viên Thông sự nhà Thanh là Lý mỗ cũng nghiện, khi đi đường tỉnh Trực Lệ cả ngày không có hút, chết muộn ở trên xe, 9 khiếu đều có có những con trùng bò ra như cung quăng trong nước mà đầu mỏ thì cứng » .
Ông ta lại nói: « Có tới một nhà kia, giường chiếu sạch sẽ, ngồi một chốc có con thằn lằn (thủ cung) trên nóc nhà rơi xuống chiếu chết. Hỏi người bên cạnh thì họ nói chủ nhà ấy thường hút thuốc phiện ở chỗ này, con vật nọ bắt nghiện, bây giờ mắc khách, nó không được hít khói nên chết muộn như thế ».
Gần đây ở bộ Công có ông Viên ngoại cũng nghiện, người còn trẻ rất tráng kiện, thình lình bị đau nặng. Lúc nguy cấp, không nuốt được hồ nữa, chỉ lấy tay vẫy tên đầy tớ bảo nó hút đi rồi dùng thoe thổi vào miệng mình. Nuốt khói được một lát thì chết. Dễ sợ như thế. Tôi năm xưa ở Gia-Định, có lần đi với một bọn nọ uống rượu, lúc đã say, họ đều hút thuốc phiện, mời tôi cùng hút. Tôi thử hút chơi một điếu, mới khỏi miếng thấy trong bụng cồn cào không chịu được, kế đau bụng muốn đi ngoài và muốn mửa, y như sách thuốc nói chứng ỉa mửa khan (can hoắc loạn) Tôi liền trách bọn kia. Họ nói: « Đó là tại hút chưa quen lại bị gió cảm. Lâu rồi mới biết ngon ».
Tôi bảo: « Chịu sao được mấy lần gió cảm thành chứng ỉa mửa thế này » Hơn một giờ mời thôi.
Năm xưa, người Tiêm hãm Châu-Đốc (1833) chiếm hơn một tháng, khi quan quân dẹp được vào thành thì thấy ruồi đậu trên mặt đất như rắc đậu đen không nơi nào hở. Phải đốt quét đến vài ngày mới hết, hôi ghét khó chịu. Vật theo có loài, đáng ghét như thế.
Truyện ký chép đá vọng phu là người đàn bà hóa ra. Sự thiệt lờ mờ lắm. Bảo là (người ấy) rất mực chi thành, ngưng cứng lại thành đá, có khi cũng có lý. Nhưng lạ có vật tựa như vô tình mà hóa ra. Bên gò Đông-Sơn ở biển Cao-Mên, có thò ra một tảng đá giống nửa chiếc thuyền trong có những đá nhỏ cát vụn, có cái in như hình bát, đĩa, gắn chặt vào thuyền có cái từng chồng dính nhau, có người xẻ ra lấy được. Cái diệu xảo của Tạo vật không thể lường được. (Phía lái thuyền có nước suối chảy ra biển Hồ).
Sách Mặc khách huy tê 313 nói: « ở Hồ-Sơn có một cây bá đái độ vài thước, một nửa đang còn gỗ cứng. Thái-Quân-Mô thấy lấy làm lạ bèn chở về nhà » Cùng một loại như trên cả chăng ?
Nài giữ voi không dám ăn thịt voi. Chó hay ghét người làm thịt. Nhà nông cất lúa giống kiêng bỏ đồ sắt vào. Lúc ra giống kiêng quét nhà. Bỏ phân gà vào ao thì cá đi mất. Loài vật đều có thứ ghét nhau.
Đá nọc rắn (độc xà não trung thạch) có thể rút được nọc rắn nọc trùng (Hình đá bẹp như quân cờ, sắc như trái cật lợn, hơi có đầu và mỏ, đặt vào miệng bị thương thì rút nọc ngay, rút hết thì rơi xuống, bỏ đá vào chén sữa cho nó nhả nọc ra sữa (đang trắng) hóa xanh. Nếu không thì đá nứt. Cho đá rút nọc một lần thứ hai nếu bết thì không dính nữa). Vật nào theo loài nấy. Nhưng đôi khi cũng có cái không hiểu được Như người ta thích ăn thịt gà thì thích ăn với rau răm (lục) và lá chanh (đăng) mà hai vật ấy đều chữa vết thương gà. Ăn thịt chó thì thích ăn với sơn phỉ tục gọi là (củ sả) mà sơn phỉ hay chữa vết thương chó. Ăn thịt trâu thì thích ăn với tỏi, mà tỏi cũng chữa ghẻ trâu. Cọp bị thương thì nó ăn thứ cua khê điền mà con sau này cũng chữa cọp cắn. (Cua khê điền sinh ở khe tục gọi là con chiêm khế, không mấy khi được giã sống ra lấy nước uống xoa vào chỗ bị thương). Cho đến việc chôn mèo ở dưới gốc khế thì bớt chua ; chôn chuột dưới cây quít thì lắm trái. Những loài ấy tuy là vụn vặt mà cũng đủ biết việc cách vật là khó vậy.