[←1] Đôi câu đối: 衣不戎衣,擔世間之難事, 提三尺劍,收天下之心. « Ý nhất nhung y, đởm thế gian chi nan sự ; Đề tam xích kiếm, thu thiên hạ chi nhân tâm ». Nghĩa là: « K hoác chiếc áo nhung, đảm đương việc khó thế gian ; cầm ba thước gươm thu hết lòng người thiên hạ ». Tương truyền là của vua Lê-Thánh-Tông, nhưng miền Thạch-Hà lại truyền là của Trương nghĩ ra để trả lời một ông bạn đồng liêu nhạo cái nghề của quê quán mình.
☆
[←2] Người ông là Trương-quốc-Kỳ đậu cử-nhân năm 1753. Người cha là Trương-quốc-Bảo đậu tú tài năm 1825.
☆
[←3] Nay ở đền Trung-Liệt (Hà-nội) có thờ Trương.
☆
[←4] Hi-Long di thặng của Đặng-nguyên-Khu (Nam Phong số 132). Trích thêm một đoạn nữa: « Hỏi ra trận ấy thời giặc Tàu đóng ở bên An-Lập, giặc Thổ đóng ở làng Bùi-xá. Ông Trương sai ông Hồ-Ba đóng quân ở Đông-Ninh. Giặc ở trên bộ kéo xuống, cùng thuyền giặc hơn hai trăm chiếc ; hai lối đánh vào, quân sợ chạy tán loạn, lăn cả xuống sông, chết cũng nhiều. Ông Trương cùng với ông Trần-huy Than chết trận. Lúc ấy ông Văn-Đức-Nhai chỉ còn có thủ hạ hơn hai mươi người cùng giặc cự chiến bị hại ».
☆
[←5] Xem ở chương sau…
☆
[←6] Ngày nay có Vũ-Tá-Luyện ở xã Hà-Hoàng (Thạch-Hà) là thầy bói nổi tiếng một vùng.
☆
[←7] Sách Thối thực ký văn ở trường Bác cổ Viễn Đông bản số A-99 thì lại lấy đầu đề là CÔNG HẠ KÝ VĂN đặt chương Chế-độ lên đầu mà chương Tạp sự thiếu sót, bản số A-104 thì đầu hết lại là chương Nhân Phẩm cũng thiếu sót nhiều. Theo E. Gaspardonne trong Bibliographie annamite (Văn tịch An-nam) B.E.F.E.O. nói có một bài tựa của tác giả đề năm 1851, nhưng chúng tôi đã dày công tìm kiếm mà không thấy.
☆
[←8] Quyển này ở Bảo-đại thư viện có.
☆
[←9] Nghĩa là điềm lạ.
☆
[←10] Hán-Cao-Tổ nhờ trận gió ở Tuy-Thủy mây đen phủ khắp trời khiến địch quân đang vây kín không biết đường lối nào nữa, nhân đó mà thoát. Hán-Quang-Vũ nhờ nước băng cứng cả sông nên đi qua trốn được.
☆
[←11] Quê làng Nành, phủ Nam-Sách (Hải-Dương) đậu Hoàng giáp năm 1691. Là ông của Nguyễn Tuyển khởi loạn năm 1739.
☆
[←12] Đền Tam-Tòa hiện nay ở gần chợ Vinh.
☆
[←13] Tức Lê-Quảng-Chi (1454-1485) đậu năm 1478. Làng Thần-Dầu thuộc huyện Kỳ-Anh (Hà-Tĩnh).
☆
[←14] Một tuần xưa ăn 10 ngày.
☆
[←15] Quê làng Treo huyện Can-Lộc (Hà-Tĩnh).
☆
[←16] Nay là huyện Can-Lộc.
☆
[←17] Năm 1466. Sau làm đến Thượng thư bộ Binh.
☆
[←18] Không biết hử gì.
☆
[←19] Một thi gia đời Đường.
☆
[←20] Đỗ-Nhân sau đổi qua tên Nhạc quê huyện Tế-Giang (Bắc-Ninh) đậu Tiến sĩ năm 1494, sau bị Mạc-Đăng-Dung giết.
☆
[←21] Xã Phù-Lưu-Tràng nay là Mỹ-Tường thuộc tổng Phù Lưu chứ không phải Thu-Hoạch.
☆
[←22] Theo Lễ-Quận-Công gia phổ thì việc nầy xẩy ra vào đời Trịnh-Tràng chứ không phải Trịnh-Tùng.
☆
[←23] Cả vùng Can-Lộc không có thần Hồng-Lĩnh đại tướng quân. Tác giả nghe lộn chăng ?
☆
[←24] Nay là tỉnh Hưng-Yên.
☆
[←25] Nay là cửa An-Dụ, đền ở về phía hữu.
☆
[←26] Thuộc tỉnh Hà-Đông.
☆
[←27] Có tên là Văn-Thiên hay Văn-Triệu quê làng Bắc-Vọng huyện Quảng-Điều (Thử-Thiên).
☆
[←28] Nay là huyện Vụ-Bản.
☆
[←29] Quê huyện Chương-Nghĩa (Quảng-Nghĩa) đời Lê làm đến Tổng trấn Quảng-Nam. Sau theo Nguyễn-Hoàng dẹp yên Hời, Mọi ở Nam-Nghĩa.
☆
[←30] Nay là Ngoại-Can-Lộc
☆
[←31] Đền thờ Lê-Khôi, công thần của Lê-Thái-Tổ, tước Chiêu-Trưng-Vương.
☆
[←32] Ở chợ Tràng thuộc phủ Hưng-Nguyên (Nghệ An).
☆
[←33] Một bài phú Tịch Cư Minh Thể còn truyền có sách bảo là của Nguyễn Khổng người Sơn-Tây ở ẩn về đời Lê.
☆
[←34] Tức Trạng Quỳnh.
☆
[←35] Chắc là Nguyễn-Trọng-Thường người làng Trung-Cần đậu Tiến-sĩ năm 1712 làm quan Hữu thị lang bộ Lại. Sau đi sứ Tàu chết ở dọc đường.
☆
[←36] Bùi-Sĩ-Tiêm quê làng Kinh-Lũ (Nam-định) sinh năm 1690, đậu năm 1715. Đời chúa Trịnh Giang bị cách chức về ở nhà.
☆
[←37] Quê làng Khinh-Dao, huyện Giáp-Sơn (Hải Dương).
☆
[←38] Có sách bảo là tượng thần Phạm-Lãi, tướng nước Việt đời Xuân-Thu.
☆
[←39] Đậu năm 1748, làm đến Đại học sĩ tòa Đông-Các.
☆
[←40] Thuộc phủ Hưng-Nguyên (Nghệ-An).
☆
[←41] Tức Phạm-Nguyễn-Du (xem sau).
☆
[←42] Có lẽ là Nguyễn gia Phan, tức Nguyễn Thế Lịch quê làng Đại Mỗ huyện Từ Liêm (Sơn Tây) đậu tiến sĩ năm 1775.
☆
[←43] Cha Nguyễn-Du, quê làng Tiên-điền, huyện Nghi-Xuân (Hà-tĩnh) đậu tiến sĩ năm 1731.
☆
[←44] Quê làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An).
☆
[←45] Quê làng Nguyệt-Áng, huyện Thanh-Trì (Hà-Đông).
☆
[←46] Tức Bùi-Dương-Lịch quê làng An-Hội, phủ Tức-Thọ (Hà-Tĩnh) đậu Tiến sĩ năm 1787.
☆
[←47] Có lẽ là Phan-Khiêm-Thụ quê làng An-Việt phủ Đức-Thọ (Hà-Tĩnh) đậu năm 1757.
☆
[←48] Tên là Trương-Quốc-Kỳ, đậu năm 1753, bị giam đến 47 năm mới được tha.
☆
[←49] Không thấy tên trong Đăng khoa lục.
☆
[←50] Quê làng Việt-Yên, phủ Đức-Thọ (Hà-Tĩnh) đậu cử nhân năm 1813.
☆
[←51] Có lẽ Hà-Tôn Quyền quê làng Cát-đông, huyện Thanh-uy (Hà-đông) đậu Tiến-sĩ năm 1822.
☆
[←52] Tức Trần-Huy-Phác ở xã Đông-Lũy phủ Diễn-Châu (Nghệ-An) đậu Hội nguyên năm 1829.
☆
[←53] Đậu cử nhân năm 1825, người Hà-Tĩnh.
☆
[←54] Đậu cử nhân năm 1828, người Hà-Tĩnh. Làm quan đến Kinh Lịch.
☆
[←55] Quê làng Trung-Lương, huyện Can-Lộc (Hà-Tĩnh) đậu phó bảng năm 1829. Trong Quốc Triều-Khoa Bảng Lục chép tên Nguyễn-Thường.
☆
[←56] Tức Bùi-ngọc-Quỹ ở xã Hải-Thiên huyện Tiên-Lữ (Nam-Định) cũng đậu tiến sĩ đồng khoa.
☆
[←57] Hiệu lực: làm rán sức để chuộc tội.
☆
[←58] Tức Vũ-huy-Quỳnh người xã An-Tập huyện Đông Thành (Nghệ-An), cử nhân năm 1813.
☆
[←59] Quê xã Bác-Vọng huyện Quản-Điền (Thừa-Thiên) đậu cử nhân năm 1821.
☆
[←60] Bị giáng xuống 2 trật nhưng vẫn giữ chức cũ.
☆
[←61] Giám khảo: quan chấm quyển thi lần thứ ba ở nội trường.
☆
[←62] Điển thí: chánh chủ khảo.
☆
[←63] Người làng Liên-Bạt huyện Sơn-Minh (Hà đông) sau làm đến Tổng đốc.
☆
[←64] Người làng Thương-Cát huyện Từ-Liêm (Hà-đông) sau làm đến Đốc học.
☆
[←65] Người làng Tả-Thanh-Uy huyện Thanh Uy (Hà đông) đậu đệ nhị giáp làm đến Tri phủ.
☆
[←66] Người làng Vĩnh-Trụ huyện Nam-Xương (Hà-đông) sau làm Tế tửu Quốc tử giám.
☆
[←67] Người làng Linh-Đường huyện Thanh-Trì (Hà-đông) đậu đệ nhị giáp làm đến Tri phủ.
☆
[←68] Người làng Trang-Liệt huyện Đông-Ngạn (Bắc-Ninh) sau làm Tư nghiệp Quốc tử giám.
☆
[←69] Tức là Vương-Hữu-Quang quê ở làng Tân-Đức huyện Tân Long (Gia-định) vốn người Minh hương.
☆
[←70] Người đời Xuân Thu bên Tầu một lần sai người thả cá, nó làm thịt ăn mất rồi kiếm điều nói nối, ông cũng tin.
☆
[←71] Chim quốc có tên là Đỗ-Vũ, nguyên là vua Thục ngoại tình với vợ Biết-Lĩnh rồi truyền ngôi cho người nầy mà bỏ đi mất, đời truyền hóa ra chim quốc.
☆
[←72] Khoa này chỉ có 16 cử nhân có lẽ tác giả nhớ lộn chăng ?
☆
[←73] Quê huyện Hải-Lăng (Quảng-Trị).
☆
[←74] Quê huyện Hương-Trà (Thừa-Thiên) là cháu Nguyễn-cư-Trinh.
☆
[←75] Hoặc Phong tục Thông Nghĩa của Ứng-Thiệu đời Hán-Soạn.
☆
[←76] Quê làng Long hàm huyện Tiên-Du (Bắc-Ninh) trước làm lính giản sau về thi đậu Cử nhân năm 1813.
☆
[←77] Quê làng Lính Đường, huyện Thanh-Trì (Hà-đông) đậu cử nhân năm 1821.
☆
[←78] Biên thư = thư ở ngoài biên thùy gởi về.
☆
[←79] Theo sử thi lại là Phạm-công-Trị.
☆
[←80] Theo sử thi là Nguyễn-Quang-Toản.
☆
[←81] Tức nay là Mỹ-Tho, Gò-Công.
☆
[←82] Quê ở Thừa-thiên trước làm Vệ-úy ở Gia-định rồi theo Lê-văn-Khôi, sau lại trở về với Triều đình đi đánh Lê-văn-Khôi.
☆
[←83] Tức Trương-Minh-Giang quê huyện Bình-Dương Gia-Định bấy giờ làm tham tán.
☆
[←84] Tức Nguyễn-Xuân.
☆
[←85] Sông thuộc Vĩnh-Long.
☆
[←86] Sông thuộc Vĩnh-Long.
☆
[←87] Bến sông thuộc Vĩnh-Long.
☆
[←88] Tên phủ thuộc tỉnh An-Giang.
☆
[←89] Có lẽ một viên quan ở Châu-Đốc, trốn được về đó.
☆
[←90] Người Thừa-Thiên.
☆
[←91] Quê huyện Bình-Dương (Gia-Định).
☆
[←92] Niên hiệu Tùy-Văn-Đế (589-600).
☆
[←93] Niên hiệu Tùy-Đường-Đế (601-616).
☆
[←94] Niên hiệu Đường-Cao-Tổ (618-626).
☆
[←95] Niên hiệu Đường-Thái-Tông (627-649).
☆
[←96] Niên hiệu vua Đường-Cao-Tông (650-656).
☆
[←97] Thông khoản: nước này chịu hàng phục nước kia.
☆
[←98] Quê làng An-Ninh, huyện Yên-Dũng (Bắc-Giang) đậu năm 1469.
☆
[←99] Quê làng Kim-Hoa (Bắc-Ninh) đậu năm 1466.
☆
[←100] Quê làng Tam-Sơn huyện Đông-Ngạn (Bắc-Ninh) đậu năm 1475.
☆
[←101] Quê làng Thượng-Đáp, huyện Thanh-Lâm (Hải-Dương) đậu năm 1490.
☆
[←102] Trọng-Xác hay xung-Xác mới đúng, quê làng Kim-Đôi (Bắc-Ninh) đậu năm 1469.
☆
[←103] Quê làng Lương-Hà thuộc Vĩnh-Ninh (Thanh-Hóa) đậu năm 1480.
☆
[←104] Quê làng Bình-Ngô, huyện Gia-Bình (Bắc-Ninh) đậu năm 1484.
☆
[←105] Quê làng An-Đinh huyện Chí-Linh (Hải-Dương) đậu năm 1487.
☆
[←106] Quê làng Mạn-Nhuế, huyện Thanh-Lâm (Hải-Dương) đậu năm 1493.
☆
[←107] Quê làng Tam-Sơn, huyện Đông-Ngạn (Bắc-Ninh) đậu năm 1493.
☆
[←108] Quê làng An-Ninh, huyện Yên-Dũng (Bắc-Giang) đậu năm 1483.
☆
[←109] Quê làng An-Trong thuộc Thiên tài (Bắc-Ninh) đậu năm 1484.
☆
[←110] Hoặc Ngạn-Thư quê làng Đa-Nghi huyện Vĩnh Lại (Hải-Dương) đậu năm 1490.
☆
[←111] Quê làng Kim-Đôi Bắc Ninh, đậu năm 1481, năm 1466 đã đậu một lần.
☆
[←112] Quê làng Kim-Hoa Bắc-Ninh, đậu năm 1481
☆
[←113] Quê làng Nghiêm-Xá, huyện Thượng-Phúc Sơn-Nam, đậu năm 1487.
☆
[←114] Quê làng Hải-Lý huyện Yên-Lăng Sơn-Tây, đậu năm 1487.
☆
[←115] Quê làng Lê-Xá huyện An-Dương Hải-Dương, đậu năm 1487.
☆
[←116] Quê làng Thượng-Phúc, huyện Thượng-Phúc, Sơn-Tây, đậu năm 1498
☆
[←117] Quê làng Nhân-Lý, huyện Thanh-Lâm Hải-Dương, đậu năm 1493.
☆
[←118] Quê làng Đàm-Xá, huyện Trường-Tân Hải-Dương, đậu năm 1484.
☆
[←119] Quê làng Mậu-Hòa, huyện Đan-Phượng Hà-Đông, đậu năm 1484.
☆
[←120] Người đầu hoặc có tên Thuần-Thông quê làng Tử-Kiều huyện Đông-An Nam-Định, người thứ hai hoặc tên là Phạm-nhu-Huệ quê làng Phù-Vệ, huyện Ngự-Thiên Hưng-Yên đầu đậu năm 1487.
☆
[←121] Quê làng Nại-xuyên huyện Kim-Thành Hải-Dương, đậu năm 1491, làm đến Hiệu thảo viện Hàn-Lâm.
☆
[←122] Quê làng Đông-Mặc huyện Đông-Ngạn Bắc Ninh, đậu năm 1490.
☆
[←123] Quê huyện Đại-An Nam-định, đậu năm 1490.
☆
[←124] Quê làng Ngọc-Dôi Bắc-Ninh, đậu năm 1493.
☆
[←125] Quê làng Cao-Hương huyện Vụ-Bản Nam-Định, đậu trạng năm 1463.
☆
[←126] Quê Làng Liễu-Lâm, huyện Siêu-Loại, Bắc-Ninh đậu Tiến sĩ năm 1475.
☆
[←127] Quê làng Hải-Triều, huyện Ngự-Thiên, Hưng-Yên.
☆
[←128] Quê làng Man-Nhuế Hải-Dương.
☆
[←129] Quê làng Tỏi, huyện Quế-Dương Bắc-Ninh.
☆
[←130] Quê làng Diên-Hà Thái-Bình.
☆
[←131] Cập đệ: 3 người đậu đầu đệ nhất giáp được gọi cập-đệ.
☆
[←132] Quê làng Dông-Lý, huyện Yên Dinh Thanh-Hóa. Đậu lần thứ hai, Trịnh được vua y ước gả công chúa.
☆
[←133] Quê làng Lạc Quán, huyện Thanh-Lâm Hải Dương.
☆
[←134] Quê làng Lý-Trai, huyện Đông-Thành (Nghệ-An).
☆
[←135] Quê làng Bồng-Lai huyện Quế-Dương (Bắc-Ninh).
☆
[←136] Có tên huyện Kim-Hoa.
☆
[←137] Vốn quê huyện Can Lộc Hà-Tĩnh, sau dời ra ở làng Mạo-Phố huyện Sơn-Vi Phú-Thọ.
☆
[←138] Công-Thiếp và Tông-Củ ở Sơn-Tây. Thận và Điềm ở Lập-Thạch, Đôn-Phục ở Can-Lộc.
☆
[←139] Quê làng Kim-Đôi, huyện Vũ-Ninh Bắc-Ninh.
☆
[←140] Quê làng Thượng-Cốc, huyện Lôi-Dương Thanh-Hóa.
☆
[←141] Quê làng Tam-Sơn, huyện Đông-Ngạn (Bắc-Ninh).
☆
[←142] Quê làng Nghiêm-Xá, huyện Thượng-Phúc (Sơn-Tây).
☆
[←143] Quê làng Hoài-Bão, huyện Tiên-Du (Bắc-Ninh).
☆
[←144] Quê làng Vân-Điềm huyện Đông-Ngạn Bắc-Ninh.
☆
[←145] Quê làng Bảo-Triệu.
☆
[←146] Chính tên là Lễ-Sĩ-Triêm quê Hà-Tĩnh.
☆
[←147] Quê làng Lạc-Đạo.
☆
[←148] Quê làng Bình-Hồ.
☆
[←149] Quê làng Mộ-Trạch huyện Đường-An Hải-Dương.
☆
[←150] Quê làng Chấn-Thiên huyện Thọ-Xương Hà-Nội.
☆
[←151] Người đậu thứ ba là Trịnh-Cảnh-Thụy. Tương truyền khi sắp thi, Trịnh mộng thấy mình gánh hai người Tàu. Vào trường mới hay rằng lều mình phải đóng ở giữa hai cha con họ Ngô. Khoa ấy đầu bài phần nhiều hỏi về kinh điển Phật giáo nên cả trường đều hỏng chỉ một mình Ngô Trí-Hòa học rộng nhớ nhiều là làm được. Ngô nhờ Trịnh-Cảnh-Thụy đưa bài nháp cho cha mình thành thử cả ba đều đậu.
☆
[←152] Tức là Lữ-Mộng-Chính đậu Tiến sĩ làm quan to Đời Tống.
☆
[←153] Nhà cải cách chính trị làm tướng đời vua Tống-Thần-Tông.
☆
[←154] Tức là Tô-Thức hay Tô-Đông-Pha, danh sĩ đời Tống.
☆
[←155] Niên hiệu vua Thanh-Thánh-Tổ (1662-1723).
☆
[←156] Người đời Minh, đậu tiến sĩ làm Thượng thư bộ Lễ đời vua Hiếu-Tông.
☆
[←157] Tức Chu-Hy nhà nho đời Tống.
☆
[←158] Chức quan coi sóc trường thi, phần nhiều chọn những kẻ ít học.
☆
[←159] Tức Bùi-Dương-Lịch (xem trước)
☆
[←160] Quê làng Nộn-Liễu huyện Nam-Đàn Nghệ-An đậu cử nhân năm 1819.
☆
[←161] Hai năm 1848 và 1843, không rõ là năm nào.
☆
[←162] Quan trường chấm quyển thi đầu tiên.
☆
[←163] Vua Thang đánh được nhà Hạ, bèn thân đến cầu đảo ở Tang-Lâm.
☆
[←164] Tức quan tỉnh.
☆
[←165] Tức Lê-Quý-Đôn.
☆
[←166] Sử đầu tức là quyển đầu trong bộ Sử-ký Tàu.
☆
[←167] Quê làng Hoa-Đường, huyện Đường-An Hải-dương, đậu Tiến-sĩ năm 1779.
☆
[←168] Người đời Tam-Quốc, có lần cầm đuốc hầu vợ Lưu-Bị ban đêm, giữ được trọn tiếng.
☆
[←169] Quê làng Thuần-Thiện, có tên là Lê-Hồng-Hân, con thứ hai Lê-Sĩ-Lang, Đốc đồng đời Lê, Hân nổi tiếng thần đồng từ trẻ. (x. Kho sách Bạn Trẻ q.5).
☆
[←170] Thực ra thì đậu thứ hai, kế chân Lê-Huy-Trâm. Lúc ấy đổi tên là Phạm-Nguyễn-Du.
☆
[←171] Của Trầm-Quát đời Tống soạn. Tác giả là một nhà học rộng.
☆
[←172] Của Diệp-Mộng-Đắc biên tập những điều tai nghe mắt thấy cũ, soạn thành 2 quyển.
☆
[←173] Thi vào làm chức Trung thư lịnh, tức là Tổng thư ký trong cung.
☆
[←174] Cô gái đời xưa giả trai đi đánh giặc thay cho cha.
☆
[←175] Của Chu-Mật đời Tống góp nhặt những điều tai nghe mắt thấy gồm có 6 quyển.
☆
[←176] Niên hiệu Tống-Triết-Tông (1086-1093).
☆
[←177] Quê làng Bột-Thương, phủ Hoằng-Hóa (Thanh-Hóa) đậu Tiến sĩ năm 1787, làm giám thị trường Nam-Định năm 1819. Lê bị học trò gọi là « Bột tinh giáng thế » ý trỏ người làng Bột-Thượng (sao Bột lại là một vị ác tinh).
☆
[←178] Đề quyết: là chim đỗ quyên, tiếng nó kêu xui lòng khách nhớ nhà.
☆
[←179] Bài thơ nầy rất khó vì có nhiều chữ hoặc chép sai, hoặc không hiểu điển tích, dịch giả cố dịch đại khái, còn chờ sự đính chính của thức giả.
☆
[←180] Quê làng Trung-Cần huyện Thanh-Chương (Nghệ-An) có tên là Lê-Nguyên-Huệ
☆
[←181] Quê làng Ích-Hậu, huyện Can-Lộc (Hà-Tĩnh) đậu giải nguyên năm 1813, làm quan đến Lang-trung.
☆
[←182] Quê làng Xuân-Viên, huyện Nghi-Xuân (Hà-Tĩnh) đậu cùng khoa với Lưu-Công-Đạo, là cha Ngụy-Khắc-Đản.
☆
[←183] Tức là Ngụy-Khắc-Tuần.
☆
[←184] Tức Bạch-Cư-Dị, thi gia đời Đường, tác giả bài Tỳ bà hành.
☆
[←185] Tức Cao-Biền. Năm 864 có sang Việt-Nam đánh quân Nam-Chiếu.
☆
[←186] Tức là Phạm-Trọng-Yêm, đậu Tiến sĩ làm quan to đời Tống-Nhân-Tông.
☆
[←187] Người đời Tống làm quan Tham chính, sau phải trốn ra viễn châu vì việc xây sơn lăng không cẩn thận.
☆
[←188] Tức là Vương-Hội người đời Tống-Nhân-Tông làm quan lớn.
☆
[←189] Bài nầy có kẻ bảo là của Tống-Cảnh người đời Đường được phong tước là Quảng-Bình Công.
☆
[←190] Câu dịch của Nguyễn-Văn-Đề (Trong 99 chóp-núi).
☆
[←191] Người đời Trần đồng thời với Phạm-Sư-Mạnh (x. V.N.C.V.H.S.H).
☆
[←192] Quê làng Ông-Mặc, huyện Đông-ngạn (Bắc-Ninh) đậu tiến sĩ năm 1490.
☆
[←193] Quê làng Ông-Mặc, huyện Đông-Ngạn (Bắc-Ninh) đậu Trạng Nguyên năm 1508.
☆
[←194] Quê làng An-khanh, huyện An-Phonng (Bắc Ninh) đậu Tiến sĩ năm 1514.
☆
[←195] Tấn thân: tiếng chỉ nhà làm quan lớn.
☆
[←196] Tức Cừu hoang bản thảo của Chu-Vương-Túc Đời Minh soạn nói về các vị ăn năm đói.
☆
[←197] Người đời Đông-Hán, học rộng, dạy nhiều học trò, làm quan đến Thái-úy.
☆
[←198] Một nhà triệu phú đời Tấn.
☆
[←199] Người đời Đường, giàu có, có ngôi nhà Yển-Nguyệt rất đẹp.
☆
[←200] Niên-hiệu vua Đường Huyền-Tông (742-755).
☆
[←201] Niên hiệu vua Đường Ý Tông (860-873).
☆
[←202] Quê làng Trảo-Nha, huyện Can-Lộc (Hà-Tĩnh) có công lớn với nhà Lê trung hưng.
☆
[←203] Quê ở làng An-Cựu, huyện Hương-Thủy (Thừa Thiên) ở đời Gia-Long, Minh-Mệnh.
☆
[←204] Tức Nguyễn-Quang-Toản, con vua Nguyễn-Huệ.
☆
[←205] Là quan tam công, chức phụ tướng.
☆
[←206] Tức Đoàn-Duy-tĩnh quê làng Hải-Yến huyện Quỳnh-Côi Thái-Bình, đậu Hoàng giáp năm 1752.
☆
[←207] Quê làng Phú-Thị, huyện Gia-Lâm (Bắc-Ninh) hiệu là Vô-Song đậu cử nhân năm 1807.
☆
[←208] Quê làng Vân-Canh, huyện Từ-Liêm Sơn-Tây, đậu cử nhân năm 1807.
☆
[←209] Tức là Nguyễn-Văn-Thành.
☆
[←210] Tức Thừa-Thiên.
☆
[←211] Quê làng Thổ-Hào huyện Thanh-Chương (Nghệ An) đậu cử nhân năm 1821.
☆
[←212] Quê làng Nhân-Mục, huyện Thanh-Trì Hà-Đông trong năm Cảnh-Hưng làm Tri-huyện Thạch-Uy.
☆
[←213] Tức là Trần-Sư-Đạo, một văn sĩ nổi danh đời Tống.
☆
[←214] Tức là Tần-Quan, người đồng thời với Trần nổi danh văn chương.
☆
[←215] Sự tích vua Tống-Thái-Tổ.
☆
[←216] Chỉ vua Hoàng-Đế vì đô đóng ở đất Hữu-Hùng.
☆
[←217] Tên núi, vua Hoàng-Đế đánh rợ Xuy-Vưu và đóng đô ở đó.
☆
[←218] Quê làng Lai-Thạch (Hà-Tĩnh) đậu Thám hoa năm 1743, làm đến thừa chính sứ.
☆
[←219] Quê làng An-Toàn, Hà-Tĩnh đậu năm 1787.
☆
[←220] Quê làng Đức-Bưu, huyện Phú-Vinh Thừa-Thiên, đậu cử nhân nưm 1821.
☆
[←221] Phùng-Mông học bắn với Hậu-Nghệ, học hết tài nghệ trở lại giết thầy.
☆
[←222] Có lẽ Lê-Văn-Duyệt.
☆
[←223] Tức là tác giả truyện Kiều.
☆
[←224] Nay là huyện Kỳ-Anh.
☆
[←225] Tức Bến-Tre và Trà-Vinh bây giờ.
☆
[←226] Tức là xã Bồng-thượng, phủ Quảng-Hòa (Thanh-hóa).
☆
[←227] Lính đi bắt như lối cảnh sát, tuần thành bấy giờ.
☆
[←228] Có lẽ là phủ Hoằng Trị thuộc tỉnh Vĩnh-Long.
☆
[←229] Lính đóng ở đồn coi giữ ngã sông.
☆
[←230] Có lẽ là sách Vật lý tiểu thức của Phương-Dĩ-Tri đời Minh soạn.
☆
[←231] Người đời Tống (x. trước).
☆
[←232] Họ phía bắc nước Tàu xưa.
☆
[←233] Tên sách nói về vật loại, rất cổ của Tàu, tương truyền của Chu-Công soạn ra, môn phái họ Khổng sửa lại, nhà nho đời Hán thêm vào.
☆
[←234] Hệ sách phần nhiều nói về kinh tế của Quản-Trọng đời Xuân-Thu.
☆
[←235] Tức Tề-Hoàn-Công bá chủ đời Xuân-Thu.
☆
[←236] Sách nói đến 365 vị thuốc tương truyền của vua Thần-Nông soạn, kỳ thực làm đâu vào khoảng Hậu-Hán.
☆
[←237] Của Giả-tư-Hiệp đời Hậu-Ngụy soạn, gồm 92 thiên toàn nói về nông học.
☆
[←238] Tức bắc ướt. Lúa để mọc ruộng rồi vãi trên luống bùn ướt.
☆
[←239] Tức là sách NAM PHƯƠNG THẢO MỘC TRANG gồm có 3 quyển. Tác giả là người đời Tấn.
☆
[←240] Của Lê-Quý-Đôn.
☆
[←241] Người Tàu làm quan Nghị lang đời Hán-Thành-Đế 32-7 tr.J. giỏi về nghề nông có làm một quyển sách 18 thiên, được nhiều kẻ chuộng.
☆
[←242] Tên hiệu Minh-Toản Thiền sư, tính nhác mà tợn nên lấy hiệu là Lãn tân. Lý Bí lấy làm lạ tới thăm, thấy sư đang bươi lửa lấy môn nướng ra ăn, bẻ một nửa cho Bí mà rằng: « Đừng nói nhiều, ầm lấy mười năm Tể-Tướng » (Từ nguyên).
☆
[←243] Chép trong Vân Đài Loại Ngữ.
☆
[←244] 1 loại gỗ thơm không rõ là cây gì.
☆
[←245] Gồm có ba quyển, của Lưu-Tuân đời Đường soạn, nói kỹ về động, thực vật.
☆
[←246] Đại-Nam Nhất Thống Chí chép tên hạt tướng hay hạt báng.
☆
[←247] Tức Uyên giám loại hàm, thuộc sách bách khoa 450 quyển, do vua Khang-Hi sai soạn.
☆
[←248] Của Đoàn-Thành-Thức đời Đường soạn gồm có hai ba chục quyển.
☆
[←249] Tức Tây-Vực-ký, bản du ký của sư Huyền-Trang đời Đường.
☆
[←250] Như Phật học từ điển, của sư đời Tống là Pháp-Vân soạn lối 20 quyển.
☆
[←251] Có tên là Nam bộ yên hoa lục, không rõ tác giả.
☆
[←252] Niên hiệu Tấn-Huệ-Đế (280-289).
☆
[←253] Tức Thế thuyết tân thư hay tân ngữ của người đời Tống soạn.
☆
[←254] Người đời Tống đậu tiến sĩ làm đến Thượng Thư bộ Công, sửa bộ Đường thư.
☆
[←255] Ăn vào chết.
☆
[←256] Có lẽ là cốm Vòng.
☆
[←257] Sách Chu Lễ của Chu-Công soạn. Lần đầu được Trịnh-Hưng, Trịnh-Chung chú thích gọi là tiên Trịnh, sau được Trịnh-Khang-Thành chú nữa, gọi là hậu Trịnh.
☆
[←258] Người đời Tống dẫn giải bộ Nhĩ Nhã và Bản Thảo.
☆
[←259] Tức là Can-Đà-Lợi hay Thất-Lợi-Phật-Thệ hay Palembang, tỉnh thành của đảo Sumatra ở Úc-châu.
☆
[←260] Loại cây làm giấy tốt hơn dó.
☆
[←261] Của Tiền-Dị đời Tống soạn, chép các việc cũ đời Đường, Ngũ-Đại gồm 10 quyển.
☆
[←262] Tác giả là người đời Tần, đều là những chuyện hoang đàng.
☆
[←263] Của Triệu-Hi-Hộc đời Tống soạn.
☆
[←264] Tên hiệu Trịnh-Hoài-Đức tác giả bộ Gia-Định thông chí
☆
[←265] Có lẽ là cây châm trai.
☆
[←266] Có tích vua Thuấn chết ở Thương Ngô, hai bà phi theo kịp khóc rất thảm. Nước mắt giọt xuống tre ở núi Tương thành từng vệt nên tre ấy có tên là Tương phi trúc.
☆
[←267] Người đời Tấn soạn, một quyển kể ra hơn 70 giống trúc.
☆
[←268] Hoặc « Tháng giêng trồng tre, tháng hè trồng chuối ».
☆
[←269] Dệt có những đường chạy ngang dọc ở bốn bề.
☆
[←270] Người đời Tống. Sách chép các việc vặt, gồm có 10 quyển.
☆
[←271] Niên hiệu vua Tống Huy-Tông (1119-1126).
☆
[←272] 30 tháng chạp.
☆
[←273] Sách của Lục-Hữu đời Nguyên soạn gồm 2 quyển. Hựu có hiệu là Nghiện Sinh Bắc.
☆
[←274] Tức Trình-Hạo đời Tống.
☆
[←275] Nghĩa là ấp cuối năm nầy sang đầu năm khác mới nở.
☆
[←276] Sách của Triệu-Công (hay Triệu-Vương) và Tăng-Cổn đời Đường soạn nói về Giao-Châu.
☆
[←277] Có tên là Quảng nhã của Trương-Ấp đời Ngụy soạn gồm. Về sau có nhiều nhà chú thích.
☆
[←278] Một quyển, bảo của Sư-Khoáng đời xuân Thu làm, chỉ là bày đặt.
☆
[←279] Của Lục-Điền đời Tống soạn, 20 quyển, vật loại đầy đủ.
☆
[←280] Một bản trong loại Vĩ thư.
☆
[←281] Có bảy thứ: Dịch vĩ, Thư vĩ, Thi vĩ, Lễ vĩ, Xuân thu vĩ, Hiếu kinh vĩ, thác lời Khổng-Tử, của bọn nhà nho đời Tây-Hán nhân môn sấm vĩ thịnh hành, đặt ra.
☆
[←282] Quê làng Khánh-Hậu tỉnh Tân-An, vốn họ Hoàng có công giúp vua Gia-Long được ban quốc tính.
☆
[←283] Không hiểu có phải là sách Nguyệt lịnh minh nghĩa của Hoàng-Đạo-Chu đời Minh soạn chăng ?
☆
[←284] Con la là cha ngựa mẹ lừa sinh ra.
☆
[←285] Một quyển. Chu đi theo sứ bộ đời Nguyên Thành-Tông.
☆
[←286] Biệt hiệu Phan-Thanh-Giản.
☆
[←287] Của Thích-Đạo-Thế đời Đường soạn gồm 120 quyển.
☆
[←288] Quê làng Hạ-Dương, huyện Đông-Ngạn (Bắc-Ninh) đậu Cử nhân năm 1825.
☆
[←289] Tướng vua Tề-Hoàn-Công, lúc hàn vi vừa chăn trâu vừa đọc sách.
☆
[←290] Tức là lối lấy 12 giống động vật phối vào 12 chi, cũng gọi là thập nhị thuộc.
☆
[←291] Tức sao đẩu ngưu, 7 sao ở về bắc.
☆
[←292] Ở phía nam huyện Nhã-An và phía đông bắc huyện Vạn-Nguyên thuộc tỉnh Tứ-Xuyên đều có sản xuất thứ gia ngư.
☆
[←293] của Bành-đại-Dực đời Minh soạn gồm có 228 quyển.
☆
[←294] Tục nầy rất thịnh hành ở các bộ lạc Mọi trên dãy Trường-Sơn.
☆
[←295] nay là Phúc-Kiến.
☆
[←296] của Khuất-đại-Quân đời Thanh, ghi chép sự vật ở Quảng-Đông.
☆
[←297] như con vẹm lúc nào trong bụng cũng có con cua nhỏ như hạt đậu, tục gọi là con lạ.
☆
[←298] Nay ở huyện Dương-Cốc, tỉnh Sơn-Đông nước Tàu.
☆
[←299] Người đời Tống. Sách ấy viết vào hồi cáo lão, nói về lẽ trời đất vạn vật.
☆
[←300] Tức Kinh-Châu (nay là Hồ-Nam Hồ-Bắc và một phần Quý-Châu, Quảng-Đông, Quảng-Tây) và Ba-châu (nay huyện Ba-Trung thuộc Tứ-Xuyên) ở Tàu.
☆
[←301] Sách gồm 30 quyền kể thổ âm chỉ tên các vật mỗi nơi một khác. Tác giả đâu khoảng đời Hán.
☆
[←302] Tức nay là tỉnh Sơn-Tây, Hà-Nam, Trực-Lệ ở Tàu.
☆
[←303] Hoặc tò vò
☆
[←304] Xem ở trước.
☆
[←305] Sách gồm những chuyện hoang đản, có Trương-Hoa đời Tấn chú thích nhưng không chắc là của Đông-Phương-Sóc.
☆
[←306] Xem Việt-Nam Cổ Văn Học Sử quyển III mục chú thích có dẫn diễn tích chữ cà cuống.
☆
[←307] Quê làng Di-Luân, huyện Bình-Chính (Quảng-Bình) đậu cử nhân năm 1837.
☆
[←308] Có tên là diếp cá.
☆
[←309] Thứ cây lá hình như lông chim, trái tròn mà lép
☆
[←310] Sách của Tống-Từ đời Tống soạn. Xưa, nước Ta và Tàu đều dùng nó khám án mạng.
☆
[←311] Ở Đan huyện có một nông phu, vợ đưa cơm ra đồng cho ăn, ăn xong thì chết. Bố chồng kiện với quan. Người đàn bà bị khảo đả, khai bậy. Sau nhờ có họ Hứa ở Sơn-Đông lấy lẽ ôn tồn tra hỏi thì nữ tù khai rằng: « gạo làm cơm, cá kho nước, đi qua rừng cây kính, chứ không gì khác ». Bèn bảo mua cá làm cơm, bỏ hoa kính vào, cho chó lợn ăn đều chết hết. Án ấy mới rõ.
☆
[←312] Quê làng Thương-Cốc, huyện Gia-Lộc (Hải-Dương), có tên là Nguyễn-Quí-Tân đậu Tiến-sĩ năm 1842.
☆
[←313] Của Bành-Thừa đời Tống soạn, gộp những di văn dật sự đời Tống, gồm 10 quyển.