Tôm xuống ga, trong túi không một đồng xu nhỏ. Có đồng nào anh đã phải ăn tiêu dọc đường hết cả rồi, mà tương lai thì mù mịt. Lại những ngày ăn cầm chừng. Với chuyện đó, anh quen rồi, đâu có sợ. Nhưng còn công việc? Làm sao kiếm ra việc bây giờ, nhất thời thôi cũng được, miễn sao sống được qua ngày? Lúc ấy trời chưa sáng rõ, Tôm cứ đi vì anh đã đến thành phố này bao giờ đâu. Vừa đi qua vừa nhìn xung quanh. Đằng sau anh, một thanh niên trạc tuổi anh cũng đang rảo bước. Tôm định qua đường. Một chiếc xe tải từ phía sau ầm ầm lao tới. Vốn bị điếc một bên tai vì cái tát của lão Nen-xơn, anh không nghe thấy tiếng xe cứ thản nhiên bước. Người thanh niên đi sau Tôm vội túm lấy anh kéo giật lại, mạnh đến nỗi cả hai cùng ngã lăn xuống hè đường. Tôm tưởng bị cướp giật nhưng khi chiếc ô tô ầm ầm lao qua anh mới biết “tên cướp” ấy lại là ân nhân của mình.
- Anh không thấy ô tô đến hay sao mà cứ cắm đầu đi như thế?
Tôm mỉm cười:
- Không, anh ạ, tôi không nghe rõ. May quá, có anh; nếu không thì…
Người vừa cứu anh mỉm cười:
- Vâng, anh định nói là tôi đã cứu anh chứ gì, miễn là cái cuộc đời được cứu ấy sẽ có ích cho anh và anh không coi đó là một gánh nặng.
- Còn trẻ, ai mà chẳng muốn sống. Có thể sau này có lúc tôi sẽ mang lại ý nghĩa cho cuộc đời đấy. Này, thế anh cũng đang lang thang như tôi đấy à?
- Có lẽ thế đấy. Tôi sống nay chẳng biết mai, như chim trời vậy… tự do lang thang… Tên tôi là Min-tơn A-đam. Còn anh?
- Tôi là Tô-ma An-va Ê-đi-xơn.
- Ê-đi-xơn à? Hình như tôi có nghe thấy tên anh rồi thì phải… Có phải anh là người điện báo…
- Đúng, đúng đấy…
- Rất hân hạnh được biết anh. Tôi làm báo…
- Thế nào? Báo à… Hay quá! Ngày trước, đã có lúc tôi cũng làm báo đấy. Anh làm ở báo nào?
- Báo “Khoa học Mỹ”, tám mươi đô-la một tháng. Anh có muốn vào làm ở đấy không? Họ đang cần điện báo viên giỏi đấy.
Tôm mừng quá, reo lên:
- Tuyệt quá, chính đó là điều tôi đang tìm kiếm. Thật không biết cảm ơn anh thế nào.
Người bạn mới mỉm cười, thân mật:
- Sao lại cảm ơn mình, cậu cảm ơn cái may mắn ấy chứ. Trông cậu có vẻ người đứng đắn, mình rất mến.
- Thực ra mình là một người rủi ro có một không hai đấy…
- Này Tôm ạ, nếu mình đoán không nhầm thì dạ dày cậu cũng đang lép kẹp đấy. Chúng mình vào chỗ nào đó tìm gì ăn tạm đi?
Tôm cười vui vẻ:
- Cậu còn hỏi mình nữa ư? Cậu biết không, cái may mắn được ăn này đã làm tăng thêm hạnh phúc cho mình đấy.
Hai người bạn khoác tay nhau đi. Họ vào một hàng bánh mì gặp đầu tiên. Sau khi ăn xong, A-đam đưa Ê-đi-xơn về căn phòng nghèo nàn, một thân một mình của anh. Hai người bàn tính với nhau về chuyện làm ăn. Chắc chắn toà báo sẽ nhận Ê-đi-xơn. Điều đó thật đáng mừng. A-đam cho biết thêm là ở đó đang tìm cách làm sao một lúc nhận được nhiều tin. Nhận từng tin một như bây giờ chậm quá. Thêm nữa các tin ấy lại chậm và ngắn ngủi. Nếu ta có phương tiện tốt hơn, sẽ kiếm được nhiều tiền hơn.
Ê-đi-xơn trả lời:
- Lâu nay mình vẫn đang nghĩ đến điều ấy đấy. Mình muốn chế tạo một cái máy một lúc có thể phát đi nhiều tin. Nhưng mình chưa có điều kiện làm thí nghiệm. Đó mới chỉ là đồ án trong óc mình thôi.
A-đam khuyến khích:
- Biết đâu đấy, chắc là cậu sẽ sáng chế ra cái máy đó và toà báo sẽ mua của cậu cái phát minh ấy…
Tôm Ê-đi-xơn im lặng suy nghĩ. Anh không thích bàn quá nhiều về cái anh chỉ mới đang có ý định làm.
Đúng như A-đam nói, toà báo nhận ngay Ê-đi-xơn vào làm. Chỉ trong một thời gian ngắn, các ông chủ tỏ ra hài lòng về công việc của anh và rất quý anh. Đồ án về một cái máy mới cũng đang hình thành dần trong óc Tôm. Càng ngày càng thêm rõ ràng từng chi tiết. Ê-đi-xơn liền làm chiếc máy điện tải hai. Với chiếc máy mới này, người ta có thể cùng một lúc phát đi hai tin. Chỉ ít lâu sau, chiếc máy đó lại được Ê-đi-xơn cải tiến thành tải ba, tải tư rồi đa tải. Chủ báo tìm cách sử dụng sáng chế của Ê-đi-xơn mà anh không được hưởng chút gì. Biết chúng như thế nên Ê-đi-xơn cũng sẽ chơi lại cho bọn chúng một vố. Anh đặt trong toàn soạn một cái máy điện báo chỉ nhận được từ hai mươi đến ba mươi chữ một phút, nhưng anh đặt cho riêng anh và A-đam một máy khác nhận được từ bốn mươi đến năm mươi chữ một phút. Bằng cách đó, bao giờ tin của Ê-đi-xơn và A-đam chuyển đi cũng nhiều nhất và trên cơ sở tính toán cứ một phút nhận từ hai mươi đến ba mươi chữ mà toà báo trả tiền. Như vậy là họ kiếm được nhiều tiền hơn.
Ê-đi-xơn bảo bạn:
- Cho đáng đời cái quân chỉ chuyên ăn chặn!
- Nhưng nếu chúng phát hiện ra thì sao?
- Thì chúng sẽ hiểu rằng chúng ta chẳng phải là những thằng ngu để mặc chúng hớt tay trên của ta như chúng vẫn tưởng.
Cuối cùng, việc ấy bị lộ. Giám đốc gọi Ê-đi-xơn lên văn phòng bảo anh:
- Chúng tôi không ngờ là anh có thể tệ như thế đấy.
- Vâng, ngay cả tôi cũng không ngờ là các ông có thể cứ sử dụng phát minh của tôi mà chẳng trả cho tôi một đồng nào cả. Ở nơi khác, chắc chắn là tôi sẽ được coi trọng hơn. – Tôm trả lời rắn rỏi như vậy.
- Ở nơi khác, anh không được trả lương cao như ở đây đâu.
- Trái lại, tôi nghĩ rằng ở nơi khác tôi sẽ được đối xử xứng đáng hơn với những cái mà tôi đã làm.
Tôm ngắt lời viên giám đốc và bỏ ra khỏi văn phòng. Từ hôm ấy, Tôm không đến toà báo nữa. Mọi người đều thấy thiếu Tôm vì chẳng ai biết sử dụng cái máy mới cả.
Chờ A-đam về, Tôm bảo bạn:
- Mình đành phải bỏ cậu thôi, A-đam ạ. Mình sẽ đi Lu-i-vin. Mình chán ngấy Xin-xi-nát-ti rồi.
Nghĩ đến việc phải xa rời một người bạn tốt như Tôm, lòng A-đam thấy buồn vô hạn. Anh tìm cách giữ bạn ở lại:
- Tôm ạ, có lẽ kỳ này thì cậu chưa nên đi vội đâu. Ở đây sắp có bầu cử rồi đấy. Tàu sẽ đầy ắp người. Mà cậu chắc cũng không tưởng tượng nổi kỳ bầu cử này hay như thế nào đâu.
- Chịu, mình không biết thật. Nhưng khi nào thì bầu?
- Khoảng ba ngày nữa thôi.
- Cậu cho rằng sẽ vui lắm à?
- Sẽ rất vui. Nhất là cái trò gian lận phiếu.
A-đam cất cao giọng và cười lớn. Tôm gật đầu, cay đắng bảo bạn:
- Gian lận phiếu à? Thật bẩn thỉu! Bất cứ nơi nào ngó đến, người ta cũng đều thấy có cái gì gian lận ở đấy. Ở quán cà phê thì bài bạc gian, ở cuộc bầu cử thì là phiếu lậu. À này, mình chợt nảy ra một ý nghĩ!
- Ý nghĩ gì?
- Hay ta làm một cái máy đếm phiếu? Bằng cách này, chúng mình sẽ chấm dứt cái trò gian lận của họ. Cậu thấy thế nào?
A-đam reo lên:
- Hay đấy! Nhưng mình thấy khó lắm.
- “Ông” bạn ạ, đối với mình mỗi một ý nghĩ tốt là đều có thể thực hiện được. Với lòng kiên nhẫn và quyết tâm, người ta đều có thể thực hiện bất cứ gì. Cậu bảo còn ba ngày nữa phải không?
- Ừ, ba ngày.
- Thế cũng đủ nếu tính cả thì giờ ban đêm nữa…
Thế là từ lúc ấy, A-đam thấy bạn hết sức bận rộn, thậm chỉ quên cả ăn và ngủ. A-đam hiểu rằng bạn đang để hết tâm trí vào cái máy đó, vì thế cậu lo hết mọi việc vặt khác cho Tôm. Đến bữa ăn, A-đam mang cơm cho bạn và nửa đêm vào nhắc Tôm ngủ để lấy sức.
Đúng ngày bầu cử, chiếc máy hoàn thành. Chỉ còn phải đem đi trình, lấy giấy chứng nhận nữa thôi.
A-đam đưa ý kiến:
- Chúng mình đem đến ông chủ tịch hội đồng đi. Ông ta không thể nào không vui mừng đón nhận cái phát minh tuyệt diệu này của cậu được!
Ê-đi-xơn mỉm cười pha chút mỉa mai. Anh yêu A-đam vì lòng nhiệt thành của A-đam đối với bạn bè đã đành mà còn quý vì tấm lòng rất nhân hậu của A-đam nữa. Nhưng Tôm biết rõ người đời hơn A-đam:
- Cậu tin là họ sẽ nhận cái máy của ta à?
A-đam tin tưởng nói như reo:
- Sao lạikhông nhận cơ chứ! Không những nhận mà họ sẽ còn trả cho cậu cả một gia tài nữa ấy chứ, vì họ sẽ thấy rằng chiếc máy này vô cùng ưu việt. Nó sẽ không cho người ta có thể gian lận phiếu được mà còn tiết kiệm bao nhiêu thì giờ ngồi đếm phiếu nữa.
Tôm phân vân, nửa tin, nửa lo:
- Được, chúng ta cứ thử xem…
Ngay hôm ấy, đôi bạn mang cái máy đến trình ông chủ tịch hội đồng bầu cử. Ông ta xem xét cái máy rất kỹ, nghe cẩn thận những lời giải thích của Tôm nói về sáng chế của mình. Sau đó, ông cố hết sức bình tĩnh bảo Ê-đi-xơn:
- Cậu thanh niên ạ, nếu như trên đời này có một cái máy nào đó mà chúng tôi không cần đến thì chính là cái máy này đấy. Với cái máy của cậu thì không thể nào gian lận phiếu được, mà như thế thì, cậu hiểu chứ, thật là một tai hoạ. Nếu như cậu hao tâm tổn trí về một cái gì khác thì chắc là sẽ có lợi cho cậu nhiều hơn.
A-đam ngạc nhiên, còn Ê-đi-xơn thì cười. Thế đấy! Anh sẽ còn cười bất kể lúc nào mà sự ngu dốt và vô liêm sỉ của con người còn cản bước anh đi…
- Chiều nay, mình đi Lu-i-vin. – Tôm quyết định. – Ở đây, mình có cảm giác ngạt thở.
- Cả mình nữa, Tôm ạ. Ta cùng đi.Một cuộc hành trình mới được chuẩn bị, nhưng lần này là hai người cùng đi.-Vĩnh biệt Xin-xi-nát-ti.
*
* *
Có lẽ ở một bang khác, ở Ten-nét-xi chẳng hạn, đôi bạn trẻ ấy sẽ tìm được một tình người trung hậu hơn chăng? Có lẽ ở một nơi nào khác, tài năng của họ sẽ được trọng dụng hơn chăng? Nơi ấy là đâu? Họ chưa biết. Họ xuống ga Na-sơ-vin, một thành phố công nghiệp ồn ào đầy sức sống. Nếu Tôm, với nghề điện báo của mình chỗ nào anh cũng kiếm được việc làm, thì trái lại, A-đam với nghề phóng viên chỗ nào anh cũng bị chối từ. Họ quá thừa phóng viên và không cần cả nhân viên văn phòng nữa. A-đam buồn rầu bảo bạn:
- Làm thế nào bây giờ, Tôm? Hay cậu ở lại đây nhé, mình sẽ đi nơi khác kiếm việc làm!
- Không, bạn ạ, chúng ta lại cùng nhau đi xa hơn nữa.
Cả hai lại đi Mem-phít. Nhưng họ ở lại đó cũng chẳng lâu. A-đam vào làm phóng viên phụ cho một tờ báo địa phương. Suốt ngày anh ở ngoài đường đi nhặt tin mà đồng lương thật rẻ mạt. Ê-đi-xơn kiếm được chân điện báo viên ở một công sở nọ và lại chuyên làm đêm. Đêm làm việc, còn ban ngày Tôm đọc sách và là thí nghiệm. Anh không ngừng học, học tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, tham khảo sách ở thư viện, lục lọi ở các hàng sách cũ. Anh đọc không ngừng mọi loại sách, sách khoa học, sách lịch sử, triết học, tiểu sử các danh nhân. Trong các sách đọc thời kỳ này, anh thích nhất cuốn “Cuộc đời Tô-ma Giép-phéc-xơn”, tác giả “Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ”; các truyện khoa học viễn tưởng của Giuy-lơ Véc-nơ, những cuộc phiêu lưu của “Ba chàng ngự lâm pháo thủ” của Đuy-ma cha, “Những người khốn khổ” của Vích-to Huy-gô, những học thuyết triết học của Đề-các, Bê-cơn, Hum-bôn. Anh cũng rất thích Sếch-xpia. Anh vui sướng bảo bạn:-Mê thật! Thật tuyệt diệu! Thật là những ý nghĩ sâu sắc! Thật vĩ đại! Những hư cấu thật tuyệt vời! Sếch-xpia thấu hiểu tận cùng tâm hồn con người, nắm chắc được và sờ mó được vào tận mọi ngóc ngách của tâm hồn con người. Nếu Sếch-xpia không là một nhà văn vĩ đại thì chắc chắn ông ta, với cái thiên tài ấy, sẽ trở thành một nhà phát minh khoa học vĩ đại!Nhưng ở Mem-phít – một thành phố lớn bên bờ sông Mít-xi-xi-pi – đôi bạn cũng chẳng dừng lại lâu. Hợp đồng của A-đam chỉ kéo dài được năm tuần lễ. Lại ra đi. Nhằm thẳng hướng miền Ken-tu-ki, họ lên đường…
Chuyện xảy ra ở Lu-i-vinỞ Lu-i-vin, đôi bạn gặp bao nhiêu trở ngại trước khi được nhận vào làm ở “Công ty điện báo”. Họ có một ít tiền nhưng đã tiêu gần hết, nhất là vì A-đam gần đây lại còn hay uống rượu. Tôm Ê-đi-xơn thì không, anh rất ghét rượu. Tiền kiếm được anh chỉ tiêu vào việc thật cần như ăn, thuê nhà, mua sách. Khi túi đã nhẵn sạch, đôi bạn bàn nhau mỗi người đi về một phía thành phố để tìm việc làm. Ai tìm được trước sẽ báo tin cho bạn. Nhưng báo như thế nào? Tôm Ê-đi-xơn bàn mua mấy quả pháo sáng. Ở giữa thành phố, có một cái gác chuông bỏ hoang, vậy ai tìm được việc rồi thì lên đấy đốt pháo sáng báo cho người kia và người đó sẽ tìm đến gác chuông để gặp. Bàn xong, đôi bạn chia tay nhau ở một ngã tư. Cả A-đam và Ê-đi-xơn đều không quen thuộc thành phố này. Lang thang đến tận chiều mà chưa ai tìm được việc làm, thỉnh thoảng họ lại nhìn lên trời xem có thấy hiệu pháo sáng của bạn không. Nhất là A-đam, mệt mỏi vì đói và bị từ chối ở khắp nơi. Đang cạn mọi hy vọng, bỗng anh nhìn thấy trên trời một quả pháo sáng. A-đam sướng điên lên, anh chỉ muốn ôm mọi người anh gặp. Một khách qua đường hỏi:
- Cái gì thế? Anh nhìn gì thế?
- Ồ, thằng quỷ Tôm của tôi nó đã kiếm được việc làm rồi, ông bạn có biết không?
- Cái gì thế kia? Sao chổi à?
- Không, ngài ạ, đó là pháo hiệu của Tôm Ê-đi-xơn đấy! Một thiên tài trẻ tuổi của chúng ta đấy!
A-đam vui sướng lắc tay người khách bộ hành. Người này ngạc nhiên, giơ tay làm dấu thánh:
- Anh ta điên hay sao ấy. Tội nghiệp!
Họ gặp nhau ở gác chuông, đôi bạn ôm ghì lấy nhau vui sướng.
- Ở đâu, hở Tôm?
- Công ty điện báo Mỹ. Họ đang rất cần điện báo viên giỏi. Mình đã được thử tay nghề rồi. Ngày mai đến lượt cậu. Phải thi tay nghề rồi họ mới chọn. Mình chắc cậu sẽ đạt thôi, cứ yên trí!
A-đam lo ngại, gãi đầu:
- Thế thì dở, Tôm ạ, mình có giỏi như cậu đâu cơ chứ.
- Dù sao thì một mình mình có việc thế cũng tạm đủ. Sau rồi cậu cũng sẽ tìm được việc thôi. Bây giờ thì chúng ta phải đi thuê phòng ở đã. Mình mệt chết được và sáng sớm mai chúng mình đã phải có mặt ở chỗ làm việc rồi.
Sáng hôm sau, cả hai đến sở. A-đam vào thử nghề và trượt ngay vì dầu sao anh ta cũng không được khéo tay lắm. Còn Tôm thì được nhận. Tôm an ủi bạn:
- Đừng buồn, A-đam ạ. Có thể là sau họ cũng phải cần thêm điện báo viên và họ sẽ phải nhận cậu.
A-đam buồn bã cúi đầu:
- Mình chẳng có chút hy vọng nào cả, Tôm ạ.
- Dù sao thì cậu cũng không được bỏ mình. Cậu cứ ở đây với mình cho đến khi nào tìm được việc đã.
A-đam im lặng. Anh quay ra cửa lòng buồn ảo não. Tôm gọi theo:
- Chiều nay, mình chờ cậu nhé. Cậu đến Sở đón mình được không?
- Được. Mình sẽ đến.
Nói xong A-đam rẽ nhanh ra đầu phố. Chiều hôm đó, Tôm phải làm việc thông tầm đến tận sáng hôm sau. Anh nóng lòng chờ bạn đến. Ở phòng làm việc, chỉ có một mình anh và một người cùng làm khác. Đợi mãi, anh vẫn vẫn không thấy A-đam đâu. Vào khoảng nửa đêm, cửa phòng đột nhiên bật mở, một người lảo đảo bước vào. Ê-đi-xơn nhận ngay ra bạn. A-đam say.
- Vào đi, A-đam…
- Này, Tôm này… tớ chẳng chịu nổi nữa đâu, nghe không? Này, tớ là cái gì…
Tôm đỡ bạn:
- A-đam, cậu nằm xuống đây. Cậu mệt đấy!
- Tớ mệt ấy à. Không, Tôm ạ, tớ là thằng điện báo viên tồi… trượt vỏ chuối ngay từ lúc thử tay nghề… Đấy, tớ là thế đấy!…
- Này, A-đam, cậu mà không chịu nằm xuống nghỉ thì mình sẽ bắt cậu nằm đấy! Đừng trẻ con nữa!
- Bắt à? Hả…ả…ả? Cậu bắt tớ nằ…m…m nghỉ à…à? Không, không được!
Nói rồi A-đam lảo đảo giơ một chân lên cạnh bàn máy đạp mạnh. Mấy cái máy điện báo đổ nhào xuống đất; cái thì đứt dây, cái thì gẫy cần, cái thì vỡ. Thấy vậy, Tôm chỉ còn biết túm lấy tóc mình mà giật. Thật là khó xử. Đầu tiên Tôm vội vàng ôm ngang lưng bạn đặt lên giường. Vừa nằm xuống, A-đam đã ngáy ngay. Không chút bực dọc, Tôm vội nhặt nhạnh các thứ và bắt tay vào chữa máy. Đã quá nửa đêm. Đến sáu giờ sáng, phải chữa xong chỗ máy này, nếu không sẽ mất việc. Suốt đêm ấy, Tôm không nghỉ lấy một giây. Khi A-đam tỉnh dậy thì mặt trời đã lên, các máy cũng đã chữa xong hoàn toàn. A-đam chẳng biết gì về những việc đã xảy ra đêm qua. Lúc đó anh say khướt, và bây giờ thì anh chẳng còn nhớ mảy may.
- Cậu làm sao thế Tôm, sao trông cậu mệt thế?
- À, mình bận việc suốt đêm nên mệt đấy. – Tôm mệt nhọc trả lời, trên môi nở nụ cười dịu dàng.
- Một công việc khốn nạn, Tôm thân yêu ạ. Đêm qua mình “hơi quá chén”, cậu không giận mình chứ?
- Không, A-đam ạ. Chắc cậu rất buồn phải không…
- Đúng đấy, Tôm ạ… rất khổ tâm, thất vọng nữa. Mọi thứ đều ngược lại mong ước của mình… Nhưng cậu không giận mình thật chứ…
- Không, mình không giận cậu đâu. Mà tại sao lại giận cậu cơ chứ. Cậu đã ngủ ngon, còn mình khi đó chuyển những bức điện đi, thế thôi…
* *
Ít lâu sau, A-đam kiếm được việc ở một toà báo địa phương. Cả hai ở lại Lu-i-vin khá lâu.Một đêm, một việc không lành xảy ra với Ê-đi-xơn, nhưng may sao anh đã thoát nạn. Lúc ấy, đêm đã về khuya, từ toà báo trở về nhà anh cắp một tập dày toàn báo chí. Viên cảnh sát nọ thấy dáng anh có vẻ khả nghi, đi vội vã đêm hôm khuya khắt, ăn mặc lôi thôi, lếch thếch, liền ngờ anh là lưu manh. Hắn gọi giật giọng:
- Này, ông bạn đứng lại! Nhưng Tôm không hề nghe tiếng.
- Này, thằng ma-cà-bông kia, lại đây, điếc hả? Đứng lại… Mày có đứng lại không? Tôm Ê-đi-xơn vẫn tiếp tục đi nhanh như trước vì nào anh có nghe thấy! Viên cảnh sát càng tin rằng đó là một tên lưu manh. Hắn vội rút súng ra, và… “đoàng!”… “đoàng!” hai phát đạn choáng tai! May sao, viên cảnh sát là một tay súng xoàng: cả hai phát đều không trúng! Ôi! Nếu không thì biết đến bao giờ nhân loại mới có được đèn điện thắp sáng, có máy hát để nghe, có tàu điện để đi và quên bớt mọi nỗi ưu phiền khi ngồi xem chiếu bóng! Lúc ấy, Tôm mới quay lại, ngơ ngác vì tiếng nổ. Anh hỏi viên cảnh sát khi đó rượt tới bên anh:
- Gì thế ông? Tôi nghe có tiếng súng nổ.. ai bắn thế nhỉ?
Viên cảnh sát trố mắt nhìn anh rồi bảo:
- Ông điếc à? Tôi gọi ông đến hai lần, sao ông không quay lại? Ông muốn đùa với tính mạng chắc?
Tôm Ê-đi-xơn chợt hiểu. Anh rùng mình. Chà, mình vừa hút chết. Tuy nhiên anh vẫn giảng giải cho viên cảnh sát hiểu vì sao anh không nghe thấy:
- Vâng, tôi bị điếc mất một bên tai. Vả lại, khi ấy tôi đang mải suy nghĩ về cái máy điện báo. Tôi muốn làm sao cùng một lúc mà có thể phát tin đi nhiều nơi. Ông hiểu không? Cái đó khó, rất khó, đúng thế không ông?
- Cái đó tôi không biết? Xin ông cho xem thẻ đã!
- Vâng, đây, thưa ông. Thế ông đã nghĩ gì về tôi?
- Ông là người như thế nào à? Ở đây, có đủ mọi hạng người qua lại… Hừ! Giấy tờ của ông hợp lệ… Cám ơn! Ông đi được rồi. May cho ông là tôi đã không bắn trúng đấy.
- Vâng, may cho tôi và cũng may cả cho ông! Nhưng cái may đó là cái may chung cho cả nhân loại nữa!!!
Về tới nhà, khi A-đam nghe bạn kể lại câu chuyện, anh rùng mình bảo:
- Cậu thấy không, đời người bấp bênh như treo trên sợi tóc ấy.
- Thôi, tốt nhất là nên quên chuyện đó… Mình đói quá. Từ trưa tới giờ, bụng mình chẳng có gì cả!
- Cả mình nữa, Tôm ạ. Kiến bò bụng dữ quá!
Cả hai kéo nhau ra quán ăn. Đang đi, bỗng nhiên Tôm rảo chân đi như chạy, A-đam vội chạy theo gọi:
- Tôm, sao lại đi nhanh thế? Cậu làm sao đấy?
- Đời người ngắn ngủi lắm, A-đam ạ. Mình nhiều việc quá, không đủ thời gian đâu, phải đi nhanh lên thôi cậu ạ -
Nói rồi, Tôm vẫn cắm cúi bước nhanh.A-đam đập tay lên trán, than thở:
- Kỳ quái thật! Thế mà mình và bao người khác lại bỏ phí thời gian cơ chứ. Này, Tôm, cậu có thể làm cái máy tiết kiệm thời gian được không?
- Cái đó chắc chắn là không bao giờ làm được.
- Tiếc thật. Mình có bao nhiêu là thời gian rỗi, giá mình có thể cho cậu được, cho không thôi. Nếu được như vậy thì vinh dự cho mình quá.
Công việc của Tôm làm khá tốt. Các ông chủ và các bạn đồng nghiệp của Tôm đều quý Tôm vì anh là một người chăm chỉ, khiêm tốn và chân thật. Anh không hề uống rượu bao giờ, vì vậy đồng nghiệp bầu anh làm “thủ quỹ” giữ tiền cho họ với nhiệm vụ là chỉ đưa tiền cho họ uống rượu theo mức tự họ đã quy định hàng tuần: uống một lần và uống rất ít. Anh làm tốt nhiệm vụ ấy, một nhiệm vụ mà nhiều lần anh đã gặp khá nhiều rắc rối. Một hôm, một đồng nghiệp lén xin anh đưa tiền cho anh ta đi uống rượu quá số tiền quy định. Tôm dịu dàng bảo bạn:
- Tôi rất tiếc không thể đưa cho anh được. Tôi mà đưa anh sẽ uống say đấy. Anh uống say thì sẽ làm hỏng việc, chủ sẽ thải anh. Tôi không muốn anh bị mất việc đâu. Nghe tôi, anh đừng nên nghĩ đến chuyện uống rượu làm gì.
- Này, Tôm, đừng lên mặt dạy nhau nhé mà tớ cho một trận nhớ đời. Nào, có đưa tiền hay không thì bảo?
- Pê-te ạ. Anh phải hiểu chứ, đừng có kỳ kèo phí thì giờ vô ích.
- Cậu lên giọng dạy tớ không xong đâu… Tớ không phải là trẻ con khiến cậu phải dạy! Đấy là tiền của tớ! Nào, đưa đây!
- Tôi bảo anh rồi: không là không!
- Thôi đừng rắc rối nữa… Đưa tiền đây kẻo ông cho mấy cái bạt tai bây giờ.-Pê-te, anh cứ thử làm xem?
- À, mày muốn hả? Pe-te giơ thẳng tay tát vào mặt Tôm.
* *
Tôm nhìn thẳng vào mặt bạn đồng nghiệp, ngạc nhiên hơn là tức giận. Sao Pê-te lại đánh mình? Anh lắc đầu, nhún vai, cay đắng. Anh không muốn báo thù Pê-te. Vả lại, đâu có phải là lần đầu người ta đánh anh. Nen-xơn đã đánh anh, Đin-gơ-tê đã đánh anh và còn nhiều kẻ khác nữa. Ngay cả cha anh cũng đã bao lần đánh anh rồi. Dù sao thì thằng Pê-te ngu xuẩn cũng phải trả giá đắt về việc làm của nó. Lúc ấy, một bạn đồng nghiệp khác tên là Uy-liêm, đang đứng ở phòng bên; qua cửa sổ anh ta đã nhìn thấy cảnh ấy. Anh ta đem kể lại tất cả cho mọi người biết. Họ phẫn nộ kêu lên:
- Sao, thằng Pê-te dám đánh thằng Tôm cơ à?
- Ừ, vì Tôm không chịu đưa tiền cho nó đi nốc rượu.
Khi Pê-te vừa trở về phòng, một trận đòn của toàn thể hội đồng đã giáng xuống đầu hắn. Hắn phải nghỉ mất ba ngày, mắt sưng húp. Nhưng những câu chuyện không may cứ đeo lấy cuộc đời Tôm không dứt. Ở đây, Tôm cũng có một phòng thí nghiệm nhỏ ngay trong phòng làm việc như trước đây ở trên tàu số 7. Những lúc rảnh việc, anh say sưa làm đủ các thí nghiệm. Một lần, vô ý Tôm đánh đổ một lọ axit sunfuric. Axit lọt qua kẽ hở ván sàn chảy xuống bàn giấy viên xếp. Trong nháy mắt, mọi hồ sơ, giấy tờ trên bàn bị axit phá huỷ. Một giọt rơi đúng vào cái đầu hói của ông ta làm ông ta nhảy bật lên vì bỏng:
- Gì thế này? – Ông ta lấy tay sờ đầu, hét ầm ĩ, mắt hoảng hốt nhìn đống giấy tờ trên bàn đang biến thành mùn giấy.
- Lại một trò của thằng trời đánh Ê-đi-xơn rồi! Chỉ có nó mới hay loay hoay với cái thứ nước giết người này thôi. Không đuổi cổ nó ra thì thế nào cũng có ngày nó làm nổ tung cả cái sở này lên mất. Mời ngay ông Ê-đi-xơn đến cho tôi!Một ngày sau, Tôm Ê-đi-xơn bị đuổi ra khỏi cửa với mọi đồ lề như lần đánh đổ chất sunfur trên tàu số 7. Đau đớn, Tôm nói với A-đam:
- Cái chuyện ấy lại lặp lại, buồn quá!
- Và chính cậu lại phải chịu tất cả. Nhưng không sao, Tôm ạ, chúng ta tính lại vậy. Làm gì bây giờ đây?
- Làm gì à? Mình đi Boston. – Tôm nói ngắn gọn như một bức điện báo.
- Sao? Chúng ta chia tay nhau ngay bây giờ à?
- Rồi ta sẽ gặp lại nhau, A-đam ạ. Cuộc đời là thế, mình đi nhé!
Biết bạn đã quyết ra đi, A-đam ngậm ngùi nắm tay bạn, dặn dò:
- Thôi chào Tôm, cậu đi mạnh khoẻ nhé! Và đừng có quên mình. Viết thư luôn cho mình. Mình sẽ viết cho cậu.Ê-đi-xơn xiết chặt tay bạn, anh giữ tay bạn trong tay mình hồi lâu. A-đam mắt nhoà lệ, giọng run run:
- Liệu có ngày nào mình còn được nắm lại bàn tay cậu không?
Ê-đi-xơn an ủi bạn:
- Mình hy vọng sẽ có. Lúc ấy mình mong rằng chúng ta vẫn nắm tay nhau như hai người bạn nhưng ở một vị trí khác chứ không phải là hai điện báo viên tầm thường nữa.
Hai người bạn thân thiết chia tay nhau. Sau này, rất nhiều năm nữa số phận mới cho họ gặp lại nhau. Và khi ấy, Tôm đã giữ được lời ước hẹn: đã trở thành nhà phát minh nổi tiếng. Lên tàu rồi, những suy nghĩ lại chiếm toàn bộ tâm trí Tôm. Tôm nghĩ lần này có lẽ ta phải đi thật xa, thật xa, sang Mếch-xích vượt biển chẳng hạn để thử xem sao. Bạn đường của Tôm là hai thanh niên tình cờ gặp gỡ trên chuyến tàu và cùng mang theo một ý định ra đi. Thế là cả ba lên đường. Hoàn toàn tin vào bản thân và bồng bột, họ hăng hái ra đi, không đếm xỉa đến chông gai trên con đường dự định. Đến Mếch-xích, ở Vê-ra Cơ-ru-xơ, họ ra cảng và bị lạc đường. Lang thang mãi, họ vẫn chưa tìm được cơ hội gặp một người thuỷ thủ tốt bụng nào đó cho vượt biển. Cuối cùng họ gặp một thuỷ thủ từng trải người Tây Ban Nha. Có thế nói đó là một con sói biển đã đứng tuổi. Bác ta đã trải qua một cuộc đời đầy sóng gió và bao phiêu lưu, thử thách. Trong con người đó tích luỹ biết bao kinh nghiệm cay đắng của cuộc đời. Tôm phiên dịch cho cả ba người. Người thuỷ thủ già ấy kể lại cho ba thanh niên những quãng đời nổi chìm của bác. Chân tình, bác bảo cho họ biết rằng ở Mếch-xích hay ở Nam Mĩ cũng vậy, chẳng nơi nào dễ dàng tìm được sự giầu sang và hạnh phúc mà chỉ có vô vàn cực nhục, đắng cay và thất bại. Bác khuyên họ đừng ảo tưởng đi tìm một mảnh đất chỉ cần với tay ra là vơ được hạnh phúc, hãy sớm bỏ cuộc chạy trốn cay đắng và vô ích này đi.Ê-đi-xơ, dù lòng vẫn chưa nguôi ảo tưởng, nhưng với chút kinh nghiệm sống vừa qua, anh đã nghe ra và bỏ cuộc. Ngay chiều hôm đó, từ biệt người thuỷ thủ già và hai người bạn đường, anh lên tàu quay về Po-Hu-rôn.Lâu rồi anh không gặp lại mẹ, cha, chỉ nghe nói ông, bà gặp nhiều khó khăn, ưu phiền. Tới nhà, Tôm thấy mẹ, cha già đi và nghèo. Căn nhà cũ và mảnh vườn đã bị quân đội chiếm và phải chuyển ra một nơi khác. Thế là không còn nữa, khu vườn cây hàng năm thường thu được một số hoa lợi. Bực bội về cách đối xử tàn tệ ấy và luyến tiếc ngôi nhà đầy kỉ niệm, bà Ê-đi-xơn ốm liệt giường. Tôm làm gì để giúp cha mẹ bây giờ?Ở lại ư? Như thế nghĩa là lại thêm một miệng ăn, thêm một gánh nặng cho gia đình. Phải ra đi thôi! Cuộc chia tay thật đau đớn. Nước mắt trên mi, trong lòng mang hình ảnh mẹ nằm trên giường bệnh, Tôm Ê-đi-xơn đi Bốt-xtơn.Đó là mùa đông năm 1868 khi chàng thanh niên ấy vừa tròn hai mươi mốt tuổi.