Thông Minh Cảm Xúc Để Hạnh Phúc Và Thành Công

Lượt đọc: 400 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần I
TRÍ TUỆ CẢM XÚC THẬT SỰ LÀ GÌ?
Chương 1
KHÁM PHÁ
phineas gage – một tai nạn bi thảm hé lộ những bí mật của trí tuệ cảm xúc

Nếu các ông nghĩ rằng những phát hiện quan trọng này xứng đáng có được một vị trí trong tờ tạp chí của các ông thì các ông cứ tự nhiên.

Tiến sĩ JOHN HARLOW,

trao đổi với tạp chí Boston Medical and Surgical năm 1848

Buổi sớm tinh mơ giá lạnh và ẩm ướt hôm ấy là ngày cuối cùng Phineas Gage đi làm đúng giờ. Thọc sâu hai tay vào túi áo khoác để vượt qua cái lạnh tê tái, anh mải mê suy nghĩ về những thách thức của dự án xây dựng đường xe lửa Burlington chạy ngang qua Vermont đang chờ đợi mình phía trước. Dưới sự quản lý của anh trong suốt 18 tháng, đội đường sắt đã đạt được những tiến độ đáng kể, nhưng đến thời điểm này thì họ phải đối diện với một đoạn đường lổn nhổn đá đầy hiểm trở.

Ánh ban mai của một ngày mới quyện vào hơi ẩm không khí tạo thành một thứ ánh sáng mờ ảo chiếu xuống con đường quanh co dẫn đến nơi Phineas làm việc. Anh mỉm cười khi nghe tiếng búa sắt đập nhịp nhàng vọng lại từ xa. Đội của anh đã làm việc được 15 phút trước khi tiếng còi hiệu đầu tiên vang lên. Phineas được tiếng là một đốc công có năng lực và mẫn cán nhất trong công ty. Niềm đam mê công việc và tính kỷ luật của anh chính là yếu tố đảm bảo cho các dự án hoàn tất đúng hạn. Cùng với thái độ lịch thiệp, hòa nhã, anh được tất cả nhân viên trong đội quý mến. Và vốn là một “người thông minh sắc sảo”, anh luôn biết giữ lời, tránh xa cám dỗ từ những quán rượu trong vùng nên càng chiếm được cảm tình của gia đình, bạn bè. [1]

Một ngày làm việc hiệu quả trôi qua như mọi ngày. Phineas và đội của anh phá từng mét đá để đặt những đoạn đường ray mới nhằm giúp những hành khách bận rộn di chuyển nhanh hơn. Phineas liếc nhìn đồng hồ đeo tay, kim đồng hồ chỉ 16 giờ 30 phút và họ đã hoàn tất gần một cây số đường ray. Một cách thuần thục, Phineas đâm thanh sắt vào cái lỗ góc cạnh có chứa thuốc nổ và vui vẻ nghĩ về ngày anh nhận được thanh sắt đặc biệt này từ bác thợ rèn trong vùng. Bác thợ rèn có dáng người vạm vỡ đã hết sức hào hứng giải thích cho Phineas nghe rằng thanh sắt này không giống với những thanh sắt mà bác thường thấy.

Trước khi tiếp tục động tác quen thuộc thường ngày, Phineas ra hiệu cho người phụ tá đổ cát vào lỗ tiếp theo. Lớp cát này có tác dụng bảo vệ không cho thuốc nổ phát nổ sớm khi anh đâm thanh sắt vào. Khi Phineas đưa thanh sắt lên, anh bỗng giật mình vì có tiếng động lớn phát ra từ phía sau. Quay đầu lại nhìn, anh thấy đám công nhân trong hầm vừa làm đổ một đống đá to khi di chuyển chúng lên xe. Phineas thở dài và tiếp tục công việc của mình mà không biết một điều rằng, người phụ việc cho anh cũng bị tiếng động ấy làm phân tâm. Anh ta quên không đổ cát vào lỗ, thế nên khi thanh sắt của Phineas chạm vào bề mặt đá trong kẽ hở tạo nên một tia lửa đủ mạnh để bắt cháy đống thuốc nổ không được bảo vệ dưới đáy. Sức nổ mạnh đến nỗi thanh sắt anh đang cầm trên tay phóng đi như tên lửa. Nó cắm vào mặt anh, xuyên suốt từ dưới mắt trái lên đỉnh đầu và bay thẳng ra ngoài. Cuối cùng, thanh sắt rơi xuống bãi cỏ cách chỗ Phineas đứng khoảng 30 mét.

Cả thân hình của Phineas bay ra phía sau do tác động của cú va chạm, anh nằm yên một hồi rồi quằn quại trong cơn đau. Anh muốn hét lên nhưng mọi người chỉ nghe một tiếng thì thầm nhẹ như không khí – đó là tất cả âm thanh mà anh có thể đẩy ra từ phổi. Phineas cảm nhận được vết thương dưới mắt trái, nơi thanh sắt nặng hơn 5 ký, dài hơn 1 mét với đường kính hơn 3 cm đâm xuyên qua mặt anh. Anh không hề có cảm giác gì về lỗ hổng lớn mà thanh sắt để lại khi nó bay ra khỏi đỉnh đầu anh, nhưng cái thế giới mà anh biết đã vĩnh viễn thay đổi từ buổi chiều hôm ấy. Những người đồng đội trung thành lao đến bên anh, họ cúi xuống nhìn vào mắt anh để tìm kiếm dấu hiệu của sự sống. Họ bật cười một cách lo âu khi thấy Phineas nhìn lại họ và rên rỉ, “ Tôi nghĩ mình cần đến gặp bác sĩ Harlow .” Tính hài hước của anh vẫn còn nguyên vẹn, Phineas để cho mọi người khiêng mình lên chiếc xe bò chở anh vào thành phố. Khi đã ngồi ngay ngắn trên xe, Phineas nhận thấy người phụ tá của mình buồn bã đi bên cạnh. Anh nghiêng người qua thành xe và nói một câu quen thuộc mà bất cứ đốc công nào cũng nói khi rời khỏi nơi làm việc: “ Vui lòng đưa cho tôi quyển sổ trực .” Chẳng khác gì những cậu bé trai há hốc mồm kinh ngạc khi thấy bố mình làm một việc khỏe như dũng sĩ Hercules, đám công nhân đường sắt tròn mắt chứng kiến cảnh Phineas ghi lại giờ về vào quyển sổ.

Đường bay của thanh sắt dài hơn 1 mét xuyên qua đầu của viên đốc công đường sắt Phineas Gage vào ngày 13 tháng 9 năm 1848. Thanh sắt này đã lấy đi phần não trước của anh. Hộp sọ của anh và thanh sắt đâm xuyên qua nó vẫn còn được trưng bày cho công chúng tại viện bảo tàng Warren Anatomical thuộc trường Đại học Y khoa Harvard ở Boston, bang Massachusetts.

Vào lúc 5 giờ 30 chiều thứ tư, ngày 13 tháng 9 năm 1848 – chỉ một tiếng đồng hồ sau tai nạn kinh khủng trên – Phineas đã tự đứng trong sân nhà mình mà không cần ai giúp đỡ. Trước đó, vị bác sĩ trong vùng nghĩ rằng Phineas không thể nói chuyện trôi chảy được nên đã quay sang hỏi những người làm việc cùng anh thông tin về vụ tai nạn. “ Bác sĩ chỉ cần biết là ,” Phineas đột ngột xen vào trước khi bất cứ ai kịp mở miệng, “ thanh sắt đâm vào chỗ này và xuyên qua đầu tôi ở chỗ này .” Bất chấp sự thật là phần não trước của anh bị văng ra khỏi hộp sọ giống như người ta khoét một miếng dưa hấu từ ngoài vào trong, Phineas vẫn có khả năng suy nghĩ và nói năng bình thường như trước khi anh bị tai nạn. Suốt mấy tuần lễ sau đó, anh được bác sĩ Harlow chăm sóc tận tình và cuối cùng, vết thương trên cơ thể anh cũng lành hẳn. Tai nạn này dường như không để lại hậu quả gì ngoài mấy vết sẹo và thị lực mắt trái của anh bị yếu đi.

Gia đình và bạn bè của Phineas hết sức kinh ngạc trước việc anh vẫn sống sót và bình phục nhanh chóng sau tai nạn khủng khiếp trên. Nhưng khi anh trở lại làm việc thì họ nhận thấy một sự khác biệt rõ rệt. Biểu hiện khác thường đầu tiên là tính khí của anh. Phineas luôn miệng văng tục và đưa ra những mệnh lệnh mâu thuẫn, tùy thuộc vào tâm trạng thất thường của anh. Người đốc công gương mẫu chưa bao giờ đi làm trễ một ngày nay lại tỏ ra hờ hững với công việc. Những người thầu khoán trước đó vẫn thường ca ngợi anh như một trong những đốc công giỏi nhất của họ nay buộc phải cho anh nghỉ việc.

Trong suốt 11 năm Phineas sống sót sau vụ tai nạn, anh đã biến đổi thành một con người hoàn toàn khác. Bác sĩ Harlow đã ghi chép cẩn thận và chi tiết về sự thay đổi toàn diện trong hành vi của Phineas. Sự thay đổi này đúng là chỉ có thể giải thích được bằng phần não mà anh bị mất.

Tác động của vụ chấn thương có vẻ như đã phá hủy sự cân bằng giữa năng lực trí tuệ và bản năng động vật của Phineas. Giờ đây anh là một người tính khí thất thường, thô lỗ, thiếu khả năng tự chủ, luôn do dự… Cơ thể anh đã hồi phục hoàn toàn, nhưng những người trước giờ biết anh như một đốc công khôn khéo, thông minh, năng động và bền bỉ trong công việc đều nhận ra sự thay đổi rõ rệt trong tính cách của anh. Sự cân bằng trong tâm trí anh nay đã không còn nữa. [2]

Nói trắng ra, trí tuệ cảm xúc của Phineas đã rời bỏ anh mãi mãi sau vụ tai nạn xảy ra vào buổi chiều hôm ấy. Cùng với việc mang đi một phần não trước, thanh sắt cũng đã lấy đi của anh khả năng chuyển sự bốc đồng và cảm xúc thành những hành động hợp lý. Phineas vẫn đi đứng, nói chuyện và có tri giác như những người bình thường nhưng khả năng tự kiểm soát của anh còn rất ít. Vì một lý do nào đó, trí năng của anh vẫn không suy suyển. Anh có thể giải được những bài toán phức tạp và hiểu rõ các công đoạn xây dựng đường sắt. Anh vẫn sống độc lập như trước khi xảy ra vụ nổ. Những người gặp anh sau vụ tai nạn cho rằng cách hành xử thiếu suy nghĩ là đặc điểm tính cách của anh từ hồi nào đến giờ, chỉ có những người quen cũ mới biết được sự khác biệt. Họ nhận thấy con người mới của Phineas cực kỳ vô lý và thất thường. Mỗi tác nhân kích thích và cảm xúc nảy sinh dù nhỏ hay lớn dường như đều dẫn đến những phản ứng nông nổi và thường thì điều này ảnh hưởng rất xấu đến chất lượng cuộc sống của anh.

Đường nối giữa cảm xúc và lý trí

Cho đến nay, tai nạn kinh khủng mà Phineas gặp phải vẫn là một bài toán nan giải đối với các nhà nghiên cứu. Việc anh sống sót qua vụ tai nạn quả là một điều kỳ diệu và sự thay đổi trong hành vi của anh giúp chúng ta hiểu về bộ não con người nhiều hơn bất cứ kỹ thuật tiên tiến nào. Những thiết bị hiện đại có thể vẽ ra bản đồ não bộ, chỉ ra được những vùng não nào là quan trọng nhất đối với mỗi loại tư duy khác nhau, nhưng không một loại máy móc nào có thể phản ánh được cách hành xử của con người khi phần não trước bị mất đi. Tai nạn của Phineas không chỉ dừng lại ở một câu chuyện ly kỳ mà người ta truyền tai nhau nghe quanh ngọn lửa trại; nó còn cho chúng ta biết một điều quan trọng về cách con người suy nghĩ. Những thử thách trong việc làm chủ cảm xúc hàng ngày là một phần quan trọng của cuộc sống. Thậm chí ngay cả những người có bộ não nguyên vẹn vẫn có thể trở thành nạn nhân của cách hành xử vô lý.

Khác với Phineas, chúng ta có sự lựa chọn về cách chúng ta phản ứng lại với cảm xúc. Mỗi người chúng ta tiếp nhận thông tin từ thế giới bên ngoài thông qua năm giác quan. Tất cả những gì chúng ta nhìn thấy, ngửi thấy, nghe thấy, nếm được và chạm vào đều được truyền đi khắp cơ thể chúng ta bằng những tín hiệu điện. Những tín hiệu này di chuyển từ tế bào này sang tế bào khác cho đến khi đến được đích cuối cùng là não bộ. Nếu một con muỗi cắn vào chân bạn, cảm giác này sẽ tạo ra những tín hiệu truyền đến não bộ trước khi bạn nhận ra việc mình bị muỗi cắn. Cảm giác của chúng ta đi vào vùng não phía sau gáy, gần tủy sống. Những suy nghĩ phức tạp dựa trên lý trí diễn ra tại phần não đối diện, ở phía trước, đây chính là phần não mà Phineas bị mất. Khi những tín hiệu điện truyền đến não bạn, chúng phải đi qua phần não trước này trước khi bạn có thể suy nghĩ một cách logic. Vấn đề nằm ở chỗ là giữa cổng vào của các giác quan và vùng lý luận trong não bộ là hệ viền (limbic system). Hệ viền là nơi chúng ta trải nghiệm cảm xúc. Các tín hiệu đi qua hệ viền tạo ra những phản ứng cảm xúc đối với sự việc trước khi chúng đến được phần não trước. Phần não trước không thể ngăn được những cảm xúc diễn ra trong hệ viền. Thay vào đó, hai khu vực này giao tiếp liên tục với nhau. Quá trình giao tiếp này chính là cơ sở của trí tuệ cảm xúc.

Sau vụ tai nạn, tất cả những gì mà Phineas đáng thương còn chỉ là cảm xúc. Vì mất đi toàn bộ phần não trước, anh mất luôn khả năng suy luận và phản ứng với cảm xúc. Thật vậy, tất cả những gì tác động đến anh, tất cả những gì mà anh trải nghiệm đều dẫn đến những phản ứng cảm xúc thiếu suy nghĩ. Phineas không còn khả năng kiểm soát cảm xúc của mình, hoặc thậm chí không hiểu được sự tồn tại của chúng. Mỗi giờ mỗi phút trong ngày, lúc nào anh cũng bị cảm xúc lấn át, tình trạng này tương tự như khi bạn đang bị hổ rượt hoặc trong lúc cố gắng cứu một đứa trẻ sắp chết đuối.

Não bộ của chúng ta được “cài đặt” để biến chúng ta thành những sinh vật có cảm xúc. Việc chúng ta trải nghiệm cảm xúc đầu tiên đối với một sự việc nào đó có nghĩa là cảm xúc tác động mạnh mẽ đến hành vi của chúng ta. Một số trải nghiệm mang lại những cảm xúc mà chúng ta dễ dàng nhận biết, nhưng cũng có những cảm xúc dường như không tồn tại. Hệ viền đảm bảo các cung bậc cảm xúc đóng một vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh hành vi của chúng ta.

Đường đi trong cơ thể của trí tuệ cảm xúc bắt đầu ở não, từ tủy sống. Những giác quan chính của bạn đi vào đây và được truyền đến phần não trước, sau đó thì bạn mới có thể suy luận về trải nghiệm ấy. Nhưng trước tiên, chúng đi qua hệ viền, nơi các cảm xúc diễn ra. Trí tuệ cảm xúc đòi hỏi việc giao tiếp hiệu quả giữa hai trung tâm cảm xúc và lý trí trong não.

Có hàng tỷ nơ-ron thần kinh cực nhỏ nằm trên đường liên kết giữa hai trung tâm cảm xúc và lý trí của não bộ. Thông tin được truyền tải qua lại giữa hai trung tâm này giống như dòng xe cộ ngược xuôi trên những con đường trong thành phố. Khi bạn thực hành kỹ năng trí tuệ cảm xúc, dòng chảy thông tin sẽ trở nên thông suốt ở cả hai chiều. Lưu lượng thông tin càng nhiều thì mối liên kết giữa hai trung tâm cảm xúc và lý trí trong não bộ càng trở nên vững chắc. Khả năng giữ cho đoạn đường liên kết này thông suốt có ảnh hưởng to lớn đến trí tuệ cảm xúc của bạn. Bạn suy nghĩ về các cảm xúc của mình càng nhiều bao nhiêu – và phản ứng hữu ích với những cảm xúc đó – thì đường liên kết này càng phát triển bấy nhiêu. Một số người phải vật lộn trên những con đường hai làn xe, trong khi những người khác đã xây dựng được đường cao tốc năm làn xe. Lưu lượng thông tin dày đặc chính là nền tảng cho một trí tuệ cảm xúc cao. Lưu lượng thông tin quá ít từ cả hai chiều sẽ dẫn đến những hành vi không hiệu quả.

Tại sao con người bỏ quá nhiều thời gian phớt lờ cảm xúc của mình hoặc bị chúng chi phối? Đa số những sai sót về trí tuệ cảm xúc đơn giản xuất phát từ việc không am hiểu. Bạn có thể khám phá những kỹ năng cụ thể giúp bạn biết cách hành xử “khôn ngoan”khi đối diện trước thử thách. Việc khai thác sức mạnh của trí tuệ cảm xúc trong công việc và gia đình không còn là một lựa chọn nữa. Ngày nay, để thành công và có một cuộc sống trọn vẹn, bạn phải học cách tận dụng tối đa những kỹ năng này bởi vì chỉ có những người biết hòa hợp giữa cảm xúc và lý trí mới có thể đạt kết quả tột bậc.

Phía bên kia của sự thông thái

Thế nào là thông minh cảm xúc?

Khám phá là nhìn thấy những gì ai cũng thấy và nghĩ ra những gì không ai nghĩ tới.

ALBERT VON SZENT-GYORGYI

Lily thức dậy vào một buổi sáng thứ hai tràn đầy nắng ấm ở San Francisco. Cô tắm rửa, thay quần áo đi làm và ngồi nhấm nháp ly cà phê trong lúc đọc báo. Thỉnh thoảng, cô lại nghĩ về giải thưởng Biotech Bay, một thuật ngữ dùng để miêu tả ngành công nghệ sinh học mà cô đang gắn bó. Trong nhiều năm qua, Lily vẫn làm việc cho cùng một công ty. Thoạt đầu, cô chẳng có gì để than phiền, nhưng thời gian trôi qua, công việc của cô trở nên trì trệ. Niềm đam mê chế tạo ra những loại thuốc chống lại căn bệnh ung thư vẫn là một phần quan trọng trong cuộc đời cô, nhưng chỉ có vậy thôi, cô không còn yếu tố động lực nào khác. Cô thấy mình quanh đi quẩn lại chỉ làm chừng ấy việc hết tuần này sang tuần khác mà không hề có bất cứ cơ hội nào để nâng cao và phát triển kỹ năng của mình.

Càng ở vị trí này lâu, Lily càng nhận thấy ban quản lý hiếm khi trao đổi về những vấn đề mà nhân viên quan tâm. Đội ngũ trong phòng thí nghiệm luôn miệng ca thán về sự thiếu vắng các cơ hội thăng tiến trong công việc. Họ bị mắc kẹt vào vị trí hiện tại của mình như những con chuột trong phòng thí nghiệm. Lily mong ước có được cơ hội phát triển và làm những việc mới mẻ. Cô muốn có lại cảm giác đứng trước một công việc đầy thử thách. Thế mà trong nhiều tháng qua, công việc của cô chẳng mang lại được gì ngoài nỗi thất vọng.

Nhưng ngày hôm nay, mọi chuyện sẽ thay đổi: Hôm nay Lily bắt đầu vị trí mới ở một công ty khác. Cô đã quyết định đổi việc cách đây sáu tuần, khi David, sếp cũ của cô, mời cô tham gia vào một công ty nhỏ mà anh thành lập. Trước đây, anh cũng rời bỏ công ty trước của cô vì thất vọng với đường hướng phát triển của công ty. Anh thuyết phục cô rằng công ty mới này sẽ giúp cô thực hiện những ý tưởng của mình bằng những cách thức mới mẻ và táo bạo.

Khi Lily lật tờ báo đến mục kinh doanh, cô bất chợt thoát khỏi dòng suy tưởng miên man. Một đồ thị lớn vẽ giá cổ phiếu đang rớt nhanh của công ty cũ trên trang báo đập ngay vào mắt cô. Lily liếc nhìn đồng hồ đeo tay, chụp lấy ly cà phê và vội vã đi ra cửa.

Năm đầu tiên Lily làm việc ở công ty mới giống như một ngày trôi qua trong thành phố lớn. Thật thú vị, có quá nhiều việc phải làm mà thời gian thì có giới hạn, thế nên cô đều cảm thấy mệt nhoài mỗi khi về tới nhà. Đúng như những gì David hứa, Lily có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của công ty. Cô nắm giữ vị trí quản lý phòng thí nghiệm, nơi sản xuất ra những loại thuốc chống ung thư mới và cô thường xuyên được mời tham gia vào các buổi họp của công ty về kế hoạch thử nghiệm thuốc trên người. Cô cảm thấy vinh dự khi được đóng góp ý kiến vào việc thử nghiệm này, vì chúng kiểm tra hiệu quả của những loại thuốc mới trong việc chữa trị bệnh ung thư. Quả thật, David đã mang lại cho Lily những cơ hội mà công ty cũ của cô không làm được.

Tuy nhiên, vào giữa năm làm việc thứ hai, mọi việc lại đi vào lối mòn. Đội ngũ trong phòng thí nghiệm dưới sự lãnh đạo của cô phối hợp với nhau rất ăn ý và các dự án được triển khai nhanh chóng, nhưng cô không tránh khỏi cảm giác nhàm chán. Cô tiếp tục được cấp trên tạo cơ hội đưa ra những đề xuất về việc thử nghiệm các loại thuốc mới trên người. Một vài lần, những kiến nghị của cô được thực hiện và cô cảm thấy rất vui. Nhưng các cuộc họp của công ty bắt đầu giống nhau kinh khủng. Cô chỉ được phép đóng góp ý kiến đến một mức độ nào đó về cách thức hoạt động của công ty. Kể cả khi kiến thức chuyên môn của cô trở nên sâu rộng hơn, những sáng kiến tốt nhất của cô vẫn bị bỏ xó. Lily rất thất vọng. Ban lãnh đạo đang làm những việc quan trọng, lên kế hoạch cho việc thử nghiệm thuốc, còn cô phải làm người giữ trẻ cho phòng thí nghiệm, nơi mà không có người chỉ huy vẫn có thể chạy tốt. Cô tiếp tục nghiên cứu về việc thử nghiệm thuốc và nghĩ ra những ý tưởng sáng tạo. Nhờ đó, cô có thể thấy rõ những lỗ hổng lớn trong quy trình thử nghiệm thuốc của công ty. David và những người quản lý khác do quá bận rộn với việc phát triển công ty mà bỏ lỡ những yếu tố quan trọng.

Thời gian trôi qua, Lily bắt đầu cảm thấy tiếng nói của mình không còn trọng lượng nữa. Mặc dù có nhiều quyền lực hơn bao giờ hết, nhưng cô không thấy vui vẻ gì khi cứ phải làm những việc mà cô đã quá thành thạo. Cô cảm thấy cấp trên không coi trọng mình khi không cho cô tham gia góp ý nhiều hơn về quy trình thử nghiệm thuốc. Cô biết rằng mình có khả năng làm được nhiều hơn là chỉ đơn thuần phụ trách phòng thí nghiệm, nhưng cô tự hỏi liệu cô có bị đánh giá là không biết trân trọng những gì mình có nếu cô mở miệng nói ra vấn đề này không. Trong hàng tháng trời, cô giữ im lặng và luôn có cảm giác ngột ngạt trong công việc. Mọi việc trở nên tồi tệ hơn khi cô nhận ra mình đang lâm vào tình cảnh chán ngán mà cô đã thoát khỏi vài năm về trước. Một lần nữa, Lily lại thất vọng với công việc của mình.

Trong suốt giai đoạn này, bất chấp tâm trạng u sầu mỗi khi đến công ty làm việc, Lily vẫn duy trì việc được David hỗ trợ và chỉ bảo. Mặc dù cực kỳ bận rộn và thỉnh thoảng có vẻ hơi xa cách nhưng anh không bao giờ nói “không” khi cô yêu cầu gặp mặt. Cô cảm thấy hối tiếc vì đã ngần ngại không dám nói lên những khúc mắc của mình trong công việc. Đã đến lúc phải thành thật với David và thử xem anh có giúp gì được cho cô không. Bởi thế, cô sắp xếp một buổi nói chuyện với anh và có đúng hai tuần lễ để chuẩn bị.

Sâu thẳm trong lòng, cô biết mình cần phải thay đổi một điều gì đó. Cô không muốn bị nhốt trong phòng thí nghiệm suốt đời, nhưng cô không thấy một vị trí rõ ràng nào phù hợp với những kỹ năng của cô trong công ty đang phát triển này. Lily quyết định rằng việc rời khỏi phòng thí nghiệm là ưu tiên hàng đầu của cô. Cô dành ra hai tuần tiếp theo để lấy can đảm giải thích hoàn cảnh của mình cho David hiểu. Cho dù cảm xúc của cô có chính đáng hay không, cô biết anh sẽ lắng nghe cô nói. Còn sự việc có thật sự thay đổi hay không thì lại là chuyện khác. Nếu David không đồng ý với cô thì cô cũng không chấp nhận việc mình bị cô lập trong phòng thí nghiệm.

Trong suốt buổi nói chuyện, Lily ngồi cứng đơ trên ghế. Cô hắng giọng và hồi hộp giải thích cho David hiểu những giới hạn của công việc hiện tại khiến cô chán nản. Cô nhanh chóng nhấn mạnh rằng cô rất yêu quý công ty và đánh giá cao cơ hội dành cho mình nhưng trong mấy tháng qua, cô cảm thấy ngột ngạt. Lily dừng lại một chút rồi nói với David rằng cô muốn chuyển ra khỏi phòng thí nghiệm. Sự im lặng bao trùm căn phòng. Trong một khoảng thời gian dài như vô tận, David không nói một lời nào. Anh ngồi yên trên ghế và có vẻ như đang nhìn xuyên thấu cô. Anh cảm thấy sốc và khá giận dữ khi nghe cô tâm sự. Anh vẫn nghĩ Lily đang có một vị trí tốt trong một công ty phát triển nhanh. Mức lương hiện tại của cô cao gấp hai lần mức lương ở công ty cũ.

Để phá vỡ không khí im lặng đến khó thở, Lily đặt bản báo cáo lên bàn của David. Vừa lật nhanh qua từng trang, cô vừa trình bày những điểm thiếu sót của công ty trong những cuộc thử nghiệm thuốc mới đây. Cô đề nghị cải thiện quy trình thử nghiệm thuốc vì những sai lầm như vậy làm công ty tốn kém rất nhiều. Cuối cùng, cô kết thúc bằng cách chỉ ra ba lỗ hổng lớn có thể khiến cho việc thử nghiệm thuốc của công ty thất bại sớm. Thông thường, một cuộc thử nghiệm thuốc thất bại sẽ ngốn của công ty hàng trăm ngàn đô. Lily có thể thấy rằng những điều cô nói có tác động mạnh đến David. Sau một khoảng thời gian im lặng như tra tấn nữa, anh nói rõ rằng anh không hề biết là cô không hài lòng với công việc của mình. Do tốc độ tăng trưởng quá nhanh của công ty mà anh không có thời gian trao đổi với cô nhiều như anh mong muốn. Anh cũng nói với cô rằng mặc dù bản báo cáo của cô rất ấn tượng nhưng anh không thể hứa hẹn điều gì. Việc cô có được chuyển sang vị trí giám sát quy trình thử nghiệm thuốc mới của công ty hay không phụ thuộc vào toàn bộ ban lãnh đạo.

Bây giờ đến lượt Lily trầm ngâm suy nghĩ. Có phải David vừa nhắc đến vị trí giám sát việc thử nghiệm thuốc của công ty? Quả thật, vài ngày sau đó, David trao đổi với những người còn lại trong ban lãnh đạo. Lily được phép thử công việc mới. Chỉ sáu tháng sau, Lily ngồi vào ghế giám đốc nhờ khả năng quản lý quy trình thử nghiệm thuốc hiệu quả của cô. Việc tăng lương thưởng cùng với phạm vi áp dụng kiến thức vào công việc khiến cô cảm thấy vô cùng mãn nguyện.

Lily còn nhớ mãi câu nói của David vào cuối buổi gặp mặt hôm đó. Anh nói rằng anh ngưỡng mộ lòng can đảm của cô khi dám tin vào cảm giác của mình và đối diện thẳng với vấn đề. Đó là nhận xét của một người đã rời bỏ công ty cũ với mức lương 250.000 đô/năm để thành lập công ty mới bằng số tiền dành dụm của mình.

Một thời gian sau, Lily phát hiện trí tuệ cảm xúc đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp cô giải quyết tình huống khó khăn vừa qua. Với sự giúp đỡ của một nhà cố vấn, cô xem xét lại sự việc này và phân tích xem mình đã làm những việc cụ thể gì để đạt được kết quả tốt đẹp nói trên. Nhà cố vấn chỉ ra cho cô thấy cô đã tận dụng cả bốn kỹ năng của trí tuệ cảm xúc, đó là: Nhận thức về bản thân, làm chủ bản thân, nhận thức về xã hội và làm chủ các mối quan hệ. Như phần lớn những người có ý thức khám phá và tìm hiểu trí tuệ cảm xúc, Lily cảm thấy hứng thú với việc chia nhỏ trí tuệ cảm xúc của mình ra thành bốn phần riêng biệt. Khi kết hợp với nhau, bốn kỹ năng này xác định khả năng nhận biết và thấu hiểu cảm xúc cũng như khả năng sử dụng những am hiểu này để kiểm soát hành vi và các mối quan hệ của chúng ta. Mô hình về bốn kỹ năng trí tuệ cảm xúc được Daniel Goleman, Richard Boyatzis và Annie McKee giới thiệu vào năm 2002 trong quyển sách của họ, Kỹ Năng Lãnh Đạo Nền Tảng (Primal Leadership). Từ đó, người ta dùng mô hình này làm chuẩn mực để tìm hiểu và thảo luận về trí tuệ cảm xúc ngày nay. Do đó, trong suốt quyển sách mà bạn đang cầm trên tay đây, chúng tôi sẽ miêu tả trí tuệ cảm xúc bằng bốn thuật ngữ này. Cũng giống như Lily và nhiều người khác mà chúng tôi có cơ hội làm việc cùng, chúng tôi chắc chắn bạn sẽ nhận thấy bốn thành phần này đưa ra một định nghĩa chính xác về trí tuệ cảm xúc. Kết hợp lại với nhau, những kỹ năng này sẽ giúp bạn sở hữu phần còn lại của cuộc sống mà những người “thông minh” thông thường không thể nào có được.

Lily đã sử dụng kỹ năng đầu tiên của trí tuệ cảm xúc – nhận thức về bản thân – thông qua việc nhìn nhận tình huống một cách khách quan. Thật đau lòng khi cô nhận ra rằng cô lại thất vọng và mắc kẹt trong công việc mới y hệt như lúc cô còn làm ở công ty cũ. Một khi cô thừa nhận được điều này và dành thời gian tìm hiểu về cảm xúc của mình, cô có trong tay tất cả những thông tin cần thiết để thực hiện một sự thay đổi. Sau đó, Lily sử dụng nhận thức của mình về tình huống hiện tại để tạo động lực hành động cho bản thân.

Tiếp theo, cô dùng kỹ năng trí tuệ cảm xúc thứ hai – làm chủ bản thân – để lập một bản kế hoạch hợp lý rồi thực hiện nó. Cô phải hy sinh những giờ nghỉ ngơi buổi tối để viết bản báo cáo, rồi có những lúc cô đem lòng hoài nghi về chính bản thân mình, và cuối cùng là bước vào phòng nói chuyện với David. Tất cả những thử thách này, cô đều vượt qua được thông qua việc làm chủ cảm xúc. Cô đã hoàn thành tốt kế hoạch bằng cách giải quyết những cảm xúc tiêu cực mà cô gặp phải trong suốt đoạn đường và tiếp tục tiến về phía mục tiêu của mình.

Trong suốt hai tuần lễ chuẩn bị cho cuộc trao đổi với David, Lily dành thời gian thực tập kỹ năng trí tuệ cảm xúc thứ ba – nhận thức về xã hội – và cân nhắc mọi việc dưới góc nhìn của David. Nhờ vậy mà cô quyết định soạn ra một bản báo cáo công phu. Cô nhận ra rằng anh không thể nào đọc hết tất cả những suy nghĩ trong đầu cô – bất kể chúng có thuyết phục đến mức nào – nên cô phải tạo điều kiện để anh hiểu rõ những gì cô muốn nói.

Sau đó, cô dùng kỹ năng trí tuệ cảm xúc thứ tư – làm chủ các mối quan hệ – để đạt kết quả mong muốn. Cô biết rằng không một ai khác ngoại trừ David có thể giúp cô giải quyết việc này. Cô tin vào mối quan hệ giữa hai người và trực tiếp đến gặp anh để trình bày thẳng thắn về vấn đề của mình.

Khi Lily so sánh những việc cô đã làm trong hoàn cảnh này với những gì diễn ra trước đây trong quá khứ, cô nhận ra rằng việc cô áp dụng những kỹ năng trí tuệ cảm xúc có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thành quả mà cô nhận được. Mặc dù lúc ấy, cô không hề biết rằng mình đang sử dụng các kỹ năng này, nhưng việc cô thành thật với những cảm xúc của chính mình, chuẩn bị cho buổi nói chuyện với David một cách chu đáo và tin tưởng vào mối quan hệ tốt đẹp bấy lâu nay giữa cô và anh đã giúp ích cho cô rất nhiều. Bên cạnh đó, cô cũng nghĩ đến bao nhiêu cơ hội mà cô đã bỏ lỡ, chỉ vì cô đã không hành động tương tự. Bằng cách khám phá trí tuệ cảm xúc của mình với sự giúp đỡ của nhà cố vấn, Lily học được cách xác định những kỹ năng này và phát huy chúng trong tương lai.

Bốn kỹ năng này kết hợp với nhau tạo thành trí tuệ cảm xúc. Hai kỹ năng phía trên, nhận thức về bản thân và làm chủ bản thân, nói về bản thân bạn nhiều hơn. Hai kỹ năng phía dưới, nhận thức về xã hội và làm chủ các mối quan hệ, chú trọng đến cách bạn tương tác với người khác.

Cánh cửa mở ra trí tuệ cảm xúc

Những tài liệu về trí tuệ cảm xúc cũng lâu đời như những nghiên cứu về hành vi con người vậy. Từ Kinh Thánh cho đến các nhà triết học Hy Lạp, nhà soạn kịch thiên tài Shakespeare, nhà chính luận Thomas Jefferson và các nhà tâm lý học hiện đại đều xem khía cạnh cảm xúc của lý trí như một yếu tố nền tảng nhất thuộc về bản chất con người. [3] Thật vậy, dù ở thời đại nào, những người có công mài giũa kỹ năng trí tuệ cảm xúc đều có khả năng nổi bật vươn tới thành công, trong khi những người khác luôn gặp khó khăn trong cuộc sống. Trí tuệ cảm xúc là một “điều gì đó” khá mơ hồ trong mỗi con người chúng ta. Nó xác định cách chúng ta kiểm soát hành vi bản thân, giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ngoài xã hội, đưa ra những quyết định cá nhân để đạt được kết quả tích cực.

Vào những năm đầu thế kỷ 20, một trào lưu mới nổi lên nhằm tìm kiếm cách thức đo lường chỉ số thông minh của con người (Cognitive Intelligence – IQ). Các nhà khoa học thời đó xem IQ như là thước đo nhanh nhất phân biệt giữa những người trung bình và những người xuất sắc. Nhưng rồi họ nhanh chóng phát hiện ra điểm hạn chế của cách tiếp cận này. Trong thực tế, có rất nhiều người cực kỳ thông minh (họ giỏi đọc, viết và tính toán) nhưng khả năng kiểm soát hành vi bản thân và hòa hợp với người khác của họ lại rất kém. Các nhà khoa học cũng tìm thấy vô số ví dụ về những người có chỉ số thông minh trung bình nhưng lại thành công tột bậc trong cuộc sống. Giáo sư E. L. Thorndike, giảng dạy ở Đại học Columbia, chính là người đầu tiên đặt tên cho các kỹ năng trí tuệ cảm xúc. Thuật ngữ do ông nghĩ ra, “thông minh xã hội”, phản ánh khả năng hòa hợp của chủ thể với những người xung quanh. [4] Mãi đến tận những năm 1980, trí tuệ cảm xúc (EQ) mới có được tên gọi chính thức như ngày nay. [5] Nhiều công trình nghiên cứu lập tức được tiến hành, trong đó có hàng loạt khảo sát ở Đại học Yale nhằm tìm ra mối liên hệ giữa trí tuệ cảm xúc với các thành tựu cá nhân, hạnh phúc và thành công trong sự nghiệp. [6]

Khái niệm trí tuệ cảm xúc giải thích lý do tại sao hai người có cùng chỉ số thông minh (IQ) lại đạt được những mức độ thành công khác xa nhau trong cuộc sống. Trí tuệ cảm xúc (EQ) đề cập tới một thành tố quan trọng trong hành vi của con người, khác biệt với trí năng. Người ta chưa phát hiện ra mối liên hệ nào giữa IQ và EQ; điều đó có nghĩa là bạn không thể nào đoán được trí tuệ cảm xúc của một người mà chỉ đơn giản dựa vào mức độ thông minh của người đó.

Điều đáng mừng là trí tuệ cảm xúc là một kỹ năng có thể học được. Mặc dù đúng là có những người sinh ra đã thông minh cảm xúc hơn những người khác, bạn vẫn có thể tăng cường trí tuệ cảm xúc của mình nếu bạn không phải tự nhiên mà có.

Tính cách cá nhân là miếng ghép cuối cùng để hoàn chỉnh bức tranh về con người. Đó chính là “dấu ấn riêng” của mỗi chúng ta. Tính cách của bạn là kết quả của những gì bạn thích hay không thích, chẳng hạn như bạn có khuynh hướng hướng nội hay hướng ngoại. Cũng giống như chỉ số thông minh (IQ), tính cách cá nhân không thể được dùng để ước đoán về trí tuệ cảm xúc. Người ta thường cho rằng một số nét tính cách thể hiện trí tuệ cảm xúc cao, nhưng những người thích gặp gỡ người khác không hẳn là người thông minh cảm xúc hơn những người thích ở một mình. Đặc điểm tính cách có thể giúp ích cho sự phát triển trí tuệ cảm xúc nhưng bản thân trí tuệ cảm xúc lại không phụ thuộc vào tính cách. Như vậy, chỉ số thông minh (IQ), trí tuệ cảm xúc (EQ) và tính cách, kết hợp với nhau, sẽ thể hiện hình ảnh chân thực nhất về con người. Trong cùng một người, ba yếu tố này không trùng lắp nhau nhiều. Thay vào đó, mỗi yếu tố giải thích về một khía cạnh riêng biệt, đặc trưng của người đó.

Chỉ số thông minh (IQ), tính cách và trí tuệ cảm xúc (EQ) là ba phẩm chất riêng biệt mà tất cả chúng ta đều sở hữu. Kết hợp với nhau, chúng xác định rõ cách chúng ta suy nghĩ và hành động. Khó có thể đoán được yếu tố này dựa trên yếu tố kia. Một người có thể rất thông minh, nhưng lại có trí tuệ cảm xúc thấp, và con người, dù thuộc bất cứ loại tính cách nào, cũng có thể có chỉ số EQ cao và/hoặc IQ cao.

Bốn kỹ năng trí tuệ cảm xúc có thể được chia ra làm hai cặp thuộc hai nhóm năng lực cơ bản: năng lực cá nhân năng lực xã hội . Năng lực cá nhân là kết quả của kỹ năng nhận thức về bản thân và làm chủ bản thân. Nói cách khác, đó là khả năng nhận thức về cảm xúc, đồng thời kiểm soát hành vi và xu hướng của bạn. Năng lực xã hội là kết quả của kỹ năng nhận thức về xã hội và làm chủ các mối quan hệ. Đó chính là khả năng hiểu rõ hành vi, động cơ của người khác và làm chủ các mối quan hệ của bạn. [7] Bốn kỹ năng này thường hay đi đôi với nhau để tạo thành năng lực cá nhân và năng lực xã hội nhiều đến nỗi chúng không xuất hiện độc lập trong các bản phân tích thống kê. Bạn sẽ nhận thấy mình thường sử dụng những kỹ năng này theo từng cặp. Và tương tự như Lily, bạn cũng sẽ phát hiện ra những tình huống mà trong đó một kỹ năng riêng lẻ không đủ để giúp bạn đạt được kết quả mong muốn. Nghiên cứu của chúng tôi khẳng định điều mà vô số những thính giả khôn ngoan đã trao đổi với chúng tôi sau khi tham dự buổi nói chuyện: “ Có phải là một số kỹ năng trí tuệ cảm xúc thường đi đôi với nhau?

Năng lực cá nhân

Năng lực cá nhân chính là sản phẩm của hai kỹ năng quan trọng: Nhận thức về bản thân và làm chủ bản thân. Cặp kỹ năng này tập trung vào cá nhân bạn hơn là mối quan hệ tương tác giữa bạn với người khác. Nhận thức về bản thân là khả năng nhận biết những cảm xúc của bạn một cách chính xác vào một thời điểm cụ thể và hiểu rõ bạn có khuynh hướng hành động như thế nào trong tình huống đó. Bên cạnh đó, nhận thức về bản thân có nghĩa là nắm vững phản ứng thông thường của bạn đối với những sự việc, thử thách và thậm chí đối với những người cụ thể. Việc tìm hiểu về khuynh hướng ứng xử của bạn là điều hết sức quan trọng, nó giúp bạn nhanh chóng hiểu được cảm xúc của mình. Kỹ năng nhận thức về bản thân ở mức độ cao đòi hỏi bạn phải sẵn sàng chấp nhận cảm giác khó chịu khi đối diện trực tiếp với những cảm xúc có thể là tiêu cực. Đây cũng là điều kiện cần thiết trong việc nhận biết và thấu hiểu cảm xúc tích cực của bạn.

Cách duy nhất giúp bạn thật sự hiểu được cảm xúc của mình là dành thời gian suy nghĩ xem những cảm xúc đó từ đâu mà có và tại sao chúng lại xuất hiện. Cảm xúc bao giờ cũng phục vụ cho một mục đích nào đó. Bởi vì cảm xúc chính là phản ứng của bạn trước những trải nghiệm trong cuộc sống, chúng thường đến từ một nơi nào đó. Đôi khi, cảm xúc của chúng ta xuất hiện không rõ nguyên do, vì vậy điều quan trọng là bạn phải tìm hiểu lý do tại sao hoàn cảnh hiện tại của bạn lại có tác động đủ mạnh khiến bạn có những phản ứng nhất định. Những người làm được điều này thường nhanh chóng hiểu được cảm xúc của mình. Các tình huống tạo ra những cảm xúc mạnh bao giờ cũng đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ thấu đáo. Thật khó cho Lily khi phải thừa nhận với chính mình rằng công việc mới của cô sau một thời gian đã trở nên tồi tệ. Phải mất nhiều tuần lễ cô mới nhận ra rằng cô thất vọng trước sự thật là công việc mới của mình lại rơi vào tình trạng trì trệ giống công việc cũ. Khoảng thời gian nhận thức kéo dài này đã mở ra con đường cho một sự thay đổi tích cực và ngăn chặn việc cô lựa chọn sai lầm có thể dẫn đến chỗ hủy hoại sự nghiệp của cô.

Kỹ năng làm chủ bản thân diễn ra khi bạn hành động – hoặc không hành động. Nó phụ thuộc vào khả năng nhận thức về bản thân bạn và là thành phần quan trọng thứ hai trong năng lực cá nhân. Làm chủ bản thân chính là khả năng sử dụng những nhận thức về cảm xúc của bạn để có thể ứng biến linh hoạt và hành động một cách tích cực. Điều này có nghĩa là kiểm soát những phản ứng cảm xúc của bạn trong những tình huống nào đó và đối với những đối tượng nào đó. Một số cảm xúc kéo theo nỗi sợ hãi khiến bạn bị tê liệt và làm cho suy nghĩ của bạn trở nên rối rắm, mờ mịt đến mức bạn không biết mình nên làm gì, mặc dù bạn biết mình cần làm một điều gì đó. Trong những hoàn cảnh như vậy, kỹ năng làm chủ bản thân được thể hiện qua việc bạn dũng cảm đối diện với cảm xúc của mình. Một khi bạn đã hiểu rõ và cảm thấy thoải mái với những cảm xúc của bản thân, chắc chắn bạn sẽ tìm ra được cách hành động tốt nhất.

Năng lực xã hội

Năng lực xã hội tập trung vào khả năng hiểu được người khác và làm chủ các mối quan hệ. Đó chính là sản phẩm của hai kỹ năng trí tuệ cảm xúc còn lại: Nhận thức về xã hội và làm chủ các mối quan hệ. Nhận thức về xã hội là khả năng cảm nhận được cảm xúc của người khác một cách chính xác và hiểu được điều gì đang thật sự diễn ra với họ. Điều này thường có nghĩa là nhận biết người khác đang nghĩ gì và đang cảm thấy thế nào, kể cả khi bạn không hề có cùng cảm xúc đó. Ai cũng dễ dàng bị chìm đắm trong những cảm xúc của chính mình mà quên đi việc tìm hiểu quan điểm của người khác. Mặc dù hết sức thất vọng về phần mình nhưng Lily vẫn dùng kỹ năng nhận thức về xã hội bằng cách dành thời gian xem xét mọi việc từ góc nhìn của David. Bất kể ai đúng hay sai, cô nhận ra ngay được cơn giận và sự bối rối của anh từ lúc đầu; chính vì thế cô quyết định cần phải làm một việc gì đó để thuyết phục anh: Ở đây là chỉ cho anh xem những dữ kiện và số liệu mà cô đã tổng hợp lại. Kỹ năng nhận thức về xã hội của cô đã giúp cho cuộc nói chuyện thành công tốt đẹp.

Làm chủ các mối quan hệ là kết quả của ba kỹ năng trí tuệ cảm xúc đầu tiên: Nhận thức về bản thân, làm chủ bản thân và nhận thức về xã hội. Đó chính là khả năng sử dụng những nhận thức của bạn về cảm xúc của bản thân và cảm xúc của người khác để tương tác với họ một cách thành công. Điều này dẫn đến việc giao tiếp rõ ràng và giải quyết mâu thuẫn hiệu quả. Trong buổi gặp mặt với David, Lily đã làm chủ mối quan hệ giữa hai người bằng cách phản ứng khéo léo trước cơn giận và sự bối rối của David sau khi nghe cô đề nghị được chuyển ra khỏi phòng thí nghiệm. Lily tiến hành các bước theo kế hoạch và kiểm soát được cảm giác gượng gạo không thoải mái mà hầu hết chúng ta đều gặp phải khi tiếp xúc với cấp trên. Làm chủ các mối quan hệ, vì thế, cũng có nghĩa là bạn cần phải vun đắp và nuôi dưỡng sợi dây liên kết với người khác qua thời gian. Người làm chủ các mối quan hệ tốt là người trung thành với những giá trị sống của mình và có thể nhìn thấy lợi ích của việc kết nối với những người khác nhau, thậm chí với cả người mà họ không thích. Những mối quan hệ vững chắc là điều mà ai cũng nên tìm kiếm và trân trọng.

Trí tuệ cảm xúc là kết quả của hai dạng năng lực chính: Năng lực cá nhân và năng lực xã hội. Năng lực cá nhân tập trung vào bản thân bạn và bao gồm hai kỹ năng: Nhận thức về bản thân và làm chủ bản thân. Năng lực xã hội, trong khi đó, tập trung vào cách thức bạn ứng xử với người khác và bao gồm hai kỹ năng: Nhận thức về xã hội và làm chủ các mối quan hệ.

Đó là thành quả của việc bạn hiểu người khác, đối xử tốt với họ và chia sẻ với họ nhiều điều.

Câu chuyện của Lily cho thấy những điều tốt đẹp có thể xảy ra khi bạn tận dụng trí tuệ cảm xúc của mình. Đồng nghiệp trong công ty sửng sốt trước sự thăng tiến bất ngờ cũng như ngưỡng mộ sự can đảm của cô trong việc tạo ra cơ hội cho mình. Còn Phineas Gage lại là ví dụ tiêu biểu cho một cuộc sống không có trí tuệ cảm xúc. Trong suốt 11 năm anh sống sót sau vụ tai nạn, những người xung quanh vẫn không hết ngạc nhiên về một người đàn ông đang sống với một “lỗ thủng trên đầu”, nhưng không ai dám đến gần anh.

Sau khi Phineas chết, cái xác không đầu của anh được chôn cất ở Nghĩa trang Lone Mountain thuộc San Francisco và không bị ai quấy rầy trong một trăm năm. Hộp sọ của anh và thanh sắt đâm xuyên qua nó được trưng bày ở trường Đại học Y khoa Harvard. Vào năm 1940, chính quyền thành phố San Francisco buộc phải di dời những ngôi mộ nằm trong nghĩa trang này để giải phóng mặt bằng làm nhà ở cho dân. Những tấm bia mộ ở đây được đổ ra biển làm đê chắn sóng. Kể từ đó, hàng năm cứ đến tháng hai – đúng cái tháng mà Phineas bị ốm nặng – thủy triều xuống và bãi biển bị xói mòn vào mùa đông khiến những tấm bia mộ lại đội cát trồi lên dọc bờ biển. Trong số những tấm bia ấy có một tấm bia đơn độc khắc tên Phineas Gage. Giống như cuộc đời anh, nó tiếp tục nổi lên mặt nước như một lời nhắc nhở kỳ bí về sức mạnh của trí tuệ cảm xúc.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của travis bradberry, jean greaves