Thung Lũng Ảo Vọng

Lượt đọc: 1172 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HAI

Phú trở về và nói chuyện với Phạm Sơn trong nhà truyền thống trên đồi.

- Anh ta không có mặt ở đó. Có người nói anh ta đến nông trường của chú Bảy Hưng.

- Sao anh không đến đó tìm?

- Em tính đi nhưng sợ anh đợi lâu. Em đã cho người đi gọi. Em phải về để báo anh rõ.

Phạm Sơn giận dữ đập bàn:

- Thật là vô chính phủ. Không có đứa nào trong ban chỉ huy sao?

- Dạ, chỉ có mình anh Chánh nhưng anh ta nói một mình anh ta không dám quyết định.

- Loạn quá rồi, Phạm Sơn đứng dậy. Được, các đồng chí đi với tôi.

Bốn người lên xe: Phạm Sơn, Phú, Hồng và Thanh.

Thanh hỏi:

- Có đem đồ đạc đi không?

- Không. Phạm Sơn gắt lên. Sao lại đem đi?

Chiếc xe chồm tới, leo dốc một hồi rồi dừng lại giữa chừng. Mọi người xuống xe, băng rừng đi tiếp. Họ đi làm hai cặp: Phạm Sơn và Phú đi trước, Hồng và Thanh đi sau. Phú nói:

- Đến nơi anh sẽ thấy chỗ ở của anh ta. Một căn phòng rất đẹp, đủ thứ hoa hòe. Doanh trại như một giang sơn riêng. Trong phòng có ba bốn chai rượu.

- Anh em đối với anh ta như thế nào?

- Ai cũng sợ. Cả ban chỉ huy cũng chỉ là bù nhìn. Không ngờ em đi mới nửa tháng mà tình hình đã đổi khác ghê gớm như vậy. Em là liên đội trưởng mà khi trở về lại đơn vị của mình lại có cảm tưởng như vào nhà của ai. Phải tìm gặp người này người kia, giống như khách.

Phạm Sơn cứ lầm lì, dường như cũng không chú ý lắng nghe và cũng không muốn nói gì.

Họ băng qua một khu rừng thưa rồi ra một trảng trống, lại vào một khu rừng nữa trước khi đến một cánh đồng rộng bát ngát.

Bốn người ra đứng ở mé rừng nhìn cánh đồng rộng mênh mông đã được cày xới hơn hai phần ba. Phía đàng xa là hai chiếc máy kéo đỏ chói đang làm việc. Vì khoảng cách xa quá nên không nhìn rõ mặt hai người lái máy kéo ấy là ai. Phạm Sơn quan sát mặt đất. Đất đen, xốp và mịn. Hồng bắt một chú dế than đang đứng gáy trong đường cày. Phạm Sơn nói:

- Doanh trại ở đâu?

- Đàng kia. Phú chỉ tay về phía trước và dẫn mọi người đi nữa.

Hồi lâu, họ thấy thấp thoáng sau những đám lá có bóng người. Chừng 100 thanh niên xung phong nam nữ đang làm cỏ, dọn cây chồi mà máy cày vừa mới ủi tróc lên trên một cánh đồng khác. Họ làm việc nhanh, gọn và vui vẻ mặc dù áo người nào rũng rách vai, da người nào cũng sạm đen vì nắng gió.

Khi thấy bốn người đi ngang qua cánh đồng, họ ngừng tay gọi mừng:

- Chú Năm!

- Chú Năm! Bữa nay có đem gì cho anh em không, chú?

Phạm Sơn cười, đưa tay vẫy:

- Đương nhiên là có. Anh em khỏe không?

- Vui lắm, chú.

- Con gái của chú đó hả chú Năm?

- Không phải đâu, nhà báo đấy.

Nhiều tiếng cười reo lên:

- A, nhà báo. Nhà báo ơi!

Hồng đưa tay vẫy:

- Lát nữa sẽ gặp các bạn.

Bốn người qua khỏi cánh đồng và đi vào doanh trại. Doanh trại ở đây tuy cũng chỉ tranh tre nứa lá nhưng được xây cất trang nhã, chắc chắn và ngăn nắp hơn chỗ cũ. Giữa các khu trại là một cái sân rộng phẳng phiu, rải rác những thân cây cao xòe bóng mát.

Phạm Sơn gặp Chánh, liên đội phó đời sống, trong văn phòng Ban chỉ huy.

- Ai cho phép các đồng chí bỏ căn cứ cũ chuyển về đây?

Chánh rụt rè đáp:

- Thưa anh Năm. Đó là ý kiến của đồng chí Duy liên đội phó kế hoạch. Tụi em có đem bàn trước tập thể và anh em nhất trí về đây.

Phạm Sơn có vẻ không chú ý đến câu nói của Chánh. Ông nói:

- Thôi được, anh cho tập họp tất cả liên đội lại ngay bây giờ cho tôi.

Chánh nghe lệnh liền chạy đi.

Trong khi đó thì ở sau nhà Thanh nói với Hồng:

- Em phải đi báo với anh Duy mới được. Tụi em không muốn về lại chỗ cũ đâu.

Hồng nói:

- Chị hỏi thiệt em nhé. Các anh ấy đi đâu vậy?

- Anh Duy thành lập hai đội. Một đội lái máy kéo và một đội cơ khí chuyên sửa chữa máy và nông cụ. Họ đang học nghề bên nông trường.

- Nhưng theo chị biết thì liên đội Trung Kiên này đâu có nhiệm vụ đó.

- Cái đó thì em không biết nhưng những kế hoạch làm ăn của anh Duy ai cũng thích.

Hồng coi đồng hồ, hỏi:

- Ở đây tới nông trường có xa không?

- Đi độ nửa tiếng. Chị muốn đi thì đi với em cho vui.

Hồng bằng lòng và hai cô gái lên đường.

Ngoài sân, thanh niên xung phong đã tụ họp đông đủ. Họ gồm khoảng 400 người trong đó có khoảng 100 người nữ. Đa số ăn mặc xuềnh xoàng, áo quần cũ, sờn rách nhưng họ rất tươi tắn, trẻ và linh hoạt.

Phạm Sơn đứng giữa đoàn quân, Phú, Chánh và Vân, liên đội phó chính trị đứng một bên. Không khí im lặng. Phạm Sơn thì vẻ mặt nghiêm nghị nhưng giọng nói của ông thì tình cảm:

- Các đồng chí thân mến, chúng ta là những đứa con của bốn phương trời tổ quốc, chúng ta gặp nhau đây, đứng chung dưới một mái nhà, chia xẻ gian khổ với nhau trên nhiều địa bàn khó khăn phức tạp của đất nước. Tất cả những thứ đó đã tạo nên tình đồng đội không gì lay chuyển nổi.

Hôm nay, chúng ta nhận một nhiệm vụ mới là đi khai phá, phát triển một vùng căn cứ địa cách mạng cũ. Công tác ấy không chỉ đơn thuần là một cuộc làm ăn kinh tế mà còn mang một ý nghĩa chính trị rất lớn, rất sâu sắc. Đó là củng cố tình cảm cách mạng, giáo dục truyền thống cách mạng thông qua việc xây dựng vùng căn cứ địa cách mạng cũ. Chúng ta sẽ đem sức trẻ của mình biến cái nơi mà ngày xưa đàn anh chúng ta đã đổ xương máu, thành một khu nông nghiệp, thành những đồi trà bạt ngàn. Sự phát triển vùng căn cứ ấy không những chỉ có ý nghĩa chính trị lớn đối với thế hệ chúng ta mà còn đối với những thế hệ con em chúng ta sau này. Chính vì thế mà nếu chúng ta đi phát triển một vùng đất khác thì sẽ không còn ý nghĩa chính trị gì nữa và hoàn toàn sai lạc với nhiệm vụ mà Đảng đã giao cho chúng ta.

Các đồng chí thân mến, từ khi các đồng chí lên đây tôi cũng chưa có dịp kể cho các đồng chí nghe lịch sử oai hùng của vùng đất căn cứ ấy. Có lẽ một phần cũng vì thế mà anh em chúng ta chưa có tình cảm sâu sắc với nó và dễ dàng bỏ nó mà đi, đối với tôi thì đó là một chuyện rất đau lòng.

Năm 1968, sau Mậu Thân, bọn Mỹ tập trung phi pháo vào vùng này rất dữ. Chúng cho B52 đến rải thảm rồi bắn pháo suốt mấy ngày đêm, sau cùng là đổ quân bằng trực thăng có máy bay phản lực yểm trợ. Đơn vị tôi rút quân gần hết, chỉ để lại một tiểu đội do tôi chỉ huy. Chúng tôi đánh du kích ban đêm làm tiêu hao lực lượng bọn Mỹ rất nhiều. Khi thì trái gài ở trên cây chụp xuống, khi thì mìn ở dưới đất tung lên, khi thì bắn tỉa. Cuối cùng tiểu đội chúng tôi được lệnh rút qua bên kia sông. Tiểu đội tôi chín người, hy sinh hết hai còn lại bảy anh em. Nửa đêm chúng tôi rút ra mé sông, moi trong đám lục bình ra chiếc ghe giấu sẵn từ trước. Qua sông ban ngày thì không được rồi nhưng qua sông ban đêm cũng dễ chết lắm. Trực thăng chúng bay trinh sát rất thấp, đèn pha rọi sáng lòa, nếu lúc đó mà xuồng ở giữa sông là coi như rồi đời với nó. Vậy mà đêm đó bảy anh em chúng tôi cũng qua được bờ bên kia trước khi trăng mọc. Tôi chọn một chỗ khuất nhứt để tấp vô bờ, nhưng khi mũi xuồng vừa mới chạm bờ thì nghe tiếng hô: "vi xi". Vậy là chúng nó bắn xối xả. Ngay trong loạt đạn đầu đã có mấy đồng chí hy sinh rớt xuống nước. Những người còn lại nằm rạp xuống ghe bắn trả. Chúng tôi không thể nào ngờ được rằng địch lại có thể phục kích bên kia sông. Tôi bắn hết một băng đạn, lắp băng khác vào. Chiếc ghe tròng trành trôi ra xa bờ dần. Tôi bắn thêm được mấy phát thì thấy cổ tay đau nhói lên, khẩu AK rớt xuống nước. Tiếng súng bỗng im bặt. Lúc ấy tôi mới biết rằng từ nãy giờ chỉ còn mình tôi bắn và khi tiếng súng của tôi ngưng thì bọn Mỹ trên bờ cũng không bắn nữa. Chúng nghĩ rằng tất cả đã chết hết và cứ để mặc cho chiếc xuồng trôi ra xa, cuốn đi theo dòng nước.

Chiếc xuồng không còn mái chèo nữa. Tôi cột chặt vết thương và xuống nước, cánh tay còn lại bám vào xuồng và cố sức dùng hai chân đưa xuồng vào bờ.

Phạm Sơn ngừng lại một chút và nhìn xuống đám đông đang im phăng phắc kia, ông nói tiếp:

- Đối với chúng ta, khu căn cứ ngày xưa ấy là thánh địa. Tôi thấy có trách nhiệm phải biến vùng đất ấy thành một khu trồng cây công nghiệp. Những ngọn đồi chung quanh sẽ biến thành những đồi trà. Thung lũng là đồng lúa. Các đồng chí biết không, cái đêm đó tôi vừa chôn sáu anh em mình mà vừa khóc, tôi hứa với họ là ngày giải phóng tôi sẽ trở lại căn cứ này dựng một đài kỷ niệm, sẽ đem dân lên đây, đem ánh sáng văn minh, đem sự sống, đem hoa trái về cho mảnh đất anh hùng này và tôi đang bắt đầu thực hiện những ước mơ đó… và chúng ta đang bắt đầu thực hiện những mơ ước đó, lẽ nào bây giờ chúng ta lại bỏ dở nửa chừng…

Trong khi Phạm Sơn dùng tình cảm để thuyết phục anh em thanh niên xung phong trở về căn cứ cũ thì Thanh và Hồng cũng đã đến Nông trường. Thanh đã quen nơi làm việc của các bạn mình nên đi thẳng tới xưởng cơ khí.

Cần đang nằm ngửa dưới lườn máy kéo sửa chữa thì nghe tiếng Thanh gọi tên mình, anh ló đầu ra khỏi xe và hỏi:

- Chuyện gì vậy?

- Anh Duy đâu?

Thấy có Hồng đứng sau lưng Thanh, Cần hỏi nhỏ:

- Có bồ của ổng lên thăm hả?

Thanh bực mình:

- Đã hỏi anh Duy đâu? Anh em bỏ về trại cũ hết trơn rồi kìa.

Cần giựt mình:

- Trời đất! Sao kỳ vậy?

Rồi Cần hối hả khoát vội tí dầu rửa tay và mặc chiếc áo rách dẫn hai cô gái đi kiếm Duy. Lúc ấy Duy đang điều khiển một máy thu hoạch bắp. Anh làm việc chăm chú quá nên không nghe được tiếng gọi của Cần khiến Cần phải hái một trái bắp ném lên xe. Duy dừng xe lại, nhận ra một cô gái thành phố thì ngạc nhiên lắm. Cứ nhìn Hồng chăm chú. Cần nói:

- Nhìn phía này nè. Tui đứng phía này nè, ông.

Duy nhảy xuống xe tiến lại phía ba người. Hồng chào anh. Duy bắt tay mọi người và nhận ra ngay vẻ lo lắng trên nét mặt Thanh. Anh hỏi:

- Sao đó?

- Chú Phạm Sơn và anh Phú đến. Biết chuyện dời trại ổng giận ghê lắm. Chú Năm đang kêu anh em về. Anh về can thiệp gấp đi để hư sự hết.

Duy cau mày nhưng không nói gì. Anh đứng lặng đi một lúc rồi day lại bảo Cần:

- Ông lái máy giúp tôi.

Duy dợm quay đi thì Hồng đã đến ngay trước mặt:

- Hình như tôi đã gặp anh ở biên giới Tây Nam?

- Có lẽ vậy. Xin lỗi. Tôi phải đi.

Duy bước nhanh tới xưởng cơ khí. Tiểu đội đang làm việc, thấy anh đến, vài người chạy ra hỏi:

- Có chuyện gì vậy?

- Phạm Sơn và Phú tính đưa liên đội về chỗ cũ. Tôi phải về, ông chở tôi ra tới mé rừng chút coi.

Người bạn chạy đi lấy xe đạp. Hai người chở nhau theo con đường đất đi ra khỏi nông trường và đến mé rừng. Người bạn dừng xe lại, Duy nhảy xuống xe, bỏ đi thẳng vô rừng.

Lối đi nhỏ chưa thành đường mòn, chỉ có dấu lá gãy dẫn đi loanh quanh. Duy muốn đi nhanh nhưng nhiều lúc bị vướng gai, dây leo và rễ cây.

Khi anh ra tới cái trảng trống thì anh rảo bước, rồi anh chạy, nhảy qua những vùng nước nhỏ đọng ở những chỗ trũng đầy dấu chân nai. Bùn bắn lên áo và lên tóc anh, nhưng anh không để ý đến. Anh cứ chạy càng lúc càng nhanh và lại biến mất trong một khu rừng thưa. Duy lại đi nhưng đi nhanh. Rừng ở đây sáng hơn, ánh nắng chiếu long lanh trên những giọt mồ hôi trên trán anh. Lưng áo anh bê bết bùn và đẫm ướt mồ hôi. Một nhánh gai mắt mèo móc xước ngang má anh chảy máu. Duy không dừng lại, lấy tay quệt máu xem rồi lại đi nhanh hơn.

Cuối cùng Duy ra đến mé rừng và nhìn thấy thấp thoáng những mái nhà vàng rực của liên đội mình. Anh dừng lại một chút để lắng nghe động tịnh. Doanh trại im lặng dễ sợ. Không một tiếng động, không một bóng người. Duy đi nhanh tới nơi thì quả thực là anh em đã bỏ mình đi hết rồi. Duy ngồi xuống bên một gốc cây dầu bỏ chiếc mũ mềm ra dưới cỏ. Anh tựa lưng vào gốc cây và lặng lẽ hút thuốc lá. Rừng trước mặt anh ửng lên sắc xanh mênh mông cao và chập chùng. Những luống cày ở phía xa thấp thoáng phía sau khóm cây thưa như những vệt màu nâu đen trầm lặng.

Chợt anh nghe có tiếng nhái kêu giữa trưa, anh ném mẩu thuốc lá cụt đi và đứng dậy đi tới mảnh đất đang cày lở dở gần đó. Đó là một giải bình nguyên bằng phẳng. Đất có màu nâu và nâu đen pha cát nên xốp và mịn. Hai mươi hécta trải dài mút tầm mắt. Những trận mưa đêm qua đã làm cho nó sẫm màu hơn một chút. Anh lại nghe tiếng con nhái lúc nãy kêu. Anh dừng lại một chút và mỉm cười.

Một chú nhái cơm to tướng đứng ngay giữa đường cày còn đọng chút nước mưa. Con nhái rừng chưa biết sợ người, nó đứng im nhìn anh. Duy nhẹ ngồi xuống, khum bàn tay lại đón đầu nó và úp nhẹ xuống. Con vật nhỏ nhảy lên và nằm gọn trong lòng bàn tay Duy. Sự xuất hiện tình cờ của loài vật bé nhỏ cùng với những tiếng kêu quen thân của thời thơ ấu chợt đem lại cho anh niềm hạnh phúc mát dịu, thanh thản và hồn nhiên. Duy mở lòng bàn tay cho con vật nhảy ra. Cơn mưa vừa qua đã làm mát rượi cả những cơn gió. Duy bước vào trong lều. Đó là chiếc lều nhỏ dành cho những người lái máy kéo nghỉ trưa. Trên chiếc sạp tre tươi xanh vẫn còn mấy bao thuốc lá rỗng và một cái ấm sứt quai, đen ngòm.

Duy nhóm một bếp lửa và bắc ấm nước lên xong đi thăm cánh đồng của mình. Anh đi một vòng quanh nó, thỉnh thoảng cúi xuống nhặt những gốc cây chồi mà anh em dọn chưa sạch. Duy vốc một nắm đất đen lên tay bóp nát rồi cho chảy nhẹ sang bàn tay kia, xong anh rải nó xuống đường cày và bỏ vô lều. Anh nằm ngửa trên chiếc sạp tre rồi ngủ quên đi một lát. Ấm nước dưới chân anh sôi bùng lên mà anh không hay.

Khi tỉnh dậy, Duy nghe tiếng chim gì kêu trong rừng rất lạ. Tiếng chim khàn khàn làm anh thấy nỗi buồn trong lòng mình mênh mông hơn. Duy vác cây xà gạt lững thững đi vào rừng. Anh chọn một thân cây quỳ sát đất và ngồi trong bóng mát. Quá trưa, rừng sáng đẹp hơn lúc nào hết, ánh sáng như tỏa ra từ những đám lá trong xanh. Duy lấy thuốc ra hút, im lặng suy nghĩ.

Anh không để ý gì đến chung quanh, không hay có tiếng bước chân ai dẫm trên lá khô đi tới. Rồi anh chợt nhận ra bên cạnh mình có một chai rượu. Duy quay lại, thấy Cần đã đứng sau lưng. Duy mỉm cười với bạn, anh cầm chai rượu đưa lên mũi ngửi. Anh hỏi:

- Ở đâu có vậy?

Cần không trả lời, quay lưng đi và nói:

- Tụi nó đang đợi anh ngoài kia.

Hai người trở lại túp lều, bên bếp lửa nhỏ xúm xít chừng một chục thanh niên xung phong. Họ đang thui một con cheo vàng lườm trong khi Thanh và Hồng đang lặt rau ở ngoài bãi cỏ.

Cảnh tượng ấy làm Duy hứng khởi, anh ném cây xà gạt vào xó và nhảy vào đám người trẻ tuổi rộn ràng ấy.

Duy hỏi:

- Công việc ở nông trường xong hết chưa?

Cần nói:

- Dù chưa xong cũng phải về đây với anh chớ.

Duy cúi xuống xách cái can 5 lít lên coi và nói:

- Giỏi thiệt. Bộ tính nằm luôn ở đây hả?

- Nằm luôn, một bạn đáp, bữa nay cho tụi bay nằm hết. Đứa nào không nằm không phải bạn tao.

Họ nấu ăn rất khéo, nhanh gọn và lành nghề. Họ vừa đốt lửa vừa hát, vừa lặt rau vừa nói chuyện tiếu lâm, vừa xắt thịt vừa ca vọng cổ. Họ trẻ, khỏe hồn nhiên và giản dị. Họ là những đứa con của những ông cha bà mẹ nào đâu, sinh ra từ lúc nào, lớn lên trong môi trường nào, lý lịch ra sao, được giáo dục thế nào có lẽ không ai cần biết, chỉ biết họ cùng chung một màu áo, một màu da sạm nắng, một mái tóc cháy vàng. Họ sống mãnh liệt, chân thật như đất như đá, cụ thể như ngọn núi như dòng sông, họ không màu mè, không rào trước đón sau, không giảng đạo đức, không hô khẩu hiệu.

Họ uống rượu, khề khà cười nói thỏa thích, họ vui cũng hết mình như khi họ làm việc. Một cái ly to bằng nắm tay chuyền đi từ đầu này sang đầu kia rồi vòng trở lại. Rượu sủi tăm rót đầy lên rồi nốc cạn, rồi lại rót đầy lên.

Rượu làm họ ồn ào nhưng cũng có người trở nên lầm lì. Họ ngồi xếp bằng, ngồi chồm hổm, đứng mà uống. Họ trẻ, sôi nổi mà không tục tằn. Họ đen sạm, tóc bồng, áo rách vai mà không có vẻ rừng rú.

Nãy giờ Cần cứ ngồi im, mặt buồn hiu. Anh uống thật nhiều cứ thấy rượu đến là uống, miệng cứ lải nhải một câu:

- Buồn quá. Nhớ nhà quá.

Một người khác, bực mình vì cái giọng lải nhải của Cần nên lấy ly rượu trên tay Cần, không cho uống nữa. Anh ta cầm ly rượu đến bên Duy và nói:

- Duy ơi, mày trăm phần trăm với tao nghe Duy. Mày là chiến sĩ số một. Xưa nay mày vẫn là chiến sĩ số một.

Duy tiếp lấy ly rượu uống cạn.

Cần thì cứ tiếp tục lè nhè:

- Buồn quá. Nhớ nhà quá. Anh em đi hết rồi. Buồn quá, nhớ nhà quá.

Thanh và Hồng vừa bước vô lều. Thanh nói:

- Anh Cần ơi, dẹp cái giọng đó đi. Đừng làm chuyện xấu hổ.

Nhiều tiếng cười. Một thanh niên xung phong mang kính trắng ra vẻ thư sinh rót nửa ly rượu đưa cho Hồng:

- Chị phải uống với anh em một chút mới được.

- Tôi không quen. Hồng nói. Xin đứng đây phục vụ các đồng chí.

Người đeo kính trắng nói:

- Nếu đồng chí nhà báo không uống được thì tôi uống.

Và anh ta uống cạn rồi đưa hai tay lên trời, anh ta nói:

- Chúng ta là những chiến sĩ cách mạng hoàn toàn không giống bất cứ chiến sĩ cách mạng nào, hoàn toàn độc đáo. Chúng ta có tuổi trẻ, có nhiệt tình cách mạng, có nhiều khả năng nhưng chỉ có điều… (anh ta hạ giọng) là mấy năm nay làm ăn chẳng ra gì cứ bắt nhà nước phải bù lỗ, phải nuôi cơm dài dài…

Mọi người cười phá lên, vỗ tay rồi cười nghiêng ngửa.

Giọng lè nhè của Cần lại vang lên:

- Tại sao như thế? Buồn quá. Nhớ nhà quá. Anh em bỏ đi hết rồi.

Một người ngồi cạnh Cần nói:

- Nó xỉn quá rồi. Đừng cho nó uống nữa. Nó đau thần kinh đấy. Cho nó nằm đi.

Hai ba người đỡ Cần nằm xuống cái sạp tre. Vừa lúc ấy một người đàn ông vạm vỡ, râu rậm, mặc bộ đồ kaki xám xanh xuất hiện dưới mái lều:

- Chú Bảy Hưng! Mọi người reo lên.

Bảy Hưng cũng ngồi xếp bằng, không đợi mời, ông ăn mỗi món một miếng, uống cạn ly rượu rồi mới hỏi:

- Có chuyện gì vui vậy?

- Chuyện buồn. Duy đáp.

- Sao buồn?

- Chú không thấy vắng tanh sao. Anh Năm mới đến đây và ra lệnh dời trại về chỗ cũ. Anh em đi hết rồi.

Bảy Hưng uống cạn một ly rượu mời nữa rồi nói:

- Để gặp Phạm Sơn tao sẽ nói.

Người thanh niên đeo kính lúc nãy nói:

- Chú nói giúp nghe chú. Hồi trước chú với anh Năm ở cùng đơn vị hả?

- Trước Mậu Thân thì cùng đơn vị, sau đó giả bị bắt tù Côn Đảo còn tao thì vẫn đánh giặc dài dài tới giải phóng.

- Uống thêm đi chú Bảy. Một người nhắc.

Bảy Hưng đón lấy ly rượu rồi nói:

- Ly này nữa thôi. Chú phải đi. Xe đang chờ ngoài mé rừng.

Anh em biết Bảy Hưng đang đi công tác không dám ép. Duy tiễn ông ra tận ngoài xe, đợi cho chiếc Jip lùn khuất sau rừng mới quay vào nhưng anh mới đi được một đoạn đã thấy Hồng từ trong con đường mòn đi lại. Duy dừng chân, anh thấy hơi choáng váng và rất ngượng vì phải chường bộ mặt say sưa trước mặt Hồng. Nhưng cô nhà báo đã đến gần anh. Hồng nói:

- Các bạn bảo tôi ra coi chừng anh té dọc đường.

Duy cười:

- Chị thấy, tôi có say đâu.

- Nhưng anh không nên uống nhiều quá. Hãy ngồi xuống nghỉ một lát đã.

Hai người ngồi xuống dưới cỏ. Hồng hỏi:

- Anh có đọc bài báo của tôi viết về anh ở mặt trận biên giới Tây Nam không?

- Tôi không đọc được vì báo không lên tới biên giới. Nhưng sau này tôi có nghe bạn bè nói về bài báo đó.

- Anh em nói sao?

- Họ nói chị đã mô tả tôi như một người anh hùng. Lẽ ra chị không nên viết như thế.

Hồng nhìn ra ngoài mé rừng, có vẻ bất bình:

- Nhưng thực sự là các anh đã rất dũng cảm.

- Chị đã biết đấy. Chiến tranh hồi đó ác liệt quá, gian khổ quá. Mọi người đều phải dũng cảm, nếu không sẽ chết với chúng nó. Vì thế mà sự dũng cảm trở thành bình thường. Và tôi cũng bình thường như anh em. Chị viết như thế có khi anh em lại tưởng tôi tự thổi phồng mình.

- Nhưng với thể loại báo chí, khó có thể mô tả cái phần sâu xa trong tâm trạng của mỗi con người.

Cần xuất hiện ngay cửa lều và gọi lớn:

- Duy! Bỏ cuộc hả? Tụi này đang đợi anh.

Duy đứng lên, xin lỗi Hồng rồi đi nhanh vào túp lều.

Hồng ngồi lại một mình trên bãi cỏ, mắt đăm đăm nhìn xuống những lá cỏ xanh mượt và những cánh hoa dại nhỏ li ti nằm giấu sau đám lá. Tại sao mọi người cứ cho rằng ta viết tô hồng thực tế. Ta yêu cuộc sống này, ta thấy nó tươi đẹp. Cả trong thiếu thốn, trong gian khổ, đâu đâu ta cũng thấy nét đẹp riêng của lý tưởng của niềm hy vọng ửng lên phía sau những điều chưa tốt đẹp… Vậy thì tại sao ai cũng cho rằng ta tô hồng thực tế?

Hồng nhìn theo dáng Duy đi trong hoàng hôn và trong trí của chị rực lên vệt ráng đỏ của buổi xế chiều trên biên giới Tây Nam ngày nào.

*

 

Hoàng hôn. Tiểu đội của Duy đi cáng thương ở mặt trận về. Hai người khiêng một cái cáng ở trên có thương binh nằm. Vài anh thương binh đã chết. Chỗ đóng quân của đại đội thanh niên xung phong là một cái "phum" nghèo. Nhà sàn mọc rải rác trong những khu vườn cau, dừa và xoài um tùm. Những căn nhà xiêu đổ, thỉnh thoảng nhô lên trong những tán lá một mái ngói đỏ. Thanh niên xung phong cột võng quanh các cây cột nhà nằm ngang dọc. Thấy thương binh về họ đều nhảy xuống võng đến thăm. Các cô y tá đến băng lại các vết thương. Duy và các bạn ăn cơm dưới đất. Họ ngồi trên những nhánh củi khô, những thân cây dừa ngã đổ. Bữa cơm đạm bạc, một dĩa đậu phộng rang, một tô canh rau. Trên mặt và hai cánh tay Duy đầy những dấu gai cào rớm máu. Quần áo những người mới về đều sờn rách và dính đầy bụi đất.

Hồng phụ với cô y tá săn sóc các thương binh xong thì đi đến chỗ Duy đang ăn cơm. Chị lấy trong bọc ra một ít kẹo chia cho họ. Duy nói cám ơn và cắm cúi ăn, không để ý tới Hồng. Thấy vết thương sâu trên cổ tay Duy, Hồng nói:

- Lát nữa anh để tôi băng vết thương cho anh.

Duy hỏi:

- Chị ở đâu đến đây?

- Tôi là nhà báo.

- Có lẽ chị là người nhà báo duy nhất chịu khó lặn lội đến vùng biên giới này.

Hồng hỏi:

- Đánh nhau cách đây xa không, anh?

- Mười cây số. Chị có nghe thấy tiếng súng không?

Hồng lắng nghe tiếng súng ở xa, hỏi:

- Như vậy hiện còn đang đánh?

Duy vừa nhai vừa gật đầu.

- Đánh suốt mấy ngày đêm nay. Giành giựt nhau đường số Bảy. Chị có tính đi tới nơi đó không.

- Nếu các anh cho phép.

Duy gác đũa, cười và nói:

- Nói giỡn chơi. Chị không nên đi. Nguy hiểm lắm.

Duy đứng dậy ra giếng rửa chén đũa và khi anh trở vào dưới căn nhà sàn để cột võng thì Hồng cũng vừa đến. Thấy Duy đang ngồi trên võng, Hồng nói:

- Anh cứ ngồi im đấy. Đưa tay cho tôi xem.

Duy xắn tay áo lên quá khuỷu tay để chừa vết thương dài ra cho Hồng. Vừa lúc ấy một thanh niên xung phong khác cũng mới cáng thương về, bước vào dưới nhà sàn chưa kịp thay quần áo. Bỗng một người nhảy tới chụp lấy cái mũ của người bạn mới về, la lên:

- Trời ơi, tụi bay coi kìa. Đạn bắn thủng mũ tai bèo của nó mà nó còn sống.

Người nọ đưa cái mũ thủng vết đạn cho mọi người xem trong khi anh thanh niên xung phong mới về thì ngồi bệt ngay xuống đất, ăn cơm, vẻ mệt mỏi cùng cực hiện lên mặt và trong cử chỉ. Anh ta lặng lẽ ăn, không nói một tiếng.

Trời tối. Một ngọn đèn chai duy nhất được thắp lên chỗ mọi người mắc võng.

Một người nói:

- Đứa nào đi với tao kiếm "củ hũ" dừa về ăn bay.

- Đừng có giỡn mặt cha nội, một người khác nói, mới có lệnh cấm phá dừa của dân. Mày không biết hả?

Người nọ nói:

- Vậy à. Thôi, cho tao điếu thuốc.

Ánh lửa lóe lên trong đêm. Ngọn đèn leo lét không đủ sáng vì thế mà những đóm thuốc lá hiện lên rất rõ quanh các chỗ nằm. Đêm rất tĩnh mịch, người ta nghe rõ cả tiếng giun dế quanh bờ cỏ. Có tiếng hát nho nhỏ, tiếng nói chuyện rầm rì.

Hồng nằm chung với mấy cô y tá ở một góc nhà, cô nhắm mắt lại cố ngủ nhưng tiếng súng ở mặt trận vọng về cứ quấy động tâm trí cô và thúc giục cô đến độ cô muốn ngồi dậy đi gặp đại đội trưởng để xin được đi theo đoàn tải thương ra đó một chuyến. Hồng thấy rằng trong khi mọi người thay phiên nhau đi mà mình cứ nằm ở đây, lại có tham vọng viết về họ thì thật là hổ thẹn. Cô lại nhớ tới vết thương trên tay Duy, cái áo rách lưng và dính đầy máu của anh trong bữa cơm chiều, cái mũ thủng lỗ đạn và nét mệt mỏi cùng cực của người thanh niên xung phong nọ… Tất cả khiến Hồng bùi ngùi. Cô ngồi bật dậy thì vừa lúc đại đội trưởng đến. Anh lách qua những cái võng và bước vào giữa nhà.

- Các đồng chí chú ý nha, Đại đội trưởng nói, B2 cho mười người đi cáng thương ngay bây giờ. Tập họp trước Ban chỉ huy đại đội.

Ánh đèn bấm lóe lên rồi phụt tắt. Đại đội trưởng lại lách qua những chiếc võng và ra ngoài.

B trưởng Trần Duy nghe gọi đến tên trung đội mình liền bước xuống võng. Anh thấy tỉnh ngủ hẳn và ra lệnh:

- Tới phiên A3. Tập họp và điểm danh.

Vài tiếng cằn nhằn nổi lên, rồi có tiếng người lè nhè nói:

- Anh Duy ơi, tui bịnh quá, anh Duy.

Duy hỏi:

- Đứa nào đó?

- Hảo đây anh Duy. Sốt quá trời.

Duy tiến lại phía Hảo nằm. Người thanh niên xung phong nọ quấn mền kín mít. Duy vạch mền ra đặt tay lên trán bạn. Hảo nóng rực như cục than hồng. Duy chép miệng:

- Mà, sao mày không nói. Sợ uống thuốc hả? Đứa nào đi xin cho nó viên APC coi.

Anh em đã tập họp trước nhà. Duy ra sân điểm danh tiểu đội 3 thấy có 9 người. Anh trở vô nhà hỏi những người đang nằm võng:

- Có ai chịu đi thay cho thằng Hảo không?

Không có tiếng trả lời. Ở góc nào đó có tiếng ngáy. Duy hỏi lại một lần nữa nhưng cũng không có ai lên tiếng. Cả gian nhà chìm trong một sự im lặng nặng nề. Duy bực dọc muốn chửi một câu nhưng nghĩ anh em ai cũng đã làm tròn nhiệm vụ của mình rồi giờ đến lúc phải để họ ngủ dưỡng sức, nên Duy lặng lẽ quay ra.

Anh đụng đầu với một cái bóng trắng mảnh mai đang đón anh trong tối:

- Anh Duy, cái bóng ấy gọi nhỏ, anh để tôi đi thế cho.

Nghe giọng nói của Hồng, Duy nói:

- Không được đâu. Tôi không có quyền cho chị đi.

Hồng níu vai Duy lại:

- Anh đừng nghĩ rằng tôi liều lĩnh. Chỉ vì tôi yêu nghề thôi.

Duy gỡ tay Hồng ra và giữ hơi lâu một chút. Bàn tay mềm của người con gái chợt làm anh xúc động. Anh nói:

- Đã có người đi thay cho Hảo rồi.

Và Duy bỏ đi lẫn vào đêm tối.

Mười người đứng xếp hàng trong tối nghe phổ biến mật hiệu rồi lặng lẽ lên đường. Duy dặn lại các bạn:

- Hỏi Hồng Hà. Đáp Đồng Tháp. Rõ chưa.

- Rõ.

Họ lên đường. Duy đi sau chót để kiểm tra lại quân số. Khi đi ngang qua ngôi nhà sàn Duy nghe có tiếng gọi nhỏ và một cánh tay thon thả đưa cho anh một vật gì hình khối chữ nhật bọc trong một chiếc khăn tay. Duy chỉ có thì giờ để nói một tiếng cám ơn ngắn rồi nối bước các bạn. Anh đưa vật ấy lên mũi và thoáng nghe một chút hương thơm lẫn trong mùi bánh mì khô của người thành phố.

« Lùi
Tiến »