Thung Lũng Ảo Vọng

Lượt đọc: 1182 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHÍN

Thanh giũ chiếu rồi trải gọn ghẽ lên cái sạp tre của mình cho Hồng nằm, còn cô thì treo võng một bên. Hồng nói:

- Để chị nằm võng cho.

- Nằm võng không có mùng.

- Em không sợ muỗi à?

- Trời mưa như thế này muỗi không nhiều đâu. Nhưng mà da trâu như tụi em, muỗi nó cũng chê.

Hồng nói:

- Đừng tự chế nhạo mình quá như vậy. Mai mốt chuyển ngành làm việc khác thì da sẽ trắng lại.

Thanh xoay nghiêng qua phía Hồng:

- Trắng lại không? Sao em nghe nói bị ăn nắng lâu quá thì sẽ bị đen suốt đời?

- Làm gì có. Chừng vài tháng là nhiều.

Thanh gọi:

- Chị Hồng nè. Tụi em làm việc nặng riết, mông đứa nào cũng to như cái thúng. Đứa nào đứa nấy tròn quay, mắc cười. Cái đó thôi chắc hết thuốc chữa.

Hồng trả lời bừa:

- Tập thể dục nó cân đối trở lại. Không hề gì đâu. Nhưng tại sao em cứ băn khoăn về chuyện đó quá vậy?

- Hồi mới lao động tụi em đứa nào cũng sợ đen, sợ già nhưng làm riết rồi cũng lì, trơ trơ như trâu, bạ đâu nằm đó, bạ đâu ăn đó, ngủ đó.

- Làm cách mạng thì phải hy sinh em à.

- Anh Cần cũng thường động viên em như thế nhưng chị biết không, ba hồi ảnh nói với em là chỉ có cái đẹp của tâm hồn mới đáng quý, ba hồi ảnh lại biểu em đi làm nhớ che mặt che cổ, sợ ăn nắng. Có lần về phép lên ảnh tặng em một đôi găng tay. Em mang thử ra hiện trường, bị chọc quê quá trời. Tối đó về bị kiểm điểm là tiểu tư sản. Em rầu muốn chết. Em trả cái găng tay cho ảnh. Ảnh buồn hiu. Ảnh thì vừa muốn em giữ da, vừa muốn em lao động giỏi. Nhưng mà làm sao được. Đáng lẽ ảnh không nên chê em.

- Ảnh có chê em hồi nào đâu.

- Chị không biết đó. Ảnh không chê nhưng mà cứ nói: "Có người ra nắng không đen, sao em ra nắng đen quá vậy?" Nói vậy là chê rồi chớ còn gì.

- Nhưng chị để ý thấy ảnh cũng lo cho em lắm mà.

- Ảnh được có chút đó không hà. Nên em mới thương ảnh. Chị biết, hồi tụi em đào kinh Tam Tân, những ngày cuối anh em ai cũng mệt lả nhưng kỳ hạn gần hết rồi, tụi em phải động viên nhau "đánh đêm". Ban đêm dầm mình dưới nước thì ấm nhưng khi lên bờ thì rét run lạnh cóng, muốn ngã chúi xuống kinh. Nửa đêm khi vừa dứt buổi thi công thì anh em mệt quá đã nằm la liệt, ngủ vùi bên bờ kinh, lăn lóc khắp nơi. Em cũng ngủ như vậy. Những người còn thức không nỡ gọi anh em dậy nên chạy về trại lấy mền ra đắp cho đồng đội mình. Anh Cần biết em đã bị mất mền rồi nên đêm đó ảnh chạy về trại lấy mền của ảnh ra đắp cho em. Đêm đó ảnh đắp bằng bao bột mì, sáng ra mặt mày chân tay mốc hết trơn, mắc cười lắm. Nhưng vậy mà em cứ nhớ hoài cái mặt mốc xì của ảnh, sau này càng nghĩ càng thương.

Một lần nữa ở Phạm Văn Cội, hồi tụi em đào kinh Ba Gia. Trời nắng như thiêu đốt, tụi em làm tới xế chiều mình mẩy lấm lem nên kéo nhau ra sông tắm. Các đồng chí nam biết bơi nên phóng xuống nước bơi ra xa. Ở đó nước trong lắm. Còn ở trong bờ đàn trâu mới đi qua quậy đục ngầu nên em chỉ rửa sơ tay chân chớ không tắm, nhưng lúc đó trong mình rít rối khó chịu lắm. Nhiều bạn nữ cũng ở trong tình trạng như em, không biết bơi nên không thể ra tắm ngoài xa được. Vậy mà anh Cần để ý, lẳng lặng về trại xách hai cái xô rồi phóng xuống nước bơi ra xa, múc đầy hai xô nước trong đem vô cho em, rồi ảnh mới chịu bơi ra ngoài tắm. Các đồng chí nam khác cũng bắt chước ảnh làm như vậy thành ra bữa đó con gái tụi em ai cũng được tắm nước trong.

Hồng nghe Thanh nói một hồi, buồn ngủ quá. Cô nghe thân thể mỏi rời sau mấy ngày lao động, hai mắt thì nặng trĩu, nhưng Thanh thì cứ thao thức với những ước mơ của mình. Cô gái lại gọi:

- Chị Hồng nè, đám cưới có ai mặc đồ Tây không?

Hồng uể oải đáp:

- Ai lại mặc đồ Tây. Người ta thường mặc áo dài.

- Nhưng mình là thanh niên xung phong mà. Mình mặc đồng phục thanh niên xung phong cũng được chớ gì.

- Cũng được.

- Tại vì em nghĩ, tròn quay như tụi em mà mặc áo dài coi không được. Chị biết hôn, hôm Tết về nhà, đem mấy cái áo dài cũ ra ủi, giựt mình quá, thấy cái áo có chút xíu, xỏ thử cái tay cũng không vô đừng nói chi là mặc. Mấy cái áo dài em cho nhỏ em hết trơn.

- Ừ hứ.

- Chị ngủ hả? Trời ơi, mới tám giờ mà ngủ gì. Sao bữa nay chị ngủ sớm vậy?

Hồng phải nói dối:

- Bữa nay chị nhức đầu, nằm nhắm mắt chút chớ có ngủ đâu.

- Em hỏi chị tí xíu nữa nghe. Nếu mình mặc đồng phục thanh niên xung phong mà đánh phấn coi được không? Chắc kỳ lắm hả chị Hồng?

- Kỳ lắm, giọng Hồng đã lè nhè, ý, mà không sao, mình con gái mà, đánh chút phấn có sao.

Thanh biết Hồng đã buồn ngủ quá rồi nên không hỏi nữa, cô xoay người lại và nhẹ đưa võng.

Mưa lớn quá. Ở phía xa vẫn nghe sấm rền. Thanh nhắm mắt lại cố ngủ nhưng không ngủ được. Gió thì cứ từ ngoài sông thốc vô làm rừng lồng lên, hú những tiếng âm u.

Thanh chợt nghe có tiếng chân người đi đến bên cửa sổ rồi có ánh đèn bấm lóe lên cùng lúc với tiếng đập vào phên tre.

- Thanh ơi!

- Ai đó? Thanh nhỏm dậy.

- Trời ơi! Nước sông sắp tràn bờ rồi mà cả liên đội cứ thi nhau mà ngủ.

Thanh nhận ra tiếng của Duy, liền bật dậy rất nhanh, đến mở then cửa. Hai người đàn ông bước nhanh vào trong, nước từ áo tơi của họ chảy ròng ròng xuống nền đất.

Thanh hỏi:

- Sao mấy anh về tối quá vậy?

Cần đáp:

- Đi từ hồi ba giờ chiều mà tới giờ này mới tới. Mấy cái bãi lầy trong rừng dễ sợ. Tụi anh tưởng về không tới nhà.

Thanh nói:

- Cởi áo mưa đi. Để em đi nấu cơm.

Duy nói:

- Anh phải ra ngoài sông một chút.

Đêm dày đặc. Duy chỉ nhá đèn một chút để định hướng rồi cứ đi thầm như thế ra bờ sông. Mặc dù anh đã cột chặt mũ áo tơi sát vào đầu nhưng nước mưa cứ quất vô mặt đau điếng. Cái gió của rừng khuya lạnh ghê gớm và mưa thì phũ phàng, mưa như một ngàn ngọn thác từ trên mây đổ ập xuống vùng rộng bao la. Từ những ngọn đồi, con dốc, cánh rừng cho tới những thung lũng đâu đâu nước cũng ập xuống. Duy cảm thấy như anh đang đi dưới một cái đáy vực mà nước thì từ mọi phía đổ xuống. Anh đột ngột xoay người lại và rọi đèn về phía các dãy trại của mình xem có hề gì không nhưng cái luồng ánh sáng yếu ớt của anh không xuyên thủng được màn mưa và bị cắt ngang như một đoạn kiếm cụt. Duy tắt đèn và rảo bước.

Chợt anh nhận ra cái mảng sáng bạc u ám của dòng sông đã ở ngay trước mắt mình. Duy rọi đèn lên nhưng không thấy gì. Anh hối hả chạy tới. Dòng nước không còn ở dưới sâu nữa, nó dâng lên và rộng thênh thang. Bờ tre đã khuất mất và sông giáp liền với chân trời. Trong thứ ánh sáng mờ đục của mặt sông đưa lại, Duy nhận ra những đống củi khổng lồ của mình vẫn còn đó. Anh ra sát mé nước và đặt tay lên đống củi. Gió thốc mạnh quá. Vạt áo mưa của anh bay phần phật và người anh cứ bị xô dạt đi. Bây giờ thì anh có thể nhìn thấy chung quanh rõ hơn, chính vì thế mà anh hoảng hốt. Cái khối nước khổng lồ cuồn cuộn chảy kia đang dâng lên, dâng lên trông thấy và không còn cách bờ sông bao xa nữa.

Duy hối hả chạy về phía cánh đồng. Anh ngồi thụp xuống và rọi đèn. Nước đã lên tới ngọn lúa và bị gió thổi ngã rạp nhiều mảng lớn.

Duy vụt chạy vô trại, vấp ngã mấy lần vì đường trơn trợt. Áo tơi của anh bị rách toác ở bên nách và nước mưa chảy thấm ướt hết áo. Duy nhá đèn bấm lên để định hướng rồi lại chạy nữa. Chợt anh nghe có tiếng gọi:

- Duy ơi! Anh Duy!

Duy nhận ra giọng của Cần liền lên tiếng đáp và bấm đèn hiệu. Họ gặp nhau giữa cánh đồng, mình mẩy lấm lem bùn đất. Duy hỏi:

- Sao không mang áo mưa?

- Thanh mặc. Tôi bảo cổ đi thăm cái nhà kho. Nước sao anh?

- Nước lớn quá. Ông đi kêu anh em dậy đi. Tôi lại ban chỉ huy một chút.

Duy trao cây đèn bấm cho bạn rồi chạy đi. Khi bước vô hiên nhà đã nghe tiếng xôn xao bên trong. Duy gọi:

- Chánh ơi, Chánh!

- Ai đó?

- Duy đây. Tôi mới ở nông trường về đây. Nước sắp tràn bờ rồi.

Mọi người chạy ra hiên. Hồng hỏi:

- Làm sao cứu lúa đây?

Chánh nói:

- Đem máy bơm ra tháo bớt nước mới được.

Duy cởi phăng chiếc áo rách của mình, ném trên bàn:

- Tôi mới ở ngoài sông vô đây. Nước sắp tràn bờ rồi. Chỉ vài giờ nữa là nó sẽ vỡ bờ, sẽ tràn ngập cánh đồng và cả khu vực chúng ta đang ở.

- Trời ơi, Hồng kêu lên, anh nói gì nghe ghê quá vậy.

Hồng rọi đèn bấm về phía sông nhưng chỉ thấy mưa rơi mù mịt. Mặt chị tái đi. Duy nói tiếp:

- Lúa thì không còn cứu được nữa rồi. Cả củi nữa, có lẽ cũng đã muộn quá, chỉ còn cái kho của mình. Bao nhiêu lương thực, thực phẩm, quần áo, nông cụ, máy móc đều ở đó. Tôi đề nghị toàn liên đội chúng ta tập trung cứu cái kho vì mình không còn bao nhiêu thì giờ nữa.

Chánh ôm mặt. Còn Hồng thì ngớ người ra.

- Trời ơi, sao mà nó lên nhanh quá vậy?

Chánh lầm bầm nói một mình:

- Mưa nguồn. Suốt cả tuần nay.

Và anh bước ra ngoài mưa cùng với các bạn. Lúc ấy Cần đã gọi anh em tập trung trong sân bóng chuyền. Đèn đã thắp sáng khắp các trại. Đoàn người đứng lô nhô và ướt sũng nước. Duy xắn quần lên tới đầu gối và hét to trong mưa mọi người mới nghe được.

- Tất cả chuẩn bị cáng, tập trung dời kho lên đồi.

Nam nữ thanh niên xung phong đứng nối nhau thành hai hàng dài trước cửa kho. Lương thực, hàng hóa được chất lên những cái cáng tre thô sơ, phủ ny lông và cứ hai người một chuyển lên dốc. Một trung đội kiện tướng được đặc trách chuyển vận máy móc. Họ cởi trần, ánh đuốc sáng rực trên những bắp thịt vai láng như thoa mỡ. Những đôi chân trần đen sạm trụ xuống, các đầu ngón chân bám lấy mặt đất trơn trượt. Mưa vẫn trút nước một cách tàn nhẫn và gió thì vẫn cứ hung hăng.

*

 

Trong lúc ấy, ở Nông Trường, Phạm Sơn choàng tỉnh. Bảy Hưng đã biến mất khỏi chiếc giường gỗ nhỏ, chiếc mùng vải cá nhân chưa kịp vén lên. Có lẽ Bảy Hưng đã đi đâu ra khỏi nhà. Phạm Sơn thấy tỉnh ngủ hẳn, ông mò tìm cái hộp quẹt máy và phải bật cả chục lần mới mồi được điếu thuốc.

Ông thắp lại ngọn đèn dầu nhỏ đặt dưới chân giường Bảy Hưng và nhận ra một cuốn sách bị gió ném xuống đất, đang lật từng trang. Phạm Sơn lượm nó lên thấy có dấu chì đỏ gạch dưới một dòng chữ in đậm. Ông tò mò đưa trang sách lại gần ánh đèn nhưng chưa kịp đọc thì ánh sáng đã tắt phụt. Một tiếng sấm lớn rền vang rất lâu trong không gian khiến cho cánh cửa bằng phên tre bật ra và nước mưa bên ngoài tạt vào lạnh buốt. Phạm Sơn nhảy qua một bên tránh rồi lại đứng nép vô vách, tìm cách đóng lại cánh cửa. Cánh tay áo ông ướt sũng nước mưa nhưng cuối cùng ông cũng gài được then cửa cẩn thận.

Ông quờ quạng trong bóng tối tìm cái khăn, lau tay thật khô rồi mới bật quẹt thắp đèn. Ông ngồi chồm hổm, để cây đèn hột vịt vào giữa lòng rồi bật quẹt. Đóm sáng vàng bùng cháy lên in rõ chiếc bóng của ông lung linh trên vách phên tre, chiếc bóng gãy gập và to lớn khác thường.

Phạm Sơn ngồi trầm ngâm hút thuốc rất lâu rồi chợt nhớ đến dòng chữ gạch đỏ lúc nãy liền lật cuốn sách nhỏ ra xem. Đó là một câu nói của Lê-Nin: "Nhiệt tình cách mạng cộng với ngu dốt thành phá hoại". Ngoài lề trang sách thấy Bảy Hưng ghi hai chữ: "chí lý". cũng bằng mực đỏ.

Phạm Sơn gấp sách lại, đứng tần ngần bên ngọn đèn hồi lâu rồi đặt cuốn sách lên bàn. Ông thấy bức chân dung của Lê-Nin in trên bìa sách như đang nhìn ông, cái nhìn nghiêm nghị.

Phạm Sơn thở dài, lặng lẽ đến bên cánh cửa sổ đã đóng kín như muốn mở nó để nhìn ra bên ngoài, nhưng ông không làm thế. Miệng ông lẩm bẩm mấy chữ: "chí lý" "chí lý"… Rồi cứ đi vòng vòng trong căn phòng hẹp.

Bảy Hưng trở vào với cây đèn bão trên tay. Ông mặc áo tơi nhà binh nhưng đầu lại đội nón lá. Thấy Phạm Sơn đang đi bách bộ trong phòng, Bảy Hưng nói:

- Nước sông lớn quá. Rồi ông chặc lưỡi nói tiếp. Kiểu này chắc dưới đó không còn gì hết.

Phạm Sơn thở dài:

- Bậy quá. Không biết dưới đó tụi nó có đối phó kịp thời không.

- Tôi rất tin vào những thằng như thằng Duy, Phạm Sơn à, ông cũng nên tin nó. Nó không phải là kẻ phá hoại đâu. Đó là điều mà lâu nay tôi muốn nói với ông.

Phạm Sơn lặng lẽ ngồi xuống cái ghế nhỏ trong một góc tối, ánh thuốc làm cho gương mặt ông thêm khắc khổ và bất động.

Bảy Hưng nói tiếp:

- Ông muốn làm người tình chung thủy của cách mạng, ông muốn bảo vệ Đảng theo cách của ông, nhưng còn Duy, nó cũng yêu cách mạng, cũng muốn bảo vệ Đảng theo cách của nó. Yêu thế nào, ghét thế nào cho đúng cũng là một vấn đề lớn lắm.

Có lẽ thế. Phạm Sơn nghĩ thầm. Có lẽ không phải chỉ có tình yêu trai gái mà cả tình yêu cách mạng nữa đôi khi nó cũng làm cho người ta mù quáng.

Phạm Sơn hé cánh cửa nhìn ra ngoài đêm nhưng không thấy gì cả, lại bị gió thổi văng điếu thuốc lá xuống đất. Ông cúi xuống lượm điếu thuốc. Bảy Hưng đi lại góc phòng xách cái ấm nước.

Hai người ngồi bên bếp lửa. Phạm Sơn hơ bàn tay của mình lên than hồng cho nóng rồi áp lên vành tai. Bảy Hưng hút thuốc lá liên tục, mặt cứ buồn buồn.

Có tiếng gõ vào phên tre. Bảy Hưng hỏi:

- Quý đó hả?

- Dạ. Không có kho nào bị dột cả.

- Tốt lắm. Bây giờ chú em đi coi lại mấy cái cổng chuồng bò xem đã gài cẩn thận chưa rồi về ngủ tiếp, nhá!

Tiếng chân bên ngoài đi xa dần. Bảy Hưng nói:

- Nước kiểu này không biết mấy cái đầm lầy trong rừng ra sao. Liệu anh qua nổi không?

Phạm Sơn không trả lời, hỏi:

- Mấy giờ rồi?

Bảy Hưng đưa cánh tay ra ngoài ánh lửa để xem giờ:

- Ba giờ rưỡi. Tôi đang lo không biết làm sao ông vượt qua được mấy cái đầm lầy.

Phạm Sơn cứ làm thinh, tiếp tục hơ hai bàn tay lên ngọn lửa và áp lên thái dương.

*

 

Hồng và Chánh, mỗi người cầm một cây đuốc lội lõm bõm trong nước. Chánh hỏi:

- Duy đâu? Duy đâu?

Duy đang chịu một bao bột mì trên vai, nghe gọi nhưng không lên tiếng. Anh cố sức chuyển đến cho hai người khác rồi mới hỏi:

- Chuyện gì đó?

Chánh nói muốn hụt hơi:

- Nước bắt đầu tràn vô.

Duy nói:

- Chị Hồng dẫn chị em vào dọn văn phòng đi. Hồ sơ, giấy tờ tài liệu gom lại hết. Nó sẽ ngập luôn tới mái nhà không chừng. Vụ kho này để bọn con trai tôi làm. Chị kêu chị em chuẩn bị đồ đạc cá nhân lên đồi luôn.

Hồng hấp tấp chạy đi. Chị mặc cái áo măng tô màu đen, tóc ướt rũ rượi. Chánh cũng biến mất trong đêm tối. Duy còn đang ngó quanh quất thì nghe tiếng Chánh la lên:

- Nhanh tay lên, nước tràn bờ rồi!

Nhiều tiếng la hoảng hốt.

- Nước tràn bờ rồi!

- Cố lên, các đồng chí ơi!

- Trong kho hết ny lông rồi.

Duy chạy vô kho. Ở đây xông lên một thứ mùi ẩm mốc khó chịu. Bốn ngọn đèn bão treo bốn góc chiếu ánh sáng leo lét.

Thấy Duy bước vô, một người hỏi:

- Hết ny-lông rồi, làm sao?

Duy ngó quanh quất coi còn lại những gì rồi bảo người thanh niên xung phong:

- Lên trên đồi coi cái nào để trong nhà thì gỡ ny lông đem xuống đây.

Người nọ chạy đi rồi, Duy la lên:

- Coi cái nào không sợ ướt thì cứ chuyển lên đi. Đừng đứng không.

Có tiếng con gái la oai oái:

- Nước, nước!

Nhiều cô bỏ chạy. Họ rọi đèn bấm lên. Nước đã lên tới đám rau muống bên sân bóng chuyền, rập rình như con quái vật câm, lầm lì, đe dọa.

- Chết mẹ! Mấy con gà.

Có người la lớn lên như thế và ở đằng trại nữ đã nghe tiếng xôn xao lội nước. Mọi người giơ cao đuốc lên. Cái chuồng gà đã bị gió thổi tốc hết mái và ngã đổ trong nước. Lát sau nghe tiếng Thanh khóc thút thít và hai tay xách bảy con gà vừa mái vừa trống chết cóng từ lúc nào.

- Thằng Cần đâu?

- Thằng Cần đâu?

Nhiều tiếng cười và tiếng la rộ lên trong đám thanh niên.

- Lại coi người yêu của mày diễn tuồng "Bạch Tuyết và bảy chú gà" nè Cần.

Bọn con trai xúm lại vừa run vừa cười. Ánh đuốc chập chờn trên gương mặt họ. Họ quên cả lạnh, cả mưa, quên cả thảm họa. Họ cười hô hố.

- Thằng Cần đâu?

Nhưng một cô thanh niên xung phong ở đâu đã xấn tới trước mặt họ và hét lên:

- Vô duyên! Con trai gì kỳ. Con gái người ta ướt hết trơn mà đứng coi. Còn cười nhăn cái hàm răng khỉ ra.

Đám đông im bặt rồi lại cười rộ lên:

- Bà chằng! Bà chằng xuất hiện!

Và họ bỏ chạy trở lại nhà kho, ở đó nhịp điệu công việc vẫn khẩn trương không dứt. Mưa nhẹ bớt nhưng nước thì vẫn lên.

Nước rập rềnh lên. Tiếng nó đi rào rào như tằm ăn dâu, bước nó đi mon men, từ từ mà ghê gớm. Nó đi theo cơn gió lạnh buốt, nó trườn lên, đùn lên, từng đợt, từng đợt.

Mưa dứt hẳn.

Nhưng nước đã ngập lên tới mắt cá mọi người và tràn vô nhà kho, xấp xấp ngang bộ ván. Rất may, đồ đạc đã được chuyển đi gần hết.

Những bao gạo cuối cùng cũng được đưa đi. Những bao thóc giống cuối cùng được đưa đi.

Trong trại có tiếng la toáng lên:

- Anh Duy ơi! Nước lên tới nửa chân giường rồi. Tiếng một người nào đó đáp lại:

- Anh Duy hoài! Anh Duy mệt gần chết đây nè.

Lúc ấy Duy đã vào bên trong nhà kho để xem xét lần cuối cùng.

Anh nói vọng ra:

- Xong kho rồi, các đồng chí về trại đi. Chuẩn bị lên đồi.

Trời dần dần sáng. Mọi người nhìn quanh, thấy nước đã trắng xóa khắp nơi. Dòng sông đã biến mất. Cả cánh đồng, đám rau, sân bóng cũng không còn thấy tăm dạng đâu nữa. Mọi người đứng chôn chân trong nước. Tất cả đều hướng về phía bến sông, yên lặng nhìn những đống củi khổng lồ của mình bị nước xô ngã xuống và rã rời ra, loi ngoi, lỏng chỏng, chen lấn nhau, xoay mấy vòng, trồi lên ngụp xuống mấy lần rồi bồng bềnh trôi đi. Hết lớp này đến lớp khác. Những đống củi thi nhau rã rời…

Nước thì dâng cao dần, cao dần ngập quá giường nằm rồi, nhưng không ai còn nghĩ chuyện leo lên đồi nữa. Nước đã ngập lên tới đầu gối họ nhưng họ vẫn đứng chôn chân ở đó, mình trần, lưng mang ba lô, da thịt đã tái đi vì lạnh.

Những người con gái bắt đầu khóc. Tóc họ đã khô se đi, trong cơn gió giật từ ngoài sông đưa lại nhưng mặt họ thì đầm đìa nước mắt.

Duy không biết nói gì trước sự im lặng lạnh lẽo của buổi bình minh ảm đạm.

Củi cứ trôi đi hết lớp này đến lớp khác. Những cây củi tròn, khô nứt nẻ, những cây củi to bằng vòng tay ôm, những cây củi tróc vỏ, những cây củi sần sùi, những cây thẳng như cột nhà, những cây củi đầy gai góc, những cây củi thân thiết yêu dấu như tay như chân bị chặt lìa ra ném xuống một cái bể nước đục ngầu cho sấu ăn, những cây củi cắt ra từ núm ruột của rừng, những cây củi thấm mồ hôi, nước mắt và những giọt máu đỏ… Những cây củi đủ loại đủ cỡ… trôi bồng bềnh bồng bềnh, đen kịt cả dòng nước rồi mất lần, khuất lần, biến lần đi nơi khúc sông nước xoáy. Chúng chìm mất tích, chúng bị lôi tuột xuống chín từng địa ngục và sẽ trồi lên, trôi đi một ngàn dặm trên mặt đại dương… Những cây củi vô tình trôi theo dòng nước mắt của những người con gái…

Cơn gió lốc nghiệt ngã lại thổi thốc tới mạnh đến nỗi làm nổi sóng mặt nước. Mọi người đều phải cúi rạp xuống, chéo hai tay che ngực. Cơn gió này vừa đi qua là cơn gió khác lại ập tới và mỗi lần như thế là mặt nước như rấn lên.

Chánh mang ba lô con cóc, chống một nhánh trúc nhỏ lội nước từ xa đi lại.

- Các đồng chí lên đồi đi. Lẹ lên đi!

Mọi người lục tục lội nước bì bõm. Chánh bảo Cần:

- Ai như Thanh kia, lại phụ cô ấy một tay.

Cần vớt một nhánh trúc và đi lại phía nhà bếp. Thấy Thanh cứ xách bảy con gà lẩn quẩn ở đó, Cần gắt lên:

- Từ hồi nào tới giờ không chịu thay áo khô.

- Có còn cái áo nào khô đâu. Ba lô của em bị rớt xuống nước.

- Rắc rối.

Cần cằn nhằn và cởi phăng cái áo của mình mới thay đưa cho Thanh. Thanh ngó lui ngó tới thấy không có ai chú ý liền đưa mấy con gà chết cho Cần cầm rồi lội ra phía sau một gốc cây thay áo.

Bỗng có tiếng la của nhiều người:

- Nhà sập! Nhà sập!

Cần quay phắt lại vừa lúc nhà kho từ từ đổ xuống. Anh hoảng hốt la lên:

- Duy đâu? Duy mắc kẹt trong nhà kho rồi anh em ơi!

Cần vừa la vừa nhảy như ngựa về phía kho. Mọi người xúm lại rất đông. Nhà kho đã ngã rạp xuống, mái tranh nổi rập rềnh. Anh em ra sức phá mái tranh lặn vào tìm Duy, họ la hét cuống cuồng mặt người nào cũng hoảng hốt, tái mét.

Lúc ấy phía nhà bếp Thanh cũng thay áo xong. Nghe ồn ào, cô định chạy tới coi chuyện gì nhưng bỗng nhiên cô thấy cái nồi nấu cơm của liên đội đang rập rềnh trôi đi. Thanh hoảng quá, vớt lẹ một nhánh củi khô khều cái nồi nhưng nó cứ xoay vòng không chịu vô, Thanh gọi:

- Anh Cần ơi, lại lấy dùm em cái nồi.

Nhưng không ai lên tiếng cả. Thanh đành phải lần bước ra xa thêm một chút. Cái nồi to như một cái nong bị mắc kẹt trong đám lục bình. Thanh lội ra nữa, vừa lội vừa la lên:

- Cái nồi, cái nồi! Anh em ơi!

Nhưng không ai nghe tiếng kêu ấy. Thanh cố lội ra một đoạn nữa. Chị rướn người tới đưa cành cây cố móc vô quai nồi nhưng nó cứ xoay vòng vòng rồi rập rềnh, rập rềnh trôi đi. Thanh bước theo một bước và hụt chân lơ lửng trong vùng nước lạnh buốt.Taychị đã chạm vào được thành nồi nhưng người chị cũng bị cuốn đi. Một nỗi sợ hãi ghê gớm tràn tới. Chị cố vùng vẫy tìm một cái gì để bám víu nhưng đột nhiên có luồng nước xoáy đẩy chị cùng cái nồi ra xa, mất tăm sau lùm tre lúc ấy chỉ còn nhô lên khỏi mặt nước những cái ngọn xanh um không ngớt rung động.

*

 

Trời sáng dần, cơn mưa cũng dịu đi và tạnh hẳn. Phạm Sơn đầu đội mũ tai bèo, mình khoác tấm ny lông đã cũ, đã bị thuốc lá cháy thủng nhiều lỗ, quần thì xắn ống thấp ống cao, chân đi dép râu bốn quai, tay cầm một cây gậy mây to gần bằng cổ tay.

Bảy Hưng tiễn bạn ra tới gần mé rừng và trước khi chia tay ông còn dặn:

- Nếu không qua được mấy cái đầm thì quay lại đây, chớ có liều nghe chưa.

Phạm Sơn bật cười, bắt tay bạn:

- Ông quên tôi là thổ địa của vùng này à. Năm sáu tám tôi chỉ huy một tiểu đội bám vùng này suốt mấy tháng trời. Đánh du kích với tụi Mỹ mười mấy trận. Không có ngõ ngách nào tôi không thuộc lòng.

Phạm Sơn đi rất nhanh, khuất sau những đám lá.

Những cơn mưa làm cho đường rừng khá trơn trợt và nhầy nhụa, nhưng trong suốt cuộc đời chiến đấu của mình Phạm Sơn đã từng trải qua những đoạn đường như thế nên ông không thấy khó chịu. Ông lầm lũi đi, quanh co theo lối mòn, có khi rẽ tắt vào một mô đá tránh sình, có khi phải cắt rừng mà đi để thu ngắn một đoạn đường có quá nhiều lỗ nước.

Nửa giờ sau ông tới một cái đầm lầy và dừng lại vì nước ngập mênh mông biến nó thành một cái hồ rộng. Ở cái đầm này, mọi khi anh em thanh niên xung phong có rải những thân tre già ngang qua đó và đóng cọc để giữ lại nhưng giờ này nước đã ngập lên và ông không còn biết vị trí nó nữa.

Ông quyết định băng xuống thử nhưng ông vừa thọc chân xuống thì đã bị chôn chặt bàn chân xuống sình. Ông bực mình cố sức rút chân lên thì chiếc dép đã tuột mất. Ông mò tìm hồi lâu vẫn không được, làm như ở ngay cái chỗ ông vừa thọc chân xuống có con quái vật đang há miệng sẵn và nuốt mất chiếc dép râu của ông, chiếc dép mà ông rất quý, mà ông đã nguyện sẽ giữ suốt cuộc đời mình để tự nhắc nhở mình nhớ mãi những ngày kháng chiến gian khổ đã qua, nhớ mãi những sự hy sinh, những kỷ niệm thắm thiết với đồng chí. Vậy mà bây giờ ông mò tìm nó suốt cả tiếng đồng hồ vẫn không thấy.

Mất chiếc dép, bàn chân ông trở nên trơ trẽn khó coi. Nước làm cho da chân ông nhăn nheo và tái nhợt đi. Ông thất thỉu đi tìm một nhánh cây thấp leo lên ngồi nghỉ mệt. Ông tháo chiếc dép còn lại ra cầm tay, chiếc dép quá cũ, đế đã mòn, quai đã sờn nhiều chỗ. Những vết sờn ấy chợt làm ông xúc động. Rồi bỗng nhiên từ cái tình cảm trang trọng của nỗi buồn ấy, một cơn giận lạ mặt xông đến làm ông nóng bừng cả người. Ông mắc chiếc dép lên một nhánh cây, nhảy xuống đất. Ông tìm một nhánh củi lớn thọc sâu xuống cái vũng bùn lúc nãy, ông dốc toàn lực ra quấy động, moi móc, cày bới hồi lâu nhưng chiếc dép vẫn mất tăm dưới vũng sình lặng câm tàn nhẫn ấy. Ông mệt lả, lảo đảo bước, hai tay quờ quạng bấu vào những cọng cỏ ngựa nhô lên khỏi mặt nước, để lấy thăng bằng nhưng mấy lần ông bị ngã chúi xuống, ho sặc sụa.

Phạm Sơn tháo chiếc dép còn lại, đi dọc theo mé rừng tìm bẹ chuối khô. Ông cột chiếc dép trước bụng thật chặt, số bẹ chuối còn lại ông bọc hai bàn chân mình rồi tiếp tục đi.

Nhưng không ngờ đầm lầy đã thay đổi nhiều quá. Ông đảo một vòng thật rộng mà vẫn chưa hết nó. Ông lại cắt rừng đi nữa nhưng hễ cứ ló đầu ra trảng là lại gặp nước.

Phạm Sơn mệt toát mồ hôi. Mười giờ hơn, Phạm Sơn uống một ngụm nước trà đựng trong bình tong rồi tiếp tục lên đường, lần này ông cố gắng đi dọc theo bờ nước và rất ngạc nhiên khi thấy càng xuống dưới thấp thì mặt nước càng rộng ra mênh mông và cảnh vật xung quanh hoàn toàn đổi khác khiến nhiều khi ông không còn biết mình đang đứng ở đâu và hoàn toàn không định hướng được.

Nước bây giờ tràn ngập mênh mông cả, cây cối bị ngã rạp xuống, rác rưởi, cành củi khô, lục bình, xác sinh vật… bị cuốn từ trên nguồn và suốt đoạn đường dài con nước đi qua đã kéo hết về tấp vào khu rừng này khiến cho cảnh vật trở nên hoàn toàn khác lạ, tiêu điều không kể siết.

Phạm Sơn thấy mệt và đói. Ông kiếm một cây lớn trong rừng leo lên, quan sát chung quanh. Gần ba giờ chiều, lẽ nào đường lại xa đến như vậy. Đúng là mình đã lạc đường rồi. Phạm Sơn nhìn quanh vẫn không định được hướng. Bỗng ông nhận ra ở mé rừng có một vật gì tròn tròn như cái thúng lớn bị đánh giạt vô rập rình nơi đó.

Phạm Sơn tụt xuống đất và vẹt gai gốc tiến lại gần. Một cái nồi – Phạm Sơn đứng sững lại – đúng là cái nồi của liên đội mình rồi. Như thế nghĩa là sao?

Phạm Sơn rút con dao găm đeo ở thắt lưng ra cắt những sợi dây leo chằng chịt trước mặt để đi tới.

Và chợt ông lạnh toát người đi khi nhận ra sau một bụi rậm gần đó, thấp thoáng một cánh tay người.

« Lùi
Tiến »