Tiếng Thét Dưới Băng

Tiếng Thét Dưới Băng

Lượt đọc: 845 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PETER

“Bạn không biết ai là bạn, ai là thù cho đến khi lớp băng dưới chân bạn vỡ ra.”

NGẠN NGỮ ESQUIMO

☆ ☆ ☆

Tôi đang đứng dưới màn mưa tuyết, đằng trước mộ mẹ thì nhận được cuộc gọi. Bia mộ rất đơn giản, bằng đá granit đẽo gọt vụng về, và cao gần đến đầu gối tôi. Mẹ tôi và tôi, chúng tôi đang suy nghĩ về những khó khăn của việc hành nghề cảnh sát trong một thành phố nơi mọi người chỉ còn quan tâm đến chính mình. Và, có lẽ còn quan trọng hơn thế: chúng tôi suy nghĩ đến những khó khăn của việc làm người trong một thành phố như thế, trong thời buổi hiện nay.

Tôi giậm chân để dốc tuyết đã tan ra khỏi đôi giày thể thao đang đi, rồi xoay lưng rời khỏi ngôi mộ. Tôi thấy có vẻ bất lịch sự nếu nói chuyện điện thoại bên cạnh phần mộ mẹ mình. Trước mặt tôi, khung cảnh nghĩa trang sinh thái Skogskyrkogarden trải ra nhấp nhô như sóng gợn. Những vệt sương mù bảng lảng giữa các ngọn thông, những thân cây sẫm màu nhô lên khỏi mặt đất phủ tuyết trông như những dấu chấm cảm, nhấn mạnh thêm tính chất phù du của cuộc sống. Cây cối nhỏ giọt, những tấm bia mộ nhỏ giọt. Tuyết tan chảy ròng ròng khắp nơi. Thậm chí nó còn len lỏi mở một con đường trong đôi giày vải mỏng của tôi, giữa các ngón chân tôi, như để nhắc tôi nhớ rằng tôi phải mua cho mình một đôi bốt mùa đông, thứ mà tôi rất cần nhưng lại chưa cho phép mình có được. Xa hơn một chút, tôi nhìn thấy những bóng người lờ mờ đang đi sâu vào trong rừng thông. Có lẽ họ ở đó để treo đèn lồng hoặc trải lá thông.

Sắp đến Giáng sinh rồi.

Tôi đi vài bước về phía lối đi được cào tuyết cẩn thận và đưa mắt nhìn vào màn hình điện thoại, mặc dù đã biết rõ người gọi là ai. Cảm giác trong ngực tôi không thể nhầm lẫn. Cái khoảng trống này trong dạ dày, những phập phồng hồi hộp này đã quá quen thuộc với tôi rồi.

Trước khi nghe máy, tôi quay nhìn lần cuối về phía ngôi mộ, đưa tay phác một cử chỉ vụng về và lẩm bẩm hứa là con sẽ quay trở lại. Điều này hiển nhiên là vô ích: mẹ biết rằng tôi luôn quay trở lại.

Con đường Nynäsvägen trải ra trước mắt tôi, tối và loáng nước, khi tôi lái xe về phía trung tâm thành phố. Những bóng đèn hậu xe hơi lấp lánh trên mặt đường trước mặt tôi. Chỉ đường cho tôi. Những đống tuyết lớn bẩn thỉu ngập ngụa bên vệ đường, và, dọc theo tuyến đường nối chạy về phía Stockholm, hiện lên một tòa nhà thấp và rập khuôn khiến cảnh tượng càng trở nên trầm uất. Vài ngôi sao Giáng sinh thắp sáng các ô cửa sổ, chẳng khác nào những ánh đuốc giữa trời đêm. Tuyết bắt đầu rơi trở lại. Một thứ cháo đặc chảy nước và dính dớp đậu lên những cần gạt nước và xóa nhòa các đường nét của cảnh vật. Mọi thứ đều trở nên dịu dàng hơn. Chỉ còn nghe thấy âm thanh của những cái cần gạt nước hòa lẫn với tiếng ầm ì khe khẽ của động cơ.

Một vụ án mạng.

Lại một vụ án mạng.

Cách đây đã lâu, khi tôi còn là một cảnh sát trẻ tuổi, vừa mới được bổ vào bộ phận cảnh sát phụ trách án mạng, thông báo về một vụ giết người luôn gợi lên trong tôi một thứ gì đó giống như niềm vui. Cái chết đồng nghĩa với một bí ẩn cần giải đáp, cần tháo gỡ như một cuộn len bị rối. Bởi vì ta luôn có thể làm sáng tỏ, làm minh bạch một vụ việc. Chỉ cần có nghị lực, lòng kiên trì và biết cách rút những sợi chỉ thích hợp vào thời điểm phù hợp. Thực tế không hề khác với một mảnh vải được dệt nên từ những sợi chỉ ấy.

Tóm lại: ta có thể chế ngự nó, sắp đặt nó.

Bây giờ, tôi không còn tin chắc như thế nữa. Có thể tôi đã đánh mất sự quan tâm mà tôi từng dành cho tấm vải đó, đánh mất cái linh cảm từng dẫn dắt tôi đến với những sợi chỉ mà tôi phải rút. Theo thời gian, ý tưởng về cái chết cũng nhuốm thêm một chiều kích khác. Mẹ tôi, người đang ngủ trong lớp đất ướt nhoẹt ở nghĩa trang Skogskyrkogården. Annika, chị gái tôi, người đang yên nghỉ cũng trong nghĩa trang ấy, chỉ cách mẹ tôi vài mét. Và cha tôi, người đang bị rượu gặm nhấm ở Costa Del Sol và hẳn là sẽ sớm nhập hội với họ. Những tội ác xuất hiện trên đường đi của tôi có vẻ không còn quan trọng với tôi như trước nữa. Đương nhiên, tôi có thể giúp khám phá những điều đã xảy ra. Gán những từ ngữ cho một hành vi không thể hiểu nổi - một người nào đó đã bị sát hại - và miêu tả những sự kiện đã dẫn đến vụ án mạng đó. Có thể còn là tìm ra thủ phạm, và trong trường hợp tốt đẹp nhất, làm sao đó để kẻ này bị truy tố. Nhưng người chết thì vẫn chết, không phải thế sao? Lúc này, tôi khó mà tự nhủ được rằng những việc tôi đang làm có một ý nghĩa gì đó.

Khi tôi đến Roslagstull, màn đêm bắt đầu buông, và tôi nhận thấy rằng cả ngày hôm nay không hề có ban ngày thực sự. Rằng ngày hôm nay đã trôi qua một cách thầm lặng, trong màn sương mù xám xịt tháng Mười hai, chẳng khác gì ngày hôm qua và những ngày trước đó. Giao thông dày đặc hơn khi tôi ra khỏi đường E18 để đi về phía Bắc. Tôi băng qua một vùng công trường và những ổ gà khiến chiếc xe rung lắc và làm cây thông nhỏ gắn vào kính chiếu hậu nảy lên bần bật một cách đáng ngại.

Khi sắp đi ngang trường đại học, tôi nhận được một cuộc điện thoại của Manfred. Anh giải thích với tôi rằng đó là một mớ lộn xộn quái quỷ, rằng vụ việc có dính dáng đến một yếu nhân, và tốt nhất là tôi nên khẩn trương lên và quay về ngay lập tức. Tôi vừa nhìn chòng chọc vào cảnh hoàng hôn xám xịt đậm nét công nghiệp, vừa trả lời rằng anh phải kiên nhẫn chờ đợi thôi, rằng mặt đường thủng lỗ chẳng khác gì một miếng pho mát gruyere và rằng tôi có nguy cơ bị tụ máu ở hai hòn cà nếu tăng tốc thêm.

Manfred phá lên cười, điệu cười quen thuộc giống như một tiếng cằn nhằn, có phần khiến người ta nghĩ đến tiếng kêu của một con lợn. Không, tôi nói thế là không công bằng: Manfred bị béo phì và có thể hình dạng của anh đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của tôi về tiếng cười của anh, khiến tôi nghĩ đến tiếng ủn ỉn của một loài động vật. Trên thực tế, có lẽ anh có tiếng cười giống hệt tôi. Có lẽ tất cả chúng ta cùng có một tiếng cười giống hệt nhau.

Manfred và tôi làm việc cùng nhau từ hơn mười năm nay. Theo năm tháng, chúng tôi đã kề vai sát cánh nhau trong phòng giải phẫu pháp y, đã hỏi han các nhân chứng và đã gặp gỡ những người cha người mẹ tuyệt vọng. Ngày qua ngày, chúng tôi đã bắt giữ những tên tội phạm và khiến thế giới an toàn hơn. An toàn hơn… có thực thế chăng? Tất cả những người đang ngủ trong những phòng lạnh thuộc Viện pháp y Solna vẫn chết và sẽ mãi là người chết. Hết thế kỷ này đến thế kỷ khác. Chúng tôi chẳng là gì khác ngoài một chiếc xe chổi trong xã hội, chúng tôi nối lại những sợi chỉ bị tuột khi tấm vải rách ra và điều không thể tưởng tượng nổi xảy đến.

Janet nói rằng tôi bị trầm cảm, nhưng tôi không tin cô ta. Ngoài ra, tôi không tin vào bệnh trầm cảm. Chính xác là như thế: tôi không tin điều đó. Chỉ đơn giản là tôi ý thức được các điều kiện sinh tồn của chính mình, và lần đầu tiên, tôi nhìn thẳng vào mọi sự. Janet liền giải thích rằng đó chính là một phần của các triệu chứng: người bị trầm cảm không có khả năng nhìn nhận đúng đắn về cuộc sống của chính mình, cuộc sống mà anh ta cho là thảm hại. Tôi thường trả lời cô ta rằng trầm cảm có lẽ là phát kiến béo bở nhất cho ngành công nghiệp dược và rằng tôi không có thời gian cũng không có điều kiện để góp phần làm giàu cho những công ty vốn đã nứt đố đổ vách rồi. Dù thế nào, mỗi lần Janet tìm cách quan tâm đến tình trạng sức khỏe tâm thần của tôi, tôi đều gác máy. Xét cho cùng, đã mười lăm năm nay chúng tôi không còn ở cùng nhau - không có lý do gì để nhai đi nhai lại những chuyện này với cô ta. Việc cô ta là mẹ đứa con duy nhất của tôi cũng không làm tình cảnh thay đổi chút nào.

Vả lại, lẽ ra Albin không bao giờ nên đến với thế giới này. Không phải bởi vì thằng bé có điều gì đó không ổn - nó giống với tất cả các thiếu niên khác: nhiều mụn, hẳn là bị ám ảnh về tình dục và nghiện trò chơi điện tử đến phát bệnh - mà bởi vì hồi đó tôi không thực sự sẵn sàng để làm cha. Khi sa vào những suy nghĩ đen tối, điều xảy ra ngày càng thường xuyên hơn, tôi tự nhủ rằng cô ta đã cố tình làm việc đó. Rằng cô ta đã ném viên thuốc tránh thai vào thùng rác rồi có bầu để trả thù cho vụ đám cưới. Có thể là như thế lắm. Tôi sẽ không bao giờ biết được điều đó, mà nó cũng không còn quan trọng nữa. Albin thực sự có tồn tại, và thằng bé có một cuộc sống yên bình với mẹ nó. Thi thoảng hai cha con gặp nhau - dịp Giáng sinh, dịp lễ Thánh Jean và sinh nhật thằng bé. Tôi nghĩ như thế là tốt hơn cho nó. Ý tôi là việc chúng tôi chỉ duy trì một mối quan hệ rời rạc. Nếu không, hẳn là cả thằng bé cũng có nguy cơ cảm thấy thất vọng.

Đôi khi tôi tự nhủ có lẽ tôi nên có một bức ảnh chân dung thẳng bé trong ví, giống như những bậc cha mẹ (thực thụ) khác. Một bức ảnh thẻ học sinh thảm hại, chụp đằng trước một tấm biển nâu xỉn trong một phòng tập thể dục, do một tay thợ ảnh mà những ước mơ cũng không đưa đi được quá trường trung học Fastra. Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng có làm thế cũng chẳng đánh lừa được bất kỳ ai, đặc biệt là tôi. Làm cha mẹ nghĩa là ta phải nỗ lực. Đó là một quyền lợi gắn liền với những nghĩa vụ: những đêm thức trông con, những lần thay tã và tất cả những thứ khác. Chuyện đó chẳng liên quan gì đến di truyền, với những con tinh trùng mà tôi đã bất ngờ tặng cho Janet mười lăm năm trước, để cô có thể thực hiện giấc mơ làm mẹ của mình.

Tôi nhìn thấy ngôi nhà từ xa. Không phải vì cái cấu trúc màu trắng hình khối hộp ấy nổi bật lên giữa khu phố toàn những căn nhà riêng xa hoa này, mà vì xung quanh nó toàn là xe cảnh sát. Những bóng đèn hiệu tỏa ánh sáng xanh trên mặt tuyết, và chiếc xe hòm màu trắng của bộ phận cảnh sát kỹ thuật và khoa học, nổi bật giữa cả nghìn chiếc xe, được đậu cẩn thận cách đó một chút. Tôi đỗ chiếc xe của mình dưới chân dốc rồi leo bộ lên đến tận ngôi biệt thự. Tôi chào những người mặc đồng phục, giơ tấm thẻ cảnh sát rồi chui người bên dưới dải băng an ninh màu xanh trắng đang khe khẽ đung đưa theo gió.

Manfred Olsson đứng đằng trước cửa ra vào. Thân hình đồ sộ của anh gần như che khuất toàn bộ cánh cửa khi anh giơ một bàn tay lên để chào tôi. Anh mặc một chiếc áo vét bằng vải tuýt, và một chiếc khăn quàng nhỏ bằng lụa màu hồng thò ra từ túi áo ngực. Chiếc ống quần to tướng bằng vải len của anh được nhét cẩn thận vào trong đôi bọc giày màu xanh bệnh viện.

- Mẹ kiếp, Lindgren! Tôi cứ tưởng cậu không bao giờ đến chứ! Tôi bắt gặp ánh mắt anh. Đôi mắt bé xíu tinh nghịch của anh, giống như hai hạt tiêu, thụt sâu trên khuôn mặt đỏ au. Mái tóc mỏng màu vàng hung chải sáp bóng mượt gợi nhớ đến các diễn viên những năm 1950. Trông anh không có dáng dấp của một cảnh sát, mà giống như một chủ cửa hàng đồ cổ, một nhà sử học hoặc một người quản lý rượu trong nhà hàng. Dù sao cũng không giống một tay cớm - và anh ý thức rất rõ điều đó. Rõ đến nỗi tôi ngờ rằng anh thích thú với việc đó. Hẳn anh phải cảm thấy vô cùng thỏa mãn khi phóng đại phong cách ăn mặc lập dị của mình để khiêu khích tất cả những viên chức đang tỏ ra là đạo mạo kia.

- Tôi đã nói với anh rồi…

- Phải, là vì tắc đường! Và nhiều lý do khác nữa! Khi mà đã vớ được một bộ phim con heo cuốn hút, thì khó mà dứt ra được lắm, tôi biết thừa.

Ngôn ngữ thô lỗ của Manfred đối lập hoàn toàn với phong cách ăn mặc chải chuốt và tinh tế của anh. Anh đưa cho tôi một đôi bọc giày và một đôi găng tay.

- Được rồi, anh nói tiếp. Một cuộc tàn sát thực thụ… Cậu lại mà xem.

Tôi xỏ chân và tay vào hai thứ đồ bảo hộ ấy trước khi xâm nhập ngôi nhà bằng cách bước đi trên những tấm lát bằng nhựa trong suốt mà các kỹ thuật viên đã trải ra, có vẻ là một cách ngẫu nhiên, ở phòng ngoài. Mùi máu, dù đã quen thuộc với tôi, vẫn nồng nặc và ghê tởm đến mức tôi muốn lùi lại. Những phập phồng trong ngực tôi càng mạnh hơn nữa. Bất chấp tất cả những hiện trường vụ án mà tôi từng xem xét, tất cả những thi thể mà tôi từng nhìn thấy, có điều gì đó trong cảnh gần gụi với cái chết đột ngột và tàn nhẫn vẫn khiến tôi nổi da gà. Có lẽ là vì tôi biết chuyện đó diễn ra nhanh chóng đến mức nào. Có lẽ là vì tôi biết rằng một cuộc đời có thể lịm tắt chỉ trong nháy mắt. Đôi khi là ngược lại, tất nhiên. Một hiện trường vụ án hoặc một cái xác có thể là bằng chứng cho một cuộc tranh đấu kéo dài và không thể chịu đựng chống lại cái chết.

Tôi khẽ gật đầu với các kỹ thuật viên mặc đồ bảo hộ màu trắng rồi đưa mắt nhìn quanh phòng ngoài. Nơi này rõ ràng là chẳng mang dấu ấn gì của chủ nhân, gần như vô giới tính. Hoặc có thể là đậm chất nam tính, hai thứ đó cũng gần giống nhau, đúng không? Ít ra là trong những gì liên quan đến cách bài trí. Những bức tường màu trắng, một mặt sàn màu xám. Không có bất cứ đồ đạc cá nhân nào mà ta thường thấy ở phòng ngoài của một ngôi nhà: không quần áo, không túi xách, không giày dép. Tôi đặt chân lên tấm lát tiếp theo và nhìn thấy một phòng bếp. Những đồ đạc sơn mài màu đen sáng loáng. Chiếc bàn hình bầu dục được bao quanh bởi những chiếc ghế mà tôi nhớ là đã từng nhìn thấy trong một cuốn tạp chí về trang trí nội thất. Những con dao xếp hàng một trên tường. Tôi nhận thấy là không con nào bị thiếu.

Manfred đặt một bàn tay lên cánh tay tôi.

- Lối này, đi theo tôi.

Tôi tiếp tục hành trình của mình trong hành lang dẫn vào các phòng, trên những tấm lát nhựa nối tiếp nhau, đi qua một kỹ thuật viên mang theo một máy ảnh và một cuốn sổ ghi chép. Một vũng máu lớn loang ra bên dưới những tấm lát trong suốt. Không, không phải là một vũng, một ao thì đúng hơn. Một cái ao máu màu đỏ và dính dớp dường như đã phủ kín bề mặt toàn bộ phần này của hành lang, từ bức tường này đến bức tường kia, và tiếp tục đến tận cầu thang dẫn xuống tầng hầm. Một loạt những vết chân kích cỡ khác nhau dẫn từ vũng máu đến cửa ra vào.

- Nhiều máu thật đấy, Manfred lẩm bẩm rồi tiếp tục bước đi nhanh nhẹn đến không ngờ, mặc dù những tấm lát bằng nhựa chao đảo một cách nguy hiểm dưới sức nặng của anh.

Một tấm biển đánh dấu có ghi số được đặt gần một đống quần áo màu đỏ ối. Tôi nhìn thấy một cẳng chân và một chiếc bốt màu đen cao gót, rồi phần thân dưới của một người phụ nữ. Cô ta nằm ngửa, đầu ngoảnh về phía đối diện với tôi. Phải mất vài giây tôi mới hiểu ra rằng cô ta đã bị cắt cổ. Thứ mà tôi tưởng là quần áo trên thực tế chính là một cái đầu nằm lăn lóc trên sàn. Hay chính xác hơn, là một cái đầu được đặt trên sàn, như thể nó đã mọc lên ở đó.

Giống một cây nấm.

Manfred thở hổn hển rồi ngồi xổm xuống. Tôi cúi người phía sau anh, thầm ghi nhớ bức tranh chết chóc này. Tôi để cho mình thấm thía - điều này rất quan trọng. Phản ứng tự nhiên có lẽ sẽ là quay mặt đi, không nhìn loại cảnh tượng khủng khiếp này, nhưng với tư cách là một điều tra viên chuyên ngành án mạng, từ lâu tôi đã học được cách loại bỏ phản xạ này.

Khuôn mặt và mái tóc nâu của người phụ nữ nhuốm đầy máu. Nếu phải đưa ra một giả thuyết, một việc khó khăn nếu xét đến tình trạng của thi thể, có lẽ tôi sẽ nói rằng cô ta chừng hai mươi lăm tuổi. Thân hình cô ta cũng vấy đầy máu, và có những tổn thương sâu ở hai cánh tay. Cô ta mặc một chiếc váy bó màu đen bên ngoài đôi tất da màu đen cùng một chiếc áo len màu xám. Bên dưới cô ta, tôi đoán là một áo khoác phao, cả nó cũng sũng máu.

- Ôi mẹ kiếp!

Manfred gật đầu rồi xoa bộ râu ba ngày chưa cạo.

- Cô ta đã bị cắt cổ.

Tôi gật đầu. Còn nói gì thêm được nữa? Chuyện đó đã rõ rành rành. Phải có một sức khỏe đáng kể, hoặc ít ra cũng cần sự kiên trì, để có thể tách cái đầu và cột sống ra khỏi cơ thể. Điều này cung cấp cho chúng tôi một số thông tin về thủ phạm. Chính xác là những thông tin gì thì tôi không biết, nhưng kẻ sát nhân rõ ràng không thuộc loại người yếu ớt. Hắn phải khá lực lưỡng. Hoặc được thôi thúc bởi một động cơ mãnh liệt.

- Ta có biết cô ta là ai không?

Manfred lắc đầu.

- Không. Ngược lại, chúng ta biết ai đang sống ở đây.

- Ai thế?

- Jesper Orre.

Cái tên này quen thuộc đối với tôi, giống như tên của một cựu vận động viên hoặc một chính trị gia từng có thời nổi tiếng. Nó gợi cho tôi điều gì đó, nhưng tôi không còn nhớ từng nghe thấy nó ở đâu.

- Jesper Orre?

- Đúng thế, Jesper Orre . Tổng giám đốc của Clothes&More.

Đột nhiên, mọi thứ đều sáng rõ. Vị tổng giám đốc gây nhiều tranh cãi của C&M, chuỗi cửa hàng đồ may sẵn có mức tăng trưởng đến chóng mặt ở xứ sở Scandinave. Người đàn ông mà giới truyền thông muốn thù ghét. Vì những phương pháp quản lý, những vụ tình ái và những tuyên bố vừa thường xuyên vừa giả cầy về mặt chính trị của anh ta.

Manfred thở ra một hơi dài rồi đứng dậy. Tôi cũng làm theo anh.

- Thế còn hung khí? Tôi hỏi.

Anh giơ ngón tay chỉ về phía cuối hành lang. Ở đó, gần chiếc cầu thang dẫn xuống tầng hầm, tôi thấy một con dao lớn, hoặc có lẽ là một cây mã tấu. Tôi nhìn không rõ. Một tấm biển nhỏ ghi số 5 đã được cẩn thận đặt bên cạnh.

- Jesper Orre, chúng ta tóm anh ta chưa?

- Chưa. Có vẻ không ai biết anh ta đang ở đâu.

- Chúng ta có thông tin nào khác không?

- Cái xác đã được một người hàng xóm phát hiện ra, bà ta đi qua và nhận thấy cánh cửa để mở. Chúng tôi đã hỏi thông tin bà ta. Bà ta đang ở bệnh viện Karolinska, rõ ràng là cú sốc đã gây ra một vấn đề về tim mạch. Bà ta không nhìn thấy bất cứ thứ gì khác có thể hữu ích với chúng ta. Đáng buồn là bà ta đã đi đi lại lại trong hành lang, để xem các kỹ thuật viên có tìm ra được những dấu chân có thể khai thác không. Cũng có máu ở trên mặt tuyết, bên ngoài nhà. Hẳn là thủ phạm đã muốn rửa ráy sau khi gây án.

Tôi nhìn xung quanh. Bên ngoài cánh cửa ra vào, mặt đất bị vấy bẩn bởi những dấu vết màu đỏ lộn xộn. Trên những bức tường, có những vệt máu văng tung tóe cùng những vết bàn tay vấy máu. Cảnh tượng gợi nhắc đến một bức vẽ của Jackson Pollock: cứ như thể có ai đó đã đổ sơn đỏ xuống sàn, lăn lộn trong đó rồi làm vấy ra khắp nơi.

- Có vẻ như trước khi án mạng xảy ra, đã có một cuộc ẩu đả thực thụ, Manfred nói tiếp. Nạn nhân có nhiều dấu vết trên bàn tay và hai cánh tay. Theo báo cáo pháp y sơ bộ, có lẽ cô ta chết trong khoảng thời gian từ mười lăm đến mười tám giờ hôm qua. Cô ta trạc hai mươi lăm tuổi, và nguyên nhân tử vong có vẻ là vô số vết dao đâm ở vùng cổ dẫn đến việc… mà thôi, cậu cũng tự nhìn thấy rồi đấy.

Manfred im lặng.

- Thế còn cái đầu? Làm sao mà nó lại ở vị trí ấy, dựng thẳng lên như thế? Có thể là một điều ngẫu nhiên được chăng?

- Các bác sĩ pháp y và các kỹ thuật viên ngả theo hướng cho rằng tên sát nhân đã để nó như thế.

- Quả là biến thái.

Manfred gật đầu, nhìn tôi chằm chằm bằng hai con mắt nhỏ tí màu hạt dẻ, rồi anh hạ giọng, như thể không muốn những người khác trong phòng nghe thấy - tôi tự hỏi anh làm thế thì có ích gì. Những người duy nhất còn ở lại trong phòng là các kỹ thuật viên thuộc bộ phận cảnh sát khoa học.

- Nói xem, cậu không thấy cảnh này giống với…

- Đã mười năm rồi, Manfred a.

- Nhưng dù sao cũng vẫn giống mà.

Tôi gật đầu. Không thể phủ nhận những nét tương đồng giữa cảnh tượng này với vụ sát hại Södermalm mười năm trước, vụ án mà chúng tôi vẫn chưa thể làm sáng tỏ dù đã tiến hành một trong những vụ điều tra lâu dài nhất trong lịch sử ngành hình sự Thụy Điển.

- Dù sao đi nữa, cũng không có bất kỳ lý do gì để nghĩ rằng… Manfred xua tay.

- Không đâu, tôi biết mà. Chắc chắn là cậu nói đúng.

- Thế cái gã sống ở đây, gã Orre ấy, chúng ta biết gì về anh ta?

- Không có thêm điều gì đáng kể so với những gì được viết trên báo chí. Nhưng Sanchez đang lo việc đó rồi. Cô ấy đã hứa là sẽ thông tin lại với chúng ta tối nay.

- Thế báo chí nói gì?

- À thì, toàn những chuyện ngồi lê đôi mách quen thuộc thôi. Có vẻ người ta coi anh ta là một kẻ buôn nô lệ da đen. Nghiệp đoàn ghét anh ta, và công ty của anh ta đã nhiều lần phải cầu viện đến hội đồng hòa giải lao động. Có vẻ Orre còn là một kẻ tán gái đình đám nữa. Anh ta từng chinh phục cả đống phụ nữ.

- Anh ta không kết hôn sao? Cũng không có con?

- Không, anh ta sống một mình ở đây.

Tôi dò xét hành lang, đưa mắt nhìn một lượt quanh căn bếp rộng mênh mông.

- Có thực sự cần một ngôi nhà to đến thế này khi ta chỉ sống có một mình không?

Manfred nhún vai.

- Có cần không… tôi không biết. Bà hàng xóm, chính là bà già vừa được đưa đi viện ấy, đã nói rằng có nhiều phụ nữ ghé qua đây, họ đi rồi lại đến. Nhưng cuối cùng bà ấy cũng không để ý đến họ nữa.

Chúng tôi ra khỏi căn biệt thự, cởi lớp bọc giày và tháo găng tay. Ở bên cạnh ngôi nhà, cách chừng chục mét, có thứ gì đó giống như một căn nhà kho bị cháy, một nửa vùi trong tuyết.

Manfred châm một điếu thuốc, húng hắng họ rồi quay sang phía tôi.

- À, tôi quên không nói với cậu, ga ra của anh ta đã bị cháy ba tuần trước. Bên bảo hiểm đang làm rõ việc đó.

Tôi ngắm nghía những thanh xà cháy đen còn nhô lên khỏi mặt đất và nhớ đến những cây thông trong nghĩa trang sinh thái. Cũng những hình dạng đen đúa đó nổi bật lên trên lớp tuyết, khiến người ta nghĩ đến tính chất phù du của cuộc sống cùng cảm giác lo lắng về cái chết.

Trong lúc lái xe về thành phố, tôi lại nghĩ đến Janet. Có điều gì đó trong những vụ án mạng nghiêm trọng nhất, gắn với những nỗi kinh hoàng khủng khiếp nhất, luôn khiến tôi nghĩ đến cô ta. Tôi hình dung rằng đó là vì Janet khiến tôi bất ổn, giống hệt như những vụ án mạng này. Hoặc có thể là vì trong tiềm thức, trong bản năng nguyên thủy của chính mình, đôi khi tôi mong ước rằng cô ta chết đi, giống như người phụ nữ trong căn nhà màu trắng này. Đương nhiên, tôi không thực sự muốn giết cô ta, cô ta vẫn là mẹ của Albin, nhưng cảm giác ấy vẫn luôn ở đó, tôi chẳng thể làm gì khác được.

Cuộc sống của tôi từng đơn giản biết bao trước khi chúng tôi gặp nhau.

Hồi đó, Janet làm việc tại một trong những quán cà phê gần trụ sở cảnh sát ở Kungsholmen. Chúng tôi đã hình thành thói quen chào nhau mỗi khi tôi bước vào quán. Đôi lần, khi không có quá đông người, cô ta ngồi với tôi vài phút. Cô ta mời tôi một cốc cà phê, rồi chúng tôi trò chuyện đôi chút. Cô ta có mái tóc nhuộm phai màu cắt ngắn theo phong cách punk và mấy chiếc răng khểnh. Như thế có lẽ là quyến rũ, có lẽ là hơi đẹp mắt, tôi không rõ nữa, nhưng nó thu hút ánh mắt ta, cho phép ta có thứ mà nhìn chăm chú. Với lại, bộ ngực cô ta mới tuyệt làm sao! Tất nhiên, tôi từng có vài bạn gái trước cô ta. Nhiều bạn gái là đằng khác, nhưng không có mối quan hệ nào nghiêm túc. Các cô nàng đến rồi đi, không gây nhiều ấn tượng với tôi. Tôi hình dung rằng tôi cũng không gây ấn tượng gì đáng kể trong cuộc đời của họ.

Janet thì khác. Cô ta bướng bỉnh, phải nói là cứng đầu cứng cổ. Tôi tin rằng chúng tôi mới ba bốn lần đi ăn nhà hàng rồi kết thúc bằng việc lên giường cũng với số lần tương tự thì cô ta đã bắt đầu quấy rầy tôi để chúng tôi sống chung với nhau. Tôi đã từ chối, tất nhiên. Tôi không có nhu cầu sống với Janet. Những bài diễn văn tràng giang đại hải của cô ta về đủ mọi chuyện đã bắt đầu khiến tôi cảm thấy khó chịu. Tôi bắt gặp mình thầm cầu nguyện để cô ta im miệng, với tần suất ngày càng thường xuyên hơn. Tuy nhiên, đôi lúc, khi cô ta khỏa thân ngủ trên chiếc giường quá chật chội của tôi, tôi lại thấy cô ta xinh đẹp đến khó tin. Sự bình thản và im lặng hợp với cô ta hơn nhiều, so với những bài ba hoa chích chòe liên tu bất tận kia. Giá như cô ta có thể làm như thế suốt. Nhưng đó là một mong muốn phi lý. Ta không thể đòi hỏi bạn gái mình vừa khỏa thân lại vừa im lặng.

Dù sao thì cũng không phải là toàn bộ thời gian.

Ban đầu, những bài diễn văn của cô ta chủ yếu liên quan đến những chuyện tầm phào, chẳng hạn như đi nghỉ. Thỉnh thoảng, sau giờ làm, Janet về nhà với một túi xách đầy những cuốn catalogue du lịch và dành toàn bộ buổi tối để suy nghĩ về từng điểm đến, cân nhắc hơn thiệt. Mallorca hay Ibiza. Quần đảo Canary hay Gambia. Đảo Rhode hay đảo Síp. Thời tiết, các món đặc sản, mua sắm, cô ta so sánh mọi thứ.

Rốt cuộc, chúng tôi cũng đi nghỉ với nhau, đương nhiên, và chuyện đó cũng không có gì là khó chịu. Không có nhiều chuyện để làm trong cái ngôi làng nhỏ trên bờ biển phía Đông Mallorca và Janet gần như mặc bikini cả tuần, cô ta đọc Những đứa trẻ của Trái đất [1] . Cô ta cũng im lặng. Và gần như khỏa thân.

Thế rồi còn có cả tình dục.

Về mặt này thì mọi chuyện đều rất tuyệt, không thể phủ nhận điều đó. Có lẽ là toàn bộ số rượu vang thường và vang cam mà chúng tôi uống dưới ánh mặt trời đã gây ra một cú hích. Cô ta như một con thú, không chút kiềm giữ, đồng thời cũng thật dễ tổn thương. Đôi khi tôi bắt gặp mình nghĩ rằng cách hành xử của Janet trên giường có chút gì đó nam tính. Nỗi khao khát đó, cái ham muốn sốt sắng đòi hỏi được thỏa mãn ngay lập tức và ích kỷ đến mức đáng ngạc nhiên đó. Cô ta giành lấy thứ mình muốn, và vào thời điểm đó, chính tôi là thứ mà cô ta muốn có. Thân hình tôi. Và có lẽ là một hoặc hai lần, trong cơn say đắm nhất thời, tôi đã nghiêm túc nghĩ đến một cuộc sống với cô ta. Thậm chí có lẽ tôi đã nói với cô ta điều đó. Tôi không còn nhớ nữa.

Ta quên lãng biết bao điều.

Vừa quay về, cô ta lập tức nhắc lại câu chuyện căn hộ. Tôi đã giải thích với Janet một cách khá rõ ràng rằng tôi chưa sẵn sàng chuyển đến sống với cô ta, nhưng tôi có cảm giác cô ta không muốn nghe tôi. Như thường lệ, cô ta có một mục đích và không muốn nhả mồi. Cô ta muốn mua một căn hộ và tạo dựng một gia đình - làm sao lại có chuyện tôi không có cùng mong muốn như thế? Cô ta hỏi tôi. Dù gì tôi cũng ba mươi ba tuổi rồi còn gì.

Thậm chí cô ta còn đi xăm tên tôi lên mông. Peter , trên một dải băng có hai con chim bồ câu ngậm ở hai đầu. Việc đó khiến tôi cảm thấy rất khó chịu, mặc dù tôi không biết chính xác tại sao. Một hình xăm là thứ gì đó vĩnh cửu, và cái ý tưởng vĩnh viễn sống cùng Janet khiến tôi rùng mình.

Gần như vào cùng thời điểm đó, tôi bắt đầu làm việc với tư cách điều tra viên tại đội cảnh sát hình sự, và đương nhiên là tôi dành rất nhiều thời gian cho công việc. Hồi ấy, tôi xử lý từng vụ việc vô cùng nghiêm túc, tin chắc rằng mình đang góp phần làm cho thế giới tốt đẹp hơn.

Một thế giới tốt đẹp hơn ư?

Bây giờ, tức mười lăm năm sau, tôi biết rằng chẳng có gì thay đổi cả. Tôi đã hiểu rằng thời gian không phải là tuyến tính, mà đúng ra nó có tính chất chu kỳ. Nói ra điều này có vẻ tự phụ, nhưng xét cho cùng thì khá ngớ ngẩn. Thời gian có tính chất chu kỳ, giống như một cái xúc xích Falun với hai đầu mút chập lại với nhau. Không cần phải suy nghĩ sâu về chuyện đó, mà nó là như thế: những vụ án mạng mới; những cảnh sát mới vào nghề mang theo một cái nhìn mơ mộng về chức trách của mình và điên rồ lao vào công việc; những kẻ bất lương mới, và ngay khi bị tống vào tù, chúng lập tức được thay thế bởi những tên tội phạm dấn thân vào chu trình.

Chẳng bao giờ chấm dứt.

Tôi thường tự nhủ rằng tôi cứng rắn hơn khi chúng tôi mới bắt đầu mối quan hệ. Tôi kiên quyết chống lại những ý tưởng ngông cuồng của cô ta. Theo thời gian, cô ta đã bẻ gãy được ý chí kháng cự của tôi, hoặc có lẽ là tôi đã thay đổi chiến thuật, tôi đã chọn cách tránh né. Tôi bắt đầu đáp lại “được, chúng ta có thể chuyển đến sống cùng nhau vào năm sau” khi cô ta đặt lại vấn đề đó. Sau đấy, tôi tìm ra những khiếm khuyết lạ lùng ở tất cả những căn hộ mà cô ta lôi tôi đến: tầng này quá thấp, tầng này quá cao (thử nghĩ đến nguy cơ hỏa hoạn xem!), quá xa trung tâm, quá gần trung tâm (rất ổn) và đủ mọi lý do đại loại thế.

Sau mỗi lần xem nhà, cô ta luôn trưng ra vẻ mặt nặng nề, chăm chăm nhìn xuống mặt đường mà không nói lời nào, tóc mái dài nhạt màu phủ xuống trước mắt chẳng khác nào một tấm rèm, và ôm chặt chiếc túi xách nhỏ vào ngực như thể nó là một tấm khiên. Đôi môi cô ta mím lại, tạo thành một dải nhạt màu.

Janet biết rõ tất cả những mánh lới ấy. Cô ta biết rằng cảm giác tội lỗi mà cô ta làm nảy sinh trong tôi sẽ khiến tôi càng thêm yếu đuối và nhún nhường. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi không biết cô ta học được tất cả những điều đó ở đâu, làm sao người ta có thể trẻ như thế mà đã thành thạo nghệ thuật thao túng nhường ấy.

Có lẽ trải nghiệm trong mối quan hệ với Janet đã góp phần khiến tôi thêm say mê Manfred, khi chúng tôi bắt đầu làm việc cùng nhau, vài năm sau đó. Bất chấp vẻ bề ngoài gần như khôi hài - cả dáng dấp lẫn thứ ngôn ngữ thô kệch của anh - dường như Manfred sở hữu một thứ nội lực mà tôi lập tức ngưỡng mộ. Chỉ sau vài ngày, anh đã kéo tôi ra một chỗ và giải thích với tôi rằng anh sắp bỏ vợ và sẽ tốt hơn nếu tôi biết chuyện, bởi vì chuyện đó có thể ảnh hưởng đến công việc của anh.

Hồi ấy, Manfred vẫn đang là chồng của Sara và họ có ba đứa con tuổi thiếu niên. Tôi còn nhớ đã hỏi anh Sara nghĩ gì về chuyện ấy, và anh đã trả lời rằng “chuyện đó chẳng có gì quan trọng, bởi vì anh đã quyết định rồi”. Có điều gì đó trong câu hỏi ấy khiến tôi suy nghĩ. Vậy là anh đã một mình lựa chọn và dự định sẽ đâm đơn ly dị mà không quan tâm đến ý kiến của Sara.

Tôi thấy chuyện đó quả là khó tin.

Đồng thời lại rất đáng lo ngại. Bởi vì vẫn tồn tại nguy cơ là Manfred, người đàn ông rất đỗi tỉnh táo và dũng cảm ấy, nhìn thấy tôi đúng như con người thực sự của tôi. Nguy cơ anh phát hiện ra sự yếu đuối của tôi, tính cách nước đôi của tôi cùng mối ác cảm tôi dành cho những lời cam kết. Những đặc điểm tệ hại đến mức tốt nhất là nên giấu chúng đi, có người từng bảo tôi như thế. Những nét nhân cách mà chỉ cần lộ ra thì sẽ bốc mùi khủng khiếp, chẳng khác nào những thứ rác rưởi nổi lềnh bềnh trên mặt sông.

Tuy thế, vài năm sau, tôi cũng kể về cuộc hôn nhân của tôi cho Manfred nghe. Thoạt tiên, chuyện đó khiến anh bối rối, như thể anh không hiểu rõ những gì tôi vừa nói với anh, rồi anh phá lên cười. Anh cười sảng khoái đến mức nước mắt chảy ròng ròng trên đôi má đỏ au núng nính và cái cằm có ngấn mỡ của anh rung lên, anh cứ cười như thế, suýt thì bò lăn cả ra đất.

Có thể nói rằng thứ mà ta muốn ở Manfred, đó là ít ra anh cũng có lợi thế luôn nhìn cuộc đời từ phía tốt đẹp nhất.

Trời đã tối đen khi tôi đến trụ sở cảnh sát trung tâm ở Kungsholmen. Tôi cũng có cảm giác trời lạnh hơn, bởi vì thay cho thứ tuyết chảy nước, lúc này những bông tuyết lớn đang êm ả đậu xuống đường phố Polhemsgatan. Nếu trụ sở cảnh sát không xấu xí đến thế, hẳn cảnh tượng có thể sẽ đẹp đẽ hơn, nhưng khung cảnh bị thống trị bởi mấy tòa nhà khổng lồ gợi nhắc đến lối kiến trúc thô kệch hậu công nghiệp vốn rất thịnh hành vào thập niên 1960 này. Mạng lưới ánh sáng vẽ trên mặt tiền chứng tỏ rằng các đồng nghiệp của tôi đang làm việc đằng sau những bức tường ấy, rằng cuộc chiến chống lại đám vô lại vẫn không bao giờ ngừng nghỉ, dù là vào một buổi tối ngay trước Giáng sinh. Và lại càng không khi mà một phụ nữ trẻ vừa bị sát hại một cách dã man.

Trong cầu thang từ tầng ba lên tầng bốn, tôi gặp Sanchez.

- Trông anh mệt mỏi quá, cô nói.

Với chiếc áo sơ mi lụa màu kem và chiếc quần tây màu đen, trông cô hoàn toàn giống với hình ảnh một nữ cảnh sát văn phòng, công việc mà cô đang làm. Mái tóc đen của cô buộc túm đuôi ngựa, để lộ một hình xăm ở cổ. Tưởng như có một con rắn đang len lỏi từ lưng lên tại trái của cô, như thể nó muốn nhấm nháp dái tai cô.

- Trông cô cũng không được phong độ cho lắm.

Cô nở một nụ cười dịu dàng như u ám, và tôi lập tức hiểu rằng tôi sẽ phải hối tiếc về lời bình luận vừa rồi.

- Tôi đã tìm thấy một đống thứ về Jesper Orre. Tôi đã chuyển hết cho Manfred.

- Cảm ơn cô, tôi nói rồi tiếp tục đi lên.

Manfred đang uống trà đằng trước máy vi tính. Anh ra hiệu bảo tôi ngồi xuống. Trên bàn làm việc của anh trưng những bức ảnh chụp Afsaneh, cô vợ trẻ của anh, cùng Nadja con gái hai người, con bé sắp tròn một tuổi.

- Cậu ăn chưa? Anh hỏi.

- Tôi không đói.

- Ờ, không dễ mà nuốt bất cứ thứ gì sau chuyến đi vừa rồi.

Tôi lại nghĩ đến cái đầu nằm trong vũng máu. Đến tất cả những người làm khổ người khác, đôi khi không vì bất cứ lý do gì rõ rệt, đôi khi là vì những món nợ máu kéo dài suốt nhiều thế hệ. Một chương trình truyền hình mà tôi xem vài tháng trước chợt hiện về trong tâm trí tôi. Chủ đề là tìm hiểu xem con người là loài động vật ưa hòa bình hay ưa giết chóc. Tôi thấy bản thân câu hỏi đó đã kỳ cục. Không nghi ngờ gì nữa, con người là loài động vật nguy hiểm nhất hành tinh. Chúng ta săn bắt và giết chóc liên tục, không chỉ giết các cá thể thuộc các loài khác, mà thuộc cả loài người. Tấm màng văn minh cũng mỏng manh và phù phiếm chẳng khác gì những thứ sơn móng tay sặc sỡ mà Janet ưa thích.

- Anh có thông tin gì về Jesper Orre chưa?

Manfred gật đầu rồi giơ ngón tay múp míp chỉ vào tập tài liệu trước mặt.

- Jesper Andreas Orre. Bốn mươi lăm tuổi. Sinh ra và lớn lên ở Bromma.

Manfred ngừng lại và đưa tay ra để lấy chiếc kính đọc sách, trong khi tôi ngẫm nghĩ về những gì anh vừa nói. Bốn mươi lăm tuổi, nghĩa là kém tôi bốn tuổi, và có thể là thủ phạm gây ra một vụ án mạng đầy thú tính. Hoặc có thể chính anh ta cũng là một nạn nhân, ở giai đoạn này của vụ án thì chưa thể nào biết được, mặc dù các dữ liệu thống kê dẫn dắt chúng ta nghĩ rằng anh ta là tác giả của vụ án mạng. Bởi vì thông thường, cách giải thích đơn giản nhất cũng là cách giải thích đúng nhất.

Manfred hắng giọng rồi nói tiếp.

- Từ hai năm nay, anh ta là tổng giám đốc của chuỗi cửa hàng đồ may sẵn Clothes&More. Anh ta là người… nói thế nào nhỉ… gây tranh cãi . Đơn giản là mọi người không thể phê phán anh ta. Anh ta có vẻ tàn nhẫn. Theo như ý kiến của nghiệp đoàn, anh ta có thể sa thải những nhân viên phải nghỉ làm để trông con ốm, đại loại thế. Tòa án lao động đã được triệu tập nhiều lần. Năm ngoái, Orre khai đạt mức thu nhập là 4.378.000 krona [2] . Hồ sơ tư pháp trong sạch. Chưa bao giờ kết hôn. Thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, nhất là ở những chuyên mục bê bối, đặc biệt là vì những vụ tình ái. Sanchez đã nói chuyện với cha mẹ và thư ký của anh ta: không ai biết tin tức gì về anh ta trong những giờ vừa qua. Nhưng thứ Sáu vừa rồi anh ta vẫn đi làm như thường lệ, và có vẻ hoàn toàn bình thường .

Manfred giơ ngón tay làm động tác đóng mở ngoặc kép khi thốt ra hai từ “bình thường”, và nhìn qua gọng kính để chiếu thẳng ánh mắt vào mắt tôi.

- Có mối quan hệ ổn định nào không?

- Theo lời cha mẹ anh ta thì không. Và theo lời cô thư ký, thì anh ta kín đáo hơn rất nhiều trong cuộc sống riêng tư kể từ khi bắt đầu được giới truyền thông quan tâm đến. Chúng ta đã nhận được thông tin liên lạc của một số bạn bè của anh ta. Sanchez sẽ hỏi chuyện họ.

- Thế còn vụ hỏa hoạn?

- À phải, vụ hỏa hoạn.

Manfred lật giở tập giấy rồi nói tiếp:

- Jesper Orre đang cho xây một ga ra, nhưng nó đã bị cháy ba tuần trước. Hai chiếc xe hơi của anh ta cũng bị cháy. Có vẻ là xe hạng sang. Một chiếc… chờ chút để tôi xem… MG và một chiếc Porsche. Hãng bảo hiểm đang điều tra để xác định xem vụ hỏa hoạn có nguyên nhân tội phạm hay không. Sanchez sẽ nói chuyện với họ.

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Tuyết rơi dày hơn, che khuất cảnh vật. Manfred đọc thấy nỗi sốt ruột trong mắt tôi.

- Sắp xong rồi, anh nói. Cả tôi cũng phải về. Nadja đang bị viêm tai.

- Lại viêm tai à?

- Cậu biết tuổi này thế nào mà.

Tôi gật đầu đồng ý mặc dù không hề có khái niệm gì về chuyện này. Tuổi thơ của Albin đã trôi xa, và khi thằng bé còn nhỏ, tôi gần như không bao giờ gặp nó. Viêm tai, rối loạn tiêu hóa, tất cả những thứ đó đều không nằm trong tầm kiểm soát của tôi.

- Mà này, Manfred tiếp tục, lục lọi một chút trong vụ điều tra xưa cũ kia cũng chẳng mất gì. Cách thức tiến hành giống nhau quá đỗi, nên chúng ta không thể bỏ qua. Có lẽ ta cũng có thể tìm thấy bà phù thủy đó, phải không? Mà chị ta tên là gì ấy nhỉ? Hanne à?

Tôi chậm rãi quay về phía Manfred, cẩn thận không để lộ cảm xúc của mình, không để anh biết được tác động của cái tên ấy đối với tôi. Cũng như những kỷ niệm đang dồn dập tràn về trong từng tế bào trên thân thể tôi.

Hanne.

- Không, tôi trả lời, bằng sắc giọng có lẽ hơi chói tai quá mức mà tôi không kiểm soát được nữa. Không, tôi nghĩ rằng chúng ta không có bất cứ lý do gì để liên hệ với chị ta.

« Lùi
Tiến »