Hai tháng trước
- Wow! Viên kim cương này to thật!
Olga vớ lấy chiếc nhẫn bằng những ngón tay gầy guộc rồi ngắm nghía viên đá quý trong luồng ánh sáng, như để chắc chắn rằng nó là hàng thật.
- Tuyệt vời, cô vừa nhận xét vừa trả lại chiếc nhẫn cho tôi. Bao nhiêu tiền thế?
- Đây là một món quà. Tớ không thể hỏi giá được.
- Thế ư?
- Không đâu. Chẳng ai làm thế cả.
- Vậy thì, kể đi xem nào! Mahnoor lên tiếng sau một hồi lâu im lặng. Bạch mã hoàng tử đó là ai thế?
- Tớ không thể.
- Wow!
- Ôi, Emma! Mahnoor cười rúc rích, bây giờ thì hai người đính hôn rồi. Cậu không thể giữ bí mật này cho riêng cậu được.
Cô có bím tóc tết đen dày thả xuống vai, đôi mắt được tô đậm bằng những nét bút kẻ mắt.
- Chuyện phức tạp lắm, tôi bắt đầu.
- Dì tớ đi chơi với anh họ của dì ấy. Họ bí mật gặp gỡ nhau trong suốt mười năm, Olga xen vào để động viên tôi. Họ có hai đứa con với nhau. Chuyện đó thực sự nóng bỏng đấy.
- Tớ thề là tớ không thể nói gì với các cậu được, hai cô mình ạ. Anh ấy không phải một người họ hàng. Không có chuyện loạn luân ở đây. Mà chỉ là… phức tạp thôi.
- Như trên Facebook sao? It’s complicated.
Olga phá lên cười đồng lõa.
- Có lẽ thế.
Chiếc tủ lạnh trong căn bếp nhỏ bắt đầu hoạt động với một tiếng thở ran, phá vỡ bầu không khí yên lặng vừa mới bao trùm. Tôi hiểu sự tò mò của các đồng nghiệp. Nếu là tôi, hẳn tôi cũng sẽ phản ứng như họ. Nhưng lần này thì khác. Một tình huống đặc biệt. Tôi sẽ là kẻ bất công và vô trách nhiệm nếu kể hết mọi chuyện, đặc biệt là với Olga và Mahnoor. Việc đó có thể gây hại cho Jesper, và do đó, gây hại cho tôi.
Hơn nữa, tôi đã hứa với anh rồi.
Olga gom vụn bánh mì thành một đống nhỏ trên bàn rồi vẽ lên đó bằng những cái móng tay dài sơn acrylic trắng.
- Tại sao cậu phải giữ bí mật thế? Cô rên rỉ. Nếu anh ta đã có vợ thì là chuyện khác, đằng này hai người vừa đính hôn với nhau! Thế nên cậu có thể…
Mahnoor giơ tay ngăn cô lại:
- Cô ấy không muốn kể chuyện đó với chúng ta. Dù sao cũng nên tôn trọng điều đó.
Tôi khẽ thì thầm cảm ơn Mahnoor, cô đáp lại tôi bằng một nụ cười rồi hất bím tóc tết ra sau lưng. Olga cắn đôi môi mỏng rồi ngước mắt nhìn lên trời.
- Whatever!
Cả hai người họ im lặng lần nữa. Rồi Mahnoor hắng giọng.
- Việc chôn cất mẹ cậu thế nào hả, Emma? Một buổi lễ tốt đẹp chứ?
Ái chà, Mahnoor! Lúc nào cũng ân cần và chu đáo. Giọng nói dịu dàng và những từ ngữ thốt ra chậm rãi, gần như dò dẫm. Giống như những cái vuốt ve khẽ khàng đầy xoa dịu trên làn da. Tôi đeo chiếc nhẫn vào ngón tay rồi thở dài.
- Ừ, rất tốt đẹp. Không có nhiều người lắm. Chỉ toàn họ hàng thôi.
Quả vậy, chỉ có năm người chúng tôi trong căn nhà nguyện nhỏ. Vài vòng hoa đơn độc tô điểm cho chiếc quan tài bằng gỗ giản dị. Nhạc công đàn ống đã chơi mấy bài thánh vịnh, mặc dù mẹ tôi vẫn luôn ghê sợ thánh ca và cầu nguyện. Cả khi chết lẫn khi sống, ta đều phải tuân theo truyền thống, không phải thế sao? Tôi tự nhủ với mình như vậy.
- Bây giờ cậu cảm thấy thế nào? Ổn chứ?
Mahnoor có vẻ lo lắng.
- Tớ ổn.
Thực ra, khó mà biết được tôi đang có cảm giác thế nào. Mọi chuyện đều có vẻ phức tạp, không thể nào giải thích nổi. Tình huống này dường như phi thực với tôi. Tôi không thể nào quen được với ý nghĩ rằng mẹ tôi đã chết. Rằng đúng là thân hình đồ sộ của bà đang khó nhọc nghỉ ngơi trong cái quan tài quá chật ấy. Rằng một ai đó đã mặc đồ cho bà, chải mái tóc rậm rối bù và phai màu nhuộm của bà rồi đặt bà nằm vào trong đó. Rằng nắp quan tài đã bị sập xuống rồi đóng đinh - nếu đó là cách họ tiến hành mọi việc.
Tôi phải cảm thấy thế nào?
Tuyệt vọng, đau khổ chăng? Hay nhẹ nhõm? Mối quan hệ giữa tôi với mẹ chưa bao giờ đơn giản - đó là điều tối thiểu mà ta có thể nói. Và, những năm gần đây, khi bà bắt đầu uống rượu “toàn thời gian” - theo cách nói của các bác tôi -, chúng tôi không còn tiếp xúc quá nhiều với nhau nữa.
Và bây giờ, đến chuyện với Jesper. Ngay giữa toàn cảnh thảm hại này, anh tặng tôi một chiếc nhẫn, tuyên bố rằng anh muốn sống với tôi. Tôi cụp mắt nhìn xuống viên kim cương đang lấp lánh trên ngón tay mình và tự nhủ rằng bất chấp tất cả những gì đã xảy ra, không ai có thể rứt nó khỏi tay tôi được. Tôi xứng đáng với nó.
Cánh cửa mở gây ra một âm thanh ầm ĩ.
- Phải nhắc lại với các cô bao nhiêu lần là không được để tôi một mình trong cửa hàng hả? Các cô đang hút thuốc, trong khi tôi…
- Chúng tôi không hút thuốc, Olga tuyên bố bằng giọng gay gắt và đưa bàn tay lên vuốt mái tóc dài mượt mà.
Lời nhận xét của cô khiến tôi ngạc nhiên. Đối đầu với Björne không bao giờ không gây ra hậu quả. Anh ta đờ người, vươn dài cái thân hình lêu đêu khô cứng rồi thọc hai bàn tay vào túi chiếc quần jean, nó rách đúng điệu và anh ta mặc nó với độ trễ thấp nhất mà thời trang cho phép. Rồi anh ta đung đưa hai bàn chân xỏ trong đôi giày bốt kiểu cao bồi, hết chân nọ đến chân kia, vừa nhìn chằm chằm vào Olga vừa hất cằm, khiến phần hàm dưới vốn đã dỗ ra lại càng thêm nổi bật. Anh ta giống một con cá. Một con cá bẩn thỉu độc địa giấu mình trong vùng nước đục để rình mồi. Khi Björne hất đầu ra sau, mớ tóc đen rậm rạp quét vào gáy anh ta.
- Tôi có hỏi ý kiến của cô không, hả Olga?
- Không, nhưng…
- Tôi cũng thấy có vẻ là như thế. Vậy nên tôi gợi ý là cô nên ngậm miệng và đến giúp tôi dán nhãn cho đống quần jean thay vì ngắm những cái móng tay kiểu Nga ấy đi.
Anh ta quay gót rồi đóng sập cánh cửa lại sau lưng.
- Của nợ, Olga nhận xét, mặc dù đã ở Thụy Điển sáu năm, cô vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng những lời chửi rủa thích hợp vào thời điểm cần thiết.
- Tốt hơn hết là chúng ta nên quay vào thôi, Mahnoor nói.
Cô đứng dậy, kéo vạt áo sơ mi cho bớt nhàu rồi mở cánh cửa.
Trên đường về nhà, tôi đi chợ. Jesper thích ăn thịt, và tối nay, chúng tôi có chuyện để ăn mừng. Thế nên tôi mua thịt bò thăn - còn là loại hữu cơ nữa - mặc dù túi tiền không được dư dả cho lắm. Tôi mua mấy loại rau xa lát, cà chua bi và phô mai để làm món phô mai dê cuộn áp chảo. Trong cửa hàng rượu, tôi lưỡng lự hồi lâu giữa các kệ hàng. Tôi khẽ lướt tay trên những cái chai phệ bụng xếp hàng đều tăm tắp như đang đứng nghiêm. Tôi không biết nhiều về rượu vang, nhưng chúng tôi thường uống vang đỏ và bởi vì Jesper có xu hướng thích các loại vang Nam Phi, cuối cùng tôi chọn một chai Pinotage, nó ngốn mất của tôi một trăm krona.
Khi tôi đi ngược đại lộ Valhallavägen, trời đã tối hẳn. Gió lạnh thổi về từ phía Bắc và những giọt nước mưa táp vào mặt tôi. Tôi cụp mắt nhìn xuống mặt đường đen ướt sũng, rồi vội vã băng qua những mét cuối cùng để về nhà.
Tòa chung cư đã được xây dựng từ năm 1925 và nằm ngay bên cạnh trung tâm thương mại Fältöversten trong khu phố Östermalm ở Stockholm. Một trong số các bác của tôi đã sống ở đây đến khi qua đời cách đây ba năm. Vì một lý do không thể hiểu nổi, tôi được thừa kế căn hộ của bà, điều này đã gây ra chút náo động trong gia đình. Chết tiệt thật, tại sao Agneta lại đi tặng căn hộ hai phòng ngủ ngay giữa trung tâm thành phố cho Emma, trong khi hai người đâu có đặc biệt thân thiết với nhau? Emma đã dùng mánh khóe gì để moi được món thừa kế này từ bà ấy? Xét cho cùng, việc đó cũng không hoàn toàn phi lô gich. Bác Agneta không có con cái, và chúng tôi dù sao cũng vẫn có liên lạc với nhau. Các chị gái của mẹ tôi thỉnh thoảng vẫn gặp nhau, kiên quyết duy trì chế độ mẫu quyền đã bị trục trặc của họ, và đôi khi tôi tham dự cuộc họp nho nhỏ ấy với họ.
Tôi xoay chìa trong ổ khóa rồi kéo cái tay nắm cửa nặng nề bằng đồng thau xuống. Chào đón tôi là mùi bánh mì cháy khét và mùi nước javel quen thuộc. Cùng một thứ gì đó khác, cái mùi tù hãm mà tôi không thể nào xác định được. Thứ mùi hữu cơ vốn không xa lạ với tôi. Tôi cẩn thận để mấy cái túi xuống đất, bật đèn ở lối vào nhà rồi chật vật rút chân ra khỏi đôi giày sũng nước.
Hai chiếc phong bì nằm chỏng chơ trên sàn nhà. Những cái hóa đơn. Tôi nhặt chúng lên, mang vào trong bếp rồi đặt cùng với những hóa đơn và thư nhắc khác. Đống giấy tờ đã dày lên đến mức đáng ngại - nó nhắc tôi rằng tôi phải nói chuyện tiền bạc với Jesper. Có thể không phải là tối nay, nhưng sớm thôi. Tôi không thể tiếp tục chất đống mớ hóa đơn như thế này. Một ngày nào đó, tôi sẽ phải thanh toán hết.
Tôi vừa lấy pa tê trong ngăn tủ vừa gọi Sigge. Tôi nghe thấy tiếng cửa lối đi cho mèo kêu lên cọt kẹt, rồi con vật xuất hiện. Nó cọ người vào chân tôi. Tôi cúi xuống, vuốt ve bộ lông đen của nó, dịu dàng trò chuyện với nó, rồi bước vào phòng khách.
Căn hộ của tôi được bài trí một cách hà tiện. Mấy chiếc ghế bành Carl Malmsten cũng là đồ thừa kế từ dì Agneta. Tôi đã mua một chiếc bàn nhỏ có thể gấp gọn trên mạng Internet và một chiếc giường của hãng Ikea. Tôi cũng có một chiếc bàn làm việc, là thứ mà tôi tìm thấy trong cửa hàng bán đồ thanh lý Myrorna. Trên mặt bàn ngập ngụa sách và những tờ giấy ghi nhớ màu đỏ. Ngoài đi làm, tôi còn ghi danh vào các lớp học từ xa để hoàn tất chương trình phổ thông. Chuyên ban khoa học. Tôi đã bỏ học quá sớm. Đã xảy ra nhiều chuyện trong đời khiến tôi không thể cũng không muốn học nữa, mặc dù tôi vẫn luôn là đứa học khá. Nhất là môn toán. Thế giới của những con số có điều gì đó giống như giải thoát. Không có những vùng xám, không có chỗ cho sự chủ quan hoặc những diễn giải. Chỉ có đúng hoặc sai.
Giá mà phần còn lại của cuộc đời tôi cũng có thể đơn giản như thế.
Trong một thoáng, tôi nghĩ đến Ốc Vít. Đến mái tóc đen dài buộc kiểu đuôi ngựa sau gáy gã. Bàn tay áp trên má mỗi khi gã lắng nghe - bởi vì dường như gã luôn lắng nghe chúng tôi với một sự quan tâm đầy ấn tượng. Như thể tất cả chúng tôi đều có điều gì đó rất quan trọng cần nói. Cũng có lẽ là như thế. Tôi rùng mình và ra khỏi phòng khách.
Một ngày nào đó, tôi sẽ không nghĩ đến gã nữa - tôi cố gắng tự thuyết phục mình như vậy. Một ngày nào đó, ký ức về người đàn ông ấy sẽ nhạt đi, giống như một bức ảnh cũ và tôi sẽ có thể tiếp tục cuộc sống của mình như thể gã chưa bao giờ tồn tại.
Tôi có một món đồ có giá trị - bức tranh của Ragnar Sandberg treo trong phòng ngủ. Một bố cục ngây thơ màu vàng và xanh lơ vẽ hình những cầu thủ bóng đá. Tôi rất quý nó. Mẹ tôi đã nhiều lần gợi ý tôi bán nó để chia tiền với mẹ. Nhưng lần nào tôi cũng từ chối. Sự hiện diện của nó ở đây, trên bức tường nơi nó vẫn luôn ngự trị, khiến tôi yên lòng.
Bác Agneta cũng để lại cho tôi một ít tiền; chính xác là 100.000 krona. Những xấp tiền một trăm krona buộc thật chặt, mà tôi tìm thấy giữa đống ga giường trong ngăn tủ. Tôi chưa bao giờ kể về số tiền đó với mẹ tôi. Than ôi, tôi thừa biết bà sẽ làm gì với nó.
Tôi lại gần cửa sổ và nhìn ra bên ngoài.
Bên dưới tôi năm tầng nhà, đại lộ Valhallavägen trải dài, cái xương sống tối đen khổng lồ kết nối giao thông với phố Lidingövägen và trung tâm thành phố. Những mạch máu này là một phần trong hệ thống tuần hoàn khổng lồ của những con đường chạy ngang dọc khắp Stockholm. Có vẻ như mưa đã nặng hạt hơn. Những giọt mưa đập liên hồi vào cửa sổ nơi tôi đang đứng, để lại trên vách kính một thứ cặn nhớp nháp. Hẳn là trời đang rất lạnh, gần như dưới không độ, tôi vừa tự nhủ vừa rùng mình.
Tôi dỡ các món hàng ra khỏi túi, cắt pho mát dê thành từng khoanh rồi đặt lên trên những lát bánh mì nướng. Tôi bật bếp lò và chuẩn bị món xa lát. Rồi tôi đi tắm. Tôi cảm nhận nước nóng chảy dọc thân thể. Tôi hít thật sâu thứ hơi nước nóng bỏng, xát xà phòng lên từng xăng ti mét nhỏ trên làn da bằng thứ gel thơm dịu mà anh rất thích. Đôi bầu vú nhạy cảm của tôi căng lên khi được tôi xoa bóp. Tôi đưa tay lấy dầu gội, gội đầu rồi khó nhọc rứt mình ra khỏi cái bồn tắm hình móng bò.
Phòng tắm phủ mờ hơi nước. Tôi mở hé cửa, lau tấm gương bằng một chiếc khăn rồi cúi người ngắm nghía. Mặt tôi đỏ ửng và có vẻ hơi phị ra. Những nốt tàn nhang nổi bật trên làn da trắng sữa, giống như hàng trăm hòn đảo nhỏ rải rác một cách ngẫu nhiên trên mặt biển. Một số nốt to hơn, những nốt còn lại nhỏ hơn. Một số nốt tụ lại thành nhóm, tạo nên những lục địa đỏ nâu trên đại dương màu trắng.
Tôi bắt đầu khẽ khàng chải mái tóc dài bằng một chiếc lược thưa. Tôi xem xét đôi bầu vú. Chúng đầy đặn, quá đầy đặn so với thân hình tôi, với đôi quầng vú lớn màu hồng nhạt. Tôi vẫn luôn ghét chúng, kể từ khi hai cái bướu nhỏ này hiển hiện rõ ràng chẳng khác nào hai cái nhọt trên làn da trắng của tôi. Tôi từng làm mọi cách để giấu chúng đi: tôi mặc những chiếc áo len rộng thùng thình, tôi khom lưng mỗi khi bước đi, tôi ăn thật ít.
Jesper nói rằng anh ngưỡng mộ đôi bầu vú của tôi, và tôi tin anh. Anh nằm vào giữa hai chân tôi, vuốt ve chúng như thể chúng là hai chú chó con và sung sướng nói chuyện với chúng, lúc với bên này, lúc lại bên kia. Tình yêu, tôi tự nhủ, đó không chỉ là yêu một người, mà còn là tự nhìn thấy chính mình qua đôi mắt của người yêu. Nhìn thấy vẻ đẹp ở nơi ta vốn chỉ nhận thấy những nhược điểm và khiếm khuyết.
Tôi trang điểm tỉ mỉ. Jesper không thích việc trang điểm cho lắm, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không nên trang điểm. Chỉ là không nên tô vẽ mặt mình một cách lộ liễu. Có được vẻ bề ngoài tự nhiên, điều đó mất nhiều thời gian hơn người ta vẫn hình dung. Khi đã xong xuôi, tôi xịt nước hoa vào tất cả những địa điểm chiến lược trên thân mình: cổ tay, gáy, khe ngực. Cả hõm nách nữa. Rồi tôi tròng luôn chiếc váy đen lên làn da trần trụi và lau khô chân thật cẩn thận trên tấm thảm phòng tắm trước khi bước ra ngoài.
Jesper có thói quen đúng giờ, thế nên tôi dự định sẽ bỏ bánh mì phô mai vào lò ngay từ lúc mười chín giờ. Nhưng sẽ chỉ mất vài phút để nướng món đó. Tốt hơn hết là nên chờ đến khi anh tới. Mưa vẫn đập vào các ô kính trên cửa sổ với cùng cường độ như lúc trước. Phía xa xa, tôi nghe thấy tiếng còi hụ đi xa dần. Tôi thắp vài ngọn nến bên cạnh bàn. Luồng gió len lỏi qua những ô cửa sổ cũ kỹ khiến những ngọn lửa rung rinh, như thổi sự sống cho mấy cái bóng di chuyển trong phòng. Chúng uốn lượn in hình lên chiếc bàn có thể gấp gọn và ô tủ bếp. Trong một thoáng, tôi có cảm giác như cả căn phòng đang chao đảo, còn bản thân thì chợt thấy cơn buồn nôn nhè nhẹ.
Tôi nhắm mắt lại và bám vào một tay ghế.
Rồi tôi nghĩ đến anh.
Jesper Orre. Tôi từng nghe nhắc đến anh, tất nhiên, nhìn thấy ảnh anh trên tivi hoặc trong các tạp chí người nổi tiếng. Cũng có khi chúng tôi trò chuyện về anh, ở chỗ làm. Ông chủ công ty là một chủ đề gây tranh cãi, do cách thức quản lý nhân sự, nhưng không chỉ có thế. Theo một cách nào đó, anh từng là anh chàng bad boy trong thế giới thời trang, nổi tiếng là người khắc nghiệt và vô lương tâm. Trong một tháng sau khi được bổ nhiệm làm tổng giám đốc, anh đã sa thải toàn bộ ban điều hành rồi cắt cử bạn bè của mình vào đó. Rồi những thay đổi bắt đầu lan ra khắp công ty: sa thải hai mươi phần trăm nhân sự, những chỉ dẫn mới về quan hệ khách hàng, quy định trang phục chặt chẽ hơn đối với nhân viên, thời gian bữa trưa bị rút ngắn, ít thời gian nghỉ hơn.
Khi anh bước vào cửa hàng, cái ngày tháng Năm ấy, tôi không nhận ra anh ngay lập tức. Toàn bộ con người anh có vẻ hơi bối rối, lạc lõng. Đứng giữa dãy hàng đồ nam, anh xoay nhìn tứ phía, chậm rãi, chẳng khác gì một đứa trẻ giữa một vòng quay ngựa gỗ đang quan sát đám đông bằng đôi mắt xoe tròn.
Tôi tiến về phía anh để hỏi anh có cần giúp đỡ gì không. Xét cho cùng, đó chính là công việc của tôi. Công ty thậm chí còn có cả những giáo trình chỉ dẫn những câu đối đáp mà chúng tôi, các nhân viên, phải học thuộc lòng - lại thêm một ý tưởng mà nghiệp đoàn còn lâu mới hoan nghênh của Jesper.
Anh quay người về phía tôi, vẫn với cái biểu cảm bối rối ấy, rồi ngượng ngập đưa tay lên túi ngực của chiếc áo sơ mi để chỉ cho tôi thấy một vết màu cam to tướng.
- Nửa giờ nữa tôi có cuộc họp với ban điều hành, anh nói với tôi, vẫn tiếp tục lảng tránh ánh mắt tôi bằng cách nhìn chăm chăm vào cửa hàng. Tôi cần một chiếc sơ mi khác.
- Là mì Ý xốt thịt bò băm phải không?
Anh sững người, và tôi nhìn thấy một nụ cười hé ra trên khuôn mặt rám nắng của anh. Rồi ánh mắt anh bắt gặp ánh mắt tôi, và cuối cùng tôi cũng nhận ra anh. May thay, anh đã đưa mắt nhìn đi chỗ khác, bởi vì sự hiện diện của anh đối với tôi có vẻ dữ dội và hiển nhiên đến mức tôi thực sự không biết phải làm gì. Và anh để tôi một mình trong im lặng, không thể kiểm soát nổi tình hình.
Phải mất vài giây tôi mới hồi lại được.
- Cỡ nào ạ?
Khi anh quay nhìn tôi một lần nữa, tôi nhận thấy anh có vẻ mệt mỏi. Đôi mắt anh có quầng thâm, phần tóc ở thái dương anh điểm bạc, và một nếp nhăn u sầu ở khóe miệng khiến khuôn mặt anh có một biểu cảm gần như cay đắng.
- Cỡ?
- À thì, cỡ áo sơ mi của ông.
- Phải rồi, tất nhiên, tôi xin lỗi. Cỡ M.
- Màu gì ạ?
- Tôi không biết. Trắng, có lẽ thế. Thứ gì trung tính. Phù hợp với một cuộc họp của ban điều hành.
Anh quay lưng về phía tôi và bắt đầu dò xét các dãy hàng. Tôi chọn ba chiếc sơ mi mà tôi cho là có thể hợp với anh. Khi tôi quay lại, anh vẫn đứng như trời trồng giữa phòng.
- Cô có thể cho tôi lời khuyên không?
- Tất nhiên.
Đó không phải là một câu hỏi kỳ cục, một phần trong công việc của tôi là giúp các khách hàng lựa chọn những gì phù hợp với họ. Tôi chờ anh trước cửa phòng thử đồ cho đến khi anh bước ra, trên người mặc chiếc áo đầu tiên, chiếc màu trắng.
- Cô nghĩ thế nào?
- Rất được, nó rất hợp với ông. Hãy thử mấy cái khác đi.
Cánh cửa phòng thử đồ khép lại không một tiếng động. Hai phút sau, anh xuất hiện trở lại trong chiếc áo thứ hai, chiếc sơ mi màu trắng có kẻ sọc màu xanh và cổ cài cúc kín.
- Hừm.
- Cô không thích nó sao?
Anh đột ngột có vẻ lo lắng đến nỗi tôi suýt phá lên cười.
- Có chứ, tất nhiên, nhưng nó không phù hợp với một cuộc họp quan trọng đến thế… Ông cần một thứ gì đó… trang trọng hơn.
Anh gật đầu, như thể sẵn sàng vâng theo mọi mệnh lệnh của tôi, rồi quay trở vào phòng thử đồ.
- Cô nghĩ thế nào? Tôi thử cả chiếc thứ ba nhé?
- Vâng, nhất định là thế rồi!
Trò chơi dễ chịu đó với vị tổng giám đốc công ty đi vi hành trong cửa hàng bắt đầu khiến tôi thích thú. Cứ như thể anh là một vị vua trong truyện cổ, người đã cải trang thành kẻ ăn mày để hòa lẫn vào đám đông.
Cánh cửa mở và anh bước ra, trên người mặc chiếc áo sơ mi màu xanh sáng.
- Hoàn hảo. Đây chính là cái áo ông cần. Nó thanh nhã, nhưng không đến nỗi khắc khổ bằng cái màu trắng.
- Cô muốn nói rằng chúng ta bán những trang phục khắc khổ trong cửa hàng này?
Đôi mắt anh chợt linh động hẳn lên với một sức sống mới, và anh nhìn tôi bằng ánh mắt chăm chú, khác hẳn với lúc trước.
- Ngay cả các khách hàng của chúng ta thì đôi khi cũng cần đến những trang phục khắc khổ.
- Trúng phóc.
Anh mỉm cười rồi chợt dừng lại trong lúc bước về phía phòng thử đồ.
- Cô này, tôi thấy thích cô đấy. Cô tên là gì vậy?
- Emma. Emma Bohman.
Anh gật đầu rồi biến mất trong phòng mà không nói thêm lời nào.
Lúc anh đến trước quầy của tôi để trả tiền, đã xảy ra một chuyện sẽ khiến đời tôi thay đổi vĩnh viễn. Jesper bắt đầu điên cuồng tìm kiếm ví tiền của anh, càng lúc càng ngượng ngập hơn.
- Tôi không hiểu. Lẽ ra nó phải ở…
Anh sờ nắn các túi quần, lắc đầu với vẻ cam chịu.
- Mẹ kiếp , anh khẽ nghiến răng lầm bầm.
- Nghe này, ông có thể quay trở lại trả tiền sau. Tôi biết ông là ai.
- Không đâu, không thể thế được. Việc đó sẽ gây ra một lỗ hổng trong quỹ tiền mặt của cô. Tôi không muốn gây rắc rối cho cô.
- Nếu ông cố tìm cách lừa tôi, tôi sẽ gọi cảnh sát.
Câu nói đùa ấy có vẻ vượt khỏi suy nghĩ của anh. Tôi nhìn thấy những giọt mồ hôi nhỏ lấp lánh ở chân tóc anh, chẳng khác nào những viên pha lê trong thứ ánh sáng nhân tạo chói gắt của cửa hàng.
- Mẹ kiếp, anh nhắc lại, và thật lạ lùng, anh khiến tôi có cảm giác anh vừa đặt một câu hỏi, như thể anh cần xin lời khuyên của tôi trong cái tình huống bấp bênh này.
Tôi cúi người về phía trước, nhẹ nhàng đặt tay lên cánh tay anh.
- Tôi có ý này. Tôi cho ông mượn tiền, và đây là số điện thoại của tôi. Hãy trả tiền tôi khi nào ông trả được.
Và mọi chuyện diễn ra như thế.
Anh cầm số điện thoại của tôi, vẻ nhẹ nhõm, rồi đi ra khỏi cửa hàng, môi nở nụ cười, vừa đi vừa vẫy vẫy mảnh giấy như thể tôi vừa trao cho anh một thứ bằng cấp nào đó.
Tôi nhìn đồng hồ treo tường bên trên tivi. Mười chín giờ hai mươi. Anh có thể ở đâu giờ này? Có lẽ anh nhầm giờ, có lẽ anh tưởng rằng tôi mời anh đến ăn tối lúc hai mươi giờ chứ không phải là mười chín giờ. Nhưng trong bụng tôi như có một cục gì đó đè nặng. Tôi chưa từng gặp người nào đúng giờ như Jesper. Anh luôn đến đúng giờ, luôn mang tặng tôi một bó hoa vừa mới cắt. Tóm lại, anh là một quý ông hoàn hảo. Anh có thể tỏ ra thô lỗ và ngạo mạn, có vẻ bề ngoài gần như hung bạo, nhưng khi đào sâu, ta sẽ phát hiện ra là anh tình cảm, thấu hiểu và tinh nghịch như một đứa trẻ.
Và đúng giờ.
Tôi tự rót cho mình cốc vang thứ hai, rồi bật tivi. Các nông dân Pháp đã đổ cả tấn khoai tây trên con đường vành đai xung quanh Paris để phản đối việc cải cách các khoản trợ cấp của châu Âu. Một cơn bão đã càn quét Sala chiều nay, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại một ngôi trường mới xây. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã phát hiện ra một gen có thể gây ung thư tuyến tiền liệt nếu nó bị khiếm khuyết. Tôi tắt tivi. Sốt ruột mân mê chiếc điện thoại di động. Tôi không muốn quấy rầy Jesper, nhưng tôi cảm thấy lo lắng: có thể anh đã nghe nhầm về thời gian, địa điểm, ngày tháng.
Tôi gửi cho anh một tin nhắn ngắn gọn, hỏi xem có phải anh đang đi đường không, lòng thầm hy vọng mình không có vẻ quá đeo bám.
Jesper Orre … Nếu Olga và Mahnoor mà biết chuyện!
Nếu mẹ tôi mà biết chuyện!
Tôi cảm thấy lồng ngực khẽ nhói lên. Đừng nghĩ đến mẹ. Không phải lúc này. Nhưng đã quá muộn. Tôi đã có thể hình dung ra sự hiện diện của bà trong căn phòng khách nhỏ, ngửi thấy mùi bia và mùi mồ hôi, nhìn thấy phần da thịt trắng bóc của bà phô bày trên chiếc ghế xô pha khi bà nằm lười biếng trước tivi, ngáy ầm ĩ, một lon bia đã cạn một nửa kẹp giữa hai đầu gối.
Mẹ tôi luôn khoe khoang là bà không bao giờ uống bất cứ thứ gì mạnh hơn bia. Lena, một trong các chị gái của bà, đáp lại rằng đám nghiện bia là đám con nghiện đáng thương nhất, đám con nghiện ở thang bậc xã hội thấp kém nhất, với một chân đã đặt trong mồ còn chân kia thì vẫn đang trên đường đến siêu thị để chất bia đầy tủ lạnh.
Điều thê thảm nhất, đó là không phải lúc nào mẹ tôi cũng như thế. Một thời rất xa xôi, bà hoàn toàn khác biệt. Tôi còn nhớ rất rõ cái thời ấy, và đôi khi tôi tự hỏi phải chăng tôi khóc vì mất người phụ nữ ấy nhiều hơn là mất mẹ khi bà qua đời.
Một ký ức xa xôi.
Tôi đang ngồi trên chiếc giường chật hẹp của mình trong phòng ngủ có những bức tường bẩn thỉu, phủ đầy những dấu vân tay, dấu lòng bàn tay, và thậm chí cả dấu chân. “Rốt cuộc, con làm cách gì thế này hả? Con trèo trên tường như khỉ chăng?” mẹ tôi vừa hỏi tôi vừa thở ra một hơi dài đầy chất kịch trong lúc cố gắng lau sạch những vết bẩn đó bằng một chiếc khăn ẩm. Bên ngoài trời tối om. Có ai đó đang quét tuyết trong khoảnh sân trong. Tôi nghe thấy những tiếng va đập khô khốc của chiếc xẻng khi nó xuyên qua lớp tuyết và đâm vào lớp đá lát. Trong căn hộ rất lạnh và cả hai mẹ con tôi đều mặc quần áo ngủ dài, đi tất. Cuốn sách viết về ba chú gấu đặt trên đầu gối bà.
- Đọc tiếp đi, mẹ!
- Được thôi, nhưng không lâu đâu nhé, bà vừa nói vừa ngáp, rồi lật sang trang sách bị rách và đã được dán lại bằng băng dính.
Bà nhìn vào phần chữ với vẻ mặt kiên quyết.
- Ai đã ngủ trên giường của tôi? Tôi vừa nói vừa di ngón tay trỏ theo dòng chữ.
Hồi đó tôi bảy tuổi và vừa vào lớp vỡ lòng. Tôi đã biết đọc trước khi đi học. Tôi không còn nhớ mình đã học đọc như thế nào. Tôi hình dung là một số đứa trẻ con tự hiểu, đơn giản thế thôi, chúng có thể xuyên thấu những bí ẩn của việc đọc mà không cần bất cứ ai trợ giúp. Dù sao, cô giáo cũng rất vui lòng và đã gọi điện thoại cho mẹ tôi để kể với bà rằng tôi rất tiến bộ so với các bạn cùng lớp trong môn đọc. Và, bởi vì “đọc là hoạt động căn bản cho tất cả các hoạt động học tập khác”, điều đó có nghĩa là mọi chuyện sẽ vô cùng suôn sẻ với tôi trong suốt cuộc đời.
- Thế còn dòng tiếp theo?
- Gấu nhỏ nhìn gấu lớn và… lắc đầu, tôi đọc.
Mẹ tôi gật đầu với vẻ tập trung, như thể bà đang cố gắng giải một bài toán khó. Đúng lúc ấy, có người gõ vào cửa phòng. Cha tôi xuất hiện, tay cầm một cuốn sách và một bao thuốc lá. Mái tóc dài ngang vai của ông rủ xuống mặt như một làn sóng êm ả. Tôi vẫn luôn thấy cha tôi có dáng dấp của một ca sĩ nhạc rock với mái tóc cùng những trang phục thoải mái của ông. Ông ngầu hơn tất cả các ông bố khác, và đôi khi tôi những muốn ông đưa tôi đến trường thay cho mẹ tôi.
- Ba chỉ muốn chúc con ngủ ngon thôi.
Ông bước đến cạnh giường, cúi xuống bên tôi rồi hôn lên má tôi. Bộ râu ba ngày chưa cạo của ông cù vào da tôi, và mùi thuốc lá khiến lỗ mũi tôi nhồn nhột.
- Chúc ba ngủ ngon, tôi vừa đáp lại vừa dõi mắt nhìn theo trong lúc ông đi ra khỏi phòng.
Tấm lưng gầy guộc của ông, kiểu tóc của ông - hay đúng hơn là việc ông không hề quan tâm đến kiểu tóc - cùng cách ông vung vẩy hai cánh tay khi bước đi khiến ông có dáng dấp của một cậu thiếu niên.
Tôi lại quay sang phía mẹ. Bà thực sự là hình ảnh đối lập của cha tôi, với thân hình đồ sộ hình quả trứng, giống như một loài động vật dưới nước - một con sư tử biển, hoặc có lẽ là một con cá voi. Mái tóc bạc màu của bà bù xù, còn bộ ngực của bà như chỉ chực xé rách chiếc áo ngủ bằng vải flanen họa tiết kẻ ca rô mỗi khi bà thở.
- Bây giờ đến lượt mẹ, tôi bảo bà.
Mẹ tôi lưỡng lự một lát rồi chậm rãi đặt ngón trỏ lên dòng chữ. - Tôi đã kh…
- Không, tôi đọc nốt.
Mẹ tôi gật đầu.
- Tôi đã không… ng…ủ trên giường cậu, gấu nhỏ đ…á…
- Đáp.
Mẹ tôi siết chặt nắm tay.
- Suỵt, yên nào! Đáp ! Đấy là một từ khó.
- Mẹ sẽ sớm thấy là nó dễ thôi, tôi trả lời bằng giọng nghiêm trang. Mẹ nhìn tôi, đôi mắt lấp lánh, rồi bà đưa tay nắm lấy tay tôi.
- Con tin thế sao?
- Tất nhiên rồi! Trong lớp con, mọi người đều biết đọc cả.
Tôi kiềm chế để không nói thêm rằng tất cả các ông bố bà mẹ cũng đều biết đọc, bởi vì, dù mới bảy tuổi, tôi đã ý thức được rằng điều đó có thể khiến bà buồn lòng. Các đồng nghiệp của mẹ tôi, thậm chí cả cha tôi, đều không biết điều bí mật đáng hổ thẹn này.
- Chúng ta sẽ tiếp tục luyện tập vào ngày mai, mẹ tôi kết luận trước khi hôn lên má tôi. Con sẽ không nói gì với ba đâu, đúng không?
- Con hứa mà.
Bà tắt đèn rồi rời khỏi phòng. Tôi ngồi lại trên giường, chìm đắm trong một cảm giác êm đềm và ấm áp. Cảm giác rằng mình không chỉ được yêu, mà còn hữu ích cho một ai đó.
Nếu mẹ tôi có thể chứng kiến cảnh này, có thể nhìn thấy tôi với Jesper, bà sẽ nghĩ gì? Tôi có cảm giác là bà sẽ phật ý vì mối quan hệ của chúng tôi sẽ gây chú ý. Có thể bà sẽ mím môi, trưng ra một vẻ mặt thất vọng, đầy thương hại cho chính bà, và có lẽ bà sẽ lầm bầm rằng tôi không còn quan tâm đến bà, bà chẳng hề ngạc nhiên vì điều đó bởi vì tôi chưa từng giúp đỡ bà trong bất cứ việc gì. Sau đó, có lẽ bà sẽ bắt đầu lải nhải câu chuyện về con gái của bà Löfberg, người vẫn đang sống ở nhà và chăm sóc cho người mẹ tội nghiệp của cô ta, mặc dù cô ta đã ba mươi tuổi.
Tôi đưa mắt nhìn đồng hồ treo tường. Hai mươi mốt giờ ba mươi. Một nỗi khó chịu mơ hồ dâng lên trong ngực tôi, và trước cả khi có thể gọi tên cảm giác đó, tôi đã biết nó là gì: nỗi sợ. Thế lỡ đã xảy ra chuyện gì với Jesper thì sao? Trời đã vào đêm, gió thổi mạnh và đường sá hẳn là đã phủ kín một lớp băng dày. Tôi suy nghĩ một lát, cầm chiếc điện thoại di động đang đặt trên bàn lên. Tôi lưỡng lự. Thật kỳ lạ khi tôi ngập ngừng đến thế khi định gọi cho anh. Như thể giá trị của tôi phụ thuộc vào việc anh muốn tôi hơn là tôi muốn anh - hay ít nhất cũng phải ngang bằng nhau. Chỉ có những phụ nữ tuyệt vọng mới quấy rầy bạn trai của mình. Mà những phụ nữ tuyệt vọng thì thật khó mà yêu cho được.
Rốt cuộc tôi cũng gọi cho anh.
Tôi lập tức nghe thấy câu trả lời tự động, hẳn là anh đã tắt điện thoại di động.
Tôi uống cạn chai rượu vang, thu mình trong chăn rồi nhắm mắt lại.
Sau chừng một tuần, Jesper gọi cho tôi để nói rằng anh muốn trả tôi số tiền mua chiếc áo sơ mi và cũng là để mời tôi ăn trưa - nếu tôi đồng ý.
Chúng tôi gặp nhau vào một ngày thứ Bảy, không xa căn hộ nhỏ của anh trong khu phố Södermalm. Nhà hàng tấp nập thực khách, ai nấy đều phải tăng âm lượng khi trò chuyện. Lúc đầu, tôi suýt không nhận ra anh. Mặc quần jean và áo thun, anh có vẻ trẻ trung hơn rất nhiều so với khi mặc bộ com lê vào cái ngày chúng tôi gặp nhau trong cửa hàng. Thái độ của anh cũng hoàn toàn khác. Biểu cảm hơi vụng về và lạc lõng đã biến mất hoàn toàn. Anh giữ thẳng lưng, mỉm cười và nhìn tôi, đầy tự tin.
- Chào Emma, anh nói rồi hôn lên má tôi.
Cảm giác ngượng ngùng xâm chiếm tôi. Không ai từng hôn lên má tôi, kể cả mẹ ruột tôi. Đặc biệt là mẹ ruột tôi.
- Xin chào.
Anh ngả người ra ghế rồi lặng lẽ quan sát tôi. Anh cứ giữ tư thế bất động ấy cho đến khi tôi cảm thấy bối rối đến mức buộc phải cất tiếng, ít nhất cũng để phá vỡ bầu không khí im lặng đầy phiền toái ấy.
- Vậy, cuộc họp của ban điều hành diễn ra thế nào?
- Tốt.
Anh mỉm cười. Có chút gì đó tham lam, gần như đói khát trong ánh mắt anh, như thể anh đang dòm ngó một món hàng ăn được. Toàn bộ bối cảnh đó khiến tôi đột nhiên cảm thấy rất khó xử.
- Mà này, tại sao ông lại mời tôi đến nhà hàng?
Tôi không có ý định đặt câu hỏi ấy, nhưng vì quá đỗi bối rối trước cách hành xử của anh nên tôi cho rằng sự thành thực thô lỗ nhất cũng là cách phản ứng khả dĩ duy nhất.
- Bởi vì tôi tò mò muốn biết thêm về cô, anh lập tức đáp lại, vẫn tiếp tục nhìn tôi chăm chú.
Tôi cụp mắt nhìn xuống đầu gối, ngắm nghía chiếc quần jean mà tôi đã mua chỉ để phục vụ cho bữa trưa này. Tôi mới ngu ngốc làm sao. Cứ làm như Jesper Orre sẽ quan tâm đến những thứ trang phục mà tôi khoác lên người ấy! Tôi, một cô nàng bán hàng đơn thuần.
- Cô khơi dậy sự hiếu kỳ của tôi, bởi vì cô đã đối xử với tôi như một người ngang hàng.
Mắt tôi bắt gặp ánh mắt anh. Trong một thoáng, tôi có cảm giác vừa nhìn thấy một tia sáng đặc biệt lướt qua trong đó, có lẽ là nỗi đau đớn, hoặc nỗi ghê tởm, như thể anh vừa cắn phải thứ gì đó đắng nghét.
- Người ngang hàng với tôi?
Anh chậm rãi gật đầu. Ở quầy bar, nhiều người chợt nhất loạt kêu váng lên. Tôi quay nhìn về phía những màn hình gắn trên tường. Arsenal vừa ghi bàn vào lưới của Manchester United, nâng tỷ số lên 2 - 0.
Jesper cúi người ra phía trước, vươn qua bàn, sáp khuôn mặt anh về phía mặt tôi, càng lúc càng gần hơn. Gần đến nỗi tôi có thể ngửi thấy mùi nước hoa của anh cùng mùi của loại bia mà anh đang uống. Một lần nữa, cảm giác khó chịu lại dâng lên trong tôi.
- Khi ta là… Khi ta nắm giữ một chức vụ như của tôi, anh chỉnh lại, rất ít người đối xử bình thường với ta. Đa số sẽ dành cho ta một thái độ tôn trọng thái quá. Thậm chí một số người còn không dám nói chuyện với ta. Hiếm có người nào nói ra những gì họ thực sự đang nghĩ trong đầu. Đôi khi chuyện đó khiến ta rất bực. Và ta có thể cảm thấy cô đơn, nếu cô hiểu tôi muốn nói gì. Nhưng cô đã rất thẳng thắn. Cô đã đối xử với tôi như với một người bình thường.
Tôi nhún vai.
- Thế chẳng lẽ ông không phải là một người bình thường sao? Anh phá lên cười và uống một ngụm bia. Hai cánh tay anh rám nắng và có phủ một lớp lông tơ màu vàng nhạt.
- Có thể cô sẽ thấy điều này là điên rồ, nhưng tôi cảm thấy có một sự liên kết giữa chúng ta. Và, hãy trả lời tôi thực lòng nhé…
- Vâng?
- Chẳng lẽ cô không phải kiểu phụ nữ đôi khi cũng cảm thấy mình cô đơn sao? Như một kẻ lạc lõng? Hơi khác biệt với những người xung quanh cô. Một… khán giả?
Tôi chậm rãi gật đầu. Anh nói đúng. Tôi vẫn luôn cảm thấy mình khác biệt. Từ khi còn rất nhỏ. Tôi vẫn luôn có cái cảm giác kỳ lạ là mình đang đóng vai phụ trong cuộc đời của chính tôi. Như thể tôi đang vừa ở trong một cái bong bóng vừa quan sát bản thân mình từ bên ngoài. Vấn đề là làm sao Jesper Orre có thể phát hiện ra điều đó chỉ sau chừng mười phút ở trong cửa hàng hôm trước.
Từ quầy bar, vang ra những tiếng thở dài cam chịu.
- Cột dọc, Jesper nhận xét.
- Làm sao mà… ông biết hết những chuyện đó?
- Chuyện gì?
Anh đưa mắt nhìn về phía màn hình, như thể câu hỏi của tôi liên quan đến trận bóng.
- Về tôi . Ông chỉ mua một cái áo sơ mi ở chỗ tôi, thế mà bây giờ ông đang nói với tôi rằng chúng ta giống nhau. Và rằng chúng ta cô đơn. Ông không biết gì về tôi, cả xuất phát điểm của tôi lẫn những gì tôi muốn làm trong cuộc đời mình. Nhưng ông nói với tôi… tất cả những chuyện đó. Điều gì khiến ông tin rằng ông có thể đọc thấu tôi như đọc một cuốn sách ngỏ?
Anh nâng ly lên để chạm cốc và nháy mắt với tôi.
- - Như tôi vừa nói với cô, tôi rất thích việc cô đối xử với tôi như đối xử với tất cả những người khác. Cô không sợ. Cô cũng giống tôi.
Tôi rời nhà hàng bằng đôi chân run rẩy, đôi má nóng bừng và đôi bàn tay ướt mồ hôi. Tôi không biết cảm giác nào là mạnh hơn: nỗi khó chịu, bởi vì anh đã tự cho phép mình gán cho tôi cả đống những tính cách mà anh không có quyền lên tiếng nhận xét, hay sự thu hút mà tôi đã cảm thấy khi ở bên anh. Và ở giữa tất cả những điều đó, tôi không thể ngăn mình tự hỏi phải chăng anh nói đúng. Chúng tôi có thực sự giống nhau không? Có thực là có một mối liên kết giữa chúng tôi không, thứ liên kết mà ta lập tức cảm nhận được và vượt lên tất cả các ranh giới: đẳng cấp xã hội, tuổi tác và nghề nghiệp?
Đã quá mười sáu giờ khi tôi rảo bước băng qua công viên Björns trädgård, đi về hướng Slussen. Trời nóng và tôi chỉ mặc một chiếc áo sát nách mỏng. Dù vậy, mồ hôi vẫn chảy giữa khe ngực tôi, và khi đến giữa phố Götgatan, tôi phải dừng lại vì gần như hụt hơi sau khi leo dốc. Xung quanh, mọi người đi vượt lên tôi: những người đi dạo dịp cuối tuần, những tín đồ của hoạt động ngắm cửa hàng, những người ăn mày và những phụ nữ đeo chàng mạng trên đường đến giáo đường. Tôi có cảm giác mình đang ở giữa những làn đường cao tốc, như thể tôi đột ngột mất khả năng định hướng và bập bềnh trong một biển người, giống một con tàu không có thuyền trưởng.
Đến lối vào bến tàu điện ngầm, tôi nhìn thấy một bóng người quen thuộc. Jesper Orre. Bằng cách này hay cách khác, anh đã đoán được tôi đang đi đâu, và đã đến đó trước tôi.
Anh nắm lấy tay tôi.
- Lại đây nào!
Anh kéo tôi về phía anh để xuôi xuống dốc, và tôi không thể nào phản kháng, không thể nào chống lại. Cảm giác bất lực khiến tôi choáng váng, đồng thời cũng mang lại cho tôi cảm giác lạ kỳ là mình vừa được giải thoát. Đột nhiên, tôi được miễn trừ khỏi trách nhiệm về chính mình cùng cảm giác tội lỗi gắn liền với nó. Tôi đi theo anh. Tôi nhắm mắt lại và để mặc anh dẫn dắt tôi băng qua biển người.
Đã ba giờ sáng khi tôi thức dậy trong một tư thế không thoải mái, nửa nằm nửa ngồi trên ghế bành. Gáy tôi cứng đờ và đau nhức khi tôi trở dậy. Bóng tối dày đặc hơn, tạo thành một bức tường đen kịt bên ngoài. Gió cũng thốc mạnh hơn, rít lên khi luồn qua cửa sổ, và tôi cảm thấy một luồng khí lạnh băng lướt qua hai mắt cá chân.
Không biết tại sao, nhưng tôi nghĩ đến cha tôi và con côn trùng mà chúng tôi đã tìm thấy. Hồi đó tôi chừng mười, mười một tuổi. Con sâu béo múp và có màu xanh sáng ấy khiến ta chợt nghĩ đến một viên thạch mềm phủ đầy lông. Nó cũng có hình dạng tròn lẳn và phần ruột gần như trong suốt. Nó có vô số những cái chân ở bụng, và một cái ngòi ở phần đuôi. Nó khiến tôi nhột khi đi dạo trên mu bàn tay đầy những vết tàn nhang của tôi, rồi leo lên cánh tay tôi.
- Ba ơi, nó có chích không?
Cha tôi lắc đầu.
- Không, cái ngòi nhỏ mà con nhìn thấy ở đuôi nó chính là cái sừng sau bụng. Hoàn toàn vô hại.
Con sâu tiếp tục bò, và tôi quay phần trong cánh tay ra bên ngoài để tia nắng chứa đầy những hạt bụi sáng lọt qua cửa sổ có thể chiếu vào cái thân hình bé nhỏ màu xanh lá ấy. Và thế là nó trở nên trong suốt hoàn toàn. Con sâu đậu trên cổ tay tôi như một viên đá quý lấp lánh, nhẵn bóng.
- Con bắt được nó ở đâu thế?
- Trong bụi cây gần mấy cái xích đu.
Cha tôi gật đầu.
- Nó ăn lá cây. Lại đây nào, chúng ta sẽ tìm thức ăn cho nó.
Chúng tôi băng qua hành lang bằng những bước chân khẽ khàng để không đánh thức mẹ tôi. Cánh cửa ra vào khép lại kèm theo một tiếng cạch nhỏ, và cha tôi ra hiệu cho tôi đi theo ông. Các tòa chung cư vươn lên sừng sững xung quanh khoảnh sân nhỏ, thân hình đồ sộ làm bằng bê tông của chúng bao bọc mảng cây xanh thưa thớt. Mặt trời chưa vượt quá những nóc nhà, và khoảnh sân trong vẫn chìm trong vùng bóng râm. Bên ngoài, không có một người nào. Những chiếc xích đu lơ lửng bị bỏ rơi giữa những bộ khung kim loại còn cái hố cát thì vắng ngắt, chờ đến khi lũ trẻ thức dậy. Bên cạnh, vài cái xẻng nhựa gãy nằm chỏng chơ trên lối đi rải sỏi. Chúng tôi nghe thấy từ xa vẳng đến tiếng nhạc phương Đông và tiếng khóc của một đứa bé. Mùi cà phê phảng phất trong bầu không khí đầu hè.
- Ở kia, tôi vừa nói vừa giơ ngón tay chỉ về phía bụi cây đầy gai. Cha tôi khẽ khàng bẻ vài cành cây còn ướt đẫm sương đêm rồi nghiêm trang nhìn tôi.
- Chúng ta sẽ làm cho nó một cái tổ nhỏ.
Chúng tôi xếp các cành cây vào một cái hũ thủy tinh rồi quay vào trong nhà, cũng khẽ khàng như khi rời khỏi đó. Hành lang chìm trong bóng tối và chúng tôi ngửi thấy phảng phất mùi Gula Blend, thuốc lá của mẹ tôi. Tôi nghe thấy tiếng mẹ ngáy vang ra từ phòng ngủ. Cha tôi mở một ngăn tủ rồi lục trong hộp đồ nghề, làm những món dụng cụ kim loại va vào nhau lách cách. Khi quay trở ra phía cửa, ông cầm trong tay một món đồ nhỏ thon mảnh.
- Đây là một cái dùi, ông thì thầm.
Bằng mũi dùi nhọn, ông đục thủng nắp hũ, tạo ra nhiều lỗ thủng để cư dân nhiều lông bên trong hũ có thể thở được. Có vẻ con sâu đã chấp nhận tổ ấm mới của mình. Hẳn nó không đòi hỏi nhiều trong cuộc đời, chỉ một cành cây và vài cái lá, bởi vì nó lập tức dọn đến sống trên một nhánh cây đầy gai.
- Thế bây giờ thì điều gì sẽ xảy ra hả ba?
- Một điều tuyệt diệu, cha tôi vừa trả lời vừa lau vài giọt mồ hôi rịn ra trên vùng trán rám nắng của ông. Một điều gì đó thực sự tuyệt diệu. Nhưng con phải kiên nhẫn. Con có là người kiên nhẫn không?
Tôi vươn tay ra để lấy chiếc điện thoại di động. Không có cuộc gọi nhỡ. Không có tin nhắn. Jesper đã bỏ lỡ bữa tối đính hôn của chúng tôi mà không hề giải thích. Tôi nên nổi điên hay lo lắng? Tôi quyết định là anh xứng đáng nhận những lời khiển trách thực thụ - có lẽ chỉ trừ trường hợp anh đang nằm trong khoa cấp cứu với hai cẳng chân bị gãy.
Tôi đi về phía bếp với một tấm chăn choàng trên vai. Tôi cất đĩa xa lát, mấy miếng bánh mì nướng ốp phô mai dê cùng chai rượu vang vào tủ lạnh. Rồi tôi gọi Sigge và đi ngủ.
Một luồng ánh sáng xám xanh buổi sớm lọt qua lớp rèm mỏng của căn phòng. Tôi có cảm giác là trong phòng rất lạnh, nên càng chui sâu hơn vào dưới lớp chăn để tìm hơi ấm. Sigge đang nằm cuộn tròn dưới chân tôi liền thức dậy và liếm chân. Trong vài giây, tôi không nghĩ đến bất kỳ điều gì, mà chỉ hấp thụ hơi ấm dễ chịu và tiếng mưa êm ái gõ lên những ô kính.
Rồi tôi nhớ lại.
Jesper đã không đến. Vì lý do gì thì tôi không biết, nhưng anh đã không hề xuất hiện tại bữa tiệc tối đính hôn của chính anh, và tôi đã ở một mình trong bếp, mặc chiếc váy đen cổ khoét sâu, không mặc đồ lót, với những đĩa đồ ăn đầy ắp.
Điện thoại di động của tôi nằm chơ vơ trên sàn. Vẫn không có cuộc gọi nào. Không có tin nhắn.
Tôi ngồi dậy. Trong phòng ngủ rất lạnh vì gió lùa vào qua những ô cửa sổ có lớp cách nhiệt không tốt. Dù đã quấn kín người trong chăn khi đi đến sát ô kính, tôi vẫn cảm thấy khí lạnh thốc vào qua những khe hở.
Bên ngoài, tôi nhìn thấy những chiếc xe hơi đang êm ả lướt trên đường Valhallavägen, hướng về phía Bắc. Những bóng người nhỏ xíu, chỉ to hơn con kiến một chút, đang di chuyển về phía cửa xuống bến tàu điện ngầm. Tôi đi ra phòng khách với ý định tìm kiếm tin tức. Nếu có chuyện gì xảy ra - một vụ tai nạn, một vụ án mạng -, có lẽ người ta sẽ nói đến. Khi sụp người xuống một trong mấy chiếc ghế bành màu xanh lá, tôi chợt cảm thấy buồn nôn. Hôm qua tôi đã uống quá nhiều chăng? Có lẽ tôi phải ăn thứ gì đó.
Tôi đi vào bếp và mở tủ lạnh.
Những lát bánh mì nướng được bày cẩn thận trên đĩa. Tôi lấy hai lát, quay ra phòng khách và bật tivi. Nhưng màn hình vẫn đen ngòm và một dòng chữ ngắn màu vàng cho tôi biết rằng đang không có tín hiệu. Tôi nuốt miếng bánh đầu tiên và quay lại phòng bếp. Tôi rất nghi hoặc về những chuyện có thể đã xảy ra. Tôi cầm mớ hóa đơn, ngồi vào bàn, nuốt miếng bánh thứ hai rồi bắt đầu xé những chiếc phong bì. Tôi phát hiện ra vô số thư nhắc của công ty cung cấp điện, công ty điện thoại di động và công ty bán hàng qua mạng.
Tất cả những thứ này cũng một phần là vì Jesper Orre. Một tháng trước, tôi đã cho anh mượn tiền, và kể từ đó, tôi chất đống các hóa đơn thay vì thanh toán chúng. Tiền lương của tôi không đủ, chưa bao giờ đủ tiêu, nhưng trước đây tôi có một khoản dự trữ để có thể trông vào đó.
Tôi mở chiếc phong bì cuối cùng, của Com Hem, họ dọa sẽ cắt dịch vụ truyền hình và thuê bao mạng Internet nếu tôi không trả nợ trong vòng mười ngày.
Bức thư đó đã được gửi từ hai tuần trước.
Tôi vứt bức thư rồi nhặt đống hóa đơn lên. Tôi lưỡng lự một lát, không thực sự biết phải làm gì với chúng. Rồi tôi nhét toàn bộ số phong bì vào một cái hộp bánh rỗng. Nắp hộp kêu lên kèn kẹt khi tôi đóng nó lại.
Trong tàu điện ngầm, tôi đọc tin tức thời sự trên điện thoại di động. Một vụ án mạng bằng dao ở Rinkeby, những vụ bạo động ở Malmö, nhưng không có gì về Jesper Orre hết. Cũng không có thông tin nào về một vụ tai nạn đường bộ có thể đã xảy ra đêm qua.
Toa tàu chật ních, hơi nóng và mùi thân người áp sát vào nhau lại khiến tôi buồn nôn. Tôi buộc phải ra khỏi tàu ở bến Östermalmstorg để cởi áo choàng và ngồi nghỉ một lát trên một chiếc ghế dài. Tôi úp mặt vào hai bàn tay. Bằng khóe mắt, tôi nhìn thấy những người đi đường nhìn tôi bằng ánh mắt hoang mang, Có thể là lo lắng, nhưng không ai dừng lại để hỏi xem tôi có ổn không. Tôi rất biết ơn họ về điều đó.
Tôi chỉ nghĩ đến một chuyện, tôi chỉ muốn biết một điều: Jesper đang ở đâu và tại sao tối qua anh không đến.