Tiếng Thét Dưới Băng

Lượt đọc: 860 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PETER

Vụ điều tra đã có một bước ngoặt căn bản, thay đổi trong ngày một ngày hai, giống như đôi khi vẫn xảy ra trong công việc của chúng tôi. Bản báo cáo của phòng xét nghiệm khẳng định có mối liên hệ giữa con dao rựa và vụ án mạng ở nhà Jesper cũng như vụ sát hại Miguel Calderón có tác dụng như một quả bom ở trụ sở cảnh sát trung tâm. Mặc dù ai nấy vẫn làm việc điên cuồng y như trước, nhưng sự mệt mỏi chung đã dịu bớt đôi chút, để nhường chỗ cho sự chờ đợi. Tấm biển thông báo lớn ngự trong căn phòng nơi chúng tôi họp, gắn đầy những bức ảnh chụp ở nhà Orre, những sơ đồ và hình ảnh các đồng nghiệp cùng các mối quan hệ của anh ta, được bổ sung bằng tấm biển thứ hai gắn đầy những tài liệu tương tự liên quan đến vụ án trước đây.

Sanchez rõ ràng là đã dành cả nửa đêm để dùi mài về vụ Calderón, và lúc này đã chuyển sang truy lùng những điểm tương đồng giữa Calderón và Orre. Tôi cho rằng nhiệm vụ đó sẽ khó khăn: nhìn bề ngoài, hai người đàn ông có hai cuộc sống hoàn toàn khác nhau, và có vẻ như chưa bao giờ gặp nhau.

Calderón hai mươi lăm tuổi khi người ta phát hiện ra thi thể anh ta, vào tháng Chín, mười năm trước, trong căn hộ một phòng mà anh ta thuê trong khu phố Södermalm, ở Stockholm. Anh ta đã làm đủ loại công việc - đầu bếp, trợ lý nhân sự, giao báo hoặc hộ lý tạm thời. Trong thời gian rảnh, anh ta tập karate và chơi ghi-ta bass trong một nhóm nhạc jazz. Anh ta không có bạn gái, và chị anh ta kể rằng hình như anh ta là người đồng tính. Năm năm trước khi bị sát hại, anh ta từng bị ra tòa về tội tấn công và ăn trộm, nhưng theo kết quả điều tra sơ bộ, anh ta không liên quan đến bất kỳ hoạt động tội phạm nào vào thời điểm bị giết. Cũng không có dấu hiệu nào cho thấy anh ta có thể lui tới những nơi sang trọng như Orre - đảo Sandhamn, Verbier, Marbella hoặc các hộp đêm xung quanh Stureplan.

Orre vẫn đang mất tích, dường như tất cả đều chứng tỏ rằng anh ta là kẻ đã sát hại người phụ nữ kia - và do đó, cũng là kẻ đã sát hại Calderón. Nhưng vài chiếc quần lót lấy trộm và cách hành xử đáng chê trách ở chỗ làm còn lâu mới cấu thành một tập hợp bằng chứng đủ thuyết phục. Chúng tôi phải tìm ra mối liên hệ giữa hai người đàn ông này. Và nếu thực sự họ có mối liên hệ, chúng tôi sẽ tìm ra - cho dù có phải vẽ lại từng xăng ti mét vuông trong cuộc đời bất hạnh của họ.

Tôi chợt thấy mình bị xâm chiếm bởi cảm giác quen thuộc của nỗi buồn pha trộn với mệt mỏi. Loại điều tra hình sự lâu dài đến mức lên rêu mốc này không còn khiến tôi thích thú nữa. Nếu mười năm trước có ai đó hỏi tôi, hẳn tôi sẽ trả lời rằng không có thứ gì kích thích và thú vị hơn để một điều tra viên tài năng bắt tay vào. Ngày nay, tôi chỉ còn cảm thấy một nỗi bải hoải mê mụ. Và nhất là tôi muốn được mua cho mình một lốc bia, trở về nhà rồi ngồi trên ghế xô pha mà xem một trận bóng đá. Tôi cho rằng không một người ngoài ngành nào có thể hình dung nổi khối lượng công việc cần giải quyết để biết hết mọi thứ về cuộc đời của một con người. Hàng trăm giờ đồng hồ dành để hỏi cung, để chìm đắm vào vô số sổ sách và để phân tích đủ loại giấy tờ, trước khi nhìn thấy hình ảnh được làm sáng tỏ và những yếu tố chủ chốt bắt đầu xuất hiện.

Thế rồi lại còn có Hanne.

Theo một nghĩa nào đó, hẳn là một điều tốt đẹp khi chúng tôi có thể giải thích với nhau - cho dù thực ra tôi đã không nói gì nhiều. Nhưng sau cuộc trò chuyện đó, có điều gì đó đã thay đổi giữa chúng tôi. Tôi cảm thấy nó rất rõ ràng, mặc dù không biết chính xác đó là gì. Giống như một nốt trầm, rung, thường xuyên âm vang mỗi khi chị ở cạnh tôi - như một tiếng ù tai. Và hẳn là tôi sẽ không thể nào thoát nổi.

Đôi khi, tôi bắt gặp chính mình đang quan sát chị, khi chị ngồi bên bàn làm việc của mình, với chiếc áo chui đầu sờn rách và mái tóc hoa râm buộc thành một cái đuôi ngựa mất trật tự. Có lẽ những ý nghĩ của tôi cũng bay cả về cái nơi cấm kỵ nơi chúng tôi lại một lần nữa ở bên nhau ấy. Hôm qua, khi đặt tay lên cánh tay chị, tôi đã không thể ngăn mình nghĩ rằng chị là người phụ nữ xinh đẹp nhất mà tôi từng gặp. Và có thể là người duy nhất từng nghe tôi thực lòng thổ lộ tâm sự.

Tôi không thể nói tại sao tôi lại cảm thấy khó khăn đến thế khi nói về những chuyện quan trọng với người khác, nhất là với phụ nữ. Có lẽ là vì tôi không dám mở lòng - giống như Janet vẫn không ngừng trách móc tôi. Hoặc giả chỉ đơn giản là vì tôi không có nhiều điều để nói - vì xét cho cùng, tôi là một gã khá nhạt nhẽo.

Tuy nhiên, với Hanne, chúng tôi luôn có chủ đề để trò chuyện - ý tôi muốn nói là vào thời kỳ chúng tôi ở bên nhau. Chúng tôi có thể nằm suốt nhiều giờ trên giường để nói chuyện về chính trị hoặc tình yêu, hoặc tán hươu tán vượn về những điều lặt vặt chẳng có gì là quan trọng - tại sao máy cắt lát pho mát lại chỉ có ở Thụy Điển, hoặc nguồn gốc của cụm từ “buồn vui lẫn lộn”… Đôi khi, chị kể với tôi về Groenland, về những người Esquimo từng sống ở đó suốt mấy nghìn năm, vô cùng hài hòa với thiên nhiên. Về mơ ước của chị là một ngày được đến đó, được chèo thuyền kayak giữa những tảng băng và được đi săn hải cẩu.

Có vẻ như người Esquimo không có lễ cưới chính thức: người ta góp chung đồ đạc, và thế là xong. Chúng tôi thường nói đùa rằng xét dưới góc độ của người Esquimo, chúng tôi có thể xem như đã kết hôn.

Tôi còn nhớ tôi đã thấy chị ngập tràn một niềm vui sống đầy tính lan tỏa, thậm chí còn bông lơn đến đáng ngạc nhiên với một phụ nữ ở độ tuổi của chị.

Chị hơn tôi mười tuổi.

Điều đó chưa bao giờ khiến tôi cảm thấy phiền, cho dù chị có vẻ không tin khi tôi nói với chị điều đó. Chị nhắc đi nhắc lại rằng tôi phải suy nghĩ cho thật kỹ, rằng chúng tôi sẽ không bao giờ có thể có con chung với nhau, và rằng chị sẽ già đi trước tôi rất lâu. Liệu rằng tôi có thực sự muốn có một con dê cái già nua làm bạn đời hay không?

Có, tôi có muốn. Tôi đã nói với chị như thế.

Và bất chấp tất cả, tôi đã không thể ăn khớp hành động với lời nói. Bất chấp tất cả, tôi đã để chị chờ đợi hoài công vô ích trên vỉa hè vào tối đó. Tôi đã ngồi trên giường mình, như bị tê liệt, chùm chìa khóa xe cầm trên tay còn chai rượu vodka kẹp giữa hai đầu gối. Hoảng loạn, người đầm đìa mồ hôi lạnh và không thể nào thực hiện bất cứ cử chỉ nào, dù là nhỏ nhất. Và khi chị gọi điện thoại, tôi đã không thể trả lời. Tôi không đủ dũng khí để nghe cuộc gọi chết tiệt ấy và nói sự thật với chị. Rằng tôi không sẵn sàng để ràng buộc.

Không sẵn sàng để ràng buộc.

Một cách diễn đạt mới ngu ngốc làm sao, khi ta nghĩ cho kỹ. Một lời biện hộ hết sức đáng thương giúp tôi tránh nói đến điều đó, nói đến thứ đang sục sôi trong lòng tôi, thiêu đốt tôi, giằng xé ruột gan tôi. Về con quái vật ấy, về nỗi kinh hoàng không thể gọi tên ấy.

Nỗi sợ. Đơn giản là tôi sợ.

Giá như tôi có thể nói ra. Bằng những lời lẽ đơn giản, không chút màu mè: giải thích về thứ đang gặm nhấm tôi.

Thì hôm nay, có lẽ cuộc đời tôi đã có một diện mạo khác hẳn.

Manfred lại gần bàn làm việc của tôi và nhăn mặt.

- Trông cậu hôm nay thật sự tồi tệ đấy, Lindgren ạ.

- Cảm ơn vì đã khen tôi. Còn anh, theo như tôi thấy, thì anh đã sẵn sàng cho cuộc săn đuổi rồi chứ?

Anh cười gằn và đưa tay chỉnh lại chiếc áo vét kẻ ca rô. Theo thói quen, hôm nay anh cũng ăn mặc chỉnh tề không chê vào đâu được. Trong bộ com lê ba mảnh bằng vải tuýt với túi ngực có cài khăn mùi soa lụa đúng điệu, trông anh như một biểu tượng sống của sự sai niên đại đang dạo chơi trên tầng bốn của trụ sở cảnh sát.

- Chúng ta sẽ cố gắng hết sức.

- Có thông tin gì mới sao?

- Chúng ta đã nhận được không ít cuộc gọi sau khi công bố chân dung phác họa của người phụ nữ. Đội ở Bergdahl giúp chúng ta rà lại toàn bộ các manh mối này. Nhưng vẫn không có bất cứ dấu vết nào của Orre. À có, một thứ khác. Có một gã đã gọi điện thoại đến, một tay thợ lắp kính ở trung tâm Mörby. Tay này nói là đã thay kính trong hầm nhà Orre cách đây chưa lâu. Orre giải thích với tay thợ này là nhà anh ta bị đột nhập, nhưng không mất trộm thứ gì. Điều này giải thích tại sao anh ta không báo với chúng ta.

- Ta thử tìm hiểu theo hướng này thêm chút nữa xem sao. Bảo Sanchez đi hỏi thông tin gã đó.

- Ái chà, chết tiệt thật, chúng ta sẽ làm gì nếu không có Sanchez nhỉ?

Manfred ngân nga cái tên đồng nghiệp của chúng tôi bằng giọng rung nam cao khỏe khoắn, đồng thời giơ tay phải lên với vẻ rất kịch.

Từ bàn làm việc của cô, Sanchez ném ánh nhìn châm chọc về phía chúng tôi, nhưng không đáp lại lời nào.

Tôi rời trụ sở cảnh sát vào khoảng tám giờ tối. Có những ranh giới cho số giờ làm thêm mà tôi sẵn sàng thực hiện, cho dù chúng tôi đang trong một cuộc điều tra then chốt. Dù sao đi nữa, cũng chẳng có ai tặng vòng nguyệt quế cho một cảnh sát bỏ quên cả cuộc sống riêng của mình.

Khi đỗ xe đằng trước tòa nhà, tôi có cảm giác lạ lùng là có điều gì đó không ổn. Đèn bật sáng trong khoang cầu thang và cánh cửa ra vào khép hờ, dấu hiệu cho thấy một ai đó đã đóng cửa không cẩn thận khi vào tòa nhà. Tôi lấy chiếc bánh pizza đã mua trên đường về, bước vào sảnh và bắt đầu leo lên các bậc cầu thang.

Đây là một tòa chung cư từ những năm 1950, với những bức tường sơn màu xanh lục ánh hồng sặc sỡ còn sàn nhà thì lốm đốm - cứ như thể có ai đó đã vãi những viên đá nhỏ màu đen và trắng lên bề mặt xi măng. Mỗi thềm nghỉ có bốn cánh cửa bằng gỗ viền kim loại và máng rác theo tiêu chuẩn. Căn hộ của tôi nằm ở tầng trên cùng, và tôi coi đó là một lợi thế cho đến ngày bị gãy chân, ba năm trước, khi buộc phải leo cầu thang từng bậc một bằng cách nhảy lò cò trên đôi nạng.

Lên đến bậc trên cùng, tôi phát hiện ra Albin đang ngồi trước cửa nhà tôi, tay cầm ván trượt. Nó mặc một chiếc áo có mũ trùm quá mỏng so với mùa này cùng một chiếc quần jean lụng thụng, và mang theo một cái túi nhựa cũ của siêu thị Coop. Mái tóc vàng mượt mà rủ xuống tận mắt nó, và đôi tai hơi dỏng - gen di truyền của Janet - thò lên giữa những lọn tóc.

- Chào ba, thằng bé nói.

- Chào con! Con làm gì ở đây thế?

Con cãi nhau với mẹ. Con có thể tá túc ở chỗ ba không?

Câu hỏi của thằng bé khiến tôi bối rối. Từ thuở lọt lòng đến giờ, Albin chưa bao giờ ngủ ở nhà tôi.

- Ba không biết… Có lẽ sẽ tốt hơn nếu chúng ta gọi cho mẹ con, tôi vừa trả lời thằng bé vừa lấy chùm chìa khóa ra khỏi túi.

Tôi mở hé cánh cửa và nhìn thấy đống quần áo bẩn chồng chất trên sàn nhà ngay lối vào, những chiếc quần lót và áo thun mà tôi định tối nay sẽ giặt. Tôi lập tức đóng cửa lại.

- Ba không cho con vào nhà sao?

Albin đứng dậy và nhìn thẳng vào mắt tôi. Nó có vẻ bối rối và hơi lo lắng. Nó không chắc chắn là có thể đặt lòng tin vào cha ruột của mình - và hẳn là nó có lý do để cảm thấy thế.

- Có chứ, tất nhiên rồi! Chỉ có điều… nhà hơi bừa bộn.

- Chuyện đó thì có liên quan gì đến con đâu?

- Đúng thế, con nói đúng.

Tôi mở cửa lần nữa, và hai chúng tôi bước vào. Vóc dáng mảnh mai của Albin lướt đi trước mặt tôi như một cái bóng đến tận phòng khách, rồi nó đổ sụp xuống ghế xô pha.

- Con biết đấy, tôi nói với thằng bé, ba rất vui khi gặp con, nhưng mà… ba không biết con ngủ ở đây có phải là một ý hay không.

- Sao lại không ạ?

- Bởi vì…

- Vâng, vì sao ạ?

- Ba không có giường cho con.

- Con có thể ngủ ở đây, Albin đáp lại và vỗ vỗ vào lưng chiếc ghế xô pha.

Nói là làm, thằng bé nằm dài ra, vẫy chân để thả rơi đôi giày thể thao rồi gác chân lên thành ghế. Tôi nhận thấy nó vô cùng gầy gò, và lưỡng lự không biết có nên hỏi nó ăn có tốt không. Đó chính là những gì ta phải nói với con cái của mình, không phải sao?

- Sáng mai ba phải dậy sớm, như thế này không tiện cho ba lắm, tôi không hỏi mà chỉ nói thế.

- Không sao cả, ba có thể để con ngủ tiếp. Mẹ đang lên cơn, nên con không muốn về nhà.

- Với lại, tối nay ba phải làm việc muộn.

- Con sẽ không làm phiền ba đâu.

Tôi đi đi lại lại trong phòng, không biết phải ngồi đâu đứng đâu. Cuối cùng, tôi đặt chiếc pizza lên mặt chiếc bàn thấp.

- Thế Janet có biết con đang ở đây không?

Albin đưa tay lên che mắt, như thể tất cả những câu hỏi đó đều khiến nó mệt mỏi.

- Không ạ.

- Chờ đã, hẳn là mẹ con đang lo lắng muốn chết. Ba sẽ gọi cho mẹ con.

Một giờ sau, Janet đến nhà tôi. Cô ta đặc biệt nhiều lời, đã lâu lắm rồi tôi mới thấy tâm trạng cô ta vui vẻ đến thế. Cô ta không ngớt lời ca ngợi khóa đào tạo thợ làm móng mới mà cô ta đang theo, rồi cho tôi xem bộ móng mới dài miên man và sơn màu hồng rực của cô ta. Tôi bảo với cô ta rằng trông chúng đẹp tuyệt, mặc dù tôi không hề nghĩ thế.

Janet và Albin thì thầm trò chuyện với nhau một lát. Sau đó, cô ta choàng tay ôm siết lấy thằng bé: tôi suy ra là hai mẹ con đã làm hòa với nhau.

Không khó để thuyết phục cô ta đến đây. Tất cả những gì tôi phải làm là giải thích rằng tôi không có chỗ cho Albin, tối nay thì không. Qua điện thoại, cô ta không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên hay giận dữ. Mà tại sao cô ta phải thế chứ? Tôi chưa bao giờ để dành chỗ cho Albin trong đời tôi.

Đứng bên cửa sổ, tôi nhìn hai mẹ con đi xa dần về phía chiếc Golf nhỏ màu đỏ của Janet. Ngay trước khi ngồi vào xe, Albin chợt dừng lại, quay người và nhìn về phía tôi. Không hiểu rõ tại sao, tôi lùi lại một bước để đứng vào phía sau tấm rèm. Tôi nhắm chặt mắt lại, cho đến khi nghe thấy tiếng chiếc xe nổ máy và rời đi.

Khi Albin còn nhỏ hơn, đôi khi tôi ve vuốt tham vọng làm điều gì đó cho thằng bé. Dẫn nó đến công viên giải trí Gröna Lund, hoặc tốt hơn nữa, là đến một trận bóng đá. Nhưng chỉ vừa cố gắng hình dung cảnh tượng hai cha con ở cùng nhau, là cổ họng tôi đã nghẹn lại. Tôi phải hành xử thế nào trước mặt thằng bé? Tôi không hề biết.

Tôi đã tự thuyết phục bản thân rằng có lẽ sẽ tốt hơn nếu chờ thằng bé lớn lên, để nó hiểu chuyện thêm chút nữa. Ít nhất thì tôi cũng biết cách nói chuyện với người lớn.

Nhưng năm tháng càng trôi đi, chuyện đó càng trở nên phức tạp. Ta làm thế nào để lui tới, một cách muộn màng, với một đứa con trai mà ta tuyệt đối không hiểu gì? Tôi có thể kể chuyện gì với một người xa lạ mặc dù người đó chính là kết quả gan ruột của tôi, người có thể rất ghét tôi vì đã không bao giờ ở bên cạnh nó? Ngay cả bóng đá cũng không còn là một lựa chọn nghiêm túc. Liệu chúng tôi có thể tạo dáng đằng trước sân bóng đá với một cốc bia, trong một dáng vẻ thân thiết ép buộc, để giả vờ là bạn của nhau không? Liệu tôi có nên giàn giụa nước mắt mà giải thích với thằng bé, giữa hai lần nức nở, lý do tại sao tôi không bao giờ muốn dành cho nó một chỗ trong đời tôi không?

Và cái trận bóng đá ấy, tôi chưa bao giờ rủ nó đi xem, đương nhiên.

Sáng hôm sau, tôi cùng Manfred đến nhà Jesper Orre. Những dải băng an ninh vẫn ở nguyên vị trí của chúng. Chúng bay sột soạt theo nhịp điệu của những cơn gió thốc, trong khi chúng tôi băng qua cái khoảng cách ngắn ngủi ngăn giữa cánh cổng và cánh cửa ra vào. Manfred lục trong đống chìa khóa mà đội cảnh sát khoa học giao lại, mở cánh cửa rồi bật đèn.

Toàn bộ vết máu đã biến mất, và lúc này căn phòng có dáng vẻ của một phòng ngoài bình thường. Chỉ khi dò xét thật tỉ mỉ, ta mới đoán thấy những vết màu nâu như sắt gỉ mờ mờ ở những mối nối trên sàn giữa các phiến đá lát, hoặc giữa gờ chân tường và bức tường. Cái chết có xu hướng bấu víu để ở lại, tôi tự nhủ. Như thể nó không chịu từ bỏ những nơi chốn mà nó đã viếng thăm. Nó luồn lách vào sàn nhà và những bức tường, rồi để lại đằng sau một thứ mùi suy thoái rõ rệt mà ta có lau chùi đến thế nào cũng không thể xóa hết được. Sau một thảm kịch kiểu này, phần lớn chủ nhân đều chấp nhận sơn lại hoặc thậm chí là cải tạo toàn bộ ngôi nhà.

- Chúng ta tìm kiếm thứ gì vậy? Tôi hỏi.

- Tôi cũng không biết. Tất cả những gì có thể đã thoát khỏi ánh mắt của đội cảnh sát khoa học.

Theo đúng quy trình, chúng tôi bắt đầu rà soát ngôi nhà thật tỉ mỉ, không bỏ sót chỗ nào. Chúng tôi đi từng phòng, chụp ảnh, lục lọi trong đống quần áo, bát đĩa, thuốc men để lâu. Những bức ảnh mà chúng tôi chụp lại chủ yếu là để giúp cho việc ghi nhớ - những bức ảnh chính thức chụp hiện trường vụ án đã được đội cảnh sát khoa học thực hiện.

Ngôi nhà rất ngăn nắp, vô cùng sạch sẽ, gần như vô trùng, và chỉ chứa rất ít đồ đạc cá nhân. Bức ảnh duy nhất mà chúng tôi tìm thấy - Orre nằm giữa nhiều phụ nữ trên bãi biển - được đặt trên một cái giá trong phòng khách.

Manfred hất đầu về phía bức ảnh.

- Nó đã có trong báo cáo của họ. Không cần chụp nữa đâu.

- Tại sao mặt kính lại bị vỡ? tôi vừa hỏi vừa lướt ngón tay trên một mảnh vỡ lớn vẫn còn dính vào khung.

Manfred nhún vai.

- Tôi cũng không rõ.

- Có thể một trong số các phụ nữ trong bức ảnh này là nạn nhân chăng.

- Có thể. Dù sao, ta cũng chẳng thể biết được, vì bức ảnh mờ quá.

Như vẫn làm trong những lần khám soát, tôi cảm thấy khó chịu đến kỳ lạ - như thể tôi là một kẻ đột nhập. Lục lọi trong đống quần áo lót cũ, những ngăn kéo hoặc tủ lạnh của một người khác có điều gì đó khiến tôi chán nản, khiến tôi có cảm giác mình là một con kền kền, mặc dù tôi hoàn toàn biết rõ rằng đây là một giai đoạn không thể thiếu trong công việc.

Manfred xem lại tủ sách; số lượng sách không nhiều, nhưng có thêm vài món đồ trang trí và một lượng lớn tạp chí kinh tế. Khi nhấc một đống sách lên, có thứ gì đó khiến anh chú ý.

- Lindgren, nhìn xem tôi tìm thấy thứ gì đằng sau những cuốn sách này!

Tôi đến bên anh. Trên tay anh cầm một chiếc đĩa DVD. Trên lớp áo bìa, bức ảnh chụp một phụ nữ nằm ngửa trong một bãi đỗ xe, thân hình trần truồng và hai tay bị trói, hai chân dang rộng. Bên cạnh cô ta, quay lưng về phía người chụp ảnh, là một người đàn ông đang đứng, trên tay cầm một cây roi.

- Chết tiệt thật…

- Tôi đã nói là anh ta không sạch sẽ mà, Manfred lầm bầm.

- Anh định mang thứ này theo sao?

Anh nhìn tôi, khóe môi khẽ nhếch lên thành một nụ cười.

- Không, nghiêm túc đấy. Afsaneh sẽ xẻo nghiến hai hòn cà của tôi nếu cô ấy thấy thứ này trong đồ đạc của tôi. Cậu không thể cầm nó sao, cậu ấy? Có vẻ cậu cần giải trí đôi chút.

- Tất nhiên rồi. Phim khiêu dâm, khổ dâm, còn gì tốt hơn để giúp tôi lên tinh thần cơ chứ.

Chúng tôi để chiếc đĩa DVD vào chỗ cũ rồi sang phòng bếp. Những ngăn tủ sơn đen và những bàn làm việc bằng inox khiến tôi nhớ đến những phòng giải phẫu ở viện pháp y. Ngay cả cái bồn rửa, với vòi nước có thể điều chỉnh, cũng sặc mùi bệnh viện.

- Không được ấm cúng cho lắm, Manfred vừa bình luận vừa chun mũi.

Tôi gật đầu, đồng thời thầm phấn khởi vì anh không bao giờ đặt chân vào căn hộ của tôi, mặc dù chúng tôi đã cùng làm việc suốt nhiều năm dài: hẳn anh sẽ thấy nhà tôi còn hơn cả bần cùng. Manfred và Afsaneh sống trong một căn hộ phong cách 1990, với bếp lò bằng đất nung và trên tường có treo những bức tranh. Trong nhà anh có rèm, có gối tựa, có những tấm thảm màu sắc sặc sỡ, những cuốn sách, và đủ loại đồ trang trí mà tôi chưa bao giờ nhọc công quan tâm đến. Nào đĩa đựng bánh, nào bình, nào máy làm kem hoặc máy ép nước hoa quả chất chồng trong các ngăn tủ bếp nhà họ. Và những lần mời khách nhân các sự kiện khác nhau ngự trị trên tấm gương ở cửa ra vào công khai phô bày việc họ được yêu thích đến mức nào.

- Chúng ta xuống hầm chứ? Manfred nêu ý kiến rồi quay trở ra phía cửa mà không chờ nghe câu trả lời của tôi.

Tôi bám gót anh trên cầu thang, nó kêu lên cọt kẹt dưới sức nặng của hai chúng tôi.

Phảng phất mùi ẩm mốc và mùi xà phòng, nồi hơi kêu ầm ì… Đột nhiên tôi bị chóng mặt, và cảm thấy cần phải ngồi xuống. Nhưng tôi buộc mình trụ vững, và ngoan ngoãn đi theo Manfred vào phòng giặt là. Anh bật đèn, mở các ngăn tủ. Bên cạnh những tấm ga trải giường và khăn tắm được gấp cẩn thận, có chiếc giỏ đựng đồ lót phụ nữ mà đội cảnh sát khoa học đã tìm thấy trong góc một ngăn tủ. Manfred cẩn thận dốc ngược cái giỏ lên chiếc ghế dài đặt bên cạnh máy giặt. Một đống đăng ten đen, lụa đỏ, lụa hồng và kim cương giả. Toàn bộ mớ chiến lợi phẩm của Orre.

- Cậu xem thứ này đi, Manfred vừa thốt lên vừa lôi ra một chiếc quần lót nhỏ xíu được tô điểm bằng những viên ngọc trai đính vào phần đũng. Thứ này trông bất tiện khủng khiếp. Họ buộc phải mặc cái thứ… chuỗi ngọc trai này… vào khe mông sao? Giữa hai quả mông, đúng không?

Tôi không trả lời. Ý nghĩ duy nhất nảy ra trong tâm trí tôi, đó là tôi chưa bao giờ thấy Hanne mặc thứ đồ lót này - vả lại, hẳn chị cũng sẽ không bao giờ mặc chúng.

Chúng tôi cất dọn mớ đồ lót rồi tiếp tục với những chiếc giỏ mây đựng quần áo bẩn của Jesper. Những chiếc áo sơ mi và quần lót trắng, giống hệt nhau, trộn lẫn với khăn tắm và trang phục thể thao. Tôi nhón tay nhặt một chiếc quần jean cũ rồi giơ lên trước mắt. Có vẻ nó vừa với tầm vóc Orre, và không có bất kỳ vết bẩn hay vết rách nào có thể để lộ một hành động đáng ngờ. Khi sắp sửa bỏ nó xuống, tôi sờ thấy thứ gì đó trong túi hậu. Một cái cục nhỏ, giống như khi ta để quên một tờ giấy bạc hoặc một tờ biên lai trong túi.

Tôi lấy ra một tờ giấy viết tay, liền vuốt thẳng nó. Đó là một nửa tờ giấy A4, trên đó là một đoạn thư viết bằng thứ chữ tròn trịa, hơi nghiêng - gần như nét chữ trẻ con.

Jesper,

Em viết cho anh vì cho rằng anh nợ em những lời giải thích. Em biết rằng ta có thể thôi yêu một ai đó, em hoàn toàn hiểu được điều đó. Nhưng bỏ rơi em ngay trong tối đính hôn của chúng ta, mà không có bất kỳ lời giải thích nào, thì không được, anh không thể làm thế với em. Và sau đó lại làm như em không tồn tại mỗi lần em tìm cách gặp anh, anh nghĩ em sẽ trải qua chuyện đó thế nào đây? Nếu ý định của anh là khiến em đau khổ, thì anh đã thực sự thành công rồi đấy.

Nhưng điều anh không biết, đó là em đang mang thai đứa con của anh. Và cho dù tình cảm của anh dành cho em là thế nào, thì chúng ta cũng phải nói chuyện về đứa trẻ này. Em không trông mong anh sẽ đảm nhận vai trò của một người cha, em chỉ muốn chúng ta có thể nói chuyện về hoàn cảnh này. Em thấy rằng ít nhất anh cũng nợ em điều đó.

Emma

« Lùi
Tiến »